Hiện nay, xây dựng và phát triển các hoạt động văn hoá có vai trò quan trọng trong thời kỳ đất nước đổi mới toàn diện, nhằm thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển vì mục tiêu“ dân giàu, nướ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN LÝ KHU DI TÍCH DANH THẮNG TÂY THIÊN
HUYỆN TAM ĐẢO – TỈNH VĨNH PHÚC
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Hương
Lớp : QLVH 7C
HÀ NỘI - 2010
Trang 2BẢNG QUY ƢỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 GS: Giáo sư
2 PGS: Phó giáo sư
3 TS: Tiến sĩ
4 UNESCO: Tổ chức văn hóa và giáo dục thế giới
5 ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
6 CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
7 HĐND: Hội đồng nhân dân
8 UBND: Ủy ban nhân dân
9 GDP: Tổng thu nhập quốc dân
Trang 3MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
4 Tình hình nghiên cứu của đề tài 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Bố cục 9
Chương I: Tổng quan về huyện Tam Đảo ( Vĩnh Phúc ) và khu di tích- danh thắng Tây Thiên 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản .11
1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa 11
1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh .11
1.1.3 Khái niệm quản lý và quản lý di sản văn hóa 13
1.2 Khái quát về huyện Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và khu di tích- danh thắng Tây Tiên .15
1.2.1 Vài nét về thiên nhiên và con người Vĩnh Phúc 15
1.2.2 Diện mạo địa lý, lịch sử của khu di tích- danh thắng Tây Thiên 20
1.2.3 Giá trị của khu di tích- danh thắng Tây Thiên .25
1.2.4 Sự tích các vị thần đang thờ phụng trong hệ thống di tích Tây Tiên .29
1.2.5 Sơ đồ tổng quan khu di tích- danh thắng Tây Thiên .35
1.3 Vai trò của khu di tích- danh thắng Tây Thiên trong việc phát triển kinh tế- xã hội .36
1.3.1 Đối với sự phát triển kinh tế địa phương 36
Trang 41.3.2 Đối với sự phát triển xã hội 40
1.3.2.1 Giáo dục con người 40
1.3.2.2 Góp phần vào hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa 41
Chương II: Thực trạng quản lý khu di tích- danh thắng Tây Thiên 43
2.1 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý khu di tích- danh thắng Tây Thiên .43 2.2 Bộ máy quản lý di tích- danh thắng 54
2.2.1 Vị trí, chức năng Ban quản lý Khu di tích- danh thắng Tây Thiên 54
2.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý Khu di tích- danh thắng Tây Thiên 55
2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý của Khu di tích- danh thắng Tây Thiên 57
2.3 Hoạt đông tu bổ, tôn tạo di tích- danh thắng 58
2.4 Hoạt động quản lý dịch vụ tại khu di tích- danh thắng 60
2.5 Hoạt động thanh tra, kiểm tra tại khu di tích- danh thắng 62
2.6 Hoạt động đảm bảo an ninh trật tự và giữ gìn vệ sinh môi trường 63
2.7 Nhận xét, đánh giá quản lý khu di tích- danh thắng Tây Thiên .65
2.7.1 Điểm mạnh 65
2.7.2 Điểm yếu 66
2.7.3 Nguyên nhân 67
Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý tại khu di tích- danh thắng Tây Thiên 70
3.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý khu di tích- danh thắng 70
3.2 Tăng cường hoạt động tu bổ và tôn tạo di tích- danh thắng 71
3.3 Nâng cao công tác thanh, kiểm tra và quản lý dịch vụ .73
3.4 Đẩy mạnh công tác đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và công tác tuyên truyền .73
3.5 Sự quan tâm của chính quyền các cấp .74
Trang 5KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC 80
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xã hội, kinh tế và văn hoá là hai mặt gắn liền nhau và có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau Vài thập kỷ qua, sự phát triển các hoạt động văn hoá
đã có tác dụng đáp ứng nhu cầu của con người, kế thừa và phát huy tinh hoa văn hoá của dân tộc, kết hợp với nét đẹp của văn hoá nhân loại đã để lại trong quá khứ, hôm nay và trong tương lai những giá trị cho nhiều thế hệ con người, tạo ra những nét độc đáo, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc
Hiện nay, xây dựng và phát triển các hoạt động văn hoá có vai trò quan trọng trong thời kỳ đất nước đổi mới toàn diện, nhằm thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển vì mục tiêu“ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Một trong các hoạt động văn hoá có giá trị kinh tế, thoả mãn nhu cầu tinh thần cao là tham quan, tìm hiểu các di tích- danh thắng Khi đến những nơi này, con người được giải phóng những u uẩn trong tâm hồn, tâm hồn được thư giãn triệt để, thậm chí tâm hồn còn thăng hoa, bay bổng tạo nên những sáng tác, những kiệt tác vô giá cho nhân loại trong nhiều lĩnh vực Di tích- danh thắng là những sự kiện gốc, những vật chứng chân xác nhất về sự phát triển của tự nhiên
và những thành tựu mà con người đã đạt được trong lịch sử Nó có thể được coi
là những “cột mốc” đánh dấu từng chặng đường phát triển của dân tộc Bằng
“tiếng nói tự thân” của mình, di tích- danh thắng có khả năng làm sống lại quá
khứ của lịch sử, giúp chúng ta hiểu thấu và tiếp thu được những kinh nghiệm, tinh hoa của dân tộc Vì vậy, từ lâu di tích- danh thắng đã có tác dụng góp phần vào sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng và phát triển kinh tế-
xã hội Do đó, việc giới thiệu, bảo vệ, tôn tạo và phát huy tác dụng giá trị các di tích- danh thắng là nhiệm vụ hết sức quan trọng Tuy nhiên công việc này còn nhiều vấn đề cần được quan tâm , giải quyết Một thực trạng phổ biến hiện nay là
Trang 7nhân dân thông thường mới chỉ thấy giá trị tín ngưỡng, thoả mãn nhu cầu tinh thần mà chưa thấy hết những giá trị về văn hoá- lịch sử ẩn chứa trong di tích- danh thắng Nhiều di tích- danh thắng do nhân dân địa phương tự tôn tạo, không
có sự hướng dẫn của các nhà chuyên môn đã làm giảm và mất đi vể đẹp kiến trúc, nghệ thuật gốc của di tích- danh thắng, làm thêm, làm mới một cách tuỳ tiện nên không ăn nhập với công trình chính, làm giảm đi vẻ đẹp hài hoà vốn có của
di tích- danh thắng, kiểu dáng kiến trúc không được bảo vệ Các khu di tích- danh thắng quá nhỏ bế và xuống cấp mà nhân dân hành hương đến nơi này ngày càng đông, gây ra tình trạng lộn xộn, mất đi tính linh thiêng của di tich- danh thắng
Để khắc phục tình trạng trên cần phải có những giải pháp hữu hiệu trong công tác tuyên truyền về các giá trị của di tich- danh thắng, tăng cường hơn nữa việc quản lý của các cấp, các ngành từ trung ương tới cơ sở Có như vậy di tích- danh thắng mới có thể trường tồn và phát huy tác dụng tốt nhất để đáp ứng nhu cầu trấn hưng nền văn hoá dân tộc mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra trong tình hình hiện nay
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói:
“Một người chết đi còn có người khác đẻ ra, nhưng di tích- danh thắng mất đi
không thể làm lại được.”
Khu di tích- danh thắng Tây Thiên là một trong số hàng ngàn di tích- danh thắng đã tồn tại qua bao thế kỷ trên đất nước Việt Nam Là một khu di tích- danh thắng có những nét đặc trưng tiêu biểu về lịch sử- văn hoá nên các nhà khoa học ngành khảo cổ và các liên ngành khác ở trung ương, địa phương đã và đang quan tâm nghiên cứu
Là một người sinh ra và lớn lên tại Vĩnh Phúc, hiện đang học tập trong lĩnh vực này, với mong muốn được vận dụng những kiến thức đã tiếp thu trong nhà trường vào thực tiễn nghiên cứu Đồng thời được góp một phần rất nhỏ để giới thiệu giá trị và việc bảo tồn, tôn tạo di tích- danh thắng Tây Thiên với bạn bè
Trang 8trong nước và quốc tế Qua đó làm rõ hơn về thực trạng công tác quản lý tại khu
di tích- danh thắng Tây Thiên trong thời gian qua và tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại khu di tích- danh thắng Tây Thiên trong thời gian tới Được sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn và quá trình khảo sát thực tế tại khu di tích- danh thắng Tây Thiên- Huyện Tam Đảo- Tỉnh Vĩnh Phúc, tôi quyết định chọn đề tài” Công tác quản lý tại khu di tích- danh thắng Tây Thiên- Huyện Tam Đảo- Tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý tại khu di tích- danh thắng Tây Thiên
- Phạm vi nghiên cứu: Khu di tích- danh thắng Tây Thiên tại xã Sơn Đình- Huyện Tam Đảo- Tỉnh Vĩnh Phúc
4 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Khu di tích- danh thắng Tây Thiên đã xuất hiện từ lâu, gắn liền với truyền thuyết về các vị Vua Hùng Khu di tích- danh thắng chứa đựng những giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, khảo cổ và du lịch Đây là một đề tài được sự quan tâm,
Trang 9chú ý của nhiều nhà khoa học và các đối tượng có liên quan Tháng 7/ 1999, Sở Văn hóa- Thông tin Vĩnh Phúc đã tổ chức Hội thảo khoa học Tây Thiên đã có 13 bài báo cáo khoa học về các vấn đề: diện mạo địa lý, lịch sử, các huyền tích… xung quanh khu di tích- danh thắng Đặc biệt là việc nghiên cứu của Lê Kim Thuyên về khu di tích- danh thắng Tây Thiên một cách toàn diện và đã xuất bản thành sách “Tây Thiên- Tam Đảo Di tích- Cảnh quan ” và ” Danh thắng Tây Thiên” của Lương Hiền
Ngoài ra cũng có những nghiên cứu của sinh viên về Tây Thiên, vấn đề chủ yếu xoay quanh việc tìm hiểu lịch sử, truyền thuyết và giá trị của khu di tích Tuy nhiên chưa có ai đề cấp tới vấn đề quản lý của khu di tích- danh thắng mà chỉ đưa ra những nhận định và phương hướng chung chung, chưa có giải pháp cụ thể trong vấn đề này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu các tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước liên quan đến định hướng phát triển ngành văn hoá và bảo tồn di sản văn hoá, tài liệu của Đảng bộ Tỉnh, UBND tỉnh về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc, các bài viết, tài liệu mới nhất về khu di tích- danh thắng Tây Thiên trong hội thảo khoa học
Trang 10Đưa ra một số giải pháp có thể áp dụng góp phần nâng cao phần nào hiệu quả công tác quản lý tại khu di tích- danh thắng Tây Thiên
Chương II: Thực trạng quản lý khu di tích- danh thắng Tây Thiên
Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại khu di tích- danh thắng Tây Thiên
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, hơn nữa với thời gian có hạn nên khi thực hiện đề tài gặp nhiều khó khăn Đầu tiên, tài liệu đề cập tới đề tài này chưa nhiều Nếu có, tài liệu thường đề cập tới từng khía cạnh nhỏ,
lẻ Việc nghiên cứu bằng phương pháp điền dã tốn nhiều công sức do địa hình phức tạp và hiểm trở Tuy nhiên được sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn cùng với Ban quản lý di tích- danh thắng, lãnh đạo và cán bộ thư viện khoa học- tổng hợp tỉnh Vĩnh Phúc cộng với sự nỗ lực của bản thân, khoá luận tốt nghiệp đã được hoàn thành
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên PGS- TS Nguyễn Thị Lan Thanh, Trưởng ban quản lý khu di tích- danh thắng Tây Thiên- Tam Đảo- Vĩnh Phúc Diệp Xuân Tư, Giám đốc Thư viện Bùi Minh Tiến cùng toàn bộ cán bộ thư viện khoa học- tổng hợp tỉnh Vĩnh Phúc
Lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và tìm hiểu về vấn đề mới, mặc dù đã có nhiều cố gắng song khoá luận chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tôi rất mong được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, Ban quản lý và cán bộ khu di tích- danh thắng cùng bạn bè và những đối tượng quan tâm đến đề tài này
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN TAM ĐẢO
(VĨNH PHÚC) VÀ KHU DI TÍCH- DANH THẮNG TÂY THIÊN 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:
Các di tích: các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo các quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
Các quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do cấu trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm
mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/06/2001 quy định tại điều 1:
“ Di sản văn hoá là sản phẩm văn hoá vật chất, tinh thần của xã hội loài người
và các di vật tiêu biểu, vật mẫu của giới tự nhiên có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”.(1;32)
1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử- văn hoá và danh lam thắng cảnh
Theo quan điểm của UNESCO thì di sản văn hóa gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
Trang 12Mới đây, trong tuyên bố của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về di sản văn hóa, được ký kết tại Thái Lan, cùng với việc nêu lên tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của cộng đồng các quốc gia trong hiệp hội, ASEAN cũng đồng tình với cách hiểu của UNESCO
Tại điều 4 khoản 2, Luật Di sản văn hóa có định nghĩa di sản văn hóa vật
thể: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm: di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh,di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.(1;33)
Theo định nghĩa này, di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể
Trong Luật Di sản văn hóa, tại điều 4 khoản 3 thì: “ Di tích lịch sử- văn
hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”.(1;33)
Như vậy, công trình xây dưng, địa điểm và các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học mới được coi
là di tích lịch sử- văn hóa Có nghĩa chúng phải có những vật chứng cho một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất hoặc chúng là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một phong cách, một thời đại, hoặc chúng là sản phẩm được phát minh sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 13Danh lam thắng cảnh cũng là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể và là một trong những yếu tố tạo thành môi trường như di tích lịch sử- văn hóa.Theo quy định của Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của thế giới được thông qua tại kỳ họp lần thứ 17 của UNESCO ngày 16/11/1972 tại
Paris Trong điều 1 Công ước đã định nghĩa: “ Danh lam thắng cảnh: Các công
trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả khu vực khảo cổ có giá trị quốc tế nổi bật xét từ góc
độ lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học, nhân chủng học”.(2;4)
Theo điều 4 khoản 4, Luật di sản văn hóa năm 2001 thì: “ Danh lam thắng
cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học”.(1;33)
1.1.3 Khái niệm quản lý và quản lý di sản văn hóa
Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về quản lý Quản lý là từ Hán Việt: Quản là lãnh đạo, đứng đầu một công việc, lý là trông nom, chăm sóc một công việc nào đó
Trong khoa học: quản lý là hoạt động có mục đích của con người, là hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hoạt động của người khác Nhằm thu được kết quả mong muốn Để đạt được các kết quả mong muốn, người quản lý cần hỗ trợ các công cụ như: hệ thống pháp luật, các quy tắc, các nguyên tắc… Từ
đó có thể đưa ra định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có hướng đích của chủ thể (người tổ chức, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội… bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc và các biện pháp tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra
Các trường phái quản lý học cũng đưa ra một số định nghĩa về quản lý:
Taylor: “ làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và
hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”.(3;1)
Trang 14Fayel: “ Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố
tạo thành: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy”.(3;1)
Theo C Mac: Quản lý là chức năng xã hội đặc biệt, nảy sinh từ các nền sản xuất
Quản lý luôn ở trạng thái động và sự vận động của quản lý luôn tuân theo một quy trình nhất định Quản lý bao gồm các công đoạn và thao tác quản lý được hình thành trên hai mặt: chủ thể quản lý và khách thể quản lý Cả hai đều được xác định rõ ràng về vai trò, chức năng, mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Như vậy: Quản lý là điều khiển đối tượng đang vận động nhằm một mục tiêu nhất định
Tóm lại, quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong
đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu quản lý từ góc độ riêng của mình Tuy nhiên chúng ta có thể định nghĩa chung về quản lý theo quan điểm của điều khiển học Theo đó, khái niệm quản lý được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quy trình để điều khiển, chỉ đạo sự vân động của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã dự kiến, đã đề ra từ trước
Trong điều 4, Luật Di sản văn hóa cũng đã đề cập đến hoạt động xung quanh vấn đề quản lý di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh Nó bao gồm các hoạt động như: bảo quản di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh,
di vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố gốc vốn có của di tích lich sử- văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Trang 151.2 Khái quát về khu di tích- danh thắng Tây Thiên
1.2.1 Vài nét về thiên nhiên và con người Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm ở vùng đồng bằng Châu thổ sông Hồng, một miền đất cổ, nơi còn lưu giữ những vết tích của nền văn minh vật chất của thời các vua Hùng dựng nước Những di chỉ khảo cổ Đồng Đậu, Lũng Hòa là minh chứng cho một thời lịch sử của các huyền tích về nước Văn Lang, về các nữ tướng lừng danh của dân tộc, từ Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu đến Hai Bà Trưng Trải qua biết bao biến động thăng trầm, những thế hệ người dân Vĩnh Phúc hoàn toàn
có quyền tự hào về mảnh đất giàu truyền thống lịch sử của quê hương mình
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm sát Thủ đô Hà Nội về phía Tây Bắc Phía Bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh thuộc ngoại thành Hà Nội
Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên là 1.370 km2 đứng thứ 56 trong số 63 tỉnh thành trong cả nước Tỉnh được chia thành 9 đơn vị hành chính bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh: Thành phố Vĩnh Yên, 1 thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Tam Đảo, Yên Lạc, Bình Xuyên, Sông Lô Với dân số tính đến năm 2001 có trên 1.1 triệu người gồm 30 dân tộc anh em sinh sống
Là tỉnh cửa ngõ của Thủ đô, Vĩnh Phúc có nhiều đường giao thông thủy bộ chạy qua như: tuyến đường sắt liên vận Hà Nội- Lào Cai- Vân Nam ( Trung Quốc), tuyến đường thủy Sông Lô, Sông Hồng và quốc lộ 2 nối liền Vĩnh Phúc với Thủ đô và các tỉnh lân cận Hiện nay, Nhà nước đang xây dựng tuyến đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai chạy qua phần lớn địa phận của tỉnh Với vị trí địa lý như vậy, Vĩnh Phúc có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa trong quá trình phát triển đất nước
Trang 16Với lợi thế là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và các tỉnh miền núi phía Bắc, nên Vĩnh Phúc có điều kiện để giao lưu hàng hóa, phát triển các loại hình dịch vụ, tiếp cận nhanh các thành tựu khoa học- kĩ thuật để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đường lối đổi mới của Đảng Ngoài ra, thiên nhiên còn ưu đãi cho Vĩnh Phúc nhiều cảnh quan, danh thắng kỳ thú, nhiều di tích lịch sử- văn hóa được xếp hạng quốc gia… Đó là những tiềm năng lớn để Vĩnh Phúc phát triển ngành “ công nghiệp không khói”
Vĩnh Phúc năm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nhiệt độ trung bình từ 23-
25oC, hàng năm có tới 240 ngày nắng Do khí hậu nóng ẩm nên hệ sinh thái động thực vật ở Vĩnh Phúc rất đa dạng, phong phú
Vĩnh Phúc thuộc vùng đồng châu thổ Sông Hồng khoảng giữa miền Bắc Việt Nam, là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi Vĩnh Phúc hình thành 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi Tiềm năng lợi thế của các vùng đang được khai thác mạnh mẽ để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Với sự phân chia địa hình thành 3 vùng tự nhiên- kinh tế Vĩnh Phúc có khả năng phát triển toàn diện nền sản xuất công- nông- lâm- ngư nghiệp với nhiều loại sản phẩm, cả lương thực, thực phẩm cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế
Trong những năm gần đây với chính sách đổi mới mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, Vĩnh Phúc đã và đang có những chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Vĩnh Phúc còn là mảnh đất có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như: gốm Hương Canh, rèn Lý Nhân, mộc Bích Chu… đã thu hút và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động Cùng với sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, Vĩnh Phúc đã và đang hình thành một số khu công nghiệp có quy mô và sản phẩm trở nên quen thuộc như: công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến lâm sản, công nghiệp may mặc, cơ khí chính xác…
Trang 17Vĩnh Phúc được xem là tỉnh có tiềm năng lớn về khoáng sản, đa dạng về chủng loại, phân bố đều khắp các vùng trong tỉnh Một số khoáng sản phổ biến như nhóm khoáng sản cháy có than bùn, than nâu Nhóm khoáng sản kim loại như: Brit, đồng, thiếc, vàng, bạc ở dọc dãy Tây Nam Tam Đảo Nhóm khoáng sản phi kim như đá vôi, cao lanh…
Không chỉ giàu tài nguyên thiên nhiên khoáng sản mà Vĩnh Phúc còn là nơi lập nên bao chiến công oanh liệt, tô thắm thêm trang sử vẻ vang của dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữ nước, Vĩnh Phúc đã sản sinh ra nền văn hóa rực rỡ Vùng đất xưa thuộc Vĩnh Phúc là nơi cư trú của người Việt cổ Sự kiện này được phản ánh qua các tín ngưỡng nguyên thủy, nhiều thần tích, ngọc phả còn lưu giữ ở các nơi thờ phụng Hùng Vương và nhất là được khảo cổ học xác nhận Trong lòng đất Vĩnh Phúc còn lưu giữ nhiều di tích khảo cổ học thời tiền
sử, sơ sử với các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, tiền Đông Sơn Vĩnh Phúc là vùng văn hóa dân gian đặc sắc với nhiều loại hình phong phú, đa dạng từ tục ngữ, ca dao, thơ ca dân gian đến truyền thuyết, truyện
kể, giai thoại, từ ca nhạc dân gian đến mĩ thuật dân gian, trò diễn hội làng, phong tục tập quán, nghệ thuật ẩm thực… Đây là một kho tàng văn hóa phong phú để nghiên cứu, chắt lọc tinh hoa góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Vùng đất Vĩnh Phúc trong lịch sử đã xuất hiện nhiều danh nhân khoa bảng Ngay từ thời Lý, năm 1124, đất Vĩnh Phúc đã có người đỗ trạng nguyên Từ đó đến khoa thi Nho học cuối cùng của thời Nhà Nguyễn, tuy chỉ là một phủ nhỏ trong trấn Sơn Tây rộng lớn, Vĩnh Phúc có gần 100 người đỗ tiến sỹ được khắc
bia ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám Một số người nổi tiếng về “ trị quốc bình thiên
hạ”, về văn chương lỗi lạc được lịch sử ghi danh Tài đức của các danh nhân
Vĩnh Phúc góp phần không nhỏ tạo nên vùng văn hiến xưa và cách mạng ngày nay
Trang 18Người Vĩnh Phúc vốn có truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm Nổi bật ngay từ đầu công nguyên và “ đỉnh cao chói lọi ngàn thu” là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng lật đổ ách thống trị tàn bạo Đông Hán, lập nên một triều đại độc lập đầu tiên Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Vĩnh Phúc đã sớm xuất hiện nhiều phong trào cách mạng, nhiều cuộc đấu tranh oanh liệt chống Pháp, Nhật, Mỹ và bè lũ tay sai Xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu như: Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân, liệt sỹ Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, liệt sỹ thiếu niên Lưu Quý An…
Từ khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc đã nỗ lực phấn đấu vượt mọi khó khăn, thử thách đạt được kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội như: kinh tế Vĩnh Phúc đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong tất cả các ngành nhất là công nghiệp, xây dựng và du lịch, đã hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ trên địa bàn tỉnh theo hướng tích cực Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển cả về quy và chất lượng Hiện nay 100 % số xã, phường đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tiến bộ Các chương trình y
tế quốc gia thực hiện tốt, chất lượng khám chữa bệnh được tăng lên Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao có bước phát triển, công tác quốc phòng an ninh chính trị được vững chắc, trật tự an toàn xã hội có bước tiến bộ Những thành tựu
cơ bản trên, tiềm năng lợi thế cùng nhữngtruyền thống tốt đẹp từ xa xưa là cơ sở vững chắc, là hành trang cần thiết đảm bảo cho Vĩnh Phúc vững vàng bước sang thế kỷ 21 và để phấn đấu thực hiện mong muốn của Hồ Chủ Tịch khi Người về
thăn Vĩnh Phúc ngày 2/3/1963: “ Phải làm cho Vĩnh Phúc trở thành một trong
những tỉnh giàu có phồn vinh nhất ở miền Bắc nước ta”
Muốn đạt được điều đó Vĩnh Phúc cần có sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Vĩnh Phúc phải tìm ra được sức mạnh nội lực của chính mình Nhìn trên tổng thể, cả về điều kiện tự nhiên lẫn xã hội, Vĩnh Phúc có khá nhiều
Trang 19tiềm năng để phát triển kinh tế Một trong những tiềm năng rất có giá trị cả về vật chất lẫn tinh thần đó là Vĩnh Phúc có mật độ dày đặc loại hình phong phú của hệ thống di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh Nhiều di tích- danh thắng
ở Vĩnh Phúc rất nổi tiếng và có ý nghĩa quan trọng trong kho tàng văn hóa dân tộc như: di chỉ khảo cổ Đồng Đậu, Tháp Bình Sơn, đền Phú Đa, đền Bắc Cung, đình Thổ Tang, đình Hương canh, Ngọc Canh, Tiên Hường, Bạch Trữ, Phú Mỹ, khu nghỉ mát Tam Đảo, Đải Lải… nhưng đáng chú ý nhất là Khu di tích- danh thắng Tây Thiên
Huyện Tam Đảo nằm chính giữa phía Bắc tỉnh Vĩnh Phúc, gần ngã ba ranh giới của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên Phía Đông Nam và phía Nam giáp huyện Bình Xuyên, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Tam Dương, phía Tây giáp huyện Lập Thạch Phía Bắc giáp huyên Sơn Dương ( Tuyên Quang), phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Đại Từ ( Thái Nguyên) Bản
đồ huyện chạy dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, Tam Đảo là một huyện miền núi, trải qua nhiều lần sáp nhập huyện đến năm 2003 huyện Tam Đảo được thành lập theo quyết định số 153/2003/NĐ- CP ngày 09/12/2003 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam với diện tích tự nhiên là 236,42 km2 , dân số khoảng 65.912 người, gồm các dân tộc: Mường, Dao, Kinh, Sán Rìu, với ngành sản xuất chính là nông nghiệp, trồng rừng và cây dược liệu Tam Đảo có 9 đơn vị hành chính: Thị trấn Tam Đảo, xã hợp Châu, xã Đạo Trù, xã Tam Quan, xã Yên Dương, xã Bồ
Lý, xã Đạo Đình, xã Hồ Sơn, xã Minh Quang
Tuy nhiên, Tam Đảo có nhiều tiềm năng du lịch, với những địa danh đã để lại dấu ấn trong lòng du khách từ xưa: hồ Xạ Hương, Khu di tích- danh thắng Tây Thiên, khu nghỉ mát Tam Đảo, tháp truyền hình, vườn quốc gia, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên… Ngoài ra, Tam Đảo còn có tiềm năng lớn về du lịch nhân văn Đây là huyện có hệ thống di tích tương đối dày đặc và phong phú Toàn huyện có
107 di tích, xét về loại hình có: 24 đình, 34 chùa, 28 đền, 7 miếu, 9 di tích lịch sử,
Trang 201 di tích lưu niệm Bác Hồ Đây là một tiềm năng lớn cho sự phát triển kinh tế- xã hội của huyện Tam Đảo và tỉnh Vĩnh Phúc trong tương lai
1.2.2 Diện mạo địa lý, lịch sử của Khu di tích- danh thắng Tây Thiên
“ Tây Thiên’ nghĩa gốc của từ Hán việt có nghĩa là; “ Bầu trời Tây”
“ Bầu trời Tây” là một từ của nhà Phật Nhà Phật gọi Tây Thiên là thế giới của cực lạc “ Bầu trời Tây” cũng là để chỉ không gian văn hóa tâm linh linh
thiêng của cõi Phật
Trong dãy núi Tam Đảo có 2 nơi được gọi là Tây Thiên:
Tây Thiên tự ( chùa Tây Thiên ) tọa lạc trên đỉnh núi Độc Tôn thuộc sơn phân huyện Phổ Yên- tỉnh Thái Nguyên là nơi danh thắng nhưng ít nổi tiếng
Tây Thiên tự ( chùa Tây Thiên) thuộc sơn phận ngọn Thạch Bàn-
xã Đại Đình- huyện Tam Đảo- tỉnh Vĩnh Phúc
Khóa luận này chỉ đề cập tới di tích- danh thắng thứ hai
Khu di tích- danh thắng Tây Thiên nằm trên sườn núi phía Tây Bắc của dãy Tam Đảo, trong khu vực của vườn quốc gia Tam Đảo thuộc địa phận xã Đại Đình- huyện Tam Đảo- tỉnh Vĩnh Phúc Phía Đông án ngữ bởi ngọn Thạch Bàn (hay còn gọi là bàn đá, bàn cờ tiên) thuộc dãy núi tam Đảo, cách khu nghỉ mát Tam Đảo 5km theo đường chim bay, 15 km vòng theo đường bộ Phía Tây giáp
xã Đạo Trù ( Tam Đảo) và nằm kề con đường ôtô men theo chân núi Tam Đảo đi lên huyện Sơn Dương ( Tuyên Quang) qua “ châu Tự Do”- một căn cứ cách mạng thời chống Pháp trước 1945 Phía Nam giáp xã Tam Quan ( Tam Đảo), cách khu nghỉ mát hồ Đải Lải 22 km về phía Đông Nam Phía Bắc án ngữ bởi ngọn Thiên Thị ( Chợ Trời ) thuộc dãy núi Tam Đảo, giáp Hồ Núi Cốc ( Thái Nguyên) Khu di tích- danh thắng Tây Thiên cách Thủ đô Hà Nội 65 km, cách Thành phố Vĩnh Yên 21 km Toàn bộ khu di tích- danh thắng ở độ cao từ 54- 1100m ( so với mặt biển) Riêng Chùa Tây Thiên ( Chùa Thượng) ở độ cao 530
Trang 21m so với mặt biển Diện tích toàn bộ khu di tích- danh thắngcó chiều dài 11 km, chiếu ngang 1km, tổng diện tích 148 ha rừng trong đó có các đền chùa Từ đền Thỏng ( chân núi) đến đền Thượng ( đỉnh núi) có chiều dài 5.8 km, qua 9 khúc suối, đá ghềnh tự nhiên, phong cảnh hữu tình Tây Thiên bao gồm một hệ thống đền, chùa, bia, miếu… vị thần được thờ chính ở đây là Sơn trụ Quốc Mẫu Lăng Thi Tiêu- nữ chúa của núi rừng Tam Đảo, vị tướng của thời Hùng Duệ Vương đã
có công giúp Nhà nước Văn Lang đánh giặc Phương Bắc Bởi vậy bà đã được sắc
phong là “ Tam Đảo sơn, trụ quốc mẫu, thái phu nhân chi thần” Khu di tích-
danh thắng Tây Thiên đã được Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch xếp hạng khu di tích lịch sử quốc gia.(4)
Nhờ dựa vào núi non và được những bàn tay tài hoa của con người tạo dựng trong nhiều thế kỷ nên Tây Thiên đã trở thành một khu di tích- danh thắng
có giá trị về nhiều mặt Nơi đây vừa được coi như một quần thể di tích kiến trúc, một trung tâm tín ngưỡng tôn giáo lâu đời, vừa có phong cảnh đẹp sơn thủy hữu tình, cây cối xanh tươi, môi trường cảnh quan sông suối, thác ghềnh, chim thú, giàu tiềm năng văn hóa và du lịch Phát hiện ra những ưu thế đó của khu vực Tây Thiên nên từ rất sớm con người đã biết tận dụng, biến nơi này trở thành một điểm hành hương nổi tiếng ở trong lịch sử, ngày càng thu hút sự quan tâm mến mộ của nhiều du khách là những tín đồ Phật tử
Dựa vào những mô tả ít ỏi còn thấy trong các nguồn tài liệu, văn bia hiện còn lưu giữ được, ta có thể thấy người xưa đã dựa vào thiên nhiên kỳ thú nơi đây xây dựng nên một hệ thống công trình kiến trúc tôn giáo truyền thống trải suốt từ chân lên đỉnh núi Các kiến trúc ấy giống như những ngôi chùa núi ở miền Bắc nước ta luôn khiêm tốn nép mình trong phong cảnh thiên nhiên, lấy thiên nhiên tô đẹp cho kiến trúc, đồng thời kiến trúc đến lượt nó góp phần nâng thêm vẻ đẹp hoành tráng của cảnh vật vốn rất nên thơ ở chốn này Thư tịch cho biết, quần thể kiến trúc Tây Thiên xưa có nhiều hạng mục mang những cái tên cổ kính như:
Trang 22chùa Đồng Cổ, chùa Tây Thiên, đền Thỏng, đền Cả… Những công trình đó được phân bố rải rác ven bờ các khe suối mang những cái tên cũng rất thơ mộng: suối Giải Oan, suối Bạc, Suối Vàng, hồ Sen…
Từ thế kỷ XVIII, nhà sử học Lê Quý Đôn đã quan tâm và mô tả về khu vực
Tây Thiên như sau: “ NúiTam Đảo ở địa phận hai xã Lan Đình và Sơn Đình…,
đỉnh núi thì đất đá lẫn lộn, cây cối rậm rạp xanh tươi, nhiều cây hồi hương và cây quế; chân núi ở đằng trước, về bên tả có khe Giải Oan tức là Thượng lưu Sơn Tang huyện An Lạc, từ khe Giải Oan này chảy xuống Sơn Tang qua Hương Canh chảy ra Nam Viêm rồi vào sông Nguyệt Đức; ở giữa ngọn nui là núi Kim Thiên, cao chót vót, ghềnh thác không biết bao nhiêu mà kể Bên dưới sắc nước
có chàm sâu thẳm không trông thấy đáy; sườn núi có chùa Tây Thiên Cổ Tự, tre xanh, thông tốt, cảnh sắc thanh nhã, rộng rãi, trên đỉnh núi cao lại có chùa Đồng
Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất hai ngày Từ phía tả khe Giải Oan trèo lên núi đến hồ Sen, nước xanh biếc, trong hồ có thứ đá lạ và có sen đỏ, hoa nở bốn mùa, phía bên ngoài bờ suối từ sườn núi chảy ra, bên trái gọi là suối Bạc, phát nguyên
từ khe đá chảy xuống, trông như tấm lụa, bên phải gọi là suối Vàng, từ chùa bên phải chảy ra, chùa bên phải này phỏng hơn một trượng, tường nhà bằng đá, hai bên cánh cửa khóa chặt lại bằng khóa sắt lớn, trên có viên đá khắc chữ triện là “ địa ngục tự “ không biết dựng từ đời nào Suối ở đây từ khe cửa chảy ra, sắc nước trong như vàng Suối Vàng và suối Bạc hợp lưu ở trước hồ Sen, quanh co chảy xuống rồi hợp lưu với khe Giải Oan từ bên hồ đi qua hai dặm, lại theo từng đượt mà lên, phỏng nửa dặm đường lại, thành đá sừng sững, trông như hình dáng “ bát bộ kim cương”, có một bia đá khắc chữ” La thành bất loạn”… Từ đây lên mấy dặm nữa, thì thấy chùa Đồng, đúc toàn bằng đồng trong chùa thờ hai pho tượng Phật, không biết đúc từ thời nào.”(5;292,293)
Tiếp theo đoạn mô tả trên, Lê Quý Đôn còn dẫn lại sách An Nam Chí: “
Tiên uyển ( vườn tiên) ở trong núi Tam Đảo, huyện Tam Dương nhiều hoa lạ cây
Trang 23quý, tương truyền vườn tiên là nơi thâm u linh thiêng, cầu đảo rất ứng nghiệm”
và “ trên núi có am Vân Tiên, am Song Tuyền, am Lưỡng Phong, thang Bộ Vân
và cầu Đái Tuyết, phong cảnh đều kỳ tuyệt Như thế thì nhữmg nơi danh thắng của Nam Giao, nay cũng chưa rõ xứ sở nào”
Địa danh Tam Đảo
Tam Đảo là tên của một dãy núi ở Bắc Bộ Việt Nam dài khoảng 50 km, là đường biên giới tự nhiên ngăn cách giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc, theo hướng Tây Bắc, Đông Nam, có độ dài trên đất Vĩnh Phúc 30 km ( Khu di tích- danh thắng Tây Thiên nằm trên sườn núi phía Tây Bắc của dãy Tam Đảo)
Tam Đảo thuộc hệ núi trẻ, có độ tuổi địa chất khoảng 145 triệu năm Là một mặt phẳng có độ chia cắt sâu, uốn nếp theo hình kẽ ngón tay dài ra tận biển
Hạ Long, đồng thời là một miền bán đồng nguyên, càng về phía Đông càng lộ rõ, điển hình là miền nền giáp danh giữa hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên ở độ cao trên 900m, nay là khu nghỉ mát Tam Đảo Đặc biệt Tam đảo còn là miền nền
có nhân là các đá sét phiến, cuội kết, sỏi kết, các granit xâm nhập vào đá vôi, nên
ở phần thấp nhất của các nếp uốn, hay cắt sẻ do bị bào mòn,sói rửa đã lộ rõ ra các nhân đá này tạo nên cảnh đẹp kỳ diêu, nên thơ ở các lòng suối, có khu vực đá mà
du khách bắt gặp tren đường leo núi từ đền Thỏng đến đền Cô, mang những địa danh cực kỳ hấp dẫn như: suối Đá Liền, khe Trường Sinh, suối Bát Nhã, khe Giải Oan…
Từ thời Bắc Ngụy (385- 543), sách “ Thủy kinh chú” đã có ghi chép về núi
Tam Đảo như sau:
“ Sông Tây Nhị Hà ở phía Đông thành ( nay là Thủ đô Hà Nội) là sông
Diệp Du hợp với 18 con sông ở núi Điểm Thương mà rót vào sông ấy, hình như cái tai người vòng quanh hơn 200 dặm, trong đó có nhiều thắng cảnh như Tam Đảo, Tứ Châu, Cửu Khúc…”
Trang 24Gọi là Tam Đảo bởi trong dãy núi có 3 ngọn liền nhau đột ngột nổi lên
bồng bềnh trong biển mây phủ, lấy hình tượng trong sách” Sơn hải kinh” chỉ 3
hòn đảo to như núi Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu trong biển Bột Hải ( biển ở phía Đông Bắc nước Trung Hoa) Trên núi có tiên ở, cung thất xây bằng vàng ngọc, chim thú toàn một màu trắng, từ xa nhìn như mây, để hình tượng hóa
3 ngọn núi Ba ngọn núi áy là:
Phù Nghì: cao 1.250 m
Thạch Bàn: cao 1.420 m
Thiên Thị: cao 1.585 m
Cổ thư chép; “ Ba ngọn núi cao vút giữa là ngọn Thạch Bàn, ngọn phía
trái là Thiên Thị, ngọn phía phải là Phù Nghì, nên gọi là Tam Đảo hoặc là 3 ngọn nổi vọt cao sát tầng mây, cùng với Tản Viên đứng đối nhau, hai núi đều là danh sơn của Giao Chỉ ( Địa danh nước Việt Nam thời thuộc Hán, thuộc Minh) ở trong núi Tam Đảo thuộc huyện Tam Dương, có nhiều hoa đẹp cây quý, tương truyền Tiên Uyển rất linh thiêng cầu đảo hay ứng nghiệm”…
Ngày 06/03/1996, Thủ tướng Chính phủ có quyêt định số 136/TTG và ngày 15/05/1996, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng có quyết định số601/NN- TCCB/QĐ thành lập vườn quốc gia Tam Đảo Tổng diện tích khu vườn có 36.883 ha năm trong địa bàn thuộc 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên Phần đất rừng thuộc huyện Tam Dương( chung với huyện Bình Xuyên) theo quyết định số352/QĐ- UB ngày 17/04/1997 của UBND tỉnh giao cho vườn quốc gia Tam Đảo
Tam Đảo trong tâm thức hướng về quốc tổ Hùng Vương núi Nghĩa Lĩnh: Xét về địa mạch phong thủy trong các ngọc phả 18 đời Hùng Vương thì: mạch bên trái, từ núi Lôi Hà về đến huyện Đông Lan ( nay thuộc huyện Đoan Hùng- Phú Thọ), Sơn Dương, Đương Đạo ( nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) và Tam Dương, nổi chót vót nổi lên núi Tam Đảo là cung tiên rồng Xanh bên trái ( tả
Trang 25Thanh Long) Núi Tản Viên là cung tiên Bạch Hổ ở bên phải (hữu Bach Hổ) chầu
về Sông Bạch Hạc là nội minh đường, ngã ba Lềnh là trung minh đường, núi Tượng Sơn ở ngoài biển là ngoại minh đường Tất cả nghìn núi vạn dòng đều chầu về núi Nghĩa Lĩnh tôn là núi Tổ Bởi vậy trong không gian văn hóa vùng đất
Tổ Hùng Vương đôi câu đối ở đền Thượng núi Nghĩa Lĩnh bao hàm đầy đủ:
“ Tây hưởng vu thiên, tản, đạo, lô, thao hợp tác nhất thiên vũ trụ
Nam tổ kỳ quốc, Đinh,Lê, Trần, Lý lưu nước tải di đồ”
Nghĩa là;
“ Trời đất miền Tây: Tản, Đảo, Lô, Thao cùng họp một trời vũ trụ
Nước tổ Phương Nam: Đinh, Lê, Trần, Lý dài lâu muôn vạn dư đồ”
1.2.3 Giá trị của khu di tich- danh thắng Tây Thiên
“ Cửu khúc hồi khê” ( chín suối vọng về) là ý trong một câu thơ của danh
sỹ Cao Bá Quát tóm lược vị thế con đường lên Tây Thiên, khi chính ông cũng là
một lữ khách” đăng đàn” Từ khúc suối thứ nhất sau đền Trình( tức đền Thỏng)
là bước vào lãnh địa Tây Thiên Từ vực suối Đá Liền, cảnh trí trải rộng phong quang, con đường rừng thông ngoằn nghèo uốn lượn là tới dốc Tràng Sinh, càng
đi lên tâm hồn con người càng lâng lâng bước vào nơi thoát tục Sau khi vào lễ đền Cậu, lội qua khe Tràng Sinh là có thể sang suối vào thăm Thác Bạc Đó là dòng thác gần như thẳng đứng với độ cao 40 m, có nguồn từ suối Bát Nhã trên ngọn Thạch Bàn dội xuống, tiếng vang ào ào vọng vào thung lũng hai sườn núi dội lại âm vang trườn sâu theo dốc núi Men theo đường núi, lội suối, leo đèo khoảng 4 km là tới khe Giải Oan Dòng nước từ thượng nguồn chảy về trong xanh mát rượi khiến lòng người tĩnh lại ngất ngây như đã hòa vào nơi xa lánh bụi trần, làm sáng tâm hồn bước lên đền Cô lễ bái rồi đăng sơn lên đền Mẫu và Tây Thiên Tự
Từ thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn đã miêu tả về Tây Thiên: “ ở đàng trước, về
phía bên tả có khe Giải Oan, tức là thượng lưu sông Sơn Tang, huyện An Lạc…,
Trang 26ở giữa ngọn núi là núi Kim Thiên cao chót vót, ghềnh thác không biết bao nhiêu
mà kể Bên dưới sắc nước như chàm, sâu thẳm không thấy đáy Sườn núi có chùa Tây Thiên cổ tự, tre xanh, thông tốt, rộng rãi, trên đỉnh cao lại có chùa Đồng Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất hai ngày, từ phía tả khe Giải Oan trèo lên núi có hồ Sen nước xanh biếc, trong hồ có thứ đá lạ và sen đỏ…”
Qua mô tả nêu trên, Tây Thiên đã hiện lên như một quần thể di tích Phật giáo rộng lớn Hiện nay chúng ta chưa rõ niên đại khởi dựng các công trình như
Lê Quý Đôn mô tả Một số công trình không còn nữa Những công trình hiện nay
ta còn trông thấy được đã trải qua nhiều lần tu sửa, dấu vết kiến trúc cho thấy chúng mới được tu bổ tôn tạo thời gian gần đây Thời gian trôi qua nhiều hạng mục công trình đã bị hư hỏng, đổ nát Tuy nhiên với cảnh đẹp và những di tích còn lại khu di tích- danh thắng Tây Thiên vẫn có những giá trị dặc biệt
Di tích- danh thắng Tây Thiên là hệ thống di tích- danh thắng tổng hợp bao gồm nhiều công trình kiến trúc mang yếu tố tín ngưỡng bản địa đa thần giáo, phân bố trên một không gian rộng Do vậy cần được bảo vệ, nghiên cứu, quy hoạch, đầu tư tôn tạo và tổ chức khai thác sử dụng
Giá trị vật chất và tinh thần của khu di tích- danh thắng Tây Thiên có thể tổng kết theo những đặc điểm chính dưới đây:
1.2.3.1 Tây Thiên là một quần thể di tích- danh thắng tổng hợp liên hoàn của các loại hình di tích lịch sử văn hóa
Theo định nghĩa phân loại di tích, có 4 loại:
Trang 27Nhà Lý (1010- 1225) có hai bia mộ bằng đá xanh ghi danh “Võng Sơn thiền sư”
và “ Cúc Khê thiền sư”, đồng thời còn có rất nhiều cổ vật có nguồn gốc lâu đời như: 1 chuông đồng cổ có đúc chữ nổi “ Phù Nghì chung tự “, 10 pho tượng cổ
bằng gỗ ở chùa Tây Thiên, 3 pho tượng ở đền Tây Thiên, 1 khánh đồng ở chùa Tây Thiên đúc năm Cảnh Thịnh (1974)… Từ xa xưa Tây Thiên luôn là nơi trú quân của nhiều cuộc khởi nghĩa của cha ông ta như: Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương, nghĩa quân Đề Thám, Chòi Ông Nhất, nơi chú chân của các cán bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp… Theo các ghi chép cổ xưa, Tây Thiên có hệ thống đền, chùa dày đặc phục vụ nhu cầu tâm linh của các tín đồ Phật tử: đền Tây Thiên, đền Thỏng, đền Cả, chùa Tây Thiên, chùa Thiên Ân, chùa Phù Nghì, chùa Đồng Cổ… đặc biệt là Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên mới được xây dựng với quy mô hoành tráng và lộng lẫy Ngoài ra, Tây Thiên còn có nhiều danh thắng đẹp: Suối Vàng, Thác Bạc, Bàn Cờ Tiên, Thang Bộ Vân, Cầu Đái Tuyết, Khe Giải Oan, Đồng Ma, Ao Dứa, Động Sách Hoa, Cây Thông ngàn tuổi, Cây Đa chín cội… thu hút đông đảo du khách đến thăm quan
1.2.3.2 Tây Thiên là một khu di tích- danh thắng có diện mạo hoành tráng,
có những kiến trúc như: am Lưỡng Phong, am Song Tuyền, thang Bộ Vân, cầu Đái Tuyết rất đẹp
Về địa hình, Tây Thiên rất đa dạng hùng vĩ, khi là ruộng đồng trù phú, lúc đến rừng rậm nguyên sinh, cây đại ngàn và muông thú; khi ghềnh thác cheo leo,
Trang 28suối reo nước chảy, lúc là bình địa phẳng phiu, những dãy người đá kỳ dị đang hợp chợ giao lưu… rất phong phú khiến con người thưởng ngoạn ở đây cảm thấy không đơn điệu, không biết chán, càng đi càng say sưa thích thú
1.2.3.3 Tây Thiên có nội dung thờ tự tín ngƣỡng phức hợp, phong phú
Ở đây thể hiện tâm linh tín ngưỡng đa thần giáo của nhân dân ta Các công trình kể trên( đền, chùa, miếu, am) của đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho nói lên điều
đó Mặt khác Tây Thiên còn thờ thần núi, thờ Ngũ Hổ, thờ mẫu- bà Lăng Thị Tiêu Hai ngôi đền Mẫu Sinh, Mẫu Hóa ở đây nói lên cuộc đời đẹp đẽ trong sáng của bà Lăng Thị Tiêu- người phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà Ngoài ra theo tín ngưỡng dân gian, nơi đây còn có các đền Cô, đền Cậu để cư dân vùng ven chân Tam Đảo và khách thập phương cầu ước khi hành hương Tính chất phức hợp trong thờ tự, tín ngưỡng cùng với phong cảnh tự nhiên và lưu niệm
sự kiện khác ở đây khiến cho Tây Thiên có ý nghĩa, có giá trị vào bậc nhất trong
hệ thống các di tích- danh thắng ở Vĩnh Phúc
1.2.3.4 Tây Thiên là khu di tích mang ý nghĩa lịch sử
Vùng núi Tam Đảo xưa đã từng là nơi nhiều cuộc khởi nghĩa lấy đây làm căn cứ Tương truyển rằng xưa kia phía trong sau đền Cả có khu đồi phẳng rộng khoảng 50 ha là nơi bà Lăng Thị Tiêu làm khu luyện tập võ nghệ cho quân sỹ trước giờ xuất trận đánh giặc ngoại xâm Nghĩa quân của của Lê Lợi lấy khu rừng Ma- Ao Dứa làm trung tâm căn cứ để đánh giặc Minh ở vùng Võ Giàng( Bắc Ninh), Tam Giang( Bạch Hạc)
Cuộc khởi nghĩa Mường- Mán cuối thế kỷ XIX lấy rừng Ma Ao Dứa làm trung tâm chống Pháp
Nghĩa quân Đề Thám cũng đã lấy Tam Đảo là nơi trú quân
Chòi Ông Nhất là nơi nhân dân che chở các đồng chí cán bộ cách mạng trong quá trình xây dựng, phát triển cách mạng Việt Nạm
Trang 29Năm 1946, đồng chí Văn Tiến Dũng Về khảo sát núi Tam Đảo đã tìm gặp ông Nhất Do tài quen thuộc đường rừng, ông Nhất đã giúp đồng chí Văn Tiến Dũng cùng hai đồng chí cán bộ nữa hoàn thành tốt nhiêm vụ Năm 1947, ông Nhất được Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng bằng tổ quốc ghi công Ngoài ra ông còn giúp đỡ rất nhiều cán bộ cách mạng hoàn thành nhiêm vụ xuất sắc
Tây Thiên được xếp hạng di tích- danh thắng cấp quốc gia theo quyết định
số 137/ QĐ năm 1991 của Bộ Văn hóa- Thông tin nước CHXHCN Việt Nam
1.2.4 Sự tích vị thần đang thờ phụng trong hệ thống di tích Tây Thiên
Trên ngọn núi Thạch Bàn có một ngôi chùa gọi là “Tây Thiên cổ tự” ( chùa
cổ Tây Thiên)
Ngày 05/04/2001, ở đầu hồi bên trái của chùa các nhà khảo cổ đã đào được một chiếc âu gốm màu men nước dưa (men xê) trong một ngôi mộ cổ, đựng di cốt, niên đại giả định vào thời Lê sơ (1428- 1527) đến đời Trung Vương (1533- 1788) đã có rất nhiều lần trùng tu chùa vào những năm Chính Hoà (1680- 1705), Bảo Thái (1720- 1732) Năm Long Đức thứ 2 (1733), Tỳ Khư Huệ Minh nguyên
là một thị nội giám tước Nghiêm Thọ Bá chủ trì khởi xướng công việc tu tạo Bài
ký văn bia năm này chép rằng:
“ Đêm lại phúc ở trong cõi giời đất chỉ có đạo phật lớn lao hơn cả Sức mạnh giúp cho đời, chỉ có việc âm là có công Trải xem cổ tích danh lam ắt phải
kể đến Tây Thiên thắng cảnh Trăng thiền dừng dừng ngàn dặm chiếu, như xưa vây bọc đất trời; lòng sao rộn rã bốn mùa vui, chẳng thể khác cảnh tiên ngày tháng Thu vào một bầu thế giới, hồn không gợn bụi trần ai; cảnh thanh u vật cũng thanh u, rộng rãi chẳng thông đường đạo sĩ Số huyền diệu đạo cùng huyền diệu, nào xen nền cũ còn đâu, nhìn khắp lượt dấu tiên, quả trong chốn tùng lâm, Tây Thiên đứng hàng bậc nhất Thực rõ thiêng liêng khác lạ, nước cúng dân cầu
Trang 30sở chính là đây, đâu phải nhỏ nhoi như nắm tay cầm đá Nên mới đặt là: Chùa Tây Thiên núi Tam Đảo, một cổ tích danh lam ở dưới trời Nam vậy”
Vua Hùng tới “ Đăng Tây Thiên Tự” cầu tự Vào thời sơ sử, thời đại Hùng
Vương thứ VII, sau thời loạn giặc Ân, đất nước trở lại thanh bình với những cải
tổ chính trị, làm trong sạch triều chính, mở mang giáo hoá, chỉnh đốn phong tục,
lo bề yên ổn nuôi dân, lại có tâm tính tuân đạo trời, trọng việc quỷ thần nên mới
nghe theo lời tâu của quần thần, lên Tam Đảo “Đăng Tây Thiên Tự” cầu tự
Xa giá đến nơi, Vương vui mừng vì phong cảnh lộng lẫy như in, như tạc đỉnh núi, giăng màn như gấm, như hoa; nghìn dặm đường xa lâu đài sáng rực Nước biếc non xanh, róc rách muôn dòng, hoa cỏ đua hương kheo sắc Ở nơi đầu núi, Vương nhìn như dáng một con “Bạch Long” đang vờn, ai đó đã dựng lên
một ngôi chùa có chữ đề “Tây Thiên Tự” Ngay lúc đó, Vua ban lệnh cho dựng ở
chính đó một đàn tràng, sửa soạn lễ chay, sai các quần thần dâng hương cúng tiến Rồi Vương mở một trường công đức trong chùa Tây Thiên, kéo dài bảy ngày bảy đêm sớm khuya cầu khấn Lại cho tất cả con trai, con gái bốn phương cùng được đến dự xem Trong rừng sâu, chim chóc thấy vậy bay đến nghe kinh, dưới suối sâu cá bơi về nghe giảng kệ
Công đức viên thành, Vương mới ngự trên hòn đá giữa dòng suối ngắm cảnh tiên bỗng đâu như thấy một cung điện nguy nga, khói mờ sương toả, mây trôi bồng bềnh bốn phía hoang sơ, cảnh trí như lâu đài nơi Thiên Trúc Non xanh nước biếc hoà trộn một màu, thú vị chẳng khác nào trốn bồng lai tiên cảnh
Bởi thế các sách địa chí đời sau chép là: “Chùa Tây Thiên trên núi Tam
Đảo thuộc xã Sơn Đình, huyện Tam Dương không rõ được xây dựng năm nào”
Chùa Phù Nghì:
Trên núi Phù Nghì có một ngôi chùa cổ, tên gọi là chùa Phù Nghì Dấu tích
còn lại đến nay là nền cũ của chùa và “cây thông nghìn tuổi” Di vật trong chùa còn tấm bia đá “Tạo lập bi ký” được dựng ngày 01 tháng 11 năm Chính Hoà
Trang 31(1699) Bài ký văn thời nhà Lê ghi chép về ngôi chùa Phù Nghì trong hệ thống chùa Tây Thiên trên núi Tam Đảo, do dân thôn Lan Thông, xã Sơn Đình (nay thuộc xã Đại Đình- Tam Đảo) tạo lệ sở tại, giữ việc thờ cúng tu sửa Nay bia đặt trong khuôn viên của chùa Ngò, toạ lạc bên trái đường vào đền Thỏng
Quả chuông “ Phù Nghì tự chung” tạo song vào tháng trong Hạ (tháng 5)
năm Triệu Thị thứ 2 (1842) nhà Nguyễn, nay đặt trong tiền đường Đền Thỏng Tương truyền, sau khi ngắm cảnh tiên ở chùa Tây Thiên, Hùng Vương thứ VII
mới lại sang chàu Phù Nghì dựng “vọng tiên đàn” cùng với “Bách quan” mật cầu
“Hoàng thiên” xin cho “Tiên tử” (con tiên)
Tây Thiên- Quốc Mẫu:
Lễ bái xong ở chùa Phù Nghì, Vua dừng lại nằm mộng ba ngày, ba đêm ăn
chay ở “Vọng tiên đàn” Trong thời điểm mơ màng bất định, Vương có ý muốn ra
về thì bỗng nghe như có tiếng vọng trong gió núi Cảm nhận được bốn câu thơ thần, rồi tự nhiên Vương cho đoàn xa giá hối hả xuống núi Xuống đến chân núi Thạch Bàn, bỗng Vương gặp một thiếu nữ, hình dung xinh đẹp, dáng dấp lạ thường đang thơ thẩn tại một ngôi miếu gấm, ngay trên đường Vương đi qua Vừa lòng vì sắc đẹp yêu kiều, Vương mời nàng về cung rồi ân cần ướm hỏi:
Nàng là con nhà ai ? ở đâu ?
Người thiếu nữ ấy đáp:
Thiếp vốn là người tiên giáng sinh vào làm con nhà Trưởng ông ở trang Đông Lộ Ngày tháng ở trong nhà cỏ, ngâm kịch vịnh sử,ẩn ngọc tàng châu để chờ đợi có dịp gặp được người anh hùng thiên hạ Nay là lúc Bệ Hạ đại giá Tây Thiên, thiết lập đàn tràng, cầu có “tiên tử” Thiếp chẳng ngại đường xa mà tìm đến, những mong gặp được “thiên duyên” định sẵn Chẳng ngờ không hẹn mà gặp được đấng quân vương ở nơi đây, thiếp xin nguyện làm người hầu nâng khăn trong màn trướng, để không phụ lòng nguyện ước ba sinh
Trang 32Nhà vua nghe những lời nói ấy mới bồi hồi hiểu ra rằng trời kia đã phó cho mình một vị thần tiên Ngay sau đó, Vua cùng các quần thần sắm sửa đầy đủ sính
lễ xa giá trở lại nhà Trưởng ông ở trang Đông Lộ nạp sính lễ rồi cùng nàng Ngọc Tiêu trở về kinh đô Phong Châu lập làm Vương Phi
Một năm sau, Ngọc Tiêu hạ sinh được một người con trai, khí chất thông minh, tài năng trác việt Đến khi trưởng thành được Vua Chiêu Vương phong làm Hoàng Thái Tử, cho nối ngôi giữ việc triều chính, hiệu là Hùng Vĩ Vương (cũng gọi là Ninh Vương) là thời đại thứ VIII
Hoàng Phi Ngọc Tiêu có phép tiên, hưởng thọ 200 năm ngang với Kiều Bành (tức ông bành tổ, người đời Đường Nghêu, Trung Quốc, tương truyền ông sống thọ đến 700 tuổi), tháng năm biến hoá trở nên bất diệt
Tìm trong phả hệ 18 đời vua Hùng Vương có chép Hùng Chiêu Vương là thời đại thứ VIII, tên huý là Lông Tiên Lang, nối nhau truyền được 7 đời Vương giữ nước, Vương có 60 cung phi (sinh ra 32 hoàng tử, 16 công chúa, dài lâu tới
692 năm, di duệ hoàng tôn có 59 chi, sinh cháu chắt 750 người)
Miếu Hiệu (để tôn thờ ở điện Hùng Vương) là: Hùng Chiêu Vương Thái Tông Minh Nhân Hoàng Đế Suy tôn là: Hùng Vương Hiển Đức, Nhân Vương, Quang Thiên, Phổ Hoá, Thánh Vương
Đền Tây Thiên:
Đền thờ bà Lăng Thị Tiêu (tức nàng Ngọc Tiêu trong phả lục Hùng Vương) vốn là Sơn thần núi Tam Đảo- chính Hoàng Phi Hùng Chiêu Vương, điện xưa ở bên trái chùa Tây Thiên- dân gian gọi là mẹ thần núi Tam Đảo
Các sách địa chí cổ chép ở mục “đền miếu” rắng: “Ở xã Sơn Đình, huyện
Tam Dương, không biết có từ năm nào có pho tượng đồng đến nay vẫn còn”
Tương truyền: nước ta ở thời thuộc Minh (1407- 1427) có người tên là Lưu Chú
và Phạm Cuống đi buôn dầu từ Thái Nguyên qua đây, đêm vào ngủ trọ trong đền, được thần báo mộng cho biết việc Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn Tỉnh dậy hai
Trang 33ông liền tìm vào theo Lê Lợi đánh giặc Minh Sau ngày thắng lợi, hai ông được phong làm công thần Biết thần hiển linh giúp đỡ, mới xin vua phong cho thần là
“Tru quốc Thái Phu nhân thượng đẳng Thần” Các đời vua Minh Mệnh (1820- 1840), Triệu Thị (1841- 1847) đều phong sắc tặng là: “Trấn an, trợ thuận, Tĩnh
Trọng, Tam Đảo sơn trụ quốc thái phu nhân chi thần” Tự điển nhà Lê (chép bản
năm 1763) ghi rõ ràng như sau: “Xem trong “Quốc sử” và sách “Lĩnh Nam
chích quái” thì Tam Đảo là dãy núi giữa, núi tổ của nước Nam ta Thần núi họ Lăng, tên là Tiêu, lại có tên nữa là bà Cẩm Giàng , thần do tinh tuý tốt đẹp của đỉnh cao nhất núi Tam Đảo mà sinh ra, cốt cách chẳng phải tầm thường theo giữa vực sâu mà biến hoá, thoắt ẩn, thoắt hiện, linh ứng lớn lao rõ ràng đến nay nước cầu, dân cúng theo nguyện ước mà đáp lại”
Hiện nay cả nước có 51 điểm thờ bà Ở xã Đại Đình có 8 di tích thì có 5 di tích trên đường đi vào Tây Thiên thờ Quốc Mẫu thành một quần thể: đền Mẫu Sinh, Đình Ngò, đền Thỏng, đền Thượng Tây Thiên, đền Mẫu Hoá
Đình Ngò: Thờ một cỗ long ngai, một pho tượng mẫu tương truyền là nơi
bà Mẫu “hiển thánh” chiêu binh, tập mã, âm phù (ngầm giúp đỡ) Hùng Duệ
Vương trong cuộc chiến tranh Hùng Thục nay còn di tích “Ba Gò” Truyện là bà đứng ra chiêu binh được 3.000 người, cộng với số quân mã, thuyền nhà vua cấp tổng số là: 150.000 quân, 3.000 thuyền, 3.000 ngựa, chia làm 3 đạo quân giáp chiến ở thành Việt Trì, diệt được 10.000 quân Thục Phán
Đền Thƣợng Tây Thiên:
Thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, về vị thế toạ lạc, cổ thư chép: “Chỗ ấy là
danh sơn phát ra khí tốt, nước suối trong chạy quanh, chảy xuống làm thành vực, trước vực nổi lên quả núi tròn như gương mặt trăng, Đền Thánh Mẫu ở trên núi ấy”
Từ nửa sau thế kỷ XV, tiến sỹ Nho học Nguyễn Văn Chất “tục biên” sách
“Việt điện u linh”, có chép về vị thần “Thanh Sơn đại Vương” là để viết về thần
Trang 34núi Tam Đảo Nguyên nội dung là: Vương là thần núi Tam Đảo, từ xưa chưa có sắc phong Đến thời vua Tần Nhân Tông (1279- 1293) năm ấy có hạn hán lớn, cầu đảo khắp các thần mà không mưa Đến khi cầu đảo thần núi Tam Đảo thì
được mưa- Nhà Vua mới sắc phong cho sơn thần là “Thanh Sơn đại Vương” Từ
đó, dân chúng các nơi đến cầu đảo đều được linh ứng, tôn lên làm “phúc thần một
phương” Đền này làm ở trên dãy núi Tam Đảo, từ thôn Sơn Đình vào tới đền
phải trèo qua 5 quả núi mới tới (xa độ 6 km) Trên đường lên đền Thượng Tây Thiên có đền Cô, đền Cậu mới được lập lên theo tín ngưỡng dân gian cầu con, cầu tự
Cuộc hành hương về Mẫu khởi đầu từ đền Mẫu Sinh, kết thúc ở đền Mẫu Hoá Một tuor du lịch tâm linh về nguồn, thiêng liêng huyền diệu với tiên, với
phật đủ được cả hai, lại vừa thoả ước muốn “cầu cô, cầu cậu”, dòng dõi Hùng
Vương non sông nước Văn Lang- con vua, con Mẫu quyền quý cao sang, như
Hùng Chiêu Vương lên núi cầu “con tiên” (tiên tử) thời sơ sử xa xôi Xã Sơn
Đình có 2 thôn là Sơn Đình và Đông Lộ (nay thuộc xã Đại Đình đều có hội vào ngày mùng 4 trong một năm (âm lịch)) Đó là các ngày: 15 tháng 1, 28 tháng 2, mùng 1 tháng 3,và 14 tháng 5 đều hành hương về Quốc Mẫu Tây Thiên Duy chỉ
có đền Tây Thiên trên núi Thạch Bàn có hội vào ngày 15 tháng 2 là ngày lễ chính Tuy nhiên năm nào cũng vậy, cứ vào tháng riêng, tháng hai và tháng ba khách thập phương đến lễ đông vui như ngày hội
Trang 351.2.5 Sơ đồ tổng quan khu di tích- danh thắng Tây Thiên
1.3 Vai trò của khu di tích- danh thắng Tây Thiên trong việc phát triển kinh tế- xã hội
Di tích- danh thắng là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động, sáng tạo của cha ông để lại; là bằng chứng vật chất sinh động, phản ánh trung thực quá trình phát triển của tự nhiên cũng như con người Ngày nay, di tích- danh thắng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội
1.3.1 Đối với sự phát triển kinh tế của địa phương
Khu di tích- danh thắng Tây Thiên là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế Các di tích- danh thắng là tài sản vô giá của quốc gia, là nguồn lực quý cho sự phát triển Nguồn lực này theo GS- TS khoa học Lưu Trần Tiêu, khác với nguồn
tài nguyên ở chỗ: “Tài nguyên được hình thành bởi tự nhiên, nhìn chung ngày
Trang 36một giảm dần, và nếu không có một tầm nhìn chiến lược, một quy hoạch và kế hoạch chặt chẽ trong khai thác sẽ dẫn đến cạn kiệt Ngược lại tài sản văn hoá là
do con người sáng tạo nên sức sáng tạo của con người là vô tận” (6; 636)
Hiện nay, nước ta có khoảng 2800 di tích quốc gia được công nhận với hàng vạn di tích cấp tỉnh là một nguồn lực không nhỏ để phát triển Khai thác nguồn lực này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện nước ta còn thiếu nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất nước Thực tế cho thấy sự phát triển của ngành du lịch có liên quan mật thiết với việc khai thác nguồn lực là các di tích- danh thắng Ngày nay du khách, đặc biệt là các du khách nước ngoài
đi du lịch không chỉ là thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên mà còn có nhu cầu tìm hiểu phong tục tập quán, nền văn hoá cổ truyền của các dân tộc Nhất là nền văn hóa cổ truyền của “Phương Đông huyền bí” đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều du khách Phương Tây tạo đà mạnh mẽ cho sự phát triển du lịch
Hoạt động khai thác di tích- danh thắng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng, địa phương có di tích- danh thắng Sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng và địa phương là mục tiêu của chiến lược phát triển và ổn định kinh tế- xã hội Không tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ không có điều kiện phát triển kinh tế- xã hội bền vững và không giải quyết được mục tiêu nâng cao đời sống nhân dân Có nhiều yếu tố tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó hoạt động khai thác di tích- danh thắng là một nhân tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có thể nói, số lượng khách trong và ngoài nước đến tham quan di tích- danh thắng là biểu hiện rõ nhất kết quả của hoạt động khai thác di tích- danh thắng Số lượng khách ngày càng tăng đồng nghĩa với việc khai thác di tích- danh thắng ngày càng cao Theo thống kê của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch:
“Trong số khách du lịch nước ngoài đến du lịch Việt Nam có tới 70% là khách du
Trang 37lịch tìm hiểu nền văn hoá Việt Nam; mỗi khách quốc tế đến Việt Nam tiêu bình quân từ 80- 85 USD/ ngày, khách trong nước từ 100- 200 nghìn đồng Phần lớn các chi tiêu của khách tập trung vào lưu trú, ăn uống (chiếm hơn 60%), còn lại là mua sắm hàng hoá và các dịch vụ thăm quan, vui chơi giải trí khác, trong đó chi tham quan di tích- danh thắng chiếm khoảng 10% Số lượng du khách quốc tế đến Việt Nam năm 1990 là 250.000 lượt khách, đến năm 2001 đạt 2.1 triệu lượt khách Số du khách trong nước cũng tăng rất nhanh chiếm khoảng 70% tổng số khách du lịch.” (7) Theo dự tính của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, các địa phương có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và lễ hội phong phú, số khách du lịch trong và ngoài nước đến địa phương đó ngày càng tăng Để thu hút khách du lịch đòi hỏi hệ thống phục vụ phải được đầu tư phát triển Hệ thống đó bao gồm: phát triển hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, khách sạn, dịch vụ ăn uống, sản xuất hàng hoá, nhất là các hàng thủ công mĩ nghệ truyền thống, khu vui chơi giải trí, tổ chức các lễ hội Sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực trên chính là biểu hịên sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của địa phương
Ở Vĩnh Phúc các di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh đã góp phần lớn vào việc tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Theo thống kê của ngành du lịch Việt Nam, số lượng khách thăm quan Vĩnh Phúc năm 2009 là 1,249 triệu lượt khách trong đó khách nội địa chiếm 1,225 triệu lượt khách Doanh thu từ ngành dịch vụ- du lịch đạt 503,5 tỷ đồng
Để phục vụ tốt khách thăm quan, Vĩnh Phúc cần có lượng lớn lao động, hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ… Điều đó đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Theo báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2009 và định hướng phát triển kinh tế- xã hội năm 2010 Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 6,74 %, tổng GDP đạt 24,3 tỷ USD (9,40 %), hoạt động dịch vụ- du lịch đạt 289,75 tỷ đồng (15 %)
Trang 38Hoạt động bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích- danh thắng thúc đẩy sự phát triển của ngành Hoạt động bảo tồn, tôn tạo di tích- danh thắng dựa trên thành tựu của các ngành xây dựng, sinh vật học,hóa học… để hoạt động bảo tồn, tôn tạo các di tích- danh thắng không làm sai lệch các giá trị ban đầu vốn có của
di tích- danh thắng Cần thiết phải áp dụng thành tựu khoa học- kĩ thuật trong việc khảo sát, đo đạc, sản xuất vật liệu xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến để tăng tuổi thọ của di tích- danh thắng đây là động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học khác trên cả phương diện kĩ thuật cũng như sự phát triển kinh tế
Hoạt động khai thác di tích- danh thắng tác động trực tiếp đến sự phát triển của các ngành giao thông vận tải, du lịch, bưu chính viễn thông, các ngành thủ công nghiệp truyền thống… Sự phát triển của các ngành này nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách thăm quan di tích- danh thắng trên các lĩnh vực đi lại, liên lạc,
ăn ở, mua các sản phẩm lưu niệm…
Riêng đối với khu di tích- danh thắng Tây Thiên hoạt động khai thác di tích- danh thắng, góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và làm thay đổi lợi ích truyền thống của cộng đồng dân cư sống quanh khu vực di tích- danh thắng Các hộ sống xung quanh khu vực di tích- danh thắng tổ chức các hoạt động dịch vụ để phục vụ khách thăm quan di tích- danh thắng Các hoạt động dịch vụ đó bao gồm: trông xe, sản xuất và bán đồ lưu niệm thủ công truyền thống, các đặc sản, dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi… Các hoạt động dịch vụ, sản phẩm bán tại di tích- danh thắng thường có xu hướng giá cả cao hơn giá trị thực vốn có của nó nhiều lần Một chiếc quạt, một chiếc mũ nếu bán trên thị trường ngoài khu vực di tích- danh thắng thường có giá cả phù hợp với giá trị của nó, nhưng nếu được bán ở trong khu vực di tích- danh thắng dường như nó được kết tinh thêm các giá trị của di tích- danh thắng nên có giá cả cao hơn giá trị Vả lại mọi du khách trong và ngoài nước mỗi khi đến du lịch ở di tích- danh thắng nói
Trang 39chung và khu di tích- danh thắng Tây Thiên nói riêng đều có tâm lý mua những mặt hàng lưu niệm mang dấu ấn, bản sắc riêng của địa phương làm quà tặng Đây
là đặc điểm rất quan trọng làm cho cộng đồng dân cư sống quanh khu vực di tích- danh thắng tổ chức sản xuất các mặt hàng lưu niệm, các hoạt động dịch vụ phù hợp với truyền thống của địa phương để phục vụ khách thăm quan di tích- danh thắng
Trong giai đoạn hiện nay, khi công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đang thu được kết quả to lớn, giao lưu kinh tế- văn hóa diễn
ra mạnh mẽ thì khu di tích- danh thắng Tây Thiên không chỉ thông qua sử dụng chức năng vốn có của mình để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng dân cư tại khu di tích- danh thắng, mà còn thông qua các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc… chứa đựng trong di tích- danh thắng để thu hút khách tham quan trong và ngoài nước đến với khu di tích- danh thắng này Khách tham quan muốn tìm hiểu
về di tích- danh thắng phải trả tiền cho các dịch vụ trong di tích- danh thắng: chụp ảnh, xem lễ hội, gửi phương tiện… Do đó các giá trị của khu di tích- danh thắng Tây Thiên dã trở thành hàng hóa, nhưng khi giới thiệu các giá trị của di tích- danh thắng để phục vụ nhu cầu khách thăm quan các giá trị đó không mất
đi, trái lại nó còn được mọi người tôn trọng, bảo vệ, gìn giữ tạo nên sự bền vững cho chính giá trị đó
1.3.2 Vai trò của khu di tích- danh thắng Tây Thiên đối với sự phát triển xã hội
1.3.2.1 Giáo dục con người
Sự phát triển xã hội trước hết là sự phát triển của con người Các di tích- danh thắng chứa đựng những giá trị chân- thiện- mĩ, giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học Thông qua việc tìm hiểu các giá trị đó, con người không chỉ thấy được lịch
sử phát triển của thiên nhiên và dân tộc mà còn thấy được truyền thống văn hóa- văn hiến, các giá trị về chân thiện mĩ của dân tộc mình Qua đó, trau dồi đạo đức,
Trang 40lối sống, niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước, yêu lao động, lòng biết ơn để từ
đó sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, hăng say xây dựng đất nước Đây là vai trò đầu tiên và cực kỳ quan trọng của di tích- danh thắng đối với sự phát triển con người Con người phải được giáo dục, phát triển toàn diện thì mới có thể xây dựng một xã hội phát triển bền vững Đặc biệt là đối với thế hệ trẻ- những chủ nhân tương lai của đất nước thì những giờ ngoại khóa, những chương trình trở về cội nguồn tại khu di tích- danh thắng sẽ giúp các em thấy được lịch sử phát triển của dân tộc, hiểu đúng các giá trị văn hóa, lịch sử chứa đựng trong mỗi di tích- danh thắng Từ đó hình thành niềm tự hào dân tộc, có sức sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới cho đất nước
Thăm khu di tích- danh thắng Tây Thiên- nơi thờ Quốc mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu- nữ anh hùng dân tộc có công giúp Vua Hùng đánh thắng quân Thục Đây còn là căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Không ai trong chúng ta không trào dâng niềm
tự hào về trang sử hào hùng của dân tộc Từ đó chúng ta biết trân trọng hơn những gì chúng ta có hôm nay để gắng sức góp công xây dựng đất nước Đồng thời kiến trúc của mỗi ngôi đền, chùa đều mang đậm dấu ấn của Phật giáo, thể hiện tài hoa của những nghệ nhân xưa Không chỉ vậy khi đến thăm khu di tích- danh thắng Tây Thiên, chúng ta còn được chiêm ngưỡng cảnh núi non hùng vĩ, những thác nước trắng xóa, những dòng suối thơ mộng… như chạm khắc vào không gian Vì vậy khu di tích- danh thắng Tây Thiên trở thành một trang sử sống động để thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và bạn bè thế giới hiểu thêm về sự phát triển của kiến trúc, điêu khắc của cha ông trong quá khứ
1.3.2.2 Góp phần vào hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa
Hiện nay chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin, thời đại cách mạng khoa học- kĩ thuật và mở rộng giao lưu quốc tế, không một quốc gia nào có thể phát triển bình thường nếu tự cô lập với thế giới bên ngoài