Di tích lịch sử có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia ,dân tộc, là tài sản vô giá của toàn dân tộc, là bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hóa Việt Nam đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
*************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN TRANH
XÃ TRUNG NGUYÊN – YÊN LẠC – VĨNH PHÚC
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Vân
Lớp : QLVH 8C
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận của mình,em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô giáo trong trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã trang bị hành trang, kiến thức bổ ích cho em trong suốt quá trình học tập và làm bài khóa luận này Đặc biệt xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới cô PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này Tôi cũng xin trân thành cảm ơn đến ban quản lý di tích đền Tranh đã cung cấp cho tôi những tài liệu quý giá để tôi hoàn thành bài viết Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về kiến thức và thời gian nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Vân
Trang 3BẢNG KÊ KHAI CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2.Mục đích nghiên cứu 8
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.Phương pháp nghiên cứu 8
5.Đóng góp của đề tài 8
6.Cấu trúc của đề tài 9
Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH 10
1.1.Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.1.Văn hóa và di sản văn hóa 10
1.1.2 Quản lý 14
1.1.3Quản lý văn hóa 16
1.1.4 Di tích lịch sử văn hóa và quản lý di tích 18
1.2.Một số quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về bảo vệ di tích, di sản văn hóa dân tộc 20
1.3.Vai trò ý nghĩa của di tích lịch sử đền Tranh trong đời sống nhân dân xưa và nay 30
Chương 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN TRANH XÃ TRUNG NGUYÊN,YÊN LẠC, VĨNH PHÚC 33
2.1 Khái quát về xã Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc 33
2.1.1 Vị trí địa lý, cư dân 33
2.1.2 Đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội 33
2.2 Khái quát về khu di tích lịch sử đền Tranh 35
2.2.1 Vị trí đền Tranh 35
2.2.2 Lịch sử hình thành đền 36
Trang 52.2.3 Kiến trúc đền tranh 39
2.2.4 Nghệ thuật chạm trổ và những di vật quý của đền Tranh 43
2.2.5 Lễ hội đền Tranh 50
2.3 Công tác quản lý đền Tranh 52
2.3.1 Bộ máy quản lý di tích 52
2.3.2 Hoạt động tu bổ tôn tạo di tích 54
2.3.3 Công tác tổ chức và quản lý các dịch vụ trong lễ hội đền Tranh 57
2.3.4 Kinh phí hoạt động của đền Tranh 58
2.3.5 Hoạt động khoanh vùng khu vực bảo vệ xung quanh di tích lịch sử văn hóa đền Tranh 59
2.4 Đánh giá về công tác quản lý di tích tại đền Tranh 60
2.4.1 Những kết quả đạt được 60
2.4.2 Những tồn tại 61
2.4.3 Nguyên nhân của những kết quả đạt được cũng như của những tồn tại 63
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỀN TRANH 64
3.1 Đào tạo cán bộ quản lý di tích 64
3.2 Nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của nhà nước đối với nhân dân về bảo vệ di tích 66
3.3.Tăng cường công tác tu bổ tôn tạo di tích lịch sử đền Tranh 69
3.4.Tăng cường công tác phát huy giá trị của di tích lịch sử đền Tranh 70
3.5 Tăng cường đầu tư nguồn kinh phí, cơ sở vật chất cho di tích đền Tranh 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa truyền thống Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc bảo lưu những giá trị văn hóa cũ hết sức đẹp đẽ của dân tộc, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Trong đó văn hóa vật thể bao gồm các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và các bảo tàng Đặc biệt là hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa Đó là nguồn tư liệu sống, là minh chứng vật chất của quá trình lao động sáng tạo, đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn đời nay của dân tộc ta
Di tích lịch sử có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia ,dân tộc, là tài sản vô giá của toàn dân tộc, là bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hóa Việt Nam được lưu giữ trường tồn từ thế hệ này qua thế hệ khác Ở đó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng diễn ra tại di tích có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước Những di tích mà ông cha ta để lại vô cùng phong phú với hàng ngàn đình, đền, chùa, miếu mạo, lăng tẩm,…Giá trị của các di tích lịch sử văn hóa đã thấm sâu vào tâm hồn, máu thịt bao thế hệ người Việt Nam Và việc bảo vệ di tích càng có ý nghĩa lớn lao hơn nữa trong việc tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc, từ đó góp phần khai thác, bảo tồn, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc và lấy đó làm nền tảng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tuy nhiên hiện nay những di tích lịch sử văn hóa luôn đứng trước những nguy cơ bị hủy hoại do sự tác động của thời gian, thiên tai và những hoạt động thiếu ý thức của con người …gây thất thoát cho tài sản văn hóa Việt Nam Do đó vấn đề bảo vệ di sản nói chung và quản lí di tích lịch sử - văn hóa nói riêng đang được đặt ra hết sức cấp thiết
Trang 7Xuất phát từ thực tiễn quản lý trong nhiều năm qua, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, chú trọng trong công tác bảo tồn hệ thống di sản của dân tộc Tuy nhiên do điều kiện thực tế còn nhiều vấn đề bất cập, đội ngũ nhân viên quản lý chưa nhiều, trình độ quản lý chưa cao, hơn nữa một bộ phận nhỏ nhân dân chưa ý thức rõ tầm quan trọng của di tích văn hóa trong đời sống xã hội đã làm cho các di tích bị xuống cấp một cách nhanh chóng Do vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về công tác quản lý hệ thống các di sản càng cần thiết hơn nữa để có những biện pháp hợp lý, kịp thời nhằm bảo lưu tốt nhất những giá trị vốn có của dân tộc Mảnh đất Vĩnh Phúc, nơi chứa đựng khá nhiều những danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng như: Khu di chỉ khảo cổ Đồng Đậu,danh thắng Tây Thiên,Thiền Viện Trúc Lâm, khu du lịch Tam Đảo, tháp Bỉnh Sơn, đền Tranh, đền Thính,…và rất nhiều đền, chùa, miếu mạo khác thờ các vị anh hùng dân tộc và di tích cách mạng của 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Đặc biệt Đền Tranh thuộc địa phận xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, là một di tích có niên đại khá sớm, đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa vào năm 1993 , là một công trình kiến trúc đẹp
và linh thiêng Song, di tích đền Tranh vẫn chưa được đầu tư quan tâm đúng mức,đội ngũ cán bộ quản lý còn mỏng, nhiều hạng mục công trình vẫn đang trong tình trạng xuống cấp, di tích vẫn chưa phát huy hết giá trị của mình
Nhận thấy vấn đề trên là một vấn đề cần được quan tâm, tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng đang diễn ra tại di tích và thấy mình cần phải có trách nhiệm đónggóp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của địa phương nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung, tôi
đã mạnh dạn chọn đề tài : “ Quản lý di tích lịch sử - văn hóa Đền Tranh (đền Bắc Cung Thượng) xã Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc” làm đề
tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 8Vì đây là một đề tài mới chưa được đưa vào nghiên cứu cho nên còn nhiều hạn chế, vậy mong quý thầy cô và các bạn góp ý kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn nữa
2.Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là góp phần vào việc bảo vệ, giữ gìn, quản lý các di tích lịch sử văn hóa của đất nước; tìm hiểu và phân tích thực tiễn công tác quản lý tại di tích lịch sử văn hóa đền Tranh, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích, bảo vệ vốn văn hóa của dân tộc
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài đề cập đến công tác quản lý tại khu di tích lịch sử văn hóa đền Tranh
Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu công tác quản lý khu di tích lịch sử đền Tranh ở xã Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc
4.Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước,
tư tưởng Hồ Chí Minh … về công tác văn hóa Ngoài ra còn kết hợp một số phương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu
2 Phương pháp khảo sát điền dã
Trang 9- Về mặt tực tiễn : những vấn đề được đề cập trong đề tài này sẽ góp phần nhỏ vào việc thông tin và giải quyết những vấn đề thực tiễn sinh động đang diễn ra trong khung cảnh đổi mới nói chung và di tích lịch sử văn hóa đền Tranh nói riêng Đồng thời đưa ra những thông điệp vừa mang tính chất cấp thiết cho mọi người trong việc ứng sử có văn hóa đối với di tích Từ đó đưa ra giải pháp hành động đúng đắn nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di tích trong đời sống kinh tế - văn hóa xã hội của địa phương cũng như của cả nước nói chung
6.Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận đề tài được kết cấu làm 3 chương sau:
Chương 1: Những cơ sở khoa học về quản lý di tích
Chương 2: Thực tiễn công tác quản lý di tích lịch sử đền Tranh xã Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đền Tranh( xã Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc)
Trang 10Chương 1:
NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH
1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.Văn hóa và di sản văn hóa
Theo quan niệm của phương đông trong tiếng Hán cổ, từ “văn hóa” bao gồm “Văn” là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ Con người có thể đạt được bằng cách tự tu dưỡng của bản thân và là cách thức cai trị đúng đắn của người cầm quyền Chữ “hóa” trong văn hóa là việc đem lại cái văn tức là cái đẹp, cái đúng, cái tốt để cảm hóa giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn đời sống
Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ hoạt động vật chất và tinh thần
mà loài người sáng tạo ra trong lịch sử Trong cuốn “cơ sở văn hóa Việt
Nam” GS.TS Trần Ngọc Thêm quan niệm “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
có giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (11;20)
Trang 11Trong quan điểm của Hồ Chí Minh khái niệm văn hóa cũng được hiểu
theo nghĩa rộng Người nêu rõ: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (9;431)
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:
“nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn bao la gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại và phát triển, quá trình làm nên lịch sử … cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng, tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ, tài năng, sự nhạy cảm tiếp thu những cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình không ngừng lớn mạnh”
Trong cuốn: “Mấy vấn đề lý luận và xây dựng văn hóa ở nước ta”
GS.TS Hoàng Vinh cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ sáng tạo của con người tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội.Được đúc kết thành hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội biểu hiện qua di sản văn hóa và hệ thống ứng sử văn hóa của cộng đồng xã hội.Nó có khả năng chi phối đời sống tâm
lý và hoạt động của những người sống trong cộng đồng xã hội ấy.”
Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam có đoạn viết “Trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm quy về 2 hai loại Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử …Văn hóa hiểu
Trang 12theo nghĩa hẹp như văn học, nghệ thuật, học vấn…và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau.”(14;23)
Như vậy,mặc dù có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau nhưng lịch sử chứng minh rằng văn hóa xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa và văn hóa chính là con người, quay trở lại phục vụ đời sống con người
Theo phạm vi hẹp văn hóa được coi như một ngành – ngành văn hóa thông tin, văn hóa nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kĩ thuật khác của nền kinh tế quốc dân Văn hóa được coi là một lĩnh vực hoạt động bên cạnh các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và chúng ta cần được coi trọng ngang nhau Văn hóa được đề cập trong nghị quyết Trung ương V khóa VIII của Đảng bao gồm toàn bộ đời sống tinh thần xã hội, tập trung vào những lĩnh vực then chốt: tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa với thế giới, các thể chế văn hóa…Trong các mặt đó thì tư tưởng, đạo đức, lối sống, vănhóa xã hội được coi là lĩnh vực quan trọng nhất được đặc biệt quan tâm hiện nay
Theo UNNESCO năm 1982 thì văn hóa theo nghĩa rộng nhất“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng…”( 6;16).Với định nghĩa này của UNESCO thì văn hóa
được nêu lên bao gồm cả vật chất và tinh thần Nó khái quát 2 loại nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của con người đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Văn hóa vì thế cũng chia thành 2 dạng văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Trang 13Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ sản phẩm vật chất do con người sáng tạo ra như: các công trình kiến trúc, điêu khắc, công cụ sản xuất và sinh hoạt,
đồ ăn mặc, các phương tiện đi lại và vận chuyển.Các sản phẩm văn hóa ở dạng vật chất ấy gọi là văn hóa vật thể
Văn hóa tinh thần là toàn bộ sản phẩm do con người sáng tạo ra như: tư tưởng, tín ngưỡng,tôn giáo, phong tục, tập quán, pháp luật, văn học, nghệ thuật, văn chương,…các dạng văn hóa ở dạng phi vật thể ấy gọi là văn hóa phi vật thể
Điểm đồng thuận giữa các định nghĩa về văn hóa là: văn hóa là một tổng thể các hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình sinh tồn và phát triển Hoạt động sáng tạo của con người là vô tận nên tạo ra những sản phẩm văn hóa cũng rất đa dạng, phong phú Trong những sản phẩm ấy chứa đựng những chi thức thẩm mỹ, những kinh nghiệm sống,… được đúc kết lại thành các giá trị truyền thống và các chuẩn mực xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của con người
Di sản văn hóa
Nghị quyết Trung ương V khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thống nhất quan điểm văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.Như vậy di sản văn hóa với tư cách là kết quả của hoạt động văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Mới đây trong tuyên bố của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) về di sản văn hóa được kí kết tại Thái Lan, cùng với việc nêu lên tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa của cộng đồng các quốc gia trong hiệp hội, ASEAN cũng đồng tình với cách hiểu của UNESCO về di sản văn hóa và cho rằng: di sản văn hóa được hiểu bao gồm các giá trị và các khái niệm văn hóa quan trọng, các kiến trúc và đồ chế tác…,
Trang 14các địa điểm và nơi sống của con người…, những di sản văn hóa dân gian, những di sản được lưu giữ dưới dạng văn bản, các di sản văn hóa thông thường
Luật di sản văn hóa được nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 9-2001, quy định tại điều 1: di sản văn hóa là sản phẩm văn hóa tinh thần, vật chất của xã hội loài người và các di vật tiêu biểu, vật mẫu của giới tự nhiên có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
26-1.1.2 Quản lý
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có
cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu
quản lý từ góc độ riêng của mình, từ đó đưa ra định nghĩa về quản lý riêng
Quản lý là từ Hán Việt, quản là lãnh đạo, đứng đầu một công việc; lý là trông nom chăm sóc công việc nào đó
Trong khoa học: Quản lý là hoạt động có mục đích của con người, là hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hoạt động của người khác nhằm thu được kết quả mong muốn Và để đạt được kết quả mong muốn người quản
lý cần có các công cụ hỗ trợ như: hệ thống pháp luật,các quy tắc, các nguyên tắc,… Từ đó đưa ra một định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có hướng đích của chủ thể( người tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt văn hóa, chính trị, kinh tế xã hội…bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,và các biện pháp tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng nhằm đạt được mục đích
đã đề ra
F.Angghen cho “ Quản lý” là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động với nhau, khi có sự hợp tác của số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người
Trang 15Theo C.Mác: Quản lý được coi là chức năng đặc biệt, được nảy sinh từ
tính chất xã hội hóa lao động Người viết: “Bất kì một lao động xã hội, hay cộng đồng nào, được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý, nó xác lập quan hệ hài hòa giữa công việc riêng lẻ và công việc chung Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển chính mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng.”(7;342)
Câu nói của Mác cho ta hai nhận thức: khác với thế giới động vật các thể này cai trị các thể khác theo quy luật đấu tranh sinh tồn thì con người lại tiến tới hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển Thực chất của mối quan hệ giữa người với người chính là mối quan hệ kinh tế Bởi vậy quản lý phải xuất phát
từ những nền kinh tế khác nhau để thể hiện tính chất của mình
Quản lý luôn ở trạng thái động và sự vận động của quản lý luôn tuân theo quy trình nhất định Quản lý bao gồm các công đoạn quản lý và thao tác quản lý Các công đoạn quản lý và thao tác quản lý được hình thành trên hai mặt: chủ thể quản lý và khách thể quản lý Cả 2 mặt đều được xác định rõ ràng về vai trò , chức năng, mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Như vậy quản lý là sự điều khiển đối tượng đang vận động nhằm một mục tiêu nhất định Muốn quản lý tốt chủ thể quản lý phải hiểu được đối tượng của quản lý là gì? Nên như thế nào và ở trạng thái nào?
Vấn đề quản lý mà chúng ta nghiên cứu, quan tâm là quản lý xã hội, quản lý Nhà nước Và có vai trò quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung của quản lý càng phức tạp Do đó người quản lý không chỉ đòi hỏi có trình độ chuyên môn mà các nhà quản lý còn phải hiểu biết tâm lý và có phương pháp
sư phạm
Như vậy chúng ta có thể đưa ra quan điểm, định nghĩa chung về quản lý theo quan điểm của điều khiển học như sau: Quản lý là sự tác động vào một
Trang 16hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động của nó theo những quy luật vận động nhất định nhằm đạt được mục đích hay kế hoạch màngười quản lý đã dự kiến, đã đề ra từ trước
1.1.3Quản lý văn hóa
Quản lý văn hóa không phải là sự kết hợp một cách đơn giản hai loại khái niệm “quản lý” và “văn hóa” mà nó là sự phối hợp một cách linh hoạt, uyển chuyển hai loại khái niệm ấy trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của xã hội khác nhau trên cơ sở những nền sản xuất của xã hội đó
Xuất phát từ nội dung khái niệm văn hóa gồm 3 thành tố: con người, hoạt động, thành tựu,trong đó thành tố con người đóng vai trò chủ chốt mà Nghị quyết Trung ương V khóa VIII đã đề ra Dẫn đến quản lý văn hóa là phải quản lý 3 yếu tố đó Và để làm tốt việc quản lý đó thì người quản lý văn hóa cần phải biết rõ về nó và có đầy đủ điều kiện để quản lý như: chính sách, pháp lý, nhân lực, môi trường, phương tiện, vật tư,kĩ thuật tài chính…Đồng thời cần nắm vững các đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, phải tạo thành quy trình vận hành quản lý có khoa học
Quản lý văn hóa là sự kết nối các nguồn lực xã hội( bao gồm: nhân lực, tài nguyên, môi trường…)vào việc đẩy mạnh sự phát triển xã hội, xây dựng
xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Đó là những định hướng tạo điều kiện tổ chức, điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên
Quản lý văn hóa không chỉ tìm ra cách sống mà còn phải tìm ra lối sống đẹp, hướng đến tương lai phát triển Văn hóa được hiểu không chỉ là cái tốt đẹp đã có mà còn phải là cái tốt đẹp cần phải có Tất cả những thành tựu đã có
và sẽ có của văn hóa đều do con người làm nên Bởi vậy, quản lý văn hóa trước hết và quan trọng hơn hết là quản lý con người Sáng tạo ra văn hóa là
sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Trang 17Văn hóa thông tin là một lĩnh vực trong đời sống xã hội Do đó việc tăng cường hiệu lực quản lý trong lĩnh vực này hết sức quan trọng Luật hành chính Việt Nam khẳng định vai trò của bộ máy Nhà nước trong sự nghiệp phát triển văn hóa: Quản lý Nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mỗi công dân được hưởng các quyền tự do ngôn luận,quyền tự do báo chí, học tập, sáng tác,phê bình văn học nghệ thuật… Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn các nhu cầu văn hóa của toàn xã hội
Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là sự nghiệp của toàn xã hội Nhà nước thực hiện hoạt động quản lý đối với văn hóa điều đó không có nghĩa là Nhà nước sáng tạo ra các giá trị văn hóa mà Nhà nước có vai trò định hướng cho sự phát triển của nền văn hóa theo hướng đã xác định là “ Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nhà nước thực hiện những hoạt động nhằm hướng vào sự thống nhất tư tưởng, tuyên truyền những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường hoạt động giáo dục, xây dựng lối sống đạo đức lành mạnh Hiến
pháp năm 1992( sửa đổi năm 2001) ghi rõ: “Nhà nước và xã hội kế thừa và phát triển những giá trị của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đặc điểm, phong cách Hồ Chí Minh, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân Nhà nước thống nhất sự nghiệp quản
lý văn hóa.”
Như vậy, tựu chung lại chúng ta có thể hiểu quản lý văn hóa theo Ts.Dương Văn Sáuđã viết trong cuốn Quản lý di dản văn hóa với phát triển du lịch đã viết như sau: “ Quản lý văn hóa là quá trình xây dựng đường lối chính
Trang 18sách và tổ hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam; đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại, làm giàu cho văn hóa dân tộc”.(6;55)
1.1.4 Di tích lịch sử văn hóa và quản lý di tích
Di tích lịch sử vănhóa
Di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh giữ vai trò là một yếu tố cấu thành của môi trường Nó là sản phẩm của sự sáng tạo, là tầm cao của trí tuệ nhân dân Nó hiện hữu trong không gian cụ thể và có lịch sử, nguồn gốc hình thành, tồn tại cùng với những thăng trầm của thời gian
Trong luật di sản văn hóa tại điều 4 khoản 2 có định nghĩa: “di tích lịch
sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử , văn hóa, khoa học.”
Như vậy công trình xây dựng, địa điểm, các di vật, bảo vật quốc gia phải mang trong mình giá trị văn hóa, khoa học, lịch sử mới được coi là di tích lịch
sử - văn hóa Chúng phải là vật chứng cho một sự kiện, hoặc gắn với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất, hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một phong cách, một thời đại, hoặc chúng là sản phẩm được phát minh sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định
Tại điều 28 khoản 1 trong Luật di sản văn hóa đã đưa ra các tiêu chí để một công trình, địa điểm trở thành di tích lịch sử - văn hóa:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước
Trang 19- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kì cách mạng, kháng chiến
- Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ
- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Việc đưa ra các tiêu chí như vậy thực chất là cụ thể hóa định nghĩa về di tích lịch sử - văn hóa và nhằm mục tiêu hạn chế tình trạng công nhận một cách tràn lan cả những di tích không thực sự có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học…Đồng thời nhờ các tiêu chí này mà các cơ quan quản lý Nhà nước
có thẩm quyền dễ dàng hơn trong việc xem xét, công nhận và kịp thời đưa ra những công trình, địa điểm có giá trị vào danh sách những công trình, địa điểm cần được bảo vệ, nghiêm cấm xâm phạm, đảm bảo những yếu tố của môi trường không bị phá vỡ
Căn cứ vào giá trị lịch sử - văn hóa - khoa học, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được chia thành:
- Di tích cấp tỉnh: là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương;
- Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia;
- Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia
Quản lý di tích
Trong điều 4 luật di sản văn hóa đã đề cập đến các hoạt động xung quanh vấn đề quản lý di tích Nó bao gồm các hoạt động như:bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, bảo vật quốc gia, là hoạt động nhằm phòng ngừa, hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Trang 20Tu bổ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đó
1.2.Một số quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về bảo vệ di tích,
di sản văn hóa dân tộc.
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, nhiệm vụ của thế hệ hôm nay là phải trân trọng gìn giữ nó, bởi di sản văn hóa ẩn chứa những thuần phong mỹ tục và khí phách hào hùng mà con người Việt Nam đã lưu dấu lại Di sản văn hóa không chỉ góp phần tạo nên nền tảng tinh thần xã
hội vững chắc mà còn góp phần phát triển kinh tế xã hội: “Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội”(Văn kiện hội nghị ban chấp hành Trung ương V khóa VIII) Thiếu
nền tảng vật chất thì con người không thể tồn tại được, thiếu nền tảng tinh thần thì con người không thể phát triển toàn diện, không thể trở thành nhân cách văn hóa được
Việt Nam là một quốc gia văn hiến lâu đời Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước các thế hệ đi trước đã để lại cho chúng ta kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và quý giá Kho tàng di sản văn hóa được vật chất hóa, cô đọng lại thành các di tích lịch sử văn hóa với nhiều giá trị quan trọng Di sản văn hóa còn là ngôn ngữ, là nhịp cầu nối quan hệ nước ta với các nước trên thế giới, góp phần rất lớn vào giao lưu văn hóa và hòa bình dân tộc Trong thời đại ngày nay, việc bảo tồn các di sản văn hóa đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của toàn nhân loại Nhiều quốc gia đã ban hành Hiến pháp và những bộ luật riêng về vấn đề đó
Trang 21Phạm vi quốc tế:
Trong thời đại ngày nay, việc bảo vệ các di tích, di sản văn hóa không chỉ là vấn đề được đặt ra trong khuôn khổ của một quốc gia, một dân tộc mà còn mang tính toàn cầu Một di sản văn hóa trước hết là biểu tượng cho quốc gia, dân tộc, xa hơn là một bộ phận của khu vực, là tài sản chung của toàn nhân loại Xây dựng văn bản pháp lý là yêu cầu đầu tiên của sự nghiệp bảo tồn di tích Do đó bảo vệ di sản văn hóa mang tính toàn cầu đã được thể hiện
ở một số văn bản quốc tế ở một số nước trên thế giới:
Ngày 11/12/1962, tại Pari Đại hội đồng khóa VII của Liên Hợp Quốc phê chuẩn khuyến cáo về vẻ đẹp và tính chất của cảnh quan thiên nhiên và các
khu vực Trong phần trình bày về nguyên tắc chung có nói: “ Việc bảo vệ không chỉ giới hạn ở các khu vực tự nhiên và cảnh quan mà còn bao gồm các khu vực và cảnh quan do con ngườitạo ra một phần hay toàn bộ, cần chú ý đến phong cảnh thành phố và những khu vực thành phố bị những công trình mới xây dựng và việc sử dụng những khu vực cây xanh” Hội nghị còn trình
bày những công việc có liên quan đã bị tổn thất và tùy theo khả năng mà phục hồi lại di tích dưới dạng nguyên gốc
Ngày 19/11/1968, khóa họp thứ XV của Liên Hợp Quốc phê chuẩn khuyến cáo về bảo vệ tài sản văn hóa do những hoạt động xã hội hoặc tư nhân gây ra Ngoài những tai họa tự phát, chiến tranh và những biểu hiện của chủ nghĩa phát xít, chính hoạt động của con người đôi khi cũng làm hại đến di sản văn hóa
Những công ước được kí kết về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa như: từ ngày 17/10 đến ngày 21/11/1972 UNESSCO – tổ chức văn hóa và giáo dục thế giới cũng đưa ra những công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thới giới Công ước đã đoàn kết giữa các dân tộc lại với nhau trong việc tham
Trang 22gia vào tổ chức UNESSCO, bảo vệ di sản văn hóa thế giới, đồng thời góp phần tạo ý thức kế thừa những công trình văn hóa của nhân loại
Bên cạnh đó giữa các nước cũng có những công ước được kí kết về vấn
đề bảo vệ di sản văn hóa như: Công ước La Hay 15/5/1954 Đây là một công ước điển hình nhằm buộc các nước phải nghiên cứu và có những biện pháp tích cực, mang tính pháp lí để bảo vệ tài sản văn hóa của nhân loại Việt Nam
là một trong những nước đó
Phạm vi dân tộc:
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản quốc gia nên hoạt động bảo tồn di tích trước hết mang tính chất Nhà nước Nhà nước mới có đủ thẩm quyền và điều kiện tạo cơ sở pháp lý, tổ chức cán bộ, kinh phí và mọi biện pháp khoa học, kĩ thuật cho hoạt độngbảo vệ di tích ngày càng trở nên khang trang sạch đẹp, phù hợp với từng bước phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam và nhu cầu tinh thần văn hóa tín ngưỡng tâm linh của đời sống nhân dân là một việc làm cần thiết Nó không chỉ góp phần bảo tồn di tích như trạng thái ban đầu, mà còn tạo điều kiện cho di tích tồn tại mãi mãi trong lịch sử
Nhận thức một cách sâu sắc và toàn diện tầm quan trọng của sự nghiệp bảo vệ di sản văn hóa dân tộc nên ngay sau khi mới giành được độc lập dân tộc, trong lúc đất nước đang gặp vô vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ra sắc lệnh 65/SL- CTP ngày 23/11/1945, trong đó quy định: “ Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu,hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính chất tôn giáo nhưng có ích cho lịch
sử mà được bảo tồn”
Sắc lệnh 65 ra đời đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước mà biểu hiện cụ thể là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc bảo vệ và
Trang 23phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Khẳng định vai tò to lớn của công tác bảo vệ di sản văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Tiếp đó trong các báo cáo chính trị của các kì Đại Hội, Đảng ta lại đề cập đến các vấn đề bảo vệ và giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc Cụ thể như:
Báo cáo chính trị trong văn kiện Đại Hội Đảng lần IV ghi rõ: “Cần tăng cường những viện bảo tàng hiện có, từng bước xây dựng viện bảo tàng mới ở Trung ương và các tỉnh, xây dựng những tượng đài kỉ niệm hoặc các nhà truyền thống ở các địa phương cơ sở, bảo vệ tốt các di tích lịch sử”(15;121) Báo cáo chính trị trong văn kiện Đại Hội Đảng VI nhấn mạnh : “ Nhà nước cùng với nhân dân xây dựng những cơ sở vật chất kĩ thuật cần thiết cho văn hóa nghệ thuật, giữ gìn và tôn tạo các di tích văn hóa”(16;192)
Tiếp đó trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta tập trung vào sự khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn hóa, giữ gìn và nâng cao các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống, trong đó đặc biệt chú ý bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa Báo cáo chính trị trong văn kiện
Đại Hội cũng nhấn mạnh“ …bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc, tôn tạo các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh”(26;115)
Đặc biệt trongNghị quyết Trung ương V khóa VIII, ngày 16/7/1998về
“xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc” chỉ rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc,cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống( bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” (18;phần 2;63)
Có thể thấy rằng: sau hơn 50 năm kể từ khi đề cương văn hóa Việt Nam
ra đời, Nghị quyết Trung ương V khóa VIII thật sự là chiến lược văn hóa của
Trang 24Đảng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Đây là một trong các nghị quyết của Đảng được toàn thể hệ thống chính trị xã hội, các ban ngành , các lực lượng vũ trang … triển khai nghiêm túc, khơi dậy được phong trào của toàn Đảng, toàn dân chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa Trong thời gian này nhiều quyết định quan trọng trong vấn đề bảo vệ di sản văn hóa dân tộc cũng được tiến hành:
Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng
cảnh Điều 14 viết: “ tổ chức hoặc cá nhân được chao quyền sử dụng hoặc trực tiếp bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, tập thể và cá nhân là chủ sở hữu của di tích lịch sử văn hóa có nghĩa vụ bảo vệ thường xuyên di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh theo những quy định về bảo tồn của Nhà nước Khi di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh bị
hư hại, chủ sử dụng hoặc chủ sở hữu, tổ chức, các nhân trực tiếp bảo vệ di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh đó có nhiệm vụ tiến hành những biện pháp bảo vệ cấp thiết và phải báo ngay với UBND xã, phường, thị trấn biết để giúp đỡ và báo cáo kịp thời với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.”
Ngày 4/4/1984 một sự kiện có ý nghĩa lớn đối với hoạt động bảo tồn, bảo tàng đó là: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh số 14- LCT/HĐNN Pháp lệnh là cơ sở pháp lý cao nhất cho đến đầu năm 2002 của Nhà nước ta về mặt bảo tồn bảo tàng nhằm bảo vệ và sử dụng những những di sản văn hóa của dân tộc
Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được quẩn chúng nhân dân trong cả nước nhiệt liệt hưởng ứng, tạo nên một phong trào rộng lớn nhằm bảo vệ và tu bổ di tích Rất nhiều nơi trong cả nước, nhân dân tự nguyện đóng góp công sức và kinh phí để xây dựng các hồ
Trang 25sơ khoa học và tu bổ, Trung ương và địa phương cùng làm trong việc bảo vệ,
tu bổ sử dụng di tích đã trở thành hiện thực và đang được hoàn thiện dần Nghị định số 288/HĐBT ngày 31/12/1985 của Hội Đồng Bộ Trưởng quy định việc thi hành pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Cụ thể là: Bộ văn hóa thông tin chịu trách nhiệm trước HĐBT tổ chức và chỉ đạo sử dụng và bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trong phạm vi cả nước ; Hướng dẫn chỉ đạo và bảo vệ sử dụng
di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trong phạm vi cả nước ; Hướng dẫn và chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển Bảo tàng cả nước; Trực tiếp quản lý những di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đặc biệt quan trọng, những bảo tàng quốc gia UBNN tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương tổ chức và chỉ đạo bảo vệ việc sử dụng và quản lý các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật và xử lý các vụ vi phạm các quy định về bảo vệ, sử dụng các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trong địa phương( điều 10 thuộc phần III)
Tiếp đó là thông tư số 206/VH_TT ngày 22/7/1986 của BVHTT về việc hướng dẫn thi hành pháp lệnh bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Tại chương III của thông tư này bàn về việc bảo vệ và
sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Đó không chỉ là trách
nhiệm của ngành văn hóa thông tin mà còn của các ngành các cấp khác: “mọi việc làm từ việc quản lý, tu bổ, tôn tạo, đến sử dụng chúng cũng đều xoay quanh mục đích bảo quản chúng, cho nên trước khi đi vào việc xử lý di tích
và thắng cảnh bằng những biện pháp kĩ thuật, tu bổ, tôn tạo,phải quan tâm trước hết và thường xuyên đến việc bảo quản chúng và phải tránh cho việc phải tu bổ”
Trang 26Quyết định số 1706/2001/QĐ_BVHTT ngày 27/7/2001 của Bộ trưởng BVHTT phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch
sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 Với mục tiêu lâu dài là giữ gìn nguyên vẹn và đầy đủ các di tích đã và đang được xếp hạng, không để xuống cấp, hư hỏng hoặc bị hủy hoại
Nâng cao nhận thức, bảo vệ các di tích trong việc giáo dục lịch sử truyền thống văn hóa và truyền thống văn hiến của dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ, giới thiệu bản sắc và tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với các nước là cơ sở quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc như nghị quyết Trung ương V đã đề ra
Trong điều kiện cho phép, các di tích cần được tu bổ, tôn tạo một cách hoàn chỉnh , với tư cách là một sản phẩm có giá trị phục vụ chiến lược phát triển ngành du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Tăng cường quản lý về di tích và danh lam thắng cảnh theo hướng mở rộng quá trình xã hội hóa, thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào việc phát huy và bảo
vệ di tích gắn với quản lý nhà nước bằng pháp luật
Hiến pháp năm 1992 nước CHXHCN Việt Nam, điều 34 đã xác định:
“Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa dân tộc, chăm
lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo bảo vệ và phát huy tác dụng các
di tích lịch sử cách mạng Các di sản văn hóa, công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh.”
Tuy nhiên do nước ta nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, rồi chiến tranh liên miên, nhiều di tích vật thể như: đình, chùa, đền, miếu do chính chúng ta phải đau lòng dỡ đi để “tiêu thổ kháng chiến” ngăn bước quân thù Không ít hang động, tượng phật bị dẹp đi nhường chỗ cho kho quân khí
và nhu yếu phẩm khác phục vụ cho bộ đội Đó cũng là một sự hi sinh để giành thắng lợi cho cuộc chiến đấu giữ gìn và bảo vệ đất nước
Trang 27Mặt khác, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận lại thực tế phũ phàng trong quá khứ, đó là thời gian duy trì cách nhận thức máy móc và sai lầm đồng nhất giữa mê tín dị đoan và hoạt động tín ngưỡng tôn giáo Xuất phát từ cách giải thích mê tín dị đoan nảy sinh từ môi trường đền miếu, chùa dẫn đến việc ngăn cấm mọi hoạt động ở đây Có rất nhiều nguyên nhân khác nữa tác động không tốt đến di tích làm cho chúng bị mai một, thậm trí bị hủy hoại Sự xuống cấp, hư hỏng của văn hóa vật thể hàng ngày hàng giờ hiện ra trước mắt mọi người có thể thấy được, sờ được, vì thế người ta thấy sót xa và sẵn sàng lên tiếng khắc phục tình trạng đó Nhưng đối với văn hóa phi vật thể thì không dễ thấy như vậy, chưa nói đến nhận thức không đầy đủ, thậm trí sai lệch về giá trị của nó Nó âm thầm mai một, đôi khi biến mất mà ít được nghe tiếng chuông cảnh báo Bởi vậy cần có nhận thức đầy đủ và sâu sắc về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam, đối với việc phát huy những giá trị vốn có của nó trong đời sống đương đại, từ đó có biện pháp kịp thời và cơ chế chính sách thích hợp nhằm bảo tồn
và phát huy những tài sản văn hóa, di sản văn hóa của dân tộc, đất nước
Vì vậy ngày 28/6/2001 tại kì họp thứ 9, quốc hội khóa X nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã biểu quyết thông qua Luật Di sản văn hóa và
bộ văn hóa thông tin ra quy chế số 05/2003 hướng dẫn quy trình tu bổ, tôn tạo
di tích Những văn bản này là cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trên toàn quốc
Luật di sản văn hóa có 74 điều, 7 chương trong đó quy định rất rõ về bảo
vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể Mục 1 chương V luật
di sản văn hóa viết: xây dựng và thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch,chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ; Ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; chỉ đạo các hoạt
Trang 28động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; huy động, sử dụng, quản lý các nguồn lực để bảo
vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và sử lí vi phạm về pháp luật văn hóa….và rất nhiều các quy định khác liên quan đến di sản văn hóa
Thực hiện chương trình làm việc toàn khóa của Ban chấp hành Trung ương khóa IX, ngày 5/7/2004 tại Hà Nội, hội nghị lần thứ X đã khai mạc Hội nghị đã đánh giá kết quả của hội nghị Trung ương V khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đồng thời đề ra những giải pháp mới về nhận thức đối với vai trò của công tác văn hóa: phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần cho xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triển kinh
tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt
Mục tiêu của hội nghị là : “Cùng với việc đánh giá thực trạng văn hóa, hội nghị cần phân tích một cách rõ ràng các nguyên nhân khách quan và chủ quan của cả thành tựu và khuyết điểm về nhận thức, về lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của Đảng và chính quyền các cấp” Hội nghị cũng được phân tích
những vận động, những nhân tố mới ở trong và ngoài nước có tác động đến việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa của nước
ta, từ đó xác định trọng tâm đến năm 2020, đồng thời đề ra những giải pháp mới để tạo bước chuyển cơ bản trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa
“tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, đồng bộ với sự phát triển kinh tế trong những năm tới( phát biểu của đồng chí Nông Đức Mạnh, khai mạc hội nghị lần X Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII ngày 5/7/2004)
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng ngàn năm lao động và sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả của giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh
Trang 29thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên linh hồn, khí phách, bản lĩnh làm rạng danh trang sử vẻ vang của dân tộc Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng, văn hóa Việt được tiếp tục phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước , thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì: “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” là sự nghiệp sáng tạo to lớn của nhân dân ta,
đồng thời là quá trình biến cải xã hội sâu sắc đòi hỏi phát huy khả năng trí tuệ
ở mỗi con người Việt Nam
Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hóa của các tầng lớp nhân dân, quá trình dân chủ hóa… là những yếu tố làm nên sự thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa xã hội
Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thu những thành quả chí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong công việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta có các phương hướng chiến lược cùng các nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta theo đúng cương lĩnh trong xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong công cuộc bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa, theo như Lê
Nin nói: “ Người giai cấp công nhân không giữ gìn di sản như những người lưu trữ văn thư bằng giấy tờ cũ Giữ gìn di sản không có nghĩa là bám chặt lấy di sản” Đó là cái nhìn toàn diện, khoa học và bảo lưu, tiếp thu và sử dụng
di sản văn hóa một cách hiệu quả và tích cực
Trang 301.3.Vai trò ý nghĩa của di tích lịch sử đền Tranh trong đời sống nhân dân xưa và nay
* Vai trò của di tích đền Tranh(đền Bắc Cung thượng) trong đời sống nhân dân xưa và nay
Di tích lịch sử văn hóa giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Bởi đó là những bằng chứng sát thực nhất để phản ánh cội nguồn lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Các di tích là nơi biểu hiện rõ nhất về bản sắc văn hóa Việt Nam, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, văn nghệ diễn ra tại di tích có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước
Di tích lịch sử văn hóa đền Tranh là một minh chứng điển hình và có vai trò và ý nghĩa to lớn trong đời sống của người dân huyện Yên Lạc nói riêng
và người dân cả nước nói chung
Đền Tranh là một di tích gắn với nhiều giá trị lớn: Đền gắn liền với mối liên hệ lịch sử của một vị thần được thờ Với giá trị nghệ thuật điêu khắc tinh
tế, đặc biệt là điêu khắc đồ cổ - mang đặc trưng dấu ấn miền đồng bằng Trung
du Bắc Bộ Trong Đền còn nhiều di vật có giá trị lớn, đồng thời tại đền còn là nơi ghi nhận những sự kiện lịch sử quan trọng:
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, nhiều tổ chức cách mạng Việt Minh đã chọn nơi đây làm nơi hội họp, cất dấu tài liệu quan trọng
Trong những năm 1965 – 1970 nhân dân ta làm cuộc kháng chiến chống
Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, một số cơ quan Trung ương đã sơ tán về đây làm căn cứ quân sự Đơn vị tên lửa chọn đây làm trận địa giả bắn máy bay Mỹ Hiện nay tại đền còn có dấu tích của hầm bí mật nơi tụ họp của các du kích địa phương Đặc biệt là dấu tích của căn hầm trước cửa đền nằm ngoài sân giáp với bờ sông Căn hầm này là nơi ẩn náu của Đồng chí Trần Quốc Phi
Trang 31và Hoàng Quốc Việt- cán bộ Trung ương Đảng về chỉ đạo phong trào cách mạng tháng tám, chuẩn bị cướp chính quyền phá kho thóc Nhật ở thôn Giã Bàng – Tề Lỗ ( thuộc huyện Yên Lạc – Vĩnh Phúc)
Với những vai trò to lớn đó thì đền Tranh đã được Bộ văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 16/12/1993
*Ý nghĩa của di tích lịch sử đền Tranh trong đời sống nhân dân
Đền Tranh có ý nghĩa to lớn trong đời sống tâm linh của người dân xã Trung Nguyên nói riêng và người dân cả nước nói chung Cũng như rất nhiều đền chùa khác trong cả nước, đền là nơi để nhân dân trong vùng đến làm lễ cầu an, cầu phúc trong những dịp ngày rằm, mùng một,lễ, tết…không chỉ có nhân dân, tín đồ ở trong huyện mà còn ở rất nhiều ở nơi khác kéo về làm lễ và dường như họ kéo về ngày càng đông
Đặc biệt nhân dân quanh vùng và ở nhiều nơi hàng năm vẫn đổ về hành hương, làm lễ rất đông vào 2 dịp lễ hội của đền hay còn gọi là xuân thu nhị kì vào ngày 15/1 và ngày 6/2 âm lịch Trong những dịp này đền thu hút đông đảo rộng rãi mọi tầng lớp dân cư, từ trẻ em cho đến người già đến đây chơi hội, làm lễ thắp hương
Mọi người đi lễ đền vào đầu năm mới, ngày rằm, mùng một, như là phong tục tốt đẹp của người Việt ở nông thôn cũng như ở khắp mọi miền trên
tổ quốc.Họ đến để cầu phúc, cầu an, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu,để sám hối và để cho tâm hồn được thanh thản, siêu thoát sau những ngày tất bật với bụi trần
Có thể khẳng định sự đóng góp, sửa sang, tu bổ cho đền Tranh chủ yếu
là người dân địa phương Bởi họ muốn gửi gắm niềm tin, nguyện vọng của mình tới sự bảo hộ của các vị thánh thần phù hộ cho những mục tiêu mà họ mong hướng tới
Trang 32Có thể nói, ngôi đền Tranh rất gần gũi với đời sống của người dân ở đây, bởi ngoài ý nghĩa về tâm linh, nó còn là công trình kiến trúc với nhiều giá trị đẹp,chứa đựng nhiều ý nghĩa to lớn về lịch sử cũng như truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đền Tranh là nơi gắn kết mọi người lại với nhau khi mỗi dịp tết đến, xuân về, ở tính cộng đồng làng xã, là nơi giao tiếp giữa con người với thiên nhiên Bởi vậy ngôi đền là nơi đón nhận rất nhiều người từ khắp mọi nơi đến đây làm lễ, hành hương
Trang 33Chương 2:
THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN TRANH XÃ TRUN G NGUYÊN,
YÊN LẠC, VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát về xã Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc
2.1.1 Vị trí địa lý, cư dân
Về mặt địa lý: Xã Trung Nguyên nằm trên địa phận của huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay Xã có diện tích 719,07 ha chia làm 9 khu hành chính Với hình hài như một chiếc loa kèn, hướng về phía Đông như tận hưởng ánh nắng mặt trời , thiên nhiên ưu đãi Trung Nguyên xưa còn gọi là Đan Nguyên hay làng Đan là một miền đất rộng bằng phẳng, phì nhiêu, màu
mỡ, bốn mùa cây trái xanh tươi.Ba mặt xã đều là những đường liên huyện, liên xã; Phía Bắc giáp xã Đồng Lạc; tây giáp xã Tề Lỗ,đông giáp xã Đồng Cương, Bình Định và Nam giáp xã Yên Đồng, Tam Hồng,thị trấn Yên Lạc
Cư dân: Trung Nguyên là một xã có dân số khá đông khoảng 9868 người chia làm 2435 hộ, nghề sinh sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thuần túy
2.1.2 Đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội
Đặc điểm kinh tế:người dân xã Trung Nguyên có ngành nghề chủ yếu là lao động nông nghiệp, ngoài ra còn các ngành nghề khác như: Hợp tác xã bò sữa, sản xuất gạch ngói, thu mua phế liệu, thành lập doanh nghiệp cán thép,
…Bình quân thu nhập đầu người là sấp sỉ 500.0000đ/người( theo niên giámthống kê năm 2002), năng suất lao động bình quân từ 180 – 220 kg/sào thóc
Trang 34hóa tốt đẹp từ lâu đời và có những bước đổi thay tiến bộ đặc biệt với sự thay đổi của xã hội mới Trên địa bàn của xã có rất nhiều di tích có giá trị, bao gồm: đền, đình, chùa, miếu phủ, trong đó có 7 di tích được xếp hạng cấp tỉnh vàđền Tranh là đền đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Có thể nói, hầu hết các làng quê trên địa bàn xã đều có đình thờ Thành Hoàng làng, miếu phủ thờ thánh thần, chùa thờ phật, các dòng họ đều
có nhà thờ tổ
Bên cạnh đó người dân trong xã còn có truyền thống hát Chèo, Tuồng từ
xa xưa và món ăn ẩm thực nổi tiếng của xã đó là món Hến ở trên dòng sông Phan chảy bao quanh khu vực di tích đền Tranh
Đặc biệt hiện nay với sự phát triển từng ngày của xã hội, văn hóa làng xã của con người nơi đây cũng có những thay đổi cho phù hợp với lối sống mới: nhiều nhà cửa, đường giao thông được tu bổ khang trang theo nếp sống mới (100% đường làng ngõ xóm trong xã đã được bê tông hóa) ; quy ước của làng được xây dựng theo tinh thần nếp sống mới của Đảng và Nhà nước đề ra (tổ chức ma chay, cưới xin, hiếu, hỉ…theo lối tiết kiệm, văn minh)
Đặc biệt hơn nữa là hiện nay phong trào văn hóa cơ sở của xã phát triển rất mạnh: nhiều thôn trong xã đã thành lập được các câu lạc bộ dành cho nhiều lứa tuổi khác nhau như: câu lạc bộ dưỡng sinh, các câu lạc bộ thơ, các câu lạc bộ văn nghệ dành cho người cao tuổi, câu lạc bộ văn nghệ của hội phụ nữ; câu lạc bộ cầu lông ,bóng bàn dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên Văn hóa thông tin truyền thông của xã cũng phát triển rất mạnh: hệ thống truyền thanh, bưu điện, mạng lưới Internet phát triển rộng khắp
Trang 352.2.1 Vị trí đền Tranh
Đền Tranh không nằm giữa khu vực dân cư như các di tích khác, đền nằm giữa cánh đồngrộng (chừng 1,536ha nay còn 1920m vuông) của thôn Hoàng Thạch (tức xóm Tranh) bên bờ con sông Phan, thuộc địa phận xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Di tích đền Tranh cách thành phố Vĩnh Yên khoảng 2km và cách trung tâm xã Trung Nguyên khoảng 900m đường chim bay Du khách đến thăm di tích có thể đi bằng nhiều phương tiện thuận lợi:
- Đường bộ: theo đường quốc lộ số 2, tới xã Hợp Thịnh ( huyện Tam Đảo) rẽ theo đường liên huyện số 2, đi qua xã Tề Lỗ, đến xã Trung Nguyên,
đi khoảng 900m nữa là đến khu di tích đền Tranh
- Đường thủy : Du khách có thể đi tàu thủy xuống bến Vĩnh Thịnh, đi qua xã Tam Hồng, qua xã Tề Lỗ là đến xã Trung Nguyên Cũng có thể đi từ Đầm Vạc ngược dòng sông Phan là đến ngay đền Tranh, đường sông này giờ chỉ còn 12km
- Đường sắt: đi xe lửa tới ga Vĩnh Yên, đi đến ngã ba Hợp Thịnh (Tam Đảo) và theo chỉ dẫn đường bộ đi tới di tích
Đền Tranh được tạo lập ở vị trí rất đẹp và cũng là thắng cảnh của địa phương:
- Phía đông có bạch tượng khuyển hổ (hiện nay đằng sau đền có một hồ nước, cạnh hồ có một gò đất nhỏ hình con voi trắng, vòi tiếp giáp với hồ nước)
- Phía tây là bạch hổ bái phục
- Phía nam là hình nhân bái tướng(có một gò đất hình người hướng về đền)
- Phía bắc có phượng hoàng hậu trấn
Trang 36Đền Tranh còn có tên gọi là đền Bắc Cung thượng, vì tương truyền đền
là một trong 4 cung thờ Đức Thánh Tản Viên, 4 cung đó là: Bắc Cung, Tây Cung, Nam Cung, Đông Cung Bắc Cung là cung phía Bắc, còn gọi Bắc cung thượng vì ở địa phận xã Tam Hồng, huyện Vĩnh Lạc( ngày nay là huyện Yên Lạc) có đền Thính cũng thờ Đức Thánh Tản Viên, được gọi là Bắc Cung hạ;
vì theo truyền thuyết đền Tranh ( đền Bắc cung thượng) được xây dựng trước, đền Thính( đền Bắc cung hạ ) được xây dựng sau
Đền Tranh là một di tích gắn liền với nhân vật truyền thuyết lịch sử thời đại Hùng Vươnglà Tản Viên Sơn Thánh (hay còn có tên gọi khác là Sơn Tinh) Sơn Thánh Tản Viên có rất nhiều truyền thuyết khác nhau được lưu truyền trong vùng đồng bằng trung du Vĩnh Phú (xưa) Do sự biến động thăng trầm của lịch sử, ngọc phả của đền không còn Song theo lời truyền lại của một số cụ già trong vùng, được ghi lại trong những ngày tiệc hàng năm của hương hào kỳ lý ngày xưa và qua tìm hiểu một số di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh của những vùng lân cận, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về lịch sử truyền thuyết của vị thần được thờ ở đây
“Tản Viên Sơn Thánh sinh ra trong một gia đình nghèo khó Hàng ngày phải lên núi Tản Lĩnh hái củi để nuôi mẹ và nuôi thân Một ngày nọ, thấy trong rừng có một cây lớn, cành lá xanh tươi rậm rạp, ông bèn chặt đổ cây để lấy cành Hôm sau lên núi, ông thấy cây lại mọc như cũ, lấy làm lạ và ông đã phục xem: ông thấy một cụ già râu trắng từ trên trời giáng xuống mang theo mây sắc hào quang rực rỡ, tay cầm cây gậy đi đến bên cây gỗ, chỉ thiên chỉ địa miệng hô thần trú Cây gỗ từ từ dựng lên xanh tốt như cũ Thấy vậy Sơn Thánh quỳ bái và nói rằng: tôi bần bách không có tiền đong gạo chỉ có nghề đốn củi nuôi mẹ, nuôi thân Đến hôm nay là 3 ngày rồi không đẵn được cây gỗ.Ông lão cười nói rằng: ta đây là thần tiên ở chốn Sơn Lâm vâng mệnh trời
Trang 37trông coi rừng núi, ta thấy ngươi nghèo lại có hiếu, ta cho ngươi chiếc tiên trượng này với một đầu sinh, một đầu tử (chỉ thiên thiên khuyết, chỉ địa địa liệt) để cứu quốc hộ dân Từ đó, Sơn Thánh có gậy thần đi khắp mọi nơi cứu nạn cho dân Một ngày kia ông đến vùng núi Nghĩa Lĩnh gặp bọn trẻ mục đồng đánh chết một con rắn trên đầu có chữ Vương Ông bèn bỏ tiền ra mua
và dùng đầu sinh chỉ vào con rắn Con rắn hồi phục, bò xuống sông bái tạ và mời ông xuống thủy cung để tạ ơn Năm đó thân mẫu Sơn Thánh từ trần , ông lập đền thờ trên núi Nghĩa Lĩnh để thờ phụng
Nói về triều đại nhà Hùng Vua Hùng Duệ Vương thứ 18 sinh hạ được hai nàng công chúa Người con đầu là công chúa Tiên Dung kết duyên cùng chàng trai nghèo Chử Đồng Tử, nàng công chúa thứ hai là Ngọc Hoa đang lập lầu kén rể Lúc ấy Sơn Tinh cùng Thủy Tinh đứng ra đua tài đọ sức Cuối cùng Sơn Tinh thắng cuộc vì người đem đủ các lễ vật đến trước dâng vua Hùng Sơn Tinh làm lễ kết duyên cùng công chúa Ngọc Hoa Lúc này vua Hùng Duệ Vương thứ 18 đã già yếu, khi đó Thục Phán lại dẫn quân binh xâm chiếm nước văn lang lần thứ 3, vua Hùng muốn nhường ngôi cho Sơn Tinh, nhưng Sơn Tinh không nhận mà chỉ nhận là người giúp nước chứ không muốn làm vua Sơn tinh đem quân đánh Thục cứu nước, rồn đuổi quân giặc
về phía Bắc tỉnh Sơn Tây, đất phủ Tam Đới, cờ Đông lỗ và khu vực bến Vàng Người quan sát thấy địa thế đẹp, thế đất tứ linh bèn truyền cho quân nghỉ ngơi rồi cho lập một ngôi đền nhỏ cầu phúc, cầu sự tốt lành cho dân rồi tiến quân về chiều đình báo công, và khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán để kết mối giao bang hữu hảo Sau này, nhân dân trong vùng thờ Tản Viên Sơn Thánh tại ngôi đền này”.(Trích “Lý lịch đền Tranh”)
Trên đây là tóm tắt những điều cơ bản về truyền thuyết lịch sử vị thánh Tản viên được thờ tại đền Tranh Chúng ta thấy rất nhiều lý do để lý giải về
sự tồn tại khá cụ thể của truyền thuyết, bởi lẽ đây là câu chuyện truyền thuyết
Trang 38được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng đứng đầu thần diện người Việt Nam với các thần tích gọi là Tản Viên Sơn Thánh, là Sơn tinh hay Thánh Sơn Đại Vương
Từ một thần núi, Tản viên sơn thần đã trở nên “Sơn Thánh” làm rể Hùng Duệ Vương quản binh quân lực của vua Hùng để chống lại cuộc tranh chấp của Thục Phán Tản Viên được hầu hết các bản mường và làng Việt của Vĩnh Phú lập đền thờ, nơi nơi đều có truyền thuyết về Tản Viên, làng xã nào cũng muốn thấy dấu tích Tản viên ở địa phương mình
Đối với các di tích lịch sử, thần tích mỗi nơi mỗi khác, thần tích đền Tranh thờ Tản viên có những màu sắc huyền thoại riêng, góp phần vào kho tàng văn hóa cổ truyền chung của nền văn minh sông Hồng
Theo truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh ở khu vực đền Tranh, thì hiện nay tại khu vực này còn lưu giữ lại một số địa danh mà vẫn còn đến ngày nay: Phía nam khu đền Tranh có bến Vàng – Hoàng Thạch nay vẫn có cầu bến Vàng, phía bắc có hồ bán nguyệt hiện nay còn gọi là Đầm Sửng, có con đường nhỏ đi vào đền trước đây gọi là đường Cầu Phúc Cách đền khoảng 500m về phía Tây xưa kia có một điểm 2 dòng nước gặp nhau gọi là Khê Ba
từ Tam Đảo chảy về sông Nguyệt Đức Và từ xưa, đền Tranh có tên là đền Cầu Phúc, đến cuối thế kỷ 19 mới đổi tên thành đền Tranh (theo tên địa danh)…Tất cả những địa danh còn lưu truyền trong nhân dân đều nhằm lý giải một cách hợp lý cho sự tồn tại của ngôi đền
Đền tranh nằm bên cạnh con sông Phan (xưa kia còn gọi là sông Nguyệt), một con sông cổ gắn liền với lịch sử của đền Hiện nay trong nhân dân địa phương còn lưu truyền một bài thơ vịnh cảnh gắn liền với lịch sử của đền:
Đến đây cảnh đẹp dừng chân nghỉ
Đội quân đông tướng sĩ hùng binh
Trang 39Nhất gia tám mái giao binh dẹp Bạch tướng phục bái Tây mãnh quỳ Phía Nam đàn cá hồ bơi múa Giêng giã “Nhân bài” đóng quân gia Dòng sông uốn khúc đặng hà sa Gậy thần sáng ước vẫn còn đó Giặc giã song về với vua cha
Ba Vì, Tam Đảo không xa lắm Đúng kỉ cương con Lạc, cháu Hồng
Tất cả những điều giải thích ấy được lưu truyền về thế đất, vị trí tọa lạc của ngôi đền Ông cha ta xưa kia chọn bối cảnh không gian xây dựng đền thật chặt chẽ, tuân thủ theo thuật địa lí trong việc lựa chọn vị trí đặt di tích này – một vị trí tốt: vừa đặt lưng vào gò đồi, vừa nằm sát bờ sông, giữa một vùng cảnh trí đẹp
2.2.3 Kiến trúc đền tranh
Theo truyền lại, mặc dù chúng ta thấy lịch sử xây dựng đền Tranh chưa
rõ niên đại tuyệt đối, không biết được khởi dựng vào thời gian nào Nhưng qua dáng dấp kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc cùng với lời kể của nhân dân quanh vùng ta có thể đoán định được : đền Tranhđược xây dựng từ rất lâu trên
cơ sở của một ngôi miếu Cầu phúc và được nhân dân tu sửa lớn nhiều lần, lần cuối cùng vào thời hậu Lê
Đứng từ xa nhìn lại, chúng ta sẽ cảm nhận được hết vẻ đẹp thâm nghiêmsâu lắng của ngôi đền Đền Tranh nằm trên một khu đất hơi cao so với
vị trí xung quanh, tương đối bằng phẳng, núp bóng dưới những tán cây cổ thụ
um tùm, ba mặt là cánh đồng rộng, trước mặt là con sông Phan nhỏ nhắn hiền hòa ngăn cách đền với khu dân cư trù phú Địathế này khiến chúng ta liên
Trang 40tưởng đến vị trí được người xưa lựa chọn hết sức cẩn thận, đặt đền ở vị trí cao giáo, thoáng mát, bên cạnh thường có hồ ao, xa dân cư được tĩnh mịch, thâm nghiêm Toàn bộ khu đất đền rộng 1536ha, thoáng, bằng phẳng
Đền Tranh quay theo hướng Tây – Nam, kiến trúc kiểu chữ Đinh() gồm
2 tòa tiền tế và hậu cung Sân đền rộng chừng 40m2, gắn liền với sông Phan,
bề mặt sân cao hơn dòng sông chảy khoảng 2m, xung quanh sân đền trồng nhiều cây cảnh và cây cổ thụ
Hai bên sân đền còn dấu tích của tả vu và hữu vu Trên nền của tòa hữu
vu xưa người ta đã xây dựng lại mới hoàn toàn 3 gian nhà cấp 4 nhỏ (5m x 3m50) được dùng làm nơi thờ thần thổ địa Đấu đầu hai bên của tòa tiền tế là
2 gian nhà nhỏ mới xây dựng: gian bên phải gồm 3 gian (5m x 2m50) dùng làm nơi nghỉ chân cho khách thập phương đến đây làm lễ Gian bên trái (6m x 3m) được dùng làm nơi thờ mẫu Đức Thánh Tản Đây là việc thờ tự theo truyền thống đạo lý của người Việt
Tây tản di truyền chúc tượng anh linh phù quốc thịnh
Bắc cung hữu tích ước thư diệu pháp hộ dân khang
Tạm dịch:
Núi tản truyền lại có gậy thần để cứu nước dân khang vật thịnh