1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác quản lí ở khu di tích ngã ba đồng lộc tại xã đồng lộc huyện can lộc tỉnh hà tĩnh

84 64 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã chú trọng xây dựng đội ngũ quản lí văn hóa để góp phần trong công tác quản lý, bảo tồn, xây mới và phát huy các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA NGHÊ THUẬT

***********

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HÓA

Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa

Đề tài:

CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở KHU DI TÍCH NGÃ BA ĐỒNG LỘC, XÃ ĐỒNG LỘC, HUYỆN CAN LỘC,

TỈNH HÀ TĨNH

Giảng viên hướng dẫn : Trần Thị Thu Nhung

Sinh viên thực hiện : Phan Thị Phương Chi

Lớp :

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thị Thu Nhung đã giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình làm và hoàn thiện bài Cảm ơn các giảng viên trong khoa Quản lý Văn hóa _ trường Đại học Văn hóa Hà Nội Cảm ơn Ban quản lý khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, UBND huyện Can Lộc đã giúp đỡ trong quá trình hoàn thiện bài khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Sinh viên

Phan Thị Phương Chi

Trang 4

Bảng kê khai chữ viết tắt

- DTLSVH, DLTC: Di tích lịch sử, Danh lam thắng cảnh

- AHLLVTND: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

- VNDCCH: Việt Nam dân chủ cộng hòa

- TNXP: Thanh niên xung phong

- UBND: Ủy ban nhân dân

- TP: Thành phố

- CNH-HDH: Công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

1.Lí do chọn đề tài……… … 6

2 Nhiệm vụ nghiên cứu……….7

3 Mục đích nghiên cứu ……….7

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên ……… … 8

5 Phương pháp nghiên cứu……… 8

6 Đóng góp của đề tài……… … 8

7 Bố cục đề tài……… … 8

Chương I: Cơ sở khoa học về công tác quản lí di tích lịch sử văn hóa ….9 1.1 Một số khái niệm………9

1.1.1 Văn hóa……… 9

1.1.2 Quản lý, Quản lý di tích lịch sử văn hóa……… … 11

1.1.3 Di tích lịch sử văn hóa ………16

1.2 Một số quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa ………16

Chương II: Công tác quản lý tại khu di tích Ngã ba Đồng Lộc………… 20

2.1 Khái quát về huyện Can Lộc……… 20

2.1.1 Vị trí địa lí, dân cư………20

2.1.2 Đời sống kinh tế………22

2.1.3 Văn hóa xã hội……… 26

2.2 Khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc……… 29

2.2.1 Lịch sử hình thành khu di tích……… 29

2.2.2 Chiến công của quân và dân ta ở Ngã Ba Đồng Lộc………… 32

2.2.3 Sự tích huyền thoại về 10 cô gái Đồng Lộc……… 35

2.2.4 Các giá trị của khu di tích……….43

Trang 6

2.3 Quá trình bảo tồn, tôn tạo khu di tích……… 44

2.3.1 Quá trình nghiên cứu lập hồ sơ di tích……….44

2.3.2 Các hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích……… 45

2.3.3 Các hạng mục di tích cần được bảo vệ……….48

2.4 Công tác quản lý và phát huy giá trị ở khu di tích Ngã ba Đồng Lộc 51 2.4.1 Công tác tổ chức bộ máy quản lý……….51

2.4.2 Quy hoạch phương án bảo tồn, tôn tạo……… 55

2.4.3 Hoạt động quản lý để phát huy giá trị khu di tích………56

Chương III: Một số ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại khu di tích Ngã ba Đồng Lộc……….61

3.1 Đánh giá thực trạng công tác quản lý tại khu di tích……… 61

3.1.1 Ưu điểm………61

3.1.2 Hạn chế……….62

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích 64

KẾT LUẬN ……….70

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….71

PHỤ LỤC ……… 72

Trang 7

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Hà Tĩnh là một vùng quê nằm trên dải đất miền Trung tuy thiên nhiên không mấy ưu đãi, nhưng Hà Tĩnh thường được coi là nơi ''địa linh nhân kiệt'' Trong khó khăn gian khổ, con người đã vươn lên tạo dựng được một đời sống tinh thần phong phú, để lại cho muôn đời sau những giá trị văn hoá to lớn và tên tuổi của các bậc danh nhân tiêu biểu Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng văn chương, khoa bảng và cũng rất đổi anh hùng Tất cả những truyền thống văn hoá

đó sẽ mãi là di sản quý báu cần được lưu giữ và phát huy Núi Hồng Lĩnh với 99 ngọn cùng sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu và sông La…đã trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ thi nhân, nhạc sĩ và cũng là cái nền làm nên giai điệu dân ca sâu lắng

Đến với mảnh đất này chúng ta không thể không nhắc đến các di tích lịch

sử văn hóa nổi tiếng Nơi đó đã ghi dấu chân của biết bao sự tích cũng như các chiến công lịch sử Trong đó khu di tích Ngã ba Đồng Lộc là một minh chứng cho lịch sử ấy Nếu ai đã một lần đặt chân lên mảnh đất được mệnh danh là “ Tọa

độ chết” năm xưa đó thì sẽ không bao giờ quên được những câu chuyện thấm đầy nước mắt về tội ác của kẻ thù xâm lược và không khỏi cảm phục bởi những tấm gương anh hùng quả cảm đứng lên trong “lửa đạn” để cống hiến cho Tổ quốc Họ

là hàng ngàn nam nữ TNXP đã ngã xuống để cho màu xanh của ngày hôm nay

Chiến tranh đã lùi vào quá khứ, “túi bom” Đồng Lộc ngày xưa sau hơn 40 năm đổi thay bây giờ đã trở thành mảnh đất đầy màu xanh của sự sống, màu xanh của tuổi trẻ Những ngày tháng 7 trời Hà Tĩnh nắng như đổ lửa Không còn con đường đất đỏ nữa, đường Hồ Chí Minh huyền thoại bây giờ rộng thênh và đẹp đến không ngờ Hình ảnh một cây cột biểu tượng với phù điêu ba mặt ghi hình

Trang 8

vành tay lái ô tô giữa bông lúa và vòng hoa chiến thắng, khẩu súng trường, cây cuốc chim in trên nền trời xanh ngắt hiện ra Ngã ba Đồng Lộc! Một địa danh anh hùng luôn lay động hàng triệu trái tim con người mỗi khi nhắc đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi có 10 cô gái trinh trắng đã anh dũng ngã xuống để cho những đoàn quân

từ hậu phương nối liền với tiền tuyến

Du khách khắp bốn phương trời đều về đây để xin một lần tưởng nhớ, hiểu lịch sử oai hùng ấy và dâng những vòng hoa cúc trắng lên bia mộ các chị, các anh, những vị anh hùng của đất nước Để có được như ngày hôm nay là nhờ vào bàn tay khối óc của con người trên mảnh đất huyền thoại ấy

Đồng thời, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua

đã chú trọng xây dựng đội ngũ quản lí văn hóa để góp phần trong công tác quản

lý, bảo tồn, xây mới và phát huy các giá trị của khu di tích Ngã ba Đồng Lộc Nó không chỉ góp phần giữ nét cổ kính, linh thiêng như nó vốn có mà còn tạo ra nét hấp dẫn du khách mỗi lần đến thăm nơi đây Xuất phát từ thực tế quản lí khu di tích Ngã ba Đồng Lộc trong thời gian qua Sở văn hóa thông tin tỉnh Hà Tĩnh cũng như Ban quản lí đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lí, tổ chức các hoạt động văn hóa để thể hiện tầm quan trọng của di tích ở địa phương và quốc gia về văn hóa đất nước Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết về cơ chế quản lí trên một số phương diện: bộ máy quản lí, giải quyết mối quan hệ kinh tế với văn hóa, văn hóa với kinh tế dịch vụ và du lịch

Là người con được sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Hà Tĩnh tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình cho quê hương nên tôi đã chọn đề tài: “Công tác quản lí ở khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc” tại xã Đồng Lộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

Trang 9

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu thực trạng công tác quản lí tại di tích Ngã ba Đồng Lộc người viết xin đưa ra một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lí khu di tích

3 Mục đích nghiên cứu

Nhằm góp phần vào việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của khu di tích lịch sử văn hóa của quốc gia

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài đề cập đến công tác quản lí tại khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc tập trung làm sáng tỏ được việc quản lí di tích với nhiều vấn đề phức hợp và hàm chứa nhiều lĩnh vực Thực trạng quản lý trong những năm gần đây của ban quản

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành bài viết tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Tổng hợp phân tích tư liệu

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở khoa học về công tác quản lí di tích lịch sử văn hóa

Chương II: Thực trạng công tác quản lí tại khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc Chương III: Một số ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí tại khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc

Trang 10

như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã

hội học và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác

nhau Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay

cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều Cắt nghĩa cho điều đó chính là do sự đa dạng, đa diện của các vùng miền, quốc gia và đặc điểm tâm lý của dân tộc, điểm đứng hay cách nhìn của người định nghĩa Do đó có nhiều loại định nghĩa khác nhau như: loại định nghĩa theo hình thái chuẩn mực, loại định nghĩa theo hình thái giá trị văn hóa, loại định nghĩa theo hình thái biểu tượng của văn hóa…định nghĩa miêu tả, liệt kê những gì là văn hóa Tuy nhiên dù nhìn nhận ở góc độ văn hóa nào thì các định nghĩa về văn hóa cũng khẳng định mối quan hệ giữa con người với văn hóa, có con người là có văn hóa

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một quan niệm hết sức tổng quát về văn hóa: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

Trang 11

Tổ chức UNESCO (năm 1982) đã chủ trì hội nghị về văn hóa ở Mexico và đưa ra một định nghĩa chung nhất về văn hóa: “ Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối, những quyền cơ bản của một con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng…”

Với định nghĩa trên của UNESCO thì văn hóa được nêu lên bao gồm vật chất và tinh thần Nó khái quát xung quanh hai loại nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của con người đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Để đáp ứng hai nhu cầu này cũng phải có hai dạng hoạt động cơ bản đó là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Văn hóa vì thế cũng chia thành hai dạng là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ sản phẩm vật chất do con người sáng tạo ra như: các công trình kiến trúc, điêu khắc, công cụ sản xuất và sinh hoạt, đồ

ăn, mặc, các phương tiện đi lại và vận chuyển Các sản phẩm văn hóa ở dạng vật chất ấy gọi là văn hóa phi vật thể

* “Di sản văn hóa”

Di sản là những giá trị văn hóa, lịch sử của các thế hệ trước để lại cho thế

hệ sau Di sản gồm có di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Luật

Di sản đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001 Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất

đã nêu rõ: “Di sản văn hóa gồm di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học được lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đây là một khái niệm đầy đủ toàn diện, phù hợp với quan niệm chung của thế giới

Trang 12

“Di sản văn hóa vật thể”: điều 4 Luật Di sản văn hóa định nghĩa: “Di sản

văn hóa vật thể là sả phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”

Theo cách hiểu đó, di sản văn hóa vật thể ngoài việc mang những đặc điểm của di sản văn hóa nói chung tức là mang giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, còn phải mang đặc điểm riêng của nó thể hiện dưới dạng vật chất

“Di tích lịch sử - văn hóa” là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” (điều 4, khoản 2)

Như vậy, công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học mới được coi

là di tích lịch sử văn hóa Có nghĩa là chúng phải là vật chứng cho một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân kiệt xuất hoặc chúng là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một phong cách, một thời đại, hoặc chúng là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định

1.1.2 “ Quản lý”, “quản lý Nhà nước về văn hóa”, ‘quản lý Nhà nước

về di tích lịch sử văn hóa”

Bản thân khái niệm “quản lý” có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt

“Quản lý” là từ Hán Việt: “quản” là lãnh đạo, đứng đầu một công việc,

“lý” là trông nom chăm sóc công việc nào đó

Trang 13

Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản

lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý đã đưa ra những cách định nghĩa như sau:

Tailor: “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”

Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy”

Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định”

Trong khoa học: “quản lý” là hoạt động có mục đích của con người, là hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hoạt động nhằm thu được kết quả mong muốn Để đạt được điều đó thì cần các công cụ hỗ trợ như: hệ thống pháp luật, các quy tắc, các nguyên tắc…Từ đó có thể đưa ra một định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có hướng đích của chủ thể (người tổ chức, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc và các biện pháp tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng nhằm đạt mục đích

đề ra

Theo C.Mác: Quản lý là chức năng xã hội đặc biệt nảy sinh từ các nền sản xuất

Trang 14

Câu nói của C.Mác cho ta hai nhận thức: khác với thế giới động vật cá thể này cai trị cá thể khác theo quy luật đấu tranh sinh tồn thì con người lại tiến tới hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển Thực chất của mối quan hệ giữa người với người chính là mối quan hệ kinh tế Bởi vậy quản lý phải xuất phát từ các nền kinh tế khác nhau để thể hiện tính chất của mình

C.Mác cũng nói rằng: Một người chơi độc tấu vĩ cầm chỉ cần chơi một mình còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng Rõ ràng quản lý sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý khách thể quản lý

Quản lý luôn ở trạng thái động và sự vận động của quản lý luôn tuân theo quy trình nhất định Quản lý bao gồm các công đoạn quản lý và thao tác quản lý Các công đoạn là thao tác quản lý được hình thành trên hai mặt: chủ thể quản lý

và khách thể quản lý Cả hai đều được xác định rõ ràng về vai trò, chức năng, mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Như vậy quản lý là sự điều khiển đối tượng đang vận động nhằm một mục tiêu nhất định Muốn quản lý tốt chủ thể quản lý phải hiểu đối tượng quản lý là gì? Nên như thế nào và ở trạng thái nào?

Mỗi đối tượng quản lý tồn tại trong thực tế dưới dạng quá trình tổng hợp, tổng hợp những mối quan hệ nhất định Như vậy chủ thể quản lý phải nắm bắt những thông số về đối tượng đang vận động và sự vận động của đối tượng Sự vận động của đối tượng luôn diễn ra trong không gian, thời gian cụ thể Trong văn hóa, ở chiều không gian là sự vận động, tăng trưởng của văn hóa, là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái truyền thống và cái hiện đại dẫn đến

hệ luận của quản lý là quản lý đối tượng đang vận động Chủ thể quản lý phải nắm bắt được quy luật vận động của đối tượng trên cơ sở đó tổ chức một cơ chế,

cơ cấu bộ máy quản lý thích ứng tạo lập cuộc sống giải pháp vận hành có hiệu quả (Hoàng Sơn Cường)

Trang 15

Quản lý là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội Xã hội càng phát triển thì vai trò quản lý càng lớn và nội dung của quản lý càng phức tạp Do đó người quản lý không chỉ đòi hỏi có trình độ chuyên môn mà các nhà quản lý còn phải hiểu biết tâm lý và có phương pháp sư phạm

Tóm lại, quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong

đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu quản lý từ góc độ riêng của mình Tuy nhiên mỗi chúng ta có thể định nghĩa chung về quản lý theo quan điểm của điều khiển học Theo Điều khiển học, khái niệm quản lý được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được mục đích hay kế hoạch mà người quả lý đã dự kiến đã đề ra từ trước

“Quản lý Nhà nước về văn hóa”:là một dạng của quản lý xã hội, là sự tác

động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của cơ quan Nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ cũng như trật tự xã hội nhằm thực hiện chức năng và nhiệm

vụ của Nhà nước

Hiểu theo nghĩa rộng: quản lý Nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước từ hoạt động lập pháp, hành pháp tới tư pháp, hoạt động quản lý Nhà nước trước hết thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể quần chúng cùng thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật

Hiểu heo nghĩa hẹp: qản lý Nhà nước là hoạt động của quyền hành pháp, túc là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan quản lý Nhà nước Hoạt động quản lý Nhà nước chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan hành chính Nhà nước bào gồm: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, UBND Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển

Trang 16

các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng XHCN do các cơ quan trong hệ thống chính quyền từ Trung Ương đến cơ sở tiến hành

Quản lý Nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đảm bảo cho mỗi công dân đều thực hiện quyền cơ bản của mình như: quyền tự do ngôn luận,

tự do báo chí, quyền học tập, sáng tác…

Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệp của toàn xã hội Nhà nước định hướng phát triển cho nền văn hóa Việt Nam: “ Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Quản lý Nhà nước về văn hóa đòi hỏi phải tiến hành những hoạt động cụ thể qua các mảng như: quản lý Nhà nước về văn hóa nghệ thuật; quản lý Nhà nước về văn hóa thông tin; quản lý Nhà nước về văn hóa xã hội, quản lý di sản văn hóa

Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng các chính sách và pháp luật về văn hóa Nhằm phát huy tác dụng của văn hóa tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của con người, hạn chế những tiêu cực Thông qua các văn bản pháp luật trong lĩnh vực văn hóa được ban hành và thực hiện như: Hiến pháp 1992, Luật Di sản, Luật Xuất bản, Luật báo chí…

“Quản lý Nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa”: Trong điều 4 Luật Di

sản văn hóa đề cập đến các hoạt động xung quanh vấn đề quản lý di tích Nó bao gồm các hoạt động như: bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa hạn chế những nguy cơ làm

hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch

sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:

Trang 17

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá;

- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;

- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo

và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá

* Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về DSVH

- Bộ Văn hoá - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản

lý nhà nước về di sản văn hoá

- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản

lý nhà nước về di sản văn hoá theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá

- Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hoá ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ

Trang 18

1.1.3 Di tích lịch sử văn hóa

Theo điều 4, Luật Di sản văn hóa có viết: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng địa điểm và các di vật, bảo vật, cổ vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học”

Như vậy, công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó phải có giá trị lịch sử, khoa học, văn hóa mới được coi là di tích lịch sử văn hóa Có nghĩa là chúng phải có vật chứng cho một

sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất; hoặc chúng là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định

Khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc

mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa

1.2 Một số quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

Di sản văn hóa là tài sản quý giá của mỗi quốc gia Nó không chỉ góp phần tạo nên nền tảng tinh thần xã hội vững chắc mà còn góp phần để phát triển kinh

tế xã hội: “Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” (Hội nghị BCH Trung ương V khóa VIII)

Di sản văn hóa góp phần hình thành nên môi trường sinh thái văn hóa của

cả cộng đồng mà còn bồi đắp ý thức của cá nhân và cộng đồng trong suốt quá trình tồn tại tạo nên sự nối tiếp trong truyền thống văn hóa Di sản văn hóa còn là ngôn ngữ, là nhịp cầu nối quan hệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới tạo nên sự giao lưu văn hóa trong thời hội nhập

Trang 19

Ngày nay việc bảo tồn các di sản văn hóa đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, một vấn đề cấp bách của toàn nhân loại Vì vậy mỗi quốc gia đều có các bộ luật riêng để quy định với các phương án để bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa

Nước ta đã đưa ra các luật để có thể thực hiện tốt nhất và có hiệu quả nhất nhằm giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa

* Theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, (DTLSVH, DLTC) đã được hội đồng Nhà nước CHXH thông qua ngày 31/3/1984 và chủ tịch Trường Chinh kí ngày 4/4/1984 Nội dung của Pháp lệnh được thể hiện rõ thông qua 5 chương :

Chương I: Những quy định chung: gồm 6 điều (từ điều 1 đến điều 6)

Chương này chỉ rõ thế nào là DTLSVH và DLTC Mọi DTLSVH và danh lam thắng cảnh đều được Nhà nước bảo vệ, quản lí Việc quản lí Nhà nước gồm: kiểm kê, đăng kí, công nhận và xác định loại hình DTLSVH và DLTC Quy định chế độ bảo vệ, sử dụng và tổ chức thực hiện cũng như thanh tra việc thi hành những quy định đó Phân rõ nhiệm vụ, chức năng của các cấp chính quyền Việc

kí tặng DTLSVH và DLTC thuộc sở hữu tập thể hoặc cá nhân cho nhà nước được khuyến khích

Nghiêm cấm mọi hành vi làm hư hại, tiêu huỷ chiếm giữ hoặc trao đổi mua bán trái phép DTLSVH, DTLC phải được sử dụng vào việc giáo dục lòng yêu nước, tư hào dân tộc, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học… Các cơ quan nhà nước cũng như mỗi người dân đều có nghĩa vụ bảo vệ DTLSVH và DLTC

Chương II: Việc công nhận DTLSVH, DLTC đều phải được đăng kí UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc các cấp chính quyền tương đương chịu trách nhiệm tổ chức đăng kí, lập hồ sơ đề nghị công nhận…kê khai quyền sở hữu hoặc sử dụng của mình đối với UBNDTP hoặc đơn vị hành chính tương đương

Trang 20

Chương III: Việc bảo vệ và sử dụng DTLSVH và DLTC gồm 13 điều (từ điều 12 đến 24)

UBNDTP trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm quản lí các DTLSVH và DLTC Nhưng DTLSVH và DLTC quan trọng được bảo vệ theo chế độ đặc biệt của Hội đồng Bộ trưởng tổ chức và cá nhân được trao quyền

Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa X kì họp thứ 9 thông qua ngày 14/6/2001, có hiệu lực ngày 1/1/2002 là cơ sở cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam Các khái niệm, nội dung của di sản văn hóa; phạm vi; đối tượng điều chỉnh của Luật; chính sách; biện pháp chủ yếu của Nhà nước nhằm bảo vệ di sản; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức cá nhân và toàn xã hội trong việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc; giải thích các thuật ngữ về

di sản văn hóa và bảo vệ phát huy di sản văn hóa; các điều cấm nhằm bảo vệ di sản văn hóa đã được đề cập đến Bên cạnh đó, văn bản luật này có các chương đề cập đến quyền và nghĩa vụ các tổ chưc, cá nhân, đối với di sản văn hóa phi vật thể, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể; việc quản lý Nhà nước

về di sản văn hóa…

* Theo “Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh” ban hành kèm theo Quyết định số: 05/2003/QĐ-BVHTT, ngày

06 tháng 02 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin

Điều 1 Mục đích của hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Điều 2 Đối tượng điều chỉnh, phạm vi áp dụng

Điều 3 Giải thích từ ngữ

Điều 4 Phân loại di tích

Điều 5 Nguyên tắc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích

Trang 21

* Theo “Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT” ngày 24 tháng 7 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thông tin phê duyệt quy hoạch Tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 chỉ rõ:

- Việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích) phải đảm bảo tính trung thực của lịch sử hình thành các di tích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của di tích, phải giữ gìn nguyên vẹn, không làm biến đổi những yếu tố cấu thành của di tích, đảm bảo tính nguyên gốc của di tích

- Bảo tồn phải gắn với phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, sự phát triển của các ngành hữu quan, nhất là các ngành Du lịch, Giao thông công chính, Xây dựng v.v Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích nhằm đặt cơ sở pháp lý

và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành và địa phương

- Tạo lập sự hài hoà giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa với bảo vệ các di tích; ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất đai và xây dựng các công trình không phù hợp trong các khu vực bảo vệ của di tích

- Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích Huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, nâng cao nhận thức và sự tham gia đóng góp của toàn xã hội trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích

Như vậy, chính sách của Đảng và Nhà nước đã góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc đồng thời góp phần khẳng định bản sắc văn hóa đậm đà trong khu vực và thế giới

Trang 22

Chương II Thực trạng công tác quản lý ở khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, xã

Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

2.1 Khái quát chung về huyện Can Lộc

2.1.1 Vị trí địa lý, dân cư

- Vị trí địa lý:

Phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân và Thị xã Hồng Lĩnh; Phía Tây Bắc giáp huyện Đức Thọ; Phía Tây Nam giáp huyện Hương Khê; Phía Nam giáp huyện Thạch Hà; Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Lộc Hà

Huyện Can Lộc cách thủ đô Hà Nội 330km, cách thành phố Vinh khoảng 30km, cách thị xã Hồng Lĩnh khoảng 15km và cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 20km Can Lộc là một huyện có địa hình đồng bằng bán sơn địa, vừa có núi và vừa có đồng bằng Với tổng diện tích tự nhiên: 30.128,33ha Trong đó: đất nông nghiệp là 19.460,24ha; đất phi nông nghiệp là 7.590,35ha; đất chưa sử dụng là 3.077,74ha

Trang 23

65.566 người Vùng đất Can Lộc không chỉ nổi danh với những tên núi, tên sông

đã vào dân gian trong những câu hát ví, hát dặm, hát phường đi củi…mà nơi đây còn là nơi sinh ra của những con người có truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong công cuộc chống giặc ngoại xâm Sự đóng góp của người Can Lộc với dân tộc có thể tính từ sự nghiệp của hai cha con hậu duệ của Thám hoa Đặng Bá Tĩnh là Đặng Tất và Đặng Dung - những danh tướng tài năng thời nhà Hậu Trần Thế kỷ 17, nhân dân Can Lộc đã ủng hộ nhà Lê xây dựng sự nghiệp của một quốc gia Ở Can Lộc nổi bật lên một dòng thế tướng, truyền suốt mấy thế hệ gần 300 năm, đó là dòng họ Ngô với các tên như: Ngô Phúc Vạn, Ngô Văn Sở Thế kỷ này, các văn thần ở Can Lộc cũng rất nhiều Tể tướng Nguyễn Văn Giai (nay thuộc huyện Lộc Hà) là trọng thần coi sóc đến sáu bộ; Dương Trí Trạch đi sứ Trung Quốc; Hà Tông Mục kinh lý đất Tuyên Quang

Sang thế kỷ 18, người Can Lộc đã đóng góp tích cực nhất cho văn hoá Danh tiếng "Thiên Lộc tứ hổ" không kém gì "Tràng An tứ hổ" Kinh thành Thăng Long còn lưu truyền câu phương ngôn "Bút Cấm Chỉ, sĩ Thiên Lộc" Có rất nhiều người làm quan và đỗ Thám hoa, Bảng nhãn: Phan Kính, Đặng Văn Kiều, Nguyễn Huy Oánh, Vũ Diễm Giai đoạn này Can Lộc có rất nhiều ẩn sĩ nổi tiếng, giúp ích nhiều cho đất nước như Nguyễn Thiếp

Phần đóng góp quan trọng nhất của Can Lộc đối với văn hóa cuối thế kỷ

17 là Can Lộc cùng với Nghi Xuân đã tạo ra một điểm giao lưu văn hóa có ảnh hưởng lớn trong văn học Can Lộc có làng Trường Lưu, quê hương của hát phường vải nổi tiếng Nguyễn Huy Oánh là một cây đại thụ trong nền văn hóa Hồng Lam, Nguyễn Huy Tự soạn cuốn “Hoa Tiên” tạo điều kiện mở đầu cho người chú vợ là Nguyễn Du sáng tác nên tác phẩm vĩ đại “Truyện Kiều”..

Nguyễn Huy Hổ lại tiếp nhận ảnh hưởng Hoa Tiên - Kiều viết nên “Mai Đình Mộng ký” Đến bây giờ ý kiến về có một Hồng Sơn văn phái đã được chấp nhận.

Trang 24

Can Lộc còn là nơi sinh ra ba dòng họ văn hóa nổi tiếng cho truyền thống dòng họ văn hóa đặc biệt của Hà Tĩnh, đó là dòng họ Ngô ở Trảo Nha, dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu và dòng họ Nguyễn Chi ở Ích Hậu

Những năm đầu thế kỷ 20 là những năm sôi nổi mãnh liệt nhất của người dân Can Lộc Đỉnh cao là phong trào chống thuế 1908 hạt nhân của Nghệ Tĩnh

do Nguyễn Hàng Chi cầm đầu, rồi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 Can Lộc do đội Khởi nghĩa vũ trang thuộc Đoàn Thanh niên cứu quốc Can Lộc (mà một trong ba người lãnh đạo là nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi) đã giành chính quyền sớm hơn 3 ngày so với các địa phương khác tại Việt Nam trong cao trào Cách mạng tháng Tám (16/8/1945) Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước kéo dài trên 21 năm, trên vùng cán xông, Khu 4 người dân Can Lộc không những đã làm tròn nhiệm vụ đối với tiền tuyến đầu, là tiền tuyến của hậu phương lớn miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa Mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn khu 4 và Hà tĩnh là nơi thể hiện sâu sắc nhất cuộc chiến đấu cam go, đầy ác liệt, hi sinh nhưng cũng anh hùng nhất của cuộc chiến ấy Nơi đây có Ngã

ba Đồng Lộc là bản hùng ca về tinh thần bất khuất của người dân Can Lộc anh hùng

2.1.2 Đời sống kinh tế

Với 5 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh có nhiều thời cơ thuận lợi cũng như những khó khăn thách thức: tình hình lạm phát, giá cả có nhiều biến động bất thường, thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến sản xuất cũng như đời sống nhân dân Nhưng được sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Huyện uỷ - HĐND - UBND Huyện, sự giúp đỡ hiệu quả của các ban ngành, khối đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, khơi dậy truyền thống văn hoá, cách mạng, anh hùng, nỗ lực phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Nhiều năm liên tục Đảng bộ

xã được Huyện uỷ tặng danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu

Trang 25

Nhiệm kỳ qua, cấp uỷ Đảng, chính quyền các xã xác định nhiệm vụ trọng tâm, nội dung trọng điểm là phát triển kinh tế, phát huy mạnh mẽ nội lực, khắc phục mọi khó khăn, tập trung đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát đó, mỗi địa phương đã vạch ra những bước đi cụ thể cho mỗi lĩnh vực trong từng thời gian cụ thể Nhờ đó, kinh tế xã nhà tiếp tục tăng trưởng khá trên tất cả các lĩnh vực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, mùa vụ có bước chuyển tích cực

Sau 5 năm qua, nhờ các cơ chế, chính sách của cấp trên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền, người nông dân trong xã đã hăng hái thi đua, tạo

ra sự chuyển biến rõ nét Thông qua các lớp tập huấn, hội thảo, chuyển giao khoa học kỹ thuật, các đợt đi tham quan học hỏi kinh nghiệm… trình độ thâm canh cũng như cách thức tổ chức sản xuất của các hộ dân đã có sự chuyển biến

Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của cấp Uỷ Đảng, chính quyền, trách nhiệm của đội ngũ làm công tác chuyên môn, kỹ thuật được thể hiện

rõ nét Bố trí lao động, nguồn vốn vật tư, công tác chuyển giao khoa học công nghệ đưa các loại giống cây, con tiến bộ, có năng suất chất lượng cao vào sản xuất ngày càng hiệu quả; quy trình đầu từ thâm canh, bố trí cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi một cách hợp lý hơn Sản xuất nông nghiệp: điều kiện thời tiết khá thuận lợi nên sản xuất nông nghiệp được mùa khá toàn diện Tổng giá trị sản xuất ước đạt 844 tỷ đồng chiếm 44,1% (trong đó trồng trọt, chăn nuôi 820 tỉ đồng, lâm nghiệp đạt 8 tỷ đồng, thủy sản 15 tỷ đồng) Tổng diện tích gieo trồng 19.833ha (tăng 231ha so với năm 2008); tổng sản lượng lương thực ước đạt 76.563 tấn/83.000 tấn bằng 91,7% kế hoạch

Nhân dân Can Lộc hoàn thiện tích cực chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật, công nghệ xây dựng mô hình lúa chất lượng cao ở 13 xã, mô hình giống lạc, đậu xanh với quy mô 12ha tại 5 xã

Trang 26

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp: tổng giá trị sản xuất ngành đạt 228 tỷ đồng tăng 15% so với năm 2008, sản phẩm chủ yếu các mặt hàng như: gạch nung, đá xây dựng, cát, đất san lấp mặt bằng và làm đường giao thông Các ngành nghề truyền thống tiếp tục phát triển về quy mô như: sản xuất rượu nếp, chế biến đồ mộc gia dụng, nghề thủ công gò hàn, cơ khí Xây dựng một nhà máy gạch Tynel Đà 27 là chủ đầu tư Bên cạnh đó dự án năng lượng nông thôn 2 cho

18 xã không tăng, giá trị đầu tư 160 tỷ đồng cơ bản đã hoàn thành và sử dụng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, có nguồn điện áp ổn định hao tổn điện giảm từ 25% trước đây xuống còn 7-8%

Xây dựng - xúc tiến đầu tư: tập trung đẩy mạnh tiến độ thi công nhiều dự

án lớn trên địa bàn để sớm đưa vào sử dụng như: tượng đài Xô Viết; đường tỉnh

lộ đi chùa Hương, đường cầu 10, chương trình kiên cố hóa trường học cùng các

dự án giao thông, thủy lợi được thi công hàng loạt Năm 2009 là năm có giá trị xây dựng cơ bản 265 tỷ đồng tăng 28% so với năm 2008 là năm có giá trị đầu tư xây dựng trên địa bàn lớn nhất hiện nay

Huyện có nhiều tài nguyên khá đa dạng, đặc biệt là tài nguyên du lịch Lịch sử huyện Can Lộc đã có một quá trình hình thành và phát triển đã trải qua biết bao thông thăng trầm, bao cuộc chiến tranh tàn phá của bọn thực dân đế quốc, chịu nhiều đau thương, mất mát cả về vật chất lẫn tinh thần Nhân dân Can Lộc đã tổ chức đại hội thể dục thể thao rèn luyện lần 7, đón nhận danh hiệu Anh hùng trong thời kì đổi mới xã Thiên Lộc, tổ chức thành công kỉ niệm 540 năm truyền thống Thiên Lộc - Can Lộc Du lịch tiếp tục tổ chức tốt lễ khai hội chùa Thiên Hương mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh năm 2009 cùng với khởi công hệ thống cáp treo chùa Hương; Tháp chuông Đồng Lộc, khu tượng đài 10 nữ TNXP Ngã ba Đồng Lộc , cải tiến công tác quảng bá, đón tiếp thu hút 112.000 lượng khách, tăng 19% so với cùng kì Dự án sinh thái Bắc Nghèn hoàn thành giai đoạn

Trang 27

1 đi vào hoạt động tạo ra điểm vui chơi giải trí và thu hút du lịch có nhiều triển vọng

Phong trào thể thao, văn nghệ phát triển rộng khắp, có sân bóng chuyền, cầu lông đạt yêu cầu Đặc biệt, phong trào TDTT quần chúng phát triển sâu rộng, qua thi đấu đều đạt giải cao ở cụm, huyện, đến nay có đến 39% gia đình đạt gia đình thể thao Có một nét nổi bật là ở đây người dân luôn tích cực giúp đỡ nhau xoá đói giảm nghèo Bên cạnh đó, phát huy truyền thống hiếu học xưa nay, công tác giáo dục luôn được chú trọng

Sự nghiệp giáo dục đã dần khẳng định những bước đi vững chắc, chất lượng dạy và học đã nâng lên rõ rệt Đến nay, trên địa bàn huyện nhà đã và đang giữ vững phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS, đang từng bước phổ cập THPT Trường Tiểu học và trường THCS đã đạt chuẩn quốc gia giai đoạn I, trường Tiểu học đang xây dựng để được công nhận chuẩn quốc gia giai đoạn II trong năm 2011 này, trường Mầm non đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia trong năm tới

Trong những năm qua, để xây dựng một xã hội tốt đẹp, phát triển hài hoà, tất cả các lĩnh vực đều được địa phương quan tâm một cách công bằng Theo đó, công tác y tế, DSKHHGĐ cũng thường xuyên được chăm lo; công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và các chính sách an sinh xã hội cũng như an ninh quốc phòng đều được thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả Trong thời gian tới, để tạo điều kiện thuận lợi cho từng địa phương thực hiện mục tiêu xây dựng cuộc sống nhân dân ấm no, hạnh phúc, văn minh, huyện Can Lộc vẫn rất cần sự hỗ trợ từ cấp trên để hoàn thiện hệ thống giao thông, thuỷ lợi cũng như một số mặt khác để có thể ngày càng nâng cao được chất lượng đời sống của nhân dân

Trang 28

2.1.3 Văn hóa xã hội

Can Lộc xưa kia có tên gọi là Thiên Lộc thuộc phủ Đức Quang được xem

là vùng đất "địa linh nhân kiệt" của xứ Nghệ An Trong thời kỳ phong kiến có khoảng 40 vị đỗ đại khoa (tiến sĩ) và rất nhiều danh nhân văn hóa như: Thám hoa Đặng Bá Tĩnh (đời nhà Trần); danh tướng Đặng Tất và Đặng Dung (thời Hậu Trần); Quốc tử giám Tế tửu Phan Viên (1421-?); Thượng thư kiêm Sử quán Tổng tài Đặng Minh Khiêm, Đặng Chiêm, Tiến sĩ Nguyễn Hành, La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, Đô đốc Phan Văn Lân, Đại Tư mã Ngô Văn Sở (danh tướng nhà Tây Sơn), danh tướng Ngô Phúc Vạn, nhà văn hóa Hà Tông Mục, Thượng thư Hà Tông Trình; Đình nguyên, Hoàng giáp Vũ Diễm; Tể tướng Dương Trí Trạch; Đình nguyên Thám hoa Nguyễn Huy Oánh; nhà thơ Nguyễn Huy Tự; nhà thơ Nguyễn Huy Hổ; Đình nguyên Lưỡng quốc Thám hoa Phan Kính; chí sĩ Ngô Đức Kế; nhà yêu nước Võ Liêm Sơn; chí sĩ Nguyễn Trạch, nhà cách mạng Đặng Văn Cáp

Những người nổi tiếng ngày nay có: nhà thơ Xuân Diệu, nữ anh hùng La Thị Tám, Giáo sư vật lý hạt nhân Nguyễn Đình Tứ, Giáo sư toán học Phan Đình Diệu, Giáo sư, TS, NGND Trần Văn Huỳnh; Doanh nhân Phạm Nhật Vượng, Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Huy Mỹ, Thiếu tướng, Trần Văn Độ (phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao), Thiếu tướng, Giáo sư Lê Năm (Giám đốc Viện bỏng quốc gia Lê Hữu Trác), Giáo sư TSKH Nguyễn Tử Cường, phó Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Nguyễn Trường Cửu, TSKH Phan Xuân Dũng - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội, Tiến sĩ Trần Hồng Hà - Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và nhiều chính khách, nhà khoa học, doanh nhân khác

Can Lộc với nhiều di tích và danh thắng nổi tiếng như: Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung thuộc xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, thờ hai vị tướng có công lao lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh xâm lược

Trang 29

Miếu Biên Sơn: được xây dựng thời nhà Lê ở huyện Can Lộc, thờ Phan Thị Sơn, một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh

Mộ trạng nguyên Bạch Liêu: thuộc xã Thiên Lộc, Can Lộc Bạch Liêu sinh năm 1236 quê ở làng Yên Xá, huyện Đông Thành, Nghệ An Ông đỗ Trạng nguyên năm 1266 nhưng không ra làm quan Sau này, ông giúp Trần Quang Khải trấn Nghệ An và có công lớn trong cuộc chống quân Nguyên Mông

Ngã ba Đồng Lộc nằm ở giao điểm 2 tỉnh lộ số 5 và 15 Trong chiến tranh Việt Nam, nơi đây đã phải hứng chịu hàng ngàn trận bom của máy bay Mỹ và đã chứng kiến sự hy sinh của tiểu đội nữ thanh niên xung phong có 10 người con gái

Chùa Hương Tích ở xã Thiên Lộc: Di tích danh thắng thế kỷ 14; Nhà thờ

Hà Tông Mục ở xã Tùng Lộc: danh nhân lịch sử thế kỷ 17; Nhà thờ Phan Kính ở

xã Song Lộc: danh nhân lịch sử - văn hóa thế kỷ 18; Nhà thờ Ngô Phúc Vạn ở xã Đại Lộc: danh nhân lịch sử-văn hóa thế kỷ 17; Nhà thờ Nguyễn Thiếp ở xã Kim Lộc: danh nhân lịch sử-văn hóa thế kỷ 18; Mộ và nhà thờ Nguyễn Huy Oánh ở xã Trường Lộc: danh nhân lịch sử - văn hóa thế kỷ 18; Nhà thờ Nguyễn Huy Tự ở

xã Trường Lộc: danh nhân lịch sử - văn hóa thế kỷ 18; Nhà thờ Nguyễn Huy Hổ

ở xã Trường Lộc: danh nhân văn hóa thế kỷ 19

Ngã ba Nghèn ở Thị trấn Nghèn: Di tích lịch sử cách mạng (phong trào Xô viết Nghê-Tĩnh) giai đoạn 1930-1931

Đền làng Nam và chùa Mộ Nghĩa ở xã Thanh Lộc

Nhà thờ Trần Phúc Tuy ở xã Thiên Lộc

Chùa Bụt Sơn ở xã Phú Lộc

Di tích lưu niệm Ngô Đức Kế ở Thị trấn Nghèn

Nhà thờ Nguyễn Văn Mạo ở Phúc giang Vĩnh Lôc Can lộc Một vị tướng thời Tây sơn

Trang 30

* Lễ hội truyền thống: Hàng năm ở Can Lộc diễn ra rất nhiều lễ hội thu hút được

đông đảo quần chúng cũng như du khách thập phương đến tham gia đã góp phần tạo cơ hội phát triển cho quê hương Ví như: Lễ hội chùa Hương Tích được tổ chức tại chùa Hương Tích thuộc xã Thiên Lộc Chùa thờ Phật và con gái vua Sở Trang Vương Hàng năm cứ đến ngày 18/2 âm lịch, nhân dân ở khắp mọi nơi đến

hội chùa cúng Phật, cầu an và thăm cảnh đẹp của chùa

Lễ Kỳ phúc và Hội thi vật ở Thuần Thiện diễn ra vào đầu Xuân và Rằm tháng Sáu

Kỷ niệm ngày Xô Viết Nghệ Tĩnh ở Khu di tích Ngã 3 Nghèn ở thị trấn Nghèn Thời gian: 12 tháng 9 dương lịch

2.2 Khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc

2.2.1 Lịch sử hình thành khu di tích Ngã ba Đồng Lộc

Ngã ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh có tổng diện tích 50ha nằm gọn trong một thung lũng hình tam giác, hai bên đồi núi trọc, giữa là con đường độc đạo, mặt đường giống như một lòng máng, bom địch thả xuống bên nào đất đá cũng lăn xuống đường làm cản trở giao thông Tất cả mọi con đường từ Bắc vào Nam đều phải vượt qua ngã ba Đồng Lộc Ngã ba Đồng Lộc được coi như cổ họng, vượt qua được sẽ phân tán toả ra nhiều tuyến đường khác nhau đi vào Nam Chính vì thế, Ngã ba Đồng Lộc là trọng điểm có tầm quan trọng chiến lược nên trong chiến tranh phá hoại kẻ địch âm mưu ném bom huỷ diệt nhằm chặn đứt sự chi viện sức người, sức của, vũ khí, súng đạn, lương thực của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn miền Nam Chỉ tính riêng 240 ngày đêm từ tháng 3 đến tháng 10/1968 không quân địch đã trút xuống đây 48.600 quả bom các loại

Đầu tháng 4/1968 địch tập trung đánh phá tuyến đường số 1 đoạn từ cầu Thượng Giá đến Cổ Ngựa thuộc xã Thiên Lộc (Can Lộc) Ngày 20/4/1968,

Trang 31

đường số 1 bị cắt đứt tại đây, ta chuyển hướng vận tải sang tuyến đường 15 trên vùng rừng núi phía Tây cả tỉnh Lúc đó, Ngã ba Đồng Lộc là nơi duy nhất cho con đường vận tải chiến lược đi qua Nhận rõ vị trí quan trọng của Đồng Lộc địch tập trung bắn phá ác liệt khu vực này ngay từ đầu Trong 7 tháng ném bom hạn chế (từ tháng 4 đến tháng 10/1968), chúng bắt đầu đánh vào Ngã Ba 1.863 lần, ném gần 50.000 quả bom các loại, chưa kể Rốc két và đạn 20mm Bình quân chúng đánh 28 ngày, ngày đánh nhiều nhất là 103 lần bay với 800 quả bom các loại Suốt ngày đêm không lúc nào Đồng Lộc ngừng tiếng bom rơi Cùng một lúc chúng ném bom xuống nhiều loại bom đào, bom phá, bom bi, bom nổ chậm, bom

từ trường…Ban ngày chúng tập trung đánh cả Ngã Ba Ban đêm chúng thả pháo sáng ném các bom bi, bắn đạn Rốc Két…nhằm tiêu diệt các lực lượng ứng cứu đường của ta Bằng mọi giá chúng biến Ngã Ba Đồng Lộc thành điểm chết, thành một điểm đen không một bóng người

Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù và vị trí chiến lược của Ngã ba Đồng Lộc trên vận tải của địa phương, Tỉnh ủy, ủy ban hành chính tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các ngành các địa phương huy động lực lượng dồn sức cho Đồng Lộc để giải tỏa và giữ vững mạch máu giao thông, lực lượng chiến đấu bao gồm: Trung đoàn pháo cao xạ 210, tiểu đoàn 8 pháo cao xạ của tỉnh, một bộ phận của tiểu đoàn 30 công binh quân khu

Tháng 5/1965, ban bảo đảm giao thông tỉnh được thành lập do đồng chí Trần Quang Đạt, nguyên ủy viên Thường vụ Tỉnh Ủy phó chủ tịch ban hành chính tỉnh làm trưởng ban Khi địch tập trung đánh Đồng Lộc, ban đảm bảo giao thông tỉnh trực tiếp chỉ đạo giải tỏa điểm chốt Đồng Lộc, các tổ quan sát, đếm bom, cắt tiêu, tổ rà bom, bộ phận ứng cứu đường cùng với mạng lưới thông tin liên lạc, lực lượng điều hành phương tiện giao thông, giữ gìn trật tự khu vực Ngã

Ba Đồng Lộc được hình thành 7/8 đại đội thuộc tổng đội TNXP18 do tỉnh đoàn điều động và ngành GTVT phụ trách gồm đại đội từ C552 đến C557 được điều

Trang 32

động về với hơn 1000 người rải trên tuyến từ cầu Cơn Bang đến Khe Giao Về lực lượng ngành GTVT làm tổ trưởng, 1/2 đại đội chủ lực cầu, 1/2 đại đội chủ lực giao thông (trong đó có anh hùng La Thị Tám), ba đội công binh II, III và VI,

tổ máy gạt công trình 1

Quy trình chiến đấu đảm bảo giao thông vận tải ở Ngã ba Đồng Lộc còn có

sự đóng góp lớn của nhân dân và lực lượng dân quân du kích cảu Đồng Lộc và các xã Quảng Lộc, Mỹ Lộc, Thượng Lộc, Xuân Lộc, Trung Lộc…hàng vạn người được huy động ra mặt đường làm nhiệm vụ giải tỏa giao thông, tiếp tế lương thực, thực phẩm, đạn dược…

Chỉ trong 5 tháng, chúng ta đã bắn rơi 14 máy bay Mỹ, trong 7 tháng năm

1968 chúng ta đã phá 1.780 quả bom, góp 974.240 ngày công để thông tuyến, làm đường mới từ Khiêm Ích, Truông Kén, Bãi Dịa 6km Quân và dân xã đã góp 185.400 ngày công với 42.620 người phục vụ chiến đấu, đào đắp 95.209m3 đất

đá, vận chuyển 45m3 gỗ, cung cấp 22.448 cọc tre, 24.000 gánh bổi chống lầy, tổng quân số mặt trận lúc đông người nhất là 16.000 người

Chiến tranh đã đi qua, cuộc sống hồi sinh từ “tọa độ chết” năm xưa Chiến công ở Ngã Ba Đồng Lộc còn vang mãi với hình ảnh đấu tranh quật cường của các anh hùng cách mạng Di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc mãi là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho muôn đời sau

Nơi đây là chứng nhân cho sự tích về mười đóa hoa trinh nữ, sau khi nhận nhiệm vụ xong, các cô đến tại hiện trường gấp rút triển khai công việc với cả niềm vui được gửi gắm trên từng chiếc xe qua nên các cô không hề sợ hãi Họ làm việc không ngơi tay, vừa cười, vừa nói, vừa ý ới gọi nhau Bỗng một tốp máy bay phản lực từ hướng Bắc vào Nam vượt qua trọng điểm Tất cả các cô nhanh chóng nằm rạp xuống đường Hết tiếng máy bay các cô lại chồm dậy làm việc Bất ngờ tốp máy bay phản lực quay lại bay từ trong ra thả một loạt bom rơi đúng vào đội hình 10 cô gái Các tiểu đội thanh niên xung phong đi sau chồm lên gào

Trang 33

thét, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy cũng lao ra gọi tên từng người Khi đến nơi quả bom vừa nổ chỉ thấy một hố bom sâu hoắm, một vài chiếc xẻng, cuốc vǎng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người Cả 10

cô gái trẻ ấy đã hy sinh

Để ghi sâu tội ác và ghi lại chiến tích của 10 cô gái tại trọng điểm lịch sử này Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu anh hùng cho 10 cô gái hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc

2.2.2 Chiến công của quân và dân ta ở Ngã ba Đồng Lộc

Trong cuộc đấu tranh khốc liệt hình ảnh của các anh hùng đã dũng cảm hi sinh, cống hiến cho Tổ quốc kiên cường chiến đấu vượt qua bom đạn của kẻ thù hiện lên sáng ngời Đó là sự đóng góp rất lớn của tập thể anh hùng cũng như các

tấm gương của các chiến sỹ với tinh thần “tất cả cho tiến tuyến, tất cả để đánh

thắng giặc Mỹ xâm lược, còn hàng, còn xe là còn tất cả, nhà tan, cửa nát cũng Ừ- quyết tâm đánh Mỹ cực chừ sướng sau”

Trung đoàn 210

Ngày 25/9/1959 Trung đoàn được thành lập để bảo vệ khu gang thép Thái Nguyên Các chiến sĩ của Trung đoàn đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 999 và 1000 trên miền Bắc Vào Đồng Lộc, Trung đoàn liên tục chiến đấu 148 ngày đêm để

tránh máy bay Mỹ Tổn thất nhiều nhưng với khẩu hiệu “Sống bám cầu đường,

chết kiên cường dũng cảm”, không rời mâm pháo, 122 đồng chí đã hy sinh, 259

đồng chí bị thương Trong 5 tháng ở Đồng Lộc, Trung đoàn đã đánh 1.76 trận bắn rơi 14 máy bay Mỹ hạn chế được số bom rơi trúng đường, góp phần đảm bảo giao thông ở điểm nút Đơn vị đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND

Tiểu đoàn pháo cao xạ bộ đội địa phương Hà Tĩnh

Tiểu đoàn 8 pháo cao xạ bộ đội địa phương Hà Tĩnh được thành lập ngày 14/4/1965 trên cơ sở đại đội 27 (đại đội Bình Hà) và một số học viên Trường Sĩ

Trang 34

quan phòng không Cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn do Quân khu bổ sung, hạ sĩ quan, chiến sĩ và một số cán bộ cấp phân đội là những quân dân đã phục viên được lệnh trở lại phục vụ quân đội Cán bộ chiến sỹ của tiểu đoàn chủ yếu là con

em quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An, một số ở Hà Bắc, Hải Hưng, Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng Tiểu đoàn 8 luôn có mặt ở những vị trí trọng yếu để bảo vệ mục tiêu kinh tế, chính trị, quân sự, giao thông trên địa bàn Đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND tháng 1/1973

Tổ máy gạt Uông Xuân Lý

Tổ máy gạt của Uông Xuân Lý là niềm tự hào của ngành GTVT Hà Tĩnh Không kể ngày đêm mưa nắng bom đạn, khi được thông báo có bom nổ chậm cản đường là tổ anh có mặt cùng các phương tiện xe máy sẵn sàng hoạt động Uông Xuân Lý phối hợp với tiểu đội của Võ Thị Tần bảo dưỡng mặt đường Có khi cả tổ chia nhau từng người một, người lái máy, người mặc áo trắng, dùng khăn làm tín hiệu hướng dẫn cho xe chạy Có khi lại xúc bom thả xuống hố sâu

Trang 35

xác 2 anh đã hy sinh Thương tiếc và cảm phục lòng dũng cảm của 2 liệt sĩ, đồng đội đã đặt tên cho Cầu Tối là cầu Dương Tài

* Chiến công của các cá nhân tiêu biểu:

Người con gái sông La

Chị La Thị Tám sinh tháng 10/1494, 18 tuổi chị đi làm công nhân thuộc ngành giao thông Chiến tranh ác liệt, từ tháng 12/1967 đến tháng 8/1968 chị đựơc điều về Ngã ba Đồng Lộc và được giao một nhiệm vụ hết sức quan trọng

mà cũng hết sức nguy hiểm: đứng trên đài quan sát ở núi Mòi để đếm xem bao nhiêu quả bom chưa nổ để sau đó khi máy bay địch vừa đi là chạy xuống cắm tiêu đánh dấu cho công binh đến phát nổ Suốt 200 ngày đêm, chị đã đếm, cắm tiêu được 1.205 quả bom Chị đã được Đảng và Chính phủ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND Sau chiến tranh, chị về quê hương và hình ảnh những người đồng đội cũ là một phần máu thịt trong cuộc sống hiện tại của chị

Vua phá bom Vương Đình Nhỏ

Anh sinh ngày 10/2/1925 tại xã Kỳ Thịnh - Kỳ Anh trong môt gia đình bần

cố nông Năm 1948, anh vào bộ đội, thuộc quân số đại đội 25 đóng tại Kỳ Anh

Từ năm 1954 đến năm 1964 anh là tiểu đội trưởng bộ binh D274, E18, F325 Từ năm 1964 đến 1967 anh làm trung đội trưởng Công binh D57 Hà Tĩnh, phá gỡ bom mìn ứng cứu đường Từ tháng 7 năm 1967 anh chuyển nghành về Ty giao thông, Ty đã giao cho anh làm nhiệm vụ dỡ phá bom trên các cung đường Đặc biệt, tuyến đường 15A ở Ngã ba Đồng Lộc đã gắn với tên tuổi “Vua” phá bom Vương Đình Nhỏ Anh đã trở thành huyền thoại anh hùng ở Đồng Lộc Anh đã được Đảng, Nhà nước và Bác Hồ tặng nhiều Huân chương, huy hiệu, bằng khen

Anh mất năm 1990 tại Quảng Trị Năm 2002 UBND xã Đồng Lộc đã làm

hồ sơ đề nghị Nhà nước công nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND cho Vương Đình Nhỏ

Trang 36

Anh hùng Nguyễn Tri Ân

Anh hùng Nguyễn Tri Ân sinh năm 1945 tại xã Sơn Lộc – Can Lộc Anh là công nhân phá bom thuộc tổng đội TNXP Ty giao thông Hà Tĩnh Anh đã vào TNXP, ngày đêm chống chọi với cái chết của kẻ thù để giành sự sống cho đồng chí, đồng đội 300 ngày làm việc ở đoạn đường Khe Út, Khe Giao, Ngã ba Đồng Lộc, những nơi địch đánh phá ác liệt song anh vẫn không hề nản chí và mệt mỏi

Qua 293 trận bom của địch, bị vùi 15 lần song anh vẫn tiến lên cắm tiêu rà phá bom Anh tỏ ra là một người lính dũng cảm, sáng tạo, vượt khó Anh đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba, được Quốc hội và Chính phủ VNDCCH tuyên dương “ Anh hùng lao động” năm 1972

Anh hùng Nguyễn Tiến Tuẩn

Anh hùng LLVTND Nguyễn Tiến Tuẩn quê ở xã Cẩm Dương-Cẩm Xuyên

- Hà Tĩnh Anh sinh năm 1942, là thượng sĩ, tổ truởng tổ cảnh sát trật tự giao thông Đồng Lộc thuộc Ty Công an Hà Tĩnh làm nhiệm vụ giữ trật tự giao thông

ở bến phà Cầu Phủ và Ngã ba Đồng Lộc

Anh đã dũng cảm tham gia chiến đấu hàng trăm trận, trực tiếp cứu sống 15 người bị thương, vượt qua nhiều bãi bom từ trường, bom nổ chậm để điều khiển, vận động lái xe, tổ chức hàng nghìn bộ đội hành quân sang sông được an toàn.Là chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng nhiều năm, anh được tặng Huân chương chiến công hạng Nhất, được Quốc hội và Chính phủ VNDCCH tuyên duơng” Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” ngày 25/8/1970

2.2.3 Sự tích huyền thoại về mười cô gái Đồng Lộc

Chị Võ Thị Tần – người đội trưởng được ví như “đóa hoa vô thường”

và là con chim đầu đàn gương mẫu

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo đói nhưng giàu lòng yêu nước, lại được sự giáo dục của nhà trường nên chị Võ Thị Tần đã sớm hình thành lý tưởng cách mạng, lối sống giản dị, tiết kiệm, chịu đựng gian khổ để

Trang 37

học Năm 1963–1964, chị là Phó bí thư chi đoàn địa phương Năm 1965, Tần đã cùng nhiều chị em trong toàn huyện xung phong vào lực lượng TNXP trực tiếp lao dộng, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu Ngày mới nhập ngũ, Tần biên chế vào C552 – P18 Hà Tĩnh bảo vệ thông suốt các tuyến đường ra mặt trận Ngày 2/5/1965, Tần cùng đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ thông đường và bốc xếp hàng ở bến phà Địa Lợi thuộc đường 15A trên đất Hương Khê Tháng 11/1965 đến 6-

1966, Tần được điều về làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên đường 15A đoạn

từ cầu Tùng Cốc đến Đức Thọ Do có nhiều thành tích trong công tác và anh dũng trong chiến đấu, đạo đức tư cách tốt nên Tần đã đựoc chi bộ C552 đề nghị Đảng uỷ cấp trên chuẩn y kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam vào dịp kỷ niệm Đảng ta 37 tuổi (3/2/1967) Ban chỉ huy đã quyết định giao cho Tần nhiệm vụ Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4 - C552

Tháng 4-1967 đến tháng 6/1967, Tần cùng đơn vị được điều về công tác bảo

vệ đường 15A ở Đồng Lộc Trong quá trình từ ngày nhập ngũ đến tháng 7/1968, chị đã phấn đấu lập nhiều thành tích, chỉ huy tiểu đội hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ được giao Tiểu đội do chị phụ trách luôn xứng đáng là lực lượng chủ công, con chim đầu đàn của đơn vị

Ngày 19/7/1968, trước lúc hy sinh 5 ngày, chị Tần đã viết thư về cho mẹ Bức thư tràn đày tình cảm yêu thương nhớ mong mẹ và cũng tràn đầy tinh thần yêu nước, căm thù giặc, quyết tâm sắt đá đánh kẻ thù và tinh thần lạc quan cách mạng phơi phới

Bức thư trở thành di vật cuối cùng của chị gửi cho người mẹ kính yêu:

“Mẹ ơi, ở đây chúng con vui lắm mẹ ạ! Ban đêm chúng thắp đèn cho chúng con làm đường Ban ngày chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện Bom đạn của chúng làm rung chuyển cả núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển những trái tim của chúng con Mẹ ạ, thằng Mỹ còn hung hăng thì còn nhiều chuyện để kể cho mẹ nghe về sự thất bại của chúng trên mảnh đất nhỏ kiên

Trang 38

cường này Mẹ ơi, dạo này địch bắn phá ác liệt nhưng bọn con vẫn tập được những bài hát mới Cuốn sổ tay mẹ gửi cho con dạo nào đã gần hết giấy rồi

Mẹ nhớ gửi thêm cây bút nữa nhé Mới về thăm mẹ đó mà con thấy nhớ mẹ quá Con mong mẹ giữ gìn sức khỏe và đừng lo cho con nhiều ”

Chị Hồ Thị Cúc - huyền thoại về người con gái sông Ngàn Phố

Cúc cất tiếng khóc chào đời trên mảnh đất Nương Bao - xã Sơn Bằng – Hương Sơn, bên con sông Ngàn Phố trong xanh Cúc vừa đầy một tuổi, nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã cướp mất người cha, bà nội Cúc và bao người khác trong làng Ông nội Cúc đưa 2 mẹ con Cúc về nhà Đến năm Cúc 4 tuổi, mẹ Cúc

đi bước nữa Từ đây Cúc sống trong sự đùm bọc của ông nội và o Loan Chẳng bao lâu, ông nội qua đời, một mình o Loan nuôi cháu, đến năm sau chú Dũng đi

bộ đội về và cưới vợ Từ đây Cúc sống với chú mự và o Loan Bà Trinh-mẹ Cúc lấy chồng ở Sơn Bằng thỉnh thoảng về thăm con, nhưng chẳng có gì để nuôi Cúc Thời gian này Cúc còi cọc, mặt choắt lại, đôi mắt luôn nhìn xuống, lâu dần thành thói quen Tóc Cúc vàng hoe, cụt cỡn như một túm đuôi lông bò Quanh năm Cúc mặc chiếc quần lửng với tấm áo vá Cúc đi chăn bò, cắt cỏ, bế em và làm bao việc không tên khác ở trong nhà Cúc làm chậm nhưng cần cù, cẩn thận và thật thà nên thường gọi là “Cúc mục” Hồi Cúc lên 8, một hôm đun nồi cám lợn xong, Cúc lúi húi quét dọn bếp Mự vào bưng nồi cám lợn ra, chẳng may trượt chân làm đổ cả nồi cám lên lưng Cúc Cúc bị bỏng nặng, suốt ngày nằm sấp trên chiếc chõng con, lúc tỉnh lúc mê O Loan hồi ấy ở nhà, thưong xót cháu, 3 tháng liền tìm cách chữa cho cháu bằng bài thuốc dân gian Cuối cùng Cúc đã khỏi Nhưng vết sẹo sần sùi rất lớn, chạy suốt từ bả vai xuống đến thắt lưng thì không bao giờ xoá được Cúc giấu tất cả mọi người điều đó Năm 1965 Cúc đi TNXP chống Mỹ cứu nước Ngày nhập ngũ, chị Cúc đựợc ở với chị Tần Đôi bạn cùng

Trang 39

lứa tuổi, cùng ngày nhập ngũ đã sống với nhau trong niềm thương yêu đồng chí, đồng đội, luôn giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đựơc giao Trong 3 năm cùng sống, cùng làm việc cả 2 chị đã đạt nhiều thành tích Vinh dự lớn nhất trong đời, đó là giờ phút thiêng liêng 2 chị được đứng dưới Đảng kỳ và chân dung Hồ Chủ Tịch đọc lời tuyên thệ trước lúc vào Đảng 3/2/1967 Sau đó Cúc được giao nhiệm vụ Tiểu đội phó, tiểu đội 4C522 Càng vui sướng với niềm vui

ấy bao nhiêu, Cúc càng hăng say công tác bấy nhiêu Ba năm trôi qua, Cúc đã cùng Tần chỉ huy tiểu đội bám trụ chiến đấu, đảm bảo thông suốt đường 15A trên

trận địa Ngã ba Đồng Lộc

Chị Nguyễn Thị Nhỏ - bông hồng nhỏ kiên trinh

Cùng sinh năm 1944 như chị Tần, chị Cúc, nhưng Nhỏ có một hoàn cảnh tương tự Cúc Bố mẹ mất sớm, nhà chỉ có 2 chị em gái: chị Miên và Nhỏ Chị Miên thay bố mẹ nuôi Nhỏ từ tấm bé Gọi Nhỏ vì bố mẹ mất sớm, cơm không có

ăn, áo không có mặc, bệnh tật hành hạ, càng ngày cô bé càng còi cọc, không lớn được chút nào Chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngày một ác liệt, Nhỏ xin chị vào TNXP Chị sợ em còn bé dại thơ ngây, chưa gánh vác nổi việc nước Nhưng chị Miên vẫn để Nhỏ đi Sau một thời gian ở TNXP, Nhỏ về thăm quê Bộ quần

áo TNXP cô mặc còn nguyên nếp gấp khiến cô chững chạc hẳn lên Nhỏ chăm làm, xung phong gương mẫu hơn các em nên được chị Lê Thị Hồng kèm cặp để học thêm Càng lăn lộn với thực tế của cuộc chiến đấu, Nhỏ càng thấm thía ý nghĩa tuổi thanh xuân và mong muốn đóng góp được nhiều sức lực hơn nữa để Nam Bắc sum họp một nhà Nhỏ ra đi vào lúc 24 tuổi, không kịp giã biệt người chị và đứa cháu nhỏ thân yêu, để lại tiếc thương cho biết bao người

Chị Nguyễn Thị Xuân - hoa khôi Đồng Lộc

Người con gái có đôi mắt biết nói ấy sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng Bố chị là đảng viên 1930–1931 Tuổi thơ Xuân gắn liền

Trang 40

với hình ảnh ngôi nhà nhỏ 3 gian, cái bếp con con và mảnh sân vuông vắn trước thềm Năm 1967, học xong lớp 7, Xuân cùng nhiều chị em khác trong toàn huyện lên đường thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng của tuổi trẻ Xuân quen anh Vĩnh trên một bãi bom nổ chậm Đơn vị bộ đội công binh phá bom của anh Vĩnh phối hợp với C2 đảm bảo giao thông gần một năm La Khê-Địa Lợi, Cầu Ác, Cầu Cháy Biết bao nhiêu kỉ niệm Anh Vĩnh là một đảng viên, một tiểu đội phó dũng cảm và kiên quyết Xuân càng quý và tin anh Mối tình đẹp vừa chớm nở thì một ngày tháng 7, Xuân cùng đồng đội vĩnh viễn ra đi

Chị Dương Thị Xuân - người con gái sông Lam

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê Đức Tân - Đức Thọ, trong một gia đình đông con, chị Xuân sớm ý thức được trách nhiệm người chị cả của mình Bố làm thợ mộc, mẹ bận bịu với nghề bán hến ở chợ Nhiều khi Xuân phải nghỉ học để trông nhà, trông em Học hết lớp 7, Xuân xin cha mẹ cho đi làm trên nhà máy đường Sông Lam gần Rú Thành sống cuộc đời công nhân, Xuân phổng phao và đẹp hẳn lên Xuân chăm làm, chịu khó học hành và công tác nên được nhà máy thưởng nhiều lần Sau đó, Xuân đi vào TNXP Ra đi Xuân vẫn nhớ ngọn núi Thành cao chót vót bên nhà máy, nhớ Ngã ba Sông Lam và Sông La, nhớ khu nhà tập thể bên sườn núi đất Trước khi đi TNXP Xuân có quen anh Tân người cùng xã Gia đình anh rất quý Xuân nhưng anh Tân chưa dám ngỏ lời với cha mẹ Xuân Xuân mến anh Tân nhưng chưa muốn vấn vương chuyện gia đình, chuyện chồng con Xuân hẹn anh khi nào thống nhất đất nước thì hẵng liệu Anh Tân nghĩ vậy là đúng Cũng như mối tình Tần–Hồng, Xuân và anh Tân đã không thực hiện được lời hẹn ước vì đất nước còn có giặc, chuyện riêng tư đành gác lại Và ngày toàn thắng thì đã đến nhưng Xuân, chị Tần và 8 chị em trong A4 cùng bao

nữ TNXP khác đã mãi mãi không trở về, gửi lại tuổi trẻ và tình yêu trên những tuyến đường

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w