1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý di tích lịch sử văn hóa đền trần thương xã nhân đạo, huyện lý nhân hà nam

111 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

21 1.2.2 Lề hội đền Trần Thương và giá trị của di tích văn hóa lịch sử đền Trần Thương đối với đời sống người dân xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân- Hà Nam... Mảnh đất Lý Nhân, nơi chứa đựng kh

Trang 1

NGUYỄN THỊ LAN

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐẾN TRẦN THƯƠNG

(XÃ NHÂN ĐẠO – HUYỆN LÝ NHÂN – HÀ NAM)

Chuyên ngành: Chính sách văn hóa

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: ThS Đinh Văn Hiển

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự động viên giúp đỡ của thầy hướng dẫn Ths Đinh Văn Hiển, của các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý văn hóa nghệ thuật, gia đình

và bạn bè

Qua đây tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Đinh Văn Hiển, tới những người đã giúp đỡ chỉ bảo tận tình tôi Tôi cũng xin gửi tới Ban quản lý di tích văn hóa đền Trần Thương, Thư Viện Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội, bạn bè , người thân đã giúp tôi hoàn thành bài khóa luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song kinh nghiệm còn thiếu, thời gian thu thập tài liệu và tìm kiếm không dài nên bài khóa luận không tránh được những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành từ phía thầy cô để bài khóa luận hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 03 năm 2014

Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Lan

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 2

BẢNG KÊ KHAI CHỮ VIẾT TẮT 5

A MỞ ĐẦU 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH ĐỀN TRẦN THƯƠNG XÃ NHÂN ĐẠO, HUYỆN LÝ NHÂN- HÀ NAM 10

1.1 Khái quát chung về huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam 10

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 10

1.1.2 Tiềm năng kinh tế 12

1.1.3 Điều kiện xã hội 13

1.1.3.1 Lịch sử hình thành 13

1.1.3.2 Cách tổ chức dân cư 14

1.1.4 Truyền thống lịch sử văn hóa 15

1.1.4.1 Truyền thống lịch sử 15

1.1.4.2 Truyền thống văn hóa 16

1.2 Giá trị của di tích văn hóa lịch sử đền Trần Thương 18

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Di tích đền Trần Thương 18

1.2.1.1 Vị trí – Nguồn gốc lịch sử của ngôi Đền 18

1.2.1.2 Kiến trúc điêu khắc của đền Trần Thương 21

1.2.2 Lề hội đền Trần Thương và giá trị của di tích văn hóa lịch sử đền Trần Thương đối với đời sống người dân xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân- Hà Nam 27

1.2.2.1 Lễ hội đền Trần Thương 27

1.2.2.2 Phần hội 34

1.2.2.3 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương 36

Trang 4

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN

HÓA ĐỀN TRẦN THƯƠNG HIỆN NAY 40

2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý cho hoạt động quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hoá đền Trần Thương 40

2.1.1 Cơ sở khoa học 40

2.1.1.1 Khái niệm về di sản văn hóa 40

2.1.1.2 Khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể 40

2.1.1.3 Khái niệm “Di tích lịch sử văn hóa” 41

2.1.1.5 Khái niệm quản lý 42

2.1.1.6 Quản lý Nhà nước về văn hóa 43

2.1.1.7 Quản lý Nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa 45

2.1.2 Cơ sở pháp lý 46

2.2 Công tác quản lý tại di tích lịch sử văn hóa Đển Trần Thương 57

2.2.1 Quy trình quản lý 57

2.2.2 Phương pháp quản lý 58

2.2.3 Nội dung quản lý 64

2.2.3.1 Hoạt động về chuyên môn nghiệp vụ 64

2.2.3.2 Công tác tu bổ, tôn tạo khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương 65

2.2.3.3 Công tác tổ chức và quản lý các dịch vụ trong lễ hội đền Trần Thương 69

2.2.3.4 Công tác quản lý và sử dụng các nguồn thu, chi tại Đền 75

2.2.4 Vai trò của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý đền Trần Thương 77 2.2.4.1 Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước 77

2.2.4.2 Vai trò của các đoàn thể 81

2.2.4.3 Vai trò của các phe hội 82

2.2.5 Nhận xét, đánh giá về công tác quản lý di tich đền Trần Thương 82

Trang 5

2.2.5.1 Những kết quả đạt được 82

2.2.5.2 Những vấn đề tồn tại 83

2.2.5.3 Nguyên nhân của những kết quả đạt được cũng như của những tồn tại 85

Chương 3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI ĐỀN TRẦN THƯƠNG 87

3.1 Quan điểm chung của Nhà nước 87

3.2 Kiến nghị 88

3.3 Các nhóm biện pháp chung 92

3.3.1 Các biện pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức 92

3.3.2 Các biện pháp về chỉ đạo, điều hành 93

3.3.3 Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 94

3.3.4 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 96

3.4 Các biện pháp cụ thể 96

3.4.1 Biện pháp về quản lý di tích và phát huy các giá trị cổ truyền 96

3.4.2 Tổ chức quản lý di tích 99

3.4.3 Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến du lịch: 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC ẢNH 106

Trang 6

BẢNG KÊ KHAI CHỮ VIẾT TẮT

1 BQL: Ban quản lý

2 BVHTTDL: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

3 DTLSVH: Di tích lịch sử văn hóa

4 DTLS: Di tích lịch sử

5 HĐND: Hội đồng nhân dân

6 SVHTTDL: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

7 UBND: Ủy ban nhân dân

8 UBTVQH: Ủy Ban Thường vụ Quốc hội

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của con người cũng ngày càng phong phú và đa dạng Đứng trước cuộc sống hiện đại nhu cầu trở về cội nguồn tìm hiểu lịch sử dân tộc ngày càng trở nên bức thiết Di tích lịch sử có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc là tài sản vô giá của toàn dân tộc, là bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hóa Việt Nam được lưu giữ trường tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác Ở đó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng diễn ra tại di tích có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước Những Di tích mà ông cha

ta để lại vô cùng phong phú với hàng ngàn Đình, Đền, Miếu mạo, Lăng tẩm…giá trị của các Di tích văn hóa đã thấm sâu vào tâm hồn, máu thịt bao thế hệ người Việt Nam Và việc bảo vệ Di tích ngày càng có ý nghĩa lớn lao hơn nữa trong việc tìm về cội nguồn của dân tộc, từ đó góp phần khai thác, bảo tồn, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc và lấy đó làm nền tảng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Tuy nhiên, hiện nay những Di tích lịch sử văn hóa luôn đứng trước những nguy cơ bị hủy hoại do sự tác động của thời gian, thiên tai và những hoạt động thiếu ý thức của con người…làm hao mòn, thất thoát tài sản văn hóa Việt Nam Do đó những vấn đề bảo vệ Di sản nói chung và quản lý Di tích lịch sử văn hóa riêng đang được đặt ra hết sức cần thiết

Từ thực tiến quản lý trong nhiều năm vừa qua, mặc dù Đảng và Nhà nước ta

đã rất quan tâm trong việc xây dựng cán bộ quản lý, chú trọng trong công tác bảo tồn hệ thống di sản văn hóa của dân tộc Tuy nhiên, do điều kiện thực tế

Trang 8

còn nhiều bất cập, đội ngũ nhân viên quản lý chưa nhiều, trình độ chuyên môn chưa cao, hơn nữa một bộ phận nhỏ nhân dân chưa ý thức rõ tầm quan trọng của Di tích văn hóa trong đời sống xã hội đã làm cho các di tích bị xuống cấp một cách nhanh chóng Do vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về công tác quản lý hệ thống các di sản càng cần thiết hơn nữa để có những biện pháp hợp lý, kịp thời nhằm bảo lưu tốt những giá trị vốn có của dân tộc

Mảnh đất Lý Nhân, nơi chứa đựng khá nhiều những di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng như: đình Văn Xá, đình Vĩnh Trụ, đền Bà Vũ, đình Trác Nội…Đặc biệt đền Trần Thương thuộc địa phận xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, là một di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu, là nơi hội tụ những giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật tâm linh vượt trội, đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1989, là công trình kiến trúc đẹp và thiêng liêng Song di tích đền Trần Thương vẫn chưa được quan tâm đúng mức, đội ngũ cán bộ quản lý còn mỏng, di tích vẫn chưa phát huy được hết giá trị của mình

Nhận thấy vấn đề trên là một vấn đề cần được quan tâm, tìm hiểu đánh giá đúng thực trạng đang diễn ra tại di tích và thấy mình phải có trách nhiệm đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của địa phương nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung, tôi đã

mạnh dạn chọn đề tài: “ Quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương

xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân- Hà Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

của mình

2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương ở xã Nhân Đạo, huyện

Lý Nhân- Hà Nam

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đền Trần Thương xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân- Hà Nam

Trang 9

3 Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau:

- Tổng quan về mảnh đất, con người huyện Lý Nhân với những đặc điểm tiêu biểu về văn hóa

- Tìm hiểu về di tích đền Trần thương xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân-

Hà Nam

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đối với di tích

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu bài khóa luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đường lối quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác văn hóa làm cơ sở phương pháp luận kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Sưu tầm tài liệu, phương pháp khảo sát, điền dã thực địa

- Phương pháp tổng hợp, phân tích điều tra thu thập thông tin

Ngoài ra bài khóa luận có ý nghĩa đóng góp vào công cuộc bảo tồn phát triển khu di tích, quảng bá một di tích lịch sử văn hóa có quy mô vùng

Trang 10

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục , nội dung chính của khóa luận được trình bày qua 3 chương:

Chương 1:Tổng quan về khu di tích

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích đền Trần Thương xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân- Hà Nam hiện nay

Chương 3: Một số quan điểm, kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước tại đền Trần Thương

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH ĐỀN TRẦN THƯƠNG XÃ NHÂN

ĐẠO, HUYỆN LÝ NHÂN- HÀ NAM 1.1 Khái quát chung về huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Lý Nhân là một trong sáu đơn vị hành chính của tỉnh Hà Nam Diện tích

tự nhiên toàn huyện là: 166,8 km2, vốn là đất hình thành tại chỗ và do phù sa sông Hồng bồi đắp

+ Vị trí địa lí:

Nằm phía đông của tỉnh trong khung tọa độ 20035' vĩ độ bắc; 106,05' độ kinh đông

Phía Đông: Qua sông Hồng là tỉnh Hưng Yên và Thái Bình

Phía Tây: Giáp 2 huyện Bình Lục và Duy Tiên

Phía Nam: Giáp huyện Bình Lục và tỉnh Nam Định

Phía Bắc: Giáp huyện Duy Tiên

Huyện Lý Nhân cách thành phố Phủ Lý- trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Hà Nam 14km về phía Tây

Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ nên địa hình huyện Lý Nhân có dạng lòng chảo nghiêng dần về phía Đông Nam

+ Về nguồn nước: hai con sông bao quanh huyện là sông Hồng và sông

Châu có tổng diện tích chiều dài trên địa bàn khoảng 78 km, với diện tích lưu vực khoảng 1.085 ha Sông Hồng hằng năm bồi đắp phù sa cho vùng bãi ngoài đê và cho đồng lúa qua hệ thống trạm bơm từ sông Hồng vào

Bên cạnh nguồn nước mặt dồi dào, huyện Lý Nhân còn có nguồn nước ngầm hai tầng thuộc hệ thống sông Thái Bình và hệ thống nước ở Hà Nội Khu vực sử dụng được chiếm tới 50% diện tích, lượng khoáng hóa (1mg/1lít)

Trang 12

Tầng chứa nước pleistoxen thuộc hệ thống Hà Nội có lượng nước biến thiên

từ mặn đến nhạt dần theo chiêu từ biển vào đất liền

Nhờ có hai tầng nước ngầm này, chương trình nước sạch nông thôn do UNICEP viện trợ đã được thực hiện từ năm 1983

+ Về khí hậu:

Huyện Lý Nhân nói chung và xã Nhân Đạo nói riêng đều nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ấm, mưa nhiều, thuộc tiểu vùng khí hậu của đồng bằng Bắc Bộ nên chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa đông bắc về mùa đông và gió mùa tây nam về mùa hè

Lượng mưa trung bình hàng năm gần 2000mm, năm mưa nhiều nhất đến 2400mm Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Cũng có năm mùa mưa kết thúc muộn kéo dài sang tháng 11 Mưa nhiều nhất vào các tháng 7-8-9, mưa nhiều gây ngập úng lớn, nhất là khi mưa kết hợp với bão và nước luc ngoài sông dâng cao gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa thời gian này chỉ chiếm 20% lượng mưa cả năm Cũng có năm mưa muộn ảnh hưởng lớn đến việc gieo trồng vụ đông và mưa sớm gây trở ngại cho thu hoạch vụ chiêm xuân

Nhiệt độ trung bình nằm trong giao động từ 23,5OC- 24OC, mùa hè nhiệt

độ trung bình là 27OC Nóng nhất là tháng 6, tháng 7 có khi lên tới 36 - 38OC Mùa đông nhiệt độ trung bình là 18,9OC, tháng giêng tháng hai là lạnh nhất,

có năm thấp tới 6 đến 8OC

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nói trên huyện Lý Nhân có những hạn chế và lợi thế sau:

- Về lợi thế: Có vị trí địa lý thuận lợi, gần các trung tâm kinh tế- chính trị

của tỉnh Hà Nam và tỉnh bạn như Hưng Yên, thành phố Nam Định( Nam

Trang 13

Định), giao thông thuận tiện cả đường thủy, đường bộ nhất là khi hoàn thành cầu Yên Lệnh qua sông Hồng và mở rộng quốc lộ 38A

Là vùng đồng bằng tương đối rộng, bằng phẳng, đất đai màu mỡ do sông Hồng bồi đắp nên có thể sản xuất 2-3 vụ/ năm, nguồn nước dồi dào

- Hạn chế: Diện tích đất chưa sử dụng còn ít và khó khai thác, khả năng

tiêu thụ nông sản thấp Hiện tượng kế thừa, xuống giá làm ảnh hưởng đến tốc

độ phát triển, sức cạnh tranh thu hút vốn đầu tư yếu hơn các huyện trong tỉnh

1.1.2 Tiềm năng kinh tế

" Nam Xang đồng hẹp, bãi dài

Ăn cơm thì ít, ăn khoai thì nhiều"

Câu ca đã thể hiện phần nào đời sống kinh tế của cư dân nơi đây Nông nghiệp chiếm 80% dân số, chủ yếu là trồng lúa nước Lý Nhân là vùng đồng bằng chiêm trũng nên cốt đất thấp, độ PH cao, độ phí nghèo, đất kém màu mỡ thường chỉ cấy được một vụ chiêm là chính, vụ mùa chỉ làm được một phần ở chân ruộng cao còn phổ biến là trồng ngô, khoai

Ngoài trồng lúa là hoạt động sản xuất nông nghiệp chính thì huyện Lý Nhân còn được biết đến với một số đặc sản được truyền tụng như: Hồng không hạt( Nhân Hậu), chuối Ngự( Đại Hoàng), quýt đỏ( Tảo Môn), .Tuy nhiên các đặc sản này đang dần bị mai một do không có điều kiện phát triển

để trở thành sản phẩm hàng hóa

Nhắc đến địa danh Nhân Đạo, Trần Thương thì chúng ta không thể không biết đến câu ca truyền đời:

" Cá Nhân Đạo, gạo Trần Thương"

Hoặc tại Tòa tiền đường trong đền Trần Thương có bức hoành phi ghi:

" Trần Thương dư phúc địa, cầm thảo tứ thời xuân"[23,15]

Nghĩa là: Đất phúc Trần Thương còn đó, hoa quả bốn mùa đầy vẻ tươi xuân Trần Thương là một làng ven sông Hồng nên từ lâu cư dân nơi đây có

Trang 14

nghề vớt cá, nuôi cá bột Từ rất sớm, nhà nông làng Trần Thương đã biết chọn gieo trồng các giống lúa ngon, phù hợp với đất quê hương như nếp cái hoa vàng, nếp quýt vừa thơm vừa dẻo

Người dân mảnh đất này đã biết chọn những phương thức canh tác phù hợp với cảnh quan của vùng chiêm trũng Ở những chân ruộng cao trồng lúa, chân ruộng trũng thì cấy lúa rong gạo đỏ, những cây chịu ngập, chịu rét,ít sâu bệnh

Những năm gần đây thực hiện công cuộc Công nghiệp hóa- hiện đại hóa công nghiệp và nông thôn, Lý Nhân đã tập trung vào mục tiêu phát triển kinh

tế, xóa đói giảm nghèo, từng bước đi lên xây dựng thành một huyện giàu mạnh Nằm trên địa bàn huyện Lý Nhân, nhân dân xã Nhân Đạo chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng và chăn nuôi gia súc, gia cầm Ngoài ra còn có nghề trồng hạt sen xuất khẩu Hiện nay đời sống của nhân dân tương đối ổn định

Số hộ dói nghèo trong xã còn không đáng kể

1.1.3 Điều kiện xã hội

1.1.3.1 Lịch sử hình thành

Lý Nhân là vùng đất cổ có người Việt cư trú từ lâu đời, ít ra cũng được hơn 2000 năm Trước công nguyên (TCN) Trên mảnh đất Lý Nhân đã tìm thấy một số những di vật quý giá, minh chứng cho một thời kỳ lich sử của vùng đó là trống đồng Ngọc Lũ, có niên đại khoảng thế kỷ thứ VI- TCN, nay được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Việt Nam, Hà Nội

Theo cuốn sách “ Đại Nam Nhất Thống Chí, tập III” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn viết về huyện Nam Xang như sau:

“ Huyện Nam Xang ở cách phủ 50 dặm về phía Đông Nam Đông Tây

cách nhau 22 dặm, Nam Bắc cách nhau 17 dặm Phía Đông đến sông Nhị đối ngạn với địa giới hai huyện Kim Động và Tiên Nữ huyện Hưng Yên 8 dặm Phía Tây vượt sông đến địa giới hai huyện Duy Tiên và Bình Lục 14 dặm

Trang 15

Phía Nam giáp sông Nhị đối ngạn với địa giới hai huyện Thượng Nguyên và

Mỹ Lộc tỉnh Nam Định 14 dặm Phía Bắc giáp địa giới huyện Phú Xuyên phủ Thường Tín 3 dặm, nguyên là huyện Lỵ Nhân đời Lê Quang Thuận làm huyện Nam Xang Trước do phân phủ Kiên Lý, nay đặt tri huyện” [21,162]

Thời Pháp thuộc năm 1941, huyện Lý Nhân có 9 tổng , 86 xã, 400 thôn Sau cách mạng tháng tám cũng không có gì thay đổi về tổ chức hành chính Đến đầu năm 1948, trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, để thuận tiện cho sự chỉ đạo, chủ trương của Trung ương và tỉnh ủy là củng cố chính quyền, sát nhập các đơn vị hành chính

Ngày 4/1/1948 sát nhập Ủy ban hành chính với Ủy ban kháng chiến, hành chính huyện Lý Nhân Ngày 16/1/1948, xác nhập 86 xã nhỏ thành 20 xã

đó là Bắc Lý, Công Lý, Chính Lý, Chung Lý, Đạo Lý, Đồng Lý, Đức Lý, Nguyên Lý, Nhân Đạo, Nhân Hậu, Nhân Hòa, Nhân Hưng, Nhân Khang, Nhân Long, Nhân Mỹ, Nhân Thắng, Nhân Thịnh, Văn Lý, Xuân Khê [28,98] Những tên này còn tồn tại phần lớn cho tới nay Hiện nay, huyện Lý Nhân có 22 xã và 1 thị trấn huyện Lỵ với 345 thôn, xóm và 2 khu phố Diện tích tự nhiên là 166,84 km Trong đó xã Nhân Đạo có diện tích 6,6 km, dân số

là 4.201 người, mật độ 636 người/km, gồm 6 thôn, 3 xóm đó là thôn: Đồng Nhân, Đội Xuyên, Khu Hoàng, Trác Ngoại, Trác Nội, Trần Thương (có 3 xóm từ 1 đến 3)

1.1.3.2 Cách tổ chức dân cư

Thời xa xưa, thôn Trần Thương cũng như các thôn khác trong huyện là dân sống tụ cư trên một địa bàn cư trú, có tính cộng đồng và tự trị cao Sự cố kết hợp giũa các thành viên trong một thôn xóm không phải dựa vào một mà nhiều cách, nhiều nguyên tắc khác nhau, vừa đa dạng, vừa phức tạp

Trang 16

Về cơ bản cách tổ chức dân cư của làng, của thôn được tổ chức như sau: theo địa vị cư trú, theo huyết thống, theo giáp, theo tinh thần tự nguyện, theo

Từ những ngày đầu cách mạng, mảnh đất và con người nơi đây luôn một lòng hướng về Đảng về chính phủ, nhiệt tình tham gia các cao trào kháng chiến Từ tháng 9/1929, tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội

đã có cơ sở đầu tiên ở Chính Lý- Lý Nhân Tháng 9/1930, chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của huyện đã ra đời tại làng Đồng Vũ (xã Thọ Ích) với ba Đảng viên do đồng chí Thái Huy Quỳnh làm bí thư

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mạnh đất và con người Trần Thương nói riêng và Lý Nhân nói chung đã có nhiều đóng góp công lao vào thắng lợi chung của dân tộc Lý Nhân đã tổ chức hơn 30 đợt giao quân, tiễn đưa 16.900 người lên đường “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đóng góp cho Nhà nước 35.000 tấn lương thực, 7000 tấn thịt hơi (1966-1975)

Trước những công lao to lớn của con người và mảnh đất nơi đây, Đảng

và Nhà nước ta đã phong tặng danh hiệu vẻ vang anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Pháp cho xã Nhân Nghĩa (28/04/2000), xã Hòa Hậu và Xuân Khuê (11/2000) và huyện Lý Nhân (04/01/2002)

Trang 17

Tại “Hội nghị tổng kết 10 năm chống Mỹ (1965-1975)” quân khu III đã tặng cán bộ và nhân dân Lý Nhân bức trướng thêu dòng chữ:

“Tình nghĩa thủy chung, chu đáo, vẹn toàn, chấp hành tốt chính sách

hậu phương quân đội” [27,109]

1.1.4.2 Truyền thống văn hóa

Huyện Lý Nhân là vùng quê có bề dày về truyền thống lịch sử văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Toàn huyện hiện có tổng số 438 di tích gồm: 108 đình, 92 đền, 38 phủ, 58 miếu, 43 từ đường, 01 quán Trong

đó, 14 di tích cấp Quốc gia, 08 di tích cấp tỉnh các di tích tiêu biểu như: đền Trần Thương, đình Văn Xá, đình Vĩnh Trụ…Về văn hóa phi vật thể hiện còn bảo tồn và phát huy nhiều giá trị như: các làng nghề truyền thống: mộc (Cao Đà), đan cót (Thọ Chương) Các giá trị về dân ca như: Hát chèo ở Xuân Khê, làng Chương , hát Lải Lèn ở Nội Tất cả các giá trị đó đã tạo nền tảng cho

Lý Nhân xây dựng và phát triển các phong trào văn hóa

 Con người

Do môi trường- điều kiện tự nhiên quy định nên người Lý Nhân từ lâu đã hình thành đức tính cần cù, siêng năng, chịu khó, nhẫn nại, sống chan hòa nhân hậu, trọng chứ tín

Cuộc sống của con người vùng chiêm trũng khó khăn là vậy nhưng người Lý Nhân vẫn rất lạc quan, yêu đời Những thế hệ trước thường nhắc nhở cho con cháu về truyền thống quê hương và định hướng để phát triển quê hương Nhận thức được điều đó, thế hệ trẻ huyện Lý Nhân rất phấn đấu và đạt nhiều thành tích cao trong học tập Hiện nay trình độ dân trí của huyện Lý Nhân đã nâng cao Hệ thống trường học, trụ sở đã được khang trang Đội ngũ cán bộ ngày càng được tăng cường và nâng cao trình độ Đây là nhân tố thuận lợi cho sự phát triển văn hóa của huyện

Trang 18

 Phong tục tập quán

Cũng nằm trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ nên thôn Trần Thương cũng có những phong tục tập quán tương đồng với nhiều làng quê trên mảnh đất Lý Nhân nói riêng, đồng bằng Bắc Bộ nói chung đã được nói đến trong cuốn " Việt Nam văn hóa sử cương" của Đào Duy Anh Song bên cạnh cái chung, mỗi làng quê đều có những nét riêng độc đáo của văn hóa mình, nó được thể hiện trong lời ăn tiếng nói, nếp mặc, đi lại, ma chay, cưới hỏi của người dân Những phong tục đó không hề ở trạng thái tĩnh mà luôn biến thiên theo thời gian, những phong tục cổ truyền dần bị phai nhạt theo thời gian thậm chí là bị thay thế bằng những nét văn hóa mới hiện đại hơn

Do điều kiện tự nhiên, và đặc thù của phương thức sản xuất quy định nên bữa ăn của người dân làng Trần Thương cũng giống như nhiều làng quê khác trong huyện có: cơm tẻ, cá, rau xanh Đây là những sản vật do chính đôi bàn tay người dân làm ra, mang tính tự cung tự cấp

Về nhà ở: Xưa kia, người làng Trần Thương chủ yếu là nhà vách đất, nhà ngòi rất ít, chủ yếu hạng chức sắc, chức dịch trong làng mới có Thậm chí cách đây vài năm trong làng vẫn còn một đến hai căn nhà làm bằng tre nứa lụp xụp Nhà chủ yếu quay hướng Đông Nam có tác dụng chống nóng vào mùa hè và lạnh vào mùa đông Tính cộng đồng được thể hiện rõ nét khi trong làng có đám hiếu, hỉ thể hiện mối quan hệ gia đình, xã hội sâu sắc

Trong sinh hoạt hằng ngày người dân nơi đây cũng có nhiều điều kiêng kỵ như: đầu năm mới hay sáng mồng một đầu tháng kiêng đòi nợ vì sợ giông cả năm, đen cả tháng

 Tôn giáo, tín ngưỡng

Đời sống tín ngưỡng và tôn giáo của người dân làng Trần Thương nói riêng và của huyện Lý Nhân nói chung khá phong phú và phức tạp Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người dân còn thờ phật, thờ mẫu, thờ Thành Hoàng

Trang 19

Làng….Cũng giống nhiều làng quê khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, người dân nơi đây có tục “xin thẻ’ Đầu năm nhân dân đi lễ bãi xin thẻ để xem vận mình hay dở thế nào và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, người người khỏe mạnh và gặp mọi điều tốt lành

Ngoài ra, dân làng Trần Thương còn có tục thờ các vị thần nông nghiệp Là một vùng đồng bằng chiêm trũng, sản xuất nông nghiệp là chính nên nơi đây còn bảo lưu trong đời sống tinh thần của mình nhiều hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ xưa mà đậm nét nhất là tín ngưỡng thờ tứ pháp Đó là 4 vị thần tự nhiên: mây- mưa- sấm- chớp Đặc biệt ở đây còn có tục cúng cơm mới rất phổ biến của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước

Nét nổi bật trong tìn ngưỡng, tôn giáo nơi đây là thờ đa thần, tôn giáo, tín ngưỡng đan xen Phần lớn người dân trong làng đi theo đạo phật

1.2 Giá trị của di tích văn hóa lịch sử đền Trần Thương

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Di tích đền Trần Thương

xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân – Hà Nam

1.2.1.1 Vị trí – Nguồn gốc lịch sử của ngôi Đền

 Vị trí của ngôi Đền

Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Đây là một di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của tỉnh Hà Nam và cả nước, là nơi hội tụ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật tâm linh vượt trội Đền thờ vị anh hùng dân tộc Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến và các Bộ tướng có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XIII

Trần Thương là mảnh đất địa linh, trù phú như câu ca truyền đời “ cá

Nhân Đạo, gạo Trần Thương” và câu thơ ghi trên bức châm tại đền: “ Trần Thương dư phúc địa, trà thảo tứ thời xuân” (đất Trần Thương lắm phúc, hoa

quả bốn mùa xuân)

Trang 20

Về phương diện địa lý: Đền quay về hướng nam, trước mặt là dòng sông

cổ, dân gian gọi là sông Trần Thương, nay đã bị vùi nấp hết Dòng sông này ngày xưa là một nhánh của sông Hồng Cửa sông ở địa phận thôn Chương Xá- xã Chân Lý hiện nay Sông chảy theo hướng Đông Tây rồi hợp lưu với một nhánh khác của sông Hồng bắt nguồn ở xã Nhân Thịnh cùng huyện, cuối cùng mới đổ vào sông Châu Cách đền khoảng 2 km về hướng Nam là dòng sông Hồng, hướng về phía Đông khoảng 3 km là khu Tam Đường (Hưng Hà, thái Bình)- nơi đặt lăng mộ của nhà Trần, về phía Nam khoảng 20 km là đền Trần – chùa Tháp (Nam Định)

Trần Thương trước đây còn là trung tâm của 6 con ngòi nhỏ(gọi là lục đầu khê) Từ đây có thể theo Long Xuyên ra sông Hồng xuống cửa Hữu Bị, Tuần Vường vào sông Châu Giang, hoặc từ Trần Thương có thể ngược dòng sông Hồng đi Thăng Long rồi xuôi ra biển Ở địa thế hẹp, giàu nguồn lương thực thuận lợi về giao thông thủy, bộ nên không phải ngẫu nhiên quốc công thiết chế Hưng Đạo Đại Vương đặt ở đây một kho lương với một đội quân thường xuyên canh gác phục vụ cho cuộc chiến chống quân Nguyên- Mông lần hai (1285) Không chỉ có thế, vị trí của đền Trần Thương còn thể hiện triết

lý dân gian cổ truyền Cụ thể là thuyết phong thủy, hội tụ âm dương, có tiền

án, hậu chẩm, tả “Thanh Long”, hữu “Bạch Hổ” Tiền án là sông Hồng trước mặt (hướng nam) tức là dương, thu nhận linh khí của chòm sao Chu Tước (con chim đang bay màu đỏ) từ không trung Đây cũng là phương tượng trưng của Trời hay Thiên Tử Từ tư duy quân sự cộng với tư duy của triết thuyết khổng giáo về kinh dịch mà Trần Hưng Đạo chọn thế đất hình nhân bái tướng, thế nước là lục vận làm nơi đặt kho lương Mà theo như hậu thiên bát quái thì khảm tức là thủy mang số 1, Kiền tức là trời mang số 6, cách sắp xếp địa cơ theo phong thủy của Trần Thương tương xứng với triết lý đó

Trang 21

Như vậy đền Trần Thương có vị trí rất quan trọng kể cả trong lĩnh vực quân sự, lẫn triết lý dân gian Chính vì thế mà Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương-Trần Quốc Tuấn mới đặt ở đây một kho lương thực phục vụ cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông lần hai (1285)

 Nguồn gốc lịch sử của ngôi Đền

- Quá trình xây dựng và tu sửa ngôi đền

Theo sử sách để lại thì Trần Thương thuộc thôn Miễu, xã Trần Thương, tổng Thùa Ốc huyện Nam San, mảnh đất Trần Thương xưa kia chỉ là bãi sậy

um tùm và xen kẽ là những gò cao, dân cư thưa thớt, lại là hợp lưu của sáu con ngòi gọi là lục đầu khê Trên đường đi đánh quân Nguyên Mông, khi qua vùng đất Nam San nhãn quan của nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc Trần Quốc Tuấn đã nhận thấy địa hình địa thế thuận lợi bèn cho đặt kho lương chính của triều đình để phục vụ cho cuộc kháng chiến Sau khi chiến thắng trở về, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã chọn mảnh đất này làm nơi cắm sinh phần và lấy dân ở đây làm “tao lệ” (không phải đóng tô thuế) và từ đó xuất hiện thôn Trần Thương và một loạt thôn khác Đến năm 1300, khi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất, để tưởng nhớ công lao to lớn của Ngài thì nhân dân thôn Trần Thương đã lập đền thờ Ngài cùng các tướng lĩnh và gia quyến của Ngài Mặc dù trải qua thời gian dài, với sự khắc nghiệt của tự nhiên, ngôi Đền của xã vẫn được bảo vệ và tôn tạo Hằng năm vào dịp thanh minh hoặc ngày giỗ Đức Thánh Trần, bà con Nhân Đạo cùng khách thập phương gần xa về bái yết Đức Thánh và cùng lễ lạt gia tiên

Theo các thần phả để lại thì đền Trần Thương được xây dựng vào thế kỷ XIII Qua các thời kỳ lịch sử, ngôi đền đã được tu sửa lại Sử thành văn còn ghi lại, thời Lê Vĩnh Hữu, năm 1735 đền Trần Thương được dựng lại bề thế khang trang, xứng đáng là một danh thắng đẹp của Trần Sơn Nam Thượng

Trang 22

Nơi xây đền, ở giữa nổi gò đất như mai rùa Hai bên là những dải đất giống như tay ngai, xung quanh hồ nước trong ngát hương sen

Năm 1943, đền được nâng cao vì trước kia đền thiết kế xây quá thấp Đứng lên tu sửa là ông Chánh Tổng Sơn, người làng Trần Thương

Đền Trần Thương chính thức được nhà Nước công nhận là Di tích lịch

sử văn hóa Quốc Gia năm 1986

 Nhân vật được thờ tự

Nhân vật liên quan đến ngôi đền là Hưng Đạo Đại Vương- Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông trên đường đi đánh giặc Ngài thấy mảnh đất nơi đây có địa thế đẹp Vì thế Ngài đã chọn đặt kho lương thực chính của quân đội

Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 12 Hiện nay chưa có tài liệu nào ghi rõ năm sinh của Ngài

Trần Quốc Tuấn sinh ra trong một gia đình đại quý tộc triều Trần, nguyên quán ở thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định, Ông là con thứ hai của Khâm Minh Đại Vương Trần Liễu, mẹ ông là Đoan Túc (tức Thuận Thiên công chúa, con gái của vua Lý Huệ Tông) Thủa nhỏ có người phải khen Trần Quốc Tuấn là bậc kỳ tài Khi Ông lớn lên, ông càng tỏ ra thông minh xuất chúng, văn võ song toàn Ông là vị tướng “cột đá chống trời”, viết “Hịch tướng sĩ”, soạn hai bộ binh thư “Binh thư yếu lược” và “Vạn kiếp tông bí truyền thư” để dạy bảo các tướng lĩnh của mình Trần Quốc Tuấn

là một vị tướng toàn đức, toàn tài, là người thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng

1.2.1.2 Kiến trúc điêu khắc của đền Trần Thương

Đền Trần Thương được xây dựng trên một khu đất rộng 20.000m2 riêng công trình đền dài rộng hơn 1000m2 Đền nằm biệt lập ở phía đầu làng trên nền cũ của kho lương thời Trần trong công cuộc chống quân Nguyên- Mông

Trang 23

xâm lược lần hai, theo kiểu Tứ Thủy Quy Đường với những nét đặc sắc và độc đáo về kiến trúc, điểm nổi bật là từ tư duy quân sự cộng với tư duy của triết thuyết khổng giáo về kinh dịch mà Trần Hưng Đạo chọn thế đất hình

“nhân bái tướng” thế nước là “lục vận” làm nơi đặt kho lương Mà theo như hậu thiên bát quái khảm tức là thủy mang số 1, kiền tức là thời mang số 6 Cách sắp xếp địa cơ theo phong thủy ở Trần Thương tương xứng với triết lý

đó Đền được xây dựng trên thế đất “ hình nhân bái tướng” tức là hình người lạy Theo như các cụ cao niên cho biết: hình nhân là người phụ nữ nằm nghiêng về bên trái Đầu là gò đất cao, sau hậu cung Hai tai là hai cái giếng đăng đối ngang hậu cung, giếng bên trái hình hơi dẹt (vì nằm nghiêng về bên trái) Miệng là cái giếng tròn nằm giữa tiền đường và trung đường, nhân dân quen gọi là “hồ khẩu” Hai nhũ là hai giếng tròn đăng đốingoài nghi môn nội Phía trước cổng có hồ nước gọi là Huyền Vũ Án Cửa, Cổng Tam Quan chính Nam sắp theo kinh dịch là ly gọi là Ngọ Môn Quan Từ cổng đi vào hơn 100m là đền, ngay phía trước gian Tiền tế là Cổ Lâu khê Lư Đá để thiêu hương, tiếp theo là giếng nước ở giữa đền nằm trước Quan Đệ Nhị Hai bên tả

vu và hữu vu nối Đệ Tam và Đệ Nhị

Kiến trúc nội cung ngoại quốc đậm nét thời Lý Trần kết tụ văn hóa Lê- Nguyễn Sau đền là phủ thờ Mẫu có gò đất cao tạo sơn trạch vững chắc ở chính Bắc mà kinh dịch là khảm thủy mang ý nghĩa thủy sinh mộc, cây đa tức mộc còn là biểu tượng của sự trường thọ đặc trưng cho hướng Đông Mão Trấn, phía trước đền cả bên tả bên hữu có hai giếng nước tượng trưng cho đôi

vú, có hai giếng nhỏ cạnh phủ Mâu là hai tai Như vậy hồ nước trước cổng và bốn giếng ngoài đền và hậu bên trong cộng lại là lục thủy là âm Xét về kiến trúc thì đền được xây lại từ ngôi đền cổ thời nhà Nguyễn, phía ngoài cùng là Tam Quan Ngoại, cửa chính cao hai tầng, tầng dưới được cuốn hình vòm, xung quanh có trang trí hoa văn, tầng trên có gác chuông tám mái, trên mái

Trang 24

đắp kiểu ngói ống, bỏ nắp đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt, các bờ dài uốn cong thành các cầu kìm Xung quanh có trang trí họa tiết, hoa văn mang phong cách thời Nguyễn Ngôi đền được thiết kế theo kiểu chữ Quốc: 5 tòa, 15 gian chia thành 3 cung: cung Đệ Nhất, cung Đệ Nhị, cung Đệ Tam, với những hàng cột lim to khỏe vững chắc Tòa Tiền Đường được kiến trúc theo lối chồng rường Hai bên đầu hồi xây bít đốc giật cấp, nối với hai gian đầu hồi của Tòa Tiền Đường là hai dãy nhà khách chạy dọc nhìn ra giếng Tiền Đường

và Tòa Đệ Nhị Tòa Đệ Nhị 5 gian nợp ngói ống, mái trên và mái dưới là các

ô có đắp chữ hán Phần Hậu Cung 3 gian, được nối từ tường Tòa Đệ Nhị xuôi

về sau cung Đệ Tam, còn có một bộ khảm lớn chạm khắc công phu, bằng tài chí và lòng thành kính ngưỡng mộ của người nghệ nhân đã thể hiện pho tượng đồng Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đẹp, hài hòa, uy nghiêm

 Công trình chính

Ngôi đền bề thế, nằm uy nghi được thiết kế theo kiểu chữ Quốc Tòa tiền đường năm gian, ở phía gian giữ còn có tòa thiêu hương, tiếp đến là hai dãy nhà khách, khoảng giữa không gian có một chiếc giếng, nhân dân gọi là “hồ khẩu”, tiếp đến là Tòa đệ nhị năm gian, sau cùng là hậu cung ba gian Xung quanh công trình kiến trúc được trồng nhiều cây lâu năm, có cây lên đến mấy trăm năm tuổi, ngả bóng mát cho ngôi Đền Hai bên của công trình là hai giếng được kè bằng đá xanh, nhân dân gọi là hai tai

Tòa tiền đường: Phía trước gian giữa của tòa tiền đường có dựng một

tòa cổ lâu 2 tầng, giữa mái trên và mái dưới là bức đại tự "Phong vân trường

hộ"nghĩa là: gió mây mãi mãi phù hộ, ở giữa đặt một đỉnh hương bằng đá có

đôi nghê chầu Tòa tiền đường được kiến trúc theo lối chồng rường, hai đầu xây bít đốc dật cấp, mái lợp ngói nam, mắt trước là dãy cửa bức bàn Phía trên gian giữa có treo bức đại tự "Văn đức võ công" Nối với hai gian đầu hồi của

Trang 25

tòa tiền đường là hai dãy nhà khách chạy dọc nhìn ra giếng rùa, mỗi dãy 3 gian tạo thành hành lang nội từ tòa tiền đường vào tòa đệ nhị

Bốn cột trụ được làm bằng loại gỗ lim già làm kiểu búp đòng Các cột này đặt trên các chân tảng đá làm kiểu thắt bổ bồng cao 65cm Bộ khung của công trình gồm 6 vì kèo làm bằng gỗ lim già Mỗi vì kèo gồm bốn cột, hai hàng cột cái cao 3m50 làm kiểu bút đòng, giữa to hai đầu nhỏ Bộ vì của công trình chắc khỏe, hàng bẩy tiền được lối ra từ cột, gánh đỡ tán mái, trên than bẩy có trang trí các đề tài rồng, tùng, cúc, trúc, mai…

Ở phía sau gian giữa Tòa tiền đường kiến trúc được nối ra như kiểu chuôi vồ tạo thành một tòa miếu nhỏ nhô ra phía giếng Miếu này được xây bằng gạch, cửa tạo hình vòm Phía trên mái tạo thành mái cong, trên nóc xây thành đầu đốc Ở mặt đốc đắp hình mặt hổ phù, hai chân như đang nắm lấy bờ mái, mắt nhìn thẳng xuống giếng Bên trong miếu đắp cảnh non bộ, ở giữ non

bộ là bàn thờ quan ngũ hổ

Nhà khách: Nối với hai gian đầu hồi của Tòa tiền đường là hai dãy nhà khách hạy dọc, mặt nhìn ra giếng rùa Kiến trúc của dãy nhà khách được xây bằng gạch, phân thành hai phần: phần hiên và phần nội thất

Phần hiên được làm thành hành lang nối từ tiền đường và Tòa đệ nhị Phía trên mái được tạo thành hai cấp: mái hiên và mái nội thất, kiến trúc bên trong nhà khách làm đơn giản, các cấu kiện chủ yếu là được bào gọt nhẵn nhụi, không có hoa văn trang trí

Tòa đệ nhị: gồm năm gian, xây bằng gạch cao hơn Tòa tiền đường và nhà khách, lợp ngói ống cung đình đời Nguyễn, bờ nóc hai đầu hồi đắp hai con rồng lớn, phần giữa mái trên và mái dưới là các ô có đắp chữ Hán

Phần khung của tòa cổ lâu được xây bằng gạch, thành bốn trụ Mặt trước tạo thành ba khoảng: khoảng giữa là phần cửa làm bằng gỗ kiều cửa lùa ghép thành bốn mảnh ở chính giữa đục thông phong hình chữ ‘thọ” theo kiểu

Trang 26

đường triện tạo dáng giống như đinh hương, phía trên chữ “thọ” về hai góc cửa là hai con phượng đang xòe cánh Hai bên diềm cửa là hai con rồng chầu vào chữ “thọ” Dưới chữ “thọ” là ao sen đang mùa hoa nở Trên nền cửa còn điểm xuyến nhiều hoa văn: vân mây, lá lật, lá hỏa… Đây là tác phẩm điêu khắc độc đáo ít gặp ở các di tích khác

Kiến trúc Tòa đệ nhị khác hẳn với kiến trúc Tòa tiền đường, hai bên đầu hồi xây bít đốc, mái tạo thành hai cấp lợp bằng loại ngói ống Đây là loại mái cung đình của thời Nguyễn Ở hai đầu của hàng ngói có hình chữ “thọ”, trên

bờ nóc đắp hai đầu rồng lớn, chân rồng đang nắm lấy bờ hồi Khoảng cách giữa phần mái trên và mái dưới mỗi gian được tạo thành một ô, có ô đắp chữ hán, có ô đắp hoa lá sen, có ô thì đắp đầu rồng, phượng Toàn bộ các bức trang trí này tạo cho kiến trúc Tòa đệ nhị mang tính nghệ thuật cao

Hậu cung:Gồm ba gian được tạo bởi một mái nối từ tường của Tòa đệ nhị xuôi về phía mái Trên mái của hậu cung cũng được lợp thành loại ngói ống Kiến trúc bên trong không có phần gỗ mà được thay bằng cuốn vòm bê tông ngăn cách thành ba gian Phần nối giữa tòa đệ nhị và hậu cung được tạo thành ba cửa, cửa giữa là bộ cửa bức bàn thượng thông phong hạ bàn Phía trên được đục thông phong hình rồng cuốn, phần đuôi rồng xòe ra tạo thành chữ hán Phía dưới bưng kín chạm nổi các cành tùng, cúc, trúc, mai…Toàn bộ bức cửa này được làm bằng kiểu cửa bức bàn Trên đó cũng chạm nổi cảnh rồng, phượng, hoa cúc….[23,27]

Riêng Hậu cung lúc nào cũng được đóng kín, chỉ vào dịp tế lễ chính thì cửa mới được mở Không phải ai cũng được vào trong Hậu cung thắp hương, chỉ có những người vai vế mới được vào

Như vậy, đền Trần Thương được xây dựng theo lối kiến trúc độc đáo với quy mô bề thế Toàn cảnh ngôi đền rất thoáng đãng, thơ mộng và cổ kính Công trình kiến trúc nổi giữ hồ hoa sen có không gian rộng lớn Kiến trúc đền

Trang 27

Trần Thương mặc dù được xây dựng lại vào thời Nguyễn nhưng các giải pháp kiến trúc từ địa thế đến bố cục mặt bằng, thiết kế kiến trúc đến phong cách thể hiện từ phần mộc đến phần nề đều được làm công phu, tỉ mỉ mang đậm phong cách kiến trúc cổ truyền của dân tộc Các nghệ nhân xưa đã tập trung toàn trí lực sang tạo để xây dựng nên một công trình ngang tầm với công lao to lớn của Hưng Đạo Đại Vương- Trần Quốc Tuấn

 Một số đồ thờ tự

Đồ thờ cổ thư của ngôi đền cũng rất phong phú, quý hiếm, đặc biệt đã được Bộ văn hóa thông tin xếp hạng là DTLSVH cấp Quốc gia và trở thành điểm nhấn trong các tour du lịch của huyện Lý Nhân và tỉnh Hà Nam trong tương lại Đề tài tứ quý, tứ linh hài hòa đẹp mắt là pho tượng Đức Thánh Trần trong ban thờ hậu cung với vẻ mặt uy nghiêm của một vị thánh nhân, nhưng vẫn nở nụ cười bao dung đôn hậu Tổng thể kiến trúc của đền Trần Thương đã gợi lên bóng dáng phủ đệ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.Từ những giá trị về lịch sử văn hóa đặc sắc Đền còn lưu giữ được nhiều đồ thờ tự có giá trị như hương án, sập thờ bằng đá, ngai thờ, khám thờ, những đồ bằng gốm như: lục bình, bát hương, bát đĩa, chén đôn,…Ngoài ra còn có các cửa võng, trên cổ lâu, bình phong, lư hương, mũ, hia(dầy) tay ngai, các bát hương cổ, kiếm bạc, quạt ngà đều có sự thống nhất về trang trí đề tài rồng cuốn thủy, rồng cuốn mây, rồng với phượng, hoa lá cúc cách điệu xoắn xuýt tạo những hoa văn tinh tế đậm chất tư duy của thần quyền vương triều thời quân chủ chạy ngược về sau Những họa tiết hoa văn này thể hiện bàn tay khéo léo, kỹ thuật chạm khắc, thêu dệt công phu, trí sáng tạo của các nghệ nhân xưa

Đồ thờ ở đây cho thấy về nghệ thuật kiến trúc, trang trí rất phong phú, có nhiều hoành phi câu đối, đại tự được trang trí tỷ mỉ như cuốn thư nền gấm hoa, chanh, hoành phi cổ thời Nguyễn với nền sơn son thiếp vàng không nơi

Trang 28

nào ở các DTLSVH (Di tích lịch sử văn hóa), DTLS (Di tích lịch sử) trong huyện có được, tất cả được treo bầy trang nghiêm

Đặc biệt hàng câu đối tiền tế thêm một lần bổ sung vào danh sách xưa:

Trần tích bổ phong bi- Hồng lạc giang sơn minh hợp kiếm, Thường yên hoài tịch miếu lăng châu thủy nguyện trụ hành tinh Tức là: “Dẫu vết đã lâu bổ sung cho bia thêm phong phú, Non song Hồng lạc vẫn có tiếng gươm kêu, khói xanh nhờ khí tụ họp ở Miếu,cắm cờ tinh bên trong nước Long châu”

Với phong cách kiến trúc thời Nguyễn, ngôi đền đã thể hiện sự hài hòa giữa kiến trúc đền miếu với ngoại cảnh Đồng thời cũng thể hiện sự tài hòa của người thợ trạm khắc, người thợ lề trong kiến trúc xây dựng và nghệ thuật trang trí điêu khắc

1.2.2 Lề hội đền Trần Thương và giá trị của di tích văn hóa lịch sử đền Trần Thương đối với đời sống người dân xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân- Hà Nam

1.2.2.1 Lễ hội đền Trần Thương

Lễ hội đền Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân được đánh giá

là một lễ hội lớn đã góp phần tích cực trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục văn hóa truyền thống cho nhân dân trong vùng cũng như trong cả nước, khơi dậy tinh thần yêu quê hương đất nước, lòng tự hào về

tổ tông, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” và đặc biệt là truyền thống yêu nước Từ đó nâng cao ý thức cộng đồng, củng cố tính cộng cảm, gắn bó, phát huy tình đoàn kết, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ mẹ”,

đã bao đời nay, nơi đây cùng với các địa phương thờ Hưng Đạo Vương mở hội vào dịp trung tuần tháng Tám (âm lịch), đặc biệt là ngày 20 tháng 8, ngày Đại Vương qua đời Từ Vạn Kiếp (Chí Linh – Hải Dương) đến Trần Thương

Trang 29

(Lý Nhân – Hà Nam) về Bảo Lộc (Nam Định), khách hành hương theo lộ trình chiêm viếng tôn vinh người anh hùng dân tộc, cầu mong vị tướng đã truy tôn là bậc Thánh ban những điều tốt đẹp, mong làm việc thiện, điều nhân Đền Trần Thương hàng năm mở hội vào ngày 18 đến ngày 20 tháng 8 (âm lịch) hàng năm Những năm chẵn tưởng niệm ngày mất Hưng Đạo Vương tổ chức to hơn những năm lẻ Lễ hội đền Trần Thương – một lễ hội vùng tiêu biểu của tỉnh Hà Nam ngày càng thu hút đông đảo du khách thập phương Theo thời gian lễ hội có sự kết hợp phong phú, đa dạng giữa văn hóa cổ truyện và văn hóa hiện đại Trước ngày mở hội, thôn xóm sống trong không khí náo nức chuẩn bị các việc cần thiết, đường thôn ngõ xóm dọn dẹp phong quang Khu vực đền được tô điểm màu sắc rực rỡ với cờ ngũ sắc, cờ chuối, băng rôn…

Trong một năm thì đền Trần diễn ra những hội lế lớn, sôi động hấp dẫn nhất là vào tháng Giêng và tháng Tám(âm lịch)

 Lễ hội tháng Giêng

Lễ phát quân lương

Trên nền của kho lương thời Trần cách đây hơn bảy thế kỷ, các hoạt động văn hoá tín ngưỡng được Hưng Đạo Đại Vương- Trần Quốc Tuấn “tao lệ” vẫn được nhân dân giữ gìn và lưu truyền tưởng nhớ ân đức của Ngài vào giờ Tý ngày rằm tháng Giêng nghi thức phát lương xin lộc Thánh đầu năm

Trang 30

được nhân dân cử hành trọng thể Đây là nghi thức tái hiện cảnh phát quân lương khao quân đội nhà Trần khi đánh thắng giặc Nguyên- Mông lần thứ hai

- Quá trình chuẩn bị:

Để hướng tới kỉ niệm 710 năm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và 1000 năm Thăng Long- Hà Nôi, Sở Văn hóa- Du lich- Thể thao tỉnh Hà Nam đã quyết định phê duyệt kế hoạch khôi phục lại lễ phát quân lương tại đền Trần Thương( đã bị mai một) Ngày 27/2 năm 2010( tức ngày 14 tháng giêng năm Canh Dần), tại đền Trần Thương đã khai mạc lễ phát lương Đức Thánh Trần Đây là lần đầu tiên, lễ phát lương được khôi phục lại và tổ chức long trọng với quy mô lớn

Lễ vật: hương, hoa quả, trầu cau, rượu, thịt, xôi

Túi lương thực: dự tính 5000 túi Túi được làm bằng vải đỏ, có đóng ấn nhà Trần màu vàng Trong túi lương đựng ngô vàng, gạo nếp, hạt sen

+ Luyện tập tế lễ, rước lương thực

+ Chuẩn bị một chiếc thuyền to được trang trí rồng phượng và các cỗ xe

để đi đón đoàn quân lương từ bến sông Hồng…

+ Lễ cáo yết tại đền Trần Thương: Đây là nghi lễ đầu tiên xin được

mở cửa đền với ý nghĩ xin phép Đức Thánh Trần Hưng Đạo cho dân làng được mở hội

+ Lễ rước: từ đến Trần Thương ra bến sông Hồng để đón đoàn quân lương của nhà Trần

Trang 31

Nghi lễ này nhằm tái hiện lại việc các binh sĩ nhà Trần vận chuyển lương thảo từ các vùng về tập kết tại kho lương Trần Thương

Tham gia lễ rước là các đội như: đội múa lân, đội cờ, đội trống, đội rước

và các cỗ xe trâu, bò được trang trí hình rồng phượng Lộ trình rước được tiến hành từ đền ra bến sông gắn liền với hoạt động múa lân khiến tiến trình rước diễn ra rất sôi động và hấp dẫn

Ngày thứ hai: 15 tháng Giêng

Đến đúng 0h ngày 15 tháng Giêng thì ban tổ chức mới bắt đầu mở kho lương được rước về từ ngày 14 và đóng ấn Sau đó tiến hành phát lương cho nhân dân

Đây là thu hút sự tham gia đông đảo quần chúng nhân dân cũng như du khách nhiều nhất Những túi lương thực được xếp thành hàng chồng lên nhau, được đặt trên những chiếc bàn dài Quần chúng nhân dân cũng như du khách đứng chen chúc quanh sân đền chờ được phát lương

Mục đích của việc phát lương này là nhằm tái hiện lại hoạt động thu lương thực của triều đình nhà Trần cách đây 725 năm Mọi người xem hội ai cũng háo hức chờ tới lượt nhận túi lương Công việc phát lương do đại sư đức cao vọng trọng cùng những người đứng đầu làng và ông thổ nhang đảm nhận Dân làng và du khách nhận túi lương thực với hi vọng sẽ nhận được sự che chở, ban phát tài lộc của Đức Thánh Trần… Sau khi được phát túi lương mọi người lần lượt vào đền thắp hương, khấn vái cảm tạ sự che chở của Đức Thánh Trần

Lễ phát lương được kéo dài đến hết ngày 15 tháng Giêng để mang lại may mắn, thành công và hạnh phúc cho những người dự lễ

 Ý nghĩa của lễ phát lương:

Lễ phát quân lương là một lễ hội đắc sắc, độc đáo so với các lễ hội khác

ở phía Bắc nước ta Nó độc đáo bởi lễ hội này liên quan đến diển tích nơi đây

Trang 32

Đó là, cách đây 725 năm nhà Trần xây dựng kho lương chính trên mảnh đất này

Lễ hội được tiến hành vơi mục đích nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị

di sản văn hóa, đồng thời là dịp để thế hệ trẻ hôm nay tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông thế kỉ XIII nói riêng và đối với những vị anh hùng có công giữ nước nói chung

Ngoài ra, lễ hội này cũng nhắc nhở mọi người hăng hái lao động, học tập đồng thời thể hiện khát vọng được no đủ, sinh sôi nảy nở, cầu mong nhân khang vật thịnh của nhân dân

Lễ tế cá

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại rằng: nhà Trần xuất thân từ nghề làm chài lưới Nhận thức được điều đó, từ trong tâm linh của mình, với lòng tôn kính vương tôn nhà Trần nói chung và Trần Hưng Đạo nói riêng, Đảng – chính phủ- Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc, địa phương và nhân dân làng Trần Thương đã tổ chức lễ Tế Cá nhằm tôn vinh truyền thống và sự vẻ vang của

Trang 33

Lễ cáo yết: sáng sớm ngày 25 tháng Giêng, sau khi các hoạt động đó được chuẩn bị hoàn tất từ trước thì ông thủ đền cùng những người đại diện trong làng vào thắp hương xin phép Đức Thánh Trần cho làng mở hội

Lễ dâng hương: những con cá được thả trong những chậu nước sạch, được đặt trước ban thờ của cung cấm Mọi người chỉnh lại trang phục khi vào dâng hương trong đền Đầu tiên là thủ đền, những người đứng đầu trong làng, đội tế nam quan, đội tế nữ quan, các cụ già rồi đến dân làng và khách thập phương Mọi người xếp thành hàng, lần lượt vào thắp hương trong không khí tôn nghiêm của lễ hội và lòng tôn kính của mỗi người Vẫn thành từng hàng dài mọi người đi vòng quanh đền, tới phủ Mẫu( thờ Mẫu Liễu Hạnh) phía sau đền thì vào thắp hương Sau đó họ nhanh chóng tập trung trước sân đền

Tế lễ: sau lễ dâng hương là phần tế lễ

Quá trình tế lễ được tiến hành bài bản Đội tế là do làng Trần Thương đảm nhận Tiến trình tế lễ được diễn ra giống như các hoạt động tế lễ của các

Để tái hiện trò này, dân làng chọn 10 cô gái còn son trẻ, luyện tập trước

đó vài ngày Với trang phục đơn giản, áo thắt bó tre, đầu thắt dải lụa đỏ, xếp thành hai hàng, mỗi bên 5 người, tay cầm mái chèo Từng nhịp, từng nhịp đều đặn như đang chèo thuyền Sau mỗi lời bài hát là cả tốp diễn đồng thanh hát “ khoan hò khoan! Khoan hò khoan!” theo nhịp chèo thuyền

Trang 34

Sau khi tái hiện lại quá khứ, mọi người tiến hành phóng sinh cho những con cá đó Hành động này có rất nhiều ý nghĩa Quan trọng nhất là tỏ lòng tôn kính với nguồn gốc nhà Trần Thứ hai là nhằm mục đích cầu mong cây cối vật nuôi sinh sôi, nẩy nở, phong đăng hòa cốc, nhân khang vật thịnh, khát vọng

về một cuộc sống ấm no hạnh phúc của dân làng

 Lễ hội tháng Tám

Đây là lễ hội chính của đền Trần Thương Lễ hội chính được tổ chức vào trung tâm tuần tháng Tám hằng năm nhằm kỷ niệm ngày mất của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Lễ hội được tổ chức vào 3 ngày từ 18 đến 20 tháng 8(âm lịch) hàng năm Theo quan niệm bắt đầu từ ngày 1/8 nhân dân đã đến cúng bái, xin phúc lộc, đến mồng 10 là nghi thức rước nước từ sông Hồng về mà theo như các cụ thì đây là nghi thức vừa rước nước vừa nhập lương, tiếp đó là các nghi lễ cầu mong cho quốc thái dân an, cúng tế các vụ chiêm vụ mùa Cầu cho mùa màng bội thu với tâm ý là nơi kho lương của Đức Thánh Trần luôn dồi dào sung túc Ngày mồng 10 rằm hương đăng hoa quả Ngày 18 là ngày cúng Hưng Nhượng Vương Ngày 20 là tổ chức dâng hương giỗ chính và tiến hành phần

lễ chính Trong không khí thiêng liêng cộng cảm ấy, những người con từ khắp mọi miền đất nước lại có dịp hồi hương tri ân công đức, trí tuệ của Ngài cũng như các bậc tiền nhân có công với đất nước

Lễ hội đền Trần Thương là một trong ba lễ hội vùng của Hà Nam được

tổ chức quy mô của lễ hội truyền thống với các sinh hoạt nghệ thuật dân gian đặc sắc sinh động, tăng cường tính cộng đồng, cộng cảm của làng xã Không chỉ kết nối tâm linh, là cuộc hành hương về cội nguồn mà còn là nơi kết giao văn hóa

Trang 35

1.2.2.2 Phần hội

Gọi là “phần tục” thì hành động hội thật sôi nổi, các nghi lễ diễn ra rất trang nghiêm thành kính, còn “hội” thì rất vui vẻ Có các nghi lễ diễn xướng như hát múa của bà con Yên Trạch (Bắc Lý), của bà con ở Văn Xá (Đức Lý), của bà con Tàu Giang (Nhân Nghĩa)… Lại còn các Thành đồng ở Trần Thương trước đây đã có, đây là một hình thức tiền sân khấu của người Việt cổ

xa xưa Có cả nghệ thuật “Siêu Lình”, nhưng nay đã bị mai một, ngoài ra còn

có một số trò chơi dân gian như vật, kéo co, đẩy gậy, cầu kiều bắt vịt, bịt mắt bắt dê, chơi cờ người đang dần được khôi phục

 Diễn xướng tâm linh

Các Tích trò diễn xướng như: hát lải lèn của bà con Bắc Lý, hát văn nhà ngài của bà con ở Văn Xá (Đức Lý), hát chèo đò của bà con Tàu Giang (Nhân Nghĩa) Ngoài ra còn có các trò chơi dân gian như vật, kéo co, đẩy gậy, cầu kiều bắt vịt, bịt mắt bắt dê, cờ người, bơi chải… Trong thời gian lễ hội, ban ngày tổ chức thi đấu nhiều trò vui, khỏe, bổ ích Ban đêm làng còn tổ chức các gánh hát chèo diễn các tích truyện cổ và hát chầu văn hầu Thánh Những ngày lễ hội ở Trần Thương không chỉ là dịp để nhân dân vui chời giải trí, mà còn góp phần động viên người dân nơi đây có ý thức giữ gìn và bảo vệ những giá trị văn hóa tuyền thống, nhằm xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp

 Thành đồng

Thành đồng ở Trần Thương thường được gắn với tâm thức Mẫu (Sau ngôi đền), nơi thờ Liễu Hạnh (Mẫu Thiên) và Quế Anh, Quỳnh Anh phu nhân (hai người hầu mẫu Liễu) Bởi vì, Triều Trần còn có các thành tố như Thiền Trúc Lâm và thành tố trong tôn giáo thờ Mẫu: Ban Trần triều gồm các giá như Đức Thánh Trần Triều, cùng giá “Cậu bé, Cô bé” (Cậu Suốt, Cô Suốt), kêt hợp và cùng với các giá “Cô đôi thượng ngàn”, “Cô chín rừng xanh” Tục Thành đồng mang đậm tính sân khấu tiền sử của người Việt từ xưa (tiền sân

Trang 36

khấu của người Việt cổ) Hình thức diễn xướng tâm linh, ca ngợi Thánh, Mẫu… với các văn chầu cổ, các điệu chầu, xá thượng nhịp nẩy rộn ràng Cả văn và hình thức đậm nét sơ khai, mộc mạc nhưng hàm chứa đầy vẻ linh thiêng của văn hóa tâm linh bản địa được nhân dân “các bến” (các con nhang

đệ tử ở vùng sông nước) diễn xướng Thường là các lễ hội ở Trần Thương chỉ

có ba giá như trên (khác với Phủ Dầy Nam Định nơi thờ Mẫu chính thì có 36 giá) Vào những ngày lễ chính còn có các nghệ nhân làm tích và biểu đạt nghệ thuật “Siêu hình”, nghệ thuật này là tiền ảo thuật của người xưa, hiện nay đã

bị mai một

Các trò chơi dân gian:

- Kéo co: người chơi chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để

kéo cho được bên kia ngã về phía mình Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo Một vị chức sắc hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng Ngoài ra còn có hình thức lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng hai keo là bên ấy được Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng "dô ta", "cố lên"

- Chơi cờ tướng: Lễ hội năm nào cũng đấu cờ, có năm tổ chức cờ người Chọn nam thanh nữ tú đóng tướng ông tướng bà, tráng đinh đóng tốt

đỏ, tốt đen dàn trận đấu trí hấp dẫn Thường duy trì đấu cờ bổi là chính (mỗi quân là một biển cắm cao tầm mắt người chơi, còn gọi là cờ biển), có ván kéo dài mới phân thắng bại…

Các trò chơi ở đền Trần Thương trong phần hội thì vô cùng phong phú vì nhân dân trong huyện, trong vùng, có khi ở xa như Cửa Ông (Quảng Ninh-

Trang 37

nơi thờ Đức Ông là Trần Quốc Tảng) như Bảo Lộc (Nam Đinh) lên, Kiếp Bạc ( Chí Linh Hải Dương) sang nên các tích trò, Thanh đồng, diễn xướng đua chen hội tụ Nhiều trò chơi, môn thể thao cổ truyền, trò chơi dân gian như: Vật cổ truyền (vật dân tộc), võ gậy, bịt mắt đập niêu, cầu kiều bắt vịt…

Như vậy, cũng như các lễ hội khác, ở lễ hội Đền Trần Thương cũng có phần lễ và phần hội Lễ và hội không diễn ra tách biệt mà tồn tại đan xen nhau tạo sức hấp dẫn cho lễ hội Hội xen lễ để lễ bớt khô cứng, lễ xen hội để hội bớt tính suồng sã của sinh hoạt ngày thường Lễ hội Đền Trần Thương là một

lễ hội lớn của vùng, thu hút đông đảo nhân dân tham gia Đây cũng là lễ hội mang tính nhân văn, ý nghĩa tâm linh sâu sắc lại và mang tính giáo dục cao: giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, truyền thống tôn kính người có công với đất nước, và hơn hết là truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau

1.2.2.3 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương

 Giá trị lịch sử

Từ trước tới nay, sử sách còn ít nhắc tới kho lương thời trần ở thôn Trần Thương Tuy nhiên cho đến nay, những dấu tích vẫn còn đang tồn tại, được bảo tồn ở đền Trần Thương đã chứng minh giá trị to lớn của địa danh lịch sử này

Vì vậy, những lúc nông nhàn, nhân dân ở vùng này lại tổ chức lễ hội ở đền nhằm ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang cũng như những giá trị to lớn của địa phương, đất nước Trên cơ sở đó, bồi dưỡng và phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta

Giá trị lịch sử của di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương còn thể hiện

ở chỗ nó như một bài học giáo dục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của ông cha ta nói chung và việc phát huy truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân làng Trần Thương nói riêng Hiện nay trong

Trang 38

Đền còn bảo lưu rất nhiều đồ thờ tự có giá trị như: Hương án, sập thờ, tượng Trần Hưng Đạo Ngoài ra còn có các đồ gốm sứ như: lục bình, bát hương…,

đồ đá như: rùa, nghê, bát hương Tại đền người ta còn giữ lại chiếc kiếm bạc

có vỏ làm bằng đồi mồi rất quý chỉ được đưa ra thờ vào ngày lễ hội Những

đồ thờ tự này càng tạo nên tính thiêng và minh chứng cho giá trị lịch sử của ngôi đền Phát huy truyền thống lịch sử vốn có, nhân dân đền Trần Thương từ rất sớm đã giác ngộ cách mạng, đứng lên chống lại chủ nghĩa thực dân xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Trong lễ hội giá trị lịch sử được thể hiện thông qua các nghi thức diễn xướng, nghi lễ nhằm tái hiện nguồn gốc của nhà Trần, tái hiện nghệ thuật quân sự, luyện tập võ nghệ trong phần hội diễn ra ở đền

Khu dich tích đền Trần Thương là một trong những khu di tích lịch sử có

ý nghĩa quan trọng của tỉnh Hà Nam nói riêng và cả nước nói chung

 Giá trị nghệ thuật

Về nghệ thuật kiến trúc đền Trần Thương, du khách tới đây chắc hẳn sẽ choáng ngợp khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp ngoại cảnh cũng như vẻ đẹp trang nghiêm, tĩnh mịch của ngôi đền này.Khó có nơi nào có được quang cảnh với

hồ sen gần Tam quan ngoại, những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, giếng rùa không bao giờ cạn nước…Du khách sẽ ngỡ ngàng và vô cùng thán phục trước tài nghệ của cha ông ta trong việc xây dựng đền Trần Thương từ Tòa tiền đường đến Tòa thiêu hương

Ngôi Đền chứa đựng giá trị nghệ thuật to lớn, với kiểu kiến trúc độc đáo, những nét chạm khắc tinh xảo rất ít gặp ở những ngôi đền cùng niên đại Nó độc đáo, tinh tế từ việc chọn thế đất, phong thủy tới vị trí mặt bằng đặt ngôi đền, từ chế tác gỗ, xây đắp vữa đều được làm rất công phu và tỷ mỉ, thể hiện

sự tài hoa, khóe léo của ông cha ta

Trang 39

 Giá trị văn hóa tâm linh

Việc bảo tồn di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương có ý nghĩa duy trì

và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Hằng năm, đền Trần Thương lại tổ chức nhiều lễ hội các lễ hội này đã thể hiện một cách sinh động đời sống tâm linh của người dân trong làng Trần Thương rất phong phú và độc đáo Trong cuộc sống họ luôn phải đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, giặc giã, đói kém… Vì thế Hưng Đạo Đại Vương được nhân dân tôn thờ thành biểu tượng thiêng liêng nâng đỡ họ vượt qua khó khăn để hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Trong lễ hội đền Trần Thương có sự đan xen của nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Du khách tham dự lễ hội sẽ dễ dàng cảm nhận được sự đan xen độc đáo đó Đó là sự pha trộn giữa tín ngưỡng vạn vật hữu linh với đạo giáo và phật giáo

 Giá trị về du lịch

Đền Trần Thương được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1986 Đây là một trong ba nơi thờ Đức Thánh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có quy mô lớn nhất trong cả nước Du khách đến với Trần Thương không chỉ chứng kiến không khí vui chơi, linh thiêng trong các dịp lễ hội mà còn được tham quan một công trình kiến trúc đồ sộ, lộng lẫy của ngôi đền

Đến nay, đền Trần Thương đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn du khách thập phương không chỉ vào những ngày lễ hội mà còn cả ngày bình thường trong năm, nhất là những ngày rằm mồng một Bởi ngôi đền có một vị trí rất thuận lợi cho việc nối liền các tour du lịch giữ đền Trần Thương với các điểm du lịch khác trong và ngoài Tỉnh Ngôi Đền cách thành phố Phủ lý 22km

về phía Nam theo tuyến quốc lộ 62, nằm sát bờ sông Hồng, cách cảng Như

Trang 40

Trác 2km, cách đền Bảo Lộc (Nam Định) 20km theo tuyến đê sông hồng về phía Nam, cách đền Lảnh Giang (Duy Tiên) 20km về phía Bắc

Trong huyện Lý Nhân, ngoài đền Trần Thương còn có các di tích khác như: đình Văn Chỉ(Vĩnh Trụ) là di tích lịch sử cấp Quốc gia, đình Văn Xá(xã Đức Lý), khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm