Tìm hiểu lịch sử và hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà chức năng, nhiệm vụ của quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hoá, các đường lối chính sách của Đảng, Nhà nư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHÙA THANH HÀ THÀNH PHỐ THANH HOÁ
TỈNH THANH HOÁ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN VĂN HÓA
Giảng viên hướng dẫn : PGS -TS Phan Văn Tú
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Lớp : Quản lý văn hoá 7C
Niên khóa : 2006- 2010
HÀ NỘI – 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬVĂN HOÁ VÀ TỔNG QUAN VỀ TỈNH THANH HOÁ 10
1.1 Cơ sở khoa học về quản lý di tích sử văn hoá 10
1.1.1 Các khái niệm: Di tích lịch sử văn hoá, quản lý, quản lý văn hóa10 1.1.2 Đường lối của Đảng, Nhà nước và địa phương về các chính sách tôn giáo, quản lý di tích lịch sử và bảo vệ di sản 13
1.2 Tổng quan về Thành phố Thanh Hoá 17
1.2.1 Khái quát về tỉnh Thanh Hoá 17
1.2.2 Vài nét về Thành phố Thanh Hoá 19
1.2.3 Đôi nét về văn hoá con người xứ Thanh 19
1.2.4 Đôi điều về Phật giáo Việt Nam và Phật giáo xứ Thanh 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CHÙA THANH HÀ 24
2.1 Tổng quan về di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà 24
2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của chùa Thanh Hà TP Thanh Hoá tỉnh Thanh Hoá 26
2.1.2 Lễ hội chùa Thanh Hà 32
2.1.3 Vai trò của chùa Thanh Hà trong đời sống tinh thần của cộng đồng tại TP Thanh Hoá -Tỉnh Thanh Hoá 36
2.2 Thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hoá tại chùa Thanh Hà thành phố Thanh Hoá tỉnh Thanh Hoá 41
2.2.1 Nguyên tắc hoạt động của ban quản lý khu di tích 42
2.2.2 Các nguồn lực để duy trì hoạt động 42
2.2.3 Hoạt động tôn giáo và thực trạng những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể tại chùa Thanh Hà 43
Trang 32.3 Những vấn đề còn hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá tại chùa Thanh Hà 49
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHÙA THANH HÀ 51
3.1 Bảo tồn và phát huy giá trị của chùa Thanh Hà trong đời sống cộng đồng dân cư 51
3.1.1 Phương thức bảo tồn 52 3.1.2 Phương thức phát huy 54
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích lịch sử văn hóa chùa Thanh Hà 56 3.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách của Nhà nước về quản lý di tích lịch sử văn hoá 58 3.4 Một số thành quả đã đạt được trong công tác quản lý và phát huy tác dụng di tích lịch sử văn hoá tại Thanh Hoá 60
KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“ Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông”
Hai câu thơ trên quả thực kiệm lời mà chứa nhiều hàm ý, nó như một lời
ca ngợi, lời răn đe dạy bảo hay là lời kêu gọi hãy giữ gìn bản sắc văn hoá mà cha ông đã để lại và chính bản sắc đó sẽ che chở cho tâm hồn mỗi người con yêu tổ quốc
“Ngôi chùa Việt Nam trong nền văn hoá cộng đồng vẫn là một thực thể sống động trước mắt giúp chúng ta rất nhiều trong việc nhận thức bản sắc văn hoá Việt Nam” (GS Hà Văn Tấn)
Vậy từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta, ngôi chùa Việt ra đời bóng chùa đã che mát những gì?
Thứ nhất ta nhận thấy cứ hễ nơi nào có chùa mọc lên thì địa phương đó, quê hương đó được che mát về mặt tâm linh, an bình, phát đạt, những người con của quê hương đó đi ra học tập, làm ăn…sau này thu được thành quả lớn, những người con trong xóm làng cư xử với nhau có tình người hơn
Thứ hai bóng chùa con che mát cho tâm hồn ta, đồng bào ta, trong mỗi con người luôn ẩn hiện những tham lam, ích kỷ, hận thù, người nọ không hợp với người kia, ghanh đua nhau…nhưng chính tiếng chuông chùa, tiếng kinh cầu đã thức tỉnh chúng ta, xoa dịu cái ác để cái tốt hiện hữu, từ đó con người sống với nhau chan hoà, xích lại gần nhau, trao cho nhau những cử chỉ ân cần chân thành và đằm thắm
Thứ ba bóng chùa còn che mát cho tổ tiên ta, không chỉ người sống mà
cả những người đã khuất ông bà, cha mẹ và ngay cả chính bản thân chúng ta sinh ra lớn lên rồi qua đời ngoài việc con cháu thờ cúng ông bà ở nhà, còn “ quy” lên chùa để nương nhờ cửa chùa hằng ngày những linh hồn đã khuất được nghe tiếng tụng kinh gõ mõ sẽ được siêu thoát đến cõi an lạc
Trang 5Nhiều ngôi chùa cộng lại che mát cho quê hương Việt Nam truyền cho ta sức mạnh để vượt qua những biến động của tổ quốc, Phật giáo có một sức mạnh đến lạ kỳ, trong thời bình ngôi chùa che chở cho tâm hồn ta bình an, tu tâm dưỡng tính…nhưng khi đất nước có biến động ví như chiến tranh thì Phật giáo truyền cho nhân dân ta sức mạnh để đứng lên đấu tranh mái chùa che chở cho những chiến sĩ cách mạng, Phật giáo đồng hành cùng dân tộc ở mọi giai đoạn và thăng trầm của đất nước
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc được Đảng và Nhà nước đề cao trong mọi hoạt động văn hoá, việc hiểu rõ về điều này sẽ giúp chúng ta giữ vững truyền thống của cha ông và khẳng định được vị trí của mình trên trường quốc
tế trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới
Văn hoá làng Việt mang đậm nét nhân bản, hồn nhiên, tự nhiên gắn liền với trời đất cỏ cây, sông nước Các công trình công cộng như đình chùa, miếu mạo, trường học… các tượng Thần, tượng Phật, những chú voi, chú nghê, chú ngựa, những hình khối, những đường nét chạm khắc , vừa được thể hiện với một nghệ thuật tinh vi, tượng trưng và cách điệu, lại vừa phản ánh những nếp nghĩ, nếp cảm của một tâm hồn bình dị, hồn nhiên gắn kết với nhau và gắn liền với cuộc sống đời thường
Cùng với những mô típ của kiến trúc đình chùa với những long, li, quy, phượng mang tính kinh điển và chuẩn mực, vẫn thấy cả những sáng tác ở những nơi thâm nghiêm và thiêng liêng những hình ảnh, những cảnh trai gái tình tự trao duyên, hát, múa, đấu vật, thi sắc, thi tài Tất cả đều sum vầy, đoàn
tụ trong sinh hoạt của cả cộng đồng làng vừa thanh bình vừa dân dã
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam trước sau công nguyên một hai thế kỉ, điều này chính là nguồn gốc trực tiếp để ra đời những ngôi chùa Việt
Trang 6Một đặc điềm của Phật giáo là khi truyền đạo đến một đất nước nào thì trở thành Phật giáo có nét riêng của nước đó Sự kết hợp với tín ngưỡng bản địa đã tạo nên sắc diện riêng
Ngôi chùa chính là nơi thể hiện nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng, đó chính là di sản văn hoá của Quốc gia Di sản vật thể về mặt kiến trúc, cảnh quan, di sản phi vật thể với nét tâm linh, tinh thần và tâm hồn
Chùa Việt gắn liền với lịch sử Việt, văn hoá Việt, từ thuở dựng nước và giữ nước Cũng như tất cả các ngôi chùa thờ Phật ở Á Đông ngôi chùa Việt bao giờ cúng hài hoà với thiên nhiên, cây cảnh, tôn tạo thêm “phong cảnh bụt”
Vào thế kỷ 16 – 17, với sự phát triển của đạo Mẫu, chùa Việt phía Bắc, nhiều chùa thờ cả Mẫu
Tiền Phật hậu Thánh Ngôi chùa trở nên tấp nập hơn Không chỉ có Phật
tử, mà “con nhang con khói” nhà Thánh cũng thiện tâm trước lễ tâm niệm Phật sau lễ Thánh
Người Việt vào chùa cầu may nhưng thâm tâm lại tâm niệm tu tại Tâm Tâm thành kính lễ, đi chùa cốt để lòng thanh thản, theo lời Phật dạy giữ chữ Thiện, chữ Tâm, chữ Đức, tránh làm điều ác để khỏi bị tiền oan nghiệp trướng Thắng cảnh thiên nhiên quanh chùa càng tạo cho thế giới tâm linh của con người thêm nhẹ nhàng thanh thoát
Với tinh thần dân tộc - Phật giáo cũng đã nhiệt thành ủng hộ cách mạng đánh đuổi giặc ngoại xâm trong các thời kỳ dựng nước và giữ nước
Nhiều ngôi chùa là cơ sở cách mạng, nhiều nhà sư đã lãnh đạo nhân dân phá kho thóc của Nhật, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mĩ, ở miền Bắc hưởng ứng phong trào “cởi áo cà sa khoác áo chiến bào”, bao nhà sư đã tòng quân đi kháng chiến, bao ngôi chùa có bằng Tổ quốc ghi công, chùa Thanh Hà, Thành phố Thanh Hoá, là một trong những ngôi chùa như thế Mặc dù Phật giáo có những lúc thăng trầm, thậm chí nhiều ngôi chùa đã
bị tháo dỡ… nhưng hiện nay Phật giáo với thiết chế chùa đã khẳng định được
vị trí là một bộ phận của văn hoá vËt dân tộc, cần được bảo tồn và phát huy Vậy làm thế nào để các di tích lịch sử văn hoá trên được quản lý đúng quy cách vµ đảm bảo tính nguyên vẹn, nghiêm trang đồng thời giữ gìn và
Trang 7phát huy những giá trị về mặt tôn giáo gắn vời đời sống văn hoá xã hội dân cư
là điều cần được quan tâm Đó cũng là lý do vì sao em lựa chọn đề tài “Quản
lí di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà, Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá”
Tìm hiểu lịch sử và hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh
Hà (chức năng, nhiệm vụ của quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hoá, các đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về tôn giáo và quản
lý di tích lịch sử văn hoá), phân tích thực tiễn công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá tại chùa Thanh Hà
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý và phát huy giá trị của khu di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà, Thành phố Thanh Hoá
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà
Phạm vi nghiên cứu:
Lịch sử chùa Thanh Hà và vấn đề quản lý di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà như (công trình xây dựng chùa, di vật, tín ngưỡng t©m linh, sinh hoạt văn hoá, lễ hội…) đã và đang tồn tại
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Đối chiếu so sánh, tham khảo các tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Như chúng ta đã biết “Đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt”, số đông làng Việt cổ đều có đình, chùa, miếu mạo Điều này đã trở thành nét văn hoá mang tính đặc trưng của làng quê Việt Nam
Cũng như tất cả các thiết chế trong ngôi làng cổ của người Việt, trong đó
có ngôi chùa - một biểu tượng chung cho thờ Phật ở Á Đông
Ngôi chùa Việt bao giờ cũng hài hoà với thiên nhiên, cây cảnh, trước cau, sau trúc, tại nơi ấy người Việt trước là kính lễ Phật, sau là cầu xin đức Phật phù hộ cho nhân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt, điều lành dến với mọi nhà
Con người ta, mỗi khi đến với ngôi chùa đều cảm thấy trong lòng thanh thản, chính điều đó đã tạo nên sự điều hoà cân đối trong tâm lý nhằm thức dậy
Trong tương lai, với tốc độ phát triển kinh tế xã hội - hệ thống các chùa chiền sẽ là nơi thu hút nhiều khách thập phương đến để du lãm, tìm sự thanh thản bình hoà trong cuộc sống và tâm thức tâm linh
Do vậy, việc tìm hiểu hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà để hiểu rõ hơn về quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước, địa phương đối với các hoạt động tại thiết chế tôn giáo của đạo Phật là ngôi chùa,
để mỗi người đến kính lễ thêm yêu ngôi chùa, góp phần tôn tạo, bảo vệ ngôi chùa thêm đẹp, cũng là bảo vệ những giá trị văn hoá truyền thống, bao gồm văn hoá vật thể và phi vật thể, làm giàu cho bản sắc quê hương Thanh Hoá - vùng đất Tam Vương, Nhị chúa - địa linh, nhân kiệt
Trang 96 Bố cục khoá luận
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hoá và
tổng quan về Thành phố Thanh Hoá
Chương 2: Lịch sử hình thành và thực trạng quản lý di tích lịch sử văn
hoá chùa Thanh Hà, Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Chương 3: Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý và phát huy giá trị của
khu di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà, Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬVĂN HOÁ
VÀ TỔNG QUAN VỀ TỈNH THANH HOÁ
1.1 Cơ sở khoa học về quản lý di tích sử văn hoá
1.1.1 Các khái niệm: Di tích lịch sử văn hoá, quản lý, quản lý văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa: Là công trình xây dựng địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật Quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học
Di sản văn hoá vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử - văn hoá -
khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia
Di sản văn hoá phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử - văn
hoá - khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học - nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Bảo quản di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật Quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch
sử, văn hoá
Tu bổ di tích lịch sử, văn hoá là hoạt động nhằm tu bổ, tu sửa, gia cố, trïng tu, tôn tạo, di tích lịch sử Phục hồi di tích lịch sử, văn hoá đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử, văn hoá
Việc cần làm là bảo vệ các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh trước những tác động xấu của môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội
Trang 11Đảm bảo giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc và các giá trị chân xác của
di tích về các mặt: vị trí, cấu trúc, chất liệu, vật liệu, kỹ thuật truyền thống, chức năng nội thất, ngoại thất, cảnh quan liên quan và các yếu tố khác của di tích nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích Đảm bảo sự hài hoà của
di tích với môi trường cảnh quan xung quanh
Quản lý: theo từ điển tiếng Việt được hiểu theo hai nghĩa: Một là trông
nom, sắp đặt; hai là gìn gữ, theo dõi
Theo cách hiểu của Hán Việt: “quản” là đãnh đạo, “lý” là sự trông nom;
ở phương Tây quản lý được gọi là “management” là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay
Theo điều khiển học khái niệm “quản lý” được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động (diễn biến) của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được những mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã dự kiến, đã đề ra từ trước Vấn đề quản lý
mà chúng ta quan tâm nghiên cứu là quản lý xã hội, quản lý Nhà nước
Theo Các Mác: “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất
xã hội của quá trình lao động” Xét về mặt nguồn gốc, hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công lao động và hợp tác để làm một việc nhằm đạt tới mục tiêu chung
Quản lý là một sự điều tiết cao mang tính xã hội, nó luôn là một hoạt động có hướng đích giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, khiến các hoạt động trong xã hội phải tự giác tuân thủ đi đúng theo những đường hướng mà thể chế, thiết chế vạch ra
Vậy “quản lý là một quá trình đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có; thấy được, thấy đúng cái cần có; biết tìm mọi biện pháp khả thi và tối ưu để từ cái hiện có lên cái cần có”
Quản lý còn là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể (người
tổ chức, tổ chức quản lý) lên khách thể về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương
Trang 12pháp và các biện pháp tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng nhằm đạt mục tiêu đề ra
Nghị quyết TW V đã nêu khái niệm về văn hoá: “Văn hoá là nền tảng tinh thần, là mục tiêu (định hướng) của đời sống xã hội và là động lực để thúc đẩy cho nền kinh tế xã hội phát triển”
Theo đó, quản lý văn hoá còn là sự điều tiết định hướng nền tảng tinh thần của xã hội cộng đồng hướng tới mục tiêu nhất quán, tạo động lực cho sự phát triển của nền kinh tế, xã hội
Vậy quản lý văn hoá phải là sự quản lý cả 3 thành tố:
Thành tựu, con người, và hoạt động Trong đó quản lý con người là chủ chốt
Quản lý văn hoá có thể hiểu “quản lý văn hoá là sự tác động bằng thể chế của Nhà nước để làm chuyển biến từng cá nhân theo chuẩn Chân - Thiện -
Mỹ, nên đó là sự quản lý kết hợp giữa quản lý Nhà nước và tự quản của nhân dân”
“Quản lý văn hoá là sự điều hành của hội đồng văn hoá nghệ thuật theo một quy định thống nhất để đem lại hiệu quả cao nhất tạo cơ hội giới thiệu văn hoá nghệ thuật đến với công chúng thúc đẩy năng lực sáng tạo của nghệ
sỹ và hỗ trợ tiềm năng phát triển văn hoá cũng như sức sáng tạo văn hoá của con người” (các chuyên gia văn hoá Anh)
“Quản lý văn hoá là quản lý hoạt động của các cá nhân, các thiết chế xã hội trên lĩnh vực sản xuất, bảo quản, giao lưu phân phối và tiêu thụ những giá trị văn hoá tinh thần trong điều kiện tốt, tác động mạnh để đem lại hiệu quả cao nhất” (PGS-TS Phan Văn Tú)
Quản lý học là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý học và xã hội học…
Sự thực hành quản lý là một nghệ thuật Bởi vì, để quản lý hữu hiệu, nhà quản lý phải biết linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống cụ
Trang 13thể Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục đich Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong khi làm việc thực tiễn về quản lý
1.1.2 Đường lối của Đảng, Nhà nước và địa phương về các chính sách tôn giáo, quản lý di tích lịch sử và bảo vệ di sản
Nước Việt nam có truyền thống văn hoá lâu đời và là một Quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo Cũng như nhiều nước trên thế giới, mỗi dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt nam có những tin ngưỡng, tôn giáo gắn liền với đời sống kinh tế, văn hoá và xã hội
Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) đến Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ngày nay đều luôn khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các quyền cơ bản của con người
Ở Việt nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo Các tín đồ theo
tôn giáo khác nhau hay không theo tôn giáo nào đều cùng chung sống hài hoà trong cộng đồng các dân tộc Việt nam
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật Đồng thời, khẳng định chủ trương ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân
Tuy nhiên, ở trong và ngoài nước, do thiếu thông tin và do những định kiến nhất định, vẫn có những người chưa hiểu hết và chưa hiểu đúng về tình hình tôn giáo và các chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Trang 14Nhà nước Việt Nam cam kết tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trên thực tế, đồng thời không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh tôn giáo của người dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển, dân chủ, công bằng, văn minh
Là một nước đa tôn giáo nhưng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam nhìn chung đều gắn bó với dân tộc, đồng thời là một nhân tố xã hội và văn hoá tích cực góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc Việt Nam còn là một đất nước rất ôn hoà trong quan hệ giữa các tôn giáo, có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân trong quá trình giữ nước Việc chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không mâu thuẫn
Đặc biệt ở Việt Nam ngày nay, sự hoà thuận giữ các tôn giáo và nhà nước đã thể hiện rất rõ Vì thế, ở Vệt Nam không xảy ra xung đột tôn giáo Đại đoàn kết dân tộc trong đó có đoàn kết các tôn giáo là nguồn sức mạnh và
là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Đối với các thiết chế tôn giáo (chùa, đền, miếu, các cơ sở thờ tự khác ) cần phải thực hiện đúng các tôn chỉ mục đích mà tôn giáo đó đề ra, không cấu kết với các thế lực thù địch làm phương hại đến uy tín của Đảng và Nhà nước Đối với chùa Thanh Hà, đây được xem là một trong những cơ sở thờ tự lớn của tỉnh Thanh Hoá, là trụ sở ban trị sự phật giáo tỉnh, nơi giảng dạy và
hỗ trợ nguồn sư tăng cho các chùa khác trong tỉnh và ngoài tỉnh, cũng là nơi trực tiếp tiếp nhận các chính sách về tôn giáo của địa phương, và của nhà nước
Trang 15Đã có thời kỳ Đảng, Nhà nước, địa phương có cái nhìn chưa khách quan
và đúng đắn về tôn giáo tín ngưỡng Do đó chùa Thanh Hà cũng đã chịu ảnh hưởng chung đó, khuôn viên chùa bị thu hẹp, một số gia đình vào chùa ở, phủ Mẫu trở thành trụ sở hành chính, không có tường rào, ngôi chùa có phần hoang phế
Khi Hoà thượng Thích Thanh Cầm chuyển về, ngài đã sửa sang tượng Phật, ổn định Phật giáo, cho xây vườn tháp, sửa sang phủ Mẫu, xây nhà gia tiên, nhà khách, khu làm việc của văn phòng Ban trị sự, khu sinh hoạt và làm việc của sư tăng, tường rào và sân chùa Từ đấy đã bước đầu đưa đến sự thanh tịnh của chốn thiền môn, tách biệt sinh hoạt của dân và nhà chùa
Dưới sự giúp đỡ của chính quyền, đặc biệt là địa phương – nơi có chùa Thanh Hà – UBND phường Trường Thi, UBND tỉnh Thanh Hoá thì các hoạt động tín ngưỡng của chùa ngày càng phát huy được giá trị về mọi mặt, cơ sở thờ tự ngày càng mở rộng, nhà chùa đã di chuyển được khu tập thể trước phủ Mẫu, Trung tâm y tế dự phòng đã bàn giao lại một phần trụ sở cho chùa Theo Đại đức Thích Tâm Đức trụ trì chùa Thanh Hà cho biết: dự kiến sau năm 2010 sẽ tiến hành di dời khoảng bẩy hộ dân hai bên tả hữu ( tương đương khoảng 700 mét vuông để mở rộng mặt bằng cho chùa, với tinh thần nhà nước và nhân dân cùng làm, chính quyền địa phương hỗ trợ đất tái định
cư, đền bù theo hình thức xã hội hoá, nhà chùa đồng thời vận động nhân dân ủng hộ để mở rộng khuôn viên của chùa, đa dạng các hoạt động, phát huy hiệu quả tôn giáo luôn gắn với đời sống xã hội, đưa chùa Thanh Hà xứng tầm
là trụ sở phật giáo của tỉnh Thanh Hóa
Di tích lịch sử văn hoá là tài sản Quốc gia nên hoạt động bảo tồn di tích trước tiên mang tính chất Nhà nước
Thời đại ngày nay, việc bảo vệ các di tích, di sản văn hoá không chỉ là một vấn đề được đặt ra trong khuôn khổ của Quốc gia, một dân tộc mà còn mang tính toàn cầu
Trang 16Theo Nghị quyết TW V (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc văn hoá và di sản văn hoá đã được đẩy lên một tầm cao mới “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá”
“Hết sức coi trong việc bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể”, “di tích lịch sử văn hoá là danh lam thắng cảnh, là tài sản có giá trị trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc Việt nam”
Có thể khẳng định rằng với chủ trương và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước thông qua việc đầu tư ngân sách chống xuống cấp các di tích và phát huy tác dụng các di tích sự nghiệp bảo tồn di sản văn hoá đã và đang đạt được những thành tựu đáng tự hào, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc
Trong thời đại ngày nay, việc bảo tồn các di sản văn hoá đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, các di tích lịch sử văn hoá được xem xét như là nhân tố hợp thành của văn hóa dân tộc, trong điều kiện văn hoá đã trở thành cốt lõi của quá trình giao lưu và hội nhập Quốc tế
Di sản văn hoá Việt nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Cần chú trọng phát huy giá trị di sản văn hoá đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá Thế giới
Chúng ta cần phân biệt rõ quyền quản lý Nhà nước và quyền được sử dụng và khai thác di tích phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hoá lµnh mạnh Mọi công dân, các cơ quan nhà nước tổ chức xã hội có quyền sử dụng di tích vào mục đích văn hoá nhưng đồng thời có nghĩa vụ tham gia bảo vệ di
Trang 17tích Các di tích lịch sử văn hoá được xem xét như là nhân tố hợp thành của
văn hoá dân tộc, khi văn hoá đã trở thành cốt lõi của quá trình giao lưu và hoà nhập quốc tế thì công tác bảo tồn di tích có tầm quan trọng không chỉ là vấn
đề đặt ra trong khuôn khổ một nước, một quốc gia mà có tính chất toàn cầu
1.2 Tổng quan về Thành phố Thanh Hoá
1.2.1 Khái quát về tỉnh Thanh Hoá
Thanh Hoá là một trong những tỉnh lớn nhất của Việt Nam, nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ
Phía Bắc Thanh Hoá giáp Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, phía Nam giáp Nghệ An, phía Đông giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 102 km, phía Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào với đường biên giới dài 192 km Phần đất liền của Thanh Hoá chạy dài theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Điểm cực Bắc ở xã Trung Sơn, phía Tây Bắc huyện Quan Hoá (giáp tỉnh Hoà Bình), nằm ở vĩ độ 200o
40’ Bắc; điểm cực Tây là núi Pho Long xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát (giáp Lào), nằm trên kinh tuyến 1040o
22’ Đông; điểm cực Đông là xã Nga Điền huyện Nga Sơn (giáp Ninh Bình), nằm trên kinh tuyến 1060o
05’ Đông
Thanh Hoá có tổng diện tích vùng đất nổi rộng 11.168 km2
và một thềm lục địa rộng 18.000 km2 Chiều rộng hướng Bắc Nam gần 100 km (đo theo đường thẳng gần bờ biển)
Với hệ thống giao thông thuận lợi, trong đó đường bộ có 6 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 800km, đường sắt Bắc Nam dài 92km Ngoài ra, 102 km
bờ biển của Thanh Hoá với 6 cửa sông lớn từ đất liền đổ ra và hệ thống núi đá ven biển đều là những vị trí chiến lược quan trọng mà mỗi cửa sông, mỗi ngọn núi đều là một địa danh, một pháo đài tự nhiên trấn giữ vùng biển xứ Thanh qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước
Ngày nay, vẫn còn dấu tích của cha ông khi xưa trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước để lại và đi vào lịch sử trở thành những ngày kỷ
Trang 18niệm trọng đại của đất nước, ví dụ như sông Mã, cầu Hàm Rồng, núi Ngọc, đồi C4, lạch Trường, lạch Bạng…
Đặc biệt, cảng biển nước sâu Nghi Sơn có thể tiếp nhận tàu trọng tải lớn công xuất xếp dỡ 15 – 20 triệu tấn / năm, cảng chuyên dùng xi măng cho phéo tàu có trọng tải lớn 35.000 tấn cập cảng
Khí hậu Thanh Hoá vừa mang đặc điểm của vùng khí hậu Bắc Bộ với một mùa đông (tuy ngắn) lạnh và khô, vừa mang những tính chất riêng của khí hậu Trung Bộ, mùa mưa muộn hơn những nơi khác và bão muộn hơn Bắc
Bộ, đồng thời Thanh Hoá còn có những ngày khô nóng do chịu ảnh hưởng giã phơn Tây Nam thổi từ Lào sang
Nhìn chung, khí hậu Thanh Hoá có tính chất chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, nhiệt độ trung bình từ 200
C - 240C, lượng mưa trung bình 1600 –
2000 mm/năm
Địa hình đa dạng, từ vùng núi tương đối cao đến vùng đồi trung du, đồng bằng, đồng chiêm trũng, đến bãi bồi, ruộng vùng ven biển, các đảo ven bờ và ngoài khơi Địa hình Thanh Hoá có đồi núi chiếm 3/4 diện tích cả tỉnh
Khoáng sản có trữ lượng, chất lượng tốt là đá vôi, sô đa, bột nhẹ, đá xây dựng, đá macma, đá granit, cao lanh, cát thuỷ tinh, phụ gia sản xuất xi măng,
mỏ Cromit (duy nhất ở Việt Nam), kẽm, vàng và nhiều loại nước khoáng thiên nhiên Lâm sản như tre, nứa, luồng, rừng bạch đàn, keo, thông nhựa, quế…
Thanh Hoá là vùng đất có từ lâu đời, một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam Ngay từ thời tiền sử vùng đất này đã có người sinh sống, qua những công cụ thô sơ trong những xưởng chế tác đá công cụ ở núi Đọ (Thanh Hoá) cho thấy người tiền sử đã sinh sống trên vùng đất này từ thời đại đồ đá
cũ, phát triển hơn nữa là nền văn hoá Đông Sơn với trống đồng, đồ đồng tinh xảo nổi tiếng khắp thế giới
Mặt khác, Thanh Hoá còn có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả trong lĩnh vực quân sự lẫn kinh tế Vì vậy, vùng đất này là nơi phát tích của
Trang 19nhiều triều đại phong kiến Việt Nam với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Theo những kỳ tích nêu trên - Thanh Hoá được ví như hình ảnh thu nhỏ của Việt Nam, theo lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là mảnh đất
“địa linh nhân kiệt, đất đai màu mỡ, phì nhiêu…”
1.2.2 Vài nét về Thành phố Thanh Hoá
Thành phố Thanh Hoá là trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Thanh Hoá, phía Bắc giáp huyện Hoằng Hoá, phía Nam giáp huyện Quảng Xương, phía Tây giáp huyện Đông Sơn, phía Đông giáp với thị xã Sầm Sơn
Năm 1994 - Để phát huy, nâng cao vai trò vị thế của tỉnh lỵ, của một tỉnh thuộc hàng lớn nhất nước, ngày 01/5/1994 Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định số 37/CP nâng cấp thị xã Thanh Hoá lên Thành Phố với dân số gần 20 vạn người
Thị xã Thanh Hoá trở thành Thành phố, Thành phố Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 57,8km2, 18 phường xã, với tốc độ tăng GDP 20% trong giai đoạn 2006 - 2010 GDP trên đầu người năm 2007 đạt 1.460 USD
Hệ thống đô thị Thanh Hoá hình thành từ lâu đời có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, thành phố Thanh Hoá là đô thị trẻ, nằm bên bờ sông
Mã, có vị trí, cảnh quan sinh thái rất thuận lợi, khí hậu ôn hoà
Quốc lộ 1A xuyên Việt chạy qua Trung tâm thành phố dài hơn 1km, cảng Lễ Môn, Sầm Sơn ở phía Đông, đường sắt Bắc Nam ở phía Tây tạo thành một mạng lưới giao thông đa dạng và thuận tiện, nhờ đó Thành phố Thanh Hoá đã trở thành trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh Thanh Hoá Thanh Hoá hiện nay là đô thị loại 2 phát triển ở Bắc Trung Bộ, và địa phương này đang có kế hoạch phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu để trở thành đô thị loại 1- Thành phố trực thuộc tỉnh
1.2.3 Đôi nét về văn hoá con người xứ Thanh
Trang 20Thanh Hoá là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ với trống đồng Đông Sơn là di vật độc đáo của nền văn hoá này
Nơi đây đã cung cấp cho đất nước biết bao danh nhân văn hoá và anh hùng dân tộc, nơi phát tích của các triều tiền Lê, hậu Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh, chúa Nguyễn mà dấu ấn còn ghi lại ở các vùng quê với các đền đài, miếu, mộ, lăng tẩm, thành quách Hiếm có vùng đất nào lại sinh ra “ba dòng vua”, “hai dòng chúa” như ở Xứ Thanh
Thanh Hoá cũng là địa phương có nhiều dân tộc ít người cư trú, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng Hò sông Mã là một làn điệu dân ca đặc trưng mang đậm sắc thái của vùng đất thuộc bờ Bắc Sông Mã ( Hà Trung ngày nay), ngoài ra còn dân ca Đông Anh nổi tiếng mang dấu ấn của một Xứ
Hệ thống Lễ hội dày đặc, trong đó tiêu biểu là: Lễ hội Lam Kinh, Lễ hội
Lê Hoàn, Lễ hội đền Bà Triệu, Lễ hội đền Dương Sơn, Lễ hội đền Sòng, Lễ hội Cầu Ngư, Lễ hội Quang Trung, và các lễ hội của đồng bào miền núi Thanh Hoá như: Lễ hội Khai Hạ, Lễ hội Mừng Cơm Mới, Lễ hội Mường Xia,
Lễ hội Mường Khô
Các di tích lịch sử văn hoá: Di tích Đông Sơn, đền Bà Triệu, đền vua Lê Đại Hành, thành Nhà Hồ, di tích Lam Kinh, lăng Lê Thái Tổ, bia Vĩnh Lăng, đền Độc Cước, đền Cô Tiên, di tích Đa Bút, khu di tích Hàm Rồng, chiến khu Ngọc Trạo
Các danh thắng: Bãi biển Sầm Sơn, bãi biển Hải Hoà, Hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, vườn quốc gia Bến En, sông Mã (núi Rồng - núi Ngọc), làng Nhồi (chạm khắc đá), Lò Chum, Bến Ngự
Đến các món đặc sản như: Nem chua (đặc sản Hạc Thành), bánh Răng Bừa, canh Đắng, cá mè sông Mực, cơm Lam, rượu nếp Cẩm, hến Giàng Ngày nay, nhân dân Thanh Hoá đã và đang phát huy vốn văn hoá truyền thống của mình, ra sức xây dựng quê hương giàu mạnh, đồng thời cũng không quên giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống của địa phương
Trang 211.2.4 Đôi điều về Phật giáo Việt Nam và Phật giáo xứ Thanh
Ngay từ những năm đầu công nguyên đạo Phật du nhập vào Việt Nam bằng con đường hoà bình đã được dân tộc chấp nhận và hoà đồng trong tinh thần dân tộc Phật giáo trở thành một bộ phận của văn hoá Việt Nam
Thời Lý - Trần, Phật giáo trở thành quốc giáo Chư vị Quốc sư đã đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Thời ấy quá bán dân số cả nước là tu sĩ, đại đa số từ vua quan đến thứ dân là Phật tử Sự ra đười của Thiền phái Trúc Lâm và vua Trần Nhân Tông là sơ tổ cho ý nghĩa lớn lao: Việt Nam đã xây dựng cho mình một giáo phái Phật giáo riêng Điều này Phật giáo thế giới rất khâm phục
Có thời kỳ thực hiện triệt để tiêu thổ kháng chiến, bao mái chùa và tượng Phật, các nhà sư và Phật tử đã tự nguyện tháo dỡ (điều này không thể có ở các tông giáo khác ) Các nhà sư và Phật tử ở miền Nam đã từng biểu tình tuyệt thực, tự thiêu phản đối chính sách độc tài của Mỹ Diệm và tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu, phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm Như vậy Phật giáo Việt Nam đã hoà cùng dân tộc không tiếc máu xương,
cơ sở thờ tự, tất cả vì độc lập tự do và Chủ Nghĩa Xã Hội
Hoà bình trở lại, Phật giáo Việt Nam lại trở về với bổn phận của mình sống tốt đời đẹp đạo đem giáo lý từ bi của đức Phật reo rắc tình thương đến muôn loài
Mặc dù trong bất kỳ tổ chức nào, tôn giáo nào cũng không tránh khỏi hiện tượng “con sâu bỏ rầu nồi canh”, nhưng những giá trị tốt đẹp và sự đóng góp của Phật giáo với cách mạng, thêm một lần khẳng định Phật giáo sống trong lòng dân tộc
Khi đạo Phật vào Thanh Hoá, đây chính là mảnh đất màu mỡ để Phật giáo phát triển Đến thời Lý, Trần thì đạo Phật đã phát triển rộng khắp ở các miền trung du, đồng bằng Thanh Hoá Đồng thời Thanh Hoá cũng là quê hương của hai vị thiền sư nổi tiếng đó là:
Trang 22Khuông Việt Đại sư, tên thật là Ngô Chân Lưu, người huyện Thường Lạc nay là huyện Tĩnh Gia Thiền sư Khuông Việt là người có công lao to lớn đối với triều đình Đinh - Tiền Lê, được vua ban hiệu Khuông Việt Đại sư và được coi trọng như một vị Quốc sư
Thiền sư Đạo Dung, tên thật là Lê Chính, người làng Phủ Lý, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá Thiền sư Đạo Dung là người đã phò giúp triều đình nhà Lý và có những đóng góp to lớn đối với Phật giáo và đất nước dưới triều vua Lý Nhân Tông
Sự phát triển của phật giáo Thanh Hoá đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch
sử dân tộc Nhiều ngôi chùa nổi tiếng từ thời Lý, Trần vẫn còn tồn tại đến ngày nay Mặt khác, do ở vào vị trí địa lý khắc nghiệt, chiến tranh thường xuyên xảy ra, đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều chùa chiền ở Thanh Hoá đã bị phá huỷ nghiêm trọng
Có những thời kỳ nhà chùa chỉ còn chư Hoà thượng, Thượng toạ cao niên, Ni sư, Ni trưởng ở lại chùa Tăng – Ni trẻ đều tham gia nhập ngũ, các nhà chùa là cơ sở cách mạng, là trạm cứu chữa thương bệnh binh như chùa Nam Ngạn nơi gắn liền với địa danh Hàm Rồng - Nam Ngạn, là ga tàu trạm như chùa Đông Tác…và thời kỳ tiêu thổ kháng chiến, nhiều ngôi chùa cũng
đã lặng lẽ hi sinh vì lợi ích quốc gia, dân tộc
Hoà bình lập lại, cả tỉnh chỉ còn hơn chục vị sư già và chục ngôi chùa Được sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương, chính sách tôn giáo của chính phủ và giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng với sự nhiệt thành ủng hộ, đóng góp của phật tử, những ngôi chùa bị tàn phá do chiến tranh cũng dần được trùng tu đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân Chư tăng cũng đông dần, được đào tạo chính quy ở Viện Phật học và các trường Trung cấp Phật giáo bước đầu đáp ứng phần nào phong trào học Phật và hướng dẫn tín đồ Phật tử đi đúng tôn chỉ của Phật giáo Việt Nam
Bước sang thời kỳ đổi mới, nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân ngày càng tăng, đặc biệt đối với Thanh Hoá là địa phương có bề dày truyền
Trang 23thống văn hoá và truyền thống tôn giáo, là duyên cơ để đạo Phật phục hưng
và phát triển mạnh mẽ
Số người theo đạo Phật và trở lại với đạo Phật ngày càng đông, chùa chiền được sửa sang, xây dựng không ngừng tăng lên Nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu truyền thống Phật giáo địa phương trở thành nhu cầu bức xúc của đông đảo tín đồ phật tử
Thời đại ngày nay, khuynh hướng du lịch của người nước ngoài đến Việt Nam không phải là di lịch nghỉ mát hay chữa bệnh nữa mà là du lịch khám phá văn hoá, tìm hiểu phong tục tập quán, thưởng thức nghệ thuật nơi Di tích lịch sử văn hoá
Trang 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ
CHÙA THANH HÀ
2.1 Tổng quan về di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà
Theo khảo tả của bảo tàng tổng hợp Thanh Hoá (1996): Lý lịch di tích chùa Thanh Hà và thực trạng hiện nay thì tổng quan di tích chùa như sau: Diện tích chùa 2.392m2
(có ký hiệu là 70/2392 XDCB - bảo đồ phường Trường Thi - năm 1995) Chưa cộng diện tích khu đất xây dựng văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh
Chùa Thanh Hà được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh theo quyết định số 224 ngày 18/7/1998 của sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thanh Hoá Cổng chùa (Tam quan) là công trình kiến trúc theo kiểu chồng diêm 3 tầng, các đầu dao uốn cong, trông bề thế vững chãi Cửa chính rộng 3m, cao 3,65m, hai cửa bên mỗi cửa rộng 1,4m, cao 2,2m
Bước qua Tam quan vào sân chùa thứ nhất (tiền đường) là không gian thoáng đãng bởi những bóng cây cổ thụ xen lẫn cây cảnh, cách Tam quan gần 3m là tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên bệ nhìn phía trước, xung quanh có ghế đá Ganitô giµnh cho các bản hội và khách thập phương ngồi nghỉ, ngắm cảnh chùa.Tiếp theo là đi vào sân chùa thứ hai (trung đường) rộng khoảng 15m.Sau cùng đến chùa chính
Nhà chính điện mở hai cửa đi về hai bên, cửa phía tây theo hành lang vào nhà Tổ, cửa phía đông đi ra nhà Hậu, (nơi quy y của các dòng họ tín đồ phật tử) Theo hành lang phía Đông là đền thờ Mẫu
Ngoài ra khu phía Tây sân chùa là khu thánh địa Phật giáo (khu tháp):
An trí thứ tự tổ khai sáng dòng Lâm Tế Phật giáo Thanh Hoá - Hoà thượng Thích Minh Lãng (năm 2000 mới chuyển từ Quảng Hoá về); tháp vọng Hoà thượng khai sáng chùa Thanh Hà - Thích Thanh Trình, tháp vọng Hoà thượng Thích Thanh Cầm khai sáng chùa Gia Đầu - Hoằng Phượng - Hoằng Hoá là vị
Trang 25Tổ trụ trì thứ hai ở chùa Thanh Hà; âm phần nhục thân của Hoà thượng Thích Thanh Cầm
Nhà chính điện: Ngôi chùa chính, kết cấu theo hình chữ Đinh (I) gồm nhà tiền đường 5 gian (dài 15m rộng 7,2m), gian giữa rộng 3,05m,gian bên rộng 2,72m, gian ngoài cùng rộng 2,5m Khoảng cách từ cột cái đến cột cái là 4,55m Từ cột cái ra cột hiên trước là 1,95m Các cột hiên hình vuông đều làm
từ núi đá Nhồi Trên cột đều có khắc câu đối Bờ nóc trang trí đầu rồng hoá
Về bài trí trong nhà tiền đường: giáp hai bên gian giữa với hai gian trong
là hai tượng Hộ Pháp được đắp bằng xi măng Pho Khuyến Thiện mặt trắng hiền lành, pho Trừng Ác mặt đỏ dữ tợn Nhìn chung, mang nghệ thuật biểu tượng tượng trưng Cả hai pho đều đội mũ kim khôi, đắp nổi hình rồng và hoa
lá nhỏ Thân tượng bệ vệ oai phong mạnh mẽ
Hai gian ngoài là ban thờ, gian phía hữu là Ban tượng thờ Đức Ông Theo thuyết của đạo phật, Đức Ông là ngài Cấp Cô Độc tên chính là Tu Đạt
Đa ( Sudatta), một ông trưởng giả giàu có Ông đã mua vườn lập tịnh xác rước Phật về thuyết pháp, và cũng là nơi để tín đồ kêu cầu, bán khoán cho trẻ nhỏ từ lúc sơ sinh đến lúc 12 tuổi thì chuộc về Trong khu vườn này, ông đều
lo trách nhiệm cung cấp và trông coi mọi tiện nghi vật dụng Sau này ông được Phật cho làm thần bảo vệ tài sản nhà chùa
Gian chính điện, điện thờ bốn cấp nhưng được xếp nhiều lớp tượng: cấp trên cùng là ba pho tượng Phật Tam Thế ( Phật quá khứ, hiện tại và vị lai ) ý nghĩa của Tượng Phật Tam Thế là Pháp Thân chân thật đẹp đẽ của Đức Phật
ở ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai tồn tại vĩnh hằng không bị lệ thuộc vào hình, danh, sắc, tướng của thế giới hữu hình, không lệ thuộc vào không gian, thời gian
Tiếp đến là ba pho tượng Tam Tôn, lớp thứ ba là Phật Thích Ca Mâu Ni
giáo chủ, lớp tượng thứ tư ở chùa Thanh Hà là hai pho tượng Phật Bà Quan
Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, lớp tượng cuối cùng là toà Cửu Long ở chùa Thanh Hà chỉ có Thích ca sơ sinh mặc áo đóng, khuôn mặt trẻ trung đứng với
Trang 26tư thế giảng pháp, hình dáng Phật chứa chất sức sống khởi nguyên trong sáng
và tươi trẻ, không có gì khó hiểu Hình dáng Phật giáng sinh qua cái nhìn của người Việt, đó vừa là đấng cao viễn, vừa gần gũi Xuất hiện trần thế là trẻ nhỏ nhưng lại thấm đượm Phật Pháp Với tay trái chỉ lên trời tay phải chỉ xuống đất, biểu hiện sự phù hợp âm dương Vẻ ngoài ấy toát lên tinh thần của cái tâm cao quý Dưới điện thờ là bệ ngồi của sư tụng kinh
Nhà tổ còn gọi là nhà Hậu đường hay Tăng đường thờ Tăng Tổ và Sư Tổ
đã tu tại chùa, và Đền thờ Mẫu
2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của chùa Thanh Hà
TP Thanh Hoá tỉnh Thanh Hoá
Trong những cơ sở thờ tự của Phật giáo ở các địa phương, chùa Thanh
Hà được xây dựng khá bề thế, có lịch sử lâu đời, lại được xây dựng trên một địa điểm quần tụ dân cư đông đúc, thuộc trung tâm tỉnh lỵ Thanh Hoá, nên có thể coi đây là một ngôi chùa đáng chú ý của Xứ Thanh
Du khách, tín đồ phật tử từ đường Quốc lộ 1A qua ngã tư Bắc thành phố Thanh Hoá, rẽ sang đường Trường Thi, đến ngã Ba Bia về đường Bến Ngự, nhìn phía bên trái thấp thoáng sau hàng cây xanh là cổng Tam Quan có gác chuông uy nghi thâm nghiêm Đó là chùa Thanh Hà, hiện nay là trụ sở Ban trị
sự phật giáo tỉnh Thanh Hoá
Về lịch sử hình thành chùa Thanh Hà, ngôi chùa toạ lạc trên đường Bến Ngự, thuộc phường Trường Thi, một vùng đất văn hoá – cách mạng có nhiều thắng tích của tỉnh Thanh Xa xưa thuộc làng Đức Thọ, nơi quần cư của những người dân đánh cá bên sông, còn có tên là Đức Thọ Vạn Ở đây có chất đất làm nghề gốm tốt, nên sớm hình thành làng nghề gốm nổi tiếng của Thanh Hoá
Thần tích của làng ghi lại: Tổ của làng nghề là họ Nguyễn huý Phúc Khởi và họ Vũ Đình huý Đức, hai ông đều là nguời làng Thổ Hà (huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam), các ông đem một số thân nhân vào định cư chọn đất tốt truyền nghề cho người nội tộc Sau khi mất, các ông được dân làng Đức Thọ
Trang 27Vạn lập đền thờ và tôn làm thần Tổ Đến thời Nguyễn, hai ngài đều có sắc phong và thờ chung một đền
Từ làng nghề đánh cá chuyển sang làng nghề sản xuất đồ sành sứ Nổi tiếng cả nước là nghề sứ có lớp men rạn chân chim để làm đồ gốm giả cổ, và
đồ sành chum vại, tiểu sành, máng lợn, cối sành Đồ sành là đặc sản được khách ưa chuộng vì chất đất dai mịn, kỹ thuật nung đến độ sành không bị cong vênh quá lửa, gõ vào có tiếng kêu thanh Bạn hàng cập bến chở đi khắp nước
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sản xuất và kinh doanh đã thu hút nhân công lao động, tạo cho vùng đất này trở nên sầm uất, nhân công lao động sống dọc theo sông Bến Ngự Dân sống dọc theo kênh đào tạo nên dãy phố chuyên bày bán chum vại có lẽ vì điều này nên nhân dân đặt tên là phố Lò Chum
Phía Tây chùa Thanh Hà là trường thi Hương của Thanh Hoá, di tích còn lại của nơi mà một thời tấp nập hội tụ kẻ sĩ thi thố tài năng là nhà bia do Pháp rời ra theo đề nghị của Chính phủ Nam triều Nơi con sông đào đã được các vua Thiệu Trị, Khải Định, Bảo Đại ngự thuyền rồng, có bến vua lên, nhân dân đặt tên là Bến Ngự
Về giai đoạn sau này - thời mặt trận Bình Dân (1936-1939) phố Lò Chum là nơi hoạt động cách mạng sôi nổi Năm 1938, nơi đây ra đời lớp học truyền bá chữ Quốc ngữ thu hút hàng trăm bà con thợ thuyền ở Lò Chum tham gia Những nhà cách mạng tiền bối của Thanh Hoá không ai là không đặt chân đến vùng đất Lò Chum, vùng đất tập trung nhiều nhà cần lao Trường College tư thục Lò Chum, là nơi các nhà cách mạng và là thầy giáo như: Bùi Kính Thăng, Lê Hữu Kiều, Nguyễn Tú Uyên… đã tổ chức nhóm Mác xít và truyền bá tư tưởng cách mạng cho học sinh
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp Chuông chùa Thanh Hà đã ngân vang cùng lực lượng quần chúng cách mạng xuất phát từ phía Lò Chum, biểu tình tuần hành từ 8giờ sáng ngày 19/8/1945 tràn vào dinh tỉnh trưởng bắt y
Trang 28phải đầu hàng cách mạng, và rồi đoàn người phật tử và nhân dân Lò Chum lại toả về thu dọn đường phố chào đòn Uỷ ban cách mạng lâm thời ra mắt vào chiều 20/8/1945
Những ai đã từng sống, đã đến với nơi đây và ra đi, khi trở lại không khỏi bùi ngùi da diết nhớ một thời đã qua và bao biến cải thăng trầm của lịch
sử của đời sống xã hội, dù cho cảnh vật hay con người có khác xưa, chỉ có ngôi chùa và cổng Tam quan là không đổi khác, nó như một chứng tích của quá khứ gợi nhớ thương với bao nỗi vui buồn với những cái tên thuần hậu mà rất đỗi thân thương: Đức Thọ - Thanh Hà - Lò Chum - Bến Ngự
Chùa Thanh Hà xây dựng năm nào? hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào ghi
rõ cụ thể Song theo sách Chùa Xứ Thanh ( tư liệu tham khảo sách Thần phổ
cổ lục và Thần tích Thanh Hoá do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính tu soạn vào thời Lê Trung Hưng) có ghi: Vua Trần Thái Tông (1226 – 1258) đưa quân đi chinh phạt Chiêm Thành quấy nhiễu Đại Việt Đến Thanh Hoa gặp gió bão, nhà vua thắp hương cầu trời đất:
“Đế xuất chinh phạt Chiêm
Hành hải đáo Lê Giang Ngộ phong vũ hối minh Ngụ tại Thanh Hà tự
Đế phần hương khấn thiên
Tự lục sự hữu trách Dung bất dịch, chi thiên hạ Đặc thiên địa độ trì.”
Sau lễ Phật, gió mưa im bặt trời đất phong quang, mới hay điều cầu khấn
đã thành hiện thực Người đời cho kỳ lạ linh thiêng hợp ý trời, cuộc chinh phạt Chiêm Thành giành thắng lợi Nhà vua đến Thăng Long xuống chiếu sửa lại chùa Qua tư liệu trên ta thấy trước thời Trần đã có chùa Thanh Hà
Trang 29Đến thời Nguyễn, Hoàng tử Bửu Lân lên ngôi Hoàng đế ( 1889) lấy niên hiệu Thành Thái, vua ban sắc chỉ cho các nơi tôn tạo đền chùa và thờ cùng theo lệ cũ, trong đó có chùa Thanh Hà
Chùa Thanh Hà khởi công trùng tu và đúc chuông Tri huyện Đông Sơn tích cực đôn đốc công việc Tri huyện Cẩm Thuỷ cấp giấy và vận chuyển gỗ
về sửa chữa Việc trùng tu được làng Đức Thọ và khách thập phương đóng góp tiền của Chùa Thanh Hà lại to đẹp hơn xưa
Chùa Thanh Hà hiện nay là ngôi chùa lớn của tỉnh Thanh Hoá khởi
nguyên là ngôi chùa làng ra đời gần như đồng thời với Đức Thọ Vạn
Theo cụ Nguyễn Trọng Kỳ (người làng Đức Thọ) cho biết: vị trí trước kia ở khu tiếp khách của Hội Phật giáo, hồi ấy chỉ có ba gian nhà gỗ theo kiểu
cổ, trong có ba hương án sơn son thiếp vàng và mấy pho tượng phật rất cũ Khuôn viên của chùa bằng phẳng, rộng và không có tường rào không có thầy chùa, hồi ấy có một bà già tên là bà Ký quê gốc ở tận Nam Định sống độc thân, tha phương cầu thực dân làng cho bà ở đấy để trông coi quét dọn và làng cấp gạo tiền để bà không phải mưu sinh bằng nghề hành khất
Bên cạnh ba gian nhà chùa có ba gian nhà thờ tổ, ở bên trái có bốn gian nhà ngang, đằng sau có ba gian nhà gỗ và hai gian nhà bếp Phía trước nhà tổ bên trái có một cây sung cổ thụ và một cây nhãn, giữa có một cái giếng xây bằng vại Lò Chum (nay vẫn còn)
Trong chùa còn một quả chuông có ghi rõ việc đúc chuông chùa Thanh
Hà, chuông đúc vào triều vua Thành Thái năm đầu - Kỷ Sửu ngày 10 tháng 9
(1889) Nội dung: “Thanh Hoá tỉnh, Thiệu Hoá phủ, Bố Đức tổng, Đức Thọ
Vạn, đồng giáp trên dưới góp sức tạo một quả chuông lớn Trưởng chòm: Thợ
cả là Nguyễn Văn Trí, Hội trưởng chủ sự là Nguyễn Văn Thạch”
Tuy nhiên, về sau này ngôi chùa càng bị hoang phế vì không có người
trông nom hương khói
Vào năm 1933, hội đồng hương lý trong làng xin cụ Nguyễn Văn Phú (cụ rất mộ phật và hiểu biết nho học trong làng) cho hai con là Nguyễn Thúc
Trang 30Huỳnh và Nguyễn Trọng Kỳ ra đèn hương và tụng lễ kính bái trong những ngày tuần
Bảo Đại năm thứ 10 (1935), dân làng thống nhất trùng tu lại chùa (năm trùng tu còn ghi ở bia hậu) Chùa Thanh Hà do dân làng Đức Thọ góp công của làm nên và cũng được quan tri huyện Cẩm Thuỷ sắc thụ Văn Lâm Lang Mai Quý công tự Xuân Hoà (thường gọi là quan huyện Hoành) hăng hái xúc tiến cầu xin quan sở tại cho xây chùa, hiện nay tượng quan huyện đang được thờ tại chùa, làng nhờ cụ Nguyễn Văn Phú ra giúp và thỉnh sư tổ chùa Hương
Dự tỉnh Ninh Bình xin cho sư đệ vào giúp kế hoạch xây dựng kiểu mẫu hợp thể thức nhà chùa
Theo bà Lê Thị Dục ( nguyên là uỷ viên Uỷ ban thị xã Thanh Hoá phụ trách văn xã, cũng là người làng Đức Thọ) cho biết:
“Thời gian làm chùa, dân Đức Thọ Vạn góp nhiều công của, trong đó có những người đóng góp nhiều và rất nhiệt tâm với công việc nhà chùa Ban phụ trách thống nhất chọn thợ mộc, thợ ngoã giỏi ở đất thợ nổi tiếng của Thanh Hoá để xây dựng chùa Đó là thợ mộc làng Đạt Tài (xã Hoằng Hà, huyện Hoằng Hoá) do ông phó Tẽo và phó Bân phụ trách, toàn bộ công trình thi công hơn một năm mới hoàn thành”
Đến giai đoạn đất nước gặp nạn chiến tranh, và do thời gian nhiều chùa quanh TP Thanh Hoá ngày nay bị tàn phá và hư hỏng, một bộ phận thực hiện tiêu thổ kháng chiến, nhân dân đã thỉnh tượng và đưa đồ thờ cùng ở các chùa, phủ ấy về quy tụ ở chùa Thanh Hà
Khuôn viên chùa Thanh Hà cũng bị thu hẹp lại, một số gia đình vào chùa
ở, tiểu khu Điện Biên mượn phủ Mẫu làm trụ sở hành chính, không có tường rào, ngôi chùa có phần hoang phế, khi Hoà Thượng Thích Thanh Cầm chuyển
về ngài đã sửa sang tượng Phật, ổn định Phật giáo cho xây vườn tháp, tôn tạo Phủ Mẫu
Theo lời của nhân dân nơi đây truyền tụng nhau cho đến bây giờ thời ấy
cụ thường nói một câu: “Đất của nhà nước, chùa của dân, Tăng quản lý”
Trang 31Năm 1994 Hoà Thượng viên tịch, Đại Đức Thích Tâm Đức khi ấy còn là SaDi (sư bác) tiếp nhận trụ trì
Được sự giúp đỡ của các sư đệ như Đại Đức Thích Tâm Minh, Đại Đức Thích Tâm Định, Thích Tâm Hiền…cùng các ban ngành chính quyền, Ban Trị sự Phật giáo và đông đảo tín đồ phật tử ông đã vận động các gia đình trong chùa chuyển ra nơi khác, sửa chữa nhà Tổ, Phủ Mẫu, nhà Gia tiên, từ đấy đã bước đầu đưa đến sự thanh tịnh của chốn thiền môn
Vậy có thể sơ lược tiểu sử sư trụ trì chùa Thanh Hà như sau:
Thứ nhất là Hoà thượng Thích Thanh Trình: Hoà thượng họ Đinh, quê ở Mai Hoa ( thôn Yên Ninh, xã Khánh Ninh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình ) Ngài xuất gia tại chùa Hương Dự ( Hương Tích Tự ) ở Khánh Hội – Kim Sơn – Ninh Bình Đây là chốn tổ vệ Theo văn bia tháp tại chùa Thanh Hà có ghi “ Thanh Bình tháp Lâm Tế môn nhân – Mai Hoa chính quán, Hương Dự nhiên đăng, Thanh Hà khai sáng, Tỳ Kheo Bồ Tát Giới Pháp huý Đinh Thanh Trình hiệu Vô Ngại Thiền sư”
Dân làng Đức Thọ thỉnh về trông nom tu sửa chùa năm 1935, sau đó làm trụ trì cho đến năm 1972 thì viên tịch, thọ 72 tuổi
Thứ hai, Hoà thượng Thích Thanh Cầm: Thế danh là Trần Thanh Cầm Quê quán Hoà thượng ở xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Cụ sinh trong một gia đình bần nông Năm 1922 quy y ở chùa Quảng Hoá, xã Đông Thọ, TP Thanh Hoá Năm 1930 thọ giới Sa Di tại chùa Diệp - Nghệ An Năm 1939 thọ giới Tỳ Kheo tại chùa Cổ Loa – Hà Nội Năm 1945 Hoà thượng về trụ trì chùa Gia Đầu ( xã Hoằng Phượng, Hoằng Hoá ), và là tổ khai sáng Năm 1983 Hoà thượng về trụ trì chùa Thanh Hà và là Trưởng ban đại diện Hội Phật giáo Thanh Hoá Năm 1922 là Trưởng Ban trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh
Thứ ba, Đại đức Thích Tâm Đức thế danh của vị là Lê Văn Huân, sinh năm 1970, quê ở thôn Mai Sao, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thông tín tâm với đạo Phật nên
Trang 32năm 20 tuổi thấy xuất gia đầu Phật với sư thầy Thích Thanh Nhung ở chùa Pháp Vũ ( chùa Đậu ) thuộc xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Tây ( chùa Đậu là di tích nổi tiếng có nhục thân của hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh
và Vũ Khắc Trường ngồi thế toạ thiền được bọc bằng lớp vải sơn son thiếp vàng, có từ thế kỷ 17 đến nay vẫn còn)
Sau một thời gian học hỏi Phật pháp, sư ông Tâm Đức vào Thanh Hoá tìm gốc tích của hai vị thiền sư Đạo Tâm, Đạo Chân ( tức ngài Vũ Khắc Minh
và Vũ Khắc Trường ), vì hai vị thiền sư này đã từng theo học với Hoà thượng Đạo Long, người xã Thạch Lỗi, huyện Đông Sơn, Thanh Hoá Sau một thời gian tìm hiểu và học hỏi, sư trở về xin phép sư thầy Thích Thanh Nhung vào Thanh Hoá thọ pháp cầu giới với Hoà thượng Thích Thanh Cầm Đến năm
1993, sư xin phép Hoà thượng ra Hà Nội tu học trờng cơ bản Phật học Hà Nội Năm 1994, Hoà thượng Thanh Cầm viên tịch, sư kế trụ trì chùa Thanh
Hà - thuộc đời thứ 3
Hiện nay Đại đức Thích Tâm Đức đã hoàn thành chương trình học tại Học viện Phật giáo Việt Nam, và đang tiếp tục trụ trì chùa Thanh Hà
2.1.2 Lễ hội chùa Thanh Hà
Vào khoảng năm 1937 sau khi hoàn thành trùng tu ngôi chùa Hoà thượng Thích Thanh Trì mời hành tổng và làng Đức Thọ cùng các cụ trong ban xây dựng làm lễ khánh thành chùa
Cụ Nguyễn Trọng Kỳ (người làng Đức Thọ) còn nhớ rõ Lễ hội ngày ấy: Trước là uy nghi cung kính Lễ Tam Bảo Phật, Lễ Thánh Thần, Lễ Thánh Mẫu, Lễ rước quan huyện quy về chùa Sau là mở hội có: Tế Nữ quan, đánh
cờ người, tổ tô điếm, đánh đu nam nữ, bơi thuyền, thả đèn (phóng đăng), thả chim (phóng sinh)…
Chùa Thanh Hà vào Lễ hội mang màu sắc sinh hoạt văn hoá làng, cho đến giờ hiện trạng chùa căn bản không thay đổi Hoà Thượng Thích Thanh Trình được dân làng thỉnh mời ở lại và là vị tổ khai sáng của chùa Thanh Hà
Trang 33Cũng theo cụ Nguyễn Trọng Kỳ kể lại: Thời Pháp thuộc phía Nam ngôi chùa có xây một nền cao rộng lớn để hàng năm ba quan lớn tỉnh về tế Nghinh Xuân cầu phúc cho dân (Tổng Đốc, Bố Chánh, Án Sát thứ phụ có Bang Tá và các đề lại lính tráng)
Tết Nguyên Đán ngày mùng 1 và mùng 2 trong chùa lễ phật cầu kinh, trong hai ngày này cả làng còn đi rước Bóng, bốn người trai kiệu rước lễ Mẫu tại Đình Hương, cùng với các đền chùa trong thành phố như:
Chùa Chanh (Hương Quang Tự), chùa Nam Ngạn (Mật Đa Tự), chùa Thanh Thọ, chùa Quảng Hoá, chùa Hai Voi, đền Thuỷ Linh (phủ Mẫu), phủ Cốc, phủ Thanh Lâm, phủ Thanh Nam, đền Đức Thánh Trần (làng Hạc) Sang ngày mùng ba Tết làng giáp làm lễ Phật - Thần, thánh Mẫu, rồi bốn giáp thi
cỗ gà xôi nếp trắng được chọn gạo rất kỹ
Cũng theo bà Lê Thị Dục cho biết: Lễ Rằm tháng 7 là lớn nhất, sau khi lễ thường phóng sinh, phóng đăng ở sông Bến Ngự, ngày Phật Đản mùng 8 tháng 4 (bây giờ là 15 tháng 4) chùa dựng đàn Mông Sơn Thị Thực Trong tiết lập xuân ba quan lớn tỉnh thường rước ba pho tượng thần nông từ trong thành ra chùa Thanh Hà để lễ tế
Những năm kháng chiến chống ngoại xâm, các hoà thượng trụ trì đã ủng
hộ nhiều cho kháng chiến, Hoà Thượng trụ trì đã ủng hộ chiếc xe đạp, Hoà Thượng Thích Thanh Cầm đóng góp xây dựng trường học, nghĩa trang, ủng
hộ lương thực cho bộ đội xây dựng cầu Hàm Rồng, sư cụ đã được Nhà nước tặng Huân Chương Kháng Chiến hạng Ba
Cụ Nguyễn Trọng Kỳ đã có thơ đề tặng Hoà thượng Thích Thanh Trình:
“Đức Thọ Thanh Hà phúc thọ muôn
Trụ trì y cựu hộ giang sơn Tịch triêu tĩnh toạ cầu kinh kệ Tuế nguyệt siêu sinh độ phách hồn
Tứ hải tham thuyền sùng ngoạn cảnh Thập phương mộ đạo vọng suy tôn
Trang 34Từ bi bác ái đa chiêm ngưỡng Pháp Nhật xâm lăng phủ tự tồn”
(Kính mừng sư cụ chùa Thanh Hà Thích Thanh Trình)
Cụ Nguyễn Trọng Kỳ cũng là người đã sáng tác
“Diễn ca Lễ hội chùa Thanh Hà” tấp nập một thời:
“ Mùng một Tết đầu năm thường lệ
Tế Nghinh Xuân chủ tế ba quan Cầu cho dân nước bình an Năm năm đầy đủ quân quan tỉnh về Dân nhộn nhịp thoả thê ăn uống Đốt lửa lò thịnh vượng nơi nơi
Tế Nữ Quan đánh cờ người Tháng ba rước Bóng tháng hai cỗ gà Nhân công gốm nhà nhà tấp nập Chủ Lò Chum các cấp rước mời Giêng hai, ba tháng ăn chơi Người tổ tôm điếm, người chơi Tài Bàn Đèn treo cửa, mọi người đều sáng Chơi chọi gà, bè bạn tăm bơi Tuồng chèo ca hát khắp nơi Dân ca Quan Họ hát chòi Trống Quân Cùng hát Ghẹo bờ sông hai họ Anh bên này, chị nọ bên kia Đoàn thuyền Bơi Chải lại qua Hoa đăng ngũ sắc kết hoa giữa dòng Này hai họ cộng đồng Trịnh Nguyễn Giáp Bắc xưa kháng chiến bom tan Miếu thần hai họ sửa sang Nghênh thần tế lễ mở mang sau này
Trang 35Cầu thôn xóm tháng ngày mạnh khoẻ Giúp toàn dân mọi vẻ xanh tươi Gần xa buôn bán khắp nơi Làm ăn như ý muôn đời vẻ vang Người người nhớ gốc nhớ làng Góp phần công đức đèn nhang lễ thần”
Theo Đại đức Thích Tâm Đức Lễ hội chùa Thanh Hà mang bản chất của một lễ hội tế thần Nông vì trước kia người dân nơi đây chủ yếu là làm nông nghiệp, bây giờ do tốc đôc của đô thị hoá nơi đây trở thành một trong những điểm sầm uất của TP Thanh Hoá, không còn ruộng đất thay vào đó là các cơ quan công sở và nhà dân, vì vậy nghi lễ tế thần nông nghiệp xem ra không còn phù hợp, và vì điều kiện diện tích chật nên việc khôi phục lại Lễ hội chùa Thanh Hà xem ra khó có thể làm được
Ngày nay, Lễ hội chùa Thanh Hà không còn được nhộn nhịp như xưa, tuy nhiên những ngày Lễ của chùa vẫn được duy trì vào các ngày trong năm một cách đều đặn
Vào ngày mùng 2 đến mùng 8 tháng giêng âm lịch, chùa tổ chức tuần lễ
“Đàn Dược Sư Thất Châu” khai kinh lam lễ bẩy ngày bẩy đêm, thu hút đước rất đông đảo quý phật tử đến dâng đèn xin lộc ấm nơi cửa Phật để sau khi kết thúc tuần dược sư đem chiếc đèn đó đặt trang trọng lên bàn thờ gia tiên nhà mình để thờ trong năm Và cũng theo thầy trụ trì chùa hằng năm sẽ lấy tuần lễ Dược Sư làm ngày Lễ hội chính khai xuân của chùa Thanh Hà
Hy vọng rằng trong thời gian tới, chùa Thanh Hà sẽ tổ chức được nhiều những lễ hội lớn thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, dưới sự phối hợp và giúp đỡ nhiều hơn nữa của ban ngành chức năng, đặc biệt là những người dân yêu mến ngôi chùa sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc khôi phục lại giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của quê hương Xứ Thanh nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
Trang 36Để từ đó, dù ai có đi đâu, về đâu thì cũng nhớ về quê hương mình, về lễ hội chùa Thanh Hà không chỉ trong ký ức xa xưa nữa mà sẽ là được tận mắt chứng kiến, được tham gia vào những trò chơi dân gian thú vị, mỗi khi xuân
về có lễ hội chùa tổ chức, chúng ta những người con “nhớ gốc nhớ làng” lại
về dự, và mời bạn bè nếu về xứ Thanh hãy ghé thăm Lễ hội chùa Thanh Hà
2.1.3 Vai trò của chùa Thanh Hà trong đời sống tinh thần của cộng đồng tại TP Thanh Hoá -Tỉnh Thanh Hoá
Nói đến văn hoá nhà chùa là nói đến hoạt động Phật Pháp từ kính lễ đến trì kinh Hoằng Dương Phật Pháp thành nếp nghĩ, nếp làm của nhà chùa , chi phối mọi hoạt động của tăng ni phật tử
Mặt khác, Phật giáo Việt Nam nói chung đã trở thành một bộ phật của văn hoá Việt, Phật giáo chùa Thanh Hà nói riêng cũng đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân Xứ
Không chỉ là nơi có giá trị tâm linh, khu di tích này còn là nơi mà những nhà cách mạng tiền bối của Thanh Hoá không ai là không đặt chân đến vùng đất Lò Chum, nhiều người đã hoạt động và xây dựng cơ sở cách mạng ở nơi đây
Thời Mặt trận Bình Dân (1936-1939), phố Lò Chum là nơi hoạt động cách mạng sôi nổi Các nhà các mạng và là thầy giáo như: Bùi Kính Thăng,
Lê Hữu Kiều, Nguyễn Tú Uyên…đã tổ chức nhóm Macxit và truyền bá tư tưởng cách mạng cho học sinh
Tháng 8 năm 1937 tại số nhà 20 phố Lò Chum, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Trịnh Huy Quang đã chủ trì Hội nghị vận động nhân sĩ tham gia Viện Dân
Trang 37Biểu để đấu tranh trong nghị trường, đên năm 1938 nơi đây đã ra đời lớp học truyền bá chữ Quốc ngữ thu hút hàng trăm bà con thợ thuyền ở Lò Chum, Bến Ngự tham gia
Ngày nay, chùa Thanh Hà tiếp tục phát huy vai trò giá trị trong mọi mặt của đời sống trên địa bàn TP Thanh Hoá nói riêng và Tỉnh Thanh Hoá nói chung
Về văn hoá giáo dục:
Khu di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà trước hết là một thiết chế văn hoá- tôn giáo Đến với nơi đây qua việc tìm hiểu lịch sử nhà chùa chúng ta được giáo dục, hiểu biết về một loại hình tôn giáo, tín ngưỡng, nhận ra một điều rằng tôn giáo - Phật giáo chân chính luôn gắn với văn hoá, lợi ích của
quốc gia dân tộc luôn hoà cùng tinh thần yêu nước
Theo Ban quản lý chùa Thanh Hà, hiện nay các vị Sư tăng trong chùa cùng như ban quản lý (ban văn hoá) đã và đang tích cực xây dựng và đóng góp vào quỹ khuyến học của tỉnh và địa phương, đặc biệt vừa qua nhà chùa đã đóng góp công đức xây dựng thêm một trường học cho trẻ em nghèo ở huyện miền núi Cẩm Thuỷ tỉnh Thanh Hoá, trao các phần quà cho các em có thành tích học tập tốt
Hiện nay chùa đã xây dựng được “Câu lạc bộ thanh thiếu niên Phật tử” đầu tiên của tỉnh thu hút đông đảo các bạn học sinh, sinh viên, và thanh thiếu niên trong địa bàn tỉnh tham gia, mở các lớp dạy giáo lý cho thanh thiếu niên Phật tử
Câu lạc bộ thanh thiếu niên Phật tử là một mô hình sinh hoạt tôn giáo mà
ở miền Nam gọi là “gia đình Phật tử” các thành viên tham gia phải chấp hành những quy định ngặt nghèo và có nhiều ràng buộc, ở miền Bắc cơ chế nhẹ nhàng hơn Câu lạc bộ thanh niên Phật tử chùa Thanh Hà hoạt động với mục đích chính là:
Trang 38Học hỏi giáo lý Phật giáo, từ đó truyền đạt kiến thức tới những bạn trẻ khác và những người xung quanh mình cùng tìm hiểu, tham gia các hoạt động
xã hội
Hướng tư cách đạo đức cá nhân vững tin vào cuộc sống, sống giữ vững lập trường, không bị sa ngã lôi kéo vào những tệ nạn mà giới trẻ hay con người mắc phải (sức hấp dẫn của đồng tiền, vòng luẩn quẩn của tình cảm trai gái khi tuổi còn quá trẻ, hay tệ sống thử đang nhức nhối hiện nay, nạn ma tuý, mại dâm, trộm cắp…)
Câu lạc bộ hoạt động dựa trên sự hướng dẫn và điều hành của Ban hướng đạo và Ban chủ nhiệm:
Ban hướng đạo: là các quý thầy,quý sư trực tiếp tham gia dẫn dắt các em
về giáo lý, tổ chức các buổi ngoại khoá, hỗ trợ về tài chính từ nguồn công đức
để duy trì các hoạt động một cách đều đặn
Ban chủ nhiệm: do các thành viên bầu ra hoạt động độc lập dưới sự hướng dẫn của quý thầy
Ngoài ra Câu lạc bộ thanh niên Phật tử chùa Thanh Hà còn phụ trách các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ…, đã xây dựng được “Tủ sách học đường”, vào dịp hè tiến hành vận động các em học sinh có điều kiện khá ở các trường trong thành phố, các nhà hảo tâm, Phật tử ủng hộ nguồn sách giáo khoa, sách tham khảo…từ đó tập hợp lại thành bộ, và những sách sử dụng phù hợp, để trao tặng các địa phương khó khăn, những em học sinh nghèo theo mô hình
“quay vòng” tức là những em được cho muợn sách, sau khi sử dụng xong trong năm học sẽ gửi lại để cho các bạn khoá sau
Số lượng sách hiện nay khoảng 400 – 500 bộ và chắc chắn rằng trong tương lai số lượng sẽ không ngừng tăng lên để trẻ em nghèo được học hành đầy đủ hơn
Một mô hình nữa đáng lưu ý ở chùa Thanh Hà là việc xây dựng “Thư viện Phật học”, Ban chủ nhiêm của thư viện này là các em sinh viên của trường Đại Học Hồng Đức lịch mở cửa vào các ngày thứ 7, chủ nhật, các
Trang 39ngày 30, mùng1, 14, 15 âm lịch trong tháng, và các ngày lễ của chù trong năm Đây chính là nơi để du khách khi viếng thăm chùa không chỉ chắp tay lễ Phật mà còn được trực tiếp tìm đọc, nghiên cứu tài liệu về lịch sử, văn hoá, tôn giáo…
Bước đầu của mô hình giúp giới trẻ hiểu biết hơn về Phật giáo, về chân
lý của cuộc sống, với những buổi sinh hoạt vào tối thứ 6 hàng tuần các thanh niên Phật tử trong câu lạc bộ luôn tự kiểm điểm lại các hoạt động của từng cá nhân và tập thể từ đó rút kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả hoạt động của câu lạc bộ Đây là một mô hình hoạt động văn hoá tín ngưỡng hoạt động có tôn chỉ mục đích rõ ràng và đã đạt được những kết quả đáng kể, cần nhân rộng
mô hình này với những chùa khác trong tỉnh và những địa phương khác
Về kiến trúc cảnh quan:
Cũng như các ngôi chùa Việt kiến trúc thời Nguyễn, nhưng vẻ đẹp của chùa Thanh Hà có nét độc đáo riêng Trên Phật điện, sau lớp ba pho Tam Thế, lớp tượng thứ hai là pho ADi Đà lớn hơn cả trên Phật điện Lớp tượng thứ ba
ở các chùa thường là ba pho Tam Thánh ( Thích Ca Mâu Ni Giáo chủ, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát ) nhưng ở chùa Thanh Hà chỉ coa pho Thích Ca Mâu Ni Giáo Chủ Lớp tượng thứ tư là pho Phật Bà Quan Âm thiên thủ thiên nhãn Lớp tượng cuối cùng là Toà Cửu Long Tượng Thích Ca Sơ Sinh mặc
áo đóng, khuôn mặt trẻ trung, đứng với tư thế giảng Pháp
Nhìn vào ban chính Phật điện của chùa Thanh Hà, vừa mang mô típ kiến trúc của thời Nguyễn, nhưng tất cả đều toát lên tinh thần của đạo Phật: Hoà quang đồng trần (đem ánh sáng của Phật pháp hoà vào thế tục cứu độ chúng sinh ), phụng sự đời sống xã hội và cuộc sống tâm linh của người Việt
Bài trí trong chùa Thanh Hà có nét riêng, không có Thập điện Diêm vương, một số lớp bệ thờ giảm bớt nhiều tượng, tạo tượng Phật thanh thoát Nhìn từ nét chung và riêng của điện chính, cho ta cảm nhận tinh thần của chùa Thanh Hà với vẻ đẹp hồn nhiên dân dã của ngôi chùa vốn khởi thuỷ là một ngôi chùa làng
Trang 40Về kinh tế - chính trị - xã hội:
Khu di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà có vị trí đẹp, khang trang như hiện nay một phần là nhờ có sự giúp đỡ của UBND Tỉnh, đóng góp của nhân dân…và có sự coi sóc của sư tăng nhà chùa cũng như của những người làm công tác quản lý nơi đây
Chính khu di tích này đã tao công ăn việc làm cho nhân d©n xung quanh
từ các dịch vụ trông xe, bán đèn nhang…
Nguồn công đức của chùa đã đóng góp vào phúc lợi xã hội của địa phương như: hỗ trợ người nghèo, ủng hộ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tổ chức các hoạt động tín ngưỡng văn hoá …
Đáp ứng nhu cầu về văn hoá xã hội , đời sống tinh thần, tín ngưỡng tâm linh của đồng bào, vừa mở ra tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Cũng xuất phát từ sự ổn định về tôn giáo, tinh thần mà khu di tích lịch sử văn hoá chùa Thanh Hà cũng như Ban trị sự Phật giáo tỉnh mang lại cho đời sống nhân dân nơi đây, tôn giáo - Phật giáo luôn hoà cùng vận mệnh dân tộc
và đời sống nhân dân nên đã góp phần làm nên diện mạo quê hương Xứ Thanh, đóng góp vào việc giữ gìn ổn định chính trị
Cửa Phật luôn rộng mở với những ai mộ đạo, tuy nhiên có một số kẻ đã lợi dụng sư rộng lượng này đã trà trộn vào chùa quấy rối, làm những hành vi không đẹp mắt, tuyên truyền lôi kéo những người nhẹ dạ, những người lập trường chưa vững vàng tin vào những câu chuyện mơ hồ, trái với luân thường đạo lý, việc phát hiện và xử lý các đối tượng này còn gặp nhiều khó khăn và cân những biện pháp nghiệp vụ về an ninh tôn giáo
Hướng giải quyết của nhà chùa là thông qua các buổi truyền dạy giáo lý phổ biến cho nhân dân, Phật tử biết về những quan điểm đúng đắn, cần tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực ngầm, gây ảnh hưởng đến
sự thanh tịnh và tôn nghiêm của chốn thiềm môn