Từ nhận thức về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và ở huyện nam Đàn nói riêng, việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục tiêu sau đây : - Nâng ca
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HOÁ - NGHỆ THUẬT
-
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
HUYỆN NAM ĐÀN – NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (2006 ĐẾN NAY)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HOÁ
HÀ NỘI – 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn phòng thư viện trường đại học Văn Hóa Hà Nội, thư viện huyện Nam Đàn và các cô chú anh chị cán bộ TTVH huyện Nam Đàn, Ban quản lý di tích lịch sử Đền Vua Mai đã cung cấp một số tài liệu quan trọng cần thiết cho quá trình làm khóa luận
Qua đây tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể các thầy
cô giáo trong khoa QLVH – trường ĐH Văn Hóa hà Nội , đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý giá trong quá trình học tập tại trường Và đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thầy giáo hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp của tôi là PGS_TS Phan Văn Tú đã hết sức nhiệt tình, dành quỹ thời gian quý báu của mình giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….…03
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA……… ……… …. 06
Vai trò của văn hóa đối với việc phát triển xã hội………06 Nghị quyết 05 hội nghị BCH TW Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam……… 12 Xây dựng và phát triển văn hoá ở huyện Nam Đàn (Nghệ An) là nhiệm vụ vừa mang tính cơ bản lâu dài, vừa mang tính cấp bách…… 18
HUYỆN NAM ĐÀN TRONG NHỮNG NĂM QUA…… ………… 20
2.1 Vài nét về huyện Nam Đàn - Một vùng quê “địa linh nhân kiệt”… ….20 2.2 Những thành tựu về phát triển kinh tế xã hội trong những năm
gần đây……….………….26 2.3 Thực trạng xây dựng và phát triển văn hoá huyện Nam Đàn
trong những năm gần đây……… ………… 29
HUYỆN NAM ĐÀN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY………. 36
3.1 Khuyến khích tinh thần sáng tạo giá trị văn hóa, tự học hỏi của
các cán bộ văn hóa……… …36 3.2 Nâng cao chất lượng hiệu quả các hoạt động văn hoá thông tin cơ sở…39
3.3 Bảo tồn, khai thác và phát huy những giá trị văn hoá của các
di tích lịch sử……….48
Trang 4KẾT LUẬN:………51 TÀI LIỆU THAM KHẢO:………52 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, văn hoá đã trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của các Quốc gia trên thế giới Nó được coi là một nhân tố quan trọng quyết định tính bền vững của một Quốc gia, dân tộc Chính vì vậy, khi vận động thập kỷ thế giới phát triển văn hoá, cơ quan giáo dục, khoa học, văn hoá của liên hiệp quốc (UNESCO) đã nhấn mạnh :“Hễ nơi nào tự đặt ra cho mình mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà tách rời khỏi môi trường văn hoá thì nhất định sẽ làm mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy
sẽ bị suy yếu đi rất nhiều.Vì vậy, phân tích đến tận cùng trọng tâm, các động cơ và mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hoá”
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, nhận thức về vai trò của văn hoá phát triển không chỉ coi văn hoá là yếu tố nội sinh của sự phát triển mà văn hoá được coi là mục tiêu, là động lực, là hệ điều tiết của sự phát triển bền vững Và quan trọng hơn là chúng ta coi sự đầu tư cho phát triển văn hoá, cho sự giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động văn hoá còn được coi là hoạt động dịch vụ đặc biệt, góp phần làm tăng sản phẩm xã hội
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước thì hoạt động văn hoá- thông tin không những đóng góp vào tổng sản phẩm xã hội mà văn hoá còn làm hạn chế mặt trái của thị trường, làm cho đời sống vật chất tinh thần của nhân dân cân bằng và ngày càng phong phú, hài hoà, tiến bộ, và chính văn hoá sẽ góp phần quan trọng vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng được nâng lên một bước đáng kể Trong đó nhân dân huyện Nam Đàn cũng có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng, sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, góp phần quan trọng vào sự tiến bộ chung của quê hương Bác Hồ kính yêu
Tuy vậy, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá huyện Nam Đàn trong những năm qua chưa tương xứng với vị trí của huyện và đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cần tập trung giải quyết
Trang 6Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là : “Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa huyện Nam Đàn – Nghệ An trong giai đoạn hiện nay (2006 đến nay ) ”
2 Mục đích nghiên cứu
Từ nhận thức về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và ở huyện nam Đàn nói riêng, việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục tiêu sau đây :
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên cũng như nhân dân trong huyện về việc xây dựng và phát triển văn hóa ở huyện Nam Đàn – Nghệ An trong thời
3 Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Về đời sống văn hóa huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An
- Giới hạn về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An trong thời kỳ đổi mới
- Về thời gian: trong phạm vi từ năm 2006 cho đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để kiểm tra lại nhận thức, tư liệu, tôi đã đi khảo sát thực tế một số hoạt động văn hóa thuộc địa bàn huyện : tham gia vào lễ hội Mai Hắc Đế , các CLB hát ví Phường Vải, hội thơ Lam Hồng Quan sát thực tế những hoạt động phát thanh truyền hình, y tế, cũng như giáo dục, văn hóa trên địa bàn huyện Nam Đàn Đặc biệt nghiên cứu sâu về đời sống văn hóa của nhân dân tòan huyện, đọc số tư liệu nói về hoạt động nghiên cứu về việc phát triển văn hóa trong tỉnh Nghệ An Đồng thời thu tập một số tư liệu của TTVH huyện Nam Đàn, cùng với sự tiếp xúc với nhân dân trên địa bàn
Trên cơ sở nhận thức và khảo sát thực tiễn, kết hợp với quá trình học tập tại nhà trường và sự hướng dẫn của giảng viên, tôi đã có tư liệu để so sánh,đối chiếu tổng hợp Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá kết luận có tính chất định hướng về
Trang 7những giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn hiện nay
5 Bố cục của khóa luận
Để thực hện mục tiêu nhiệm vụ đề ra, đề tài sẽ được trình bày theo hệ thống
bố cục sau:
Mở đầu;
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của việc xây dựng và phát
triển văn hóa;
Chương 2: Thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa huyện Nam Đàn
trong những năm qua;
Chương 3: Giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa huyện nam Đàn
trong giai đoạn hiện nay;
Kết luận ;
Tài liệu tham khảo ;
Phụ lục
Trang 8CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 1.1 Vai trò của văn hóa đối với việc phát triển xã hội
Loài người khi hình thành, đã mang nhiều tư chất khác loài động vật mà trong
đó là nổi bật với 3 tư chất chính, đó là: Trí tuệ, ngôn ngữ và lao động Để tồn tại và phát triển con người đã sử dụng 3 tư chất ấy để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra các công cụ, thức ăn quần áo, nhà ở, và hình thành hàng loạt các nguyên tắc quan hệ với nhau, trong ứng xử giữa con người với con người, và từ đó tạo nên quan hệ loài người
Và trong cái thiên nhiên thứ hai đó, con người dần dần tạo nên những chuẩn mực đạo đức, những tục lệ, những truyền thống, những phương thức giữ gìn, nâng cao kiến thức thu nhận được trong quá trình sản xuất, phát minh, sáng chế ra máy móc phục vụ con người làm cho đời sống vật chất tinh thần của con người ngày một nâng cao Chính những giá trị vật chất, tinh thần mà con người tạo ra hướng tới phục vụ ngày càng tốt hơn cho chính bản thân mình và cho cộng đồng được gọi
là văn hoá Như Bác Hồ nói “Vì lẽ sinh tồn, cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về, mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng nó Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” Từ đó
có thể khái quát văn hoá là toàn bộ những gì mà con người sáng tạo ra mang tính người
Yếu tố hàng đầu của văn hoá là sự hiểu biết, bao gồm tri thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích luỹ được trong qúa trình học tập, lao động, sản xuất đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và các thành viên trong cộng đồng ấy Nên ta có thể nói văn hoá là biểu hiện trình độ phát triển chung của xã hội
Nhưng tuỳ thuộc vào những quan niệm, cách nhìn nhận ở những góc độ khác nhau, trong thời gian, không gian nhất định, với từng cộng động người khác nhau
Trang 9mà các khái niệm văn hoá được hiểu theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau và cùng với sự phát triển, văn hoá ngày càng chứa đựng nhiều nội dung phong phú, đa dạng Điều đó lý giải tại sao cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hoá chứa đựng các nội dung rộng hẹp khác nhau, chẳng hạn như “ Văn hoá hoà bình”,
“ Văn hoá thái”, “ Văn hoá Khơme”, “ Văn hoá ấn”, “ văn hoá Hán”, “ Văn hoá Pháp” … hoặc theo nghĩa hẹp hơn văn hoá dùng để chỉ các sinh hoạt tinh thần ngoài chính trị, kinh tế, xã hội như tôn giáo tín ngưỡng, văn nghệ, nghệ thuật
Khi nói đến văn hoá chúng ta phải đặc biệt chú ý đến hệ tư tưởng của nó, tức
là “hạt nhân” của văn hoá Chính hệ tư tưởng sẽ quy định kiểu, loại văn hoá của chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác, của giai cấp này với giai cấp khác
Văn hoá XHCN là hướng con người ta đến cái chân, thiện, mỹ, đến sự ấm
no của cộng đồng, hạnh phúc cho mọi người dân lao động
Văn hoá TBCN là thứ văn hoá mà giai cấp tư sản dùng để thống trị nô dịch, bóc lột người dân lao động, là bất bình đẳng trong xã hội
Đối với nước ta, ngày từ khi mới ra đời Đảng ta đã coi trọng văn hoá, coi văn hoá là một mặt trận Đặc biệt trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ, Đảng
ta đã có một văn kiện nổi tiếng, đó là “Đề cương văn hoá Việt Nam” ra đời ngày 25/2/1943 Trong đề cương văn hoá Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát của công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam là xây dựng một nên văn hoá mới, một nên văn hoá dựa trên cơ sở độc lập, tự do, là nền văn hoá phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân lao động và có vị trí xứng đáng trong nên văn hoá chung của nhân loại
Như vậy văn hoá nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất quyết định sự khác biệt của hình thái văn hoá XHCN với hình thái văn hoá của các chế
Như vậy, cùng với các lĩnh vực khác liên quan đến sự phát triển toàn diện của con người với tư cách vừa là động lực vừa mục tiêu của sự nghiệp cách mạng,
Trang 10sự nghiệp CNH- HĐH đất nước Văn hoá nước ta có nhiệm vụ vô cùng nặng nề đó
là xây dựng con người Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, phát triển ngang tầm sự nghiệp đổi mới đất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Đó cũng chính
là truyền thống văn hoá dân tộc ta, truyền thống đạo lý của Tổ quốc chúng ta Bản thân của sự phát triển kinh tế cũng không phải chỉ do nhân tố kinh tế đơn thuần tạo ra, mà kinh tế phát triển được còn nhờ đổi mới tư duy, sự hiểu biết
về khoa học kỹ thuật, áp dụng KHCN vào sản xuất và đới sống làm cho năng suất lao động tăng lên
Xu hướng chung của nhân loại tiến bộ ngày nay không chấp nhận chạy theo tăng trưởng khinh tế đơn thuần mà phải hy sinh văn hoá, hy sinh con người mà họ coi mục tiêu văn hoá là sự phát triển toàn diện của bản thân con người, nâng cao chất lượng sống cảu con người với tư cách là trọng tâm, là động lực của sự phát triển Vì vậy, mà nhiều nước trong đó có Việt Nam ta chủ trương chú trọng bảo tồn
và chấn hưng văn hoá dân tộc làm cơ sở cho việc xây dựng các mục tiêu nhân đạo cao cả trong sự phát triển
Như vậy chúng ta biết trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, một đất nước như Việt Nam ta, đất không rộng, người không đông, lại nghèo về kinh tế, nhưng truyền thống yêu nước của dân tộc đã kết thành sức mạnh nhân chìm bè lũ cứơp nứơc và bán nước Chiến thắng của dân tộc ta trước hai đế quốc to lớn, giàu
có chính là động lực truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của dân tộc, thể hiện ý chí sự thông minh về phương pháp cách mạng của người Việt Nam Vậy thì, trong xây dựng đất nước không có lý gì chúng ta lại không đi tìm động lực của sự phát triển kinh tế và xã hội ngay trong truyền thống văn hoá của dân tộc ta
Từ yếu tố cấu thành kể trên, chứng tỏ văn hoá không đứng ngoài phát triển,
nó nằm bên trong, là nhân tố nội sinh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực và hệ điều tiết của phát triển
Vì thế, khi xét đến vai trò, vị trí của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta phải xem xét ở 3 khái cạnh sau đây:
Thứ nhất: Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển:
Phát triển kinh tế là làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, để giải quyết ăn, ở, mặc và nhiều nhu cầu khác của con người, mà nhu cầu đó ngày càng phong phú và
Trang 11cao hơn, đó là mục tiêu trước mắt Mục tiêu sâu xa hơn là xây dựng xã hội tốt đẹp, công bằng trong đó con người phát triển tự do, toàn diện
Các nhà khoa học xác định mục tiêu của phát triển kinh tế là nâng cao chất lượng sống của con người trong sự kết hợp giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và sống đẹp, vừa an toàn, bền vững không phải cho một người mà cho nhiều người, không phải cho một thế hệ mà cho nhiều thế hệ Vì vậy, phải làm cho kinh tế bắt rễ sâu vào văn hoá Đúng như ông Tổng giám đốc UNESCO đã nói: “Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xẩy ra sự mất cân đối nghiêm trọng cả
về mặt kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ suy yếu rất nhiều”
Quan niệm về mục tiêu phát triển như vậy phù hợp với phát triển lâu đời của nhân dân lao động Đó cũng là lý tưởng, là điều phấn đấu của của Chủ nghĩa xã hội khoa học mà Đảng và Nhà nước ta đã áp dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước ta trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá Để đạt được mục tiêu phát triển đó, tăng trưởng kinh tế dựa trên tiến bộ kỹ thuật và công nghệ hiện đại là những phương tiện và điều kiện không thể thiếu mà những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện đại đó chính là văn hoá Vì vậy, sự kết hợp kinh tế và văn hoá, văn hoá với phát triển là yêu cầu bức xúc của tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam ta Điều đó được khẳng định trong Đaị hội Đảng toàn quốc lần thứ VII là:
“Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người”
Chúng ta đã biết ngày nay nhiều quốc gia trên thề giới đã thấy được mối nguy
cơ, hiểm hoạ của sự phát triển không cân đối giữa kinh tế, tức là sản xuất những giá trị vật chất vơí văn hoá, lĩnh vực sản xuất ra những giá trị tinh thần Thực tế trên thế giới và trong khu vực cho thấy những quốc gia nào biết kết hợp hài hoà giữa kinh tế với văn hoá thì sẽ giải phóng được tiềm năng trí tuệ của con người làm cho đất nước phồn thịnh, môi sinh, môi trường lành mạnh Con người ở đó được phát triển tự do và nảy sinh ra nhiều sáng tạo khoa học, công nghệ giúp cho đất nước đó ngày càng phát triển mạnh mẽ, lên đỉnh cao Ngược lại những quốc gia chỉ
lo phát triển kinh tế đơn thuần mà hi sinh nhân tố con người, sẽ làm cho con người thui chột về trí tuệ Họ chỉ biết sử dụng kỹ thuật nền văn minh nông nghiệp đơn
Trang 12thuần dẫn đến cạn kiệt tài nguyên htiên nhiên, huỷ hoại môi trường sinh thái, tạo ra bình đẳng xã hội, phân cực giàu nghèo càng lớn, làm nảy nở các tệ nạn xã hội, làm cho đất nước bị suy thoái
Để tránh được hiểm hoạ do chỉ biết tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá thì phải nhận thức lại con đường phát triển, phải tìm trong đó các đọng lực và nhờ có nó sẽ làm cho sự phát triển đúng hướng, bền vững, đó chính là văn hoá Nói văn hoá là động lực của sự phát triển kinh tế là vì văn hoá giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
mà trứơc hết là lĩnh vực kinh tế Các nhà khoa học cho rằng để phát triển kinh tế một cách bền vững, mạnh mẽ, lành mạnh, thì phải coi văn hoá là một động lực quan trọng không thể thiếu, văn hoá là nguồn dinh dưỡng phong phú, đa năng của phát triển kinh tế Có thể ví văn hoá là bầu sữa mẹ, kinh tế là đứa con, nguồn sữa
mẹ rất cần cho sự phát triển và miễn dịch của đứa bé
Ta nói văn hoá là động lực của phát triển kinh tế xã hội, vì văn hoá dựa trên những tri thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan, nó sẽ làm nền và định hướng ghúp con người chúng ta lựa chọn và xác định được một quy mô hình phát triển kinh tế đúng đắn, có hiệu quả
Văn hoá như chúng ta đã biết nó thiên chức hướng con người ta đến cái tốt, cái đẹp, cái đúng, nó có khả năng phát huy được hết mọi tiềm năng sáng tạo của con người, để giúp con ngưới có thể khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách tốt nhất để phát triển kinh tế có hiệu quả Văn hoá có khả năng kế thừa phát huy những giá trị truyền thống uư tú của dân tộc, bởi vậy nó mới có khả năng biến yếu
tố ngoại sinh như vốn, kỹ thuật công nghệ, phương pháp quả lýthành yếu tố nội sinh để phát triển kinh tế Những yếu tố ngoại sinh này chỉ có thể trở thành động lực bên trong của sự phát triển kinh tế một khi chúng ta tiếp thu và vận dụng nó phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất nước mình, xã hội mình, trong đó trung tâm là con người với các truyền thống văn hoá Vì vậy, một đường lối, chủ trương chính sách đúng đắn phải là một đường lối, chủ trương, chính sách làm sao cho yếu tố văn hoá phải thấm vào trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, con người Cụ thể văn hoá phải nằm trong tư duy của những nhà chiến lựơc, văn hoá phải nằm trong sự tính toán của các nhà hoạch địch chính sách, văn hoá phải nằm trong quản lý, trong sản xuất, trong giao tiếp, văn hoá ở mọi gia đình và ngoài xã hội và văn hoá phải nằm trong giao lưu, hợp tác quốc tế
Trang 13Cho nên, ta nói rằng hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hoá trong các lĩnh vực hoạt động của con người càng cao bao nhiêu thì các đường lối, chủ trương, chính sách vạch ra càng sáng rõ bấy nhiêu và sự phát triển mọi mặt của Đất nước càng trở nên tốt đẹp bấy nhiêu
Tóm lại: Trong thời đại ngày nay, nguồn gốc của sự giàu có, của sự phát triển
không chỉ là tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, kỹ thuật công nghệ, mà còn là tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người trong mỗi Quốc gia Mà tiền năng sáng tạo này lại nằm trong văn hoá, nghĩa là trong sự hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ và hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng động dân tộc
Nhân thức đước điều đó nên Đảng ta luôn khẳng định “ Văn hoá là nền tảng của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”
Văn hoá phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của những nhân tố khách quan và chủ quan, các điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo sự phát triển kinh
tế xã hội được hài hoà, cân đối, bền vững
Trong nền kinh tế thị trường cung, cầu là vấn đề trọng tâm, cạnh tranh là linh hồn, giá cả là hạt nhân, do tác động của các quy luật này mà tính năng động, chủ động của con người đựơc phát huy trí thông minh, óc sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp, những yếu tố quan trọng của con người văn hoá được khuyến khích, trân trọng, đó là mặt tích cực, Nhưng mặt khác nếu để kinh tế thị trường phát triển một cách tự phát thì mặt trái của nó sẽ làm cho bộ mặt dân cư sùng bái hàng hoá, coi đồng tiền là trên hết, làm tha hoá nhân phẩm, đạo đức con người, xem nhẹ các giá trị nhân văn
Vì vậy, đối với nền kinh tế thị trường Nhà nước phải giữ vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô bằng luật pháp và các chính sách theo định hướng XHCN Còn vai trò của văn hoá là điều tiết tinh thần của nền kinh tế thị trường, hạn chế mặt trái của thị trường, làm cho nền kinh tế thị trường hướng đến mục tiêu nhân văn, nhân đạo, biết kết hợp hài hoà lợi ích tập thể, cá nhân và Nhà nước con người
Trong giao lưu quốc tế, văn hoá đóng vai trò điều tiết đối với kinh tế đối ngoại,
và vậy văn hoá phải tiên phong trong việc làm nhân dân các nước trên thế giới gần gũi, hiểu biết và xích lại gần nhau hơn Bằng kiến thức, kinh nghiệm và khôn ngoan, văn hoá phải đóng vai trò định hướng và điều tiết các hoạt động liên doanh
Trang 14nhằm đẩy nhanh đẩy mạnh phát triển kinh tế của đất nước Nhưng không vì lợi ích trước mắt mà làm đi bản sắc văn hoá dân tộc, mất định hướng XHCN, để trở thành con nợ của nước ngoài và không biến thành nơi cung cấp nguyên liệu, nhân công
rẻ mạt cho họ, không để trở thành bãi rác thải “Bao gồm cả kỹ thuật, công nghệ văn hoá của các nước khác
Do vậy, chỉ có thể chấn hưng văn hoá dân tộc theo yêu cầu của thời đại thì bản thân văn hoá mới có khả năng tự điều chỉnh để vượt qua các thử thách và nắm lấy các cơ may vì phát triển nhanh, mạnh của đất nước
Trong quan hệ với môi trường tự nhiên, một mặt văn hoá phê phán lối sống ích
kỷ cá nhân, lối sống tiêu thụ, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, làm ô nhiễm môi trường sinh thái Đồng thời động viên cổ vũ cho sự phát triển nền kinh tế trí tuệ, tức là nên kinh tế dựa trên nền nguồn tài nguyên tái sinh Mặt khác văn hoá phải xây dựng được lối sống làm cho cân bằng được ước muốn cảu con người với sức tải sinh thái của hành tinh chúng ta, hay nói cách khác xây dựng một chuẩn mực sống, trong đó con người đối sử thiên nhiên nhân hoà hơn
Từ những phân tích trên, ta thấy văn hoá có vai trò vừa là mục tiêu, vừa là động lực và hệ điều tiết trong phát triển kinh tế - xã hội Nhưng không nên vì thế mà cho văn hoá là vạn năng mà chuyển từ cực nọ sang cực kia Trước đây vì quan niệm vì kinh tế, còn bây giờ lại tung hô “Tất cả vì văn hoá” Cho nên khẩu hiệu đúng đắn nhất mà đảng ta đã đề ra là: “Tất cả vì sự phát triển, nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”
1.2 Nghị quyết 05 hội nghị BCH TW Đảng khóa VIII về xây dựng và phát
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của BCH TW Đàng khoá VIII có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam trong thời kỳ mới Đây là một nghị quyết lớn sâu sắc, toàn diện về lĩnh vực văn hoá, là đề cương văn hoá thứ hai sau đề cương văn hoá năm 1943 của Đảng ta Nghị quyết là kết quả của sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn văn hoá nước ta trong nhiều năm qua, nhất là sau 10 năm đổi mới, là sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng và phản ánh ý nguyện của toàn dân
Để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống của nhân dân, thực hiện có kết quả ở từng địa phương, từng ngành và trong phạm vi cả nước chúng ta phải nắm vững 5
Trang 15quan điểm cơ bản đã nêu trong Nghị quyết Bởi vì các quan điểm đó là sự biểu hiện tập trung đường lối văn hoá của Đảng, là tư tưởng chỉ đạo toàn bộ các hoạt động văn hoá ở nước ta Nó vừa giúp cho hoạt động văn hoá đI đúng phương hướng chiến lược, vừa giải quyết tốt những vấn đề cụ thể đặ ra trong đời sống, mà chúng ta cần lấy đó để làm căn cứ xem xét giải quyết các công việc, các hiện tượng phức tạp trong thực tiễn đời sống văn hoá, hoạt động sáng tạo văn hoá, lãnh đạo, quản lý văn hoá Đó là 5 quan điểm sau đây:
dân tộc.
Tư tưởng này đã được nêu trong Nghị quyết 4 của BCH TW Đảng (khoá VII) Tiên tiến là yêu nứơc và tiến bộ là nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghiã Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhằm mục tiêu tất
cả vì con người, vì hạnh phúc và phát triển phong phú, tự do toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Tiên tiến không chỉ nội dung, tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung
Bản sắc dân tộc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước
Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết và mở rộng giao lưu Quốc tế, tiếp thu chọ lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán lề thói cũ
Trang 161.2.3 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất, đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái riêng, Các giá trị và sắc thái bổ sung cho nhau, làm phong phú cho nền văn hoá Việt Nam
và củng cố sự thống nhất dân tộc, là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em
đạo.
Mọi người dân Việt Nam phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh đều tham gia sự nghệp xây dựng và phát triển nền văn hoá nước nhà Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước Đội ngũ tri thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá
chí cách mạng và kiên trì thận trọng.
Bảo tồn và phát triển huy những di sản văn hoá tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hoá mới, XHCN, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ,văn minh
là một quá trình cách mạng, đầy khó khăn, phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian trong công cuộc đó, “ Xây” đi đôi với “ Chống”, lấy “ Xây” làm chính
Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản văn hoá quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đâú, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hoá để thực hiện âm mưu
“Diễn biến hoà bình”
Để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nghị quyết đề ra 10 nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
1/ Xây dựng con ngưòi Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đặc tính sau:
- Có tính yêu nước, tự cường dân tộc
Trang 17- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ứơc của cộng đồng, có thức bảo vệ cải thiện môi truờng sinh thái
- Lao động lương thiện và lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất lao động cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ cao chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực
2/ Xây dựng mô hình văn hoá để tạo ra ở các đơn vị cơ sở, cơ quan, đơn vị, trường học, … một đời sống văn hoá lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng
và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, xã văn hoá, gia đình văn hoá, Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng kinh tế phát triển với vùng sâu, xung xa, … miền núi và hải đảo Quan tâm xây dựng cuộc sống vật chất, chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá Xây dựng một số công trình trọng điểm tầm Quốc gia Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hoá, nghệ thuật chuyên nghiệp
3/ Phát triển văn học nghệ thuật: Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao Hướng văn nghệ nước ta phản ánh sinh động chân thật và sâu sắc sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân Đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng
4/ Bảo tồn và phát triển huy các di sản văn hoá: Di sản là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản dân tộc Hết sức coi trọng và bảo tồn, kế thừa phát huy những giá trị văn hoá truyền thống bao gồm cả văn hoá vật thể và phi thể
5/ Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và KHCN: phải thực sự coi đầu tư cho giáo dục - đào tạo là quốc sách hang đầu Coi trọng giáo dục đạo lý làm nguời,
ý thức trách nhiệm công dân, lối sống lành mạnh, ý thức vươn lên vì tương lai của mỗi người và mọi người, bồi dưỡng ý thức gìn giữ giá trị văn hoá đan tộc, tiếp thu tinh hoá văn hoá nhân loại
Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, xây dựng hoàn chỉnh bộ giáo trình, sách giáo khoa, nâng cao chất lượng giảng dạy các cán bộ môn văn hoá, lịch sử, ở các trường phổ thông
Trang 18Hoạt động khoá học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ phải góp phần đắc lực giải quyết các vấn đề bức xúc trong lĩnh vực văn hoá
6/ Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống tin đại chúng, sắp xếp và quy hoạch hệ thống thông tin, phát thanh, truyền hình, xuất bản Thực hiện chiến lược truyền thông Quốc gia phù hợp điều kiện nước ta và xu thế phát triển thông tin đại chúng của thế giới Đẩy mạnh thông tin đối ngoại
7/ Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiếu sổ: Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống văn hoá, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Bảo tồn ngôn ngữ chữ viết của các dân tộc, đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết phổ thông, ưu tiên thiểu số, Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số
8/ Chính sách văn hoá đối với tôn giáo: Tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của dân Đảm bảo cho các tôn giáo hoạt động bình thường trên
cơ sở tôn trọng pháp luật, thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc
9/ Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá: Làm tốt công tác giới thiệu văn hoá con người Việt Nam với thế giới, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học tiến bộ của nước ngoài Ngăn ngừa sự xâm nhập các sản phẩm văn hoá độc hại đồi truỵ, giúp cộng đồng Việt Nam sinh sống ở nước ngoài hiểu biết tình hình đất nước, thu nhận sự đóng góp trí tuệ, tài năng vào công cuộc xây dựng đất nước ta
10/ Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá, đảm bảo sự lãnh đạo cảu Đảng, quản lý có hiệu quả của nhà nước, vai trò làm chủ của nhân dân và những người hoạt động văn hoá, tạo sản phẩm văn hoá phong phú, đa dạng, theo dịnh hướng XHCN Nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá hiện
có, đồng thời quan tâm đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá ở cơ sở, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật văn hoá về văn hoá
- Nghị quyết cũng đề ra nhiệm vụ cấp bách đến năm 2008 là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình Kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hoá biến chất về đạo đức ra khỏi
tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước Nghiêm trị bon tội phạm, ngăn chặn, đẩy các hoạt động phản văn hoá, các sản phẩm văn hoá độc hại Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, đẩy lùi các tệ nạn xã hội Cải thiện đời sống văn
Trang 19hoá ở những vùng đời sống văn hoá quá thấp kém, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
- Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, Nghị quyết 5 của BCH TW Đảng (Khoá VIII) đề ra 4 giải pháp chủ yếu sau đây:
1/ Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước
và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”
- Bằng những hình thức tuyên truyền, làm chuyển biến nhận thức trong Đảng và quần chúng nhân dân về sự cấp thiết, cấp bách của việc xây dựng, phát triển văn hoá và trách nhiệm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ văn hoá trong tình hình mới
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với phong trào thi đua yêu nước, thực hiện CHN - HĐH đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, phát triển phong trào “ Toàn dân đòan kết xây dựng đời sống văn hoá”, huy động mọi lực lượng nhân dân
và hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơ quan Nhà nước, cách đoàn thể quần chúng ra ngoài xã hội tích cực tham gia phong trào
2/ Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính trị văn hoá:
- Xây dựng, ban hành luật pháp, các pháp lệnh, các văn bản pháp quy để điều chỉnh các hoạt động trên các lĩnh vực văn hoá
- Bổ sung hòan thiện, xây dựng mới các quy chế, quy định về lễ hội, về việc tang, cưới… khuyến khích nhân dân xây dựng quy ứơc về nếp sống văn hoá, …
- Xây dựng hoàn thiện các chính sách, nhằm gắn văn hoá các hoạt động kinh
tế Thực hiện cơ chế mở rộng hoạt động kinh doanh, dịch vụ văn hoá, thể thao, tạo nguồn thu hỗ trợ cho các hoạt động của các đơn vị văn hoá, nghệ thuật Trợ giá cho một số báo chí, văn hoá phẩm đưa ra nước ngoài nhằm mục đích tuyên truyền đối ngoại
- Ban chấp hành chính sách văn hoá trong kinh tế, chính sách xã hội hoá hoạt động kinh tế Chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc, chính sách khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn hoá Xây dựng và ban hành các chính sách đặc thù hợp lý, hợp tình cho nhưng loại đối tượng xã hội cần được ưu đãI tham gia và hưởng thụ văn hoá, ban hành các chính sách cụ thể về hợp tác quốc tác quốc tế trong các lĩnh vực văn hoá, thông tin
3/ Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho các hoạt động văn hoá: Tăng mức đầu tư cho văn hoá từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong
Trang 20ngân sách Nhà nước Thực hiện chương trình có mục tiêu về văn hoá, nhằm đầu tư
có trọng điểm, giảI quyết các vấn đề có tính cấp bách
Củng cố hoàn thiện có tổ chức bộ máy cán bộ của các cơ quan lãnh đạo, quản lý tham mưu nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ văn hoá nghệ thuật, thông tin, báo chí, xây dựng, thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ văn hoá
4/ Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá Yêu cầu xây dựng và hiệu qủa đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta pahỉ tăng cường và nâng cao tầm lạnh đạo trên lĩnh vực văn hoá Trước hết phải nâng cao nhận thức
về vai trò đặc biệt quan trọng của văn hoá trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa.Thường xuyên chăm lo giáo dục, nâng cao nhân thức, hiệu biết về lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa Mác - LêNin
và tư tưởng Hồ Chí Minh và chú trọng kết nạp vào hàng ngũ của Đảng trong đội ngũ tri thức, văn nghệ sỹ ưu tú
Đổi mới phương thức lãnh đão của Đảng để cho văn hoá, văn học nghệ thuật phát triển đúng hướng
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hoá, xây dựng văn hoá từ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước như Bác Hồ đã dạy “ Đảng là đạo đức, là văn minh”
Tiến hành sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bình về tư tưởng đạo đức, lối sống trong Đảng toàn Đảng và bộ Máy Nhà nước, trước hết là trong đội ngũ cán
bộ lãnh đạo và quản lý
Hiếm có 1 vùng quê nào trên đất nước ta lại có vị địa lý lý đẹp một cách đặc biệt như ở Nam Đàn Nơi đây người dân bản địa quần tụ trong vùng, xung quanh bao bọc bởi dãy núi Thiên Nhẫn và Đại Huệ khép lại, tạo nên một lòng chảo khổng
lồ, có lẽ do khí thiêng sông núi nơi đây mà vùng đất “ Địa linh” này đã hun đúc nên nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân, khoa bảng, với những con người nổi tiếng như Mai Hắc Đế, Phan Bội Châu, Tống Tất Thắng, Vương Thúc Qúy, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Sinh Sắc, …và đặc biệt vượt ra tầm Quốc gia đó
là Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới được cả loài người tiến bộ ngưỡng mộ
Trang 21Trong Nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh của UNESCO có đoạn viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng trưng ưu tú cho sự khẳng định dân tộc, đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cuả nhân dân Việt Nam, góp phần vào công cuộc đấu tranh chung của các dân tộc, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Sự cống hiến quan trọng và đa dạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và văn nghệ thuật
đã kết tinh cuả truyền thống văn hoá lâu đời của nhân dân Việt Nam Lý tưởng của Người thể hiện nguyện vọng của các dân tộc trong sự khẳng định bản sắc văn hoá cuả mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”
Hẳn rằng quê hương và sông núi Nam Đàn đã góp phần không nhỏ vào sự khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc ở Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại
Chính vì ngưỡng mộ Người, biết ơn Người muốn tìm hiểu về mảnh đất đã sinh ra con người vĩ đại - Chủ tịch Hồ Chí Minh mà hàng năm huyện Nam Đàn được đón tiếp các vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta và nhiều nước trên thế giới viếng thăm, hàng chục vạn lượt khách trong và ngoài nước tham quan tìm hiểu quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh Tên làng, tên núi, tên sông gắn với thời thiếu niên của Bác đã trở nên thân thuộc với nhân dân trong nước và nhiều nước trên thế giới.Vì vậy, việc xây dựng và phát triển văn hoá của huyện không chỉ như những địa phương khác mà phải xây dựng và phát triển văn hoá tinh thần, văn hoá vật chất ngang tầm với vị thế của huyện, tiêu biểu cho văn hoá của cả nước
Nhằm nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân trong huyện, việc xây dựng, phát triển văn hoá phải gắn chặt với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của huyện, làm cho văn hoá trở thành động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quýêt Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết tỉnh Đảng bộ Nghệ An lần thứ XIV và Nghị quýêt Đaị hội huyện Đảng bộ Nam Đàn lần thứ XXII
Việc xác định nội dung và tổ chức xây dựng phát triển văn hoá một cách đúng đắn, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của huyện, tâm lý, phong tục tập quán của nhân dân, đảm bảo sự định hưóng của Đảng và Nhà nước sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động của huyện Mặt khác, xây dựng và phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay nó vừa đáp ứng thoã mãn nhu cầu đời sống tinh thần, nâng cao dân trí góp phần vào cuộc sống công nghiệp hoá - hiện đại hoá Đất nước, mà còn có tác dụng hình thành nhân cách con người Nam Đàn trong
Trang 22cơ chế thị trường, đó là xây dựng con người Nam Đàn quê hương Chủ Tịch Hồ Chí Minh sống có lý tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ HUYỆN NAM
ĐÀN TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1 Vài nét về huyện Nam Đàn - Một vùng quê “địa linh nhân kiệt”
Huyện Nam Đàn nằm ở hạ lưu Sông Lam Xưa là trung tâm của Bộ Việt Thường thuộc nước Văn Lang, thời An Dương Vương Nam Đàn thuộc Bộ Việt Thường Trước và sau thế kỷ thư nhất là đất của huyện Cửu Đức, huyện Cửu Đức thời ấy bao gồm các huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương và một phần
huyện Đô Lương ngày nay
Năm 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán mở ra thời kỳ tự chủ cho đất nước ta.Nhà Ngô, rồi nhà Đinh và Tiền Lê đều bơ chế độ quận huyện Định Tiên Hoàngchia nước làm 10 đạo Lê Hoàn đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu Đời Trần –
Hồ, Hoan Đường đổi thành Thạch Đường Thời thuộc Minh, Thạch Đường chia làm 3 huyện nhỏ là Thạch Đường, Kệ Giang và Sa Nam, Sa Nam thời nay là lỵ sở
của huyện Sa Nam thời đó
Năm 1427 nhà Lê chia nước thành 5 đạo, Nam Đàn nằm trong đạo Hải Tây thời đó Năm 1469 Lê Thánh Tông định lại bản đồ từ Bắc chí Nam để thông thuộc các châu, phủ, lộ vào các Thừa tuyên, mới nhập cả Hoan Châu cũ và Diễn Châu cũ làm một gọi là Nghệ An Thừa tuyên Thời gian này huyện Nam Đàn được gọi là Nam Đường Đến năm Đồng Khánh thứ I (1866), Vì Kỵ Huý ( Tên huý Đồng Khánh là Nguyễn Phúc Đường ) đổi Nam Đường thành Nam Đàn
Sau cách mạng tháng 8, năm 1948 Nam Đàn chia thành 10 xã lớn Năm 1945 Nam Đàn được chia thành 33 xã và 1 thị trấn, Năm 1969 các đơn vị hành chính được điều lại, ngoài việc nhập một số xã, có 2 mới được thành lập Hiện nay Nam Đàn có 23 xã vá 1 thị trấn, phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên, phía Tây giáp huyện Thanh Chương, phía Nam giáp huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh ), phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, Đô Lương
Trang 23Nam Đàn có diện tích tự nhiên là 29.600 ha, xung quanh bao bọc bởi hai dãy núi Thiên Nhẫn và Đại Huệ tạo thành một lòng chảo khổng lồ Núi Thiên nhẫn nằm ở phía Tây của huyện Nam Đàn, Thiên nhẫn là nơi “Quỷ tà long thế cực nam minh Thiên nhẫn sơn thanh, thuỷ cộng thanh” (Nguyễn Thiếp), nghĩa là mảnh đất Phủ Quỳ, Phủ Trà đi mãi đến biển Nam, núi Thiên nhẫn xanh, nứơc cũng xanh Dãy núi hùng vĩ gồm 999 ngọn án ngữ cả một phương trời ấy có nhiêu cảnh nên thơ
Núi Đại Huệ nằm ở phía Đông Bắc huyện Nam Đàn Trên đỉnh Đại huệ có động Thăng Thiên, trong động có chùa Đại Tụê, tục truyền chùa này do Hồ Quý
Ly lập nên để thờ Phập bà Đại Hụê, người đã giúp Hồ Quý Ly xây thành Đại hụê làm nên căn cứ chống giặc giữ nước
Lam Giang (sông cả) chạy từ Tây sang Đông chia huyện Nam Đàn thành 2 phần: Hữu ngạn sông Lam gồm 8 xã, tả ngạn gồm 15 xã và thị trấn Chính dòng sông Lam đã làm giàu cho nông nghiệp Nam Đàn và tạo nên cảnh sơn thuỷ hữu tình mà ai đã một lần đến Nam Đàn thì khó quên được
Do những kiến tạo lịch sử tự nhiên mà Nam Đàn có vị trí chiến lược quan trọng, là huyết mạnh giao thông từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây Trong những năm đánh Pháp và Mỹ, Nam Đàn là hậu phương từ đây chuyển tảI quân lương sang nước ban Lào, vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh Ngày nay, trong phát triển kinh tế Nam Đàn có nhiều thuận lợi, về giao thông có đường quốc lộ từ Vinh qua Nam Đàn đi các huyện phía Tây, sang nước ban Lào, có tỉnh lộ 30 nối Nam Đàn,
Đô Lương nhập vào Quốc lộ 7 đi các huyện phái tây Bắc Nghệ An và sang Lào Quốc lô 15A một phần của đường mòn Hồ Chí Minh đI qua Hà Tịnh vào các tỉnh miền Nam
Về đường thuỷ có sông Lam , sông Đào Sông Lam có thể dùng cho tàu thuyền vài ngàn tấn từ cảng Bến Thuỷ lên bến Sa Nam thuận lợi Những năm gần đây phong trào làm đường nhựa, đường bê tông, kiên cố hoá kênh mương nên giao thông ở các xã và liên xã khá thuận tiện Các phương tiện giao thông như ô tô tải,
xe khách từ trung tâm huyện, từ đường QL 46 về được đến tận các xã
Về dân số, theo số liệu Tổng điều tra dân số 1/4/2006 thì số hiện nay của huyện là 153.973 người được phân bổ khá đều ở xã và thị trấn Là một huyện đồng bằng bán sơn đại nên kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Những năm gần đây nhờ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng nên kinh tế xã hội của huyện có nhiều khởi sắc, cơ cấu kinh tế đang được chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH, nhiều
Trang 24nghành nghề, TTCN được phát triển, nền kinh tế trước đây chủ yếu là do tự cung,
tự cấp, nay phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Các hoạt động thương mại dịch vụ phát triển mạnh
Cư dân Nam Đàn thuần nhất, hầu hết là người Kinh, khoảng 10% theo đạo Thiên chúa, 2% đạo phật, các phong tục, tập quán cũ trong ma chay, cưới hỏi đã cơ bản được xoá bỏ
Trình độ dân trí thường xuyên được nâng lên, toàn huyện đã phổ cập tiểu học vào năm 1993, hiện coa 22/24 xã đạt tiểu chuẩn phổ cập THCS, vào năm 2009 huyện Nam Đàn sẽ hoàn thiện phổ cập giáo dục bậc THCS, Tất cả các yếu kinh tế,
xã hội mà huyện Nam Đàn giành được trong hơn 10 năm đổi mới đã làm cho bộ mặt nông thông có khởi sắc Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao lên đáng kể
Nam Đàn là một miềm đất giàu truyền thống lịch sử văn hoá Địa hình Nam Đàn trông như một con Đại bàng khổng lồ đang bay, có người khi nhìn vào đã ví:
“ Nam Đàn vị thể phượng hoàng phi
Ứng thế Lam Giang tung hoành chi
Sơn luỹ lưu danh bao thời thế Địa linh nhân kiệt huyệt văn thi”
Và người xưa cũng đã tổng kết Nam Đàn là mảnh đất “ Cổ lai đa hào kiệt, trùng lai danh thắng địa”
Người Nam Đàn thế hệ này đến thế hệ khác đã nuôi dưỡng, hình thành ý thức
về quốc gia dân tộc một cách bên vũng, dũng cảm bất khuất chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, Sử sách đã nghi lại:
- Năm 722 trong đoàn phu tải vải đi cống nạp cho nhà Đường bên Trung quốc có Mai Thúc Loan Thấy cảnh dân phu vô cùng khổ cực, Mai Thúc Loan đã vận động dân phu nổi dậy giết bon quan, lính áp tải làm lễ tuyên thệ “ Dốc chí phục thù, giết bon giặc để cứu nước; và tôn Mai Thúc Loan làm chủ soái Mai Thúc Loan Kéo quân về Sa Nam xây thành luỹ để chống giặc nhà Đường, ông đã tập hơn được trên 30 vạn quân, đánh nhiều trận giết nhiều quân tướng nàh Đường Ông xưng Đế và lấy Van An (Vân Diên ngày nay) làm cố đô ( 722- 726)
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đó là cuộc khởi nghĩa lớn nhất nước ta hồi đó, nó đã tạo dược sựu liên minh nhiều Quốc gia để đánh nhà Đường, làm cho triều đình nhà Đường phải nhiều phen khốn đốn Ngay sau đó nhà Đường phải bỏ hẳn lệ tiến công Vải và thay đổi một số chính sách cải trị dân ta
Trang 25- Từ năm 1125 - 1225: Gần 1 thể kỷ dưới triều Lý, nhân Nam Đàn đã góp phần đánh tan quân Cham pa sang quấy nhiễu Đến Độc lôi ở núi Mượu còn thờ một viên tướng họ Phạm người huyện Nam Đàn có công đành giặc giữ nước
- Đến cuối thể kỷ thứ XIV nhà Trần khủng hoảng, sau thất bạo của đạo quân Trần duệ Tông ở phía Nam, một cựu thần nhà Trần Húc đầu hàng quân Chăm pa Tên vua nguỵ nàylập triều Đường tai long Môn ( Xã Hồng Long ngày nay), lấy đây làm kinh đô để chống nhà Trần Nhân Dân Nam Đàn dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Đắc Đài đã tấn công dẹp bỏ thành Long Môn, Buộc Trần Húc
tự Vẫn
- Năm 1403 Hồ Quý Ly chống quân xâm lược nhà Minh, nhân dân Nam Đàn
đã tích cực ủng hộ, xây thành núi trên Đại Huệ để chống giặc
- Nam Đàn cũng đã được nghi vào lịch sử vef một chiến tích chống quân Minh xâm lược, tại đây Lê Lợi đã chọn dãy núi Thiên Nhẫn làm bực thành trấn ảI xây dựng thành Lục Niên chống giặc Minh Bởi vì đây “Đất giáp ba sông biển, núi hình ngàn ngựa phi Chương hương chia hai ngả, làm phố hợp ba chi; Hoan, Đức khoe trấn hiểm, Trà, cao giữ biên thuỳ” (Thơ Bùi Dương Lịch, dẫn theo La Sơn Phu Tử của Hoàng Xuân Hãn)
- Từ năm 1460 -1497, các tộc người pháI Nam, phía Tây thường tràn sang lãnh thổ Đất Việt quấy nhiễu, ở Nam hoa thượng ( Nam Đàn) có tiến sỹ Tống Tất Thắng giữ chức Lại bộ Thượng thu, kiêm chức Cẩm trung, điều khiển 1 đạo quân
đI bình định phía tâu giữ yên cõi Đại Việt
- Năm 1788 trong lần ra Bắc thứ 2, Nguyễn Huệ đã vượt Truông Băng Nam Đàn, chiêu tập thêm quân sỹ, ở Nam Đàn có hàng ngàn người xin theo phò Quang Trung lập được nhiều chiến công hiển hách như Lê Đình Cai và chính trong lần ấy Nguyễn Huệ đã đổi núi Đại Tuệ thành Đại Huệ
Chỉ tại một mảnh đất nhỏ của Nam Đàn mà bao sự kiện của lịch sử nước nhà
đã in dấu, đI qua: Hành cung Nam Đàn hoa của Trần Trùng Quang, thành Lục niên của Lê Lợi, Viện Sùng chính của vua Quang Trung do Nguyễn Thiếp Đứng đầu Những chứng tích lịch sử sâu vào lòng người, vào quê hương những dấu son truyền thống, tạo cho con người Nam Đàn niềm tự hào sâu sắc
Trong kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng chiếu Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, nhiều sỹ phu Nam Đàn đã giác ngộ nhân dân giúp vua đánh giặc, hàng ngàn người tham gia đánh giặc của Hồ Duy Cương, Nguyễn Sỹ, Nguyễn Văn Đỉnh, Trần văn Tài, nghĩa quần đã huyết chiến với Pháp ở cầu Phù Đổng,
Trang 26đánh tan đồn Pháp ở Thanh Thuỷ, Vân Đồn Sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, chi bộ Đảng Cộng Sản huyện Nam Đàn được thành lập vào ngày 24/4/1930 tại làng Kim liên
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân đã cùng các huyện Thanh Chương, Nghi lộc, Nghi Lộc, Hưng Nguyên vùng lên biểu tình giành chính quyền trong cao trào xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 Ngày 30/8/1930, đoàn quân biểu tình của nông dân Nam Đàn đã đánh chiếm huyện đường bắt tri huyện Lê Khắc Tưởng viết cam đoan không nhũng nhiễu dân
Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, Nam Đàn chi viện sức người, sức của cho các chiến dịch, hàng vạn người con đã lên đường chống pháp cùng với quân dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Trong kháng chiến chống mỹ, Nam Đàn là nơi có nhiều mục tiêu bị giặc Mỹ ném bom phá hoại, nhưng với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh giăc
Mỹ xâm lược, Nam Đàn đã tiễn hàng ngàn người con lên đường diệt mỹ Ở hậu phương, thanh niên xung quanh, dân công hoả tuyến, các “ Đội thép” đã bám mặt đường, bến phà ngày đêm thông xe ra tiền tuyến Ngoài sức người nhân dân Nam Đàn còn huy động hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến trường
Vì những thành tích lớn lao trong cuộc kháng chiến chống đế chế quốc Mỹ, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Nam Đàn vinh dự được nhà Nước Tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, toàn huyện có 7 Anh hùng LLVT nhân dân và 55 bà mẹ Việt Nam anh hùng
Cùng với truyền thống yêu nước, cách mạng Nam Đàn còn là mảnh đất chứa đựng nhiều nét văn hoá truyền thống tốt đẹp
Trước hết cũng như nhiều vùng quê khác của Nghệ Tĩnh Người dân Nam Đàn khổ học và học giỏi Theo sách các nhà khoa bảng Việt Nam (1705 - 1919) và
“ Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn” thì huyện Nam Đàn có số đăng khoa cao nhất tỉnh Nhgệ An (135/648 vị) Nhiều vị khoá bảng của huyện Nam Đàn đã có công với dân, với nước, được sử sách nghi nhận, nhiều vị đã trở thành danh nhân văn hoá lịch sử dân tộc Họ Nguyễn Trọng ở Nam Trung có 3 vi tiến sỹ đều được
cử đi sứ Trung Quốc, được ca ngợi “ tam thế ngũ hoàng hoa” ( 3 thế hệ, 5 lần đi sứ, mỗi lần sang sứ được vú Tàu tặng cho 1 bông hoa màu vàng) Giải nguyên Phan Bội Châu không tiến theo con đường khoa cử mà xả thân vì nước, cứu dân, đã trở thành lãnh tụ của phong trào duy tân - Đông du đầu thế kỷ XX
Trang 27Tiếp tục truyền thống hiếu học của cha ông, nhiều thế hệ thanh niên yêu nước của huyện Nam Đàn đã từ nho học chuyển sang Tây học, rồi tham gia cách mạng, trở thành những chiến sỹ cộng sản như Lê Hồng Sơn, Nguyễn Tiềm, Bìu Chính Lộ, nhiều người đã trở thành tri thức và nhà khoa học lớn như Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào, Hàm châu, Đào vọng Đức,… Người tiêu biểu nhất cho tinh hoa hiếu học của ngươig Nam Đàn là Chủ tịch Hồ Chí Minh Người trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam được tổ chức UNESCO phong tặng danh hiệu “ Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới”
Cũng như mọi địa phương khác trong cả nứơc, Nam Đàn có một gia tài văn học dân gian khá phong phú Là một địa phương nhỏ bé, song ở đây đủ loại hình của văn học dân gian như ca dao, dân ca, tục ngữ, câu đố, ngụ ngôn, truyện cười
Đã bao đười qua rồi, các gia tài vô giá ấy là nguồn nuôi dưỡng tinh thần, là cơ sở văn hoá, là trí tuệ tài năng của nhân dân Nam Đàn
Nếu như cái “ thổ sản” của Nghệ Tĩnh là hát ví thì ở Nam Đàn có ví đò đưa,
ví phường đan, ví phường lau mía, nổi bật là hát ví phưòng vải và nhân dân Nam Đàn coi hát ví phường vải như là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của mình
Về nghệ thuật, kiến trúc ở Nam Đàn tuy đã mất mát nhiều nhưng trong một mảnh đất nhỏ ấy đã có 10 toà thành, điều ấy nói vị trí của Nam Đàn trong lịch sử,
đó là : Thành Vạn An xây dựng từ đời Mai Hắc Đế ở Sa Nam, Thành Lương quân
di tích đánh giặc Minh ở Thịnh Lạc, Thành Long môm chống giặc Minh của Lê Lợi ở xã Nam Kim, Thành Thịnh Lạc, phủ Lỵ Anh Đô đời Lê cho đến đời Nguyễn
ở Hùng Tiến, thành Hồng Vương di tích của Hồ Quý Ly ở núi Đại Huệ xã Nam Anh, thành Chung Sơn di tích chống giặc Bồn man ở chung cư Kim Liên, thành
Đô giao ở Nam Thanh, thành Hạ dương, thành Hồ Sơn
Về kiến trúc ở Nam Đàn có trên 100 đền, chùa hiện còn giữ lại và choc cáI, nhưng niềm tự hào của người dân Nam Đàn là đình Hoành Sơn, trung cần, Nghi Môn Tam Tạnh Đình Hoành Sơn, Trung Cần thuộc vào loại đình lớn nhất không phảI ở Hạ Tĩnh mà cả trong toàn quốc và kiến trúc độc đáo, công phu, các mảng trang trí đẹp đẽ tỷ mỷ với kỹ thuật điêu luyện nên đình Hoành Sơn, Trung Cần đã được Nhà nước xếp là di tích sử văn hoá Quốc gia Về tín ngưỡng, cũng như các địa phương khác trên đát nứơc ta hầu hết ba con Nam Đàn đều lập bàn thờ, thờ cúng tổ tiên Những ngày giỗ, ngày tết bàn thờ bày cỗ bàn, hoa, tráI để cúng lễ
Trang 28Tín ngưỡng Thành Hoàng cũng phổ biến ở Nam Đàn, nó Phản ánh tính cách con người Nam Đàn Đó là con người Nam Đàn Đó là con người yêu nước, trọng nghĩa khinh tài, cần cù lao động, ham thích văn chương, biết tôn trọng những giá trị tinh thần Bên cạnh tín ngưỡng là lễ hội, hàng năm, lễ hội đua thuyền rước hến ở Khánh Sơn, Trung Cần Những năm gần đây Nam Đàn có thêm lễ hội Làng Sen vào dịp kỷ niệm ngày sinh Chủ Tịch Hồ Minh
Tóm lại: có thể nói rằng Nam Đàn là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hoá, các truyền thống ấy đã tạo nên sức sống mãnh liệt, truyên từ thế hệ này sang thế hệ khác và hun đúc hành động hiện tại để người dân Nam Đàn đi lên trong hoà quang rực rỡ của văn hoá Việt Nam, góp phần làm sáng đệp lên quê hương Danh nhân văn hoá của nhân loại, Hồ Chí Minh
2.2 Những thành tựu về phát triển kinh tế xã hội trong những năm gần đây
Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, những năm gần đây, nền kinh tế, xã hội của huyện Nam đàn có nhiều chuyển biến rất đáng phấn khởi Từ đặc điểm tình hình, điều kiện tự nhiên xã hội của huyện, văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện các khoá 21, 22 đã xây dựng cơ cấu kinh tế của huyện Nam Đàn là nông, lâm, ngư nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, TTCN, trong đó cơ cấu kinh tế, nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 54%, thương mại, dịch vụ,
du lịch chiếm 38%, công nghiệp, TTCN 8%
Về phương hướng phát trển kinh tế xã hội của huyện năm 2008 đựơc xây dựng , khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của các vùng kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật có, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất và đời sống Phát huy nội lực, tích cực khai thác các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế phải gắn chặt với phát triển văn hoá - xã hội, tạo ra bước chuyển biến tích cực và có chiều sâu trong các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, Dân số - KHHGĐ, văn hoá thông tin, TDTT, giải quyết việc làm Kết hợp chặt chẽ với phát trển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế xã hội phát triển đúng hướng
Nhờ xác định đúng cơ cấu kinh tế, phương pháp kinh tế xã hội của huyện và nhiều biện pháp tích cực nên kinh tế nông nghiệp, nông thôn Nam Đàn có bước
Trang 29chuyển biến tích cực, đó là cơ cấu nghành nghề, phân công lao động trong khu vực nông nghiệp được giải quyết một bước Nền kinh tế tự túc, tực cấp đang từng bước chuyển sang kinh tế hàng hoá và đã tạo ra sự tăng trưởng rõ rệt Về xây dựng cơ sở
hạ tầng có bước phát triển khá, 100% xã và hộ gia đình có điện, nhiều xã làm đường nhựa, đường lát gạch, bê tông, trên 70 km kênh xây phục vụ tưới tiêu Kinh
tế nông nghiệp, nông thôn có bước phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Từ năm 2006 - 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của huyện là: nông lâm ngư nghiệp: 25%; công nghiệp, TTCN, XD tăng 30%, dịch vụ, thương mại 27% Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người đạt 290-300 USD/năm, cơ bản xoá hộ đói, hộ nghèo giảm xuống còn 8,7% Song song với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân trên lĩnh vực văn hoá xã hội cũng thu được những thành tựu rất đáng phấn khởi, sự nghiệp GD -ĐT phát triển cân đối giữa các ngành học, cấp học, số lượng học sinh mầm non cho đến trung học ngày một tăng, không có học sinh bỏ học, chất lượng
GD - ĐT có bước chuyển biến khá: Hàng năm tỷ lệ học sinh tiểu học lên lớp đạt 98%, học sinh tốt nghiệp THCS đạt 93%, tốt nghiệp PTTH đạt 90% Năm 2006, toàn huyện đã hoàn thành phổ cập bậc tiểu học, 15/24 xã đạt tiêu chuyển phổ cập THCS
Nhận thức sâu sắc Nghị quyết 4BCH TW đảng khoá VII và NQ 02 của BCH
TW khoá VIII về định hướng chiến lược pt GD - ĐT trong thời kỳ công nghệp hoá
- hiện đại hoá và nhiệm vụ vào năm 2009 Huyện Nam Đàn đã thực hiện phương châm xã hội hoá giáo dục, kết hợp nhà nước và nhân dân cùng làm Tiến hành quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, đến nay 3 trường PTTH đã có nhà cao tầng đảm bảo tương đối đủ điều kiện cho học sinh học tập, 1 trường PTTH dân lập, 16/53 trường tiểu học và THCS có trường cao tần, các trường còn lại đạt tiêu chuẩn cấp 4A, đảm bảo cho học sinh học 2 ca/ngày Có 5 trường tiểu học được
Bộ GD - ĐT công nhân danh hiệu trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 2000 - 2007
Về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được tổ chức thực hiện
có hiệu quả: Mạng lưới y tế khép từ huyện đến xã Toàn huyện có 1 trung tâm Y tế
và các trang thiết bị khá hiện đại phục vụ cho chuẩn đoán và điều trị bệnh, 3 phòng khám đa khoa khu vực tạo thuận lợi cho các vùng xa Trung tâm huyện trong các trường hợp cấp cứu, điều trị các bệnh thông thường và kiểm tra giám sát dịch tễ, 24/24 xã có trạm xá đạt 4 yêu cầu đó là: Nhà trạm được ngói hoá, có tủ thuốc, với đội ngũ thầy thuốc được đào tạo cơ bản trong các trường y tế của tỉnh, TW Nhờ có
Trang 30các chương trình đầu tư của UNICEP, JICA nên trang thiết bị, dụng cụ y tế cho trạm xá khá đầy đủ và đồng bộ Các chương trình Quốc gia như loại trừ bệnh phong, sốt rét, bướu cổ, bệnh lao… tiêm chủng mở rộng được tổ chức thực hiện có hiệu quả, góp phần nâng cao sức khoẻ cho người dân
Công tác Dân số - KHHGĐ được cấp uỷ, chính quyền cũng như các đoàn thể huyện cho đến cơ sở quan tâm chỉ đạo nên đến nay số sinh giảm một nửa so với
2004 Tỷ lệ phát triển dân số của huyện Nam Đàn đến nay là 1,02%, là đơn vị nhiều năm dẫn đầu toàn tỉnh về công tác Dân số - KHHGĐ
Công tác chăm lo bảo vệ giáo dục trẻ em được tổ chức lồng ghép với các chương trình giáo dục, y tế nên tỷ lệ trẻ em suy dinh dưởng hiện nay của huyện Nam Đàn là 29%, không có tình trạng trẻ em bị suy dinh dưỡng nặng Số trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm giúp đỡ của cộng đồng nên các em đều được đi học ở huyện có nhà văn hoá thiếu nhi và nhiều xã quan tâm giành đất để làm sân chơi cho trẻ em
Các chính sách xã hội và công tác bảo trợ xã hội được quan tâm giải quyết đúng chính sách chế độ của Đảng và Nhà nước đề ra Toàn huyện có 17/24 xã làm tốt chính sách người có công Hàng năm toàn huyện thu gần 300 triệu đồng quỹ tình nghĩa để giúp đỡ gia đình liệt sỹ, anh chị em thương bệnh binh có hoàn cảnh khó khăn nên đến nay toàn huyện ko có hộ chính sách nào phải ở nhà tranh, nhiều gia đình chính sách có cuộc sống khá, số còn lại đều có mức sống ngang mức bình quân ở địa phương
Về công tác văn hoá thông tin, TDTT: Luôn đc sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở nhất là từ khi có NQ 4 của BCH TW (khoá VII) và Nghị quyết 5 của BCH TW Đảng (Khoá VIII) về phát triển văn hoá, văn nghệ, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc: Các hoạt động văn hoá thông tin, TDTT đượcc tổ chức lại
có hiệu quả hơn, kinh phí đầu tư cho sự nghiệp văn hóa tăng gấp đôi so với năm
2007 Đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở được tăng cường đủ về số lượng và chất lượng, nhờ đó mà đời sống văn hoá và tinh thần của nhân dân được nâng lên một bước đáng kể
Tuy nhiên, trên các mặt phát triển kinh tế xã hội, huyện Nam Đàn vẫn còn một số tồn tại, yếu kém:
- Về kinh tế: