Các làn điệu dân ca, các điệu múa là một hiện tượng của lịch sử, văn hoá dân tộc độc đáo, đa dạng,một hình thức sinh hoạt cộng đồng nảy sinh và tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu trong đời sốn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA –NGHỆ THUẬT
KHÓA LUẬN CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH VĂN HÓA
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC LÀN ĐIỆU KHẮP CỦA DÂN TỘC THÁI
Ở HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Anh Quyên Sinh viên : Hà Thu Nhàn
Khóa học : 2011 - 2015
Hà Nội - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Quản lý Văn hóa- Nghệ thuật, Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu cho em bước vào đời
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Anh Quyên đã tận tình hướng dẫn trong quá trình viết khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng nhiều để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên khoa học, tiếp cận thực
tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2015
Sinh viên
Hà Thu Nhàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Anh Quyên
Những trích dẫn đều được ghi rõ nguồn và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào
Em xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Sinh viên
Hà Thu Nhàn
Trang 4MỤC LỤC
1.Lí do chọn đề tài 7
2.Tình hình nghiên cứu vấn đề 8
3.Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Kết cấu của khóa luận 11
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN LANG CHÁNH 12
1.1 Khái quát về tự nhiên, xã hội 12
1.1.1 Vị trí địa lí 12
1.1.2 Nguồn lực kinh tế - xã hội 17
1.2 Khái quát về người Thái ở huyện Lang Chánh 19
1.2.1 Nguồn gốc, lịch sử di cư của người Thái ở huyện Lang Chánh 19
1.2.2 Làng bản 22
1.2.3 Nhà cửa, trang phục, ăn uống,ngủ,chữ viết 23
1.2.4 Tín ngưỡng, tôn giáo 31
Tiểu kết 32
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN NHỮNG LÀN ĐIỆU KHẮP CỦA NGƯỜI THÁI Ở LANG CHÁNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 33
2.1 Giới thiệu chung về Khắp của người Thái 33
2.1.1.Nguồn gốc hình thành các điệu Khắp 33
2.1.2 Một số nét cơ bản về Khắp 34
2.1.3 Môi trường và phương thức diễn xướng 37
2.2 Một số điệu Khắp của người Thái ở Lang Chánh 39
2.2.1 Khắp Xư Tay ( Hát kể chuyện thơ) 39
Trang 52.2.1.1 Khắp Sám Lương-Ính Đai ( Hát thơ Lương Sơn Bá – Trúc Anh Đài ) 40
2.2.1.2 Khắp Xư Nang Peng Hóa ( Hát thơ Tống Trân Cúc Hoa) 42
2.2.2 Khắp Tó Nhe( Hát đối đáp) 44
2.2.2 Khắp bao xáo 44
2.2.3 Khắp mưa bán mương( Hát về bản mường ) 46
2.2.3.1 Khắp có luông ( Hát ca ngợi cây luồng) .46
2.2.3.2 Khắp Páy háy ,páy na( Hát đi ruộng, đi nương) .47
2.2.4 Khắp chum Đảng , chum xết ( Hát mừng Đảng mừng Xuân) 48
2.2.4.1 Chạ ớn Đảng ( Hát cảm ơn Đảng) .48
2.2.4.2 Đất 02 50
2.2.5 Khắp ứ ụ luk non( Hát ru con) 51
2.3 Giá trị của Khắp trong đời sống xã hội của người Thái 53
2.3.1 Khắp là một sinh hoạt văn hóa truyền thống thể hiện những nét bản sắc văn hóa Thái 53
2.3.2 Khắp giúp gắn kết cộng đồng 54
2.3.3 Khắp là nơi nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách của con người 54
2.3.4 Khắp làm cho đời sống tinh thần người Thái phong phú hơn 55
2.3.5 Khắp đóng góp vào sự phát triển nền âm nhạc Thái 56
2.4.Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các làn điệu Khắp của người Thái ở Lang Chánh 56
2.4.1 Công tác sưu tầm các làn điệu Khắp của người Thái ở Lang Chánh 56
2.4.2 Công tác truyền dậy các làn điệu Khắp của người Thái ở Lang Chánh 59
2.4.3 Tổ chức các cuộc thi, liên hoan, giao lưu Khắp 60
Tiểu kết 63
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ CÁC LÀN ĐIỆU KHẮP CỦA NGƯỜI THÁI Ở LANG CHÁNH 64
3.1 Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, xây dựng cơ sở vật chất 64
Trang 63.2.Xây dựng cơ chế chính sách, đầu tư các thiết chế văn hóa 65
3.3.Thực hiện công tác tuyên truyền,giáo dục 67
3.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa 69
3.5 Lập và triển khai kế hoạch cụ thể, toàn diện và lâu dài cho công bảo tồn và phát huy các làn điệu Khắp 71
Tiểu kết 72
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 76
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộccùng sinh sống, cùng mở mang dựng nước và giữ nước Trong đó đông nhất là dân tộc Kinh, còn lại là 53 dân tộc thiểu số có tiếng nói và mang bản sắc văn hoá riêng, cùng hòa chung để trở thành bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Nhắc đến văn hoá là nhắc đến toàn bộ giá trị vật chất và giá trị tinh thần không thể thiếu của con người, là thước đo những giá trị văn hoá giúp ta phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác Các làn điệu dân ca, các điệu múa là một hiện tượng của lịch sử, văn hoá dân tộc độc đáo, đa dạng,một hình thức sinh hoạt cộng đồng nảy sinh và tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu trong đời sống tinh thần của con người, làm cho con nguời lấy lại được sự cân bằng về trạng thái sau những ngày lao động mệt nhọc.Văn hóa xã hội truyền thống là một bộ phận của văn hóa truyền thống,
đó là những biểu hiện của quan hệ dòng họ, gia đình nhà của trang phục ăn uống và tín ngưỡng Điều này thể hiện rất rõ trong văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lí nằm ở 19,180 - 20.400 vĩ độ Bắc 104,220 - 106,050 độ kinh Đông cách thủ đô Hà Nội 153km
về phía Nam Diện tích toàn tỉnh là 11106km Toàn tỉnh Thanh Hóa có 7 dân tộc anh em sinh sống ( Kinh, Mường, Thái, Mông, Dao, Thổ, Hoa ) với tổng
số dân là 3,67 triệu người (năm 2009 ) Trong số đó Người Thái có khoảng trên 21000 người chiếm 6% dân số Thanh Hóa [2, tr.1]
Dân tộc Thái ở Thanh Hóa sinh sống chủ yếu ở khu vực miền núi như các huyện:Quan Hóa, Quan Sơn, Lang Chánh, Mường Lát, Như Xuân, Thường Xuân, Bá Thước Trong số các huyện miền núi này thì Lang Chánh
là huyện có nhiều nét văn hóa đặc trưng của người Thái ở Thanh Hóa Nói đến văn hóa Thái người ta thường liên tưởng đến những điệu xòe, điệu múa
Trang 8nón, những cô thiếu nữ dịu dàng và khéo léo thường khoác trên mình chiếc áo cóm và chiếc váy đầy màu sắc Và làn điệu dân ca " Khắp " cũng là một đặc 11trưng bản sắc văn hóa Thái, Khắp luôn có mặt trong các cuộc sum họp và giữa vai trò quan trọng để tạo nên không khí vui, ấm áp trong các buổi sinh hoạt cộng đồng Từ lâu Khắp đã gắn liền với cuộc sống của người lao động và
có ý nghĩa rất lớn trong đời sống tinh thần của người Thái
Tuy nhiên, khoảng gần chục năm trở lại đây dưới tác động của khoa học
kĩ thuật, sự phát triển của công nghiệp hóa hiện đại hóa, đặc biệt là dưới sự ảnh hưởng từ quá trình giao lưu văn hóa đã tác động mạnh mẽ tới vốn văn hóa truyền thống của người Thái làm cho văn hóa của người Thái ở huyện Lang Chánh,tỉnh Thanh Hóa không còn lưu giữ được " đậm đà " như trước đây Trái lại nó bị mai một, pha trộn và hòa lẫn trong sự thay đổi của xã hội
Vì vậy, là sinh viên khoa Quản lý Văn hóa - nghệ thuật, đứng trước sự biến đổi về bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, tôi xin được góp một
phần công sức bé nhỏ của mình thông qua đề tài"Bảo tồn và phát huy giá trị các làn điệu Khắp của dân tộc Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa"nhằm giới thiệu những nét văn hóa của người Thái ở huyện Lang
Chánh, tỉnh Thanh Hóa; mặt khác nêu ra tình trạng bảo tồn và phát huy các làn điệu Khắp;đề xuất giải pháp tích cực và kiến nghị hợp lý để giúp cho công tác bảo tồn và phát huy các làn điệu khắp có được kết quả tốt hơn
2.Tình hình nghiên cứu vấn đề
Cũng như một số dân tộc có dân số tương đối đông và văn hoá có nhiều điểm nổi trội, cộng đồng dân tộc thái được khá nhiều học giả quan tâm biết đến Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như: Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Trần Bình, Khà Văn Tiến, Hoàng Lương, Lê Sĩ Giáo, Hoàng Nam, Lê Ngọc Thắng Các tác giả đã đề cập đến lịch sử phát triển và văn hoá của dân tộc Thái Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đã
Trang 9cung cấp sự hiểu biết tường tận hơn về dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung Tuy nhiên,đối với một số nhóm người Thái ở địa phương, trong đó có nhóm người Thái ở huyện Lang Chánh,tỉnh Thanh Hoá còn nhiều vấn đề chưa được quan tâm một cách thoả đáng
Cho đến nay nhóm người Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá ít được các nhà nghiên cứu đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về người Thái ở Việt Nam nói chung, Bên cạnh đó những nghiên cứu chuyên sâu về nhóm người Thái này còn quá ít Ngoài một số tham luận trong các lĩnh vực
như: Dệt may truyền trống; Tập quán chữa bệnh dân gian; Quản lý và sử dụng tài nguyên nước, tài nguyên nước (Của các tác giả như: Trần Bình,
Hoàng Cầm, Nguyễn Văn Minh, Trần Mai Lan, Nguyễn Thị Vân ) Đã được
công bố trong hội thảo: Các dân tộc trong môi trường chuyển đổi, tại Chiềng
Mai, Thái Lan vào tháng 12/1998 (Trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Thái Lan) Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về : lịch sử, bản làng, phong tục, văn học, nghệ thuật Phần nào đó đã khắc hoạ đựơc những nét văn hoá người Thái nói chung Tuy nhiên cho tới nay, việc tìm hiểu văn hoá
cổ truyền của người Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá nói riêng đang là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn Qua khóa luận này em hy vọng mình có thể đi sâu vào tìm hiểu rõ hơn về công tác bảo tồn và phát triển các làn điệu dân ca của người Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá
3.Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
Mục đích nghiên cứu: thông qua việc khảo sát về tự nhiên,kinh tế, văn hóa,xã hội truyền thống và những đặc trưng văn hóa, đặc biệt là thực trạng công tác bảo tồn các làn điệu Khắp của người Thái ở huyện Lang Chánh,tỉnh Thanh Hóađể thấy được những thay đổi của nó dưới tác động của công nghiệp hóa,hiện đại hóa và dưới tác động của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Đề tài xin được đề xuất những giải pháp để bảo tồn và phát huy văn hóa
Trang 10dân tộc Thái nói chung và các làn điệu Khắp nói riêng, qua đó góp phần vào
sự nghiệp xây dựng văn hóa dân tộc
Nhiệm vụ nghiên cứu:
-Tìm hiểu đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội truyền thống của dân tộc
Thái ở huyện Lang Chánh,tỉnh Thanh Hóa
-Tìm hiểu thực trạng bảo tồn và phát huy các làn điệu Khắp trên địa bàn huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất những giải pháp và nhằm bảo tồn và phát huy các làn điệu Khắp của người Thái, đồng thời nâng cao chất lượng đời sống tinh thần ,phát triển kinh tế, xã hội cho người Thái ở huyện Lang Chánh,tỉnh Thanh Hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:văn hóa, xã hội và các làn điệu Khắp của người Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa;Những thay đổi của hoạt động khắp trong xã hội hiện nay; Thực trạng bảo tồn và phát huy các làn điệu Khắp của người Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
Phạm vi nghiên cứu: do thời gian có hạn nên đề tài chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu, tập trung khảo sát những đặc điểm cơ bản và những thay đổi của văn hóa xã hội và các làn điệu Khắp của người Thái ở huyện Lang Chánh,tỉnh Thanh Hóa; Tập trung khảo sát thực trạng bảo tồn và phát huy các làn điệu Khắp của người Thái ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa trong 10 năm trở lại đây
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Thực hiện đề tài này, khóa luận chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận là tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa và chính sách phát triển văn
Trang 11hóa; đồng thời có tham khảo một số côngtrình nghiên cứu, đề tài khoahọc, sách, báo tài liệucó liên quan đến nội dung được đề cập trong khóa luận
* Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng các phương pháp khảo sát, điều tra, điền dã dân tộc học gặp gỡ các nghệ nhân và cán bộ văn hóa trong địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập tài liệu
Phân tích mô tả tổng hợp hệ thống hoá các công trình nghiên cứu liên quan của các tác giả đi trước, dùng phương pháp so sánh để đối chiếu với các tài liệu điền dã thực địa, từ đó rút ra những điểm riêng chung
Kết hợp việc tìm kiếm thông tin tài liệu có liên quan trên báo điện tử (Internet) nhằm đạt được kết quả cao nhất
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương chính:
Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội của người Thái ở huyện Lang Chánh
Chương 2:Thực trạng công tác bảo tồn những làn điệu Khắp của người Thái ở Lang Chánh trong giai đoạn hiện nay
Chương 3:Đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị các làn điệu Khắp của người Thái ở Lang Chánh
Trang 12Năm 1829, Nhà Nguyễn quyết định thành lập Châu Quan Hoá, bao gồm Châu Quan Gia, Châu Tàm (thuộc vùng đất Quan Hoá ngày nay) Cắt một phần đất Lang Chánh và một phần đất Nông Cống lập Châu Thường Xuân Tách Châu Lang Chánh ra khỏi phủ Thanh Đô, lập Châu Lỵ tại Ninh Lương (nay thuộc xã Quang Hiến).Như vậy là 14 động và thôn có từ thời Lê, đến năm 1829 Lang Chánh chỉ còn lại một số động mà thôi
Năm 1834, vua Minh Mạng đã đổi động thành xã, đặt thêm tổng, đồng thời xuống dụ đặt các thổ ty, lãnh đạo dưới quyền kiểm soát của các cai tổng Thực chất của sự kiện này là triều đình phong kiến nhà Nguyễn muốn hợp pháp hoá vai trò thổ ty, lãnh đạo để phục vụ chính quyền phong kiến ngày càng đắc lực hơn
Thời Tây Sơn đổi thành Lương Chính, sau cách mạng tháng Támnăm
1945 đổi thành huyện Lang Chánh
Trang 13Lang Chánh là một trong số 11 huyện miền núi, nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hoá, theo trục đường 15A đây là vùng địa hình có nhiều núi cao và đèo dốc và chia cắt mạnh bởi nhiều sông suối Cách trung tâm Thành phố Thanh Hoá 100 km
- Phía Bắc giáp : huyện Bá Thước;
- Phía Nam giáp : huyện Thường xuân;
- Phía Đông giáp: huyện Ngọc Lặc;
- Phía Tây giáp : huyện Quan Sơn và huyện Sầm Tớ (thuộc tỉnh Hùa Phăn của Nước bạn CHDCND Lào) Với 7km đường biên giới
Huyện có 10 xã và 1 thị trấn, dân số là 43.538 người Trong đó, dân tộc Thái chiếm 53% dân số cả huyện, dân tộc Mường chiếm 33%, dân tộc Kinh chiếm 14%
Với diện tích tự nhiên khá rộng là 58.631,76 ha.Trong đó đất Lâm nghiệp là 40.672,13 ha; Đất Nông nghiệp: 3.945,57 ha; bao gồm: Diện tích trồng lúa nước: 1.199 ha; Diện tích gieo trồng: 2.341,56 ha; Diện tích cây công nghiệp hàng năm 405 ha; đất khác là 405 ha
Về địa hình nơi đây khá phức tạp từ Đông sang Tây, có nhiều đồi núi cao
và độ dốc lớn Do đồi núi liên tiếp, điệp trùng và kết cấu địa chất không thuần nhất nên tính chất phức tạp của địa hình tăng lên và có những nét khác biệt so với các huyện Ngọc Lặc, Bá Thước, Quan Hoá
Núi đồi Lang Chánh có độ cao trung bình từ 500 – 700m, điểm cao nhất
là núi Bù Rinh cao 1.291m.Độ dốc trung bình từ 20 – 30 độ, nơi có độ dốc lớn nhất từ 40 – 50 độ Dãy núi Bù Rinh (núi Chí Linh) tạo thành một vòng cung bao quanh một phần lớn diện tích tự nhiên phía nam của huyện từ xã Yên Thắng, Giao An, Giao Thiện Địa danh nơi đây gắn liền với cuộc kháng chiến chống giặc Minh trong thế kỷ XV [2, tr.6]
Trang 14Hệ thống sông, suối: sông suối chằng chịt nhưng chung quy lại có 3 con sông lớn là Sông Cảy, Sông Âm và Sông Sạo Thác Ma hao là ngọn thác lớn nhất của con Sông Cảy có tiềm năng phát triển thuỷ điện và du lịch sinh thái Bên cạnh đó còn có nhiều suối lớn nhỏ rải rác ở khắp các xã trong huyện.Hệ thống sông suối tưới mát cho đồng ruộng, rừng cây, cung cấp nước ngọt và thực phẩm dồi dào cho đồng bào các dân tộc trong vùng.Sông suối còn là đường giao thông và nguồn thuỷ điện lớn
Các điểm dân cư tập trung chủ yếu dọc ven các con sông lớn,khe suối và đường giao thông Đã từ lâu các thung lũng có các cánh đồng nhỏ hẹp vùng đất đai này chính là đất canh tác chính của người Thái ở huyện Lang Chánh từ bao đời nay.Người Thái huyện Lang Chánh đã tận dụng khai thác các yếu tố địa hình vùng đất để duy trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng mình một cách hài hoà và hữu hiệu Truyền thống ứng xử đó đã góp phần hình thành nên những nét văn hoá đặc trưng và vô cùng độc đáo của người Thái ở huyện Lang Chánh Người Thái huyện Lang chánh đã tận dụng địa hình chân đồi núi ven các thung lũng để dựng làng bản, lập Mường và cải tạo các ô trũng ở chân núi để làm ruộng cấy lúa nước bên cạnh đó còn khai phá các vùng đất sườn dốc đồi núi làm nương rẫy để trồng các loại cây hoa màu, cây lấy sợi, và các loại cây làm thuốc chữa bệnh.Và để có nước tưới người Thái nơi đây cũng đã tân dụng độ dốc của các sườn đồi núi cũng như địa hình
để xây dựng hệ thống thuỷ lợi với các loại hình như: Mương, phai, lộc rất tiện lợi so với địa hình vùng đồi núi Có thể nói văn hoá nguời Thái ở huyện Lang Chánh chính là sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên trong môi trường miền núi ở nước ta
Về thời tiết khí hậu nơi đây thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng do tự nhiên chi phối nên hình thành hai mùa khí hậu rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) Mùa mưa kéo dài từ tháng Tư đến tháng Chín, lượng mưa lớn tập trung chủ
Trang 15yếu vào thời gian từ tháng Bảy đến tháng Chín Mưa ở đây kéo dài và thường kèm theo giông bão, lốc và gió Lào Mùa khô kéo dài từ tháng Mười đến tháng Ba năm sau, khí hậu khô và hanh, độ ẩm thấp, có sương muối, sương
mù và mưa phùn kèm theo giá rét, chênh lệch nhiệt độ ban đêm và ban ngày khá cao (bình quân mỗi năm có đến 70 – 80 ngày sương mù và chịu ảnh hưởng của những cơn giông bão) Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Lang Chánh vào khoảng 22 – 24 độ C, tháng nóng nhất là tháng Bảy nhiệt độ lên đến 34 – 36 độ C, đây là nhiệt độ thích hợp của cây trồng rừng nhiệt đới Tháng lạnh nhất có thể là vào tháng Giêng nhiệt độ có thể xuống dưới 10 độ C; Lượng mưa trung bình vào khoảng 2000mm nước nhưng lại bốc hơi 1000mm, mưa phân bố không đồng đều trong năm thường gây ra úng lụt và hạn hán Tập trung chủ yếu vào khoảng từ tháng 5 – 10 (Chiếm đến 80% lượng mưa của cả năm); Độ ẩm không khí trung bình trong năm vào khoảng 82% và giao động giữa các tháng trong năm là rất lớn
Trong năm ở huyện Lang Chánh có ba loại gió chính:gió Bắc (gió mùa đông bắc) về mùa khô lạnh; gió Nam xuất hiện trong khoảng từ tháng Tư đến
Tháng Chín, có cường độ mạnh nên khi mưa hay kèm theo bão lốc với độ ẩm
rất cao; gió Lào hay xuất hiện vào tháng Ba, tháng Năm đây là loại gió nóng
và khô hanh Sương muối thường xuất hiện vào tháng mười hai và tháng giêng năm sau, kèm theo nó là giá buốt và nhiệt độ không khí xuống thấp Nắm rõ đặc điểm khí hậu thời tiết đó nên người Thái ở huyện Lang Chánh có chế độ nông lịch hợp lí và hài hoà để đạt năng xuất cao nhất Mỗi mùa người dân trong vùng có chế độ làm việc và nghỉ ngơi khác nhau,mùa mưa nóng là thời gian sản xuất chính trong năm của họ và các loại cây trồng được tập trung canh tác trong khoảng thời gian này Bên cạnh đó mùa khô lạnh, thiếu nước để canh tác cũng chính là khoảng thời gian giành cho các công việc như: cưới xin, dựng nhà cửa, hay tổ chức các nghi lễ của bản mường Cách
Trang 16ứng xử của người Thái ở huyện Lang Chánh cùng với đặc điểm khí hậu nơi
họ sinh sống chính là biểu trưng cho phản ứng trứơc môi trường khắc nghiệt của của con người ở vùng miền núi Điều đó đã in dấu đậm nét trong văn hoá của người Thái nơi đây, nhất là trong các sinh hoạt mang tính cộng đồng Trong truyền thống, người Thái ở huyện Lang Chánh có rất nhiều loại giống cây trồng phong phú và đa dạng, có tính thuần chủng cao, và với mỗi loại đất họ cũng chọn canh tác những giống cây trồng phù hợp nhằm đem lại năng suất cao nhất
Đất đai Lang Chánh có tổng diện tích tự nhiên là: 58.631,76 ha Trong đó: đất nông nghiệp: 4.005,162 ha; đất Lâm nghiệp: 38.068,5 ha; đất chưa sử dụng: 15.793,858 ha; đất khác: 764,51 ha Song hiện nay cùng với quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đất đai ngày càng hạn hẹp bên cạnh đó độ màu mỡ của đất đai ngày càng cạn dần đi Lang Chánh đang gặp phải khó khăn trong việc đảm bảo đủ lương thực, bù lại có thể canh tác các loại trồng trên cạn, trồng rừng, trồng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc
Về khoáng sản, huyện Lang Chánh có mỏ Cao Lanh ở làng En xã Trí Nang có trữ lượng lớn làm vật liệu chịu lửa và mỏ Đồng ở xã Yên Khương Hiện nay tại khu vực Năng Cát xã Trí Nang mới phát hiện mỏ đá Granít có chất lượng cao và trữ lượng lớn ở dãy núi Bù Rinh, bước đầu các nhà khoa học xác định mỏ có diện tích khoảng 0,5km2, trữ lượng khoảng 660.000m3 Đây là loại đá có độ vững, độ liên kết khá bền vững có giá trị kinh tế cao theo tính toán nếu khai thác với tốc độ 100.000m2 sản phẩm/năm, mỏ này có thể khai thác trên 80 năm
Lâm sản có nhiều loại gỗ quý như : Lim, Lát hoa, Pơ mu, Dổi, Vàng tâm
và có nhiều dược liệu quý : Quế, Sa nhân, Nấm hương, Trầm hương Chủ yếu
Trang 17là rừng trồng luồng tập trung với chất lượng tốt nên nơi đây còn được mệnh danh là “Vua luồng”
Động vật rừng ở Lang Chánh có rất nhiều chủng loại : Gấu, Lợn Lòi, Khỉ, Hoãng, Gà lôi, Trăn, Rắn, Kì đà, Cầy hương Nhưng hiện hay hầu như cạn kiệt do sự săn bắt và đốt nương làm rẫy Chỉ còn lại một số lượng không lớn ở các khu rừng cấm Bên cạnh đó còn có các loại gia súc như: trâu, bò, lợn, gà, cá, Trong truyền thống người Thái ở huyện Lang Chánh chủ yếu sinh sống dựa và ruộng nương và rừng, thảm thực vật và hệ động vật đã gắn
bó với họ trong hầu hết các hoạt động sống diễn ra hàng ngày cũng như trong
cả chu kì một đời người
Có thể nói, người Thái ở huyện Lang Chánh không có bất kỳ một hoạt động mưu sinh hay hoạt động tâm linh nào của người dân trong vùng lại thiếu
đi sự có mặt của cây cỏ, gia súc và muông thú
1.1.2 Nguồn lực kinh tế - xã hội
Với mật độ dân số trung bình khoảng 74 người/km2 được phân bố đều trên 10 xã và 1 thị trấn, mỗi xã trung bình trên 3000 người bao gồm 3 dân tộc chính: Thái, Mường, Kinh và có khoảng 37 người dân tộc khác (Hoa, Thổ, Ê - đê )
Về lao động, do điều kiện sản xuất chưa phát triển các địa phương chưa thật sự chú ý đến nguồn lực này, nên người lao động tự đi kiếm việc làm dẫn đến thu nhập không cao Toàn huyện hiện có 16.369 người lao động trong độ tuổi trong đó, có 919 người lao động thiếu việc làm Để giải quyết vấn đề này Lang Chánh đã và đang thực hiện đề án xuất khẩu lao động và chuyển giai đoạn 2003 – 2005 Đến nay đã có trên 150 lao động sang các nước trong khu vực Đông Nam Á
Cơ sở hạ tầng, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng
và lãnh đạo,bộ mặt nông thôn, vùng cao, biên giới đã được khởi sắc đáng
Trang 18mừng, hệ thống giao thông nông thôn và từ trung tâm thị trấn đi các xã đã được xây dựng cơ bản và thông suốt Chương trình kiên cố hoá trường học đã được thực hiện và đi vào hoạt động, mạng lưới y tế được củng cố và tăng cường
Các dân tộc ở Lang Chánh sớm có truyền thống đoàn kết sớm giác ngộ cách mạng đi theo Đảng, cần cù chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng Người dân Lang Chánh biết dựa vào thiên nhiên để sống và để bảo tồn nòi giống, chính
họ lại biết bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Đây chính là nét văn hóa bản sắc của người dân Lang Chánh bao đời nay
Đời sống kinh tế, từ thời cổ đại, phong kiến, pháp thuộc, kháng chiến chống Pháp cho đến trước cách mạng tháng tám 1945 thành công, thậm chí đến sau hoà bình lập lại (1954) Nền kinh tế huyện Lang Chánh vẫn nằm trong tình trạng lệ thuộc thiên nhiên, nghèo nàn và lạc hậu
Thời kỳ 1955 – 1986: sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến lên chủ nghĩa xã hội, Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ cho đến khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) Cả nước đi lên CNXH, Lang Chánh cùng cả nước hàn gắn vết thương chiến tranh khôi phục lại kinh tế, chuẩn bị và xây dựng những tiền đề cơ sở vật chất cho CNXH Nhưng do điều kiện Lang Chánh là một huyện vùng cao, biên giới đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, kinh tế kém phát triển Mặc dù vậy đảng bộ và nhân dân huyện Lang Chánh vẫn quyết tâm vượt qua đói nghèo Đại hội đảng
bộ huyện qua các thời kỳ đều xác định cơ cấu kinh tế của huyện là:Lâm – Nông nghiệp; Tiểu thủ - Công nghiệp và xây dựng cơ bản.Với định hướng đó
nhân dân Lang Chánh vốn có truyền thống cần cù và sáng tạo trong lao động, bắt đầu áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi đưa năng suất lao động nâng cao hơn trước đây Đời sống nhân dân được cải
Trang 19tạo đáng kể, từ đó tin tưởng tuyệt đối vào đường lối lãnh đạo của Đảng và con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn
1.2 Khái quát về người Thái ở huyện Lang Chánh
1.2.1 Nguồn gốc, lịch sử di cư của người Thái ở huyện Lang Chánh
- Lịch sử tộc người Thái Việt Nam
Có một cộng đồng tộc người tự nhận mình bằng tên riêng Tăy hay Thăy
và được gọi chính thức là Thái Dân tộc Thái có dân số khá đông đảo, theo con số thống kê năm 1973 là trên 36 vạn người Đến năm 1999, dân số của người Thái có 1.328.725 người sống trải khắp vùng quê miền Tây và Tây Bắc Việt Nam Bắt đầu từ phía Đông với miền đất người Thái gọi là mường Lò quê tổ ở Tây Bắc tỉnh Yên Bái (nay chia thành ba huyện thuộc tỉnh Yên Bái: Văn Chấn, Mù Căng Chải, Trạm Tấu và thị xã Nghĩa Lộ) Sang phía Tây gồm toàn bộ địa phận ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La Phía Nam người Thái sinh sống ở miền Tây Bắc Hòa Bình (nay là huyện Đà Bắc và Mai Châu)
và miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An Cuối cùng còn thấy những nhóm sống rải rác trong các tỉnh thuộc vùng núi Tây Nguyên, trong đó huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng là nơi họ ở đông hơn cả Trải qua hàng ngàn năm sinh sống trên các địa bàn trên lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Thái đã cùng các dân tộc anh em khác, tham gia dựng nước và giữ nước Đây cũng chính là quá trình hình thành tộc người để phát triển đến ngày nay Hiện nay, chưa có cách nào khác để tìm ra cội nguồn của văn hoá lịch sử tộc người Thái, ngoài việc rút ra và đúc kết những hiểu biết mới về đời sống tâm linh của họ Từ đó, đưa
ra những kết luận về nguồn gốc hình thành của dân tộc này Người Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính thống nào trên thế giới mà theo một trong những tục có nghi thức thờ Nước (nặm) và Đất gọi là Cạn (bốc) Nước
có biểu tượng Thần chủ là con Rồng (Tô Luông) mang tên chủ nước (chảu nặm), và đất có biểu tượng thần chủ là loài Chim ở núi mang tên chủ đất
Trang 20(chảu đin) Hai biểu tượng thần chú Rồng, Chim cũng là Mẹ, Cha của Mường
và tục thờ này nằm trong toàn bộ nghi lễ cúng mường (xên mương) Theo truyền thống, Thái Đen và Thái Trắng có tục thờ Mẹ- Cha gắn với biểu tượng thần linh Rồng- nước và Chim- cạn trong cúng Mường chéo ngược như sau: Mường Thái Đen thờ: Mẹ - Rồng - nước >< Cha - Chim - Cạn Mường Thái Trắng thờ: Mẹ - Chim - Cạn >< Cha - Rồng - Nước Điều này cho thấy mối liên hệ giữa văn hóa biểu tượng cội nguồn giữa người Thái với truyền thuyết thủy tổ người Việt (Kinh): “Mẹ thủy tổ người Kinh là bà Âu Cơ thuộc giống Tiên (Chim lạc) ở đất, và Cha thủy tổ là ông Lạc Long Quân thuộc loài Rồng- nước (Thủy tộc (biển) Bà Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm con trai, khi khôn lớn thì năm mươi con trai theo cha xuống biển và năm mươi con trai theo mẹ về núi” [12, tr 23] Từ đây, ta có thể hình dung được bức tranh có thể có về sự hình thành, và phát triển văn hóa cội nguồn của hai ngành Người thuộc nhóm nói tiếng Thái có liên hệ với Người Việt (Kinh) trong lịch sử hàng ngàn năm hình thành và phát triển: Trong khi Mẹ thủy tổ hay thần Mẹ của ngành người Thái Trắng ở cùng nhóm nữ với bà Âu Cơ trong tập đoàn người mang biểu tượng Chim - cạn thì Mẹ thủy tổ, hay thần
Mẹ của ngành người Thái Đen sẽ ở nhóm Nữ của tập đoàn người có đại diện nhóm Nam là ông Lạc Long Quân mang biểu tượng Rồng - nước Ngược lại, Cha thủy tổ hay thần Cha của ngành người Thái Trắng cùng nhóm Nam là ông Lạc Long Quân mang biểu tượng Rồng Nước thì Cha của ngành Thái Đen sẽ ở nhóm Nam có đại diện nhóm Nữ là Bà Âu Cơ trong tập đoàn người mang biểu tượng Chim - cạn [12] Theo các nhà nghiên cứu,tổ tiên của người Thái đã sinh cơ lập nghiệp tại một vùng nào đó chính trong phạm vi họ đang
cư trú hiện nay, có thể từ trước công nguyên đã có một phần người Thái cư trú chủ yếu là ở vùng Mường Thanh bây giờ Sang những thế kỷ đầu công nguyên, một bộ phận Thái Trắng ở đầu sông Đà, sông Nậm Na đã di cư
Trang 21xuống phía Nam cư trú ở các huyện phía Bắc như mường Tè, mường Xo (Phong Thổ), mường Lay, Quỳnh Nhai (Sơn La) Đến thế kỷ thứ XI theo
“Quăm Tô Mương” cho rằng: khởi thủy từ thời đại của anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đưa ngành Thái Đen xuôi theo dòng sông Hồng xuất phát từ mường
Ôm, mường Ai (Vân Nam, Trung Quốc) đến mường Lò (Nghĩa Lộ) Sau đó hậu duệ Tạo Xuông, Tạo Ngần đã khai “Mường” lập “Tạo” tạo ra cả một vùng rộng lớn gồm rất nhiều huyện Vùng giữa ngày nay: Thuận Châu (Mường Muổi) thuộc tỉnh Sơn La là thủ phủ của ngành Thái Đen Cho đến cuối thế kỷ XIII, người Thái ở Việt Nam đã ổn định về cư trú chủ yếu ở Tây Bắc Việt Nam Dân tộc Thái chia thành nhiều ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm khác nhau: Thái Đen (Táy Đăm): cư trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn
La (hầu như toàn tỉnh) Nghĩa Lộ (mường Lò) thuộc tỉnh Yên Bái; ở tỉnh Điện Biên; Tuần Giáo tỉnh Lai Châu và một số ở phía Tây Nam tỉnh Lào Cai Thái Trắng: (Táy Đón hay Táy Khao) tập trung ở Mường Lay, mường So (Phong Thổ, Lai Châu); mường Chiến (Quỳnh Nhai); một số khác tự xưng là Thái Trắng nhưng có nhiều nét giống Thái Đen sống tập trung ở Mường Tấc (Phù Yên), Bắc Yên; mường Sang, Mộc Châu (Sơn La) Nhóm Thái Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc) có nét giống với các nhóm Thái ở Thanh Hóa Nhóm Thái ở Thanh Hóa cư trú ở mường Một- mường Đeng tự nhận mình thuộc ngành Đeng (Tay Thanh), ngành Trắng (Tay Mường- Hàng Tổng, Tay Dọ) Nhóm Thái Nghệ An với việc chia ngành Đen, Trắng đã mờ nhạt, họ chỉ quan tâm đến thời gian và quê hương xuất xứ của mình khi đến nơi này Lịch sử phát triển của người Thái theo con đường dích dắc qua hàng ngàn năm, nhưng với người trong nhóm nói tiếng Thái vẫn giữ mạch tư duy văn hóa lưỡng phân, lưỡng hợp để tưởng nhớ quê cha đất tổ xa xưa nhất
Trang 22- Nguồn gốc, lịch sử người Thái ở huyện Lang Chánh
Nguồn gốc, lịch sử người Thái nơi đây được thể hiện trong các áng mo hồn người chết Chẳng hạn, khi kể đến đường đi ngày xưa của cây cỏ, xúc vật
từ trên trời xuống trần gian, các ông Mo - những người chép sử và kể sử đã chỉ ra các địa danh ở Tây bắc Việt Nam, ở Lào Nơi đây có Mường Đanh (thuộc xã Yên Khương) là Mường lớn nhất, cái tên đất tên mường này phản ánh một cách rõ ràng rằng người Thái ở nơi đây đã từ Tây Bắc Việt Nam, từ Lào đi dọc xuống
Dân tộc Thái có số lượng dân cư đông nhất trong các dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh, và họ cũng chính là chủ nhân của các làn điệu Khắp Người Thái ở huyện Lang Chánh khá đông chiếm đến 53% số dân trong huyện, dân tộc Thái theo tư liệu ghi chép còn lại cùng những nét truyền thống dân gian cho thấy nhóm Thái đầu tiên vào sinh sống tại đây là sớm nhất, gọi là Mương, Chiêng
Phân bố dân cư và địa bàn cư trú, người Thái nơi đây chủ yếu sống tập trung ở 6 xã như: Trí nang, Yên khương, Yên thắng, Tân phúc, Tam văn, Lâm phú và rải rác ở một số xã trong huyện
Trang 231.2.3 Nhà cửa, trang phục, ăn uống,ngủ,chữ viết
- Về nhà cửa:
Người Thái nơi đây sống tập trung ở vùng chân đồi, và nhà ở của họ là những ngôi nhà sàn truyền thống Nhà sàn của người Thái thường được xây dựng với một thiết kế rất đơn sơ nhưng lại không kém phần khang trang, sang trọng và bề thế Những ngôi nhà sàn của người dân tộc Thái luôn mang một
vẻ đẹp rất riêng biệt và không thể lẫn vào đâu được Điều đáng nói là nhà người Thái ở đây không phải dùng đến mọt mẫu sát nhỏ nào trong việc thiết
kế và xây dựng, với cấu trúc được làm bởi các loại cây thân gỗ và các loại cây như : cây Tre, cây Nứa, cây Luồng, và được lợp bằng cỏ gianh Để xây dựng được những ngôi nhà sàn thì thay vì dùng đinh như những ngôi nhà sàn khác thì người Thái nơi đây đã thay đinh bằng hệ thống các dây chằng được buộc thắt khá công phu, không kém phần tinh tế và khá tinh xảo Các loại dây
mà người Thái thường dùng để buộc là Lạt, Tre, Giang và Dây Mây hoặc vỏ của các cây chuyên dùng như: Nắng Hú, Nắng Xá Để nối các cột kèo với nhau, người ta sử dụng những đòn dầm xuyên suốt qua các lỗ đục của các cột, kiểu kiến trúc này có vẻ đơn sơ nhưng rất chắc chắn Nó đủ lực để chống đỡ nắng mưa, gió bão và đặc biệt là dư chấn của động đất Nhà sàn có hai bếp (Kýp phay) để dành cho nam riêng và nữ giới riêng Điểm đáng chú ý là bang cột nhà bao giờ cũng được dựng trước tiên, do đó cột này còn có tên là
“sau phi hương” (Ma nhà), cầu thang lên ở hai đầu hiên được gọi là “Tyn Đáy” cầu thang chính ở phía trước và cầu thang phụ ở phía sau Số bậc thang chính chỉ dành riêng cho người chứ không cho ma, chính từ tập quán ấy mà khi gia đình nào có tang ma họ sẽ không khiêng thi thể người chết đi chôn qua cầu thang mà phá vách bắc ở đầu hồi để đem đi chôn Đã có rất nhiều ngôi nhà sàn đã tồn tại tới hàng trăm năm
Trang 24ta mặc áo dài, cắt theo kiểu xẻ nách tương tự như áo dài của người Kinh Nữ giới: Trang phục nữ Thái đượm vẻ đẹp bản sắc văn hóa dân tộc Điều này luôn chiếm ưu thế rõ rệt trong các nét văn hóa độc đáo của dân tộc Thái Nó không những đẹp về kiểu dáng mà hơn hết, nó còn làm tăng vẻ đẹp trời ban cho người phái nữ: “Y phục Thái nổi tiếng bởi sự hài hòa giữa cái che và cái phô ra, giữa cái giản dị mà không kém phần lộng lẫy”[7, tr 34] “Và cũng nhờ lẽ đó mà cụm từ “cô gái Thái” đã trở thành ngôn ngữ biểu tượng văn hóa Folklore Việt Nam” [11, tr 145] Đã là nữ giới đã trưởng thành thì mặc váy khâu liền (váy ống) dài chấm gót chân, không có màu nào khác ngoài màu
Trang 25đen Mép dưới ở bên trong lòng váy thì được táp một dải vải bề rộng từ 3-4
cm, màu phổ biến là đỏ, ngoài ra có thể là màu xanh, vàng, hoa nhưng tuyệt đối không phải là màu trắng Đầu váy có cạp, khâu bằng dải vải màu đỏ, trắng hoặc xanh, miễn không đồng màu đen với thân váy để khi mặc dễ nhìn thấy phần bắt buộc phải dùng dải thắt lưng phủ ở bên ngoài Dải cạp là để gập mép sao cho váy bó sát thân eo, làm đường thắt lưng nổi cộm rõ vòng eo Khác với váy, áo phụ nữ có nhiều hình vẻ, màu sắc hơn áo cổ truyền có hai kiểu: Trong ngày thường cũng như khi cần thiết, người ta mặc một thứ áo tên là “áo cỏm” (cỏm có nghĩa là cộc, cụt và ngắn) áo cỏm có áo ngắn tay và dài tay Chữ “cỏm” ở đây ứng với độ ngắn, dài trong số đo từ eo thắt dưới ngực Nhìn vào chiếc áo cỏm, ta sẽ thấy ngay cái gọi là cộc của áo được giới hạn ở phần
áp chót thân áo mà không phải ở hai bên cánh tay Chính vì vậy, mới đòi hỏi việc cắt khâu phải có kỹ thuật để chiếc áo vừa với thân người mặc thể hiện thẩm mỹ của người Thái Cắt áo phải đúng kích cỡ của chiều rộng sao cho chiếc áo che phủ toàn thân thật kín đáo, nhưng khi mặc phải bó rất sát để hình dáng thân thể như được phô ra Nách áo phải được chiết sao cho ngực nở căng tròn, đạt tới tiêu chuẩn như câu ngạn ngữ: “mình thon vú dựng” Kỹ thuật này làm cho cơ thể và hai chi trên tưởng như bị áo bó chặt nhưng vẫn hoàn toàn tự
do khi vận động Điều đặc biệt hơn cả là việc tạo dáng áo cỏm, từ lâu đã trở thành tiêu chí nhận biết cách ăn vận theo từng nơi hoặc từng nhóm địa phương áo cỏm của người Thái Đen thì dải viền hai vạt để cài cúc không liền với cổ áo, áo của người Thái Trắng thì cổ và đường viền đó liền một dải nên
có tên là “áo liền cổ” (xửa co diên) Áo Thái Đen do đó dựng theo kiểu cổ đứng, còn áo Thái Trắng phải tạo ra cách để đường viền bó ôm lấy cổ Trên hai đường viền vạt áo xẻ ngực, người ta thường cài cúc đồng, nếu không có thì thay bằng hạt cườm Lúc ăn diện thì mặc áo cỏm cài cúc bạc (má pém), đây là một phần đẹp, hấp dẫn của trang phục nữ Thái Cúc bạc có hình dẹt,
Trang 26mỏng được khâu đính bám trên hai dải vạt áo chạy suốt từ cổ qua ngực xuống
eo thắt Trên vạt áo cúc bạc được khâu xếp đối xứng thành từng đôi, dải thành hai hàng, bên phải là những con đực (Tô po) và bên trái là những con cái (Tô me) Vì làm bằng bạc nên bộ khuy này khá bền, có bộ không những chỉ dùng suốt đời Mẹ mà còn truyền sang đời con Nói đến bộ trang phục nữ, ta không thể không kể tới dải thắt lưng dệt bằng sợi tơ tằm có chiều dài hơn 2m Nó không chỉ là vật để thắt giữ váy xiết vào thân mà còn là chỗ để tạo dáng thắt đáy lưng ong của phái đẹp Màu thắt lưng là tín hiệu xác định hai độ tuổi Nếu như ở tuổi niên thiếu đến tuổi 30 người ta dùng thắt lưng màu xanh, những lứa tuổi sau đó chuyển sang màu tím Trang phục nữ Thái Đen còn có khăn Piêu màu đen, hai đầu có thêu những hoa văn hình kỷ hà bằng chỉ nhiều màu sắc có những chùm hoa vải tết hoặc thêu gọi là cút Truyền thống cút piêu phải lẻ để xếp thành chùm 3, 5 để biểu thị sự trung thành của người đàn bà với chồng con (số lẻ là tượng trưng cho sự chung thủy và số chẵn là lứa ôi), không xếp chẵn vì cho rằng số chẵn đôi lứa rẽ hai ngả Nữ Thái trắng không chít khăn piêu mà thường mua khăn vuông len hoặc khăn bông trắng để cuốn Kiểu tóc của phụ nữ Thái cũng phân biệt hai ngành đen và trắng Khi chưa chồng, nữ Thái Đen búi tóc đằng sau gáy (khót phôm), khi có chồng thì búi tóc ngược lên đỉnh đầu để hơi nghiêng về phía bên trái (tằng cẩu) Chồng chết, trong thời gian để tang thì búi ở lưng chừng giữa đỉnh đầu với gáy gọi là búi tóc kiêng, hết tang lại búi tóc ngược như khi chồng còn sống Nữ Thái trắng thì không dùng tóc làm tín hiệu báo có hoặc không chồng mà chỉ búi đằng sau hay cuốn vấn trên đầu, nhưng không vấn bọc khăn như kiểu nữ người Kinh mà
ở đằng sau, búi tóc được hạ xuống thấp để lăn đi lăn lại trên vai
Trang phục phụ nữ Thái nơi đây chủ yếu là “Xín Cọ” váy, “Xứa Cóm”
Áo coóm, “Xứa dao Xứa luống” Áo dài Những trang phục này được tạo nên
từ việc trồng trọt để tạo ra nguyên liệu, đến chế biến làm sợi, dệt vải và cắt
Trang 27may, thêu thùa Tất cả các công việc đó đều dành cho người phụ nữ Thái, cùng với bàn tay khéo léo, trí sáng tạo của họ đã tạo nên sắc thái riêng biệt của dân tộc mình
-Về ăn uống :
Cách chế biến đồ ăn thức uống của người Thái nơi đây có những nét riêng biệt và ta không thể không nhắc đến những món ăn truyền thống và độc đáo như cơm xôi đồ, cơm độn sắn, cơm lam, người Thái thường đồ vào buổi sáng trước khi đi làm và để ăn trong cả ngày Cơm Lam được làm trong một ống nứa, rửa sạch lá chuối hoặc lá dong và lót vào bên trong, gạo trước khi làm thì phải ngâm Sau đó đổ gạo vào trong ống với một ít nước và để lên than bên bếp lửa, khi cơm đã chín ăn sẽ có mùi thơm của lá và cơm ăn rất dẻo Thức ăn chính là Cá, vì cơm xôi và với cá luôn là món ăn truyền thống của mỗi gia đình người Thái, cá thường bắt ở sông suối, ruộng đồng và cả ao nuôi Có rất nhiều cách chế biến từ cá như: Pa Pýnh (Cá nướng), Pa Coói (Cá Gỏi) và đặc biệt món được chế biến từ cá mà người Thái hay làm đó là cho thính cơm và ngô vào chum đựng cá, buộc dây kín như thế có thể ăn dần trong vài tháng Món này được người Thái nơi đây gọi là Pa Xúum Bên cạnh
đó còn nhiều món ăn không kém phần hấp dẫn khác như măng, rau đắng thường được luộc và chấm với nước cá kèm theo đó là những cách chế biến khác nhau Trong các ngày lễ tết hay có đám cưới thì đặc biệt không thể thiếu món Canh Đắng “Nặm pịa – Ceanh khum” Đây là món canh chế biến từ ruột non của Trâu, Bò được mổ thịt trong ngày lễ đó.Bên cạnh đó cũng không thể thiếu được những ché rượu cần được mang ra để mời nhau trong khi đợi chuẩn bị làm lễ, hay mời khác đến thăm gia đình Rượu Cần được làm chủ yếu từ sắn khô và ngâm cùng trấu để ủ lên men (có thể để càng lâu càng tốt) Mỗi khi có khách đến chơi nhà hay có công việc trong gia đình thì chủ nhà luôn mở ra để mời nhau, khi uống rượu cần sẽ có người làm Ông “Ệt Chám”
Trang 28(Trọng tài) để mời mọi người và nếu ai không uống theo đúng quy định của Ông “Ệt chám” sẽ phải uống thêm tuỳ thuộc vào ông “Ệt Chám” Điều đó tạo nên một không khí ấm cúng và vui vẻ trong gia đình : Trong tiếng Thái, lương thực gọi là Khảu (dịch sang tiếng việt là lúa, gạo, cơm) Nếu như người Kinh cơm xôi (cơm nếp) là thứ ăn lót dạ hoặc dùng trong các nghi thức tập quán như cúng lễ, cưới xin thì người Thái coi xôi là cơm ăn thường ngày Đây là một nét đặc trưng và in đậm trong văn hóa tộc người Công thức ăn uống của người Thái là: xôi đồ chấm chẻo, măng rau đồ, thịt cá nướng, cơm lam, thịt - cá làm chua, lạp sống hoặc chín, gỏi, mọk… Từ gạo chế biến thành cái ăn đã biểu hiện rõ bản sắc cộng đồng tộc người Cách chế biến cổ xưa hơn cả là cơm nếp lam, cơm lam có mùi hương sắc đặc biệt và hương vị thơm ngon bổ dưỡng Lương thực chính là xôi nếp, nên dụng cụ bếp núc chính là ninh đồng hay chõ Chõ để xôi cơm thì lấy khúc thân cây gỗ để đục,
và đồ rau thì làm bằng khúc cây bương Trong gia đình người Thái ninh đồng
là một trong bốn thứ của gia truyền, và theo tập quán thì chiếc chõ còn là vật chứa đựng “điều cấm kỵ” Dùng với cơm xôi, người Thái có hệ thực phẩm được chế biến từ ba nguồn gọi chung: Rau, cá, thịt lấy trong thiên nhiên hoặc
do con người sản xuất ra Ngoài ra, cá thịt thường được chế biến bằng cách nướng với các loại gia vị riêng tạo nên mùi vị thơm ngon, độc đáo riêng có của món ăn dân tộc Thái mà ai đã thưởng thức một lần thì không bao giờ quên Uống: Người Thái đã biết uống trà từ rất lâu, nhưng đáng nói nhất là Rượu Rượu là thức uống trong các dịp vui buồn và là vật tượng trưng của các nghi thức Do đó, trong sinh hoạt cuộc sống, với ý nghĩa nào đó, dân tộc này
đã xem nó như một nghi thức cần thiết ngang tầm với cơm Họ dùng rượu khi đón tiếp bà con và tiếp khách, nghi thức và cúng lễ, cưới xin và hội hè, ngâm thuốc và để uống tăng lực, cuối cùng là tang ma Nhìn tổng thể một bản sẽ thấy không có ngày nào không có người uống rượu, nên có thể coi đây là thức
Trang 29dùng quanh năm Rượu Thái có hai loại chính - rượu cất (lảu xiêu) , rượu cần (lảu xá) và hai loại phụ Kỹ thuật làm rượu cũng rất công phu cầu kỳ, rượu làm ra rất thơm ngon (nổi tiếng là rượu Lâm Phú và Yên Khương) Rượu cần
và tục uống rượu cần là nét văn hóa rất độc đáo của dân tộc Thái, mà hầu như
ai cũng hâm mộ Vị vừa ngọt, vừa cay và hăng, thơm khó quên Đồng bào mời rượu bằng những lời có cánh, bằng thơ, bằng hát và bằng cả tấm lòng mình Cách thức tổ chức ăn uống thường ngày cũng không cầu kỳ, nhưng khi
có cỗ bàn hay tiệc tùng thì lại mang những nét văn hóa của cộng đồng tộc người Bộ đồ mâm ghế ăn tuy đơn giản nhưng mang sắc thái văn hóa một cách rõ rệt Người Thái là một dân tộc mến khách và có xu hướng coi đó là đặc trưng về tâm lý khác với các dân tộc khác chính là ở sự thể hiện Với người Thái thì lấy bữa ăn, uống làm đầu câu chuyện giữa chủ và khách Trong tập tục này có một định hướng tư duy ghi thành câu tục ngữ: “người được ăn, đồn tiếng tốt; ma được ăn sẽ phù hộ” Cho nên, khi “anh em đến họ ngoại lại”
sẽ “mổ gà, mở rượu” (khả cáy, khay lảu) và cao hơn thì “mở rượu mời, mổ lợn tiếp” (lảu xú, mu ha)
Người Thái thường trồng lúa nếp trên nương và lúa nước, và họ rất thích
ăn cay (Thường có ớt khô được giã kèm với một số gia vị khác mác khẻn) chính những gia vị đó đã tạo nên hương vị mang đậm nét đẹp độc đáo trong tập quán truyền thống của người Thái nơi đây
-Ngủ:
Ngủ là một trong những nét sinh hoạt văn hóa, truyền thống lâu đời của dân tộc Thái Tục ngữ Thái có câu: “ăn tốt, ngủ ấm, thọ tới tuổi già” đã biểu thị hiểu biết của tộc người này về mối tương quan giữa chế độ ăn, uống và giấc ngủ với sức khỏe và tuổi già Vì vậy, người phụ nữ còn dồn cuộc đời lao động của mình vào việc sản xuất bộ để ngủ Đây là một dân tộc không theo nếp nằm chiếu, giường mà quanh năm phải trải đệm Nằm đệm đắp chăn đến
Trang 30ngày nay vẫn là nếp sống phổ biến của người Thái Bộ vật dụng cần cho ngủ bao gồm: đệm (xứa), chăn (pha), gối (mon), màn (dắn), rèm (man), cót (sát), chiếu (phụ) Nó không những làm cho con người ấm cúng mà còn là sản phẩm tượng trưng cho sự chăm chỉ và giầu có, biếng nhác và nghèo nàn của
mỗi gia đình người Thái
-Về chữ viết:
Ngôn ngữ và văn tự của người Thái cũng gần khá phong phú và hoàn chỉnh Người Thái là một cộng đồng tộc người có ngôn ngữ riêng, có chung cội nguồn ngôn ngữ với tiếng nói của các dân tộc: Tày, Nùng, Lào, Lự, Bố y, Sán Chay ở Việt Nam; với tiếng Lào và Thái Lan; với tiếng Choang và tiếng Thái ở miền Nam Trung Quốc Về mặt cấu trúc ngôn ngữ, ta có thể thấy tiếng Thái nổi bật lên một số nét cơ bản như sau: Do dùng chung một cội nguồn, ngôn ngữ nhóm người Thái có được một tổng thể thống nhất Là một thứ tiếng có khá nhiều vùng thổ ngữ Song nếu một người có thể tường tận đọc, nói, viết được một loại thổ ngữ có thể giao tiếp được với người Thái ở các nhóm Thái, các vùng khác nhau Tiếng Thái có âm tiết và có thanh điệu - một
âm mang một thanh tạo thành một từ biểu đạt ý Về cấu trúc các thành phần trong cú pháp tiếng Thái cùng một mô típ với tiếng Việt, đó là thứ tự: Chủ ngữ - vị ngữ - các thành phần tân ngữ và bổ ngữ Ngôn ngữ Thái rất phong phú, biểu hiện được mọi cung bậc tình cảm Đặc biệt dân tộc Thái có chữ viết riêng, là một trong những dân tộc được đánh giá là có chữ viết sớm nhất ở vùng Đông Nam á cổ đại Đây là thứ tiếng phát triển, đã sớm hình thành ngôn ngữ văn học và có thể diễn đạt được sự vật tự nhiên, xã hội mà con người cần nhận thức Để thực hiện điều đó người Thái đã du nhập, vay mượn các yếu tố ngôn ngữ sắc tộc khác Trong đó, có phần đóng góp của tiếng Việt hiện nay là quan trọng và chiếm tỉ lệ nhiều nhất Song, đây là một loại ngôn ngữ chưa được nghiên cứu một cách tường tận để có thể có được một nền ngữ pháp
Trang 31cũng như từ điển Do đó, ngôn ngữ Thái mới chỉ đạt ở trình độ văn hoá dân gian, chưa từcó được một nền ngôn ngữ bác học Có ngôn ngữ, văn tự người Thái đã xây dựng được một nền văn hóa của mình Có thể coi đây là sự tổng kết quá trình tư duy các quá trình tự nhiên, xã hội bằng hình tượng của nghệ thuật ngôn ngữ, cấu tạo thành ba luồng cơ bản: Văn học dân gian truyền miệng gồm: Các câu truyện thần thoại, giúp ta có thể hình dung được về bức tranh lịch sử của dân tộc Thái Các câu truyện cổ tích mang tuệ và kẻ ngồi mát ăn bát vàng và kết quả bao giờ cũng khẳng định sự toàn thắng của yếu tố thiện và người lao động chăm chỉ Thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ và dân ca phát triển, ngôn ngữ Thái mới thoát khỏi chỉ có lớp từ vựng cơ bản để vươn tới tri thức văn học
1.2.4 Tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng người Thái nơi đây là tín ngưỡng đa thần, thờ tổ tiên, các thần và coi mọi vật đều có hồn và có nhiều loại thần linh khác nhau.Việc thờ cúng tổ tiên , thổ công có liên quan đến thần chú được quy về người đứng đầu, họ có công sáng lập và có nhiều ngày lễ như “Xên Bản – Xên Mương” là
để cầu cho mưa thuận gió hoà, thần linh phù hộ cho dân bản Có phần vui chơi múa hát tập thể như: Ném còn, nhảy sạp, hát khắp Có thể nói vốn văn nghệ dân gian của người Thái rất phong phú, những câu chuyện truyền miệng
từ lâu được ghi lại đã trở thành những sản phẩm văn hoá tinh thần rộng rãi với lịch sử của dân tộc, những làn điệu hát khắp của dân tộc Thái đã làm say đắm lòng người cũng như các lĩnh vực văn hoá tinh thần khác
Người Thái cho rằng con người bị ốm hoặc chết đi là do hồn người đó rời khỏi xác do hoảng sợ hoặc bị ma hay hồn người khác khoẻ hơn bắt giữ, hay có thể vì mải mê trên cõi trời mà quên mất trở lại trần gian Họ tin rằng con người có linh hồn, và điều đó được bổ sung bằng linh hồn bản mường, và
Trang 32được tập trung vào Thầy Mo, ông mùn, chuyển hóa thành tín ngưỡng các Then (Pó phạ)
Văn hoá tinh thần ( ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội, văn nghệ dân gian) người Thái nơi đây có chữ Phạn, có gốc từ Ấn Độ Các sách cúng được truyền
từ đời này qua đời khác cũng bằng chữ Phạn, nhưng cho đến nay các cuốn sách được viết và để lại không còn được nhiều người biết đến mà chủ yếu là các Thầy Mo Mùn nắm giữ
Tiểu kết
Nhìn chung, người Thái ở huyện Lang Chánh có môi trường sinh sống khá ổn định Với điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội rất thuận lợi cho đời sống tinh thần và đời sống vật chất, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp từ đó giúp người Thái ở huyện Lang Chánh duy trì và phát triển cuộc sống dễ dàng hơn,điều kiện văn hóa, xã hội cũng rất phong phú và đa dạng, người Thái ở huyện Lang Chánh có những bản sắc văn hóa đặc sắc được đúc kết từ nhiều thế hệ, những đặc điểm văn hóa của người Thái trong huyện Lang Chánh như: thiết chế bản làng; nhà cửa, ăn uống chữ viết, ngủ; tôn giáo và tín ngưỡng đã làm nổi bật lên bản sắc văn hóa của người Thái, trong đó chứa đựng rất nhiều giá trị văn hóa tinh thần Dưới sự tác động của khoa học kỹ thuật,sự phát triển của công nghiệp hóa hiện đại hóa,đặc biệt
là quá trình giao lưu văn hóa đã tác động mạnh mẽ tới văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Lang Chánh Để tránh tình trạng mai một và mất đi một nền văn hóa, việc giữ gìn và phát huy các bản sắc văn hóa là rất cần thiết.Vì vậy, cần tìm hiểu rõ mức độ ảnh hưởng của quá trình giao lưu văn hóa và thực trạng của nó để tìm ra những giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN NHỮNG LÀN ĐIỆU KHẮP
CỦA NGƯỜI THÁI Ở LANG CHÁNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Giới thiệu chung về Khắp của người Thái
2.1.1.Nguồn gốc hình thành các điệu Khắp
Âm nhạc dân gian Thái hầu hết đều ở dạng thơ và được sáng tác thông qua nhiều chủ đề nội dung khác nhau như các tác phẩm văn học ,cuộc sống đời thường,những dòng âm nhạc nối tiếp nhau xuất hiện theo thời gian để biểu hiện tất cả những gì trong cuộc sống nội tâm con người như niềm vui sướng và nỗi đau thương; cuộc đấu tranh sống còn và những tâm tư thầm kín; những khát vọng và ước mơ sáng lạn về hạnh phúc, tương lai
Trong tâm thức người Thái, bao âm điệua,x,c (theo Dương Đình Minh
Sơn) luôn quyện lại với nhau.Nó phản ánh cuộc sống và khát vọng của người Thái và từ đó hình thành nên âm nhạc đặc trưng, riêng biệt của người Thái.Trong các làn điệu dân ca chủ yếu được hát lên bởi các bài thơ, mà những vần thơ Thái thương ở dạng dạo đầu, láy đuôi.Đó là phút thăng hóa của
các âm điệu a,x, c trong nghệ thuật âm nhạc dân gian của người Thái
Ba âm điệu a,x,c, mỗi âm điệu mang tính chất âm nhạc riêng Âm điệu c
buồn,thuộc dòng hát cúng tín ngưỡng: linh thiêng thần bí, nên sự chuyển tiếp của nó ngoài dân gian là loại hát thơ cổ,rồi tiếp dị bản lại là hát loại hát ru.Âm
điệu a, đường âm đi xuống,thì chất âm nhạc, hơi buồn,chỉ có âm điệu x tính
chất âm nhạc trong sáng vì có âm kết mở
Ba âm điệu này khi tách ra, mỗi âm điệu đứng trong một làn điệu thì sẽ
có ba làm điệu với ba tính chất âm nhạc khác nhau, đó là sự phong phú đầu tiên trong âm nhạc dân gian Thái
Trang 34Sự khác biệt nhau về tính chất âm nhạc giữa các làn điệu của cùng là từ tính chất của ba âm điệu này Ngoài ra, cộng thêm các đặc điểm: tâm lý, tập quán, của mỗi vùng đó, nên đã tạo ra nhiều dị bản
Các âm điệu khi vào làm nét dạo đầu,láy đuôi trong làn điệu còn được thêm âm đằng trước, thêm âm đằng sau, mở rộng quãng đã tạo ra các dị bản.Một số làn điệu tiêu biểu:
Âm điệu c đứng làm nết láy đuôi cho làn điệu hát thơ ngâm một mình,
tính chất buồn, hồi tưởng Ví dụ:làn điệu Khắp Nung na (xuống đồng ) ở huyện Lang Chánh:
Peng ơi!
Yếu đú peng à
Âm điệu a trước hết làm nét dạo đầu cho làn điệu “oi ói” nói lên nỗi niềm tâm sự nhưng không buồn như âm điệu c
Oi ói mưng xăng cắn
Âm điệu x làm nét dạo đầu cho làn điệu” Khắp bao xáo” cho các xã
Thái đen Ví dụ xã Lâm Phú, Yên Thắng…
Yếu đú năm ne…….!
Cùng với những vần thơ, âm điệu, nhịp điệu và tiết tấu riêng biệt đó , Khắp dần dần hình thành trong đời sống xã hội của tộc người Thái và ngày càng đi sâu vào trong cuộc sống của tộc người Thái
2.1.2 Một số nét cơ bản về Khắp
Nói đến văn hóa của dân tộc Thái là ta nói đến hệ thống những giá trị văn hóa do chính cộng đồng tộc người Thái sáng tạo ra và là sản phẩm của con người bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau:văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần.Theo cộng đồng tộc người Thái thì văn hóa có nghĩa là biết nói , biết viết, sử dụng thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, dân ca hợp ngữ cảnh Bởi vậy,
người Thái cho rằng: “Ngôn ngữ là sự gạn lọc tinh khiết của tư duy” Sự gạn
Trang 35lọc tinh khiết trong ngôn ngữ Thái được thể hiện qua các tác phẩm văn học
như:Táy Pú Xơc ( kể về bước đường chinh chiến của ông cha) Quan tô mương (kể chuyện bản mường); những tác phẩm thơ như: Xống chụ xôn xao ( tiễn dặn người yêu), Khun Lu nang Uá(Chàng Lủ-Nàng Uả), tục ngữ và thơ ca và
những lời hay ý đẹp cũng được thể hiện qua Khắp
Với người Thái, Khắp mang ý nghĩa gốc là hát thơ, nhưng cũng đồng nghĩa với hò, ngâm khắp cũng có nghĩa là thơ ca , làn điệu dân ca , cách trình diễn thơ ca….những lời Khắp có văn vẻ như thơ nhưng hơn nữa nó còn có nhịp điệu và tiết tất rất cao Cộng đồng người Thái đã dung thơ để hát, từ đó với người Thái có thể coi thơ đã quy định giai điệu của ca.Song, sự đa dạng của dân ca có những nét cơ bản mang đặc trưng thanh nhạcThái,thanh nhạc Thái chia làm các loại hình cơ bản là: Khắp Xư( hát thơ) - thể hiện bằng giọng đọc để người nghe hiểu bài biết được nội dung câu chuyện trong thơ nên người Khắp dùng giọng ngân nga hơi dài;Khắp Mo - dùng trong nghi lễ
và diễn ca sử thi Tay Pú Xơc toát lên vẻ nghiêm trang, mạnh mẽ Khắp Mo còn dùng làm ma thuật chữa bệnh,loại hình thanh nhạc đã mang tính cảm thụ tôn giáo làm cho người nghe sùng bái các điều tín; Khắp Chương_dùng cho giọng nam trung, nam trầm diễn các tập sử thi anh hùng ca; Khắp Ôi _thể loại này dùng hát đối đáp nam nữ, hát giao duyên giọng Khắp Ôi cũng rất phong phú lời Khắp thơ rất lý lẽ, chặt chẽ giọng điệu trữ tình và sâu lắng
Trong Khắp người Thái dùng âm thanh nhịp điệu của các nhạc khí để thổ
lộ tư tưởng,tình cảm của mình qua các nhạc cụ như pí, tiêu, khèn, sáo
Người Thái sử dụng cốt truyện của các tác phẩm văn học như:Xống chụ xôn xao, Khun Lu Nàng Uả , Tán chụ xiết xương của chính dân tộc mình sáng
tác ra và sử dụng những tác phẩm văn hóa của 3 dân tộc Việt, Lào,Trung Quốc phỏng dịch làm truyện thơ như các tác phẩm:Tống Chân Cúc Hoa, Lương Sơn Bá –Trúc Anh Đài, Tam Quốc Diễn Nghĩa từ đó sáng tác nên
Trang 36các bài Khắp cho chính cộng đồng mình sử dụng, thông qua những tác phẩm văn học người Thái đặt mình vào tâm trạng để nói lên tâm tư tình cảm,những cái nhìn chủ quan đồng cảm với những nhân vật bất hạnh, hay ca ngợi khí phách, kiên cường và dũng mãnh của các anh hùng Ngoài những cốt truyện trong tác phẩm văn học người Thái còn sử dụng rất nhiều đề tài khác nhau để sáng tác nên những bài Khắp ý nghĩa như những quan niệm về con người, kể
chuyện bản mường ( Quan Tô Mương, Nhọng có Mính mương), những bước đường chinh chiên của cha ông ( Táy Pu Sơc ), những kinh nghiệm trong
cuốc sống mà đời trước muốn truyền lại cho thế hệ sau, những câu chuyện về cuộc sống, những tâm tư tình cảm, chuyện làm ăn và sinh hoạt hằng ngày
(Luk khe Mệ nạ , Thám khao,báo sáo,Páy háy-Páy na, Xướn Cun…)
Nói về Khắp của người Thái ở Lang Chánh nó vô cùng đa dạng và phong phú về thể loại, ngữ điệu và lối gieo vần câu trước câu sau, ngữ nghĩa phải được liên kết hết sức chặt chẽ để người nghe cảm thấy du dương êm ái, sâu lắng, trìu mến mà thân thương.Thơ Thái bao gồm các thể thơ từ đơn giản dến phức tạp, từ ít chữ đến nhiều chữ,từ hai ba đên bảy tám chữ hoặc nhiều hơn nữa có thể độc lập về số chữ, có thể nghiêm túc về luật thơ, có thể tự do phá vần, phá luật Như vậy, thể thơ Thái đã phát triển mạnh và khá hoàn chỉnh.Trong đó các thể thơ từ bốn chữ trở xuống ít ngâm hát được, thể thơ chính thóng có thể ngâm hát được là từ năm chữ trở lên và thể thơ bảy chữ là thể thơ trụ cột của nên thơ Thái
Trong tình ca:
… Phó hên nặm vẵng lơc chau đắng Phó hên nặm vắng cắm chau kin Phó hên xửa đăm nĩn chau tháy Phó hên chụ kém máy chau cha…
….Nhìn như nước vực sâu muôn đó
Trang 37Nhìn thấy nước vực xanh ước uống Nhìn thấy áo chàm đen ước thay Nhìn thấy má đỏ hây muốn ướm lời…
2.1.3 Môi trường và phương thức diễn xướng
Từ lâu Khắp đã gắn chặt với cuộc sống của người lao động, dòng đời của con người từ khi sinh ra,lớn lên cho đến khi nằm xuống dường như mỗi chặng đường ấy đều được đánh dấu bằng những thể loại dân ca riêng, Khắp ru con, Khắp đồng dao cho các thiếu nhi đồng,thiếu niên, hát giao duyên nam nữ, Khắp trong đám cưới cho các đôi vợ chồng, Khắp lễ cơm mới, Khắp Mo chữa bệnh, cầu cúng…vì vậy môi trường và phương thức diễn xướng của Khắp rất
đa dạng và phong phú
Diễn xướng là hình thức biểu hiện, trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, điệu bộ, cử chỉ là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ Diễn xướng gồm hai thành tố cơ bản đặc hữu cùng tham gia là: diễn (hành động xảy ra) và xướng (hát lên, ca lên).Thuật ngữ diễn xướng dân gian
có thể hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau, với nghĩa rộng diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn hay diễn xướng và ít hoặc nhiều điều mang tính chất tổng hợp, tự nhiên, hay (tính nguyên hợp) mà lâu nay ta quen đọc là văn học dân gian, còn nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các thể loại diễn (như trò diện, trò tế lễ dân gian)Khắp là hình thức diễn xướng của các bài thơ, các tác phẩm, trong đó có cả các tác phẩm tự sự,như các tác phẩm thuộc thể loại sử thi, chuyện cổ tích và các tác phẩm trữ tình Bằng phương thức diễn xướng, đời sống nghệ thuật dân gian truyền thống được tiếp nối không ngừng Khởi sinh cách đây hàng ngàn năm, Khắp mãi mãi trường tồn với tất
cả các thế hệ người Thái, họ đều ý thức trao lại cho muôn đời sau cách diễn xướng những làn điệu dân ca bản sắc văn hóa, tượng trưng cho những giá trị
Trang 38tinh thần tính cách của dân tộc Sinh hoạt Khắp đã gắn bó chặt chẽ với đời sống nhân dân là cơ sở quan trọng hình thành nên diễn xướng các tác phẩm dân gian, diễn xướng một bộ phận thơ ca dân gian đậm chất trữ tình trong kho tàng thơ ca dân tộc
Phương thức diễn xướng của Khắp Thái chủ yếu là hát thơ, có nhac đệm hoặc không có nhạc đệm trong môi trường sinh hoạt vui chơi hoặc đám cưới hoặc tín ngưỡng.Song, mỗi làn điệu Khắp có cách diễn xướng khác nhau Và ngay cả mỗi làn điệu cũng có những mức độ biểu hiện khác nhau Bởi vậy, cần phải biểu hình thức diễn xướng Khắp một cách linh hoạt, gắn với môi trường sinh hoạt văn hóa, ứng với mỗi nội dung sinh hoạt, gắn với mỗi giai đoạn lịch sử-xã hội…
Diễn xướng Khắp là yếu tố ngoài văn bản nghệ thuật ngôn từ Nhưng
nó là yếu tố không thể bỏ qua nếu muốn hiểu đúng, hiểu sâu sắc về nghệ thuật này.Tuy vậy ở những công trình sưu tầm văn học dân gian Thái, trong đó có Khắp,yếu tố này được lưu tâm ghi chép miêu tả cụ thể Điều đó gây khó khăn cho người nghiên cứu khi tìm hiểu về những tác phẩm dân gian trong quá khứ Qua quá trình tiếp cận thực tế, nghe phân tích diễn giảicủa các nghệ nhân, xin được nêu một số nhận xét về phương thức diễn xướng của Khắp Thái như sau:
- Khắp xư tay ( hát thơ)
Khắp xư là hình thức mà người hát chỉ hát và ngâm chứ không biểu diễn bằng các hành động, cử chỉ, người Khắp thể hiện cảm xúc bằng giọng đọc, đọc giọng trầm ngâm, ngân dài để người nghe có thể hiểu được và biết được nội dung của bài Khắp dễ dàng hơn
- Khắp tó nhe ( hát đối đáp )
Khắp đối đáp giao duyên là giữa một bên nam và một bên nữ, là điệu hát thiết tha, đằm thắm, mặn nồng,tình cảm …ca ngợi tình yêu nam nữ trong sáng
Trang 39và lành mạnh Bối cảnh của Khắp đối đáp là trên sàn khuống, trong các hội xuân, trong các dịp mọi người trong cộng đồng được sum họp với nhau…Trong Khắp đối đáp nam nữ thường thì người con trai sẽ cho câu đối trước,sau đó thì người con gái đáp lại đáp lại những câu hỏi của đối phương,
và cứ thế mọi người thay nhau hát,ai cũng phải hát một số lần
Sinh hoạt Khắp gắn bó chặt chẽ với đời sống dân gian, là cơ sở quan trọng hình thành diễn xướng Khắp.Môi trường diễn xướng Khắp luôn có mặt
ở tất cả các hoạt động đời sống hằng ngày của người Thái, với các hoạt động phong phú như: lao động sản xuất, vui chơi, sum họp, đám xin,đám cưới …Vì vậy, Khắp là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Thái, nên Khắp gắn bó và thân quen với mỗi người trong cộng đồng tộc người Thái
2.2.Một số điệu Khắp của người Thái ở Lang Chánh
Khắp Xư Tay có nghĩa là hát thơ, hát về những bài thơ mà người Thái
sáng tác từ những cốt truyện của các tác phẩm văn học như:Xống chụ xôn xao, Khun Lu Nàng Uả , Tán chụ xiết xương của chính dân tộc mình và những
tác phẩm của văn hóa của 3 dân tộc Việt, Lào ,Trung Quốc phỏng dịch làm
truyện thơ như các tác phẩm:Tống Chân Cúc Hoa, Lương Sơn Bá –Trúc Anh Đài, Tam Quốc Diễn Nghĩa…khi Khắp Xư Tay người hát thường ngân dài
các câu như ngâm thơ, nhưng nhịp điệu và giọng điệu trong Khắp Xư Tay cao hơn trong ngâm thơ Những bài thơ của người Thái được sáng tác trong dân gian và lưu truyền từ vùng này sang vùng khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng chứ không phải bằng chữ viết nên nhịp điệu của Khắp sẽ nhanh hơn đọc Ngày nay, các sáng tác thơ ca của người Thái được lưu truyền bằng chữ viết nhưng người Thái vẫn Khắp như các thế hệ cha ông đã từng Khắp Điệu Khắp này nhịp điệu rất đều,khi hát từ đầu bài đến cuối bài thì bố
Trang 40cục của bài không thay đổi chỉ có một số từ cần nhấn mạnh thì người Khắp sẽ
ngân dài thêm
Sau đây là một số bài Khắp thuộc Khắp Xư Tay
2.2.1.1 Khắp Sám Lương-Ính Đai ( Hát thơ Lương Sơn Bá – Trúc Anh Đài )
Sám Lương-Ính Đai
Bặt nị ái chắng ma né hót, mua sú siếng kháy hiêng ná cáy ma lẹo nang
ơi
Nang có nau nắng ná tang nọi ,kháo húng hươn sớ tẹ leo nang ơi
Chớ chai nhăng áo thứng hót peng uốn nọng tẹ leo
Bá có lon tó kháy khót khó khoam bậu , chiện té giam lắng bá leo
Siết tó non khưn khắm lái lang đúa tứn, khén páy đén pịc phựn hứng húng lái khao, bá có non điếu cúa, húng peng lứa háy lắm chê nọng ơi
Hụ pá nang tái páy kháu lứp phạ , bang ái nâu lắng nị la nọng ơi
Xướng tó huân chớ cáy xía nang bénh xóng , chúa hiêm pín lạ nang ơi báu nhăng liếu ni lạ nang ơi
Tộc tó lái bang mự hiếm đáy lái chớ tẹ ọ nang ơi.bá có nghin xướng nghịa khoắn cơi hâu quén bá na nang ơi! Dú bá xén sính đắng ắn hại bá có mi xúng lơ đơi nang ơi
Xướng tó cúng ha xế cáo né té giam nhăng nọi lư lác chím hoang nị la Chơ nị bá chờ ma khuyến sán chợ , tang xá thắm póng cón nơ nang ơi
Hớ hót dao tang nọi pay mác mương cáy
Trai có chúng hung kéo on nọi , khâu móm báu bán nang ơi
Tún khinh trai áo thứng hót peng cọi cọi nang ơi, bá có lứa giác tán đóm nọng ma tém lai sán con nơ nang ơi
Bá có ma tém sán chợ đớn đúng tiêu giám , nang có nha chế xía ái phương pị , mi tí ngoi chớ đé nơ nang ơi