MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,QUẢN LÝ 6 1.1 Khái niệm nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý 6 1.2 Đặ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN VĂN HÓA
Giảng viên hướng dẫn : Phan Văn Tú Sinh viên thực hiện : Bùi Hồng Hạnh Lớp : Quản lý văn hoá 7C Niên khóa : 2006- 2010
HÀ NỘI – 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH
VÀ NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,QUẢN LÝ 6
1.1 Khái niệm nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý 6
1.2 Đặc điểm của nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý 9
1.3 Cấu trúc nhân cách người cán bộ lãnh đạo,quản lý 12
Chương 2 NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÍ NGÀNH VĂN HÓA TỈNH PHÚ THỌ- THỰC TRẠNG
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ tác động đến nhân cách
người cán bộ lãnh đạo,quản lí ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ 25
2.2 Thực trạng nhân cách người cán bộ lãnh đạo,quản lí ngành văn hóa tỉnh
Phú Thọ 39
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN NHÂN
CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,QUẢN LÝ NGÀNH VĂN HÓA
CỦA TỈNH PHÚ THỌ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 50
3.1 Xây dựng và phát triển nhân cách người cán bộ lãnh đạo,quản lý gắn liền
với thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch cán bộ của ngành văn hóa 50
3.2 Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hoàn thiện
và phát triển nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa 53
3.3 Thực hiện tốt các quy chế đánh giá, tuyển trọn, bố trí, đề bạt, luân
chuyển cán bộ góp phần hoàn thiện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo,
Trang 33.4 Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra cán bộ lãnh đạo,
quản lý ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm
3.5 Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác cán
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Thấm nhuần tư tưởng ấy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ có đức có tài Đánh giá về vai trò của đội ngũ cán bộ, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII chỉ rõ “ Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chổt trong công tác xây dựng Đảng”
Trong quá trình xây dựng và trưởng thành ngành văn hóa nói chung và ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ nói riêng đã thực hiện tốt những điều Bác Hồ dạy, luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và dân tộc Họ đã thể hiện tốt phẩm chất và năng lực của mình, có phong cách làm việc dân chủ, khoa học , sống trong lòng nhân dân,ba cùng dân, xứng đáng là những người đảm đương trọng trách lớn lao của Đảng và Nhà nước giao cho,là công cụ bạo lực bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, góp phần cùng với toàn Đảng , toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu , nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được thì một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý trong ngành văn hóa của tỉnh Phú Thọ còn bộc lộ những mặt yếu kém
do chưa được đào tạo đồng bộ về chuyên môn nghiệp vụ, còn giữ lại tác phong làm việc chậm chạp, quan lieu của cơ chế cũ, sống quan cách, xa dân, tâm lý tiểu nông làng xã đang còn chi phối cách nghĩ, cách làm của họ Vẫn còn những cán bộ chưa được qua thử thách và rèn luyện, còn bị lung túng trước cơ chế thị trường, chưa thể thích ứng được Nghiên cứu những yêu cầu
Trang 5về nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ là vấn đề cần thiết vì họ là “ gốc của mọi công việc” , phẩm chất, nằng lực cán bộ là vấn đề quan trọng đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong chiến lược đổi mới và nâng cao chất lược đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản
lý hiện nay
Nhân cách của người lãnh đạo, quản lý trong lực lượng ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ vẫn đang được các cấp Đảng ủy quan tâm nhưng chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống Vì những lý do trên nên tôi quyết định
chọn đề tài : Nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay khóa luận làm tốt nghiệp
3 Nhiệm vụ của khóa luận
- Khái quát những vấn đề lý luận về nhân cách , nhân cách người lãnh đạo quản lý ngành văn hóa từ đó xây dựng lý luận cho đề tài nghiên cứu …
- Khảo sát và đánh giá thực trạng, nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ phù hợp với điều kiện mới hiện nay
Trang 64 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khóa luận nghiên cứu về nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ
- Khách thể nghiên cứu là cán bộ lãnh đạo, quản lý các chức danh từ Phó trưởng ngành văn hóa cấp huyện và tương đương trong ngành văn hóa tỉnh Phú Thọ trử lên
- Phạm vi : Khóa luận thực hiện nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Phú Thọ
từ năm 2006 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của môn khoa học tâm lý lãnh đạo, quản lý như thu thập tư liệu, nghiên cứu văn bản ;quan sát ,so sánh, tổng hợp phỏng vấn điều tra
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện nhân cách người cán bộ lãnh
đạo, quản lý ngành văn hóa của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
Trang 7CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ NHÂN CÁCH
NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.1 Khái niệm nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý
Nhân cách là vấn đề thuộc về con người và xã hội, con người là một thực thể sinh học xã hội Tâm lý học nghiên cứu con người trên cả hai mặt sinh học và xã hội Chính trong quá trình học tập, lao động này, con người thiết lập các mối quan hệ xã hội hình thành nên bản chất của mình, đúng như
C Mác đã khẳng định “ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Khi con người thực hiện một hoạt động nhất định, có mục đích, có ý nghĩa nhằm nhận thức hay cải biến hiện thực khách quan thì nó được coi là chủ thể Như vậy, nhân cách là bản chất xã hội của một cá nhân
Tùy thuộc quan điểm, mục đích nghiên cứu, tùy thuộc vào phạm vi nghiên cứu, bàn về nhân cách có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách Các nhà tâm lý học Mác xít đã đi đến khẳng định bản chất nhân cách với một
số nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, nhân cách là sản phẩm xã hội lịch sử của sự tiến hóa nhân
loại và tiến hóa cụ thể là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Ở mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì nhân cách cũng có biểu hiện những đặc trưng tiêu biểu cho từng hình thức kinh tế xã hội cụ thể Nhân cách mang bản chất xã hội, điều này có nghĩa là cùng với sự vận động biến đổi và phát triển của xã hội loài người thì các phẩm chất, giá trị trong nhân cách cũng biến đổi và phát triển theo Những phẩm chất , giá trị đó phản ánh những nội dunh, tính chất của mỗi quan hệ xã hội cụ thể của mỗi con người đang sống đang hoạt động
Trang 8Khi con người tham gia vào các quan hệ xã hội như : Quan hệ chính trị , kinh tế, giai cấp, gia đình, bạn bè, ứng xử giữa người với người thì dấu ấn, nội dung của các quan hệ xã hội đó phản ánh trong các phẩm chất tâm lý của nhân cách Mồi người không chỉ tham gia vào một mối quan hệ mà tham gia vào nhiều mối quan hệ, những mối quan hệ đó quy định cụ thể của mỗi con người trong xã hội , đồng thời qua hoạt động của họ Con người khi mới sinh
ra chưa phải đã có nhân cách mà chỉ khi đạt tới một trình độ nhất định, có ngôn ngữ và biết tự nhận thức bản thân mình thì nó mới trở thành có nhân cách
Quá trình hình thành nhân cách thường bắt đầu từ 2-3 tuổi đến 17-18 tuổi, nhân cách được định hình và nó được tiếp tục phát triển hoàn thiện trong suốt cả cuộc đời Giai đoạn sau phát triển hoàn thiện hơn giai đoạn trước và càng về sau nhân cách càng được hoàn thiện, nhân cách không chết theo thể xác của con người mà được người khác đang sống trong xã hội thừa kế , chọn lọc , duy trì và phát triển các giá trị của nó
Qua nghiên cứu, tìm hiểu quan điểm của nhà tâm lý học mác xít cho thấy không có sự tách rời cái tự nhiên sinh học với các xã hội trong bản chất con người Nhân cách được coi là sản phẩm của các quan hệ đồng thời cũng
là sản phẩm của sự tiến hóa, phát triển của cái tự nhiên
Thứ hai, nhân cách có tính tích cực trong quá trình cải tạo và biến đổi
tồn tại xã hội, nhân cách là sán phẩm xã hội - lịch sử Nhưng nhân cách không phải là sản phẩm thụ động mà nó có vai trò to lớn trong việc phát hiện
ra những yếu tố không hợp lí của tồn tại xã hội, của hoàn cảnh, đồng thời nhân cách còn có vai trò tác động trở lại tồn tại xã hội, góp phần cải tạo và
Trang 9biến đổi tồn tại xã hội Trong hoàn cảnh đó, nhân cách có tính vượt trước, thể hiện sự năng động đối với tồn tại xã hội Rõ rang lúc này nhân cách đóng vai trò là chủ thể tích cực trong mối quan hệ với tồn tại xã hội
Khi tham gia vào các quá trình sản xuất, vào các quan hệ xã hội con người không chỉ tiếp tục phản ánh một cách thụ động mà còn chọn lọc những tác động của thế giới khách quan để phát triển trí tuệ, khả năng sáng tạo của mình, con người làm biến đổi hoàn cảnh, thay đổi điều kiện tự nhiên khách quan, bắt tự nhiên phục vụ mình
Thứ ba, nhân cách có tính đặc thù cá biệt Theo quan điểm của các nhà
tam lý học mác xít, mỗi con người sinh ra và lớn lên đều chịu sự tác động của điều kiện hoàn cảnh xã hội Tuy nhiên, cơ chế tiếp nhận sự tác động đó phụ thuộc vào cấu trúc sinh lý riêng biệt của mỗi cá nhân, hoàn cảnh, điều kiện riềng của mỗi con người ngoài những tác động chung Điều đó làm cơ sở cho việc nhận thức đặc thù,cá biệt trong nhân cách Tính đặc thù đó tạo ra tính không lặp lại trong nhân cách Nhiều trường phái tâm lý học mác xít đã đưa ra những định nghĩa khác nhau, song có sự thống nhất về bản chất nhân cách Các quan điểm đó cho rằng :
- Nói đến nhân cách là nói đến thuộc tính phẩm chất tâm lý được hình thành từ trong các quan hệ xã hội, từ những hoạt động có ý thức của mỗi con người, những phẩm chất đó quy định hành vi và giá trị xã hội của mỗi người
- Nói đến nhân cách là nói đến đặc điểm tâm lý riêng của mỗi cá thể người Đó là đơn vị cuối cùng là cái đơn nhất tạo nên chính nó chứ không phải ai khác
- Nói đến nhân cách bao giờ cũng gắn liền với tồn tại than thể của một con người, nó không phải là một cái gì trìu tượng, mà là sản phẩm hoạt động
có ý thức của con người
Trang 10- Nhân cách biểu hiện giá trị xã hội của mỗi cá nhân con người trước tác động của hiện thực khách quan và trong quá trình sống , hoạt động
Các nhà tâm lý học lãnh đạo, quản lý cho rằng nhân cách người lãnh đạo, quản lý là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý cá nhân, quy định giá trị xã hội của người lãnh đạo, quản lý
Yêu cầu về nhân cách người lãnh đạo, quản lý nói chung và người lãnh đạo quản lý trong ngành văn hóa nói riêng là phải cao hơn, mẫu mực hơn và hoàn thiện hơn những người lao động bình thường để xứng đáng là người lãnh đạo, quản lý Lãnh đạo, quản lý là một dạng hoạt động đặc thù, có ảnh hưởng tích cực đến quá trình hình thành nhân cách Các phẩm chất tâm lý quy định giá trị và hành vi xã hội của người lãnh đạo, quản lý phải được biểu hiện
cụ thể bằng các tiêu chí nhất định Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh trong nước và quốc tế phức tạp như hiện nay, đòi hỏi nhân cách người lãnh đạo quản lý của ngành văn hóa phải hội tụ các phẩm chất tâm lý của một người làm công tác chính trị, nhà tổ chức, người hoạt động chuyên môn, đồng thời phải là một nhà “cầm quân” được phản ánh qua năng lực, phẩm chất của người lãnh đạo, quản lý hay là Đức – Tài cuả người lãnh đạo, quan lý
1.2 Đặc điểm của nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý
Nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa có những đặc điểm chủ yếu sau:
Một là, tính thống nhất của nhân cách người lãnh đạo, quản lý
Nhân cách là sự thống nhất nhiều đặc điểm, phẩm chất tâm lý cá nhân biểu hiện trong hành vi, hoạt động của con người Đó là sự thống nhất giữa lý
Trang 11trí và tình cảm, giữa đức và tài, giữa bản lĩnh và sự thích ứng, giữa hành vi bản năng và hành vi xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân, giữa lý tưởng của chủ thể lãnh đạo,quản lý và đối tượng bị lãnh đạo, quản lý Một người cán bộ lãnh đạo,quản lý có lòng nhân hậu, khoan dung thì dù trong hoàn cảnh nào, quan hệ xã hội nào, cũng phải thể hiện được sự thống nhất của
nó trong hành vi và hoạt động, được xã hội và mọi người đánh giá, thừa nhận
sự nhất quán và trung thực của phẩm chất, nhân cách đó
Hai là, tính ổn định của nhân cách người lãnh đạo, quản lý
Một trong những đặc trưng của nhân cách là ổn định và phát triển Ta nhận thấy tính ổn định của nhân cách rất rõ nét đều gắn liền với toàn bộ cuộc đời hoặc từng giai đoạn phát triển con người Các phẩm chất của nhân cách, các kiểu hành vi, phong cách ứng xử hoạt động được hình thành trong một thời gian dài thường ổn định với các quan hệ xã hội, nếp sống, chế độ sinh hoạt, làm việc ổn định Có thể trong cuộc đời và hoạt động thường nhật, đôi khi có những biến động, có nét tính cách mới xuất hiện, có những thay đổi của đối tượng hoạt động của môi trường cuộc sống, nhưng nhìn chung thì chúng vẫn không làm thay đổi được đặc điểm, phẩm chất, thuộc tính của một nhân cách Ngược lại, bản lĩnh, phong cách, tư cách tương đối ổn định của một nhân cách như thế càng trọn vẹn, bền vững có chiều sâu, được thử thách
và càng phát triển, hoàn thiện
Ba là, tính tích cực của người lãnh đạo, quản lý
Nhân cách là của một chủ thể hoạt động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển Nhân cách được hình thành nhờ hoạt động tích cực của cá nhân trong các quan hệ xã hội, là sản phẩm của xã hội Để được thừa nhận là một nhân cách tích cực và chủ động, con người phải tích cực quan sát, học tập hành động để nhận thức các chuẩn mực hành vi xã hội, hoạt động theo các chuẩn
Trang 12mực xã hội góp phần nhận thức và cải tạo thế giới, cải tạo chính mình Nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý càng phải thể hiện rõ tính tích cực và chủ động trong hoạt động nhận thức, cải tạo xã hội Đó là một giá trị xã hội được
so sánh lựa chọn và thừa nhận, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải là một chủ thể hoạt động tích cực cải tạo tự nhiên, xã hội và hoàn thiện bản thân theo yêu cầu thực hiện lý tưởng giải phóng con người và công bằng xã hội
Bốn là, tính giao lưu của nhân cách người lãnh đạo, quản lý
Nhân cách không thể hình thành nếu con người không chung sống, quan
hệ với mọi người Giao lưu và tiếp xúc với mọi người trở thành nhu cầu thân thiết của mỗi con người Từ hành vi, ngôn ngữ, trong quan hệ giao tiếp xã hội, qua các kiểu hoạt động, tiếp cận với những người xung quanh, mỗi người rút
ra được cách thức ứng xử, hành động cho riêng mình Từ quá trình hoạt động liên nhân cách LX Vưgôtxki, nhà tâm lý học người Nga cho rằng: nhân cách
là cái của tôi có trong ta và cái ta có trong người khác, đồng thời là cái người khác có trong ta Chỉ trong giao lưu với mọi người, con người mới có nhân cách Đây là một yêu cầu khách quan đối với con người nói chung và càng đặc biệt chú ý trong nhân cách người lãnh đạo, quản lý Theo quan điểm này, chúng ta nhận thấy rõ vai trò của phương pháp trực quan, nêu gương của người cán bộ lãnh đạo, quản lý và phương pháp giáo dục bằng tập thể Trong hoạt động tập thể và giao lưu, mẫu hình nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý càng được mọi người tập chung chú ý, thì tính tự chủ, gương mẫu càng có ý nghĩa Từ đó mỗi người nhận ra mình, tự hoàn thiện mình theo những chuẩn mực của xã hội, quy định của tập thể và tấm gương của người lãnh đạo, quản lý
1.3 Cấu trúc nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý
Đời sống tâm lý của người cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng có một cấu trúc nhất định; ta có thể xác lập được một cấu trúc điển hình của nhân cách
Trang 13nói chung Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của nhân cách Trong quan niệm đó, quan niệm bao quát hơn và phù hợp hơn, cấu trúc nhân cách nói chung và của người cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng bao gồm bốn thuộc tính tâm lý: xu hướng , tính cách, năng lực và tính khí
Thứ nhất, xu hướng nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý
Xu hướng là chiều hướng hoạt động và phát triển cuộc đời của một con người, là mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống, trở thành động cơ thôi thúc hoạt động của con người Xu hướng nhân cách của một cá nhân được hình thành
và phát triển theo trình độ nhận thức, tình cảm và ý chí của họ đối với mục đích của cuộc đời cần đạt tới Xu hướng quy định phương hướng hoạt động và phát triển của cá nhân Xu hướng biểu hiện ở các mặt nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan và niềm tin mỗi cá nhân
Theo A.G.Côvaliốp: “ Nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân và các nhóm
xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển”
Đó là các sự vật và hiện tượng khách quan mà chủ thể nhận thấy cần thiết để bảo đảm sự tồn tại cân bằng của nó đối với thế giới xung quanh Cho nên, nhu cầu là trạng thái tâm lý biểu hiện sự phụ thuộc của nhân cách với thế giới xung quanh Ph Ăngghen chỉ rõ : “ người ta quy cho bộ óc, cho sự phát triển
và hoạt động của bộ óc, tất cả công lao làm cho nền văn minh phát triển nhanh chóng, và đáng lẽ phải giải thích hoạt động của mình từ nhu cầu của mình…, thì người ta lại quen giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình và chính vì thế mà dần dần xuất hiện một thế giới quan duy tâm, nó thống trị đầu óc của người”
Nhu cầu của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trước hết cũng phải phù hợp và thống nhất với nhu cầu chính đáng của con người, biểu hiện sự khát
Trang 14vọng ham muốn làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đó là động cơ chủ yếu, thôi thúc hành động của bản thân và lôi cuốn mọi người cùng thực hiện
Trong quá trình hoạt động, để đáp ứng nhu cầu cá nhân có thể gặp được các đối tượng vừa đáp ứng được nhu cầu, vừa thu hút được tình cảm, làm cho
cá nhân có thái độ đặc biệt đối với đối tượng đó, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan
- Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa
có ý nghĩa trong đời sống, vừa có khả năng đem lại cho cá nhân đó những cảm xúc nhất định
- Lý tưởng là mục tiêu cao đẹp được phản ánh trong đầu óc con người dưới hình thức một hình ảnh mẫu mực, hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn họ vào hoạt động để vươn lên tới mục tiêu đó
- Thế giới quan là hệ thống quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người Thế giới quan có vai trò định hướng, điều chỉnh mọi hoạt động Nó giúp con người nhìn nhận, đánh giá thế giới xung quanh và bản thân, vạch hướng cho
họ lựa chọn những thái độ và hành vi trong hoạt động
- Niềm tin là sự hòa quỵên một cách hữu cơ giữa nhận thức, tình cảm và
ý chí của cá nhân Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có niềm tin vững vàng
và kiên định vào mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Thứ hai, tính cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý
Tính cách là thuộc tính tâm lý cá nhân quan trọng nhất bao trùm nhân cách Tính cách của cá nhân được thể hiện rõ nét ở hệ thống thái độ và hệ thống hành vi tương ứng
Trang 15Tính cách là sự thể hiện rõ nét những đặc điểm tâm lý của cá nhân Những đặc điểm này quy định ý thức, hành vi của cá nhân trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, thể hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh, với công việc với mọi người và bản thân…
Tính cách của cá nhân chính là quan hệ ứng xử, hệ thống thái độ với công việc, đối với người khác, đối với xã hội, đối với bản thân Nó còn biểu hiện cả trong quá trình nhận thức tình cảm, ý chí của cá nhân Có cả những nét tính cách tốt hoặc tính cách xấu của cá nhân Thái độ đối với xã hội, với lao động của mỗi người có thể tích cực hay tiêu cực, chăm chỉ hay lười nhác, làm việc sáng tạo hay bảo thủ Thái độ và quan hệ đối với lao động là dấu hiệu đáng tin cậy để xem xét tính cách của mỗi cá nhân khi cần đánh giá nhân cách của một con người và giao nhiệm vụ cho họ Chủ tịch Hồ chí Minh dạy rằng, đối với tự mình phải “luôn luôn cầu tiến bộ…luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình… Sửa đổi khuyết điểm của mình Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình” Người còn nhấn mạnh: “ Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý” Phải biết phát huy những nét tính cách tích cực và hạn chế, khắc phục những nét tính cách tiêu cực của bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ : Đảng viên và cán bộ cũng là người, ai cũng có tính tốt và tính xấu Song…đã là người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt
và sửa bỏ những tính xấu Vì tính xấu của một người chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một số cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân
Tính cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý thể hiện ở thái độ tốt đối với
xã hội và bản thân, có tình cảm cách mạng, quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm
Trang 16vụ được giao Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tu dưỡng rèn luyện mình
để khuyết điểm ngày càng ít, tính tốt ngày càng nhiều theo năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm như Chủ tịch Hồ chí Minh đã dạy
Đối với người ngành văn hóa nhân dân, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là những yêu cầu về nhân cách và vẫn nguyên giá trị mà những người cán bộ lãnh đạo, quản lý luôn ghi nhớ và tuôn theo: Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận, người nghệ sĩ cũng là người chiến sĩ trên mặt trận
ấy
Thứ ba, năng lực của người cán bộ lãnh đạo, quản lý
Mỗi cá nhân có những năng lực nhất định để có thể hoạt động đạt được kết quả Năng lực được hiểu là khả năng học tập nghiên cứu và áp dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào các lĩnh vực hoạt động và đem lại hiệu quả Năng lực là một thuộc tính tâm lý vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, đặc biệt là người lãnh đạo, quản lý, nó cho biết con người có thể làm được việc gì và làm đến đâu, nó bảo đảm cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý hoàn thành được nhiệm vụ và tiến hành được các hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân
Những tư chất, tố chất di truyền có sẵn là điều kiện quan trọng, thuận lợi nhất định cho sự hình thành, phát triển năng lực cá nhân Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “ Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác do tập luyện mà có” Chúng ta cần phân biệt năng lực với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Tri thức là những hiểu biết mà con người thu nhận được từ lập trường, sách báo và kinh nhiệm cuộc sống kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức vào thực tế, kỹ xảo là sự vận dụng thuần
Trang 17thục chung Năng lực là khả năng áp dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào một lĩnh vực hoạt động nhất định có hiệu quả
Ở người cán bộ lãnh đạo, quản lý còn có khả năng cá biệt, khả năng cá biệt thể hiện ở tầm vực quản lý của người cán bộ lãnh đạo, quản lý rộng hay hẹp, nông hay sâu, có bị tác động bởi tuổi tác và tính cơ động trong các tác phong công tác hay không Ngoài năng lực tổ chức, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần có những năng lực kiểm tra, kiểm soát
Đối với người lãnh đạo, quản lý nói chung và ngành văn hóa nói riêng,
do đặc thù của của lĩnh vực hoạt động của ngành là tính chất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm Do đó, ngoài những phẩm chất năng lực trên, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa phải có thêm một số yếu tố sau :
- Có khả năng tổ chức, phối hộ hoạt động giữa các bộ phận trong ngành, giữa ngành văn hóa với các cơ quan nội chính khác như lực lượng công an, nhất là an ninh văn hóa; quân đội và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác
- Có khả năng dự báo tốt để tham mưu cho Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh về công tác văn hóa thể thao, thông tin và du lịch Dự báo càng chính xác
là cơ sở, điều kiện quan trọng để bảo đảm tính hiệu quả về kinh tế, chính trị trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của người lãnh đạo, quản lý; bảo vệ tốt hơn những giá trị tinh thần, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, bảo vệ và khai thác có hiệu quả những di tích cách mạng, lịch sử dân tộc trên địa bàn tỉnh
- Tính quyết đoán dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách được giao Lãnh đạo, quản lý bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của dân tộc, đấu tranh chống lại những thói hư, tật xấu, lối sống thực dụng của một bộ phận thanh thiếu niên, của một bộ phận cán bộ, công chức trên địa bàn Đôi khi còn phải đối
Trang 18mặt với tội phạm nguy hiểm, nhất là tội phạm có tổ chức, cấu kết chặt chẽ với một số cán bộ có quyền lực trong hệ thống chính trị, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý của ngành văn hóa vừa khôn khéo, vừa kiên quyết, vừa quyết đoán
Thứ 4, tính khí của người lãnh đạo, quản lý
Tính khí là một thuộc tính tâm lý cá nhân tương đối ổn định, nó làm cho họat động tâm lý của mỗi cá nhân có sắc thái độc đáo, khiến cá nhân này khác
cá nhân kia một cách rõ rệt
Tính khí gắn liền với đặc điểm hoạt động sinh lý thần kinh của mỗi cá nhân, là sắc thái của các hành vi cá nhân, là đặc trưng chung nhất về cường độ
và nhịp độ hoạt động tâm lý của mỗi cá nhân
- Kiểu hoạt động thần kinh mạnh, cân bằng và linh hoạt là cơ sở sinh lý- thần kinh của loại tính khí linh hoạt
- Kiểu hoạt động thần kinh mạnh, cân bằng và không linh hoạt là cơ sở sinh lý- thần kinh của loại tính khí điềm đạm
- Kiểu hoạt động thần kinh mạnh, không cân bằng là cơ sở sinh lý- thần kinh của loại tính khí nóng nảy
- Kiểu hoạt động thần kinh yếu là cơ sở sinh lý của tính khí trầm, ưu tư Ngoài ra, tính khí còn phụ thuộc vào các thuộc tính tâm lý khác, đặc biệt là vào ý chí, nghị lực và tính cách của mỗi cá nhân
Tính khí là sắc thái của hành vi cá nhân, nó chi phối hoạt động tâm
lý con người về cường độ, về tốc độ, về nhịp độ Tính khí không quy định nội dung tốt hay xấu của hành vi con người, tính khí tương đối bền vững
Dưới đây là một số biểu hiện của bốn loại tính khí nói trên:
Trang 19+ Người tính khí hoạt bát thường tỏ ra linh hoạt, nhanh nhẹn, dễ thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh Khi được giao công việc phù hợp với hứng thú của bản thân thì họ tỏ ra hăng hái, tìm cách vượt mọi khó khăn trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ Những người có tính khí hoạt bát có nhược điểm là hấp tấp, vội vàng, thiếu kiên trì
+ Người có tính khí điềm đạm thường tỏ ra ung dung, bình thản Họ có thể kiềm chế được những cơn xúc động Trong hoạt động có sự đều đặn, cân bằng
và kiên trì Trong quan hệ thường đúng mực, hơi kín đáo, tinh ý và kém linh hoạt là nhược điểm nổi bật của người trầm tĩnh Nó thể hiện ở chỗ chậm thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh, song cũng có mặt tốt là tránh được sự vội vàng, hấp tấp
+ Người tính khí nóng nảy tỏ ra có sức sống dồi dào, các hoạt động tâm lý bộ
lộ mạnh mẽ Họ thường dốc sức làm những việc ưa thích, ngang tang Nhược điểm của người nóng tính là dễ nổi nóng, dễ bị kích động, dễ bốc, dễ xẹp
+ Người tính khí thầm lặng trông có uy tư, ủy mị, yếu đuối, chậm chạp Họ
dễ sinh lo lắng, mặc cảm Nhưng kiểu người này có ưu điểm là nhạy cảm, tinh
tế, họ thường đắn đo, suy nghĩ tỉ mỉ, thận trọng trước một việc sắp làm, do đó
có thể lường trước được các hậu quả Họ có thái độ nhẫn nại trong những việc bình thường đơn điệu, trong quan hệ với mọi người tuy họ ít cởi mở nhưng tình cảm lại sâu bền, tế nhị
Cấu trúc nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý trên đây thống nhất với quan điểm đức- tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm phẩm chất và năng lực của Đảng ta về cấu trúc nhân cách người cán bộ cách mạng, người
Trang 20cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta, là nền tảng lý luận để chúng ta xác định tiêu chuẩn cho mọi cán bộ, tiêu chuẩn đó là:
- “Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỉ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
- Có trình độ hiểu biết về trình độ chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, trình độ văn hóa, chuyên môn,
đủ khả năng và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao
- Các tiêu chuẩn đó có mối quan hệ mật thiết với nhau Coi trọng cả đức
và tài, đức là gốc Riêng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân cần phải:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, có năng lực dự báo và định hướng phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách pháp luật, thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện, có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Gương mẫu về đạo đức, lối sống, có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ… Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý Đã học tập có hệ thống ở các trường của Đảng, Nhà nước
và đoàn thể nhân dân, trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả
Trang 21Đương nhiên cần thực hiện, bổ xung và phát triển, cụ thể hóa các tiêu chuẩn đó cho phù hợp với yêu cầu, đặc điểm từng địa phương, từng ngành, từng đơn vị và cả giai đoạn đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Đối với ngành văn hóa, ngày 31 tháng 7 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quy tắc ứng xử của Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa kèm theo Quyết định số 61/2008/QĐ- BVHTTDL Trong đó quy định nhiều phẩm chất cần có của Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành nói chung và của cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa nói riêng
Ứng xử trong thực hiện công vụ: Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn
hóa phải tuân thủ và gương mẫu thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng học tập, tu dưỡng và rèn luyện để nâng cao năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử có văn hóa để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trong thực thi công vụ, Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa phải làm và không được làm, theo những quy định trong Bộ luật Lao động, Pháp lệnh cán bộ công chức, Luật phòng chống tham nhũng và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Ứng xử trong thực hiện nhiệm vụ : Trong giao tiếp và ứng xử, Cán bộ
lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa phải có thái độ lịch sự, tôn trọng Ngôn ngữ giao tiếp phải rõ rang, mạch lạc, không nói tục, nói tiếng long, quát nạt Có thái độ thận trọng, khách quan, toàn diện khi xem xét, đánh giá sự việc; Lắng nghe, tôn trọng các ý kiến giải trình hợp lý của đối tượng tiếp xúc, hướng dẫn cho đối tượng khi tiếp xúc hiểu và thực hiện đúng quy định của pháp luật;
Trang 22Giao tiếp với đối tượng làm việc tại công sở trong giờ hành chính đúng nguyên tắc khách quan, minh bạch, rõ ràng
Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa không được : Lợi dụng danh nghĩa nhiệm vụ được giao để thực hiện hành vi trái pháp luật; nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần để vụ lợi; sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng tiếp xúc; Kiến nghị, kết luận, quyết định xử lý trái pháp luật; bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật, truy ép, gợi ý cho đối tượng tiếp xúc trả lời chất vấn, trình bày sự việc theo ý muốn chủ quan của mình; Cản trở, tiết lộ thông tin, tài liệu về nội dung làm việc khi chưa có kết luận chính thức
Ứng xử trong giao tiếp với công dân khi thi hành công vụ: Trong giao
tiếp với công dân, Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa phải nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích rõ rang, cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc
Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa phải : Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ tiếp dân, giải quyết công việc theo thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định trong Quy chế tiếp công dân và các văn bản pháp luật khác có liên quan; Khi thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị phải thận trọng, khách quan và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình
Những việc cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa không được làm : Thái độ hách dịch, sách nhiễu, trì hoãn, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ; Làm sai lệch hồ sơ, kết quả giải quyết vụ việc; truy ép hoặc gợi ý cho đối tượng tiếp xúc trình bày sự việc theo ý muốn chủ quan của
Trang 23mình; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích hoặc các thông tin về người tố cáo
Ứng xử trong nhiệm vụ phòng chống tham nhũng:
- Những việc cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa phải làm : Tuân thủ các nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thẩm tra, xác minh về chống tham nhũng theo quy định của pháp luật; Cung cấp thông tin, báo cáo trung thực về công tác phòng, chống tham nhũng cho cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật
- Những việc Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa không được làm :
Có hành vi làm sai lệch hồ sơ, thông tin, tài liệu, báo cáo sai sự thật về phòng, chống tham nhũng ; Lợi dụng việc phòng chống tham nhũng để gây rối, làm mất đoàn kết nội bộ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của cá nhân, uy tín của
cơ quan, tổ chức; Lợi dụng việc xác minh tài sản để gây khó khăn, phiền hà, cản trở hoạt động bình thường của người được xác minh; tiết lộ thông tin về tài sản của người được xác minh trái pháp luật
Ứng xử với cán bộ lãnh đạo và đồng nghiệp : Cán bộ lãnh đạo, quản lý
ngành văn hóa phải xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, đạo đức và văn hóa công
vụ trong cơ quan, đơn vị; nắm bắt kịp thời tâm lý, tôn trọng và phát huy dân chủ kinh nhiệm, sáng tạo của cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện công vụ; bảo vệ danh dự chính đáng của cán bộ công chức, viên chức và người lao động khi có phản ánh, tố cáo không đúng sự thật
Ứng xử với cơ quan, tổ chức có liên quan và cơ quan thông tin báo chí :
Chỉ được phát ngôn, cung cấp những thông tin tài liệu về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng cho các cơ quan thông tin, báo
Trang 24chí, cơ quan, tổ chức có liên quan khi có kết luận chính thức của cấp có thẩm quyền và sự đồng ý lãnh đạo theo quy định của pháp luật
Ứng xử với tổ chức, cá nhân nước ngoài : Thực hiện quy định của
pháp luật và của cơ quan khi quan hệ với cơ quan, tổ chức nước ngoài và cá nhân người nước ngoài Chỉ được cung cấp thông tin, tài liệu, phát ngôn những vấn đề liên quan đến công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng khi được cấp có thẩm quyền giao
Ứng xử nơi công cộng : Chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp
luật và quy tắc sinh hoạt nơi công cộng Không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tạo thanh thế khi tham gia các hoạt động xã hội; tham gia tiếp tay hoặc bao che cho các hành vi vi phạm pháp luật Kịp thời thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết các thông tin về hành vi vi phạm pháp luật
Ứng xử với nhân dân nơi cư trú : Tích cực tham gia tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng và các văn bản pháp luật khác Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tham gia sinh hoạt nơi cư trú, chịu sự giám sát của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nơi cư trú Không can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi cư trú; không tham gia xúi giục, kích động, bao che các hành vi trái pháp luật
Ứng xử nơi gia đình : Tích cực tuyên truyền, giáo dục, vận động người
thân trong gia đình chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Không để bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con, anh, chị em ruột lợi dụng danh nghĩa của bản than để vụ lợi cho gia đình và bản thân
Trang 25Không được tổ chức cưới hỏi, ma chay, mừng thọ, sinh nhật, tân gia và các việc khác xa hoa lãng phí, để vụ lợi
Tóm lại, người lãnh đạo, quản lý ngành văn hóa luôn luôn thực hiện
phương châm “ bốn chịu” : chịu học, chịu đọc, chịu nghe, chịu đi làm cơ sở
để tổng kết thực tiễn Trên cơ sở đó để có “bốn biết” : biết viết cho mọi người hiểu, biết nói cho mọi người thong, biết làm và biết điều để xử xự tốt với mọi người Trong hành động, cần thực hiện phương châm mười chữ : tận tụy để cấp dưới thương, gương mẫu để cấp dưới trọng, sáng tạo để cấp dưới có thêm việc làm và có thu nhập chính đáng, dân chủ để cấp dưới dễ gần và có thông tin, kỷ cương để người tốt luôn luôn có điểm tựa, người chưa
tốt được giáo dục, rèn luyện cảm hóa, tiến bộ trưởng thành
Trang 262.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý : Tỉnh Phú Thọ là tỉnh miền núi, nằm ở tọa độ địa lý giữa
210 và 220 vĩ độ Bắc, 1050 kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 85 km Diện tích tự nhiên là 3.518,58 km2, chiếm 1,067% tổng diện tích tự nhiên cả nước Các đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 2, quốc lộ 3; tuyến đường sắt Hà Nội – Phú Thọ - Yên Bái – Lào Cai – Vân Nam Hệ thống các sông chính chảy qua địa bàn như sông Hồng, sông Đà, sông Lô chảy qua địa phận tỉnh Phú Thọ
Địa hình : Địa hình phức tạp, toàn vùng núi có 3.327,54 km2, chiếm
79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng trung du chiếm 14,35% diện tích ; vùng đồng bằng chiếm 6,65% diện tích Điểm cao nhất có độ cao 1.200m so với mực nước biển, điểm thấp nhất cao 30m ; độ cao trung bình là 250m so với mực nước biển
Khí hậu : Mưa, bão tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10
trong năm với lượng mưa trung bình hàng năm là 1.343mm Các hiện tượng gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra vào mùa hè và mùa thu Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,36 độ C, tháng lạnh nhất là tháng 12 Tần suất sương muối thường xảy ra vào mùa đông
Trang 272.1.2 Dân số, dân tộc
Dân số - dân tộc : Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Phú Thọ có
1.216.599 người Trong đó, lao động xã hội toàn tỉnh là 727.500 người chiếm 59,8% dân số Trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh với
số dân là 1.044.979 người, chiếm 85,89% dân số của tỉnh Dân số là người dân tộc thiểu số là : 171.620 người, chiếm 14,11% số dân toàn tỉnh Trong số các dân tộc thiểu số dân tộc Mường có 165.748 người, chiếm 13,62% ; dân tộc Dao có 11.126 người, chiếm 0,92% ; dân tộc Sán Chay có 2.641 người, chiếm 0,22% ; dân tộc Tày có 1.885 người , chiếm 0,15% ; dân tộc Mông có
628 người , chiếm 0,05% ; dân tộc Thái có 465 người, chiếm 0,04 % ; dân tộc Nùng có 350 người, chiếm 0,03% ; dân tộc Hoa có 274 người, chiếm 0,02% ; dân tộc Thổ có 143 người, chiếm 0,01% ; dân tộc Ngái có 99 người, chiếm 0,008%
Trình độ dân trí : Đến nay đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 12/12 huyện ,
thị, thành phố với 100% số xã ; tỷ lệ người biết chữ đạt 98,3% dân số Số học sinh phổ thông niên học 2001 – 2002 có trên 307.250 em, số giáo viên là 14.183 người Số thầy thuốc có 2.597 người, bình quân y, bác sĩ trên 1 vạn dân là 206 người
2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất : Tỉnh Phú Thọ có 351.858 ha diện tích đất tự nhiên
Trong đó : Diện tích đất nông nghiệp là 95.987 ha, chiếm 27% ; diện tích đất nông nghiệp có rừng là 134.888 ha, chiếm 38% ; diện tích đất chuyên dung là 21.080 ha, chiếm 5% ; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 92.495
ha, chiếm 26%
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 59.235 ha, chiếm 61% ; riêng đất lúa có 48.437 ha, chiếm 81,7% gieo trồng 2 vụ ; diện
Trang 28tích đất trồng cây lâu năm là 12.074 ha, chiếm 12,57% ; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 2.321 ha
Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh 68.836,2 ha; bãi bồi có thể sử dụng 2.438,1 ha
Tài nhuyên rừng : Tính đến năm 2002, tỉnh Phú Thọ có 139.215 ha
rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 69.760 ha, rừng trồng là 69.455 ha
Tài nguyên du lịch : Năm 2000, toàn tỉnh Phú Thọ có 2.782 khách sạn
và nhà hàng Trong đó, của Nhà nước 6, tư nhân 3, cá thể là 2.769 Khu di tích lịch sử Đền Hùng là một nguồn du lịch lớn của tỉnh Phú Thọ
Mạng lưới giao thông đường bộ : Toàn tỉnh hiện có 8.981,2km đường
giao thong, trong đó : Đường do Trung ương quản lý dài 263 km, chiếm 2,92% ; đường do tỉnh quản lý dài 564,6km, chiếm 6,28% ; đường do huyện quản lý dài 783,6km, chiếm 8,7% ; đường do xã quản lý dài 7.370km , chiếm 82%
Chất lượng đường bộ : Đường cấp phối, đường đá dăm chiếm 26%, đường nhựa chỉ chiếm 4,15% còn lại là đường đất Hiện nay , 100% các xã
đã có đường ô tô đến trung tâm xã
Mạng lưới bưu chính viễn thông : Tổng số bưu cục và dịch vụ là 132
đơn vị Số máy điện thoại là 34.691 cái; bình quân 2,68 máy/100 dân
Trang 29Mạng lưới điện quốc gia : Đến nay, toàn tỉnh đã có 100% số huyện có
mạng điện lưới quốc gia được hòa mạng ; 222/270 xã , thị trấn có điện, chiếm 82,2% ; trong đó, xã miền núi là 162/214 xã, thị trấn, chiếm 75,7%
2.1.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Năm 2009 tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, đồng
đô la Mỹ, giá vàng tăng giảm thất thường; giá của nhiều loại vật tư, nguyên liệu tăng cao trong thời gian dài, sự suy giảm của thị trường tài chính đã tác động bất lợi đến sản xuất trong nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp, rét đậm, rét hại kéo dài, sự xuất hiện của dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và ảnh hưởng của các cơn Bão đã gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh Tuy nhiên ngay từ đầu năm, thường trực Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tích cực chỉ đạo các cấp, ngành cùng thực hiện các giải pháp cấp bách của Thủ tướng Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát; các biện pháp giải pháp điều hành thực hiện kế hoạch, ngân sách Nhà nước năm 2009, sự nỗ lực của các tổ chức và toàn dân, kinh tế của tỉnh vẫn tiếp tục duy trì ổn định và tăng trưởng Tổng sản phẩm (GDP) năm 2009 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ước đạt 10,6 % so với năm 2008
Cơ cấu kinh tế tiếp tục giữ được tỷ trọng trong các nhóm ngành
Nông nghiệp : Về diện tích gieo trồng, tổng diện tích gieo trồng cây
hàng năm ước đạt 123.868,6 ha , bằn 97,7% kế hoạch năm và giảm 2,58% (- 3.277,8 ha) so với cùng kỳ năm trước Trong đó, vụ đông xuân đạt 82.085 ha,
so với cùng kỳ, giảm 1,59% ( - 1.330,3 ha ); vụ mùa đạt 41.780,8 ha giảm 4,46 % ( -1.950,3 ha ) so với cùng kỳ năm trước Nhóm cây lương thực có hạt: Tổng diện tích gieo trồng năm 2008 đạt 90.977,3 ha đạt 98,35% kế hoạch năm và giảm 2,65% ( -2.481,3 ha ) so với cùng kỳ năm trước Trong đó diện tích lúa vụ chiêm xuân gieo cấy đạt 35.073,1 ha so với cùng kỳ năm trước
Trang 30giảm 5,15 % (-1.905,3 ha ), diện tích lúa vụ mùa gieo cấy đạt 32.795,6 ha giảm 5,89% ( -2.053,8 ha ) so với vụ mùa năm 2008 Diện tích gieo cấy cây lúa giảm là do thời tiết rét đậm, rét hại, hạn kéo dài đã làm cho một số diện tích lúa đã cấy bị chết không cấy lại được, một số chân ruộng vàn cao bị hạn không cấy được lúa phải chuyển sang trồng các loại cây rau, màu khác ( vụ chiêm ); nhiều địa phương chịu ảnh hưởng của bão lũ gây ngập úng diện tích lúa đã cấy, nhiều chân ruộng cây lúa bị chết không khắc phục được ( vụ mùa ) Mặt khác, do quá trình đô thị hóa, mở rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đường giao thông…cũng đã làm giảm quỹ đất thường xuyên sử dụng cho sản xuất gieo trồng Diện tích gieo trồng cây công nghiệp lâu năm, chè trồng mới toàn tỉnh ước đạt 681,9 ha đạt 136,4 % kế hoạch năm và bằng 56,6% năm 2008; nguyên nhân chè trồng mới năm nay giảm so với năm trước là do thời tiết khô hạn, rét đậm, rét hại vào đúng thời vụ trồng chè do đó
bà con nông dân đã chủ động không trồng mới chè vụ xuân đại trà như các năm trước
- Về năng suất cây trồng, sơ bộ năng suất lúa toàn tỉnh năm 2008 đạt 48,89 tạ/ha bằng 100,8% kế hoạch năm và tăng 8,31% ( +3,8 tạ/ ha ) so với năm 2008 Vụ chiêm xuân thời tiết diễn biến rất phức tạp ở đầu vụ nhưng đến giữa và cuối vụ thời tiết thuận lợi, cây lúa phát triển đều do đó năng suất đạt khá 51,41tạ/ha tăng 20,37% ( +8,7tạ/ha) so với cùng kỳ năm 2008; bước sang
vụ mùa thời tiết đầu vụ diễn biến thuận lợi hơn nhưng đến giữa vụ lại thường xuyên xảy ra mưa lũ, ngập lụt, sâu bệnh hại lúa trên diện rộng nên sơ bộ đánh giá năng suất lúa vụ mùa đạt 46,19tạ/ha giảm 3,21% (-1,5tạ/ha ) so với cùng
kỳ năm trước Năng suất cây công nghiệp lâu năm, cây chè ước đạt 74,18 tạ/ha tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước và đạt 100,9% so với kế hoạch năm
do sản phẩm chè búp năm nay thị trường tiêu thụ tiếp tục được duy trì mở rộng, giá chè búp tuy có xu hướng giảm nhưng sản phẩm chè búp tươi dễ tiêu
Trang 31thụ, bà con nông dân phấn khởi tích cực đầu tư chăm sóc, đốn tỉa và thu hoạch sản phẩm chè theo đúng quy trình kỹ thuật; cây sơn năng suất tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước
- Về sản lượng cây trồng, nhóm cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 421,3 ngàn tấn, đạt 98,61% kế hoạch năm, tăng 3,61% ( +14,7 ngàn tấn ) so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng lúa sơ bộ đạt 331,8 ngàn tấn, đạt 96,3
kế hoạch năm, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,34% (+7,6 ngàn tấn ) Sản lượng ngô cả năm 2008 sơ bộ đạt 89,4 ngàn tấn, đạt 108,0% kế hoạch năm và tăng 8,79 % ( +7,2 ngàn tấn ) so với cả năm 2008 Sản lượng chè búp tươi đạt 98,14 ngàn tấn tăng 11,2% so với năm 2008
- Về chăn nuôi, theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/10/2008, toàn tỉnh có tổng đàn trâu 89.249 con, đạt 91,1% kế hoạch, so với cùng kỳ năm trước giảm 6,22% ( -5.919 con ) ; tổng đàn bò 142.753 con, đạt 85% kế hoạch, giảm 12,63% ( -20.635 con ) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn lợn 593.026 con, đạt 102,2% kế hoạch, tăng 7,37% (+40.715 con ) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn gia cầm 8.421,9 ngàn con, đạt 102,1% kế hoạch, tăng 4,38% (+353,6 ngàn con ) so với cùng kỳ năm 2008 Nguyên nhân làm cho tổng đàn gia súc năm 2009 giảm chủ yếu là do đầu năm trong đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã làm cho một số con trâu, bò, lợn,…bị chết rét; mặt khác do giá cả sản phẩm thịt hơi xuất chuồng giảm, giá vật tư thức ăn chăn nuôi tăng cao, đầu tư cho chăn nuôi kém hiệu quả nên người dân đã xuất bán gia súc ra thị trường với
số lượng nhiều mà lại ít tái đầu tư bù đắp cho sản xuất chăn nuôi nên số lượng đầu con bị giảm nhiều so với trước
Lâm nghiệp : Tổng diện tích rừng trồng mới năm 2009 ước đạt 6.071,5
ha đạt 101,2% kế hoạch cả năm Trong đó , diện tích rừngsản xuất trồng mới
Trang 32tập trung đạt 5.484,9 ha, tăng 3,5% ( +188ha ) so với cùng kỳ năm trước Năm 2009 toàn tỉnh chỉ đạo tập trung trồng rừng sản xuất nhằm mục đích làm kinh tế rừng, trồng kín những diện tích đã cho thu hoạch, khai thác, tiếp tục phủ xanh đất trống, tránh sói mòn đồi rừng, mặt khác tích cực khai thác những quỹ đất có khả năng phát triển trồng rừng, làm kinh tế lâm nghiệp Sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh năm 2009 ước đạt 179,7 ngàn m3, giảm 1,27%
so với năm trước, trong đó gỗ giấy khai thác đạt 158,6 ngàn m3 chiếm 88,3% tổng số gỗ các loại khai thác; sản lượng củi khai thác ước đạt 810,7 ngàn ste, giảm 3,28 % so với năm 2008; tre, vầu, luồng khai thác đạt 3.256,6 ngàn cây giảm 11,3% so với năm trước ; nguyên liệu giấy khai thác đạt 7,3 ngàn tấn; các sản phẩm khai thác từ rừng có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2008
Thủy sản : Tình hình sản xuất nuôi trồng thủy sản đang được tích cực
khắc phục thiệt hại và ổn định trở lại, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 8.587,5
ha, đạt 98,1% kế hoạch năm và bằng 94,61% so với năm 2008.Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 15,2 ngàn tấn, so với cùng kì năm trước giảm 8,19% (-1357,6 tấn); trong đó: sản lượng cá nuôi trồng đạt 13,6 ngàn tấn, giảm 8,18%(-1209,2 tấn) so với năm 2008 Nhiều trang trại, hộ gia đình đã chú trọng vào sản xuất nuôi trồng thủy sản, từng bước đưa một số giống cá cho sản lượng thu hoạch nhanh vào nuôi trồng
Sản xuất công nghiệp: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu, sản xuất công nghiệp tỉnh Phú Thọ năm 2009 gặp nhiều khó khăn, nhất là những tháng cuối năm, đây là nguyên nhân chính làm cho nền kinh tế của tỉnh không đạt kế hoạch Giá trị sản xuất công nghiệp( theo giá cố định) năm 2009 ước thực hiện 9.182,7 tỉ đồng bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước
TW tăng 2,7%; khu vực kinh tế Nhà nước địa phương tăng 1,3%; khu vực
Trang 33kinh tế ngoài Nhà nước tăng 21,4%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài tăng 14,9% Cụ thể:
- Khu vực kinh tế Nhà nước TW, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá
cố định) ước thực hiện 2.951 tỷ đồng, chiếm 32,1% tổng chung, tăng 2,7% so với năm trước và đạt 95,5% kế hoạch năm Nguyên nhân sản xuất khu vực này có tốc độ tăng sụt giảm mạnh trong những tháng cuối năm và có mức tăn thấp nhất của các thành phần kinh tế trong khu vực là do một số doanh nghiệp lớn trong nghành sản xuất giấy, sản xuất phân bón găp khó khăn trong khâu tiêu thụ, lượng tồn kho ở mức cao do đó sản xuất phải chững lại các máy móc hoạt động không hết công xuất thiết kế Mặt khác do giá bán vẫn ở mức cao, người sản xuất đầu tư ít và có nhiều sản phẩm cùng loại cạnh tranh trên thị trường do đó lượng tồn kho ở mức rất cao Không chỉ riêng các ngành sản xuất giấy, sản xuất phân bón (đóng góp lớn cho nền kinh tế của tỉnh) bị giảm sút, bên cạnh đó các đơn vị trong ngành sản xuất hóa chất, ngành Dệt và sản xuất đồ uống cũng bị giảm theo, do đó nhiều đơn vị đã phải thực hiện giảm sản lượng sản xuất nên đời sống công nhân gặp rất nhiều khó khăn
- Khu vực kinh tế nhà nước địa phương, ước thực hiện 268 tỷ đồng tăng 1,3% so với năm trước Trong năm, các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất
ổn định tăng trưởng thấp so với cùng kỳ
Các đơn vị trong khu vực tuy gặp nhiều khó khăn do sản phẩm sản xuất chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, do phải cạnh tranh với các mặt hàng cùng loại hoặc việc mở rộng thị trường tiêu thụ thì việc đầu tư tốn kém, nhưng các đơn vị trong ngành sản xuất đồ uống đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, sản xuất sản phẩm chất lượng cao, do vậy giữ được mức ổn định;doanh nghiệp trong nghành sản xuất và phân phối nước đã đầu tư mở