Lời cảm ơn Được sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn Thạc sĩ Ngô Ánh Hồng cùng với niềm đam mê của bản thân, em đã lựa chọn đề tài “Ứng dụng Quan hệ công chúng trong việc quảng bá thu hút k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT
-
LÊ THỊ NHƯ NGUYỆT
ỨNG DỤNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRONG VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGÔ ÁNH HỒNG
Hà Nội – 2014
Trang 2Lời cảm ơn
Được sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn Thạc sĩ Ngô Ánh Hồng cùng với niềm đam mê của bản thân, em đã lựa chọn đề tài “Ứng dụng Quan hệ công chúng trong việc quảng bá thu hút khách du lịch đến Bảo tàng Phụ Nữ Việt
Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
Sau một thời gian dài nghiên cứu, khai thác tài liệu và khảo sát thực tế em
đã hoàn thành xong bài viết của mình Đây là thành quả từ sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của Thạc sĩ Ngô Ánh Hồng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô
Qua đây em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý văn hóa nghệ thuật Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, cùng các cán bộ trong Bảo tàng đã đóng góp ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn
thành đề tài “Ứng dụng Quan hệ công chúng trong việc thu hút khách du
lịch đến Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam” này
Do thời gian hạn hẹp và trình độ còn nhiều hạn chế, bài viết sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giúp em hoàn thành đề tài này tốt hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả khóa luận
Lê Thị Như Nguyệt
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRONG VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN CÁC BẢO TÀNG Ở VIỆT NAM 5
1.1 Cơ sở lý luận về Quan hệ công chúng 5
1.1.1 Khái niệm Quan hệ công chúng 5
1.1.2 Chức năng và vai trò của Quan hệ công chúng 7
1.1.3 Các hoạt động của Quan hệ công chúng 9
1.1.4 Công cụ của Quan hệ công chúng 14
1.2 Khách thăm quan và nhu cầu thăm quan bảo tàng của khách du lịch 20
1.2.1 Khái niệm khách du lịch 20
1.2.2 Phân loại khách du lịch 22
1.2.3 Nhu cầu thăm quan bảo tàng của khách du lịch 23
1.3 Vai trò của Quan hệ công chúng trong việc thu hút khách du lịch đến bảo tàng 24
1.3.1 Khái quát về các bảo tàng ở Việt Nam 24
1.3.2 Lợi ích của việc ứng dụng Quan hệ công chúng đối với các bảo tàng 25 1.3.3 Vai trò của Quan hệ công chúng trong việc thu hút khách du lịch đến Bảo tàng ở Việt Nam 26
Chương 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRONG VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 29
2.1 Vài nét về Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam 29
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 30
Trang 42.1.3 Sản phẩm, dịch vụ của bảo tàng 32
2.2 Phân tích Swot về Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam trong chiến lược PR của Bảo tàng 37
2.2.1 Điểm mạnh 37
2.2.2 Điểm yếu 38
2.2.3 Cơ hội 39
2.2.4 Thách thức 41
2.3 Chiến lược marketing của Bảo tàng 41
2.4 Thực trạng ứng dụng Quan hệ công chúng trong việc thu hút khách du lịch đến Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam 46
2.4.1 Quan hệ công chúng trong nội bộ Bảo tàng 46
2.4.2 Quan hệ công chúng bên ngoài của Bảo tàng 47
2.4.3 Những hoạt động Quan hệ công chúng đã được triển khai để thu hút khách du lịch đến Bảo tàng Phụ Nữ 52
2.5 Những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện hoạt động Quan hệ công chúng của Bảo tàng trong thời gian qua 56
2.5.1 Những thành tựu 56
2.5.2 Những hạn chế 57
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58
Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRONG VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 60
3.1 Kinh nghiệm về ứng dụng Quan hệ công chúng của các bảo tàng khác và bài học cho Bảo tàng phụ nữ Việt Nam 60
3.2 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quan hệ công chúng tại Bảo tàng phụ nữ VN 62
3.2.1 Xây dựng bộ phận PR chuyên nghiệp 62
3.2.2 Đẩy mạnh Quan hệ công chúng – PR nội bộ 63
Trang 53.2.3 Phối hợp Quan hệ công chúng với các công cụ quảng cáo khác 65
3.2.4 Xây dựng chiến lược PR có trọng điểm, lựa chọn công cụ ưu tiên 67
3.2.5 Tăng cường mối quan hệ với giới truyền thông và nhà tài trợ 71
3.2.6 Tăng cường mối quan hệ với chính phủ và các đối tác chiến lược 73
3.2.7 Thành lập câu lạc bộ khách hàng thân thiết và câu lạc bộ các tình nguyện viên 75
Kết luận 77
Danh mục tài liệu tham khảo 79 Phụ lục ảnh
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất cứ ai Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng tài liệu, thông tin đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Lê Thị Như Nguyệt
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Quan hệ công chúng - PR là hoạt động được nhiều tổ chức, doanh nghiệp đang rất quan tâm Nó đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, duy trì sự hiểu biết lẫn nhau giữa tổ chức, doanh nghiệp và công chúng Trong xu thế phát triển, hội nhập ngày nay, PR đang góp mặt trong hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, đối nội, đối ngoại đến văn hóa PR là kênh thông tin hai chiều, là tiếng nói thứ ba và còn là phương tiện giao tiếp khách quan nhất, hiệu quả nhất
Với vai trò và vị trí như vậy, hiện nay không ít các tổ chức doanh nghiệp đang chuyển dần từ hình thức quảng cáo sang sử dụng các chiến dịch PR Bởi quan hệ công chúng là phương tiện tốt nhất để tạo cái nhìn thiện cảm của công chúng, tạo được niềm tin và phát triển thương hiệu cho tổ chức Các hoạt động, chiến dịch PR được sử dụng nhiều hơn trong lĩnh vực kinh tế nhưng trong văn hóa nó cũng đóng góp vai trò to lớn Một trong các
tổ chức văn hóa nghệ thuật thực hiện các hoạt động PR hơn cả tại nước ta là Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Tuy vậy, trong xu thế chung của đất nước bảo tàng cũng chịu nhiều sự cạnh tranh đáng kể của các đơn vị, tổ chức văn hóa nghệ thuật khác Vừa giữ vững thành tích vừa không ngừng lớn mạnh thì ngoài tiếng vang thương hiệu, chất lượng của các hoạt động, dịch vụ tại bảo tàng thì bảo tàng luôn coi trọng hoạt động Quan hệ công chúng - PR là vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của mình Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về việc ứng dụng PR trong thu hút khách đến với các bảo tàng, tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật và vận dụng những kiến thức đã học để
ứng dụng nhiều hơn trong thực tiễn, tôi đã quyết định chọn đề tài “Ứng
Trang 8Quan hệ công chúng trong việc thu hút khách du lịch đến Bảo tàng Phụ
nữ Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lược sử vấn đề
Quan hệ công chúng – PR đang là một ngành mới tại Việt Nam nhưng
đã thu hút được sự quan tâm của các cá nhân, tổ chức đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Từ trước đến nay đã một số công trình nghiên cứu về PR như:
“Hoạt động PR về các khu di tích lịch sử - văn hóa” của Phan Thị Huệ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; “So sánh đối chiếu công cụ của quan hệ công chúng và quảng cáo trong hoạt động marketing” của Trịnh Phương Mỹ, Đại học Ngoại thương Hà Nội; “Tìm hiểu hoạt động PR tại Nhà hát Múa Rối Thăng Long” của Nguyễn Thị Nha Trang, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội hay “Tìm hiểu hoạt động PR trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu của Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam” của Chu Thị Hương, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ giới thiệu khái quát về
PR, làm rõ sự khác biệt giữa PR với các loại hình quảng bá hay hoạt động của một nhà hát Còn ứng dụng PR trong việc thu hút khách du lịch của các bảo tàng, đặc biệt là Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam thì chưa có công trình nào
Do đó trên cơ sở kế thừa, tiếp tục tìm hiểu thêm tôi tập trung đi nghiên cứu
về hoạt động PR tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam với hy vọng sẽ góp một cái nhìn tổng quan cũng như một tư liệu cụ thể cho việc tìm hiểu về PR trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật
Trang 9- Phân tích những hoạt động PR mà bảo tàng đã đạt được trong các giai đoạn Đồng thời chỉ ra những mặt hạn chế, yếu kém trong công tác PR của bảo tàng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động PR, phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế trong công tác PR của bảo tàng nói riêng, của các tổ chức văn hóa nghệ thuật và của ngành văn hóa nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Ứng dụng PR trong việc thu hút khách du lịch đến Bảo tàng Phụ nữ Việt nam
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Đề tài đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá hoạt động PR tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam trong việc thu hút khách du lịch
- Nêu nên những mặt hạn chế trong hoạt động PR tại bảo tàng, đề xuất các giải pháp, đẩy mạnh hơn nữa công tác PR cho bảo tàng, sử dụng PR như một công cụ gây dựng mối quan hệ tốt đẹp với công chúng
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRONG VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN CÁC BẢO TÀNG Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về Quan hệ công chúng
1.1.1 Khái niệm Quan hệ công chúng (PR)
Quan hệ công chúng là hoạt động liên quan đến mọi tổ chức, dù đó là tổ chức thương mại hay phi thương mại Không chỉ các tổ chức mà ngay cả cá nhân cũng ít nhiều có lúc dùng đến PR Tùy theo mỗi lĩnh vực khác nhau người nghiên cứu PR đưa ra các lĩnh vực khác nhau Rất khó để đưa ra một khái niệm PR hoàn chỉnh và các đặc điểm của nó phù hợp với tất cả các ngành, các lĩnh vực
Hiện nay, có rất nhiều các định nghĩa về PR song mỗi người lại tiếp cận chúng ở một góc độ khác nhau
Theo viện PR của Mĩ định nghĩa PR như sau: “PR như việc lập kế hoạch
và nỗ lực để duy trì, để thành lập và giữ vững sự hiểu biết qua lại tốt đẹp giữa tổ chức và công chúng của tổ chức đó” 1
Định nghĩa này đề cập đến việc PR đòi hỏi phải có một chương trình kế hoạch hoạt động tốt Đồng thời chương trình hoạt động phải được xem xét trên những yếu tố cơ bản đang diễn ra và mục tiêu của quan hệ công chúng là phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa tổ chức và công chúng
Theo Viện công chúng Anh (IRP) “ PR là những nỗ lực có kế hoạch, có
tổ chức của một cá nhân hoặc tập thể nhằm thiết lập và duy trì mối quan hệ cùng có lợi với đông đảo công chúng” 2
1 Ths Ngô Ánh Hồng (2013), Theo bài giảng môn Quan hệ công chúng, Trường Đại học Văn hóa HN
2 Ths Ngô Ánh Hồng (2013), Theo bài giảng môn Quan hệ công chúng, Trường Đại học Văn hóa HN
Trang 12Định nghĩa này nhấn mạnh PR phải có chương trình hành động Nó phải được xây dựng dài hạn, liên tục Mục tiêu là thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với công chúng PR sử dụng tất cả các hình thức truyền thông chuyền tải thông điệp tới công chúng trong đó thì niềm tin là yếu tố quan trọng nhất Truyền thông không chỉ chú trọng đến việc tuyên truyền bên ngoài mà cả bên trong
tổ chức Chiến dịch PR phải được tính toán, lượng hóa cụ thể
Tại Việt Nam, tuy PR là một ngành khá mới mẻ nhưng cũng có những
định nghĩa về nó Theo PGS.TS Ngyễn Trung Vãn trong cuốn “Giáo trình Marketing quốc tế” của trường Đại học Ngoại Thương cho rằng : “Quan hệ công chúng gồm một loạt các hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra và duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp với công chúng bao gồm khách hàng, nhân viên, những cổ đông, các viên chức chính phủ và toàn xã hội nói chung Nói khác đi, đó là việc xây dựng cho sản phẩm của doanh nghiệp một hình ảnh tốt đẹp trước toàn thể xã hội.”
Qua các khái niệm trên có thể thấy rằng dù có định nghĩa khác nhau thế nào thì mục đích cao nhất của PR cũng là xây dựng được một hình ảnh tốt đẹp về tổ chức và sản phẩm trong lòng công chúng từ đó mà các tổ chức nhắm tới những chiến lược phát triển riêng của mình
- Sự tồn tại của PR là thiết yếu trong các tổ chức thương mại và phi thương mại
- PR là phương tiện giao tiếp hai chiều
- PR không chỉ liên quan đến việc lập chương trình kế hoạch hành động của tổ chức mà nó còn cần thiết áp dụng vào việc nghiên cứu
- Mục đích của PR là tạo ra sự hiểu biết giữa tổ chức và công chúng của
Trang 131.1.2 Chức năng và vai trò của Quan hệ công chúng
Mục tiêu của quan hệ công chúng là tạo ra sự hiểu biết và danh tiếng giữa
tổ chức và công chúng Việc tổ chức những kênh thông tin không hiệu quả với công chúng sẽ đem lại những hậu quả không mong muốn cho tổ chức Sự tồn tại của PR như một thiết yếu ở tất cả các tổ chức thương mại hay phi thương mại, nó thể hiện ở mọi khía cạnh của tổ chức đó Cũng chính vì vậy
mà PR đóng vai trò rất quan trọng trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay
PR khác với các phương tiện truyền thông, quảng bá khác như quảng cáo, marketing… Đây là quá trình thông tin hai chiều, mang tính khách quan cao, ít tốn kém hơn và thường đem đến lợi ích cụ thể cho các đối tượng là tổ chức và công chúng của họ
Các tổ chức văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam trước đây nguồn kinh phí để hoạt động là do Nhà nước bao cấp hoàn toàn Song hiện nay không còn như vậy nữa, nguồn kinh phí để hoạt động ở các tổ chức văn hóa nghệ thuật phần lớn cũng là trích từ nguồn ngân sách của Nhà nước Tuy nhiên kinh phí này dùng để chi trả cho cán bộ công nhân viên, chi phí bảo dưỡng, mua sắm trang thiết bị… để duy trì hoạt động của tổ chức thì số tiền còn lại là không nhiều Chính vì vậy, để quảng bá tên tuổi và sản phẩm của tổ chức thông qua việc quảng cáo là không thể do quảng cáo trên phương tiện truyền thông thường rất đắt, trong khi hiệu quả lại không cao do tính chất của đối tượng tiếp nhận thông tin và đặc điểm của loại hình nghệ thuật Do vậy, PR với các thông tin đáng tin cậy và chi phí thấp rất cần thiết và phù hợp với các tổ chức văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam
Trong bối cảnh thị trường hiện nay, hàng hóa và dịch vụ rất đa dạng và phong phú, người tiêu dùng gặp khó khăn trong việc phân biệt và đánh giá sản phẩm Mỗi tổ chức, doanh nghiệp đều cố gắng tạo ra cho mình một phong cách, một hình ảnh, một ấn tượng hoặc một uy tín riêng cho sản phẩm
Trang 14của mình nhằm đem lại cho sản phẩm hình ảnh riêng, dễ đi vào nhận thức và đọng lại trong tâm trí của khách hàng một cách sâu sắc Nói cách khác chính
là việc định vị thương hiệu của tổ chức, doanh nghiệp mình vào trong tâm trí của khách hàng
Các doanh nghiệp, tổ chức định vị và quảng bá thương hiệu bằng nhiều phương pháp như thông qua quảng cáo, PR, chiến lược xúc tiến quảng bá (giá cả hoặc bằng chính sản phẩm) với mục tiêu chung là làm sao đưa thương hiệu vào trong tâm trí của khách hàng Trong đó có thể nói hoạt động PR có tác động tích cực trong việc quảng bá hình ảnh, thương hiệu với các chương trình hành động được thiết kế và hoạch định tỉ mỉ, nhằm gặt hái được sự thừa nhận của công chúng và thông tin đến họ những hoạt động cũng như những mục tiêu của tổ chức
PR có những nghiệp vụ liên quan đến việc thu thập thông tin đầu vào và
xử lý thông tin đầu ra, PR cũng làm một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là quảng bá hình ảnh cho tổ chức PR không chỉ là đánh bóng thương hiệu mà còn là một trong những bên tham gia chính trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu PR là một công cụ giao tiếp rất linh hoạt trong lĩnh vực giao tiếp Marketing: bán hàng trực tuyến qua điện thoại, các hoạt động tài trợ, triển lãm… PR hiện đang được ứng dụng rộng rãi bởi các tổ chức từ hoạt động phi lợi nhuận đến hoạt động kinh doanh thương mại, hội từ thiện, các tổ chức, các đảng phái chính trị, các khu vui chơi giải trí, dịch vụ… và trong cả các tổ chức văn hóa nghệ thuật
Vai trò chính của PR là giúp các tổ chức truyền tải các thông điệp tới khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ Khi truyền đi các thông điệp này, quan hệ công chúng giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách hàng dễ liên tưởng tới mỗi khi nhìn thấy một thương hiệu nào đó Hơn nữa, thông điệp PR ít mang tính thương mại do sử dụng các phương tiện trung gian như các hoạt động từ thiện, tài trợ
Trang 15hoặc các bài viết trên báo vì chứa đựng lượng thông tin đa dạng, phong phú
dễ gây cảm tình và dễ được công chúng chấp nhận Không chỉ tham gia vào việc xây dựng và phát triển thương hiệu, PR còn có chức năng tham vấn, đề xuất cho tổ chức, điều chỉnh hành vi để đảm bảo trách nhiệm xã hội, kinh tế, chính trị, đạo đức… để tăng cường uy tín cho tổ chức Như vậy ta có thể nhận thấy chức năng của PR như sau:
- Định vị, tạo dựng hình ảnh;
- Làm thay đổi nhận thức trong công chúng
- Tạo ra cái mới, thiết lập mối quan hệ với công chúng thông qua giới truyền thông
1.1.3 Các hoạt động của Quan hệ công chúng
Theo Scott M Cutlip, trong cuốn “Effective Public Relations năm 2003”, hiện nay ngành PR có 7 hoạt động chính, bao gồm: tạo ra các tin tức trên các phương tiện truyền thông đại chúng; Quảng cáo; Công việc báo chí; Nhiệm vụ công; Quản lý vấn đề; Vận động hành lang; Quan hệ với nhà đầu
tư 3
John Vivian, trong cuốn “The Media of Mass Comunication, 2005”, lại cho rằng PR cung cấp cho xã hội 9 dịch vụ: Quan hệ báo chí; Vận động hành lang; Truyền thông chính trị; Tư vấn xây dựng hình ảnh; Quan hệ với nhóm công chúng tài chính; Gây quỹ; Lập kế hoạch đối phó với những điều bất ngờ; Điều tra dư luận; Điều phối dư luận 4
Ngoài ra còn có rất nhiều các ý kiến cho rằng PR bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Nhưng tùy thuộc vào tính chất của từng tổ chức (cơ quan chính phủ, phi chính phủ, tổ chức thương mại, phi thương mại…) mà các
3 Scott M Cutlip (2003), Effective Public Relations, NXB Finacial,Tr 23
4 John Vivian (2005), The Media of Mass Comunication,NXB Finacial Time Tr 279
Trang 16lĩnh vực hoạt động của PR cũng có thể khác nhau Dưới đây là một số hoạt động PR chủ yếu và phổ biến ở mọi tổ chức
1.1.3.1 Tài trợ
Tài trợ nhằm mục đích xây dựng hình tượng doanh nghiệp thông qua việc tăng cường quảng bá thương hiệu trên các phương tiện truyền thông, báo chí Tài trợ thường ít tốn kém hơn quảng cáo nhưng lại mang lại hiệu quả cao
- Tài trợ hiện vật, tài trợ vận chuyển
- Khi tài trợ cần lưu ý một số việc sau:
- Cần nghiên cứu kỹ trước khi tài trợ
- Tránh tài trợ cho những sản phẩm quá khác biệt
- Tài trợ cho những chương trình có cùng đối thủ cạnh tranh tài trợ
- Gắn hoạt động tài trợ với nhãn hiệu cụ thể
1.1.3.2 Quan hệ báo chí
Đây là công việc tốn nhiều thời gian nhất của bất kỳ tổ chức nào khi làm
PR Báo chí là tên gọi chung cho tất cả các thể loại thông tin đại chúng, bao gồm: Báo in, báo nói, báo hình, báo trực tuyến… (mạng internet) mang chức năng thông tin, tư tưởng hướng dẫn và hình thành dư luận xã hội tích cực, giúp cho việc hình thành quan điểm, lập trường, thái độ chính trị - xã hội đúng đắn Báo chí và dư luận xã hội là cơ sở hoạt động của quan hệ công chúng
Trang 17Công việc cụ thể của các chuyên gia PR trong lĩnh vực báo chí gồm: Lên
kế hoạch và xây dựng các chiến lược truyền thông, xử lý các câu hỏi báo chí,
tổ chức cho báo chí phỏng vấn, tổ chức họp báo, soạn thảo các thông cáo báo chí, cố vấn cho các lãnh đạo, phát ngôn với giới truyền thông nhằm ủng hộ quan điểm của tổ chức, đính chính thông tin sai lệch, thu thập thông tin để cung cấp cho báo chí, giải thích thông điệp mà tổ chức muốn gửi tới công chúng Quan hệ báo chí đôi khi là sự tiếp cận, tiếp xúc đều đặn với một số mối quan hệ có chọn lọc, hoặc nó cũng có nghĩa là sự xoay sở, đối phó với hàng trăm nhân viên truyền thông ở một sự kiện nào đó Ở bất cứ cấp độ nào, việc tiếp xúc với giới báo chí truyền thông đóng góp một phần đáng kể không thể tách rời trong các hoạt đông PR, không nên xem nhẹ hoặc đánh giá thấp tác động và sức mạnh của quan hệ báo chí
- Thiên tai: lũ lụt, bão, hạn hán…
- Các hoạt động sản xuất kinh doanh: do khiếm khuyết về sản phẩm hay dịch vụ
- Các thay đổi trong tổ chức: chuyển công tác, đuổi việc…
Trang 18có thể làm mất uy tín và gây thiệt hại lớn cho tổ chức đó cần phải xử lý khủng hoảng một cách thẳng thắn, kịp thời quả quyết với báo chí, nhân viên
và cả cộng đồng Phải luôn đặt uy tín của tổ chức và lợi ích của công chúng lên trên
- Xử lý khủng hoảng cần mau lẹ, trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin
và tương tác hai chiều đó là phát đi thông điệp và lắng nghe ý kiến phản hồi
- Do khủng hoảng của mỗi tổ chức là khác nhau lên không có nguyên tắc,
mô hình quản lý khủng hoảng chung cho mọi tổ chức Công việc này đòi hỏi phải có kiến thức, kỹ năng và sự linh hoạt của tổ chức
1.1.3.4 Vận động hành lang
Vận động hành lang (lobby) là sự gây ảnh hưởng, áp lực tối một nhóm người của một tổ chức liên quan đến việc thông qua một quyết định cần thiết của chính phủ Lobby cần thiết khi có các ý kiến tranh luận khác nhau về lợi ích khác nhau Lobby được hiểu một cách rất đặc trưng là hoạt động ảnh hưởng tới tiến trình ban hành quyết định
Vận động hành lang là một khái niệm mới không chỉ ở Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới
Vận động hành lang hiện nay là một hình thức rất phổ biến mà những người làm trong các doanh nghiệp nói riêng mà ngành PR nói chung rất quan tâm sử dụng Vận động hành lang luôn được coi là một hình thức PR và liên quan tới rất nhiều hình thức khác, vì nó đòi hỏi người truyền đạt thông tin phải thật rõ ràng và có sức thuyết phục Vận động hành lang là hoạt động giao tiếp nhằm tạo nên ảnh hưởng và những thay đổi nhận thức hay quan niệm hoặc giả chỉ để thay đổi thái độ
1.1.3.5 PR nội bộ
Đây là một khái niệm còn khá mới mẻ nhưng các hoạt động liên quan đến PR nội bộ trong các cơ quan, công sở đã có ở Việt Nam tuy chưa được bài bản và thường xuyên Vấn đề tìm, giữ và duy trì các cán bộ, công nhân
Trang 19giỏi, nhiệt tình và hết mình đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung của tổ chức không phải là việc đơn giản Điều này đòi hỏi nhà quản lý cần hiểu được nhu cầu của công chúng và có những kỹ năng, sách lược, chiến lược
quản lý Jane John và Clara Zawawi, trong cuốn Pulic Relations: Theory an practive, 2004 đưa ra khái niệm PR nội bộ là thiết lập, củng cố mối quan hệ với những thành viên trong tổ chức PR nội bộ rất đơn giản: một tổ chức, công ty, một nhân viên trả lời thư của khách hàng, hoặc một bạn đồng nghiệp, một nhân viên khác sao chép văn bản gửi cho khách hàng qua bưu điện, chuẩn bị một chương trình quảng cáo cho công ty, dẫn khách đi tham quan hoặc tổ chức các buổi họp thường niên…Đó chính là quan hệ nội bộ 5
PR nội bộ là một bộ phận PR do chính tổ chức, doanh nghiệp thành lập
ra Đó là một bộ phận “kết dính” trong tổ chức Họ phải nắm bắt các vấn đề
và liên hệ chặt chẽ với các bộ phận khác trong nội bộ
Bên cạnh đó họ có chức năng truyền đạt thông tin, cố vấn và hoạch định chiến dịch cũng như phải xây dựng mối quan hệ với người bên ngoài tổ chức
Bộ phận PR nội bộ có nhiệm vụ viết thông cáo báo chí, hình ảnh, duy trì việc cung cấp thông tin cho báo chí, thu thập và lưu giữ danh sách báo chí; tổ chức các buổi họp báo các buổi đón tiếp đi tham quan cơ sở; tổ chức các buổi triển lãm, trưng bày; quản lý các chương trình tài trợ PR đồng thời phân tích các ý kiến phản hồi và đánh giá kết quả dựa trên các mục tiêu đặt ra PR nội
bộ thực hiện qua các công cụ và các kênh thông tin như: giao tiếp trực tiếp, báo chí nội bộ, bản tin, bản ghi nhớ, khen thưởng, sự kiện, mạng nội bộ… để trao đổi thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất giữa tổ chức và công chúng nội bộ của mình nhằm tạo nên sự hiểu biết, cảm thông, tương trợ
và giúp đỡ lẫn nhau để cùng đi đến kết quả cuối cùng
5 Jane John và Clara Zawawi (2004), Public Relations: Theory an pactive NXB Allen & Uniwin in lần thứ hai Tr 9
Trang 201.1.3.6 Ấn phẩm
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp đều có ấn phẩm riêng hay còn gọi là tạp chí của doanh nghiệp Do đó, tạp chí doanh nghiệp đã trở thành một hình thức quảng bá hiệu quả của tổ chức doanh nghiệp Trước đây thông tin thường chỉ được lưu hành trong nội
bộ tổ chức doanh nghiệp nhằm tạo ra một kênh thông tin chính thức từ cấp trên xuống các nhân viên, giúp mọi người nắm được tình hình phát triển của doanh nghiệp, tạo ra sự hiểu biết giữa các thành viên trong doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có nhiều nhân viên, chi nhánh văn phòng ở nhiều nơi
Song ngày nay thông tin không chỉ được lưu hành trong nội bộ tổ chức
mà được sử dụng như là một công cụ hỗ trợ cho hoạt đông marketing của doanh nghiệp Nó được dùng để truyền đạt thông tin tới các đối tượng công chúng bên ngoài của tổ chức, doanh nghiệp như những thành công của doanh nghiệp, một sản phẩm hay một vấn đề mới của doanh nghiệp
1.1.4 Công cụ của Quan hệ công chúng
Theo một số chuyên gia về Marketing như Phillip Kotle, AL Ries and Laura Ries, các công cụ chủ yếu của PR thường bao gồm các hoạt động cơ bản sau:
1.1.4.1 Họp báo
Báo chí đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác PR của một
tổ chức, doanh nghiệp Nó mang đến tiếng nói khách quan nhất cho mọi tổ chức và công chúng Do đó mà trong hoạt động PR họp báo được coi là công
cụ hàng đầu Trong các buổi họp báo ngoài thành phần chủ chốt của tổ chức còn lại hầu hết là báo giới Tại cuộc họp báo này tổ chức, cá nhân sẽ đưa ra thông tin xung quanh sản phẩm, thông tin về các hoạt động xã hội hoặc đính chính lại thông tin, xin lỗi công chúng trước một sai sót nào đó của họ
Trang 21Để tổ chức thành công một buổi họp báo, cần chú ý những nguyên tắc sau:
- Cần đề ra mục tiêu và thông điệp rõ ràng và thông điệp cụ thể
- Chuẩn bị trước tài liệu cho phóng viên (thông cáo báo chí, bài phát biểu, thông tin hỗ trợ thêm như brochure công ty, tờ rơi, hình ảnh, tài liệu đính kèm)
- Lập danh sách phóng viên và chỉ mời những đầu báo, đài phát thanh truyền hình phù hợp với nội dung của buổi họp báo
- Chương trình họp cần ngắn gọn, tập trung, cô đọng, tránh vòng vo rườm rà, bởi họp báo thường rất bận rộn
- Chuẩn bị trước câu hỏi liên quan mà báo chí có thể hỏi, đặc biệt là những câu hỏi hóc búa
- Hạn chế số người ngồi trên bàn chủ tọa Chỉ cần một hoặc hai người là
đủ Khi đó cần họp trước những người này và phân công cụ thể ai sẽ là người trả lời vấn đề nào nếu mà phóng viên hỏi đến
Song thực tế không phải cuộc họp báo nào cũng mang lại hiệu quả như mong muốn Nhiều tổ chức, doanh nghiệp sau khi tổ chức họp báo mà không một tờ báo nào đưa tin Vì vậy không nên tổ chức các cuộc họp báo quá rầm
rộ sẽ gây tốn nhiều thời gian, tiền bạc mà cần phải chọn lọc thông tin để thu hút được sự quan tâm của công chúng và giới báo chí
Một khâu không thể bỏ qua trong các cuộc họp báo chính là thông cáo báo chí
Thông cáo báo chí là một tài liệu rất quan trọng đối với hoạt động PR Thông cáo báo chí là một văn bản ngắn gọn, thường chỉ một trang, nhằm mục đích giới thiệu, tác động vào nhận thức và kêu gọi sự quan tâm của công chúng tới một sự kiện, một vấn đề có giá trị thông tin cao của tổ chức Thông cáo báo chí được gửi đến tất cả các loại báo in, báo nói, báo hình, báo trực
Trang 22tuyến Một thông cáo báo chí được giới truyền thông đánh giá cao sẽ tác động lớn đến nhận thức của công chúng về sự kiện, vấn đề của tổ chức
Để thu hút sự quan tâm của giới báo chí, thông cáo báo chí phải đáp ứng những yêu cầu sau: Kích thích sự tò mò ngay từ tiêu đề đầu tiên
-Trình bày ngắn gọn, thông điệp phải rõ ràng
-Tập trung theo chủ đề chính, tránh đưa nhiều thông tin gây nhiễu
- Nêu bật ý quan trọng, nên đưa ý quan trọng lên trước sau đó mới diễn giải
1.1.4.2 Tổ chức sự kiện
Đây là một trong những hoạt động của PR nhằm gây sự chú ý của công chúng để giới thiệu, quảng bá, tạo mối quan hệ mang lợi ích cho tổ chức Có nhiều hình thức tổ chức sự kiện: họp báo, hội nghị, lễ hội, hội chợ, triển lãm, văn nghệ, thể thao… Hay hiểu cách khác là tổ chức các hoạt động, sự kiện mang tính tiếp thị cho một tổ chức nào đó, nhằm mục đích cuối cùng là truyền đạt thông tin, ý tưởng của mình đến được với công chúng một cách thành công và mang lại hiệu quả cao nhất
Muốn tổ chức một sự kiện nào đó trước tiên là phải có một ý tưởng thích hợp – đây là tiêu chí quyết định phương pháp tổ chức Thứ hai là phải có mục tiêu rõ ràng, cụ thể và theo đúng chiến lược Thứ ba là phải xác định và thu hút đúng nhóm đối tượng công chúng và cuối cùng là phải chuẩn bị chu đáo
Để tổ chức tốt một sự kiện, trước hết cần phải xác định được chủ đề Chủ
đề của một sự kiện phải mang tính độc đáo, khác với sự kiện đã được tổ chức Tránh lấy tên chủ đề chung chung đơn điệu
Những vấn đề cần chú ý khi tổ chức sự kiện:
- Ý tưởng thích hợp, ý tưởng là tiêu chí quyết định phương pháp tổ chức
- Mục tiêu rõ ràng: có mục tiêu cụ thể, theo đúng chiến lược
- Xác định và thu hút nhóm công chúng
Trang 23- Chuẩn bị chu đáo
Tổ chức sự kiện cần trải qua 7 bước chính:
- Bước 1: Quyết định “5W và H” (Who, What, When, Where, Why, và How) Tổ chức sự kiện gì, tại sao tổ chức sự kiện, bao giờ, ở đâu, mời ai, và
- Bước 6: Kết thúc với chi tiết không nhìn thấy: công tác chuẩn bị, vấn đề
an ninh, y tế, đối phó với những bất thường xảy ra
- Bước 7: Theo dõi sự kiện: cân đối thu chi sau sự kiện, đánh giá sự kiện, gửi thư cảm ơn…
1.1.4.3 Hội thảo
Một doanh nghiệp chắc chắn sẽ thành công nếu như những sự kiện mới của doanh nghiệp đó được tiến hành dưới hình thức là những cuộc hội thảo Thành phần tham gia gồm có doanh nghiệp, khách hàng, báo giới, nhà khoa học, các quan chức Trung ương và địa phương, đại diện cho các Bộ, ngành Thực tế cho thấy, ảnh hưởng của những cuộc hội thảo là rất lớn, bởi thông qua đó mà thương hiệu cũng như uy tín của công ty thường được khách hàng quan tâm và tin cậy nhiều hơn
Hội thảo là một hình thức trao đổi hoặc hướng dẫn về khoa học công ngệ hay chiến lược phát triển sản phẩm Tại hội thảo từng thành viên tham gia nhóm nghiên cứu thường được yêu cầu làm viêc một cách độc lập, chủ động
Trang 24và hiệu quả Nhũng ý tưởng đưa ra từ buổi hội thảo có thể là sự gợi mở để hoàn thiện sản phẩm mới, hay định hướng và giải pháp của chiến lược kinh doanh, hay có thể là chương trình quảng bá thương hiệu hay tạo uy tín của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu trong và ngoài nước mà doanh nghiệp đang thâm nhập
Hội thảo cũng có thể bao gồm cả quá trình tập trung hoặc tổ chức kéo dài trong vài ngày Nó nhấn mạnh vào việc giải quyết vấn đề, mục tiêu thực hiện, đòi hỏi tính thuyết phục và lôi cuốn của những người tham
gia.(Wikipedia – seminar)
1.1.4.4 Nói chuyện
Nói chuyện là một hình thức PR khá phổ biến hiện nay Nếu như họp
báo, hội thảo hay tổ chức sự kiện có được sự thu hút khá lớn của báo giới, khách hàng thì nói chuyện lại là một cách thức làm cho công ty trở nên gần gũi và thân thiện hơn với khách hàng
Nói chuyện được hiểu theo hai khía cạnh, đó là trả lời phỏng vấn của báo giới và phát biểu trước công chúng
Thứ nhất, trả lời phỏng vấn của báo giới thường được thực hiện nhân một
sự kiện nào đó Cũng có thể nhân ngày thành lập doanh nghiệp hoặc liên quan tới một vấn đề nổi cộm Chính vì vậy, những người đại diện cho công
ty cần có những kỹ năng giao tiếp tốt cùng với sự chuẩn bị kỹ càng
Thứ hai, phát biểu trước công chúng là một hình thức khác của nói chuyện Những bài phát biểu của những người đứng đầu công ty hoặc những người đại diện cho công ty trong cuộc hội thảo chuyên đề, hội nghị khách hàng, khai trương một chi nhánh hoặc gian hàng của doanh nghiệp, giao lưu giữa các doanh nghiệp và công chúng chính là cơ hội để truyền tải hình ảnh
của doanh nghiệp hoặc sản phẩm tới đông đảo công chúng
Trang 251.1.4.5 Tuyên truyền
Tuyên truyền là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến nhằm quảng bá rộng rãi thông tin về một tổ chức, một cá nhân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có báo chí Sự lôi cuốn của tuyên truyền là không thể tưởng tượng Lý do đảm bảo cho hoạt động tuyên truyền có được hiệu quả cao là do tuyên truyền xuất hiện trên các phương tiện truyền thông dưới hình thức là một câu chuyện hơn là một quảng cáo, nó nhận được sự truyền cảm mạnh và diễn đạt rất sâu sắc từ phía người tuyên truyền hay người thuyết trình Bởi lẽ tuyên truyền đã nhận thấy tầm quan trọng, có giá trị của nội dung tuyên truyền, khi người xem nhận được những thông tin này thì nó hoàn toàn không phải chỉ là những quảng cáo đơn thuần Chính vì vậy
mà hoạt động tuyên truyền thường đi vào từng thành viên của tổ chức cộng đồng, trong khi họ thường có những nghi ngờ về quảng cáo (Theo Otis
Baskin and Craig Aronoff – Public Relations (The Profession and the
Practice) – 3rd Edition)
1.1.4.6 Quan hệ cộng đồng
Mối quan hệ với cộng đồng đảm bảo cho doanh nghiệp tham gia ổn định, năng động và liên tục trong một cộng đồng nhằm khai thác tối ưu yếu tố môi trường và mang lại những lợi ích thiết thực cho cả hai bên là doanh nghiệp và cộng đồng
Các mối quan hệ với cộng đồng có thể bị ảnh hưởng bởi những nhân tố rất đa dạng như phương pháp tìm kiếm, mối quan hệ giữa công nhân viên, việc giảm thiểu lãng phí các chất thải, sử dụng tối ưu năng lượng, thiết kế và bảo dưỡng các tòa nhà
Quan trọng nhất là đội ngũ nhân viên của một tổ chức, sự hợp tác có hiệu quả giữa công dân với những tổ chức hay các cơ quan thành viên thuộc chính phủ, sự bảo trợ của các thành viên trong công đồng cũng như khả năng thu hút những khoản trợ giúp tài chính Quả thực, sự thành công hay thất bại của
Trang 26một tổ chức phụ thuộc phần lớn vào hiệu quả của những mối quan hệ với cộng đồng
Mối quan hệ với công đồng tốt sẽ giúp chúng ta nhanh chóng gặt hái được những thành công ngoài sức mong đợi Các khách hàng sẽ đánh giá rất cao những đóng góp của doanh nghiệp về những hoạt động hay những mối quan hệ với cộng đồng Chính điều này thường tạo được lòng tin của khách hàng mục tiêu với doanh nghiệp
Mối quan hệ với cộng đồng là một hình thức PR rất có hiệu quả và nó sẽ
là một động lực lớn thúc đẩy các doanh nghiệp quảng bá hình ảnh của mình được nhiều hơn và nâng tầm vóc cũng như vị thế của doanh nghiệp đó trong mắt của đông đảo công chúng và những đối thủ cạnh tranh
1.2 Khách du lịch và nhu cầu thăm quan bảo tàng của khách du lịch
1.2.1 Khái niệm khách du lịch
Theo quy luật phát triển khách quan, khi đời sống xã hội được nâng cao, nhu cầu vật chất được đảm bảo, chúng ta lại đi tìm kiếm những điều mới mẻ, chưa trải qua… để thỏa mãn nhu cầu giải trí, nghỉ dưỡng Xuất phát từ nhu cầu đó của con người ngành du lịch đã ra đời Là một ngành dịch vụ, là lại đứa con đẻ của nhu cầu xã hội, được sự giàu có, đầy đủ về vật chất đã tạo được một hướng đi bền vững cho ngành du lịch thế giới nói chung và ngành du lịch Việt Nam nói riêng đã, đang và sẽ phát triển mạnh
mẽ với một tốc độ thần kỳ và chiếm giữ vị trí hàng đầu về sự phát triển trong các ngành kinh tế Ở Việt Nam ngành du lịch mới chỉ ra đời và phát triển khoảng 50 năm trở lại đây nhưng ngành du lịch đã đạt được những thành tựu, đóng góp lớn vào sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Du lịch
đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh trên phạm vi toàn thế giới
Trang 27Năm 2013, theo báo cáo sơ kết của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày
20 tháng 7 năm 2013, mặc dù bối cảnh kinh tế có nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng du lịch tuy có dao động trong từng tháng nhưng nhìn chung 6 tháng đầu năm vẫn giữ được tăng trưởng Lượng khách quốc tế đến Việt Nam 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 3,5 triệu lượt, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm
2012 Lượng khách nội địa ước đạt 24 triệu lượt, tăng 12%, đạt 73,8% kế hoạch năm Tổng thu từ du lịch ước đạt 105.000 tỷ đồng, tăng 23,5% so với cùng kỳ, đạt 53% kế hoạch năm Riêng ở Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm
2013, khách quốc tế đến Hà Nội ước đạt 1.184.500 lượt khách, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2012 Khách nội địa đạt 7.911.000 lượt khách, tăng 8% so với năm 2012 Tổng số khách đạt 9.095.500, tăng 9% so với năm 2012 6
Theo thống kê của Tổng Cục Du lịch khách quốc tế đến Việt Nam tháng 1 năm 2014
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 1/2014 ước đạt 776.174 lượt, tăng 7,45% so với tháng 12/2013 và tăng 20,79% so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 2, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 842.026 lượt, tăng 47,60% so với cùng kỳ năm 2013 Tính chung 2 tháng năm 2014 ước đạt 1.618.200 lượt, tăng 33,40% so với cùng kỳ năm ngoái 7
Những con số trên cho thấy ngành du lịch Việt Nam đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp GDP vào nền kinh tế quốc dân
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều các khái niệm khác nhau về khách du lịch Mỗi tổ chức, quốc gia lại có những cách nhìn nhận khác nhau về du lịch
Theo Liên Hiệp Quốc Tế các tổ chức lữ hành chính thức (Internation off Official Travel Oraganization IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du
Trang 28hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”8
Theo tổ chức du lịch thế giới (World Tourist Organization) một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư” 9
Như vậy theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới về du lịch và trong khuôn khổ của thống kê du lịch thì lượng khách du lịch sẽ được tính gồm: Những chuyến đi đến nơi khác môi trường sống thường xuyên của họ, do
đó sẽ ít hơn những chuyến đi lại thường xuyên giữa những nơi mà người đó đang ở hoặc nghiên cứu đến một nơi khác nơi cư trú thường xuyên của họ; Nơi mà người đó đi đến phải dưới 12 tháng liên tục trở lên sẽ trở thành người cư trú thường xuyên ở nơi đó
Mục đích của chuyến đi sẽ không phải đến đó để nhận thù lao hay là để kiếm sống
1.2.2 Phân loại khách du lịch
Có rất nhiều cách phân loại khác nhau nhưng chúng đều xuất phát từ nhu cầu của khách đi du lịch Nhu cầu đi du lịch là nhu cầu đặc biệt của con người, được hình thành và phát triển trên các nền tảng nhu cầu sinh lý (sự đi
8 Liên Hiệp Quốc Tế các tổ chức lữ hành chính thức (Internation off Official Travel Oraganization IUOTO)
9 Tổ chức Du lịch Thế giới (viết tắt như UNWTO) là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc có trụ sở tại Madrid, Tây Ban Nha, nắm bắt mọi vấn đề liên quan đến du lịch trên toàn thế giới UNWTO biên soạn Những xếp hạng của Tổ chức Du lịch
Trang 29lại và các nhu cầu tinh thần, nhu cầu nghỉ ngơi, nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu giao tiếp) Nhu cầu du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực lượng sản xuất và trình độ sản xuất xã hội Khi mà hoạt động sản xuất càng cao, các mối quan hệ xã hội càng hoàn thiện thì nhu cầu du lịch càng trở lên quan trọng và được ưu tiên và giải quyết hàng đầu trong cuộc sống Xuất phát từ nhu cầu của khách du lịch người ta thường phân loại khách du lịch theo phạm vi lãnh thổ và phân theo loại hình du lịch
- Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
+ Khách quốc tế
Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi nước người đó cư trú thường xuyên
và ngoài môi trường sống thường xuyên của họ với thời gian liên tục ít hơn
12 tháng với mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống)
+ Khách trong nước
Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của
họ và trong phạm vi nước sở tại với thời gian liên tục dưới 12 tháng và mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống)
- Phân theo loại hình du lịch
+ Du lịch truyền thống
+ Khách du lịch chuyên biệt
1.2.3 Nhu cầu thăm quan bảo tàng của khách du lịch
Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên mở cửa cho công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội Là nơi sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức.Vì vậy tham quan bảo tàng là một nhu cầu cần thiết của con người Ngoài phục vụ cho hoạt động tìm hiểu kiến thức xã hội thì nó
Trang 30còn đáp ứng nhu cầu giải trí của con người trong xã hội hiện đại Minh chứng là có đến 70 – 80% khách du lịch quốc tế có nhu cầu đi tham quan bảo tàng
Theo các chuyên gia để bảo tàng trở thành sản phẩm du lịch phải đẩy mạnh dịch vụ liên quan nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm, thư giãn của du khách, nhà quản lý ngành du lịch nên có cái nhìn thoáng hơn để bảo tàng có thể thu hút khách bằng nhiều hình thức, không đơn thuần là những hoạt động
chuyên môn
1.3 Vai trò của Quan hệ công chúng trong việc thu hút khách du lịch của bảo tàng
1.3.1 Khái quát về các bảo tàng ở Việt Nam
Cả nước hiện nay có 138 bảo tàng, trong đó có 121 bảo tàng công lập và
17 bảo tàng ngoài công lập, hầu hết các tỉnh đều có bảo tàng, có nhiều ngành
đã có bảo tàng và nhiều ngành khác cũng đang có nhu cầu xây bảo tàng Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam tới năm 2020 đã được phê duyệt
từ năm 2005 Theo đó thì Việt Nam sẽ có 172 bảo tàng, trong đó ở Thủ đô
Hà Nội sẽ có 40 bảo tàng, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có 19 bảo tàng Các bảo tàng đã sưu tầm, lưu trữ từng bước phát huy giá trị được gần 3 triệu tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật, sưu tầm hiện vật quý hiếm và bảo
vật quốc gia được thủ tướng công nhận là bảo vật quốc gia
Năm 2013, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam đã được bình chọn vào tóp 25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á Trong đó Bảo tàng Chứng tích chiến tranh về vị trí thứ 5 trong cuộc bầu chọn, tăng 5 bậc so với năm 2012 Còn Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam lần lượt ở vị trí thứ 6 và 11 Song thực tế hầu hết các bảo tàng ở Việt Nam vẫn chưa thu hút được khách tham quan Ngoài những nhà nghiên cứu, nhà văn hóa thì có thể thấy rằng, những hiện vật trưng bày ở bảo tàng không thu hút được nhân dân mà họ thường coi đó là những chứng
Trang 31tích văn hóa, lịch sử cần tìm hiểu Đa phần người dân Việt Nam từ người lớn đến trẻ nhỏ không có khái niệm đến bảo tàng như là một địa chỉ văn hóa để trau dồi kiến thức, mở rộng hiểu biết Nguyên nhân do dân trí, đời sống kinh
tế thấp nên việc người dân giành thời gian quan tâm tới trưng bày ở các bảo tàng là rất hiếm Thứ hai là do giáo dục công chúng, PR, marketing chưa đến được với công chúng, hơn nữa hoạt động của bảo tàng còn chưa đa dạng, chưa đem lại sự hấp dẫn và hứng thú cho thế hệ trẻ Sự đầu tư cho công nghệ, trưng bày, ánh sáng, nghe nhìn còn hạn chế nên chưa đem lại hiệu quả trưng bày Bên cạnh đó mạng lưới bảo tàng vẫn ở tình trạng mất cân đối về loại hình Hiện tại hầu hết các bảo tàng ở Việt Nam là bảo tàng thuộc loại hình lịch sử xã hội, còn quá ít các bảo tàng lịch sử tự nhiên, bảo tàng chuyên ngành về khoa học kỹ thuật Cấu tạo nội dung trưng bày theo tiến trình lịch
sử, nhiều phần trùng lặp nhau giữa các bảo tàng làm cho hệ thống bảo tàng trở nên đơn điệu
Không những vậy, trong lĩnh vực chuyên môn bảo tàng, thiếu đội ngũ chuyên gia và cán bộ giỏi, tính chuyên nghiệp chưa cao, đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo, chưa say sưa Việc tổ chức hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của các bảo tàng còn chưa mang tính chuyên nghiệp, khả năng thực hành các mặt công tác nhiệm vụ cụ thể còn nhiều bất cập Do công tác đào tạo cơ bản còn chậm đổi mới, do điều kiện hoạt động thực tế của bảo tàng chưa được đáp ứng,
do thiếu điều kiện nâng cao kiến thức, cập nhật thông tin về nghề nghiệp.Tình hình đó đặt ra cho những người làm trong lĩnh vực bảo tàng Việt Nam nhiều vấn đề phải suy nghĩ và hành động, để làm thế nào thu hút công chúng đến với bảo tàng thường xuyên, để bảo tàng khẳng định vai trò cần thiết không thể thiếu trong hệ thống các thiết chế văn hóa, giáo dục của xã hội
1.3.2 Lợi ích của việc ứng dụng quan hệ công chúng trong các bảo tàng
Việc ứng dụng quan hệ công chúng trong bảo tàng nhằm xây dựng, quảng
bá hình ảnh của bảo tàng đến du khách trong nước và quốc tế Nếu không có
Trang 32quan hệ công chúng thì mọi người khó có thể biết tới bảo tàng, các trưng bày, triển lãm và sự kiện mà bảo tàng thực hiện nhằm phục vụ công chúng
PR còn góp phần tạo dựng mối quan hệ với du khách, các cơ quan báo chí, các đối tác và các nhà tài trợ Chính nhờ PR mà cơ quan báo chí mới có thông tin để đưa tin
Thu hút khách thăm quan cho bảo tàng, tạo ra nguồn thu cho bảo tàng Khuyến khích rạo động lực cho nhân viên, tăng khả năng thu hút nhân tài
và duy trì nhân viên chủ chốt cho tổ chức
Qua các sự kiện góp phần củng cố niềm tin của công chúng vào tổ chức Bảo vệ tổ chức trước những cơn khủng hoảng
1.3.3 Vai trò của Quan hệ công chúng trong việc thu hút khách du lịch đến các bảo tàng
PR là một công cụ truyền thông mạnh mẽ Khi nó được sử dụng một cách
có hiệu quả, PR giúp các tổ chức đạt được những thành công lớn, duy trì được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực của mình Có thể thấy vai trò cụ thể của
PR đối với các tổ chức như sau:
* Với tổ chức thương mại
Về cơ bản vai trò chính của PR là cầu nối giữa tổ chức với các nhóm công chúng bên trong và bên ngoài của tổ chức
Với nhóm công chúng đối nội:
- PR giúp xây dựng ý thức mạnh mẽ của sự đồng nhất trong nội bộ tổ chức
- PR giúp tổ chức truyền tải các thông điệp đến toàn bộ nhân viên của tổ chức Thông điệp này là những ý kiến, chỉ đạo, tầm nhìn của lãnh đạo, nhiệm
vụ cần triển khai để gửi đến nhân viên nhằm đạt được tốt nhất các mục tiêu chung của tổ chức cũng như xoa dịu các bất đồng nội bộ tổ chức
- Khuyến khích và tạo động lực cho nhân viên tích cực làm việc, đóng góp vì quyền lợi của tập thể Tăng khả năng thu hút nhân tài và duy trì nhân viên chủ chốt trong tổ chức
Trang 33Với nhóm công chúng bên ngoài:
- Xây dựng và duy trì hình ảnh, uy tín, thương hiệu cho tổ chức
- Được công chúng biết tới tổ chức, hiểu tổ chức và ủng hộ tổ chức
- Khuyến khích công chúng tham gia vào các hoạt động của tổ chức
- Khắc phục sự thành kiến và hiểu nhầm của cộng đồng đối với tổ chức qua một sự việc nào đó
- Đưa ra các thông điệp rõ ràng, nhanh chóng nhằm thay đổi tình thế bất lợi
- Thể hiện được trách nhiệm xã hội của tổ chức qua các hoạt động vì cộng đồng như gây quỹ, từ thiện, phát triển văn hóa nghệ thuật, giáo dục
- Củng cố niềm tin của công chúng đối với tổ chức
- Bảo vệ tổ chức trước những cơn khủng hoảng
Ví dụ: Trường hợp Công ty sữa Dutch Lady tổ chức một chương trình
PR rộng rãi được quảng cáo khá rầm rộ mang chủ đề “Đèn đom đóm” Tương tự như vậy, Nhãn hàng Omo thuộc Tập đoàn Unilever vận động chương trình “Áo trắng ngời sáng tương lai” đã vận động mọi người gởi tặng đồng phục không dùng nữa cho Omo để gởi tặng các bạn nữ sinh ở vùng sâu vùng xa… Cả hai chương trình này đều là các chiến dịch PR của doanh nghiệp hướng tới cộng đồng nên tranh thủ được thiện cảm của công chúng với nhãn hiệu nói riêng và xây dựng hình ảnh tập đoàn nói chung PR dễ dàng gây thiện cảm với công chúng nên đi sâu vào trong tâm trí khách hàng
và thương hiệu ngày càng được mở rộng hơn Do PR ít mang tính thương mại vì sử dụng các phương tiện trung gian như hoạt động tài trợ, bài viết trên báo (tin, phóng sự)
*Đối với Bảo tàng
Đối với bất kỳ bảo tàng nào, sử dụng PR hiệu quả có thể thu hút khách, đẩy mạnh thương hiệu và nâng cao nhận thức, tạo ra sự chia sẻ hiểu biết của công chúng đối với bảo tàng và sản phẩm của bảo tàng trong môi trường thông tin có nhiều “nhiễu” hiện nay
Trang 34Quan hệ công chúng là con đường hiệu quả nhất để chiếm được thiện cảm của công chúng
Quan hệ công chúng ít tốn chi phí hơn rất nhiều so với các loại hình khuyếch trương, quảng bá khác
Quan hệ công chúng có thể hỗ trợ cho việc tuyển dụng và duy trì được chất lượng của đội ngũ nhân viên
Hoạt động PR hiệu quả là rút ra những ý tưởng từ nhóm công chúng này
và truyền tải chúng một cách rõ ràng hiệu quả vào nhóm công chúng khác, đồng thời thiết lập một nền tảng chung của truyền thông cho mọi nhóm công chúng Phân tích bất kỳ một chiến dịch PR thành công nào chúng ta sẽ thấy rằng người làm PR đã thực hiện truyền thông một cách rõ ràng, súc tích và
đã khơi gợi được những mong muốn và nhu cầu của con người
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TRONG VIỆC THU HÚT KHÁCH ĐẾN ĐẾN BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 2.1 Vài nét về bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển
- Sự ra đời và phát triển của Bảo tàng phụ nữ Việt Nam:
Nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội, cách hồ Hoàn Kiếm và khu phố cổ khoảng hơn 500m, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam toạ lạc trên phố Lý Thuờng Kiệt, đây là con phố đẹp, cổ kính bậc nhất Hà Nội, nơi có nhiều toà nhà kiến trúc kiểu Pháp cổ, những đại sứ quán, nhiều cơ quan, khách sạn lớn
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 09/CT ngày 10/01/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bảo tàng được khánh thành vào ngày 20 tháng 11 năm 1995 Với diện tích trưng bày gần 2000m2 và hệ thống kho lưu giữ hơn 25.000 tài liệu, hiện vật phản ánh những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử và cuộc sống đương đại Bảo tàng là trung tâm truyền thông kiến thức về lịch sử, văn hóa của phụ nữ Việt Nam cho công chúng Đây cũng là nơi giao lưu văn hoá giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ thế giới vì mục tiêu bình đẳng, hoà bình và phát triển
Ngày 20/10/2010 vừa qua Bảo tàng vừa mới khai trương hệ thống trưng bày thường xuyên sau 4 năm đóng cửa nâng cấp, chỉnh lý nội dung trưng bày Nội dung trưng bày mới được trình bày một cách khoa học, đẹp mắt với các trang thiết bị trưng bày hiện đại đã mang lại cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam một diện mạo mới với bản sắc rất độc đáo, ấn tượng Cùng đó, bảo tàng đã chuyển đổi từ loại hình bảo tàng lịch sử văn hóa thành một bảo tàng giới giàu bản sắc, cung cấp nhiều thông tin về những truyền thống văn hoá, các vấn đề
xã hội đương đại hướng tới mục tiêu bình đẳng giới
Trang 36Hệ thống trưng bày thường xuyên gồm các chủ đề: Phụ nữ trong gia đình; Phụ nữ trong lịch sử; Thời trang nữ Bên cạnh đó, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam còn tổ chức các chương trình dành cho công chúng, các hoạt động giáo dục và triển lãm chuyên đề, lưu động, tổ chức hội thảo, liên kết, hợp tác, phát triển
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
* Ban giám đốc
- Giám đốc : Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Vân
- Phó giám đốc : Thạc sĩ Nguyễn Hải Vân
* Các phòng chuyên môn
- Phòng Hành chính Tổng hợp
- Phòng Nghiên cứu - Sưu tầm - Trưng bày
- Phòng Kiểm kê - Bảo quản
- Phòng Truyền thông & Giáo dục
- Phòng đối ngoại và phát triển dự án
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam có khoảng 30 – 40 nhân viên, đa số là trình độ Đại học và trên đại học
Trang 37Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam có thể khái quát thành sơ
đồ sau:
*Phòng Hành chính Tổng hợp
Phòng hành chính tổng hợp có chức năng tham mưu, tổng hợp giúp lãnh đạo bảo tàng phối hợp các hoạt động chung giữa các phòng chuyên môn trong Bảo tàng Làm đầu mối quan hệ với các dơn vị khác theo sự phân công của lãnh đạo Bảo tàng, thực hiện công tác tổng hợp, điều phối theo chương trình, kế hoạch làm việc và thực hiện công tác tổ chức, hành chính quản trị với Bảo tàng, đảm bảo tính thống nhất, liên tục, đạt hiệu quả
Tham mưu giúp Giám đốc Bảo tàng thực hiện chức năng quản lý, công tác tổ chức viên chức, lao động thực thi công vụ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tiên lượng , nâng ngạch, bậc công chức, viên chức, thi đua khen
Phòng kiểm kê- bảo quản
Phòng truyền thông
và giáo dục
Phòng đối ngoại
và phát triển dự
án
Trang 38thưởng, bảo vệ chính trị nội bộ đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bảo tàng theo quy định của pháp luật
*Phòng Nghiên cứu – sưu tầm
Phòng Nghiên cứu – sưu tầm là bộ phận giúp Giám đốc Bảo tàng thực hiện chức năng thực hiện các chức năng nghiên cứu, tham mưu, tư vấn, phản biện khoa học
*Phòng Kiểm kê – bảo quản
Phòng Kiểm kê – bảo quản là phòng tổ chức kiểm kê tài liệu, hiện vật theo quy chế, kiểm kê hiện vật bảo tàng được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin ban hành kèm theo Quyết định số 70/2006/QĐ BVHTT ngày 15 tháng 9 năm 2006 Sắp xếp tài liệu, hiện vật và tổ chức kho bảo quản, lập hồ sơ về hiện trạng tài liệu, hiện vật và môi trường bảo quản
Tổ chức việc bảo quản phòng ngừa, bảo quản trị liệu, phòng chống tai họa, rủi ro cho tài liệu, hiện vật
*Phòng Truyền thông – Giáo dục
Phòng Truyền thông – Giáo dục là đơn vị tham mưu cho Giám đốc Bảo tàng việc xây dựng thương hiệu của Bảo tàng
Phụ trách các hoạt động tuyên truyền quảng bá hình ảnh Bảo tàng ra bên ngoài
Là đại diện ngôn luận của Bảo tàng và làm việc với cơ quan thông tấn báo chí
Quản lý và cung cấp các kênh thông tin nội bộ
*Phòng Đối ngoại và phát triển dự án
Phòng Đối ngoại và phát triển dự án có chức năng tham mưu giúp Giám đốc bảo tàng trong công tác quản lý bảo tàng à kế hoạch đầu tư trên các lĩnh vực
2.1.3 Sản phẩm, dịch vụ của bảo tàng
2.1.3.1 Hoạt động trưng bày
- Hoạt động trưng bày thường xuyên
Trang 39Cũng giống như các bảo tàng khác ở Việt Nam, từ khi thành lập (1987) đến đầu những năm 2000, nội dung trưng bày của Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam thường tập trung vào các vấn đề lịch sử, cách mạng xa xưa của phụ nữ Tôn vinh, ca ngợi một chiều vai trò của đông đảo phụ nữ nói chung, một số cá nhân được giới thiệu như những điển hình tiêu biểu của sự đóng góp, hy sinh chứ ít quan tâm đến cuộc sống riêng của mỗi con người, đặc biệt là những nhóm phụ nữ yếu thế Với cách lựa chọn nội dung và tiếp cận này các triển lãm nhất thời trước đây thường thiếu hấp dẫn, không thu hút sự quan tâm của công chúng, và ít khách tham quan vì nhu cầu thực sự của bản thân
Đứng trước thực tế đó, Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam đã tiến hành tổ chức đánh giá, lấy ý kiến phản hồi của công chúng để tìm nguyên nhân vì sao các cuộc trưng bày không hấp dẫn công chúng; Những nội dung nào công chúng muốn xem ở Bảo tàng; làm thế nào để bảo tàng thể hiện được vai trò của mình trong xã hội, đặc biệt là thúc đẩy bình đẳng giới Từ đó, Bảo tàng Phụ
Nữ Việt Nam đã có những nhận thức mới về sứ mệnh của một bảo tàng giới;
về chức năng phản biện của bảo tàng trong các vấn đề của xã hội đương đại;
về việc trưng bày di sản trong một xã hội đa dạng văn hóa
Cuối năm 2010, bảo tàng mở cửa trở lại hệ thống trưng bày thường xuyên sau 4 năm nâng cấp, chỉnh lý với 3 chuyên đề:
Trang 40- Trưng bày theo chủ đề
Bên cạnh hệ thống trưng bày thường xuyên, Bảo tàng còn tổ chức nhiều cuộc trưng bày chuyên đề với phương pháp tiếp cận mới là nhân học xã hội, phản ánh sự phát triển và thay đổi của xã hội đương đại bằng các dự án hướng tới nhiều nhóm đối tượng khác nhau, đặc biệt là những phụ nữ, trẻ em bị thiệt thòi, yếu thế
Năm 2004, với thể nghiệm đầu tiên là triển lãm chuyên đề “Cuộc sống của phụ nữ làng chài Cửa Vạn”, trưng bày đã có những bước thay đổi căn bản
đó là việc đổi mới trong phương pháp tiếp cận, tôn trọng và phát huy tiếng nói của chủ thể di sản văn hóa Thông qua các câu chuyện kể chân thực của chính những người trong cuộc, trưng bày đã hướng đến những vấn đề của cuộc sống đương đại
Bên cạnh thể hiện những tấm gương tiêu biểu, điển hình, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã đề cập đến đời sống đông đảo của những người phụ nữ bình dân với những câu chuyện đời thường của họ trong cuộc sống Trong những đối tượng đó, nhóm phụ nữ yếu thế, thiệt thòi đặc biệt được quan tâm
Từ năm 2004 đến nay, Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam đã tổ chức 8 cuộc nghiên cứu, trưng bày theo cách tiếp cận này và bước đầu nhận được sự quan tâm, chú ý của cộng đồng Trưng bày đề cập đến những thách thức, khó khăn, những hy sinh, mất mát của người phụ nữ, đặc biệt là những vấn đề mà họ đang phải đối mặt trong cuộc sống đương đại Đó là cuộc sống của những người phụ nữ kém may mắn, những phụ nữ ở những vùng khó khăn, những phụ nữ là nạn nhân của ma ma túy và HIV-AIDS, những khó khăn của doanh nghiệp nữ trong thời kỳ hội nhập Nhiều cuộc trưng bày mang tính phản biện
xã hội sâu sắc, có tiếng vang với công chúng trong và ngoài nước như
“Gánh hàng rong”, “Chuyện những bà mẹ đơn thân”