Những di sản nhân tạo thường được xem là các di sản văn hoá hoặc lịch sử, những tàn tích hoặc cấu trúc còn nguyên vẹn vẫn được sử dụng hàng ngày hoặc được sửa lại cho mục đích Trong đó:
Trang 1Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi Khoa qu¶n lý v¨n ho¸ - nghÖ thuËt
-
Lª thÞ TRANG
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ
Ở LÀNG TIẾN SĨ MỘ TRẠCH – TÂN HỒNG –
BÌNH GIANG – HẢI DƯƠNG
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cö nh©n qu¶n lý v¨n ho¸
Hμ Néi – 2009
Trang 25 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Những đóng góp của luận văn 3
7 Bố cục của luận văn 3
NỘI DUNG
Chương 1 Lý luận chung về di sản văn hoá và du lịch văn hoá 6
1.1.2.1 Di sản văn hoá vật thể 7
1.1.2.2 Di sản văn hoá phi vật thể 8
1.1.4.3.1 Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể 19
1.1.4.3.2 Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể 21
1.1.5 Vai trò của di sản văn hoá trong hoạt động du lịch 22
1.2.2 Bảo tồn văn hoá gắn với phát triển du lịch 25
Trang 31.2.3.2 Về mặt tiêu cực 30
Chương 2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hoá ở làng Tiến sĩ
Mộ Trạch – Tân Hồng – Bình Giang - Hải Dương
2.3 Thực trạng du lịch văn hoá ở làng Mộ Trạch trong thời gian gần
2.3.3 Thực trạng hoạt động quảng bá của làng Mộ Trạch 51
Chương 3 Giải pháp xây dựng và phát triển du lịch văn hoá ở
làng Tiến sĩ Mộ Trạch – Tân Hồng – Bình Giang - Hải Dương
Trang 43.5 Gây quỹ và tìm tài trợ 56
3.6 Tổ chức các hoạt động Marketing
3.7 Thiết kế, tổ chức các tour du lịch văn hoá đến làng Mộ Trạch
56
57 3.7.1 Tour lễ hội 58 3.7.1.1 Tuyến Hà Nội - Mộ Trạch – Hà Nội 58
3.7.2 Tour thường 61 3.7.2.1 Tuyến Hà Nội - Kẻ Sặt – Châu Khê - Mộ Trạch – Đông
Giao
61
3.7.2.2 Tuyến Hải Phòng - Mộ Trạch - Đảo cò Chi Lăng Nam –
Nam Sách – Chí Linh - Hải Phòng
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc sống được đảm bảo, đời sống được nâng cao, con người có xu hướng tìm về cội nguồn, mong muốn tìm hiểu những giá trị truyền thống của các tộc người trên thế giới nói chung và ở đất nước mình nói riêng Nắm được nhu cầu đó, hàng loạt các sự kiện văn hoá, các festival, các điểm du lịch văn hoá được tổ chức, xây dựng và phát triển trên toàn thế giới
Du lịch văn hoá là xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới Bên cạnh các loại hình du lịch khác như du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm… thì du lịch văn hoá là một loại hình ngày càng được đông đảo du khách quan tâm, tìm hiểu
Ở Việt Nam, đây là một trong những hướng đi được các nhà lãnh đạo, quản lý lựa chọn Du lịch văn hoá không những là thế mạnh để phát triển du lịch Việt Nam mà còn góp phần không nhỏ để khôi phục và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
Các sự kiện lớn như: festival Huế, festival Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, chương trình du lịch văn hoá “Tìm về cội nguồn” hay các địa điểm du lịch như Sapa, Ninh Bình, làng Diềm Bắc Ninh, chùa Keo Thái Bình… là những minh chứng cho sự phát triển của du lịch văn hoá ở Việt Nam
Hầu hết, các địa phương có những nét văn hoá tiêu biểu, đặc sắc đều đang cố gắng tạo dựng được vị thế và xúc tiến thành lập các tour du lịch đến địa phương mình đã có những thành công nhất định
Bên cạnh đó, vẫn còn những địa danh có tên tuổi có triển vọng nhưng chưa được quan tâm đầu tư để phát triển thành điểm du lịch văn hoá trong đó có làng Tiến sĩ Mộ Trạch – Tân Hồng - Bình Giang - Hải Dương
Trang 6Mặc dù được mệnh danh là lò Tiến sĩ xứ Đông với quần thể di tích
phong phú nhưng làng Mộ Trạch lại chưa thể khẳng định mình với du
khách trong nước và ngoài nước Bản thân người dân nơi đây cũng thờ ơ
với những gì mình có, nói đúng hơn họ không hề biết rằng họ có thể có
những khoản thu nhập nhờ việc phát triển du lịch thông qua việc sở hữu
tài sản văn hoá vô giá cả về vật chất và tinh thần Họ chỉ biết rằng cha
ông họ có truyền thống hiếu học từ ngàn năm xưa và họ phải tiếp nối
truyền thống đó
Là một con người được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền
thống này Nhìn thấy quê hương còn nghèo, sự đổi mới chỉ đang bắt đầu
Thấy rằng mình cần phải làm một điều gì đó, góp công sức nhỏ bé của
mình để quê hương được giàu đẹp Vì vậy em chọn đề tài “Xây dựng và
phát triển du lịch văn hoá ở làng Tiến sĩ Mộ Trạch – Tân Hồng – Bình
Giang - Hải Dương” làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý văn
hoá
2 Mục đích nghiên cứu
Tính đến nay, Mộ Trạch là đề tài mà rất nhiều người muốn tìm hiểu,
nghiên cứu nên có khá nhiều bài viết với nhiều chủ đề khác nhau Có cả
một website riêng của làng Mộ Trạch giới thiệu về lịch sử, các di tích và
những truyền thống tiêu biểu của ngôi làng này (langmotrach.com) Tuy nhiên, việc giới thiều chỉ đơn thuần là giới thiệu mà không nhằm vào
một mục đích cụ thể nào, đặc biệt là mục đích thu hút du khách về thăm
quan Mộ Trạch Vì vậy chưa hề có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh
nào về Mộ Trạch có thể giúp Mộ Trạch làm du lịch
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Giới thiệu những nét văn hoá đặc sắc, tiêu biểu của Mộ Trạch đến
đông đảo du khách trong và ngoài nước Từ đó thiết kế những tour du
lịch đến thăm Mộ Trạch cho du khách Mặt khác, hy vọng những truyền
Trang 7thống tốt đẹp đặc biệt là truyền thống hiếu học của Mộ Trạch có những ảnh hưởng sâu sắc tới lớp trẻ thông qua những chuyến du lịch
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sưu tầm và đọc tài liệu, phỏng vấn, quan sát, phân tích, tổng hợp, thống kê
6 Những đóng góp của luận văn
Đề tài đóng góp phần kiến thức nhỏ vào việc nghiên cứu, tìm hiểu những nét văn hoá truyền thống và những thay đổi ở làng Mộ Trạch Ngoài ra, cung cấp những thông tin và cách thức tổ chức, thiết kế các tour du lịch đến một địa danh khoa bảng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành ba chương:
Chương I Lý luận chung về di sản văn hoá và du lịch văn hoá Chương II Thực trạng du lịch văn hoá ở làng Mộ Trạch
Chương III Giải pháp xây dựng và phát triển du lịch văn hoá ở làng Tiến sĩ Mộ Trạch
Trang 8CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HOÁ VÀ
DU LỊCH VĂN HOÁ
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về di sản văn hoá
1.1.1 Khái niệm về di sản văn hoá
Có nhiều định nghĩa về di sản văn hoá
Theo Luật di sản văn hoá thì “Di sản văn hoá là sản phẩm tinh thần,
vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [1]
Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:
- Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội
hoạ, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
- Các quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công
trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
- Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm
có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học [21]
Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm
cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Di sản văn hóa là sản phẩm sáng tạo trong quá trình hoạt động của con người nhằm vươn tới đỉnh cao giá trị chân - thiện - mỹ Di sản văn
Trang 9môi trường - con người - văn hóa, là sự vươn lên những thách đố khốc liệt bằng sự kiên trì, lòng dũng cảm, trí thông minh và khát vọng vươn tới tầm cao của nhân loại, là tấm lòng bao dung, sự dung hợp giữa việc bảo tồn bản sắc riêng của mình với sự thích ứng và tiếp thu những giá trị của các văn hóa khác
1.1.2 Phân loại di sản văn hoá
Phân theo nguồn gốc hình thành, di sản văn hoá có hai loại chính: di sản nhân tạo và di sản tự nhiên Những di sản nhân tạo thường được xem
là các di sản văn hoá hoặc lịch sử, những tàn tích hoặc cấu trúc còn nguyên vẹn vẫn được sử dụng hàng ngày hoặc được sửa lại cho mục đích
Trong đó:
- Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di
vật, cổ vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử - văn hoá - khoa học
- Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc lịch sử - thẩm mỹ - khoa học
- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử - văn hoá -
khoa học
Trang 10- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về lịch sử
- văn hoá – khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên
- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt
Vậy di sản văn hóa vật thể bao gồm 5 thành tố:
+ Hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá
+ Hệ thống danh lam thắng cảnh
+ Hệ thống di vật
+ Hệ thống cổ vật
+ Hệ thống bảo vật quốc gia
1.1.2.2 Di sản văn hoá phi vật thể
Xác định thế nào là di sản văn hóa phi vật thể, điều 4 của Luật Di
sản văn hóa ghi rõ: “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm văn hoá tinh
thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực về phong tục truyền
Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO sử dụng trong
Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể “Di sản văn hóa
phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm và trong một số trường hợp là cá nhân công nhận là một phần di sản văn hóa của
họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với
Trang 11của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua
đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người.” [22]
Với một đất nước mà đến nay nông dân vẫn chiếm khoảng 70% dân
số thì những di sản văn hóa phi vật thể chính là những sáng tạo của người nông dân, dù là họ sinh sống nơi núi cao, hay miền đồng bằng, châu thổ qua tiến trình lịch sử Đặc điểm này chi phối di sản văn hóa phi vật thể cả
về nội dung, giá trị, phương thức biểu hiện lẫn phương thức trình diễn, phương thức lưu truyền Phương thức canh tác của những nông dân là trồng lúa, có thể là lúa nước nơi đồng bằng, châu thổ, có thể là lúa khô nơi nương rẫy Chính phương thức canh tác này sẽ lại là yếu tố chi phối những di sản văn hóa phi vật thể cả về nội dung và hình thức lẫn phương thức lưu truyền, tái tạo Là sáng tạo của nông dân, cho nên phương thức sáng tạo của những sáng tác phi vật thể sẽ truyền miệng, sự tồn tại của bản thân những sáng tác ấy cũng sẽ là truyền miệng, dạng thức tồn tại bằng văn bản của các di sản văn hóa phi vật thể không nhiều Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa hay nói tới dạng thức tồn tại trong tâm thức các thế hệ con người của nó Đặt những di sản văn hóa phi vật thể
ấy trong tương quan với chủ thể sáng tạo, chúng ra sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích cho công tác sưu tầm, nghiên cứu lẫn bảo tồn và phát huy Nhìn di sản văn hóa phi vật thể từ góc độ chủ thể sáng tạo, chúng ta cần ý thức hơn nữa về quá trình sáng tạo, lưu truyền loại hình di sản văn hóa này Bộ phận quan trọng nhất của di sản văn hóa phi vật thể là những sáng tác folklore Khởi nguyên, cội nguồn của sự sáng tạo văn hóa dân gian, văn hóa phi vật thể là của những cá thể Trong xã hội Việt Nam cổ truyền, những cá thể ấy có thể là người nông dân chân lấm tay bùn, nhưng cũng có thể là người thợ thủ công, cũng có thể là các nhà nho Chẳng hạn, khá nhiều lời ca trong hát phường vải Nghệ An là sáng tạo
Trang 12những “thành viên” rất tích cực và say mê hát phường vải Nhìn vai trò của các cá thể trong sáng tạo văn hóa phi vật thể, chúng ta lại phải nhìn thấy trong quá khứ, các cá thể này gồm rất nhiều loại người khác nhau,
có thể đó là người nông dân, cũng có thể đó là một nhà thơ, cũng có thể
là nhà sư, một thầy thuốc, một già làng Lâu nay, chúng ta quen gọi, đó là các nghệ nhân, nhưng khi đặt những con người ấy vào quá trình sáng tác folklore, quá trình sáng tác di sản văn hóa phi vật thể phải thấy chính đấy
là những nhân vật đóng vai chủ thể sáng tạo của văn hóa nói chung và văn hóa phi vật thể nói riêng Như vậy, chủ thể sáng tạo văn hóa dân gian, văn hóa phi vật thể không chỉ là nông dân
Nói đến môi trường sinh thành, lưu truyền các di sản văn hóa phi vật thể, người ta hay nói đến làng xã Thế nhưng, ở nước ta, làng xã lại là đơn vị xã hội gắn bó với tộc người, bản thân làng xã của một tộc người cũng có những nét khác biệt khi nó vận động trong không gian Với người Kinh (Việt), nhìn ở phương diện không gian, làng Việt có sự khác nhau về một số phương diện khi đặt trong cùng hệ để so sánh Làng Việt
ở Bắc Bộ có những khác biệt với làng Việt ở Nam Bộ và Trung Bộ ở nguồn gốc hình thành, đặc điểm quần cư, cơ cấu tổ chức, quan hệ sở hữu, các loại dân cư
Những di sản văn hoá được công nhận là "Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại" phải có những đặc điểm và giá trị sau:
- Kiệt tác có giá trị đặc biệt do nhân loại sáng tạo nên
- Có sức ảnh hưởng lan tỏa trong cộng đồng và sự độc đáo của bản sắc văn hóa
- Tính ứng dụng, các chất lượng kỹ thuật và các khả năng mang lại hiệu quả
- Mang giá trị như một chứng nhân độc đáo cho truyền thống văn hóa;
Trang 13- Có nguy cơ biến mất do thiếu phương tiện bảo vệ và do quá trình
đô thị hóa hay do tiếp biến văn hóa Vấn đề này phải được các quốc gia thể hiện trong các biện pháp quản lý và chương trình hành động [19]
Tựu chung lại di sản văn hoá phi vật thể gồm 8 thành tố:
+ Tiếng nói, chữ viết
+ Kho tàng ngữ văn truyền miệng
+ Các tri thức văn hoá dân gian khác
1.1.3 Nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá
Bất cứ một hoạt động nào muốn thực hiện một cách thuân lợi và có hiệu quả đều phải có những nguyên tắc nhất định Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng vậy Tuy nhiên, trước tiên cần phải hiểu bảo tồn là gì
phát triển du lịch Bằng việc đặt ra mức độ đúng, bảo tồn có thể đóng góp tài chính và phát triển xã hội của một quốc gia trong sự hợp tác với du
Bảo tồn là công việc hết sức cần thiết, hết sức có ý nghĩa, bởi nếu không có giải pháp bảo tồn, phát huy một cách thiết thực, có hiệu quả thì nhiều di sản văn hóa, cả vật thể và phi vật thể, sẽ nhanh chóng bị hủy hoại bởi thời gian, bởi môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, bởi mặt trái của toàn cầu hóa và thị trường hóa Việc trưng bày sưu tầm chỉ là một hình thức Còn để lâu dài và bền vững thì phải làm cho cộng đồng đó
Trang 14nhận thức được hết những giá trị di sản người ta nắm giữ, để nâng niu gìn giữ và truyền lại cho con cháu
Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cũng đặt ra không ít vấn đề Các nhà khoa học đã nhắc đến hai hình thức bảo tồn: tĩnh và động của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Điều quan trọng hơn đối với việc phát huy những di sản văn hóa phi vật thể là làm cho di sản ấy sống giữa cuộc đời, như chính bản chất của nó Liên quan đến vấn
đề này là việc phổ biến, trao truyền di sản phi vật thể tới cộng đồng Ngoài những ấn phẩm bằng văn tự còn có những ấn phẩm nghe nhìn: ảnh, băng cassette, băng video, đĩa CD- ROM, DVD Để làm được những công việc phát huy kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, vấn đề cần quan tâm là phải có một kế hoạch hoàn chỉnh, xác định những mốc thời gian cụ thể
Tính tới thời điểm này, cả nước đã có năm di sản văn hóa và thiên nhiên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, hai di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Trong số bốn vạn di tích trên toàn quốc đã kiểm
kê, có 3.018 di tích đã được xếp hạng di tích quốc gia và 5.347 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh Từ năm 2001 đến nay, đã có 1.456 di tích được đầu tư chống xuống cấp, tu bổ
Nhiều di tích đã được tu bổ tôn tạo và đang trở thành những sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh, có sức hấp dẫn khách tham quan ở trong và ngoài nước, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách nhà nước, đồng thời tạo thêm việc làm cho nhân dân địa phương như: vịnh Hạ Long, quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, địa đạo Củ Chi, thắng cảnh Hương Sơn, Yên Tử, núi Bà Đen (Tây Ninh), Đền Bà chúa Xứ (An Giang)
Tuy nhiên, một trong những vấn đề đang được coi là điểm nóng
Trang 15nghệ thuật sau khi tiến hành tu bổ, tôn tạo Nhiều di tích bị tu sửa sai quy cách do buông lỏng quản lý và do sự thiếu hiểu biết của một số lãnh đạo chính quyền địa phương, nhân dân, các vị trụ trì đền, chùa và cả đơn vị thi công trong việc muốn di tích bền vững (muốn thay mới toàn bộ cho bền chắc nên phản đối việc áp dụng các biện pháp nối vá, gắn chắp ), muốn di tích được “xứng tầm” hoặc vì chạy theo lợi nhuận đã dẫn đến làm mới di tích Việc tu bổ di tích còn dựa vào kinh nghiệm, ít dựa vào luật và các văn bản dưới luật, kết quả là di tích gốc bị biến dạng, nhất là đối với các di tích kiến trúc nghệ thuật
Việc bảo tồn di sản là điều kiện tất yếu để phát triển du lịch, đồng thời, sự phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện quay lại tái đầu tư, tu bổ cho các công trình di tích
Các nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá:
Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phải đảm bảo tính trung thực của lịch sử hình thành các di sản, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của di tích, phải giữ gìn nguyên vẹn, không làm biến đổi những yếu tố cấu thành của di sản
Bảo tồn phải gắn với phát huy những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của di tích, với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, sự phát triển của các ngành hữu quan, nhất là các ngành Du lịch, Giao thông công chính, xây dựng… Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích nhằm đặt cơ sở pháp lý và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiên các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành và địa phương
Tạo lập sự hài hoà giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hoá với bảo vệ các di tích; ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất đai và xây dựng các công trình không phù hợp trong khu vực bảo vệ của di sản
Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, thực hiện xã hội hoá hoạt
Trang 16lực trong và ngoài nước, nõng cao nhận thức và sự tham gia đúng gúp của toàn xó hội trong việc quản lý, bảo tồn và phỏt huy giỏ trị di sản [1]
1.1.4 Quản lý Nhà nước về di sản văn hoỏ
Cụng việc quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đú đều cú một cơ quan cụ thể thuộc cỏc Bộ khỏc nhau tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực Cơ
quan quản lý Nhà nước về di sản văn hoỏ là Cục Di sản Văn hoỏ
1.1.4.1 Cục Di sản Văn hoỏ
Cục Di sản văn húa là cơ quan của Bộ Văn húa, Thể thao và Du lịch
cú chức năng tham mưu giỳp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn húa, được Bộ trưởng giao trỏch nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động phỏt triển sự nghiệp bảo vệ và phỏt huy giỏ trị di sản văn hoỏ trong phạm vi cả nước theo đường lối, chớnh sỏch của Đảng và phỏp luật của nhà nước
Cục Di sản văn húa cú con dấu riờng, cú tài khoản tại Kho bạc nhà nước
Căn cứ vào Nghị định 185/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch, theo đó Cục Di sản văn húa cú nhiệm vụ sau đõy:
- Trỡnh Bộ trưởng dự thảo văn bản quy phạm phỏp luật, tham gia dự thảo, đàm phỏn điều ước quốc tế về bảo vệ và phỏt huy giỏ trị di sản văn húa
- Trỡnh Bộ trưởng chiến lược, quy hoạch phỏt triển, kế hoạch dài hạn
và hàng năm về bảo vệ và phỏt huy giỏ trị di sản văn húa
- Tổ chức thực hiện, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện cỏc văn bản quy phạm phỏp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cỏc cụng ước quốc tế về bảo vệ và phỏt huy giỏ trị di sản văn húa mà Việt Nam là thành viờn
- Hướng dẫn hoạt động phỏt triển sự nghiệp bảo vệ và phỏt huy di
Trang 17- Phối hợp với các Cục, Vụ chức năng hướng dẫn hoạt động lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích và nhân vật lịch sử
+ Thẩm định trình Bộ trưởng việc đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài và làm bản sao di vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành
+ Thẩm định dự án chuyên môn thuộc các lĩnh vực hoạt động của bảo tàng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của pháp luật
- Về di tích:
+ Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc công nhận di tích tiêu biểu của Việt Nam là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới
+ Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định xếp hạng, hủy bỏ xếp hạng
di tích quốc gia, điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia và việc xếp hạng, hủy bỏ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt theo quy định của pháp luật
+ Trình Bộ trưởng phương án xử lý đối với tài sản là di sản văn hóa vật thể theo quy định của pháp luật
+ Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định việc giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thu được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ hoặc do
Trang 18tổ chức, cá nhân phát hiện, thu giữ và giao nộp cho bảo tàng nhà nước có chức năng thích hợp
+ Thẩm định trình Bộ trưởng phê duyệt hoặc thỏa thuận quy hoạch,
dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt
và di sản thế giới; các dự án cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật
+ Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định cấp phép, thăm dò, khai quật khảo cổ
+ Phối hợp thẩm định trình Bộ trưởng thỏa thuận quy hoạch, các dự
án phát triển kinh tế- xã hội có liên quan đến di sản văn hóa
+ Thẩm định hồ sơ thiết kế kỹ thuật của các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt
+ Thường trực Hội đồng giám định di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội đồng định giá bảo vật quốc gia; hướng dẫn nghiệp vụ cho Hội đồng giám định di vật, cổ vật và Hội đồng định giá di vật, cổ vật của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Về di sản văn hóa phi vật thể:
+ Thẩm định trình Bộ trưởng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể đăng
ký với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và Danh sách di sản văn hóa phi vật thể Đại diện của nhân loại
+ Thẩm định trình Bộ trưởng phê duyệt hoặc thỏa thuận các dự án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
+ Thẩm định hồ sơ trình Bộ trưởng quyết định phong tặng danh hiệu vinh dự cho cá nhân, tập thể có công gìn giữ, trình diễn và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể
Trang 19+ Trình Bộ trưởng quyết định việc cho phép người Việt Nam ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam
+ Thường trực Hội đồng tư vấn về di sản văn hóa phi vật thể
- Về thông tin-tư liệu:
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa phục vụ nhiệm vụ quản
lý nhà nước và hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
+ Tổ chức xuất bản, phát hành Tạp chí Di sản văn hóa và phát triển hoạt động Trang tin điện tử Cục Di sản văn hóa
+ Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá về di sản văn hóa + Bảo quản hồ sơ tư liệu khoa học và pháp lý về di sản văn hóa
- Trình Bộ trưởng quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa; kiểm tra, phối hợp thanh tra ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa theo thẩm quyền; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật
- Xây dựng chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
- Chủ trì, phối hợp với các Cục, Vụ chức năng trình Bộ trưởng ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ của các chức danh, định mức khoa học, kinh tế-
kỹ thuật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, ứng dụng khoa học, công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
Trang 20- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng công chức, viên chức và người lao động trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
- Đề xuất khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo quy định của pháp luật
- Giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước nội dung hoạt động của các Hội,
tổ chức phi Chính phủ về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, thực hiện cải cách hành chính tại đơn vị theo chương trình, kế hoạch của Bộ
- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chính sách, chế độ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Cục; quản lý và sử dụng tài chính, tài sản và các nguồn lực khác được giao theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được Bộ trưởng giao
+ Phòng Quản lý di sản văn hóa phi vật thể;
+ Phòng Thông tin - Tư liệu
- Tổ chức sự nghiệp trực thuộc: Tạp chí Di sản văn hóa [16]
1.1.4.2 Nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hoá
Quản lý Nhà nước về di sản văn hoá có rất nhiều vấn đề cần đề cập
và giải quyết nhưng tóm lại bao gồm các nội dung chính sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
Trang 21- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
di sản văn hoá;
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hoá; tuyên truyền; phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hoá;
- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá [1]
1.1.4.3 Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
1.1.4.3.1 Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu
di sản văn hoá phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy di sản và làm giàu kho tàng di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Điều tra, phát hiện, thống kê, phân loại và tư liệu hoá di sản văn hoá phi vật thể Đồng thời lựa chọn di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam
để đề nghị tổ chức giáo dục, khoa học, văn hoá của Liên hợp quốc công nhận là di sản văn hoá thế giới Các tiêu chí để lựa chọn:
- Có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hoá, khoa học
- Có phạm vi và mức độ ảnh hưởng mang tính quốc gia và quốc tế
về lịch sử, văn hoá, khoa học
Trang 22- Phản ánh nguồn gốc và vai trò của di sản văn hoá phi vật thể đối với cộng đồng trong quá khứ và hiện tại
- Thể hiện bằng văn hoá truyền thống độc đáo và là cơ sở cho sự sáng tạo những giá trị văn hoá mới
Những biện pháp cần thiết để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể:
- Tổ chức thực hiện các dự án nghiên cứu, sưu tầm, thống kê, phân loại các di sản văn hoá phi vật thể trong phạm vi toàn quốc
- Tiến hành sưu tầm, thống kê, phân loại thường xuyên và định kỳ
về di sản văn hoá phi vật thể
- Tăng cường truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản văn hoá phi vật thể
- Đầu tư và hỗ trợ kinh phí cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể
- Thực hiện việc thẩm định miễn phí, hướng dẫn nghiệp vụ và hỗ trợ lưu giữ, bảo quản di sản văn hoá phi vật thể theo đề nghị của tổ chức, cá nhân là người chủ sở hữu di sản văn hoá phi vật thể đó
Bảo vệ và phát triển văn hoá phi vật thể dưới hình thức tiếng nói, chữ viết của các dân tộc ở Việt Nam
Khuyến khích việc duy trì, khôi phục và phát triển nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu Duy trì và phát huy giá trị của các lễ hội truyền thống với các biện pháp:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội
- Khuyến khích việc tổ chức hoạt động văn hoá, văn nghệ dân gian truyền thống gắn với lễ hội
- Phục dựng có chọn lọc các nghi thức lễ hội truyền thống như: tế,
lễ, đám rước và các nghi thức truyền thống khác
Trang 23- Khuyến khích việc hướng dẫn, phổ biến rộng rãi về nguồn gốc, nội dung các giá trị truyền thống tiêu biểu, độc đáo của lễ hội
1.1.4.3.2 Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể
Trước tiên phải tiến hành phân loại di tích Di tích văn hoá vật thể được chia thành bốn loại: Di tích lịch sử; di tích kiến trúc nghệ thuật; di tích khảo cổ; danh lam thắng cảnh
Xếp hạng di tích theo các cấp độ khác nhau bao gồm di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia và di tích cấp quốc gia đặc biệt
- Di tích cấp tỉnh gồm có: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu
những sự kiện, những mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với những nhân vật có ảnh huởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị có giá trị trong phạm vi địa phương; Địa điểm khảo
cổ có giá trị trong phạm vi địa phương; Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kiện hợp với cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương
- Di tích quốc gia: Các công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu những
sự kiện, những mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với các anh hùng dân tộc, các nhà hoạt động chính trị, văn hoá, nghệ thuật và khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hoá khảo cổ; Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù
- Di tích quốc gia đặc biệt: Các công trình xây dựng, địa điểm đánh
Trang 24gắn với các anh hùng dân tộc và danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc nghệ thuật hoàn chỉnh, nguyên gốc, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc và kiến trúc nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển quan trọng của các văn hoá khảo cổ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới; Cảnh quan thiên nhiên đẹp nổi tiếng hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa sinh học, hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới [1]
1.1.5 Vai trò của di sản văn hoá trong hoạt động du lịch
Di sản văn hoá là những thực thể văn hoá, dù là vật thể hay phi vật thể đều đóng quan trọng đối với hoạt động du lịch nói chung và hoạt động du lịch văn hoá nói riêng
Di sản là môi trường để giá trị mà nó hàm chứa có điều kiện được thể hiện và được sống thông qua hoạt động du lịch Nếu không có di sản thì các giá trị sẽ không tồn tại, hoặc ngược lại, muốn có giá trị của một di sản nào đó thì trước tiên phải có di sản Như thế thì các giá trị mới có môi trường để tồn tại, để sống Điều này chính là mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức, giữa cái vật thể và cái phi vật thể
Di sản là nơi hình thành ý tưởng để sản xuất ra các sản phẩm phục
vụ du khách Những ý tưởng chỉ hình thành khi đã hiện hữu một thực thể chứ không thể có được khi trước mắt người sáng tạo là con số không Vì vậy di sản là hình mẫu, là cơ sở, là cái gốc để con người dựa vào đó mà tha hồ sáng tạo ra những thứ mình muốn, phục vụ cho bản thân, cho chính di sản và cho khách tham quan
Di sản là nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm du lịch phục vụ du
Trang 25sản hoặc thông qua những nét đặc trưng mà di sản có được và thêm vào những thứ phụ gia khác
Di sản là nơi tiêu thụ các sản phẩm du lịch thông qua các đối tượng
du khách khác nhau Tất cả các sản phẩm du lịch đều được bày bán, trao đổi tại chính không gian của di sản và cũng chỉ ở đó chúng mới phát huy được giá trị đích thực của mình
1.2 Du lịch văn hoá
1.2.1 Khái niệm về du lịch văn hoá
Du lịch văn hoá được Luật du lịch định nghĩa như sau:
“Là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” [2]
Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi mức sống còn thấp Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để
tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát
Trang 26lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ [25]
Hoạt động du lịch là một tập hợp của những sức mạnh liên kết Dẫu còn là một ngành kinh tế mới, nhưng với đặc trưng riêng có của mình, du lịch Việt Nam có thể tạo những sức bật lớn, lan tỏa nhanh, không chỉ ở các di sản thế giới hay những vùng du lịch trọng điểm mà bằng cả truyền thống của một dân tộc thân thiện với bạn bè quốc tế, một đất nước có nhiều di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng nổi tiếng [14]
1.2.2 Bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch
Vẫn biết cần phải bảo tồn, gìn giữ các di sản văn hoá nhưng bảo tồn bằng cách nào lại là một vấn đề cần phải quan tâm Bởi lẽ, nếu chúng ta dừng lại ở việc khôi phục rồi đóng gói bỏ vào kho thì quá đơn giản nhưng di sản đó không có ý nghĩa cũng không mang lại giá trị gì cả, đó là những di sản văn hoá chết Mặt khác, nếu để những di sản tồn tại cùng với con người, cho chúng một cuộc sống mới, một vị thế mới, để mọi người biết đến, tìm đến và có những ấn tượng tốt thì những di sản đó mới thực sự được sống
Bởi thế hội nghị di sản thế giới yêu cầu các quốc gia không chỉ bảo
vệ, giữ gìn và khôi phục các di sản mà còn yêu cầu các di sản đó cần có chức năng trong đời sống của cộng đồng Vấn đề ở đây không phải là khoá chặt các tài sản quý báu mà là làm cho chúng trở thành bộ phận an toàn trong kết cấu của đời sống
Vì vậy, phát triển du lịch không chỉ là mục tiêu của các ngành du lịch mà còn là hướng đi đúng đắn của các nhà quản lý văn hoá
Trang 27Di sản văn hoá được khai thác, phát triển thông qua các hoạt động
du lịch mà những giá trị của di sản văn hoá đó chính là :
- Tự nhiên, không gian, cảnh quan môi trường
- Giá trị lịch sử, huyền thoại
- Giá trị tâm linh, tinh thần
- Giá trị văn hoá, nghệ thuật
+ Ngôn ngữ, văn tự thiêng
Và con người cũng tạo nên con người thiêng
Để phát triển được du lịch thì di sản văn hoá cũng phải phát triển cùng với quá trình bảo tồn
Phát triển di sản văn hoá là quá trình mở rộng cả về hình thức và nội dung của một hay toàn bộ hệ thống di sản nhằm đạt được những mục đích khác nhau
Tuy nhiên để bảo tồn di sản văn hoá gắn được với phát triển du lịch đòi hỏi phải có những cách thức phù hợp, những nguyên tắc nhất định thì mới có thể thành công:
- Việc quy hoạch và thực hiện ở cấp độ làng xã
Trang 28Trong thiết kế, thực hiện và mọi khía cạnh khác nhau nằm trong dự
án, người dân địa phương phải được hưởng lợi ích và công nhận sự cộng tác giữa việc bảo tồn thiên nhiên, di sản và phát triển cộng đồng
- Việc chuyển giao quyền lực ở cấp độ địa phương phải hợp pháp trên địa bàn rộng: người dân địa phương phải được đào tạo để ủng hộ việc bảo tồn, được chuyển giao quyền lực để quản lý và thực hiện các hoạt động Các dự án phải bao phủ trên diện rộng thay vì chỉ tập trung vào một hay một số làng Các cộng đồng địa phương cần nắm quyền kiểm soát các tác động của du lịch đối với cuộc sống của họ và môi trường Các thành phần tham gia cần được đào tạo tốt
- Sử dụng các nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương: các kỹ năng của con người và nguồn lao động, các loại vật liệu, người hướng dẫn cho khách du lịch…
- Qui mô của các dự án phải phù hợp: Thiết kế và phát triển phải trên cùng mộ mức độ phù hợp với các lối sống ở địa phương, cấu trúc xã hội, tầm nhìn văn hoá, điều kiện sống và tổ chức cộng đồng Người dân địa phương cần xác định năng lực thực hiện du lịch của mình nhằm đảm bảo hoạt động du lịch có thể hoà nhập
- Đảm bảo tính bền vững: Thiết kế các dự án dài hạn, cam kết dài hạn về các nguồn tài nguyên
- Đáp ứng các nhu cầu của địa phương và bảo tồn môi trường thiên nhiên là ưu đãi hàng đầu: Nhu cầu du lịch phải đứng thứ hai sau việc bảo tồn các khu tự nhiên và nguồn tài nguyên, bao gồm người dân địa phương Các dự án du lịch được thiết kế để hấp dẫn khách du lịch là những người sẵn sàng trả tiền cho việc bảo vệ nguồn tài nguyên và sự phát triển cộng đồng, là người sẵn sàng từ bỏ những thú vui xa xỉ, tiện nghi đắt đỏ để trải nghiệm một kinh nghiệm thực tế, mang tính văn hoá
và gần thiên nhiên Các khách du lịch có trách nhiệm nên được cung cấp
Trang 29Khách du lịch và các nhóm du lịch phải được kiểm soát thận trọng theo nhu cầu về nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhu cầu, mong muốn của người dân địa phương
- Có sự hỗ trợ của chính phủ: Về tài chính, luật pháp và các điều kiện thuận lợi
Những người tổ chức tour du lịch và những nhà đầu tư:
- Những người tổ chức tour du lịch phải làm việc với các cộng đồng địa phương và các cấu trúc du lịch địa phương Người dẫn đầu tour du lịch phải hiểu biết thấu đáo đời sống địa phương và hệ thống các di sản cũng như hệ sinh thái, phải kết hợp chặt chẽ các yếu tố giáo dục trong công việc của mình
- Các nhà đầu tư nước ngoài nên được khuyến khích để đầu tư vào các dự án du lịch văn hoá như những đồng sự ngang hàng với cộng đồng địa phương và các nhà đầu tư bản địa [17]
1.2.3 Tác động của hoạt động du lịch đến di sản văn hoá
1.2.3.1 Về mặt tích cực:
Bên cạnh những vai trò quan trọng mà di sản mang đến cho du lịch thì các hoạt động du lịch cũng có những tác động không nhỏ đến hệ thống các di sản
Du lịch góp phần quảng bá văn hoá, hình ảnh cho địa phương nơi có
di sản (ấn tượng của du khách, theo ảnh, thước phim, đồ lưu niệm…)
- Đem đến sự giao thoa văn hoá, làm giàu văn hoá cho cư dân bản địa thông qua giao tiếp với du khách Khách du lịch khi đến tham quan tại bất cứ điểm nào đều mang theo những sắc thái văn hoá của mình và vùng đất sinh sống của mình theo, họ thể hiện những sắc thái đó thông qua cử chỉ, hành động, lời nói… của mình, và người tiếp nhận lại chính
là cư dân bản địa Ngược lại, khách du lịch cũng được tiếp nhận những nét văn hoá của con người ở nơi có di sản Vì vậy, sự giao thoa luôn luôn
Trang 30- Du lịch là môi trường để di sản kiểm nghiệm chính mình, từ đó có những điều chỉnh thích hợp Nếu không có du lịch, di sản mãi mãi ở trạng thái tĩnh, nếu có chỉ là việc tu bổ, chống xuống cấp một cách hời hợt Hoạt động du lịch diễn ra sẽ bắt buộc di sản phải thực sự thay đổi, phải điều chỉnh sao cho phù hợp, đáp ứng những nhu cầu có thể mà du lịch đòi hỏi
- Du lịch góp phần xoá đi sự “khu biệt văn hoá” đặc biệt với các vùng sâu, vùng xa Mỗi một địa phương, mỗi một tộc người đều có những nét văn hoá riêng biệt, thậm chí là những nét văn hoá quái dị mà đôi khi không được các cộng đồng khác chấp nhận Nhưng thông qua du lịch, những nét văn hoá ấy được giải mã, giải nghĩa và trở thành nét đặc trưng riêng có, đáng tự hào của họ và đương nhiên điều đó buộc các cộng đồng khác quan tâm và chấp nhận
- Du lịch là hoạt động nhập khẩu văn hoá trực tuyến, đa chiều Như
đã nói, khách du lịch chính là người chuyên chở những bản sắc văn hoá ở quốc gia, cộng đồng họ đến nơi họ dừng chân Và bất cứ nơi nào họ dừng chân đều là nơi đã ít nhiều tiếp nhận những nét văn hoá ấy Việc trao và nhận lại tuỳ thuộc vào cách làm của con người
- Du lịch góp phần làm thay đổi, tô điểm cho cảnh quan, môi trường
ở nơi có di sản thông qua nhịp sống và sắc màu do du lịch đem lại Những hoạt động du lịch vốn đã rất nhộn nhịp và đa sắc màu, lại kéo theo nhịp sống khác nhau của các đối tượng khách du lịch càng làm thay đổi cuộc sống của bản thân di sản và địa phương có di sản
- Góp phần làm thay đổi các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư ở nơi có di sản (hợp tác song song cạnh tranh) Trước đây, nếu chưa có hoạt động du lịch, người dân có thể làm nông nghiệp hoặc buôn bán, việc
ai nấy làm, có thể không can thiệp, không quan tâm đến những việc người khác làm Nhưng khi đã làm du lịch thì họ có chung mục đích,
Trang 31thể tránh khỏi Tuy nhiên, họ cũng phải hợp tác với nhau ở một mức độ nhất định nào đó để hoàn thành một hay nhiều hoạt động, chương trình khác nhau
- Du lịch đem đến nguồn thu cho lớn cho di sản về tài chính Các nguồn thu thông qua du lịch là vô hạn, tuy nhiên thu như thế nào và thu được bao nhiêu là tuỳ thuộc vào phương pháp của người làm du lịch
- Hoạt động du lịch sẽ tác động trực tiếp đến di sản Những tác động
mà du lịch mang lại cho di sản là không thể tránh khỏi Ta chỉ có thể phát huy những tác động tích cực và cố gắng hạn chế tối đa những tác động xấu để bảo vệ di sản
- Du lịch góp phần tạo công ăn việc làm, thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội nơi có các di sản Khi hoạt động du lịch được đi vào quy mô thì mọi hành động, kế hoạch đều cần có nhân lực mà đội ngũ chủ yếu lại chính là người dân bản địa Điều đó có nghĩa là, người dân ở nơi có di sản sẽ từ
bỏ công việc mà mình đang làm để phục vụ cho du lịch khi thấy làm du lịch có lợi hơn Vì vậy, cơ cấu kinh tế thay đổi, đời sống được nâng cao
- Du lịch đem đến nguồn thu lớn cho cư dân bản địa thông qua các dịch vụ phục vụ khách du lịch Thông qua các dịch vụ cũng như các cửa hàng bán đồ lưu niệm và nhiều hoạt động khác, người dân có thể thu được nhiều lợi nhuận nếu được hướng dẫn đúng cách, làm đúng phương pháp và phù hợp với nhu cầu của khách tham quan
- Góp phần xoá đói, giảm nghèo, góp phần tái phân phối lại thu nhập xã hội nơi các di sản có hoạt động du lịch Ngay cả đối với những
hộ nghèo, nếu được hỗ trợ vốn và kinh nghiệm thì chắc chắn sẽ cải thiện được cuộc sống thông qua những hoạt động du lịch
- Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo xuất khẩu tại chỗ Người dân cải thiện cuộc sống, nhân dân làm giàu cho bản thân cũng chính là làm giàu cho đất nước Những sản phẩm mà khách du lịch đã tiêu dùng chính là
Trang 321.2.3.2 Về mặt tiêu cực
- Du lịch gây sự biến đổi, có thể làm biến dạng cảnh quan, môi trường ở nơi có di sản Đôi khi do chạy theo nhu cầu của khách tham quan, muốn làm mới mình mà di sản bị cắt xé, bị biến dạng theo lối hiện đại Môi trường di sản dễ bị lấn át bởi những ngôi nhà cao tầng xây lên
để phục vụ khách du lịch…
- Du lịch đem đến sự phát triển, xáo trộn, đôi khi làm đảo lộn nhịp sống bình thường của các địa phương nơi có di sản Đặc biệt là những di sản ở vùng nông thôn, nhịp sống ở nơi đây vốn rất yên bình nhưng sự yên bình đó rất dễ biến mất nếu hoạt động du lịch xâm nhập vào
- Du lịch làm tăng tình hình trật tự an toàn xã hội của địa phương
Du khách đến đông, tất có những khó khăn cho công tác bảo đảm an ninh trật tự Đây cũng là môi trường tốt cho các loại tội phạm lợi dụng để hoạt động
- Du lịch tạo ra nét “mờ” của bản sắc văn hoá địa phương, đem đến
từ một bộ phận du khách Tầng lớp thanh thiếu niên là đối tượng dễ dàng tiếp nhận những cái mới Những cái mới mà du khách mang đến nếu được quá nhiều người tiếp nhận hoặc tiếp nhận với khối lượng lớn thì nó
sẽ lấn át bản sắc văn hoá của địa phương
- Du lịch tạo ra sự mất cân đối trong cung - cầu ở các địa phương nơi có di sản (giao thông, cơ sở hạ tầng, nhà trọ, dịch vụ…) Đôi khi, số lượng nhà trọ và các cửa hàng, các dịch vụ không đáp ứng đủ cho khách
du lịch nên gây ra tình trạng qúa tải Hiện tượng tắc nghẽn giao thông và chen chúc nhau để vào tham quan cũng là một vấn đề đáng lo ngại
- Du lịch dễ làm mất cân đối, phá vỡ những khuôn mẫu truyền thống… của xã hội ở nơi có di sản Những cái mới và hiện đại hơn sẽ dễ dàng làm mờ, thậm chí là làm mất đi những cái truyền thống vốn đã tồn tại trong xã hội từ lâu Vấn đề không phải chỉ ngăn chặn những cái mới
Trang 33CHƯƠNG II THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HOÁ Ở LÀNG TIẾN SĨ MỘ TRẠCH - TÂN HỒNG – BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG
rồi đến làng Mộ Trạch
Như vậy, làng Mộ Trạch nằm ở phía Nam huyện Bình Giang Phía Bắc giáp với Mạc Xá, Tuyển Cử; phía Nam giáp với xã Thái Hoà; phía Đông giáp với xã Bình Minh và phía Tây giáp với xã Thúc Kháng
Vì ở nơi đồng trũng nên Mộ Trạch còn được gọi là Trầm Trạch, ngày nay còn gọi là làng Chằm
Theo nhận xét của cụ tổ Vũ Hồn và người xưa thì đây là một vùng đất đẹp, một thế đất có “sơn thuỷ thanh tú, long hổ hoàn bão, ngũ mã triều tiền, thất tinh ứng hậu, thần đồng dáng đứng, bảng bút bày lên” và chắc chắn sẽ phát về đường khoa bảng [8]
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Tính đến năm 1945 làng mới có khoảng 1000 nhân khẩu, vậy mà tính đến năm 2008 dân số đã hơn 3000 khẩu và diện tích khoảng 233ha Như đã nói, vì ở nơi đồng trũng nên ao hồ chiếm 2/5 diện tích Tuy nhiên, hiện nay, người dân đã san lấp gần một nửa số ao hồ đó để sử
Trang 34dụng vào những việc khác như: xây nhà, làm vườn, xây dựng các công trình phúc lợi… để phục vụ cuộc sống
Gắn bó lâu năm với nông nghiệp, người dân nơi đây đã hoà mình với thiên nhiên, chế ngự cả những điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, biến nó trở thành những thế mạnh, những yếu tố không thể thiếu cho việc sản xuất nông nghiệp của mình
2.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Làng Mộ Trạch được hình thành vào những năm đầu thế kỷ thứ IX, trong khoảng thời gian từ năm 825 đến năm 843 và được gắn với huyền tích về Vũ Hồn
Năm 825, vua Kính Tôn nhà Đường cử Vũ Hồn sang làm Thứ sử Giao Châu, một trong 12 châu của phủ An Nam, ở vào khu vực giữa sông Hồng và sông Thái Bình Trong thời gian làm quan, ông có điều kiện đi kinh lý các vùng, khi đến Lạp Trạch, thấy khoảng đất đẹp, bởi giỏi về phong thuỷ, ông nhận định kiểu đất này sẽ phát đạt khoa danh nối đời, nhớ đến lời người xưa:
Muốn cho con cháu làm quan Thì tìm thiên mã phương Nam đứng chầu Muốn cho kế thế ông hầu
Thì tìm chiêng trống bày chầu hai bên
Ông đã cắm đất lập ấp, lấy tên là ấp Khả Mộ (ấp đáng mến) Năm
843, nhân dân nổi dậy,Vũ Hồn chạy về Quảng Châu Giám quan Đoàn Su Tắc dẫn quân sang đàn áp Năm 846, Bùi Nguyên Dụ sang làm đô hộ Vì chán ngán cảnh quan trường nên năm 843 Vũ Hồn từ quan, cùng mẹ già
và gia đình sang ở tại ấp Khả Mộ Ngoài dạy học, ông còn bốc thuốc chữa bệnh cho dân, sống nhân hậu, được nhân dân trong vùng yêu mến
Từ ngày gia đình ông về sinh sống, làng Mộ Trạch mỗi ngày một biến đổi, dân làng thêm đông vui, học hành phát triển thành một làng có
Trang 35Năm 853, Vũ Hồn 49 tuổi, không bệnh mà mất, mộ táng tại xứ đồng
Mả Thần, phía Bắc làng Theo ghi chép, buổi ấy, khi hạ huyệt, thấy nhiều đám mây đen kéo đến, trời tối sầm lại, mưa như trút nước Sau đó, mưa tạnh, mây tan, mặt trời lại chói chang, người ta thấy kiến và mối đã đội đất đắp cho ngôi mộ to Sự việc làm cho con cháu và dân làng lấy làm lạ bèn trình lên quan sở tại, rồi quan dâng sớ lên kinh thành, vua nhận được
đã truyền sắc phong cho Người là “Thượng đẳng phúc thần” - thần bậc cao nhất và dân làng đã lập miếu thờ, Vũ Hồn trở thành Thành hoàng làng Mộ Trạch từ đó Qua các triều đại, Thành hoàng làng Mộ Trạch được vua ban cho 12 sắc phong [10]
Từ khi Vũ Hồn mất năm 853 đến năm 1226, bắt đầu triều Trần, tất
cả 373 năm dựng nước và giữ nước, xảy ra nhiều biến cố và thay đổi nhưng không tìm thấy ghi chép nào về làng Mộ Trạch Cử nhân Vũ Phương Lan viết sự tích làng Mộ Trạch kết hợp với một số bia hiện còn ở làng Mộ Trạch là những tài liệu ít ỏi về mảnh đất này
2.1.3 Đặc trưng văn hoá và quần thể di sản
2.1.3.1 Những nét văn hóa đặc sắc
Cùng với Côn Sơn, Kiếp Bạc - những địa danh nổi tiếng của tỉnh Hải Dương, Mộ Trạch là điểm đến của không chỉ bà con đồng tộc Vũ (Võ) Việt Nam mà còn là điểm dừng chân của nhiều du khách muốn khám phá những giá trị tinh hoa của mảnh đất ngàn năm văn hiến Lịch
sử của mảnh đất khoa bảng không chỉ dừng lại ở bia đá bảng vàng mà còn được nối tiếp cho muôn đời con cháu
Xét trên phạm vi đơn vị huyện của xứ Đông, mật độ tiến sĩ tập trung khá cao ở Văn Giang, Ân Thi, Chí Linh, Thanh Lâm, Đường An, nhưng trong phạm vi một làng xóm thì Mộ Trạch là điểm sáng rực rỡ nhất [3]
Người dân vùng đất Hải Dương có câu: "Tiền làng Đọc, thóc làng Nhữ, chữ làng Chằm" Đó là câu ca ca ngợi làng Đọc (làng Quan Tiền) là
Trang 36cúng cơm của làng Mộ Trạch) có nhiều người học giỏi đỗ cao nhất vùng còn được gọi là Làng Tiến sĩ xứ Đông [23] Ở đây ta có thể tìm thấy một
sự mẫu mực về tính hiếu học và tuân thủ lễ nghĩa mà ít làng quê Việt Nam nào sánh được
Tiếng thơm của làng không những đi vào dân gian mà còn được chính các bậc Đế Vương thừa nhận Vua Tự Đức từng phải thốt lên rằng:
"Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ" (một làng Mộ Trạch tài bằng nửa cả nước) [5] Không phải ngẫu nhiên mà vua Tự Đức vốn thông minh hay chữ lại phải trầm trồ khen ngợi như vậy Khởi nguồn để vua Tự Đức phải ban “lời vàng” ấy chính là vào khoa thi năm Bính Thân năm 1656, Triều vua Lê Thần Tôn, cả nước chỉ chọn được 6 vị đỗ tiến sĩ thì làng Mộ Trạch đã chiếm 3 vị mà tuổi chỉ từ 21 đến 23 tuổi Đó là Vũ Trác Lạc (21tuổi), Vũ Đăng Long (23 tuổi) và Vũ Công Lượng (22 tuổi) [24]
Qua bốn thế kỷ, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII, làng Mộ Trạch đã đóng góp cho đất nước 36 tiến sĩ và nhiều người con yêu nước, hiếu học, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước
1 Vũ Nghiêu Tá – Thái học sinh – 1304
2 Vũ Hán Bi – Thái học sinh – 1304
3 Lê Cảnh Tuân – Thái học sinh – 1381
4 Vũ Hữu – Hoàng giáp – 1463
5 Vũ Đức Khang – Hoàng giáp – 1472
6 Vũ Quỳnh – Hoàng giáp – 1478
7 Vũ Nguyên Trinh – Tiến sĩ – 1481
8 Vũ Đôn – Hoàng giáp – 1487
9 Vũ Hằng Trình – Tiến sĩ – 1493
10 Vũ Cán – Hoàng giáp – 1502
11 Lê Nại – Trạng nguyên – 1505
12 Lê Tự - Hoàng giáp – 1511
Trang 3714 Lê Quang Bí – Hoàng giáp – 1526
15 Nhữ Mậu Tô – Tiến sĩ – 1526
21 Vũ Đăng Long – Tiến sĩ – 1656
22 Vũ Công Lương – Tiến sĩ – 1656
23 Vũ Bật Hài – Tiến sĩ – 1659
24 Vũ Công Đạo – Tiến sĩ – 1659
25 Vũ Cầu Hối – Tiến sĩ – 1659
26 Lê Công Triều – Tiến sĩ – 1659
27 Vũ Duy Đoán – Tiến sĩ – 1664
28 Vũ Công Bình – Tiến sĩ – 1664
29 Vũ Đình Lâm – Hoàng giáp – 1670
30 Vũ Duy Khuông – Tiến sĩ – 1670
- Vũ Muộn Trai – làm Thái y viện biện nghiệm – Triều Mạc
- Vũ Thảo Hiếu Húy tảo – Làm chức Đặc tiến Phụ quốc thượng
Trang 38- Vũ Như Hiệu – Làm Cẩm Y tế - Triều Mạc
- Vũ Trực Hiên – Làm An bắc vệ lương y – đời Mạc Mậu Hợp
- Vũ Tấn – Làm Chánh tổng, tên chữ là Mặc Cư Sĩ, có tài bốc thuốc, xem bệnh, nhân dân ca tụng là lương y – Triều Lê Sơ
- Vũ Toàn Trai – làm Thái y viện, Chánh ngự y, coi sức khỏe cho nhà vua – Triều Lê Sơ
- Vũ Tế Hiền – Làm Thái y viện, phó Ngự y cho vua Lê Tương Dực
- Vũ Tiến Trai – Làm Tế Sinh Đường khán chẩn
- Vũ Đức Hiên – làm chức Nghệ An đạo thái Bộc tự khanh, lúc về hưu làm thuốc có tiếng đời Lê Cung Hoàng [3]
Với bốn ông Trạng, Mộ Trạch đã làm cho vua Tự Đức một lần nữa phải ban khen “An Nam tứ trạng, Mộ Trạch kiêm chi” [20], nghĩa là: Nước An Nam có bốn ông Trạng (là Trạng vật Vũ Phong, Trạng ăn Lê Nại, Trạng Cờ Vũ Huyến và Trạng toán Vũ Hữu) thì đều ở làng Mộ Trạch cả
Ngọc phả của làng cũng như trên bia số 18 tại Văn Miếu - Hà Nội còn ghi rõ các khoa thi và những người đỗ đạt
Đầu tiên phải kể đến khoa thi năm 1247, Vũ Vị Phủ, tức Vũ Nạp đỗ hàng thứ hai khoa thi Tam giáo và Lê Văn Hưu đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) và trở thành sử gia nổi tiếng Khoa thi năm 1304, năm Giáp Thìn, hai anh em Vũ Nghiêu Tá, Vũ Hán Bi là con trai của Vũ Nạp đều đỗ Thái học sinh và Vũ Nghiêu Tá làm quan đến chức Nhập nội hành khiển, môn
hạ, hữu thị lang, còn Vũ Hán Bi thì làm chức Nhập Nội hành khiển, thượng thư, tả thị lang, Trung thư môn hạ [7]
Đời vua thứ 11 của Nhà Trần, Trần Phế Đế, Lê Cảnh Tuân đỗ Thái học sinh khoa Tân Dậu năm 1382, là một trong bảy bề tôi tiết nghĩa triều Trần được ghi chép trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú
Trang 39Triều Lê Sơ có Lê Thiếu Dĩnh làm chức Thẩm hình viện sự, ngoài
ra ông còn có nhiều bài thơ viết trong tập Hoàng Việt thi lục và các tác phẩm: “Tiết trai thi tập”, “Thăm chùa Lễ Đế”, “Trạch cố hương” cùng với Lê Thúc Hiển làm chức Lạng Giang tuyên phủ sứ Người đỗ Tiến sĩ đầu tiên dưới triều Lê Sơ là Vũ Hữu ở khoa thi năm Quý Mùi 1463, làm đến chức Thượng thư sáu bộ, là người trù tính nhân công, nguyên vật liệu, đôn đốc thi công việc tu sửa các cửa Đoan Môn, Đại Hương, Đông Hoà của kinh thành Khi tu sửa xong thì số nhân công và nguyên vật liệu
mà ông trù liệu coi như vừa đủ, vì vậy ông được mọi người cảm phục, nhà vua ban thưởng và phong cho là Trạng toán Ông cũng là tác giả của cuốn “Lập thành toán pháp”
năm 1472, làm chức Đô hộ bộ đô cấp sự trung Vũ Quỳnh đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất năm 1478, làm Hình bộ Thượng thư, Quốc tử giám tu nghiệp, là tác giả của bộ “Đại Việt thông giám, thông khảo” Tiếp đó là
Vũ Nguyên Trình, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Tân Sửu năm 1481, làm Phó đô ngự sử, Vũ Đôn đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Mùi năm 1487, làm chức Tư huấn Vũ Hằng Trình đỗ Tiến sĩ khoa Quý Sửu năm 1492 làm chức Tự khanh
Đời vua Lê Hiển Tôn (1497 – 1504), làng Mộ Trạch có Vũ Cán đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Tuất năm 1502, làm đến chức Lễ bộ thượng thư Ông để lại nhiều tác phẩm: “Tùng hiên thi tập”, “Tùng hiên văn tập”, “Tứ lục bị lãm”…
Đời vua Lê Uy Mục (1505 – 1510), Lê Nại đỗ Trạng nguyên khoa
Ất Sửu năm 1505, làm chức Hữu thị lang Thông minh, chăm học và có tài ăn rất khoẻ nên được gọi là Trạng ăn Lê Tư là em Lê Nại, đỗ Hoàng giáp khoa Tân Mùi năm 1511, làm Đô cấp sự trung, ông là nhà sử học viết cuốn “Việt sử thông giám”