Như vậy dựa vào bản chất của du lịch là sự du ngoạn của con người để được thẩm nhận, được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn hoá cao, độc đáo, đặc sắc khác lạ với qu
Trang 1Trường đại học văn hoá hμ nội Khoa quản lý văn hoá-nghệ thuật
Lớp : QLVH 8B Khoá học : 2007 - 2011
Hμ nội: 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau bốn năm học tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội cùng với sự nỗ lực học tập của bản thân, sự day bảo của các thầy cô giáo em đã vinh dự được viết khóa luận tốt nghiệp Trong quá trình viết khóa luận: “Công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội” Em đã nhận được sự giúp đỡ, quan tâm và hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Phạm Bích Huyền Bên cạnh những kiến thức liên quan đề tài, qua
Cô em còn học được những kinh nghiệm, ứng xử trong cuộc sống Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô, người đã luôn giúp đỡ em có thể hoàn thành tốt khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại học Văn hóa
Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Văn hóa - Nghệ thuật, các thầy cô đã giúp chúng em có thêm rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm sau bốn năm học
Và cuối cùng em xin cảm ơn những người thân trong gia đình, những người bạn đã luôn động viên, ủng hộ và giúp đỡ em trong suốt quá trình viết khóa luận
Đề tài khóa luận “Công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở
đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội” được viết từ góc nhìn của một sinh
viên còn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu nên chắc rằng còn nhiều thiếu sót
Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Tạ Thu Sa
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 6
1.1 Các khái niệm 6
1.1.1 Khái niệm về quản lý 6
1.1.2 Khái niệm Di sản văn hoá 7
1.1.3 Khái niệm quản lý di sản văn hoá 8
1.1.4 Khái niệm du lịch: 8
1.2 Những vấn đề chung về quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch ở Việt Nam 12
1.2.1 Mối quan hệ giữa quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch 12
1.2.2 Quan điểm của nhà nước về quản lý di sản văn hoá, bên cạnh đó phát triển du lịch 19
1.2.3 Cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa và du lịch 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở ĐỀN NGỌC SƠN- HOÀN KIẾM - HÀ NỘI 33
2.1 Khái quát về di tích 33
2.1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan đền Ngọc Sơn trong cụm di tích Hồ Gươm 33
2.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 34
2.1.3 Kiến trúc và cấu trúc khu di tích 37
2.1.4 Vai trò tín ngưỡng tâm linh của đền Ngọc Sơn 1
2.1.5 Giá trị hiện vật trong đền Ngọc Sơn 4
2.1.6 Truyền thống lịch sử 7
2.2 Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý bảo vệ, tôn tạo và phát triển di tích 10
2.2.1 Thực trạng quản lý di tích 10
2.2.1.1 Đội ngũ những người phục vụ đền Ngọc Sơn ……….50
2.2.1.2 Công tác tu bổ, bảo tồn di tích ……….51
2.2.1.3 Cơ sở vật chất của Đền ……….51
2.2.1.4 Công tác bảo vệ môi trường ……….53
2.2.2 Thực trạng phát triển du lịch tại di tích 14
2.2.2.1 Các loại hình du lịch……… 54
2.2.2.2 Số lượng khách du lịch……… 55
Trang 42.2.2.3 Các hoạt động dịch vụ phục vụ du khách ……….56
2.2.2.4 Xe điện phục vụ khách du lịch ……… …57
2.3 So sánh thực trạng quản lý di sản và phát triển du lịch tại một số di tích 20
2.3.1 Di tích lịch sử Đền thờ Hai Bà Trưng 20
2.3.2 Di tích lịch sử Gò Đống Đa 23
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở ĐỀN NGỌC SƠN – HOÀN KIẾM – HÀ NỘI 25
3.1 Nâng cao trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực 25
3.2 Nâng cao tính tự quản của nhân dân trong vấn đề quản lý, bảo vệ khu di tích và phát triển du lịch 26
3.3 Giải pháp về đầu tư nguồn kinh phí cơ sở vật chất 26
3.4 Giải pháp về tu bổ, tôn tạo di tích 27
3.5 Tăng cường quảng bá du lịch 28
3.6 Quản lý các hoạt động dịch vụ, môi trường 29
KẾT LUẬN……….77
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …79
PHỤ LỤC………80
Trang 5MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Lịch sử đã để lại cho dân tộc ta nhiều di sản văn hoá quý báu, đặc biệt là hệ thống di tích lịch sử văn hoá với các Đình, Chùa, Miếu, Lăng, Thành, các công trình kiến trúc Mỗi một công trình không chỉ đơn thuần là sản phẩm được kết tinh từ trí tuệ, bàn tay tài hoa, khéo léo của bao thế hệ cha ông, mà đó còn là nguồn tư liệu sống, là minh chứng vật chất phản ánh quá trình lao động sáng tạo, đoàn kết đấu tranh chống giặc ngoại xâm và sự xâm lăng văn hoá trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của dân tộc
ta Đó là tài sản vô giá, là bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hoá Việt Nam giàu bản sắc dân tộc Đồng thời là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại
Vì vậy, di sản văn hoá nói chung, di tích lịch sử văn hoá nói riêng cần được lưu giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị để các thế hệ tiếp nối hiểu sâu sắc hơn về tổ tiên, cội nguồn, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc
Từ đó có ý thức trân trọng, phát huy những giá trị tốt đẹp, ý thức trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước Ngày nay, khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, đời sống vật chất và tinh thần người dân ngày càng nâng cao Nhu cầu tìm hiểu, khám phá những bí ẩn, truyền thuyết, tìm về thế giới tâm linh cũng dần tăng lên Theo đó vấn đề bảo vệ di sản văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần là cầu nối trong việc giao lưu văn hoá quốc tế Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các di tích đang xuống cấp một cách trầm trọng, các di tích bị đổ nát, các cổ vật bị đem ra nước ngoài, các lễ hội dần mất đi truyền thống vốn có gây thất thoát cho tài sản lịch sử và mất đi những truyền thống quý báu của văn hoá Việt Nam Do đó, vấn đề về bảo
vệ di sản văn hoá nói chung và quản lý di tích với phát triển du lịch nói riêng đang được đặt ra hết sức cấp thiết
Trang 6Xuất phát từ thực tiễn quản lý ở nước ta còn nhiều hạn chế, đội ngũ nhân viên quản lý chưa nhiều, trình độ quản lý chưa cao, hơn nữa cùng với
sự bào mòn huỷ hoại theo thời gian, các di tích bị xuống cấp và lấn chiếm Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm trong việc xây dựng đội ngũ quản lý, tuy nhiên do điều kiện thực tế hết sức phức tạp nên còn nhiều hạn chế Do đó, vấn đề quản lý di tích và phát triển du lịch là rất quan trọng Nó không chỉ góp phần giữ nét cổ kính, thiêng liêng của các di tích như nó vốn có mà còn tạo ra tâm lý thoải mái cho du khách khi đến tham quan di tích
Di tích đền Ngọc Sơn là một di tích lịch sử danh thắng, một di tích kiến trúc nghệ thuật nằm trong quần thể di tích Hồ Gươm thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội Đền Ngọc Sơn được đánh giá là một ngôi đền kiến trúc mới, song đền là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc Sự kết hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên Vào những ngày thường và nhất là những ngày lễ, ngày rằm đông đảo người dân và du khách đến đền
để được chiêm ngưỡng, để được thoả mãn về nhu cầu tâm linh trong mỗi người Tuy nhiên, vấn đề công tác quản lý di tích và phát triển du lịch còn gặp nhiều khó khăn, nhiều vấn đề đang được đặt ra và cần giải quyết
Là sinh viên khoa Quản lý Văn hoá - Nghệ thuật trường Đại học Văn hoá - Hà Nội qua bốn năm học tại trường tôi đã được học nhiều kiến thức
về văn hoá cũng như các kiến thức chuyên ngành Quản lý Vì vậy, tôi mong muốn sẽ được góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu những mặt tích cực
và hạn chế di tích đền Ngọc Sơn để có thêm kinh nghiệm thực tế trong quản lý di sản văn hoá và thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm, tìm hiểu và tham quan di tích của du khách trong và ngoài nước
Trang 7Từ những lý do trên tôi đã chọn cho mình đề tài: “Công tác Quản lý
di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội” làm
đề tài Khoá luận tốt nghiệp của mình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đề cập đến công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn Tập trung làm sáng tỏ vấn đề quản lý ở di tích với nhiều lĩnh vực: di vật, kết cấu kiến trúc, tín ngưỡng sinh hoạt dân gian và phát triển du lịch ở di tích đền Ngọc Sơn trong những năm gần đây
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành khoá luận em đã sử dụng các phương pháp:
Trang 86 Bố cục : Khoá luận chia thành các chương chính
Chương I: Cơ sở lí luận về công tác quản lý di tích và phát triển du lịch Chương II: Thực trạng công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích và phát triển
du lịch ở đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHO CÔNG TÁC QUẢN
LÍ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.2 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm về quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” ở nước ta được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới
Theo từ điển tiếng Việt, quản lý có hai nghĩa Thứ nhất, quản lý là tổ chức, điều khiển, theo dõi thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Nghĩa thứ hai là giữ gìn và sắp xếp
Theo giáo trình khoa học quản lý của Học viện chính trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thì “Quản lý chính là một hoạt động, các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn”
Khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực Mặt pháp lý của quản lý bao gồm hệ thống pháp luật điều chỉnh nền kinh tế
xã hội Mặt tâm lý xã hội của quản lý điều chỉnh mọi hành vi của con người Vì vậy, không có quản lý chung chung mà bao giờ cũng gắn với một lĩnh vực, một ngành nhất định
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người muốn duy trì sự sống cần phải có sự phối hợp hành động của các cá nhân, do đó cần phải có sự quản lý Quản lý là sự điều tiết cao mang tính xã hội Nó luôn là hoạt động có đích của chủ thể quản lý khiến các hoạt động trong xã hội phải tự giác tuân thủ theo Nó là một quá trình tác động giữa chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm đạt được những kết quả như mong muốn
Như vậy, ta có thể định nghĩa quản lý như sau: “Quản lý là sự huy động, tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm thực hiện một mục tiêu đã
Trang 10định trước Các nguồn lực ở đây bao hàm tất cả những công cụ, phương tiện như chính sách, luật pháp, tài chính, thiết chế, thông tin, cơ sở vật chất, các mối quan hệ, khoa học công nghệ, lao động ”
1.1.2 Khái niệm Di sản văn hoá
Di sản là những giá trị văn hoá, lịch sử của các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau Di sản gồm có các di sản vật thể và phi vật thể
Luật Di sản đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001:
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học
Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
Trang 11Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học
Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống như bản gốc về hình dnág, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và những đặc điểm khác
Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hoá phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội
Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên thế giới được Hội nghị toàn thể Tổ chức Liên hợp quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hoá thông qua kì họp thứ 17 họp tại Pari, với chữ kí của Chủ tịch Hội nghị toàn thể ngày 23 tháng 11 năm 1972 Theo đó, Điều 1, Di sản văn hoá là:
“Di tích: Các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ, các văn tự, các hang động và các công trình có sự kết hợp nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học” (Luật Di sản, Điều 4)
1.1.3 Khái niệm quản lý di sản văn hoá
Quản lý di sản văn hoá là quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hoá trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hoá
đó
1.1.4 Khái niệm du lịch:
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một
sở thích, một nhu cầu, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người
Trang 12Ngày nay, du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thuật ngữ du lịch hiện nay được sử dụng phổ biến trên thế giới nhưng vẫn là vấn đề gây tranh cãi và việc nhận thức về nội dung của phạm trù du lịch vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Do đó, khái niệm du lịch đến nay vẫn chưa được thống nhất do các nhà lí luận, các nhà nghiên cứu tiếp cận
du lịch với nhiều góc độ khác nhau Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” Đến năm 1930, Glusman người Thuỵ Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ
cư trú thường xuyên”
Theo hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho
lý thuyết về cung - cầu du lịch đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương nếu việc lưu trú đó không phải lưu trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan các cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi cư trú thường xuyên với mục đích khác, loại trừ mục đích hành nghề hoặc đến thăm có tính chất thường xuyên”
Qua các định nghĩa trên đây, ta thấy hầu hết các tác giả đều xuất phát
từ đặc điểm di chuyển của khách du lịch để đưa ra định nghĩa Tuy nhiên những định nghĩa đó chưa đi sâu vào bản chất của du lịch để làm sáng rõ nội hàm của nó Thực chất du lịch là quá trình du ngoạn của con người theo một lịch trình nhất định để thưởng thức cái đẹp, cái mới lạ không nhằm
Trang 13mục đích sinh lợi bằng đồng tiền Với bản chất như vậy, khái niệm sau đây được coi là tổng thể về du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt dộng của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là thẩm nhận những sắc thái văn hoá và cảnh quan thiên nhiên vùng miền khác nơi cư trú thường xuyên.” (Trần Nhoãn - Tổng quan du lịch,
2000, 207tr) Khái niệm trên đã làm rõ được mục đích cơ bản của các chuyến du lịch là du ngoạn “Sắc thái văn hoá và cảnh quan thiên nhiên” mà không nhằm sinh lợi bằng đồng tiền Đồng thời khái niệm cũng chỉ ra được
“cầu” trong thị trường “cung - cầu” du lịch là nguồn lực chủ yếu để phát triển du lịch, thu hút du khách là văn hoá và cảnh quan thiên nhiên
Vậy du khách là ai? Du khách hay nói cách khác chính là khách du lịch Với khái niệm “khách du lịch”, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều quan điểm khác nhau Nhà kinh tế học người áo Jozep Stander đưa định nghĩa: “Khách du lịch là loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế” Theo Odgilvi - nhà kinh tế học người Anh thì: “Khách
du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu không phải làm thương mại” Trong khi đó Tổ chức du lịch thế giới đưa ra khái niệm: Kkhách du lịch là những người lưu trú tạm thời ở nước ngoài và sống tạm thời ở nơi cư trú thường xuyên của
họ trong thời gian 24 giờ trở lên” Dựa trên khái niệm này Luật Du lịch Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Như vậy qua một số khái niệm về khách du lịch của các nhà nghiên cứu, các tổ chức thì về cơ bản đều thống nhất: khách du lịch là những người dời khỏi nơi mình đang sống và mục đích chính không phải là làm “Kinh tế” Chính điều này đã làm sáng tỏ bản chất, mục đích của các chuyến đi và cũng là bản chất của du lịch (đã được đề cập ở trên)
Trang 14Như vậy dựa vào bản chất của du lịch là sự du ngoạn của con người
để được thẩm nhận, được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn hoá cao, độc đáo, đặc sắc khác lạ với quê hương, ta có thể định hình một số loại hình du lịch:
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch khá phổ biến, trong đó du khách được thoả mãn nhu cầu thẩm nhận bề dày lịch sử và văn hoá của từng vùng miền, quốc gia thông qua các di tích lịch sử, văn hoá, các nhà bảo tàng, lễ hội, phong tục tập quán,
Theo “Luật du lịch” ban hành ngày 01/ 01/ 2006 trong điều 4 “giải thích từ ngữ” định nghĩa: “du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.”
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững (Luật Du lịch)
Du lịch công vụ là loại hình du lịch mà mục đích chủ yếu của khách là giải quyết công việc kết hợp với tham quan du lịch
Du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh là loại hình du lịch mà mục đích chủ yếu của khách là được nghỉ ngơi, điều trị bệnh tật kết hợp với tham quan du lịch
Du lịch thăm hỏi là loại hình du lịch mà mục đích chính của khách là thăm hỏi gia đình, người thân, bạn bè kết hợp với tham quan cảnh trí nơi đến
Trong các loại hình trên thì du lịch văn hoá được coi là loại hình du lịch giàu tiềm năng và ổn định, nó ít chịu tác động của yếu tố thời tiết, khí hậu cũng như tính chất mùa vụ trong kinh doanh du lịch
Khách du lịch văn hoá thường là trí thức, các nhà nghiên cứu có uy tín địa vị trong xã hội Vì vậy, kinh doanh loại hình này thường đem lại hiệu
Trang 15quả kinh tế cao nhưng cũng đòi hỏi các tổ chức kinh doanh dịch vụ phải cung ứng ra thị trường các sản phẩm có chất lượng tương xứng cũng như
có một phương pháp tổ chức quản lý hợp lí đội ngũ cán bộ đặc biệt là hướng dẫn viên có trình độ cao
1.2 Những vấn đề chung về quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch
ở Việt Nam
1.2.1 Mối quan hệ giữa quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch
Di sản văn hoá là tài sản của quá khứ, nó có mặt ở tất cả mọi nơi với quy mô và tính chất khác nhau Tuy nơi nhiều, nơi ít, nơi đặc sắc, nơi phong phú và đa dạng khác nhau, nhưng ở đâu có con người là ở đó có văn hoá, có di sản văn hoá Có di sản văn hoá tất yếu nảy sinh công tác quản lý
di sản văn hoá để bảo tồn và phát triển kho tàng di sản văn hoá của cha ông
để lại Trong tiến trình hội nhập hiện nay, các quốc gia đều chú ý khai thác những thế mạnh vốn có của mình để phát triển đất nước trong đó kinh tế du lịch được đặc biệt chú ý ở tất cả các quốc gia phát triển Là một quốc gia văn hiến với hàng ngàn năm lịch sử, kho tàng di sản văn hoá Việt Nam là một trong không nhiều thế mạnh của đất nước chúng ta để có thể khai thác phát triển du lịch Từ thực tế của hoạt động du lịch cho thấy, bản chất của
du lịch là văn hoá, nội hàm hoạt động du lịch mang nội dung văn hoá sâu sắc Những nội dung này đã được thể hiện rõ trong Luật Du lịch của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong quá trình tồn tại và phát triển của kinh tế du lịch, kho tàng di sản văn hoá chính là tiềm năng, nguồn lực cơ bản để phát triển du lịch ở Việt Nam Trong các loại hình du lịch ở Việt Nam hiện nay, du lịch Văn hoá là một trong những loại hình du lịch đóng vai trò chủ đạo, tiên quyết Loại hình này tập trung khai thác những giá trị nhiều mặt của kho tàng di sản văn hoá Việt Nam phục vụ phát triển
du lịch Điều đó không chỉ phù hợp với tiềm năng và điều kiện của du lịch Việt Nam, điều quan trọng hơn là chính nội hàm của du lịch cần đến văn
Trang 16hoá như một yếu tố tự thân, tất yếu, không thể thiếu Văn hoá Việt Nam thực sự trở thành nền tảng, mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước trong đó có kinh tế Du lịch như đường lối của Đảng đã đề ra
Quá trình khai thác giá trị của kho tàng di sản văn hoá để phát triển du lịch tất yếu nảy sinh công tác quản lý di sản quản lý di sản văn hoá để phát triển du lịch chính là những biện pháp tạo cơ sở, nền tảng từ các yếu tố văn hoá, biến văn hoá trở thành động lực phát triển của du lịch đồng thời cũng hướng tới mục tiêu cần đạt được của du lịch là văn hoá Nói một cách khác,
quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch là hai dòng chảy xuôi chiều trong cùng một dòng sông
Phát triển du lịch là một trong những biện pháp cơ bản, hữu hiệu giúp cho quá trình quản lý di sản văn hoá đạt hiệu quả cao Suy cho cùng thì công tác quản lý di sản văn hoá nhằm đạt đến hai mục đích cơ bản: Bảo tồn
sự phát triển của kho tàng di sản văn hoá và khai thác một cách tốt nhất, ngày càng hiệu quả giá trị của kho tàng di sản, nâng di sản lên những tầm cao mới Cách tốt nhất khai thác giá trị của kho tàng di sản văn hoá chính là khai thác giá trị của hệ thống di sản văn hoá thông qua hoạt động du lịch Biến di sản văn hoá thành hàng hoá thông qua hoạt động du lịch là một trong những luận điểm đúng đắn trong giai đoạn xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay Do vậy, cần có những bước đi và biện pháp thích hợp
* Tác động tương hỗ giữa hoạt động du lịch và hệ thống di sản văn hoá:
Di sản nói chung và di sản văn hoá nói riêng là sản phẩm của lịch sử đấu tranh sinh tồn và dựng xây đất nước của biết bao thế hệ người Việt Nam; nó luôn tồn tại, vận hành và phát triển cùng lịch sử dựng nước và giữ nước của quốc gia, dân tộc; mang dấu ấn lịch sử và dấu ấn thời đại Cùng với lịch sử, di sản sẽ trải qua những bước thịnh suy, thăng trầm khác nhau theo dòng thế sự, nhưng dù sao nó vẫn luôn luôn tồn tại và phát triển không ngừng
Trang 17Trong khi đó, du lịch là kết quả đồng thời cũng là hệ quả trong tiến trình lịch sử phát triển của xã hội loài người nhưng du lịch phát triển với tốc độ nhanh chóng, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong xã hội văn minh hiện đại Du lịch thể hiện sự khám phá và trải nghiệm lịch sử của con người Trong quá trình phát triển, nó luôn gắn bó với di sản như là yếu tố
tự thân, nội tại
Di sản văn hoá và hoạt động du lịch trở thành những thành tố cơ bản, quan trọng của một xã hội văn minh, phát triển trên nền tảng văn hoá truyền thống đặc sắc của cộng đồng cư dân chủ nhân của xã hội đó
Trong quá trình tồn tại và phát triển, mối quan hệ tương hỗ giữa hệ thống di sản văn hoá và hoạt động du lịch mang tính tất yếu khách quan Chúng trở thành những thành tố cơ bản, quan trọng của bất cứ một xã hội nào Bởi di sản văn hoá là tiềm năng, nguồn lực của du lịch và du lịch là động lực cho di sản văn hoá tồn tại và phát triển mạnh mẽ, vững chắc Di sản văn hoá trở thành “nguyên liệu” cho công nghiệp du lịch Du lịch trở thành nguồn cung cấp năng lượng cho di sản văn hoá tồn tại và phát triển
* Tác động tích cực của hoạt động du lịch đến hệ thống di sản văn hoá:
Hoạt động du lịch là môi trường thích hợp nhất, tốt nhất để đánh giá, xác định giá trị của kho tàng di sản văn hoá Việt Nam Thông qua quá trình giao tiếp trong hoạt động du lịch, kho tàng di sản văn hoá được tự kiểm nghiệm chính mình trên nhiều phương diện, trước hết là có tính độc đáo, đặc sắc, hấp dẫn hay không? Thông qua thực tế kiểm nghiệm này giúp cho những người quản lý có những sự điều tiết, thay đổi, điều chỉnh thích hợp trong công tác quản lý di sản văn hoá của các địa phương, điều phối các hoạt động chuyên môn, đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi đặt ra từ thực tế hoạt động chuyên môn, đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi đặt ra từ thực tế hoạt động
du lịch
Trang 18Hoạt động du lịch là những động thái quan trọng, là cơ sở, điều kiện
cụ thể đem đến sự giao thoa, làm giàu cho văn hoá bản địa, góp phần thay đổi nhận thức và phong cách cư dân bản địa thông qua quá trình giao tiếp giữa các tầng lớp cư dân với đội ngũ du khách Sự thay đổi này hoàn toàn mang tính tự thân, tự nguyện
Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Đây là ngành tạo ra rất nhiều việc làm Số lao động trong ngành du lịch và các lĩnh vực liên quan chiếm 10,7% tổng số lao động toàn thế giới Trung bình 2,5 giây, du lịch tạo thêm một việc làm mới và hiện nay, cứ 8 lao động thì có một người làm trong ngành du lịch
Du lịch góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của các vùng có hoạt động du lịch Thông thường, tài nguyên du lịch tự nhiên thường hay tập trung ở các vùng xa xôi, vùng ven biển, Việc khai thác nguồn tài nguyên này đòi hỏi phải đầu tư về mọi mặt: giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hoá,
xã hội, Do vậy mà việc phát triển du lịch đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế -
xã hội ở những vùng đó, giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời góp phần làm giảm
sự tập trung dân cư quá mức ở những đô thị lớn
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nước đón khách mà không phải trả tiền Du khách được làm quen tại chỗ với những mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Một số sản phẩm làm cho du khách hài lòng, từ đó họ sẽ tuyên truyền cho bạn bè, người thân, Bên cạnh đó, du lịch còn là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu ích về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục tập quán của các quốc gia
Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường sống, có ấn tượng và cảm xúc mới, thoả mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến
Trang 19thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết Điều đó góp phần hình thành nên những ước mơ đầy lãng mạn, nhân văn cho tương lai của khách du lịch
Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá và thường tiếp xúc với dân địa phương Thông qua các cuộc giao tiếp
đó, văn hoá của cả khách du lịch và dân địa phương đều được giao lưu Du lịch còn làm phong phú thêm khả năng thẩm mĩ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mĩ thuật của một đất nước
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn, nâng cao truyền thống của dân tộc Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, khách du lịch có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu với cảnh đẹp, lịch sử và văn hoá dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình
Ngoài ra, sự phát triển du lịch còn góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên,
xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch đem đến nguồn thu lớn về tài chính cho các di sản Du lịch được coi là ngành công nghiệp sạch nhưng đem lại lợi nhuận to lớn Nó không chỉ tăng nguồn thu lớn cho ngân sách các địa phương mà còn kéo theo sự đầu tư, tái đầu tư,
mở rộng và phát triển thị phần các ngành kinh tế ở các vùng miền khác nhau
* Tác động tiêu cực mà du lịch có thể gây ra cho các di sản văn hoá:
Do hoạt động kinh tế dịch vụ mang tính “động” mạnh mẽ, du lịch luôn biến dổi không ngừng, thay đổi nhanh chóng, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội gây ra những biến đổi căn bản trong đời sống xã hội có thể làm biến dạng cảnh quan, môi trường ở nơi có di sản Hoạt động du lịch đem đến sự thay đổi, xáo trộn, đôi khi làm đảo lộn nhịp sống bình thường của các tầng lớp dân cư địa phương nơi có di sản Trong một số trường hợp đặc biệt, du lịch có thể là nguyên nhân góp phần gây mất trật tự an toàn xã hội
Trang 20của một địa phương nào đó nếu tình hình thay đổi mà không được quản lý đúng đắn, phù hợp
Trong quá trình giao lưu giữa du khách và các tầng lớp cư dân bản địa, sự tiếp xúc mọi mặt nếu không được định hướng và điều tiết đúng cách
có thể sẽ tạo ra nét “mờ” cuả bản sắc văn hoá địa phương đem đến từ một
bộ phận du khách Hoạt động du lịch tạo ra sự mất cân đối nhất thời trong cung - cầu của đời sống xã hội ở một địa phương nào đó Sự mất cân đối ấy thể hiện trên các lĩnh vực giao thông, vận chuyển, các cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, hệ thống dịch vụ ở các địa phương nơi có di sản
Trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc gia và quốc tế, hoạt động du lịch là một trong những nguyên nhân căn bản gây ra sự biến đổi mọi mặt ở những nơi có các di sản văn hóa Trên thực tế, với vị thế và không gian hữu hạn của các di sản văn hoá truyền thống vốn chỉ phù hợp với điều kiện riêng của các địa phương: khi khách du lịch tới đông sẽ làm ảnh hưởng, thay đổi, đôi khi làm đảo lộn các hoạt động bình thường của địa phương nơi có các di sản văn hoá Du khách với nhiều thành phần, lại là những người có điều kiện, nhu cầu khác nhau, hoạt động của họ có thể tác động không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội của địa phương nơi có các di sản văn hóa Nếu không được tổ chức, điều hành, quản lý kho tàng di sản văn hoá - lễ hội ở các địa phương chu đáo, khoa học sẽ dẫn đến sự lộn xộn trong quản lý, điều hành xã hội
Hoạt động du lịch với những đặc thù riêng luôn biến động của nó dễ làm biến dạng các di sản văn hoá truyền thống Vì văn hoá truyền thống dù
có tính bền vững thì vẫn có những hạn chế nhất định về điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội cổ truyền, vốn chỉ phù hợp với một khuôn mẫu và không gian bản địa Ngày nay, hoạt động du lịch mang đặc tính mở, mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao sẽ dễ làm mất sự cân bằng, dẫn tới sự phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình
Trang 21diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch Hiện tượng thương mại hoá các hoạt động có liên quan đến các di sản trong quá trình hoạt động du lịch dễ dẫn đến tình trạng lừa đảo, bắt chẹt khách để thu lợi tạo hình ảnh xấu, gây tâm lý ức chế cho du khách, làm giảm lượng khách đến với các địa phương nơi có các di sản văn hoá
Với khuôn viên nhất định của các di sản văn hoá truyền thống, lượng
du khách đến đông kéo theo những nhu cầu khác nhau, tạo ra sự mất cân đối trong quan hệ cung - cầu, dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái tự nhiên và môi trường sinh thái nhân văn Bản sắc văn hoá vùng miền có nguy cơ bị “mờ” do kết quả của sự giao thoa văn hoá thiếu lành mạnh không thể tránh khỏi đem đến từ phía một bộ phận du khách Có hai khuynh hướng cần tránh: đó là khuynh hướng bảo thủ và khuynh hướng cấp tiến một cách thái quá trong quá trình tổ chức, điều hành, duy trì các hoạt động tại các điểm di sản văn hoá Nếu không, sẽ dễ dẫn đến hiện tượng nệ cổ, phục cổ hoặc sự lai căng, pha tạp trong cách nhìn, cách hiểu, cách ứng xử lệch lạc đối với văn hoá dân tộc ở các địa phương
Do đặc thù của các hoạt động du lịch khiến những nhà tổ chức, quản
ly kho tàng di sản văn hoá không dễ điều phối, kiểm soát các đối tượng khách khác nhau Một số đối tượng xấu lợi dụng lúc đông người, trà trộn, chen lấn trong đám đông để móc túi, lừa đảo khách du lịch Những hiện tượng đó ít nhiều gây phiền toái cho người tổ chức, thực hiện chương trình
du lịch, làm ảnh hưởng đến văn hoá bản địa, làm xấu đi hình ảnh của địa phương trong con mắt cuả du khách Nếu không được tổ chức, quản lý điều hành chặt chẽ, các di sản văn hoá của chúng ta sẽ chỉ đón được tình trạng các đối tượng khách “một lần đến, một lần đi, không một lần trở lại!” Điều này, đặt ra cho các nhà tổ chức, quản lý văn hoá - lễ hội, các nhà khai thác kho tàng di sản văn hoá phải phối hợp hành động chặt chẽ trong mọi hoạt động của mình
Trang 221.2.2 Quan điểm của nhà nước về quản lý di sản văn hoá, bên cạnh đó phát triển du lịch
Di sản văn hoá là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia Nó không chỉ góp phần tạo nên nền tảng tinh thần xã hội vững chắc mà còn góp phần phát triển kinh tế xã hội “Văn hoá là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.” (Hội nghị Ban chấp hành Trung ương V khoá 8) Thiếu nền tảng vật chất thì con người không thể tồn tại được nhưng nếu thiếu nền tảng tinh thần thì con người không thể phát triển toàn diện, không thể trở thành nhân cách văn hoá được
Di sản văn hoá không chỉ góp phần hình thành nên môi trường sinh thái văn hoá của cộng đồng mà còn bồi đắp ý thức của cá nhân và cộng đồng trong suốt quá trình tồn tại tạo nên sự tiếp nối trong đời sống văn hoá xét về mặt kinh tế thì văn hoá chính là nguồn lực tạo ra tiềm năng kinh tế cho xã hội Ngành du lịch phát triển như ngày nay là nhờ có cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử văn hoá Di sản văn hoá còn là ngôn ngữ, là nhịp cầu nối quan hệ giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần rất lớn vào giao lưu văn hoá và hoà bình dân tộc
Trong thời đại ngày nay, việc bảo tồn các di sản văn hoá đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, một vấn đề cấp bách của toàn nhân loại Nhiều nước đã ban hành Hiến pháp và những bộ luật riêng về vấn đề đó
Những công ước được kí kết về vấn đề bảo vệ di sản văn hoá như: từ ngày 17/10 đến ngày 21/11/1972 UNESCO - tổ chức văn hoá và giáo dục thế giới đã đưa ra những công ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới Công ước đã đoàn kết giữa các dân tộc, quốc gia lại với nhau trong việc tham gia vào tổ chức UNESSCO, bảo vệ di sản văn hoá thế giới, đồng thời góp phần tạo ý thức kế thừa những công trình văn hoá của nhân loại Bên cạnh đó giữa các nước cũng có những công ước được ký kết về vấn đề bảo vệ văn hoá Việt Nam là một trong số những nước đó
Trang 23Xây dựng pháp lý là yêu cầu đầu tiên của sự nghiệp bảo vệ di tích Qua các thời kì Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý làm
cơ sở cho công tác bảo vệ di tích Tiếp thu tư tưởng của Lê-nin, kế thừa kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta thấy rõ việc bảo tồn các di tích là việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn đối với công cuộc kiến thiết đất nước Việt Nam Do vậy, ngày 31/ 01/ 1945 Hồ Chủ Tịch đã
kí sắc lệnh số 65SL/CTP ấn định nhiệm vụ cho “Đông phương bác cố học viện” Sắc lệnh đã nhấn mạnh đến việc bảo vệ các di tích, di sản văn hoá là việc làm cần thiết của đất nước Sắc lệnh cũng đã khẳng định: Tất thảy các
di sản văn hoá là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá Đình, Đền, Chùa, Miếu và những di tích khác Cấm phá huỷ Bia kí, văn bằng có ích cho lịch sử
Căn cứ vào điều 46 và điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà XHCNVN, ngày 13/ 03/ 1984 Chủ tịch hội đồng Nhà nước - Trường Chinh
đã ký “Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh” Pháp lệnh này nhằm tạo điều kiện bảo vệ cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ tập thể trong việc bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh Đề cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân trong việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh
Đặc biệt là hội nghị khoá V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, ngày 16/ 07/ 1998 đề ra nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đã xác định phương hướng phát triển 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản, 10 nhiệm
vụ và những giải pháp lớn nhằm xây dựng và phát triển văn hoá Đây là một trong các nghị quyết của Đảng được toàn thế hệ thống trị, các đoàn thể chính trị xã hội, các ban ngành và các lực lượng vũ trang triển khai
Trang 24nghiêm túc, khơi dậy được phong trào toàn Đảng, toàn dân chăm lo trong xây dựng và phát triển văn hoá
Ngày 29/ 06/ 2001, quốc hội nước Cộng hoà XHCNVN khoá X kì họp thứ IX đã thông qua Luật Di sản văn hoá số 28/2001- QH10, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã kí sắc lệnh công bố số 09/ 201/1CTN ngày 12/ 07/
2001 Luật Di sản văn hoá ra đời là bộ luật về văn hoá cao nhất đầu tiên ở nước ta và cũng là đầy đủ nhất điều chỉnh cả di sản văn hoá vật thể và phi vật thể Nhà nước có trách nhiệm đứng ra tổ chức quản lý di sản văn hoá Mọi người công dân, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đều có quyền sử dụng di tích vào các mục tiêu văn hoá nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ cùng với nhà nước tham gia vào việc bảo vệ các di tích
Du lịch cũng được coi là ngành “kinh tế mũi nhọn của đất” (Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần IX) Với nguồn tài nguyên du lịch phong phú do thiên nhiên và con người tạo r, Đảng và Nhà nước đã xác định “du lịch là ngành kinh tế mang tính tổng hợp có tác dụng tích cực thực hiện chính sách mở cửa thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhiều ngành, tạo
ra công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hóa và xã hội giữa các vùng trong nước và giữa nước ta với nước ngoài, điều kiện tăng cường tinh thần hữu nghị hóa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc” (Nghị quyết của chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch 22/06/1993) Đồng thời cũng xác định rõ xu hường đi của du lịch Vệt Nam: “Du lịch Việt Nam chỉ có thể phát triển tốt nếu đI theo định hướng phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái trên cơ sở đảm bảo tốt môi trường tự nhiên
và xã hội tạo điều kiện thuận lợi thu hút khách tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách (Đỗ Quang Trung) Có thể nói văn hóa Việt Nam mang tính tổng thể vừa có nét riêng đặc sắc của 54 dân tộc Cái riêng hòa trong cái chung tạo ra một bản sắc văn hóa Việt vừa phong phú vừa độc đáo, hấp dẫn các nhà nghiên cứu và khách du lịch
Trang 25Tại Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản săc dân tộc; Gắn kết chặt chẽ hơn với phát triển kinh tế xã hội; Làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội; Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế; Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt là
lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá Việt
Nam; Đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng
chiến, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể; Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn
hoá; Đa dạng hoá các hoạt đông của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”
Như vậy, công tác quản lý di tích và phát triển du lịch là một trong những nội dung cơ bản của vấn đề bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc, nâng tầm cho văn hoá dân tộc lên một tầm cao mới phù hợp với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay Làm thế nào để vừa bảo tồn sự phát triển bền vững của kho tàng di sản văn hoá dân tộc trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước lại vừa khai thác ngày càng hiệu quả những di sản văn hoá, nâng di sản văn hoá dân tộc lên những tầm cao mới? Đó là vấn đề rất quan trọng
1.2.3 Cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa và du lịch
* Bộ Văn hóa, Thể thao và Di lịch: là cơ quan của chính phủ, thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thẻ dục thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật
Trang 26Bộ Văn hóa, Thể thao và DU lịch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 178/2007/NĐ - CP ngày 03 tháng 12 năm
2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ của Bộ, cơ quản ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
Về di sản Văn hóa:
Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định:
- Quy hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức và hướng dẫn thực hiện sau khi được phê duyệt;
- Thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành;
- Xếp hạng và điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt;
- Đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Di sản văn hoá và thiên nhiên tiêu biểu của Việt Nam là Di sản thế giới;
- Phương án xử lý đối với tài sản là di sản văn hóa vật thể, bao gồm: di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, trừ trường hợp luật, pháp lệnh có quy định khác;
- Cho phép đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài
Quyết định theo thẩm quyền:
- Xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I; điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia; giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cho bảo tàng nhà nước có chức năng theo quy định của pháp luật;
- Phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia
và di tích quốc gia đặc biệt theo quy định của pháp luật; phê duyệt hoặc thoả thuận việc xây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt;
- Thẩm định quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia,
di tích quốc gia đặc biệt; dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài
Trang 27các khu bảo vệ di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật;
- Cấp phép thăm dò, khai quật khảo cổ; đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài;
làm bản sao di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia thuộc các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành; quản lý việc cấp phép cho người Việt Nam định cư
ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hoá phi vật thể ở Việt Nam
Hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích và nhân vật lịch sử
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản
lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Công nhận, trao tặng danh hiệu vinh dự đối với các nghệ nhân có công gìn giữ, trình diễn, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể
Về tài nguyên du lịch và quy hoạch du lịch:
- Hướng dẫn, tổ chức hiện quy hoạch tổng thể phát triển ngành, vùng du lịch, địa bàn du lịch trọng điểm, khu du lịch quốc gia sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
- Ban hành Quy chế điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch;
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch; ban hành các quy định về bảo vệ, tôn tạo, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch và môi trường du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch
Về khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch:
- Trình Thủ tướng Chính phủ công nhận khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia và tuyến du lịch quốc gia;
Trang 28- Tổ chức công bố công khai khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia, tuyến du lịch quốc gia và đô thị du lịch sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định công nhận;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc phân loại, công nhận khu du lịch, điểm du lịch
và tuyến du lịch địa phương;
d) Phối hợp với Bộ Xây dựng thẩm định hồ sơ đề nghị công nhận đô thị du lịch của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Ban hành Quy chế quản lý khu du lịch thuộc ranh giới hành chính từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên
- Quy định tiêu chí phân loại, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch; quyết định phân loại, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch từ 3 sao trở lên;
- Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn về vận chuyển khách du lịch
Về xúc tiến du lịch và giao lưu văn hóa:
- Hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc thành lập và hoạt động của văn phòng xúc tiến du lịch và giao lưu văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, văn phòng xúc tiến du lịch quốc gia của nước ngoài tại Việt Nam;
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch quốc gia; chủ trì,
Trang 29phối hợp với ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nuớc và nước ngoài; điều phối các hoạt động xúc tiến du lịch liên vùng, liên địa phương;
- Xây dựng và hướng dẫn sử dụng, khai thác, quản lý cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia;
- Tổ chức thực hiện việc xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch, các chương trình, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm và hoạt động về văn hóa, thể thao, du lịch cấp quốc gia, khu vực và quốc tế
* Cục di sản văn hóa: Là cơ quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có
chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về di sản văn hóa, được Bộ trưởng giáo trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động phát triển sự nghiệp, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phạm vi cả nước theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trình Bộ trưởng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, tham gia dự thảo, đàm phán điều ước quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
Trình Bộ trưởng chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn và hàng năm về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
Tổ chức thực hiện, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công ước quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa mà Việt Nam là thành viên
Hướng dẫn hoạt động phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa cho các tổ chức, cá nhân trong cả nước
Phối hợp với các Cục, Vụ chức năng hướng dẫn hoạt động lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích và nhân vật lịch sử
Trang 30 Về di tích:
- Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc công nhận di tích tiêu biểu của Việt Nam là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới
- Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định xếp hạng, hủy bỏ xếp hạng di tích quốc gia, điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia và việc xếp hạng, hủy bỏ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt theo quy định của pháp luật
- Trình Bộ trưởng phương án xử lý đối với tài sản là di sản văn hóa vật thể theo quy định của pháp luật
- Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định việc giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thu được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ hoặc do tổ chức, cá nhân phát hiện, thu giữ và giao nộp cho bảo tàng nhà nước có chức năng thích hợp
- Thẩm định trình Bộ trưởng phê duyệt hoặc thỏa thuận quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới; các dự án cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới xét thấy
có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật
- Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định cấp phép, thăm dò, khai quật khảo
Trang 31dẫn nghiệp vụ cho Hội đồng giám định di vật, cổ vật và Hội đồng định giá
di vật, cổ vật của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng công chức, viên chức và người lao động trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
Đề xuất khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo quy định của pháp luật
* Tổng cục du lịch: là cơ quan trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước
về du lịch trong phạm vi cả nước
Tổng cục Du lịch có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy, là đơn vị dự toán ngân sách cấp II và có tài khoản riêng tại Kho bạc nhà nước Tổng cục Du lịch thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
Trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định:
- Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội; các dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ về du lịch và các dự án, đề án khác theo phân công của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động và các dự án, công trình quan trọng quốc gia về du lịch; các dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực du lịch;
- Việc đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về du lịch theo quy định của pháp luật; quyết định việc thành lập Văn phòng đại diện du lịch Việt Nam ở nước ngoài, cho phép việc đặt Văn phòng đại diện của cơ quan du lịch của nước ngoài, của tổ chức du lịch quốc tế và khu vực tại Việt Nam;
Trang 32- Hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch quốc gia, tuyến du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia
Trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định:
- Kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm về phát triển du lịch; các đề án,
dự án về du lịch để Bộ trưởng quyết định theo thẩm quyền;
- Các dự thảo quyết định, chỉ thị, thông tư về du lịch; các văn bản quy phạm pháp luật quy định tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về lĩnh vực du lịch;
- Quy định tiêu chí phân loại, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch; điều kiện, hồ
sơ, thủ tục xếp hạng, mẫu biển hiệu hạng cơ sở lưu trú du lịch; tiêu chuẩn
và mẫu biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch;
- Quy chế điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch; Quy chế quản lý khu du lịch thuộc ranh giới hành chính từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên;
- Các quy định về bảo vệ, tôn tạo, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên
du lịch và môi trường du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch;
- Các quy định về quản lý, thủ tục, hồ sơ cấp, đổi, cấp lại, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch và giấy chứng nhận thuyết minh viên;
- Các quy định về tiêu chuẩn chức danh trong ngành du lịch;
- Các văn bản hướng dẫn thực hiện quy định của pháp luật về: kinh doanh lữ hành; lưu trú du lịch; quảng bá, xúc tiến du lịch; quy hoạch phát triển du lịch; kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch và các dịch vụ du lịch khác
Trang 33- Tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và ở nước ngoài; điều phối các hoạt động xúc tiến du lịch liên vùng, liên địa phương theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Xây dựng các ấn phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch, các chương trình,
sự kiện, hội nghị, hội chợ, hội thảo về du lịch cấp quốc gia, khu vực và quốc tế;
- Công bố công khai khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia, tuyến du lịch quốc gia theo quy định của pháp luật;
- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, phân loại thị trường du lịch ở trong nước
và ở nước ngoài; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển sản phẩm du lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch; tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch ở trong nước và ở nước ngoài;
- Xây dựng và hướng dẫn sử dụng, khai thác, quản lý cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia và tổ chức thông tin du lịch tại các cửa khẩu quốc tế và các khu du lịch;
- Kiểm tra việc thực hiện các điều ước quốc tế về du lịch mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, các chương trình, dự
án quốc tế tài trợ về du lịch theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị, hội thảo, hội chợ, sự kiện, chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế về du lịch theo phân công và phân cấp của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện các dự án đầu tư về du lịch thuộc thẩm quyền theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Quyết định xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch từ 3 sao trở lên, hạng cao cấp cho biệt thự du lịch và căn hộ du lịch theo quy định của pháp luật;
Trang 34- Cấp, đổi, thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế; cấp, gia hạn, đổi, sửa đổi, thu hồi giấy phép thành lập chi nhánh của doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật;
- Quản lý thống nhất trong cả nước việc cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch và giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của pháp luật;
- Quản lý các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Du lịch, các tổ chức thực hiện dịch vụ công thuộc lĩnh vực du lịch theo phân cấp của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch và tài nguyên
du lịch theo phân công của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn đối với các hội, tổ chức phi chính phủ tham gia các hoạt động trong lĩnh vực du lịch;
- Thực hiện chương trình cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch phê duyệt;
- Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, phối hợp thanh tra, thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực du lịch theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động du lịch theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế
độ, chính sách, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ du lịch đối với cán bộ, công chức, viên chức và
Trang 35những người làm công tác du lịch theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật;
- Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH Ở ĐỀN NGỌC SƠN - HOÀN KIẾM - HÀ NỘI
2.1 Khái quát về di tích
2.1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan đền Ngọc Sơn trong cụm di tích Hồ Gươm
Đền Ngọc Sơn được xây trên hòn đảo phía Bắc Hồ Gươm cách bờ bắc khoảng 200m, bờ đông khoảng 50m Hòn đảo nhỏ này vốn là một cồn cát của khúc sông Nhĩ Hà (sông Hồng) xưa, có diện tích 2067m vuông, nhô cao hơn mặt nước 0,7m Là danh lam thắng cảnh, khu di tích lịch sử cách mạng từ lâu đã được Nhà nước xếp hạng đặc biệt Với vị trí ở trung tâm thủ
đô Hà Nội, đền Ngọc Sơn được cả nước biết đến chính vì đã nằm gọn trong lòng Hồ Gươm Non nước sóng đôi làm tăng phần mỹ lệ cho đền cổ Năm nào cũng vậy, có hàng chục vạn lượt khách đến tham quan, vãn cảnh và sinh hoạt tín ngưỡng tại đền
Xung quanh đền được bao bọc bởi làn nước lục thuỷ, đó chính là Hồ Hoàn Kiếm hay còn gọi là Hồ Gươm Hồ dài 640m, rộng 220m, chu vi 1750m Trước kia hồ có các tên gọi như hồ Lục Thuỷ (nước có màu xanh quanh năm), hồ Thuỷ Quân (nơi duyệt thuỷ binh), hồ Tả Vọng và Hữu Vọng (thời Lê mạt) Tên gọi Hồ Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15, gắn với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ trả lại gươm báu cho Rùa thần Hồ Gươm đã trở thành một không gian thiêng của người Hà Nội và của cả nước ta
Nằm ở trung tâm hồ, hướng tây nam đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa được xây dựng trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886 Tháp hình chữ nhật, xây trên gò Rùa Gò chỉ cao hơn mặt nước hồ 0,6m, song theo thuật Phong thuỷ cổ, “cao một tấc thì cũng là một ngọn núi” nên trước các cụ gọi
gò này là núi Rùa (Quy Sơn) để sánh với núi Ngọc (Ngọc Sơn) Gò hình gàn tròn, đường kính chiều đông - tây là 18m, chiều bắc- nam là 24m, diện tích tháp khoảng 350 mét vuông Tháp Rùa được coi là một đặc trưng của Hà Nội
Trang 37Trên bờ hướng Đông đền Ngọc Sơn là di vật còn sót lại của chùa Báo
Ân (bị dỡ bỏ năm 1898) Tháp cao ba tầng, cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, có các chữ Hán như: Báo Đức môn, Báo Ân Môn, Hoà Phong tháp, Báo Thiên tháp, ứng với mỗi của của tháp Tầng một to và cao hơn hai tầng trên cùng Bốn mặt của tầng hai hình Bát quái Tầng ba ghi “Hoà Phong Tháp”
Đền Bà Kiệu nằm trên bờ hướng Đông đền Ngọc Sơn, được xây dựng
từ thời Lê Trung Hưng, là một di tích hoàn chỉnh nhưng do việc mở đường nên đã tách làm hai phần, Tam quan ở sát bờ hồ, còn Đền thờ ở về phía bên này đường Toạ lạc theo hướng Nam Tam quan và Đền thờ (nhà đại bái) đều có kiến trúc ba gian xây gạch, lợp mái ngói ta Ngôi đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc Nữ
Trên bờ hướng Tây Bắc đền Ngọc Sơn, nhà Thuỷ Tạ là một loại hình kiến trúc quan trọng và đặc sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, là địa điểm diễn ra các lễ của Hoàng triều hoặc thờ cúng Thần linh hay các vị Hoàng đế Ngoài ra, nhà Thuỷ Tạ còn là chốn phục vụ nhu cầu ăn chơi cho tầng lớp thống trị, hậu cung, ly cung, biệt cung có kiến trúc tương đối đơn giản, được xây dựng bên bờ mặt nước như hồ, ao, sông, suối
Cụm quần thể di tích Hồ Gươm chứa đựng những giá trị lịch sử văn hoá to lớn, trở thành một “Hòn Ngọc” giữa Thủ đô, hay như du khách nước ngoài ví “một lẵng hoa đẹp giữa thành phố”
Trang 38đảo Ngọc ngày nay) Lê Thánh Tông cho dựng điếu đài (đài câu) Như vậy thời Lê Chiêu Thống chưa có đền chùa nào cả
Sách Thăng Long cổ tích khảo bản khuyết danh (ký hiệu Viện Hán Nôm A/820) soạn đầu đời Gia Long khoảng 1805, ở mục Hồ Hoàn Kiếm cũng không hề nhắc tới một ngôi đền chùa nào trên gò đất này
Như vậy đền Ngọc Sơn ra đời sau Gia Long (1802 -1820), chính xác
là cuối thập kỷ 40 của thế kỷ XIX Bằng chứng là 2 tấm bia hiện còn ở đền, một khắc năm 1843, một khắc khoảng năm 1865 - 1866
Bia 1843 do Vũ Tông Phan soạn, có tên là Ngọc Sơn đế quân từ ký,
ghi như sau: “Hồ Tả Vọng tên cũ gọi Hoàn kiếm là danh thắng đất kinh kỳ
xưa Phía bắc hồ, một gò đất nổi lên rộng khoảng ba, bốn sào, tương truyền là chỗ đài câu cuối thời Lê Trước đây ông Tín Trai làng Nhị Khê nhân có đền Quan Đế tại đây bèn mở rộng sửa thêm gọi là chùa Ngọc Sơn Phía nam trước mặt chùa dựng một gác chuông Lâu năm chùa hư nát, tưởng như tiêu vong.”
Gần đây có hội Hướng Thiện do các cụ trong khoa mục sáng lập ra Đền xưa nay vẫn thờ đức Văn Xương - Đế Quân, nhưng chưa có đền thờ Đến nay các con cụ Tín Trai có thiện tâm tự nguyện nhường lại cho Hội đền Ngọc Sơn Hội để nguyên đền Quan đế, chỉ sửa chữa gác chuông, xây đền thờ Đức Văn Xương Đền có 3 gian, ở giữa thờ tượng thánh mới làm, hai bên chái mỗi bên 1 gian, các phòng đông tây đều 5 gian Bắt đầu xây dựng từ mùa đông Tân Sửu (1841) đến mùa thu Nhâm Dần (1842) thì hoàn thành”
Rõ ràng văn bia cho hay là vào thời cuối Lê đầu Nguyễn có một vị lão nho hiệu là Tín Trai Thời đó trên đảo Ngọc có đền Quan Đế dựng vào đời Nguyễn Gia Long sau khi có các sách La thành cổ tích vịnh và Thăng Long
cổ tích khảo, tức khoảng cuối thập kỷ thứ nhất của thế kỷ XIX Tín Trai đã sửa đền thành chùa, xây một gác chuông
Trang 39Đến năm 1841 hội Hướng Thiện sửa chùa, xây một nơi thờ thêm thần Văn Xương ở vào chỗ gác chuông mà Tín Trai đã xây và cả quần thể này có tên là đền Ngọc Sơn Đế Quân, được gọi tắt là đền Ngọc Sơn
Như vậy, từ năm 1841 - 1842 trong đền vừa có thờ Phật, thờ Quan Đế
và thờ Văn Xương
Đến tấm bia do Lương Hiên Đặng Huy Tá lúc đó là án sát Hà Nội
soạn có tên là Trùng tu Văn Xương miếu bi ký cho biết thêm: “ Phía đông
lang Hà Thanh có Hồ Hoàn Kiếm, trong hồ có đảo gọi là núi Ngọc, trong núi có miếu Văn Xương, tôi vừa làm án sát Hưng yên đổi về, gặp ông Phương Đình, dắt nhau qua chơi, ông nói với tôi: “ Hồ này đời xưa lớn , từ
Lê trung hưng chở đất lấp, làm đường xe chạy, suốt đến Long Lâu ở Nhĩ
Hà Nửa hồ bên hữu là Hữu Vọng, nửa hồ bên tả là Tả Vọng, núi trong Tả Vọng là đài câu cá Đầu đời Gia Long mới có miếu Quan Đế Đến đời Thiệu Trị làm miếu khác thờ Văn Xương Gần đây có án sát Nguyễn Như Cát thăm đền thương cảm vì quy mô quê kệch và không tu sửa thì sẽ đổ nát nên đề nghị quyên tiền làm lại Nhưng chưa kịp làm thì bổ sang tỉnh Đông Tôi (tức Phương Đình Nguyễn Văn Siêu) thay ông ấy chủ trương việc này”
Nay đền mới đã hoàn chỉnh, phía trước kề bờ nước làm đình Trấn Ba, ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa dòng Văn Bên tả, phía đông cầu Thê Húc dựng Đài Nghiên, lại phía đông trên núi Độc Tôn xây Tháp Bút, tượng trưng cho văn vật Qua ba bốn năm mới làm xong, nhờ tôi (Đặng Huy Tá) làm bài ký”
Bia không có niên đại nhưng phải vào khoảng 1865 - 1866 Qua bia này, ta thấy:
Từ năm 1842 đến khoảng 1860 chưa đầy 20 năm mà đền Ngọc Sơn đã xuống cấp
Trang 40Việc đại trùng tu kéo dài 3,4 năm, tới tận 1865 hoặc 1866 mới xong
Và Đài Nghiên, Tháp Bút, đình Trấn Ba cùng cầu Thê Húc cũng chỉ bắt đầu có từ thời điểm này
Đền Ngọc Sơn nằm trong quần thể di tích Hồ Gươm đã được công nhận di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia ngày 10 tháng 07 năm 1980
2.1.3 Kiến trúc và cấu trúc khu di tích
Nằm trên hè phố Hàng Dầu lớp cổng đầu tiên gồm có bốn cây cột xây bằng gạch và hai mảng tường lửng ở mỗi cây cột đều có đắp những câu đối chữ Hán, vừa làm tăng vẻ cổ kính của di tích vừa giúp du khách tham quan hiểu thêm lịch sử và cảnh quan về di tích cũng như cảm thụ chất thơ, chất văn học và cả chất triết học hàm chứa trong nội dung thờ tự tại đây Kết hợp với nhiều câu đối hay, tạo thành một bộ phận văn học đầy giá trị triết
lý và mỹ cảm
Ngay ở hai cột chính, đôi câu đối chính diện:
Lâm thuỷ đang sơn nhất lộ tiệm nhập giai cảnh Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang
Có nghĩa là:
Đến cõi nước, trèo lên non, một lối dẫn vào cảnh đẹp
Tìm nguồn cội, hỏi chuyện xưa, trong chốn này biết
mấy phong quang
Đôi câu đối như lời chào mời du khách, hứa hẹn nhiều thú vị khi vào thăm di tích
Trên hai mảng tường ở hai bên có hai chữ Phúc và Lộc cỡ lớn, tô son
như lời chúc mọi sự tất lành Phúc là hạnh phúc, là niềm vui Lộc là thịnh vượng, là hưởng thụ Đó là hai khái niệm cầu chúc cho mọi người và cũng
là điều mà mọi người ai cũng mong ước có được Bên trên hai chữ đại tự
nét bút tươi tắn này còn có hai hàng đề từ, một bên là ba chữ Ngọc ư tư
nghĩa là