Chính lễ hội đã bảo lưu,nuôi dưỡng và phát triển nhiều truyền thống văn hóa ở cộng đồng các làng xã Khi xã hội ngày một phát triển, cuộc sống con người ngày một đáp ứng tương đối đầy đủ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
NÉT ĐẸP VĂN HÓA TRONG LỄ HỘI RƯỚC LỢN
LÀNG LA PHÙ – HOÀI ĐỨC – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hương Giang Lớp : QLVH 10A
Hà Nội – 2013
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
6 Bố cục đề tài 4
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT 5
1.1 Khái niệm 5
1.2 Quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý lễ hội………12
1.3 Khái quát về vị trí địa lý và văn hóa vùng đất Hà Tây (cũ) 18
1.3.1 Vị trí địa lý tỉnh Hà Tây 18
1.3.2 Những sinh hoạt văn hóa đặc sắc của vùng đất Hà Tây (cũ) 19
CHƯƠNG 2 : NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI RƯỚC LỢN LÀNG LA PHÙ - HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI 22
2.1 Khái quát về xã La Phù - Hoài Đức - Hà Nội 22
2.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành làng La Phù - Hoài Đức - Hà Nội 22
2.1.2 Tình hình kinh tế - văn hóa làng La Phù, Hoài Đức, Hà Nội 24
2.2 Lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội 26
2.2.1 Nguồn gốc của lễ hội Rước lợn làng La Phù - Hoài Đức - Hà Nội 26
2.2.2 Diễn trình lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội 29
2.2.2.1 Công tác chuẩn bị 29
2.2.2.2 Phần lễ 33
Trang 32.2.2.3 Phần Hội 35 2.3 Nét đẹp văn hóa của lễ hội Rước lợn làng La Phù trong đời sống cộng đồng 43 2.3.1 Những giá trị cơ bản của lễ hội Rước lợn làng La Phù 43 2.3.2 Những nét đẹp văn hóa tín ngưỡng trong lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội 47 2.3.3 Sự biến đổi của lễ hội Rước lợn tại làng La Phù hiện nay 50 2.3.4 Công tác quản lý lễ hội Rước lợn của làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội 54
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI RƯỚC LỢN LA PHÙ - HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI 59
3.1 Tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước đối với Lễ hội rước lợn La Phù – Hoài Đức – Hà Nội 59 3.1.1 Thực hiện tốt các quy định về quản lý của Nhà nước đối với Lễ hội 59 3.1.2 Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành liên quan 61 3.2 Tăng cường công tác đào tạo cán bộ quản lý văn hoá các cấp, nhất là ở cơ
sở 61 3.3 Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục để nhân dân hiểu rõ những giá trị văn hoá, lịch sử của lễ hội 63 3.4 Xây dựng chương trình bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội Rước lợn La Phù, Hoài Đức, Hà Nội 64 3.5 Đầu tư hỗ trợ kinh phí để tổ chức lễ hội có nhiều giá trị văn hoá 66 3.6 Phát triển mô hình du lịch văn hoá lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội 67
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu
biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới Nó là “tấm gương”
phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc.Ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ đất nước nào, dân tộc nào, bất kỳ mùa nào cũng có lễ hội
Lễ hội là hoạt động phán ánh rõ nét nhất những sinh hoạt văn hoá của một công đồng cư dân trong một không gian cụ thể và là môi trường tốt nhất
để lưu giữ những giá trị truyền thống qua các thời đại Mỗi vùng quê Việt Nam đều nằm trong dòng chảy văn hoá thống nhất nhưng nó vẫn mang nét riêng biệt, đặc trưng của con người nơi đó tạo nên một bức tranh văn hoá lễ hội Việt Nam phong phú và đa dạng
Lễ hội là một thuộc tính của văn hóa người Việt, là nhu cầu không thể thiếu được trong tư duy và sinh hoạt của nhân dân, nhất là ở nông thôn Người nông dân quanh năm lao động vất vả, một nắng hai sương, vì vậy lễ hội được coi như yếu tố tạo ra sự thư giãn tinh thần, là sự biểu hiện cách ứng xử văn hóa của thiên nhiên, thần thánh và xã hội, cộng đồng Con người có thể tìm thấy chính mình sự hồn nhiên, hưng phấn nghệ thuật, những cảm xúc chất phác, ngây thơ khi tự nguyện tham gia vào lễ hội Lễ hội cũng được coi là một trong những nguồn sữa mẹ của các hoại hình nghệ thuật Lễ hội hỗn dung các tầng văn hóa tong tiến trình lịch sử Chính lễ hội đã bảo lưu,nuôi dưỡng và phát triển nhiều truyền thống văn hóa ở cộng đồng các làng xã
Khi xã hội ngày một phát triển, cuộc sống con người ngày một đáp ứng tương đối đầy đủ thì những nhu cầu tinh thần như: vui chơi giải trí, nghỉ ngơi, tìm hiểu lịch sử văn hoá nghệ thuật, phong tục tập quán, lễ hội của con người được nâng cao và trở thành vấn đề cần thiết Con người luôn muốn khám phá
Trang 5thiên nhiên về với cội nguồn dân tộc …và đặc biệt các lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá sản phẩm tinh thần của con người Là dịp con người được trở về với tự nhiên, về với văn hóa xưa và về với ký ức cũ Trở
về với văn hóa dân tộc, lễ hội cổ truyền con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hóa dân tộc Vì vậy lễ hội luôn luôn là một đề tài phong phú mà rất nhiều các nhà nghiên cứu đã - đang
và sẽ luôn muốn tìm tòi khám phá
Tuy nhiên trong quá trình phát triển của hệ thống lễ hội, không tránh khỏi các hiện tượng tiêu cực trong tổ chức, đặc biệt là sự tác động của xu
hướng “thương mại hóa” trong lễ hội hiện nay đã làm mờ dần đi những giá trị
văn hóa truyền thống, bản sắc của lễ hội xưa Chính vì vậy, nhận thức đúng đắn về lễ hội cổ truyền để tìm ra những giá trị tích cực cần giữ gìn và phát huy, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực không phù hợp đang là vấn đề mang ý nghĩa
lý luận và thực tiễn nhằm góp phần lành mạnh hoá các hoạt động của lễ hội, hướng vào các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, xây dựng đất nước ta phát triển ngày càng bền vững Xuất phát từ những lý do đó, tôi chọn đề tài:
“Nét đẹp văn hóa trong lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội”
làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn góp phần bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa của lễ hội Rước lợn trong đời sống đương đại của nhân dân La Phù nói riêng và Hà Tây nói chung
2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu
Trang 6+ Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị, nét đẹp văn hóa của lễ hội làng La Phù trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Tây (cũ)
mà còn của khu vực và quốc gia
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu,
Trang 7- Năm 2000,trong công trình Lễ hội cổ truyền ở Hà Tây ( Hồ Sỹ Vịnh và Phượng Vũ chủ biên), ở bài “Lễ hội làng La Phù”, tác giả Trần Thị Huệ đã kết luận : “Vào những dịp này ở làng diễn ra những phong tục rất độc đáo thể hiện những đặc tính riêng trong sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân La Phù,song điều đó không nằm ngoài tính chất chung của môt hội làng”
- Năm 2008 , công trình Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã La Phù, ở chương 2 có miêu tả lại lễ hội rước lợn ở La Phù
- Năm 2008, trong cuốn Lịch lễ hội Việt Nam của nhiều tác giả (Nhà xuất bản Giao thông vận tải) có giới thiệu về lễ hội rước lợn làng La Phù
6 Bố cục đề tài
Ngoài những phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Vai trò của lễ hội trong đời sống tinh thần của người Việt
Chương 2 : Nét đẹp văn hóa của lễ hội Rước lợn La Phù - Hoài Đức - Hà Nội Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa của lễ hội Rước lợn
La Phù - Hoài Đức - Hà Nội trong đời sống đương đại
Trang 8CHƯƠNG I VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT 1.1 Khái niệm
* Khái niệm Lễ và Nghi lễ
Trong tiếng Hán - Việt, Lễ chính là những khuôn mẫu của người xưa
đã quy định; các phép tắc buộc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan
hệ xã hội Đó chính là cơ tầng, nền tảng của mọi mối quan hệ giữa người với người trong bất kỳ một xã hội nào Theo quan niệm của người xưa, lễ được coi là những phép tắc theo khuôn mẫu đã được hình thành và củng cố theo
thời gian, được quy định một cách chặt chẽ từ “ quan -hôn- tang - tế” đến đi
đứng, nói năng, cư xử hàng ngày của mọi người dân Đây là những quy định,
lễ nghi, phép tắc buộc mỗi con người phải tuân theo trong các mối quan hệ ứng xử của mình trong xã hội Dưới thời phong kiến, các nhà Nho quan niệm rằng: Lễ nghĩa thiên chi tự Theo họ, Lễ vốn là trật tự, là chữ đã định sẵn của Trời, cần phải có và không thể đảo ngược Cuộc sống xã hội của con người cần có lễ để phân biệt, giữ gìn tôn ti trật tự trong mối quan hệ đa chiều luôn diễn ra trong đời sống xã hội Lễ được coi là cơ sở của một xã hội có tổ chức
và đã phát triển đến trình độ nào đó Đối với mỗi người, lễ thể hiện sự tôn kính, thái độ ứng xử của con người đối với đồng loại Lễ nhằm phòng ngừa những hành vi và tình cảm không chính đáng Lễ không chỉ quy định chi tiết
về thái độ, cử chỉ bên ngoài mà còn tạo điều kiện hình thành một trạng thái tinh thần tương ứng trong mỗi con người Lễ cũng đồng thời trở thành phương tiện để tự sửa mình, điều chỉnh mình cho đúng mực, hoàn thiện hơn Những biểu hiện của lễ bao giờ cũng tương xứng với tuổi tác, vị thế và vai trò, điều kiện của cá nhân nào đó trong các mối quan hệ gia đình và xã hội của con người đó Trong chiều dài lịch sử phát triển, lễ còn được coi là
Trang 9“phong hoá” của quốc gia, dân tộc; là những biểu hiện trong thuần phong mỹ
tục, những tập tục truyền thống, lối sống, nếp sống và tập quán sinh hoạt của một cộng đồng dân cư được hình thành và củng cố theo thời gian
Trong “Từ điển hội lễ Việt Nam” của Bùi Thiết thì Lễ được hiểu là các
hoạt động đã đạt đến trình độ lễ nghi [10:5] Tác giả Lê Văn Kỳ, Viện Văn
hoá dân gian cho rằng: “Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác
nhằm biểu hiện lòng tôn kính của dân làng đối với các thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thành hoàng nói riêng Đồng thời lễ cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ, chính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo” [3:67]
Tác giả Hoàng Lương kết luận: “Đối với các dân tộc thiểu số ở nước ta nói
chung và ở miền bắc nói riêng, lễ được thực hiện chủ yếu liên quan đến việc cầu mùa, "người an, vật thịnh" Có thể nói, Lễ là phần đạo, phần tâm linh của cộng đồng, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần, nhu cầu tín ngưỡng của mọi thành viên trong cộng đồng” [6:35]
Lễ hay nghi lễ trong thờ cúng là những nghi thức được con người tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó với mục đích cảm tạ, tôn vinh
về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu nhiên mà người ta thờ cúng Dưới góc độ nào
đó, lễ có thể được coi là “bức thông điệp” của hiện tại gửi quá khứ, là hoạt
động biểu trưng của thế giới hiện thực gửi thế giới siêu hình Nghi lễ là những sinh hoạt tinh thần của các cá nhân hay tập thể, là sinh hoạt của cả cộng đồng người trong đời sống tôn giáo – tín ngưỡng
Tác giả Dương Văn Sáu trong cuốn “Lễ hội Việt Nam trong sự phát
triển du lịch” thì cho rằng nghi lễ là những ứng xử của các tầng lớp nhân dân
dành cho thần, hướng về thần trong mối quan hệ “Người –Thần” vốn luôn tồn
Trang 10tại trong tâm thức và hành động của mọi người, mọi thời đại Nghi lễ còn là hình thức, biện pháp tiến hành trong các hoạt động xã hội của con người nhằm đối ứng và tương thích với đối tượng thờ cúng, với vị thế xã hội, môi trường sống của những người tổ chức tiến hành hoạt động nghi lễ Trong những hình thái như vậy, cần phải vượt ra ngoài những quan niệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái, cúng tế mà còn phải coi lễ, nghi lễ là rường mối kỷ cương, phép tắc, đạo lý, góp phần tôn vinh, củng cố và bảo vệ sự tồn tại và phát triển của gia đình, xã hội [9:27]
Như vậy, từ các quan niệm trên có thể đúc kết, lễ là cách ứng xử của con người trước tự nhiên đầy bí hiểm và thách đố Các nghi thức, nghi lễ của
lễ toát lên sự cầu mong phù hộ, độ trì của các thần và giúp con người tìm ra những giải pháp tâm lý mặc dù phảng phất chất linh thiêng, huyền bí Lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội hay tư nhiên, có thật hay hư tưởng,đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ Lễ là phần đạo, phần tín ngưỡng của các thành viên trong cộng đồng và là cơ sở thiết thực chủ yếu đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh sâu lắng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay
* Khái niệm Hội:
Trong tiếng Việt, Hội là danh từ để chỉ sự tập hợp một số cá nhân vào trong một tổ chức nào đó, tồn tại trong một không gian và thời gian cụ thể
Tác giả Bùi Thiết quan niệm: “Hội là các hoạt động lễ nghi đã phát triển đến
mức cao hơn, có các hoạt động văn hoá truyền thống” [10:5]
Lê Văn Kỳ, Viện Văn hóa dân gian cho rằng “hội là một sinh hoạt văn
hoá dân dã phóng khoáng diễn ra trên bãi sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt trò tục hấp dẫn do mình chủ động tham gia ” [3:83]
Trang 11Đôi khi Hội chỉ sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức có chung mục đích hoặc các mục đích gần giống nhau Hội còn được coi là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người đến dự theo phong tục tập quán, hay phong trào, trào lưu ở một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển xã hội Đặc điểm cơ bản, xuyên suốt của hội (trong lễ hội) là có sự tham gia của đông người và trong hội người ta được vui chơi thoải mái Hội bao giờ cũng mang tính chất công cộng
cả về tư cách tổ chức lẫn mục đích cần đạt được của những người tổ chức và tham dự Đồng thời đây chính là dịp người ta tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí cho đông đảo người tham dự Các hoạt động này được diễn ra thường niên theo phong tục tập quán truyền thống của các địa phương, vùng miền hoặc tổ chức vào các dịp đặc biệt trong năm để hướng tới, tôn vinh với mong muốn đạt được những mục tiêu, giá trị cụ thể nào đó trong đời sống văn hoá cộng đồng
Như vậy, trong hội lưu giữ một phần kho tàng di sản văn hoá đặc sắc của địa phương và dân tộc Trong các hoạt động của hội còn có thể bao gồm các chương trình vui chơi giải trí hiện đại mang sắc thái thời gian, phản ánh
và thể hiện trình độ phát triển của cộng đồng dân cư của một địa phương hay toàn xã hội ở vào thời điểm mà nó ra đời và tồn tại
Dương Văn Sáu cho rằng: Những hoạt động diễn ra trong Hội là một
phần bộ mặt xã hội, là chiếc “phong vũ biểu”, tấm gương phản chiếu khách quan, trung thực đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của một địa phương, của đất nước ở thời điểm diễn ra các hoạt động đó Các hoạt động diễn ra trong hội bao gồm các trò chơi dân gian, các hình thức diễn xướng dân gian do người dân trực tiếp tham gia, các hoạt động văn hoá nghệ thuật truyền thống và cả các hoạt động mang tính hiện đại [9:31]
Tác giả Hoàng Lương khi bàn đến hội, đã đề cập đến yếu tố “đông
người” và có địa điểm để “vui chơi” thoải mái; đến tính chất “công cộng”,
Trang 12đến “nhiều trò vui” “bách hí”, đến mọi người được “cộng cảm, cộng mệnh”,
“phần đời” bên cạnh phần tâm linh của phần lễ…Tác giả cũng đề cập đến
“mối quan hệ giữa lễ và hội” và cho rằng hội là hình thức biểu hiện của lễ,
hội là hình thức, lễ là nội dung Quan hệ đó bện chặt, khăng khít trong nhau
và tương hỗ lẫn nhau, tồn tại trong sự thống nhất [6:38]
Trong hội, có thể tìm thấy những biểu tượng điển hình của sự thể hiện tâm lý cộng đồng; những đặc trưng của văn hoá dân tộc; những quan niệm, cách ứng xử đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của các cá nhân và cả cộng đồng người Những hoạt động diễn ra trong hội phải luôn phản ánh và thể hiện một phần lịch sử địa phương, đất nước Từ những quan niệm trên có thể hiểu: Hội là tập hợp những hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội của một cộng đồng dân cư nhất định; là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân những dịp đặc biệt Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng và trình độ phát triển của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các sự kiện đó
* Khái niệm Lễ hội
Trong những năm vừa qua đồng thời với việc nghiên cứu về Lễ hội thì các quan niệm về Lễ hội cũng được quan tâm nhất định Tuy nhiên qua nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội thì việc bàn đến khái niệm lễ hội không nhiều
Lễ hội là một khái niệm được tiếp cận trên những góc độ khác nhau
Trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại đã đưa ra định nghĩa
về lễ hội : “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu hiện thế giới quan
của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ
và trò chơi truyền thống Là một hoạt động hết sức phổ biến, lễ hội có thể là
sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất,tồn tại lâu đời trong truyền thống”
Trang 13Đây được coi là một định nghĩa khá đầy đủ về những lễ hội kỉ niệm đã trở thành truyền thống
Có thể có những cách phát biểu khác nhau, tùy thuộc vào góc tiếp cận, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều vạch rõ hai cơ cấu chức năng trong một chỉnh thể hiện tượng xã hội bao gồm một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của cộng đồng hướng tới đối tượng nhất định và tổ hợp của những hoạt động văn hóa như là sự hưởng ứng tinh thần được công bố bởi nghi lễ Tuy nhiên, khi tiếp cận lễ hôi theo hướng của quản lý văn hóa sẽ bao trùm lên tất cả các sự kiện lễ hội đang diễn ra trong dương đại bao gồm cả truyền thống dân gian và các sáng tạo mới mang tính bác học Mặt khác, lĩnh vực quản lý văn hóa sẽ quan tâm nhiều hơn đến các can thiệp bảo tồn, khai thác và phát triển vốn liếng truyền thống, cũng như sáng tạo nên các sự kiện,
lễ hội Do vậy, sẽ thuận tiện hơn nếu nhìn hiện tượng lễ hội dưới góc độ của cấu trúc loại hình Từ góc độ đó, tài liệu này đưa ra định nghĩa chung về các
sự kiện lễ hội như sau: Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng,xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định Đây là một cách nhìn có tính hình thức về hiện tượng và có thể bao trùm mọi hiện tượng được gọi là hội hè
Bùi Thiết cho rằng: “Hội lễ là cách gọi cô đọng nhằm để chỉ toàn bộ
các hoạt động tinh thần và ứng xử, phản ánh những tập tục, vật hiến tế, lễ nghi dâng cúng, những hội hè đình đám của một cộng đồng làng xã nhất định” [10:5]
Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ về không gian và thời gian nhất định để tiến hành những nghi thức mang tính biểu trưng
về sự kiện nhân vật được thờ cúng Những hoạt động này nhằm để tỏ rõ những ước vọng của con người, để vui chơi giải trí trong cộng đồng Lễ hội là
Trang 14những hoạt động, những sinh hoạt văn hoá mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung và hình thức của hai thành tố cơ bản là Lễ và Hội Ngoài ra, trong hoạt động lễ hội còn bao gồm một số thành tố khác như: hệ thống các tục hèm, các trò diễn dân gian, hoạt động hội chợ triển lãm và văn hoá ẩm thực Các thành tố này luôn có trục trung tâm là định hướng phát triển Các thành tố của lễ hội luôn vận hành quanh trục trung tâm đó để đạt được những mục tiêu nhất định, những mục tiêu này nhằm phục vụ lợi ích của
cả cộng đồng, chứ không chỉ phục vụ lợi ích của riêng những người tổ chức hoạt động lễ hội Từ tình hình trên đây chúng ta có thể nhận thấy một cách
khái quát rằng: Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên
địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng
xử văn hóa của con ngưòi với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội Khái niệm trên đã phản ánh bản chất và những nội dung của lễ hội truyền
thống Việt Nam
Trước hết, lễ hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, bởi vì đây là hoạt động văn hoá của tập thể, thuộc về tập thể, do tập thể tổ chức Dù ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành Chính họ là những người sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu Họ là chủ nhân, đồng thời
là người đánh giá, thẩm nhận và hưởng thụ những thành quả sáng tạo văn hoá
ấy Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó trong xã hội
Không có đông người tham dự, không thành hội! người ta nói: “đông như
hội” chính là vậy
Lễ hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dân tiến hành, bất
cứ lễ hội nào cũng gắn với các địa bàn dân cư cụ thể, là hoạt động văn hoá
của một địa phương đó Về cơ bản, lễ hội truyền thống Việt Nam là những “lễ
Trang 15hội làng" nhưng cũng có nhiều lễ hội do nội dung và tính chất của nó nên
được diễn ra trong một không gian rộng lớn hơn, có tính liên làng, liên vùng Những hoạt động lễ hội này diễn ra không thường xuyên mà chỉ ở một vài thời điểm nhất định vào mùa xuân hay mùa thu trong năm Đây là thời điểm chuyển giao thời tiết, cũng là thời điểm chuyển giao mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp Vào thời điểm này, người ta tổ chức hoạt động lễ hội nhằm các mục đích khác nhau
Trước hết, những hoạt động mang tính nghi lễ nhằm nhắc lại sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đã diễn ra trong quá khứ Đây chính là biểu hiện đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, thể hiện cách ứng xử văn hoá với thiên nhiên, thần thánh, con người, thông qua các hoạt động trong lễ hội Đó là những ứng xử của tập thể, của cộng đồng cư dân với
cả hai đối tượng: siêu hình (thần thánh) và hữu hình (con người) Nó cũng phản ánh mối quan hệ, giao thoa giữa siêu và thực, giữa con người với con người trong những hoàn cảnh và hoạt động cụ thể
1.2 Quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về công tác quản
lý lễ hội
Lễ hội là di sản văn hóa dân tộc, là sinh hoạt văn hóa cộng đồng hấp dẫn, thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia
Trước năm 1945 về cơ bản, lễ hội là một phong tục “đến hẹn lại lên”
Ngay sau khi giành chính quyền từ tay thực dân pháp Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh về bảo tồn di sản văn hoá lịch sử trong đó có di tích và lễ hội Nhưng do chiến tranh, cũng như quan điểm sai lầm trong một giai đoạn đã dẫn tới hành động phá vỡ các đình, đền, chùa, miếu lễ hội và nhiều hoạt động văn hoá dân gian khác không có điều kiện tổ chức
Sau năm 1975, tuy đã giành được thống nhất song do phải tập trung vào công cuộc kiến thiết lại đất nước, chống chọi với các cuộc chiến tranh mới
Trang 16Chế độ bao cấp cũng chi phối đến quan điểm về văn hoá Trong bối cảnh đó
Di sản văn hoá bị mai một đi nhiều
Bước sang những năm 80, trong bối cảnh mới đời sống bắt đầu đi vào
sự ổn định, nhu cầu đời sống tâm linh của nhân dân cũng ngày càng tăng cao
Do đó có nhiều chính sách mới về khôi phục lại thiết chế văn hoá Tháng
4/1984 nhà nước ban hành pháp lệnh “ bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn
hoá và danh lam thắng cảnh ” Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên tạo điều kiện và
cơ hội cho hành loạt di tích lịch sử được trùng tu, tôn tạo trong cả nước Chỉ trong vài năm sau pháp lệnh năm 1984 được ban hành, nhiều thiết chế văn hoá được khôi phục, nhiều lễ hội cổ truyền được phục dựng và tổ chức Văn hoá trong giai đoạn này đã có những bước khởi sắc mới Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển giao giữa cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường do chưa có nhũng định hướng kịp thời cùng với công tác tổ chức và quản lý còn nhiều thiếu sót nên còn tồn tại những biểu hiện của hoạt động hủ tục, mê tín dị đoan
và tiếp thu văn hoá ngoại lai một cách ồ ạt, chưa có sự chọn lọc
Trước tình hình đó, Nhà nước đã ban hành chỉ thị 27/CT - TW ngày 12/1/1998 của ban chấp hành Trung ương Đảng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Thủ tướng chính phủ cũng ban hành chỉ thị 14/CT - TTg ngày 28/3/1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Thủ tướng chính phủ yêu cầu: Các cấp các ngành có kế hoạch tổ chức các hoạt động cũng như triển khai thực hiện nếp sống văn minh đến tận cơ sở Coi đây là nguyên tắc trọng tâm trong nhiều năm để xây dựng nếp sống văn minh tiến bộ, giàu bản sắc dân tộc
Bộ văn hoá thông tin (Nay là Bộ Văn hoá - Thể Thao - Du Lịch) ban hành thông tư 04/1998/TT -BVHTT ngày 11/7/1998 về việc thực hiện nếp sông văn minh theo chỉ thị của Đảng và nhà nước Trong đó quy định rõ một
số nguyên tắc về tổ chức lễ hội như: Hướng dẫn những ý nghĩa tốt đẹp của
Trang 17ngày lễ, ngày kỷ niệm Giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc về lịch sử, văn hoá, nghệ thuật để bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và thắt chặt tình cảm cộng đồng Tưởng nhớ công đức của thần thánh, tiên nhân, anh hùng dân tộc, ghi nhận công lao của các bậc tiền bối trong lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc Giới thiệu các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các công trình văn hoá nghệ thuật và phát huy vốn văn hoá truyền thống của dân tộc Tổ chức lễ hội phải được phép quản lý của theo phân cấp của Bộ văn hoá Thông tin Tất cả các lễ hội truyền thống đều phải được cơ quan văn hoá thông tin kiểm định nhằm giũ gìn bản sắc văn hoá, những nghi thức truyền thống và những giá trị nhan bản trong lễ hội Nếu như có sự thay đổi về nội dung hoặc hình thức của lễ hội phải được cơ quan có thẩm quyền của ngành văn hoá thông tin quyết định, được phép của Giám đốc sở Văn hoá Thông tin
Tại quyết định số 62/2006/QĐ - BVHTT ngày 22/6/2006 về việc ban hành quy chế công nhận gia đình văn hoá, làng văn hoá, tổ dân phố văn hoá
đã quy định tiêu chuẩn công nhận danh hiệu gia đình văn hoá, làng văn hoá và
tổ dân phố văn hoá như: Gia đình phải thực hiện nghiêm túc không sử dụng văn hoá phẩm cấm lưu hành, không mắc các tệ nạn xã hội, không vi phạm các quy định thực hiện nếp sống văn minh Làng phải thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội trong sinh hoạt cộng đồng; về việc bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan và hủ tục, Nhà nước thống nhất quan điểm chỉ đạo, tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân và kiên quyết bài trừ mê tín
dị đoan Những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo được tôn trọng là: việc thờ cúng tổ tiên, đi lễ chùa và đến nhà thờ Tuy nhiên nhà nước nghiêm cấm việc xem số, xem bói, gọi hồn, đốt vàng mã tại các di tích lịch sử văn hoá trong các lễ hội
Tại nghị quyết Trung ương V, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà
Trang 18bản sắc dân tộc, thực hiện nếp sống văn minh, đó là bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái đẹp, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán
và lề thói cũ
Tại Quyết định số 39/2001/QĐ/BVHTT của Bộ Văn hoá Thông tin về việc ban hành quy chế tổ chức lễ hội trong đó có chương II đề cập đến vấn đề quản lý và tổ chức lễ hội
Tại quyết định 308/2005/QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ ban hành quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Tại
mục 3 quy định rất rõ: “Khi tổ chức lễ hội, chính quyền địa phương, cơ quan
đơn vị tổ chức, cá nhân phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về di sản văn hoá và quy chế tổ chức lễ hội do Bộ Trưởng Bộ văn hoá - Thông tin ban hành, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm di tích, danh lam thắng cảnh, lừa đảo, trộm cắp của du khách, thương mại hoá các hoạt động
mê tín dị đoan trong lễ hội”
Theo cục Văn hoá - Thông tin cơ sở, cả nước có 8.902 lễ hội diễn ra thường xuyên trong năm, trong đó có 7.005 lễ hội dân gian (Chiếm 78,67 %),
407 lễ hội lịch sử cách mạng (Chiếm 4,5%), 1.399 lễ hội tôn giáo (chiếm 15,71% ) và 64 lễ hội văn hoá du lịch, ngày hội văn hoá (Chiếm 0,71%), 25 lễ hội du nhập từ nước ngoài Nhằm tăng cường công tác quản lý lễ hội, mới đây Cục Văn hoá - Thông tin đã có văn bản số 04/ VHTTCS - ĐSVH gửi sở văn hoá - Thông tin các tỉnh, thành phố Yêu cầu chỉ đạo, quản lý và tổ chức lễ hội theo tinh thần của nghị định số 11/ NĐ - CP của chính phủ, kết hợp hài hoà giữa xây và chống trong thực hiện nếp sống văn minh, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, có biện pháp để ngăn chặn và loại bỏ thương mại hoá
Trang 19như đấu thầu tổ chức lễ hội, thu phí không hợp lý, lừa gạt khách tham quan, tổ chức các hoạt động mê tín di đoan, các hình thức cờ bạc
Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở cũng yêu cầu các địa phương thực hiện công tác quy hoạch lễ hội, phân cấp quản lý rành mạch, phù hợp với quy mô, đặc điểm của di tích và lễ hội Đối với lễ hội tổ chức lần đầu tiên, hoặc được khôi phục sau nhiều năm gián đoạn, hoặc có thể thay đổi nội dung, quy mô
Lễ hội du nhập từ nước ngoài đều phải được cấp phép tổ chức Những lễ hội theo quy định không phải xin phép nhưng phải thực hiện báo cáo bằng văn bản
Đối với lễ hội tại điều 25 - Luật di sản văn hoá Việt Nam quy định:
“Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống,
bài trừ các hủ tục và chống những biểu hiện tiêu cực, thương mại hoá trong
tổ chức hoạt động lễ hội Việc tổ chức lễ hội phải theo quy định của pháp luật’’
Lễ hội ở Hà Tây nói riêng và lễ hội truyền thống trên cả nước nói chung trong những năm qua đều được tổ chức trọng thể, có sự chuẩn bị kĩ càng, được sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự kiểm tra giám sát của chính quyền, sự hướng dẫn của bộ,ngành văn hóa nên lễ hội đang dần đi vào nề nếp,trở thành một nét đẹp văn hóa,một sinh hoạt văn hóa lành mạnh của nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại và nảy sinh một số biểu hiện tiêu cực, nổi cộm là vẫn còn tình trạng kinh doanh lễ hội, nhất là các hội vùng, hội lớn có ảnh hưởng rộng, đông người trẩy hội Hiện tượng khoán thu cho các vị thủ từ phải nộp số tiền nhất định cho địa phương hoặc có nơi cho thầu từng phần dịch vụ của lễ hội Một số tệ nạn một thời cơ bản đã được khắc phục như : mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, người ăn xin lại có dịp phục hồi Nhiều lễ hội thu được tiền công đức, nhưng không chú trọng đến việc tu sửa
di tích, quản lý lỏng lẻo,để cổ vật mất mát, di tích xuống cấp, dân mất lòng tin
Một vài lễ hội còn tế lễ kéo dài, không phù hợp với nhịp sống hiện đại,
có nơi tế sai nghi thức Vấn đề đáng lưu tâm là hủ tục có thời cơ trỗi dậy, lễ
Trang 20hội cũng là dịp ý thức phường hội, phe giáp, đình đám nảy sinh, từ ý thức dẫn đến việc khao đãi, chè chén, chia ngôi thứ, bổ bám là vẩn đục không khí trong lành và ý nghĩa tốt đẹp của ngày hội
Trong các lễ hội,các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí lành mạnh còn nghèo nàn, những yếu tố mới đưa vào trong sinh hoạt lễ hội chủ yếu là ca nhạc, biểu diễn nghệ thuật chưa được quần chúng hoan nghênh
và nhiều khi kém hấp dẫn , không ăn nhập với không khí ngày hội
Trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước đã đề ra những quy định, quy chế nhằm phục vụ cho công tác quản lý lễ hội nhằm đảm bảo lễ hội - một loại hình sinh hoạt văn hóa lâu đời của các dân tộc Việt Nam - được tổ chức và quản lý cho phù hợp với thuần phong, mỹ tục, phù hợp với tình hình kinh tế -
xã hội nhằm phát huy tác dụng tích cực của lễ hội trong cuộc sống của nhân dân để qua lễ hội nhân dân được hưởng thụ, giao lưu và sáng tạo văn hóa
Như vậy, cơ sở pháp lí cho thực thi công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động lễ hội dưạ trên chính sách và luật pháp hiện hành của Việt Nam Cụ thể và trực tiếp là :
+ Luật di sản văn hóa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam
+ Nghị định số 26/1999/NĐ – CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo
+ Quy chế tổ chức lễ hội (ban hành kèm theo Quyết định 39/2001/QĐ – BVHTT ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin) + Nghị định số 154/2004/NĐ – CP ngày 9 tháng 8 năm 2004của Chính phủ về Nghi thức Nhà nước trong tổ chức mít tinh,lễ kỉ niệm,trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự của Nhà nước,Huân chương,cờ thi đua của Chính phủ,Bằng khen của thủ tướng Chính phủ
Trang 21+ Quy chế về việc cưới hỏi,việc tang và lễ hội ngày 25/11/2005,Thủ tướng Chính phủ đã kí quyết định số 308/2008/QĐ – TT ban hành quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới,việc tang và lễ hội
+ Các quy định cụ thể của chính quyền địa phương nơi diễn ra lễ hội và sự kiện
Luật pháp và những văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ các mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hộ và sự kiện là duy trì nghiêm minh những điều khoản đã được ghi trong Luật và các văn bản liên quan và đang có hiệu lực.Cụ thể mục tiêu cơ bản của quản lí nhà nước đối với hoạt động lễ hội và sự kiện là : giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản lễ hội,đảm bảo an ninh trật tự công cộng và an toàn của người dân tham gia lễ hội,chống lạm dụng tín ngưỡng vào những mục đích vụ lợi,tổ chức tốt các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du khách,đảm bảo tính minh bạch thu – chi trong hoạt động lễ hội,bảo vệ môi trường sống,phát triển hoạt động lễ hội với
đa mục tiêu văn hóa – xã hội – kinh tế
Có thể nói Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách ngày càng phù hợp với công tác tổ chức và quản lý lễ hội, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy di sản văn hoá của dân tộc
1.3 Khái quát về vị trí địa lý và văn hóa vùng đất Hà Tây (cũ)
1.3.1 Vị trí địa lý tỉnh Hà Tây
Hà Tây là một tỉnh cũ của Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Hà Tây nằm bên bờ phải (bờ Nam) sông Hồng và bờ trái (bờ Đông) sông Đà Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hà Đông nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội cũ 10km về phía tây nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài 35km Trước tháng 8 năm 2008,Hà Tây có địa giới phía đông giáp thủ dô
Hà Nội cũ, phía đông – nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp tỉnh Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Hòa Bình, phía bắc giáp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
Trang 22Hà Tây có vị trí như cửa ngõ phía Tây, Đông Nam và Tây Bắc của kinh
đô Thăng Long - Đông Đô trong quá khứ và thủ đô Hà Nội ngày nay Trong
“Lịch triều hiến chương loại chí” có đoạn viết về Hà Tây: “Trấn Sơn Tây là
một khu có hình thế tốt đẹp và chỗ đất có khí thế hùng hậu Trấn Sơn Nam đất
tụ khí anh hoa, tục gọi văn nhã thực là cái bình phong, phên chắn của Trung
đô và là kho tàng của Nhà Vua ”
1.3.2 Những sinh hoạt văn hóa đặc sắc của vùng đất Hà Tây (cũ)
Vị trí cửa ngõ kinh đô nước Việt trong suốt chiều dài lịch sử đã tạo nên một nền văn hoá truyền thống với một kho tàng di tích lịch sử - văn hoá đồ sộ
và quý giá, xứng danh là đất tụ khí anh hoa, địa linh nhân kiệt với những con người và 'địa danh đã đi vào sử sách
Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, Hà Tây có một kho tàng văn học dân gian phong phú: ca dao, dân ca, tục ngữ, truyện thơ, truyện cổ tích, truyện cười có giá trị văn học Người Kinh có hát chèo, hát trống quân, hát cò
lả, hát cửa đình, múa rối nước Người Mường có hát xéc bùa, hát ví, hát đúm, hát ru, hát đồng dao Nhạc cụ có trống kèn Cồng chiên là một loại hình âm nhạc độc đáo của dân tộc Mường Người Dao có múa rùa, múa chung, múa chim
Hà Tây là vùng đất sản sinh ra nhiều danh nhân dân tộc tiêu biểu như Phùng Hưng, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú Đồng thời là mảnh đất bảo tồn nhiều di sản văn hóa dân tộc tiêu biểu là hàng trăm đình chùa, miếu mạo có giá trị về kiến trúc điêu khắc, nghệ thuật tôn giáo
Hà Tây có rất nhiều Lễ hội mang đặc trưng của Lễ hội truyền thống đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, mỗi làng, mỗi vùng đều có Lễ hội riêng Mỗi Lễ hội như một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trưng văn hoá dân tộc Du khách sẽ bắt gặp những nghi lễ tôn thờ các vị thần linh của cư dân nông nghiệp, để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu hay để tôn
Trang 23vinh, tưởng nhớ những vị anh hùng, những người có công lao với đất nước, với làng xã được tôn làm phúc thần bảo hộ Lễ hội cũng là dịp để du khách tham dự vào những trò chơi dân gian như đấu vật, đánh cờ người, thổi cơm thi, kéo co, hội thả diều, hội chọi gà hay xem các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống như hát dô, hát chèo tầu, múa rối nước, múa rối cạn Dưới đây là một số Lễ hội chính:
Hội Chùa Bối Khê xã Tam Hưng, Thanh Oai mở vào ngày 2 tháng Giêng
âm lịch, thờ phật và đức thánh Bối Nguyễn Bình An
Hội Chùa Trăm Gian xã Tiên Phương, Chương Mỹ là lễ hội thờ phật diễn
ra từ ngày 4 đến ngày 6 tháng Giêng âm lịch
Hội Chùa Hương xã Hương Sơn, Mỹ Đức là lễ hội dài nhất Việt Nam từ ngày 6 tháng Giêng đến ngày 25 tháng Ba âm lịch
Hội Chùa Đậu xã Nguyễn Trãi, Thường Tín diễn ra từ ngày 8 đến ngày 10 tháng Giêng âm lịch thờ thần Pháp Vũ, bà Đậu
Hội Chùa Thầy xã Sài Sơn, Quốc Oai diễn ra từ ngày 5 đến ngày 7 tháng
Ba âm lịch để tưởng nhớ đức thánh Từ Đạo Hạnh người đã tu thành chính quả tại Chùa Thầy
Hội Chùa Tây Phương xã Thạch Xá, Thạch Thất diễn ra vào ngày 6 tháng
Ba âm lịch, là Lễ hội cầu phật
Hội Đình Tây Đằng thị trấn Tây Đằng, Ba Vì diễn ra vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, tưởng nhớ công lao đức thánh Tản Viên và hai vị tướng của ông là Cao Sơn và Quý Minh
Hội Đền Và xã Trung Hưng, TP Sơn Tây mở vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, thờ đức thánh Tản Viên
Hội đền Hát Môn (đền thờ Hai Bà Trưng) xã Hát Môn, Phúc Thọ diễn ra vào ngày 6 tháng Ba âm lịch, tương truyền là ngày mất của hai Bà
Trang 24Hội làng Chuông xã Phương Trung, Thanh Oai diễn ra vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ công ơn của Bố cái đại vương Phùng Hưng Hội làng Đa Sĩ xã Kiến Hưng, thành phố Hà Đông diễn ra từ ngày 12 đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ công lao của thành hoàng và cũng
là ông tổ nghề rèn, Hoàng Đôn Hoà
Hội làng La Khê xã Văn Phú, thành phố Hà Đông mở ngày 15 tháng Giêng
âm lịch
Hội làng Yên Nội xã Đông Quang, Quốc Oai diễn ra vào ngày 10 tháng Hai
âm lịch để tưởng nhớ công đức của tướng quân Cao Lỗ thời An Dương Vương
Hội làng La Phù ( lễ hội rước lợn ), huyện Hoài Đức, diễn ra từ ngày 7 – 15 tháng Giêng âm lịch với nghi lễ rước lợn để tưởng nhớ thành hoàng lang Tĩnh Quốc Công Đại Vương ( Tĩnh Quốc Tam Lang )
Lễ hội là sự kết tinh từ sản phẩm văn hoá truyền thống của dân tộc Nó
có một vai trò, vị trí khá quan trọng trong đời sống của một cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng làng xã ở nông thôn Hà Tây có rất nhiều Lễ hội mang đặc trưng của Lễ hội truyền thống đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, mỗi làng, mỗi vùng đều có Lễ hội riêng Mỗi Lễ hội như một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trưng văn hoá dân tộc Lễ hội rước lợn La Phù là nét đẹp văn hóa của làng La Phù,nhằm để tưởng nhớ thành hoàng lang Tĩnh Quốc Công Đại Vương ( Tĩnh Quốc Tam Lang ) Ngày nay,với sự quan tâm của Đảng và nhà nước, các hoạt động lễ hội trong cả nước nói chung và lễ hội Rước lợn làng La Phù, huyện Hoài Đức, Hà Nội nói riêng được quan tâm và đưa vào quản lý chặt chẽ hơn
Trang 25CHƯƠNG 2 NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI RƯỚC LỢN LÀNG
LA PHÙ - HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI
2.1 Khái quát về xã La Phù - Hoài Đức - Hà Nội
2.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành làng La Phù - Hoài Đức - Hà Nội
Làng La Phù, nay là xã La Phù thuộc cực Nam của huyện Hoài Đức, Hà Nội Đây là miền đồng bằng được bồi đắp bởi các nhánh của con sông Cái ( sông Hồng ) là sông Nhuệ, sông Đáy, nằm trong dãy đất ven thị xã Hà Đông,
ép giữa quốc lộ 6 và tỉnh lộ 72 Xưa kia, vùng đất cổ này thường được nhắc
tới trong câu phương ngôn “ Bảy làng La, ba làng Mỏ” Bảy làng La là La
Nội, La Khê, La Cả, La Tỉnh, La Dương, La Phù và Ỷ La [7:11] là những làng nổi tiếng với các ngành nghề thủ công nghiệp và có truyền thống khoa bảng
Theo các cụ già trong làng, cái tên Làng La Phù không phải ngẫu nhiên
mà có, làng La Phù ngày nay cũng khác xưa về địa giới hành chính Bên cạnh
ý kiến của các bô lão trong làng, một số nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học cũng cho rằng La có nghĩa là Lụa [13:10] Tên làng và tên của cụm bảy làng
La (hay kẻ La nói chung) được gọi theo sản phẩm của nghề dệt, có lẽ người xưa đã lấy tên này đặt cho làng Cho tới nay chưa có nguồn tài liệu nào khẳng định chắc chắn thời điểm nghề lụa được truyền vào làng La nói riêng và vùng
La nói chung Trần Lê Văn, một trong những tác giả của cuốn sách “ Hà Tây
– làng nghề - làng văn” [15:33] cho rằng : Nghề dệt ở đây có từ thời Lê
Trung Hưng do mười vị “tổ sư” nhập vào làng La Khê, sau đó một trong mười vị đấy đến làng Ỷ La ở rể và truyền nghề cho làng này, sau đó nghề dệt phát triển ra cả vùng La
Trang 26Từ trước thời kì Lê mạt, làng La Phù có tên là La Nước Truyền thuyết
kể lại rằng : Xưa kia có vị quan trong triều tên là Nguyễn Công Triều quê ở thôn Đông Lao có công trong việc giúp dân trị thủy, khơi thông dòng nước đỡ cho dân làng La Phù và dân làng xung quanh thoát khỏi tình trạng úng lụt, bệnh tật triền miên Từ đó làng La Nước đổi tên thành làng La Phù để ghi nhớ công ơn của Nguyễn Công Triều La Phù ở đây có nghĩa là sự phù trợ cho làng La
Làng La Phù xưa bao gồm vùng đất La Phù ngày nay và khu Đồng Nhân thuộc xã Đông Lao Xưa kia khu Đồng Nhân vốn là những xóm lẻ của làng La Phù ở miền bãi nên thường được gọi là La Phù bãi Cư dân ở vùng đất bãi thường chịu sự quản lý về mặt hành chính của cư dân làng gốc, cùng thờ chung thành hoàng và tuân thủ theo các tập tục với cư dân làng gốc
Trong suốt thời kì phong kiến, làng La Phù thuộc tổng Yên Lũng, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Tây Sơn [14:10] Hiện nay làng La Phù đồng thời là xã La Phù thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (cũ ), nay thuộc
Hà Nội
Làng La Phù mang đặc điểm của một làng “nhất xã nhì thôn” ( vừa là
làng vừa là xã) Tức là không thông thường như các làng xã khác ở đồng bằng Bắc Bộ, một xã có thể có đến ba hoặc bốn hay ít nhất cũng từ hai làng trở lên Làng La Phù trước kia có hai thôn là La Phù và Đồng Nhân, sau khi tách khu Đồng Nhân ra (1946), nó có cơ cấu tổ chức và chức năng của một xã Phía Đông xã La Phù giáp với thôn Ỷ La, thôn La Nội thuộc xã Đông La và phía Tây giáp với thôn Đông Lao thuộc xã Đông La, phía Nam giáp với hai thôn là
La Tinh và Đồng Nhân ( xưa là La Phù bãi ) cũng thuộc xã Đông La và phía Bắc giáp với tỉnh lộ 72 từ thị xã Hà Đông đi thị xã Sơn Tây Theo tỉnh lộ này,
từ thị xã Hà Đông, đến Km số 6,cách thị xã 4km, ta gặp một địa danh khá nổi tiếng từ nhiều thế kỷ nay, đó là Chùa Tổng (chùa của tổng Yên Lũng ) Bên
Trang 27cạnh Chùa Tổng, rẽ vào con đường phía tay trái, đi khoảng 1km sẽ đến địa phận làng La Phù Hoạc ta có thể đến làng La Phù bằng nhiều cách khác nhau trên các con đường liên làng, liên xã, như từ La Tinh, Đồng Nhân lên, hay từ
La Cả sang…
Ngày nay, bên cạnh sự cách tân, hiện đại – kết quả của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, của nền kinh tế thị trường thời mở cửa, làng La Phù vẫn còn dáng vẻ của một làng quê mang nét cổ kính của những lũy tre bao bọc quanh làng, với chiếc cổng làng và những con đường lát gạch đỏ trong các ngõ xóm khúc khuỷu, và hệ thống đình, chùa lâu đời La phù hiện diện là một làng quê có đầy đủ các tính chất của nông – công – thương nghiệp Đây là một đặc tính có tính chất truyền thống của làng quê này
Địa bàn cư trú của dân làng La Phù ngày nay được khuôn lại trong một vùng đất gọn gàng, tròn trịa Do những tác động của cả tự nhiên và xã hội mà chủ yếu là yếu tố con người, xã hội đã làm thay đổi hẳn cơ cấu cũ Nhưng ngày nay vẫn còn lưu lại đâu đó những dấu tích cổ xưa, qua đó chúng ta có thể nhận biết được về mảnh đất La Phù xưa kia
2.1.2 Tình hình kinh tế - văn hóa làng La Phù, Hoài Đức, Hà Nội
* Kinh tế
Làng La Phù, Hoài Đức, Hà Nội vốn xưa đã từng nổi tiếng khắp chốn kinh kỳ với những sản phẩm the lụa tiến vua nổi tiếng, là đỉnh cao của nghệ thuật dệt thủ công Việt Nam và ngày nay La Phù lại được biết đến như một trong những làng giàu có nhất Việt Nam với nghề dệt len xuất khẩu
Từ trước đến nay, kinh tế làng La Phù luôn dựa trên cơ sở sự kết hợp giữa công – nông – thương nghiệp Đây có lẽ là một đặc điểm chung của hầu hết những làng ở đồng bằng Bắc Bộ có nghề thủ công truyền thống Có thể nói, người dân La Phù rất năng động, sáng tạo, dựa trên nền tảng sản xuất nông nghiệp để làm thủ công nghiệp và “đi chợ” – buôn bán
Trang 28Nằm trong tổng thể của các “làng nghề, làng văn” đất Hà Tây, làng La
Phù là một trong những làng có nghề thủ công nghiệp khá phát triển Đa số người dân ở đây lấy “nghề” làm nguồn sống chính “Nghề” cũng trở thành cội nguồn của giá trị văn hóa tinh thần, là một đẳng thức văn hóa mang sắc thái riêng văn hóa làng nghề Hà Tây nổi tiếng với lụa Hà Đông
“ Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”
Những sản phẩm nổi tiếng đó, chắc chắn có sự đóng góp công sức của người thợ dệt La Phù Ngoài ra, làng La Phù còn nổi tiếng với nghề dệt len, nghề nấu kẹo, buôn vải, buôn sắt, buôn trâu, nghề mộc Kinh tế La Phù phát triển còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các xã lân cận, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống của nhân dân ở khu vực
Với nền kinh tế hội nhập, xã La Phù có những bước phát triển vững mạnh, đời sống kinh tế, tinh thần, vật chất của nhân dân toàn xã được nâng lên, các công trình phúc lợi được xây dựng khang trang, bộ mặt làng xã được đổi mới rõ rệt Năm 2002, xã La Phù đã vinh dự đón nhận bằng công nhận làng nghề Năm 2004 La Phù được công nhận là làng văn hóa
* Văn hóa
La Phù được hình thành từ thời đại Hùng Vương Đây là một vùng văn hóa cổ hiện còn lưu giữ được rất nhiều di tích lịch sử - văn hóa Các di tích này gắn liền với tên tuổi và những chiến công của các thành hoàng làng Đó là những anh hùng lịch sử, văn hóa có nhiều công lao trong sự nghiệp mở làng, giữ nước Với những truyền thuyết được lưu truyền và lễ hội được tổ chức hàng năm ở nơi đây đã phần nào phản ánh được thái độ, tình cảm của nhân dân làng La Phù với các vị anh hùng lịch sử, văn hóa của dân tộc, quê hương
Đó cũng chính là đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”, một truyền thống tốt đẹp
của dân tộc ta nói chung và của Làng La Phù nói riêng
Trang 29Một số ngày lễ của làng La Phù :
- Lễ động thổ : Được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 3 tháng Giêng (
trước khi tổ chức lễ hội hàng năm ) để cầu may cho làng, mở đầu mùa sản xuất mới
- Lễ hội làng La Phù kéo dài từ ngày mồng 7 đến 15 tháng giêng âm lịch để
tưởng nhớ Tĩnh Quốc, vị anh hùng của làng La Phù dưới thời Hùng Vương,
mở tiệc khao quân trước khi lên đường đánh giặc, cũng được coi là Thành hoàng làng của La Phù
- Lễ Kỳ yên ( Lễ Kỳ an ) : Được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 4 (âm lịch)
hàng năm, thời điểm cuối xuân đầu hạ, cầu mong tránh được mọi phiền toái,
lo âu, tránh được bệnh tật để con người, xóm làng được khỏe mạnh, bình yên
- Lễ Hạ điền : Được tổ chức vào ngày 24 tháng 5 cầu mong cho dân làng
một năm mùa màng tươi tốt, thóc lúa đầy nhà
- Lễ Thượng Điền : Được tổ chức vào ngày 23 tháng 7 âm lịch hàng năm với
mục đích thông báo với thần Nông công việc cày cấy đã xong, nhờ thần Nông trông nom bảo vệ lúa giúp dân làng
2.2 Lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội
Xưa nay, nói đến lễ hội ở Hoài Đức, người ta không thể không nói tới
lễ hội làng La Phù Đầu xuân năm mới, cũng giống như hầu hết tất cả các làng quê trên mọi miền đất nước, dân làng La Phù cũng mở hội để cảm ơn trời đất đã cho mưa thuận gió hòa và cầu một năm mới cây cỏ tốt tươi, chăn nuôi thuận lợi Một trong những nét đặc sắc và nổi bật khiến người ta không thể quên được lễ hội làng La Phù là lễ rước lợn vào đêm ngày 13 tháng Giêng
2.2.1 Nguồn gốc của lễ hội Rước lợn làng La Phù - Hoài Đức - Hà Nội
Lễ hội rước lợn La Phù (làng La Phù, huyện Hoài Đức, Hà Nội) là nét văn hóa độc đáo trong đời sống tâm linh của người dân địa phương, nằm trong lễ hội làng La Phù Theo truyền thống lâu đời, hội là dịp tưởng nhớ
Trang 30Tĩnh Quốc, vị anh hùng của làng La Phù dưới thời Hùng Vương, mở tiệc khao quân trước khi lên đường đánh giặc, cũng được coi là Thành hoàng làng của La Phù Thánh Tĩnh Quốc Tam Lang là một bộ tướng của Vua Hùng thứ
18 có công giúp nước đánh giặc Thục, từ nguồn gốc xuất xứ đến cuộc đời của Đức Thánh đều được ghi lại trong sự linh thiêng Chính điều này đã tạo cho người dân tin tưởng hơn vào quyền lực siêu việt, vào sự trợ giúp của vị thần nay đối với dân, với nước
Ông sinh ra sau một giấc mơ kỳ lạ có báo trước của thần Núi Khi trưởng thành được phong làm chỉ huy sứ tướng quân Ông dẫn quân chiến đấu tại núi Sóc Sơn, tình thế nguy cấp, ông ngửa mặt lên trời khấn xin Thượng đế giúp, phút chốc không trung mờ mịt, mây khói từ đất kéo lên và quân tướng phá được vòng vây, đánh thắng giặc Khi Ngài hóa cũng mang nhiều yếu tố linh thiêng : Trời đất tối sầm, một đám mây vàng như hình tấm lụa tự nhiên rơi xuống trước đền quấn lấy mình Ngài Ngài đem theo đám mây biến mất,
vị tướng đã “hóa: vào lúc 0 giờ đêm ngày 13, rạng sáng ngày 14 tháng Giêng
Âm lịch ở làng La Phù, xã La Phù Nhân dân, phụ lão, gia thần lo sợ làm lễ
dâng biểu về triều tấu nhà vua Vua sai sứ phong ngài làm “Thượng đẳng
phúc thần nhất phong Tĩnh Quốc Công Đại Vương”
Tất cả những biểu hiện trên là nhằm tô điểm cho vị thần được thờ một sắc màu huyền bí, bởi vì thần phải như thế mới linh thiêng, mới đáng được tôn thờ và có như thế mới phân biệt sâu sắc với thế giới phàm tục Nhưng nếu chỉ linh thiêng huyền bí không thôi thì thần sẽ chỉ là một thế lực quá xa vời, chưa đáp ứng được niềm khao khát, mong mỏi của người dân mà thực lòng khi tạo cho mình, cho cộng đồng một đối tượng linh thiêng để thờ phụng, người nông dân ở làng quê Việt xưa muốn tìm đến một sự che chở, phù trợ cho cuộc sống muôn mặt đời thường của họ Bởi thế bên cạnh xu hướng linh thiêng hóa vị thần được thờ, họ còn thể hiện việc bình thường hóa vị thần, kéo
Trang 31họ lại gần với cuộc sống lam lũ, nhiều hiểm họa của dân làng Thánh Tĩnh Quốc Tam Lang là con người đức độ, chan hòa với dân, yêu quý gần gũi dân Sinh thời giúp dân trừ giặc, làm đẹp thuần phong mỹ tục làng quê Sau khi đã dẹp xong giặc để tỏ lòng biết ơn nhân dân trong vùng, Ngài đặt tiệc tại làng
La Nước (La Phù) mời phụ lão, nhân dân, gia thần đến dự tiệc Dân xin khi Ngài mất sẽ lấy địa điểm Ngài lập đồn sở làm miếu thờ Ngài Ngài cho dân 10 nén vàng để mua ruộng ao và đổi tên làng thành làng La Phù Vì thế, người dân thực sự tin rằng vị thần là biểu tượng thiêng liêng vừa cao cả, vừa gần gũi với họ
Sau khi nhân dân dâng biểu về triều tấu nhà Vua, Vua sai sứ sắc phong
Ngài làm “Thượng đẳng phúc thần nhất phong Tĩnh Quốc Công Đại Vương”
Tặng phong : “Tam lang hộ quốc yên dân thông minh duệ trí
Thượng sĩ uy dũng nước Nam”
Vua chuẩn tấu đồng ý cho dân làng La Phù rước mỹ tự về làng, lập miếu thờ phụng mãi mãi, quy định khi tế tự, dân không được dùng sắc đỏ, sắc vàng làm mũ áo lễ Khi đó người dân trong vùng mang lợn đến dâng để tỏ
lòng biết ơn và gọi ông là Thành Hoàng làng và cúng tế hàng năm
Như vậy, tục rước “ông lợn” nơi đây bắt nguồn từ vị tướng là Tĩnh Quốc Tam Lang dưới thời Hùng Duệ Vương thứ 6 Ngài từng đóng doanh trại
và luyện quân ở vùng đất thuộc xã La Phù ngày nay Khi đất nước bị xâm lược, ngài đem quân đi chống giặc Trước khi quân tướng lên đường, dân làng thổi xôi, mổ lợn để khao quân Sau này, vị tướng tài ba về trời vào ngày 14 tháng Giêng Do đó, tưởng nhớ ơn đức của Ngài, dân làng La Phù thờ ngài làm thành hoàng làng và hàng năm tổ chức hội làng mổ lợn đem rước ra đình
tế lễ
Trang 322.2.2 Diễn trình lễ hội Rước lợn làng La Phù – Hoài Đức – Hà Nội
2.2.2.1 Công tác chuẩn bị
Lễ hội Rước, tế lợn La Phù nằm trong chuỗi hoạt động của lễ hội La Phù kéo dài từ mồng 7 tháng giêng đến 15 tháng giêng, được coi là một trong những nét đặc sắc và nổi bật của lễ hội làng La Phù, diễn ra vào đêm 13 tháng Giêng Nhưng để chuẩn bị cho lễ hội này, cư dân làng La Phù đã có sự chuẩn
bị từ rất sớm Việc chuẩn bị lễ hội có ý nghĩa to lớn, quyết định sự thành công của lễ hội Chính vì vậy, để cho lễ hội của làng mình được thành công, nhân dân trong làng tiến hành công tác chuẩn bị rất chu đáo và cẩn trọng
Thông thường, lễ hội diễn ra từ ngày mồng 7 đến ngày 15 tháng giêng, song công tác chuẩn bị lại được tiến hành trước đó cả tháng trời Theo lệ hàng năm, cứ đến ngày 13 tháng chạp, chức dịch sắc mục và các quan viên Chạ của các giáp, các Món họp mặt ở đình làng để quyết định mở hội thường hay đại đám
Những năm diễn ra hội lệ (tức làng không mở hội lớn), làng không tổ chức rước mà chỉ tế lễ theo lệ ở đình
Đại đám được quy định 5 năm tổ chức một lần vào những năm thật
“phong đăng hòa cốc”, những năm được mùa, công việc làm ăn trôi chảy, đạt kết quả tốt vào ngày 13 tháng chạp, trước ngày hội nửa tháng, những ông quan viên bao gồm chức dịch, sắc mục và sáu ông cai đám của giáp họp nhau tại đình để cắt cử nhau làm các công việc chuẩn bị vào hội
Mỗi giáp cử ra bốn ông lềnh làm người đại diện cho giáp của mình Các ông này phải có địa vị trong các giáp, có đức hạnh, vợ con song toàn…, sáu giáp trong làng, có hai mươi bốn ông họp thành một món gọi là Món Chạ, chia nhau kiểm soát kỷ cương và lễ vật hàng năm trong lễ hội
Công việc chuẩn bị của các giáp kéo dài suốt thời gian trong năm Vào đầu năm sau, sau mỗi dịp lễ hội đi qua, giáp lại họp mặt với nhau để phân vai
Trang 33xem ai là người cai đám năm sau Ông nào được vào đám năm đó sẽ được giáp trao cho một số ruộng nhất định(ruộng do dân đặt hậu cho giáp để cày cấy, số hoa lợi đó được dùng vào việc chi phí cho khoản phục vụ cho dịp lễ hội của làng) Đặc biệt ông này có nhiệm vụ nuôi một con lợn để rước vào tế
lễ thành hoàng làng vào đêm ngày mười ba tháng Giêng (ngày giỗ của thành hoàng làng) Đây là một việc hệ trọng bởi các giáp không những muốn cúng tiến lên thành hoàng làng một lễ lợn vừa béo vừa đẹp, mà ở đây còn là danh
dự của cả giáp, bởi sau cuộc tế lễ dâng lợn lên Thành Hoàng là cuộc thi xem lợn của giáp nào năm nay đẹp nhất, thể hiện tài chăm sóc, chăn nuôi và cách làm lợn thờ khéo nhất Do vậy trước đó, ông cai đám phải mua lợn về nuôi từ tháng hai, tháng ba, tức là ngay sau tháng có lễ rước lợn
- Giai đoạn chọn lợn và nuôi lợn :
Tiêu chuẩn của lợn thờ cúng : Việc chọn lợn thờ cúng phải hết sức câu
kì, phải là lợn đực thiến, da đen tuyền, tức là lợn không được loang lổ chỗ trắng, chỗ đen, không sứt tai, cụt đuôi, có phàm ăn hay không, nếu lợn có một chiếc lông trắng coi như không đạt yêu cầu
Sau đó ông cai đám phải nhờ người mát tay, gia đình có đầy đủ vợ con bắt lợn về thả lợn vào chuống nhà mình Chuồng lợn phải được xây mới hay sửa sang lại cho sạch sẽ, mát mẻ và luôn được che đậy kín đáo Gia chủ không cho người lạ vào xem vì sợ người lạ có vía dữ, sẽ làm lượn biếng ăn, đặc biệt phụ nữ mang thai Trong khi nói chuyện, người ta cũng tránh không nói đến lợn đang nuôi ở trong chuồng, sợ trộm vía lợn không lớn được
Khi mua lợn về nhà nuôi, nếu nhà nào có bàn thờ thổ công rồi thì thôi, nếu chưa có nhất thiết phải lập ngay Bàn thờ có một bát hương ghi bài vị của quan thổ công, một chiếc mũ thổ công, lọ hoa, một chén nước Hàng ngày, hai buổi sáng và chiều, gia chủ phải thắp hương khấn quan thổ công cầu cho gia đình được bình yên và chú lợn trong chuồng mạnh khỏe, chóng lớn không bị
Trang 34ma quỷ quấy nhiễu Lễ vật thường chỉ có trầu cau, rượu vào ngày rằm, có thêm oản, quả, xôi thịt Ngày đầu, khi mua lợn thả vào chuồng xong, gia chủ phải cúng quan thổ công rằng mình đã mua lợn cúng thần về nuôi trong nhà
và nhờ thổ công trông nom giúp mình
Việc chăm sóc nuôi nấng lợn cúng thần là một công việc quan trọng đòi hỏi sự chăm sóc cẩn thận, tỉ mỉ Hàng ngày, tùy thuộc vào cách chăn nuôi của từng nhà, có thể họ cho lợn ăn ba lần sáng, trưa, chiều, thậm chí là bốn lần trong ngày Nhưng những điều quy định nghiêm ngặt mà ông cai đám nào cũng phải tuân thủ là phải cho lợn ăn sạch sẽ, vệ sinh, không được cho lợn ăn những thức ăn thừa hay bị thiu hay những thức ăn bị ôi hoặc ô uế, cám lợn bao gồm cám gạo trộn với ngô xay hoặc gạo nếp rảnh, được nấu chín lên Rau phải rửa sạch sẽ Người ta thường mua riêng cho lợn một cái máng mới Tắm rửa cho lợn hàng ngày, chuồng trại bao giờ cũng phải giữ sạch sẽ, mùa đông thường ấm áp, mùa hè thường thoáng mát Do vậy mà lợn cúng thường không hay bị ốm như những con lợn khác Xong người ta vẫn cho đó là có sự trợ giúp của quan thổ công và thần linh bản thổ
- Giai đoạn làm thịt và trang trí lợn cúng :
Trước khi mang lợn ra làm thịt, ông cai đám (gia chủ ) phải làm một lễ cúng thần thổ địa và các thần linh xin phép được làm lễ vật cúng Thành
hoàng Sau khi cũng xong ông ra chuồng lợn vỗ nhẹ vào con lợn nói: “Ông đi
ra đình nhé” Sau đó mở của chuồng lợn, đưa lợn ra làm lễ Người ta không
gọi là con lợn mà cung kính gọi lợn tế Thần là Ông lợn, để tỏ lòng kính trọng đối với lễ vật dâng thần, với đấng thượng đẳng
Theo lời kế của các cụ già thì những con lợn cúng thần lúc bị giết thịt rất hiền lành, không như những con lợn thường khác Do vậy khi chọc tiết lợn, người ta không phải trói lợn mà chỉ cần mấy người đứng xung quanh giữ chân và mình lượn cho nó khỏi giẫy giụa, chủ yếu là tránh làm xây xát da, lợn
Trang 35sẽ không đẹp Lợn sau khi được cạo sạch lông, muốn làm trắng da lợn người
ta thường xát nhựa quả đu đủ xanh lên mình lợn, một lúc sau rửa lớp nhựa đó
đi, da lợn vừa sạch, vừa trắng Muốn tạo dáng cho lợn khi nằm trên chõng như khi còn sống, người ta phải lồng vào trong con lợn một cái khung bằng tre uốn cong như hình rẻ sườn để chống mình (thân) lợn lên cao
Phần còn lại của lợn là lòng, gan, ruột (nội tạng) được làm sạch sẽ, mang tất cả cho vào luộc chín Sau đó vớt ra xếp vào mâm Vòng ngoài là vòng dồi, bên trong là các bộ phận nội tạng, tim thận, ruột non Trên cùng người ta dành để xếp buồng gan Cỗ như vậy là dựa theo truyền thuyết có lần tướng lĩnh vua Hùng đi săn Săn được thú rừng, họ dừng lại nấu ăn Nhưng đường đi còn dài, họ chỉ kịp ăn thủ và lòng, còn thịt thì để dành, chia đều cho quân lính mang theo Vì vậy, phần thân lợn phải để sống
Trong khi mổ lợn, người ta không quên bỏ ra một ít tiết lợn và một nhúm lông mao bọc vào một cái túi buộc vào một bó đuốc nhỏ, khoảng năm mươi cm, để ra một góc trên chõng (dùng để làm lễ “tế mao huyết” trong lễ tế thành hoàng) Trang trí cho lợn tế Thành hoàng, người ta phủ lá mỡ cơm xôi (phần mỡ quấn quanh dạ dày của con lợn, phần này còn gọi là lớp màng sang) lên mình lợn, từ đầu đến chân tạo nên những đường nét hoa văn trên mình lợn Ý nghĩa của việc làm này tượng trưng cho việc mặc áo cho lợn trước khi rước đi cúng Thần
Ngày nay, người ta còn cắt giấy màu (xanh, đỏ) thành hình những bông hoa, dán lên tai, mắt, mồm, làm cho lợn tế thần bỗng trở nên đẹp lộng lấy Lợn đã trở thành một thứ lễ vật, vừa lạ, vừa quen Công việc chuẩn bị cuối cùng của giáp là trang trí cho chiếc chõng và sắp xếp đồ tùy khiêng chõng lợn
ra đình Đoàn rước gồm có cờ, trống đại và trống khẩu, thậm chí có thôn có cả phường bát âm đi theo cùng hương án, một quả xôi Quả xôi bên trên có cắm hương và nến
Trang 36Thông thường trong một hội làng bao giờ cũng gồm hai phần : phần Lễ
và phần Hội
2.2.2.2 Phần lễ
Phần lễ là một hệ thống các hành vi (nghi thức) nhằm biểu hiện lòng tôn kính của cộng đồng làng xã hay gia đình, dòng họ đối với thần linh Đồng thời, phần lễ cũng phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước những khó khăn gian khổ của cuộc sống mà bản thân họ không có khả năng khắc phục và cần sự giúp đỡ của thần linh Tế lễ là nghi thức mời thần linh
về, hiến dâng lễ vật cho thần linh và cầu xin thần linh ban phúc lộc, giúp đỡ [5:108] Phần lễ không đơn lẻ mà là cả hệ thống các “diễn xướng nghi lễ” (rước, tế, lễ) [12:9] được nghiên cứu với nhau theo một trình tự và hỗ trợ nhau Lễ hội rước lợn làng La Phù cũng không nằm ngoài quy luật ấy
Vào cuộc tế (khởi sự tế) : người đánh trống rung ba hồi trống Kế đó, ông Đông xướng, xướng :
- “Khởi chinh cổ” : Chiêng trống nổi lên Sau đó ông này “xướng” một loạt
các công việc bắt đầu của buổi tế như : Đốt pháo, cử nhạc, kiểm soát lễ vật
Lễ này có ý nghĩa là phần mở đầu cho buổi tế
- “Ế mao huyết” : Một người cầm lấy cái que dài 50 cm ở đầu buộc một gói
có ít tiết và một ít lông mao, hơ vào lửa cho cháy rồi chạy từ bên tả sang bên hữu, và lại từ hữu sang tả Cứ như thế theo hình sóng nước chạy ra cái ao
Trang 37trước cửa đình và ném xuống Ý nghĩa của nghi thức này là để báo cáo với thần, các giáp đã thịt lợn lành (còn sống khỏe mạnh) chứ không phải lợn chết)
để cho linh hồn lợn được tiêu tịnh độ, được siêu thoát
Sau đó chủ tế theo lời xướng “quán tẩy” rửa tay, chủ tế và bồi tế vào vị trí tế.Người xướng xướng “Thượng hương” : Ông chủ tế và hai chấp sự là ông
cử mịch và ông đọc văn tiến lên hương án Ông tế chủ bỏ trầm hương vào lư đốt, rồi cầm cái lư vái một cái Sau đó đưa lư hương cho người chấp sự mang đặt vào giữa hương án sau bát phù Sau đó lùi xuống vái ba vái và về chỗ
Chủ tế phải tuân thủ theo nguyên tắc “xuất á, nhập ất” “Xuất á” nghĩa
là khi khởi chiếu, chủ tế bước ra đi thẳng rồi rẽ sang bên tay trái, bước đi gãy
góc như nét chữ á “Nhập ất” nghĩa là khi trở lại chiếu mạnh bái từ chỗ phải
đi sang bên trái, rồi quay một vòng để không lúc nào quay lưng vào chính giữa bàn thờ Sau khi quay rồi mới quay về chiếu chủ tế
Sau lễ dâng hương là đến lễ dâng tửu Lễ này được dâng làm ba lần gọi
là “tam tuần” Ông chủ tế cầm chai rượu rót vào hai chén của hai đài Các
chấp sự dâng rượu đi hai bên, hai tay nâng cao đài rượu đi vào nội điện (ở đó
đã có sẵn hai ông trong ban hành lễ đứng đó để đón đồ lễ vật đặt lên bàn thờ) Sau đó quay trở ra ( trong thời gian dâng rượu khoảng 20 phút, ông chủ tế và bồi tế vẫn phải quỳ ở ngoài )
Sau khi tiến tửu lần thứ nhất thì tiến hành rước chúc văn từ trong cung
ra Bồi tế lên nhận chúc văn từ chủ tế và đọc chúc văn, sau đó chủ tế và bồi tế phủ phục rồi đứng lên lễ hai lễ;
Tiếp theo là tuần rượu thứ hai gọi là “á hiến lễ” (hành á hiến lễ nghệ tửu), tuần thứ bao gọi là “chung hiến lễ”, cũng diễn ra như tuần rượu đầu Kết
thúc ba lần dâng tửu, theo lời xướng, ông chủ tế quỳ xuống làm lễ thụ lộc, gọi
là “ẩm phúc” và “thụ tộ” (thụ lộc rượu và trầu) Ông chủ tế bưng lấy chén
Trang 38rượu, lấy tay áo che, làm điệu như uống và nhai vài miếng trầu tỏ lòng thành kính, rồi lại đẻ chén xuống khay rượu ông cử mịch cầm Vái một vái tạ
- “Phần chúc” : Ông đọc văn đi lên hương án, lấy bản chúc văn xuống để
trong một cái chậu và đốt đi
- “Lễ tất” : Tất cả đều vái, sau đó đi ra (Tế đã xong)
Trong lúc tế, những lúc dâng rượu, đốt văn tế, nhạc sinh đều phải cử nhạc Các hành động trong khi tế đều được làm theo tiếng trống đại và tiếng chiêng Tế xong dân làng theo thứ tự vào lễ thần Chiêng trống lại nổi lên gọi
là chiêng trống lễ Phần tế lễ kết thúc vào canh hai ngày mười bốn
Trước lúc tế và sau lúc tế, dân làng ai có lễ riêng mang ra đình thì cứ việc làm lễ khấn thành hoàng, không ai được phép cúng trong thời gian làng đang tế
Cuộc tế là nghi thức của tục hiến vật có từ lâu đời nay của La Phù Vật được hiến lên thần là thịt lợn tươi sống Nghi thức thờ nguyên cả con lợn chưa nấu chín là biểu hiện của sự thành kính mà dân làng muốn gửi gắm lên vị thần linh thiêng của mình
2.2.2.3 Phần Hội
* Rước lợn
Theo tục truyền ngày mười ba tháng Giêng là ngày giỗ của Thành hoàng, nên ngay từ xa xưa ở làng đã có tục rước lợn ra đình để tế Thần Khi xưa có sáu giáp, mỗi giáp làm một lễ lợn Ngày nay La Phù có mười một thôn, mỗi thôn làm một lễ
Lẽ rước lợn ở làng La Phù không phải là lễ rước lợn còn sống như nhiều làng khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ ( như lễ rước, tế lợn trong lễ hội thôn Phượng Nghĩa – xã Phụng Châu nơi thờ Phù Đổng Thiên Vương và
Bà Chúa Liễu ) Lợn rước của làng La Phù là lợn đã được mổ, cạo sạch lông, nhưng để nguyên cả con, tức là tế thịt tươi sống
Trang 39Theo lệ, các xóm phải bốc thăm và dâng lễ vào tế thần theo thứ tự Một đội rước được sắp xếp tuần tự: Đi đầu là hai lá cờ đại, rồi sau đó là đội nhạc kèn, múa lân Tiếp theo sẽ là bàn ngũ quả, cùng với các loại đồ thờ như cây đèn, ống hoa Cuối cùng là kiệu của “Ông Lợn” được đẩy (cách tân kiểu xe) bởi những thanh niên trai tráng
Trên đoạn đường liên xóm dài chừng 1km, từng đám rước diễn ra rất nhộn nhịp Các xóm đều có đội văn nghệ riêng của mình để biểu diễn Xóm thì múa lân, xóm múa sinh tiền, xóm dùng nhạc bát âm, cũng có xóm thuê hẳn kén tây, trống đồng cùng nô nức tiến về đình làng dâng lợn tế thần
Các giáp rước lợn vào buổi tối nên trên đường đi phải đốt nến và đuốc
để soi đường Ngày nay trong đám rước người ta còn đốt cả pháo hoa Người
đi xem rước lợn, đông không kém gì đi xem rước hôm mồng bảy, thậm chí còn sôi động và náo nhiệt hơn Trên kiệu, ngoài “ông lợn” ra người ta còn cắm hương và nến Đi theo sau kiệu là chiếc lọng bằng giấy hoặc bằng vải che cho “ông lợn” Đi đầu đoàn rước là hai lá cờ, một chiếc trống đại do hai người khiêng, một người đeo trống khẩu đi sau để đệm theo Một cái hương án do bốn người khiêng Họ đều là trai đinh chưa có vợ, mặc trang phục khăn mũ áo dài đen
Các giáp rước ra đến đường cái quan thì đi chậm lại để chờ nhau cùng
đi ra đình cho vui Đường làng chật ních người xem, ai cũng muốn đi nhanh cho kịp đám rước Lúc này, ở ngoài đình, mọi người đã xếp hàng đông kín hai bên tả, hữu để chờ lúc rước lợn đi vào trong đình Khung cảnh ở đình lúc ấy được trang hoàng lộng lẫy cờ, quạt, lọng giấy, lọng vải và các đồ chấp kích cắm dọc hai bên gian giữa đình ngoài ngăn cách chỗ tế lễ và hai gian bên người ngồi xem tế Hương án đặt ở đình ngoài, xung quanh là các mâm lễ của các xóm gồm có oản xôi, chè kho, chuối, trầu cau và đồ vàng mã hương hoa Đèn, nến thắp sáng rực rỡ, soi tỏ mọi vật xung quanh
Trang 40Khi đoàn rước của các giáp đã có mặt đông đủ trước cửa đình, hai giáp một,
đi hàng đôi từ từ tiến vào cửa đình Giáp nào đến trước sẽ vào trước Lúc này hương án của các giáp trong đoàn rước lợn sẽ phải để ngoài sân đình Đi trước chõng lợn là mâm xôi, cả hai bên trên đều được cắm hương, có bốn người khiêng Các chõng lợn, mâm xôi được rước thẳng vào đình trong, mỗi bên để vừa đủ ba chõng lợn của ba giáp (hai bên, sáu kiệu của sáu giáp) Ngày nay,
do số lượng thôn nhiều, số lợn tăng lên, người ta phải để cả nhà ở tiền tế Do
số lượng lễ đông như vậy nên người ta không câu nệ xóm nào để ở trong, xóm nào để ở ngoài Các kiệu lợn được rước vào trong tiếng chiêng, tiếng trống và
âm thanh rộn rã của phường bát âm Đình rộng là thế mà lúc này bỗng trở nên
bé nhỏ trước sự đông đúc và sôi động của đêm hội
* Thi lễ vật nông sản ( thi lợn )
Sau phần tế là phần thi xem lợn của giáp nào béo nhất, đẹp nhất Phần thưởng cho giáp nào có con lợn đẹp nhất chỉ đơn giản gồm mấy quả cau và mấy lá trầu ( ngày nay thêm bao thuốc lá ) Tất cả các giáp tham gia đều có giải, làng không chia ra “Ông Lợn” nào đạt giải nhất, “Ông Lợn” nào được giải nhì, giải ba, mà cả làng chia theo Loại Bao nhiêu Ông được loại một, bao nhiêu ông được loại hai, loại ba Xét về mặt vật chất phần thưởng thật nhỏ bé, song về mặt tinh thần nó lại có một giá trị to lớn không có gì thay thế được Sau cuộc thi, lợn của giáp nào mang về giáp đó chia phần, cùng nhau hưởng thụ lộc Thánh
Sau khi tế lễ xong, ngoài sân đình lại vang lên tiếng hát của các ả đào, của phường hát văn hát ca trù kéo dài cho tận đến sáng ngày hôm sau
Ngày 14 tháng giêng, theo tục truyền là ngày hóa của Thành hoàng làng Xưa kia, làng cấm không được chèo hát vào ngày này Theo tục lệ xưa, ngày này cũng là ngày chia phần ở các giáp Con lợn cúng hôm trước được pha ra làm nhiều phần nhỏ chia đủ cho các thành viên trong giáp theo các