1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát triển nghề đúc đồng ở làng đại bái gia bình bắc ninh

80 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu

Trang 1

Ở LÀNG ĐẠI BÁI – GIA BÌNH – BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA

Giảng viên hướng dẫn : Nghiêm Thị Thanh Nhã Sinh viên : Vũ Thị Lệ Thu

Lớp :

Khóa học : 2007-2011

Hà Nội - 2011

Trang 2

Lời cảm ơn  

 

Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại Học Văn Hoá Hà Nội em đã

được sự dạy bảo nhiệt tình tận tụy của các thầy cô giáo trong nhà trường.Các thầy, các cô đã không quản ngại vất vả ngày đêm miệt mài bên trang sách để chuẩn bị những bài giảng bổ ích cho chúng em, những lời dạy của thầy cô luôn mãi là hành trang cho em đi suốt cuộc đời Để hoàn thành được bài khóa luận này em xin chân thành cảm ơn: Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, khoa Quản lý văn hoá - nghệ thuật, thư viện trường Đại học văn hoá Hà Nội, thư viện Quốc Gia Hà Nội

Cảm ơn UBND xã Đại Bái, Phòng văn hoá huyện Gia Bình, phòng công thương huyện Gia Bình, ông Nguyễn Văn Quảng (phó chủ tịch xã Đại Bái), anh Nguyễn Văn Huy (trưởng thôn Đại Bái), cơ sở sản xuất Điệp Nhung, Nghệ nhân Nguyễn Văn Lục

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Nghiêm Thị Thanh Nhã người

đã tận tình hướng dẫn cho em, để em có thể hoàn thành tốt bài khoá luận này

Hà Nội, Ngày Tháng 05 Năm 2011

Sinh viên

Vũ Thị Lệ Thu

Trang 3

Mục lục Lời cảm ơn.

phần mở đầu 6

1 Lý do chọn đề tμi: 6

2 Mục đích ngiên cứu 7

3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc bμi khoá luận: 8

CHƯƠNG I: 9

Những vấn đề lý luận chung vμ kháI quát về lμng nghề đúc đồng đại bái 9

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về làng nghề truyền thống 9

1.1.1 Khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống 9

1.1.2 Vai trò của làng nghề với sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội. 11

1.1.2.1 Phát triển làng nghề sẽ góp phần đẩy mạnh phân công lao động, tạo việc làm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn 11

1.1.2.2 Làng nghề truyền thóng góp phần tăng tổng giá trị sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế 12

1.1.2.3 Phát triển làng nghề tạo điều kiện thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, phát huy được tay nghề cao từ dân cư 13

1.1.2.4 Làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá của dân tộc 13

1.1.3 Một số chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự phát triển các làng nghề 14

1.2 Khái quát về làng nghề đúc đồng tại Đại Bái - Gia Bình - Bắc Ninh. 16

1.2.1 Vài nét khái quát về vị trí địa lý làng Đại Bái 16

1.2.2 Sự hình thành và phát triển của làng nghề đúc đồng Đại Bái 18

1.2.3 Đời sống văn hoá tinh thần của người dân Đại Bái 21

1.2.3.1 Phong tục tập quán 21

1.2.3.2 Lễ hội: 23

1.2.3.3 Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian 24

1.2.3.3.1 Tôn giáo: 24

1.2.3.3.2 Tín ngưỡng dân gian: 25

1.2.3.3.3 Về văn hoá văn nghệ 25

1.3 Những giá trị trong văn hoá nghề của làng Đại Bái 26

1.3.1 Giá trị về văn hoá: 26

1.3.2 Gíá trị về kinh tế: 28

CHƯƠNG II: 31

Thực trạng hoạt động nghề đúc đồng ở lμng Đại Bái- Gia Bình - Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay 31

2.1 Kĩ thuật luyện đúc đồng tại làng nghề Đại Bái 31

Trang 4

2.1.1 Kĩ thuật luyện đúc 31

2.1.1.1 Công đoạn 1 Đúc phôi: 31

2.1.1.2 Công đoạn 2 Làm nguội - nghề chạm đồng : 32

2.1.1.3 Công đoạn 3 Khảm đồng: 32

2.1.1.4 Công đoạn 4 Làm màu: 32

2.1.1.5 Công đoạn 5 Gò đồng: 32

2.2 Những sản phẩm tiêu biểu của làng nghề 33

2.2.1 Loại hàng gia dụng: 34

2.2.2 Loại hàng thủ công mỹ nghệ: 34

2.3 Cách thức tổ chức, quản lý và hoạt động nghề 35

2.4 Sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm 37

2.5 Tính truyền thống của làng nghề trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay 40

2.6 Nguồn nhân lực và vấn đề đào tạo nghề 43

2.7 Hoạt động của cụm công nghiệp đúc đồng Đại Bái 45

2.8 Môi trường của làng nghề Đại Bái 49

2.9 Những hạn chế của làng nghề Đại Bái 50

Chương III: 53

GiảI pháp bảo tồn vμ phát Triển cho lμng nghề đúc đồng Đại Bái 53

3.1 Giải pháp 53

3.1.1 Cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước 53

3.1.1.1 Nhà nước cần tăng cường hoàn chỉnh chính sách thuế, tạo vốn khuyến khích đầu tư 54

3.1.1.2 Chính sách thuế phù hợp với làng nghề 55

3.1.1.3 Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và chống ô nhiễm môi trường 55

3.1.2 Hoàn thiện tổ chức sản xuất trong làng nghề 56

3.1.3 Phát triển nguồn vốn 57

3.1.4 Tăng cường bồi dưỡng kiến thức về kinh doanh, thương mại và quản lý doanh nghiệp cho các chủ cơ sở sản xuất 58

3.1.5 Tăng cường yếu tố "văn hóa làng nghề" trong sự phát triển bền vững 59

3.1.5.1 Giữ gìn và phát huy truyền thống của sản phẩm đúc đồng Đại Bái 59

3.1.5.2 Giữ gìn cảnh quan văn hóa làng nghề gắn với phát triển du lịch làng nghề 60

3.1.5.3 Phát triển các hoạt động sinh hoạt văn hóa nghề 60

3.1.6 Mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm truyền thống của làng nghề 60

3.1.6.1 Thị trường đầu vào: 61

3.1.6.2 Thị trường đầu ra : 61

3.1.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và công tác truyền dạy nghề 62

Trang 5

3.1.8 Phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường 63

3.2 Đề xuất và kiến nghị 65

3.2.1 Đối với địa phương 65

3.2.2 Đối với các hộ sản xuất 67

Kết luận 69

tμi liệu tham khảo 71

Phụ lục 73

Trang 6

bề dày lịch sử của hàng trăm năm Những sản phẩm làm ra từ làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng mà còn đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, nhu cầu trang trí và làm đẹp cho cuộc sống Sản phẩm của làng nghề thủ công truyền thống là dấu ấn di sản văn hóa quý báu của cha ông ta để lại cho thế hệ sau và chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn, phát huy Trong giai đoạn phát triển hội nhập như hiện nay, khi mà chúng ta đang từng bước đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nếu chúng ta không có ý thức bảo tồn nghề thủ công mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc chắc chắn những nét văn hóa độc đáo đó sẽ bị mai một Vì vậy duy trì ngành nghề truyền thống, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc là việc làm vô cùng cần thiết

Bắc Ninh với truyền thống lịch sử lâu đời không chỉ là cái nôi của nền văn hóa Kinh Bắc, nổi tiếng với làn điệu dân ca quan họ - một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, mà còn hấp dẫn và tạo nên cái khó quên cho tất các bạn bè trong và ngoài nước với một mảnh đất trăm nghề Từ thời nhà Lý (

1010 - 1225) Bắc Ninh đã có các làng nghề như: Rèn Đa Hội, sơn mài Đình Bảng, chạm khắc gỗ mĩ nghệ Phù Khê, giấy gió Phong Khê, gốm Phù Lãng, tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái, dệt Tương Giang, đồ gỗ Đồng Kỵ… Đây là những làng nghề sản xuất những mặt hàng có giá trị kinh tế cao được khách hàng trong nước và quốc tế ưa chuộng Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước các làng nghề thủ công truyền thống ở Bắc Ninh đã có những bước phát triển và đổi mới đáng kể Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có tới 62 làng nghề, thu hút và giải quyết hàng chục nghìn lao

động ở khu vực nông thôn, góp phần thúc đẩy kinh tế và cải thiện đời sống cho nhân dân, một trong số đó có làng nghề đúc đồng Đại Bái

Làng Đại Bái thuộc xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, là một làng nghề truyền thống với nghề đúc đồng, dát mỏng kim loại, chạm khắc kim loại đồng mỹ nghệ Trong nền kinh tế thị trường hiện nay sản phẩm của Đại

Trang 7

đồng mang yếu tố văn hóa của làng Đại Bái có thể đứng vững trước sự chao

đảo của thị trường hiện nay là rất cần thiết phải có những chiến lược đúng

đắn

Mặt khác, trong những năm gần đây làng Đại Bái đang trên đà phát triển nhưng còn gặp nhiều trở ngại về vấn đề vốn sản xuất, sự phát triển còn nhỏ lẻ và manh mún Các hình thức quy hoạch và định hướng chưa đúng đắn

do đó vẫn còn kìm hãm sản xuất Tốc độ phát triển chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Vì vậy việc bảo tồn và phát triển làng nghề đúc

đồng Đại Bái là môt việc làm có ý nghĩa hết sức sâu sắc Bởi bảo tồn và phát huy nghề đúc đồng Đại Bái hiện nay không chỉ thực hiện nhiệm vụ giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, không chỉ là nền tảng phát huy những giá trị văn hóa

cổ truyền mà còn đáp ứng nhiệm vụ kinh tế xã hội, một cách làm tăng trưởng kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn văn minh giàu đẹp là một nội dung quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn Việt Nam

Nhận thức trước những tình hình trên, là một sinh viên năm thứ tư khoa

Quản lý Văn hoá, em xin chọn đề tài: "Bảo tồn và phát triển nghề đúc đồng

ở làng Đại Bái - Gia Bình - Bắc Ninh" làm bài luận văn tốt nghiệp của

mình

2 Mục đích ngiên cứu

Đề tài nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề đúc

đồng Đại Bái - Gia Bình- Bắc Ninh, nhìn nhận về thực trạng phát triển hiện nay của làng nghề, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong sự phát triển của làng nghề Từ đó đề xuất những ý kiến nhằm bảo tồn và phát triển bền vững cho làng nghề

3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghề và làng nghề đúc đồng

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là làng Đái Bái, xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Trang 8

4 Ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu

§Ò tµi sö dông mét sè ph−¬ng ph¸p ngiªn cøu sau:

- Nghiªn cøu tµi liÖu vÒ lµng nghÒ truyÒn thèng

- thu thËp tµi liÖu, th«ng kª sè liÖu

- §iÒn d·, pháng vÊn

- §iÒu tra x· héi häc

5 CÊu tróc bμi kho¸ luËn:

Ngoµi phÇn më ®Çu vµ phÇn kÕt luËn bµi lµm gåm cã 3 ch−¬ng:

Trang 9

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về làng nghề truyền thống

1.1.1 Khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải làm mùa vụ chính

Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Vịêt cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc Thông thường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc làm nhiều và vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa, phơi khô còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc

để làm Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình

Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò quan trọng của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông nghiệp như việc làm ra các

đồ đựng bằng mây, tre, nứa phục vụ cho sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục

vụ cho sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ cho nhu cầu riêng đã trở thành hàng hoá để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào vụ lúa, từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau

Hay cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hoá Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại nhiều nghề mà hiệu quả thấp không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng, làm đồ thờ cúng

Như vậy, các làng nghề truyền thống đã hình thành, tồn tại và phát triển song hành cùng với sự phát triển của văn hoá, văn minh dân tộc Những

Trang 10

phát hiện về khảo cổ học, những dữ liệu đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam ra đời từ hàng ngàn năm trước đây Các làng nghề thường tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định từ đó lan toả khắp các vùng quê Việt Nam

Có nhiều tên gọi và cách hiểu khác nhau về nghề thủ công truyền thống như nghề cổ truyền, nghề phụ, nghề tiểu thủ công nghiệp Trong cuốn: "Làng nghề thủ công mỹ nghệ miền bắc " tác giả Trương Minh Hằng đã đưa ra một

định nghĩa về nghề thủ công truyền thống như sau: "Nghề truyền thống là những nghề về thủ công được hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó Từ đó hình thành nên các làng nghề, phố nghề, xã nghề Đặc trưng cơ bản của mỗi nghề truyền thống là phải có kĩ thuật và công nghệ truyền thống, đồng thời phải có

đội ngũ nghệ nhân và thợ lành nghề Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hoá, vừa có tính nghệ thuật và mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc" [ 9 T46]

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ thì các làng nghề truyền thống cũng áp dụng những quy trình công nghệ mới, vật liệu mới vào sản xuất Do vậy khái niệm nghề truyền thống đã được nghiên cứu mở rộng thêm Trong cuốn: "Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp

hóa - hiện đại hoá" tác giả Trần Minh Yến đã đưa ra định nghĩa: "Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử,

được truyền từ đời này sang đời khác còn tồn tại đến ngày nay Kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn phải tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện được những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc’’

Làng nghề truyền thống là sự phát triển đến đỉnh cao và là sự biểu hiện tập trung nhất của các giá trị văn hoá nghề Theo quyết định số 132/2000/QĐ -TTg ngày 24/11/2000 của thủ tướng chính phủ về "phát triển làng nghề và

ngành nghề nông thôn thì " Làng nghề truyền thống là các làng nông thôn hiện đang tồn tại hoạt động của các nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp có lịch sử trên 50 năm, có ít nhất 30% tổng số hộ và lao động trong làng hoặc ít nhất 300 lao động, nhưng đóng góp ít nhất 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít

nhất là 300 triệu đồng"

Trong cuốn "Làng nghề - Phố nghề Thăng Long Hà Nội" GS.Trần Quốc

Vượng đã định nghĩa về làng nghề như sau: “Làng nghề (như làng gốm Bát

Trang 11

Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh làng đúc đồng Bưởi, Vó, Hè Nôm, Thiêu Ký, Phước Kiều , làng giấy vùng Bưởi, làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội ) là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà ) cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu phụ ) song đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp Có phường (cơ cấu tổ chức) có

ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm có quy trình công nghệ nhất định"sinh ư nghệ, tử ư nghệ", “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hoá và có liên hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và thị trường đô thị, thủ

đô (Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn ) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài Những làng nghề ấy, ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một quá khứ trăm, ngàn năm) "dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch

sử, vào ca dao tục ngữ trở thành di sản văn hoá dân gian" [12 T69] Như

vậy, tính truyền thống là một đặc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất của các làng nghề, còn làng nghề là nơi lưu giữ và phát huy tính truyền thống đó Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với thị hiếu mới của khách hàng, nhiều làng nghề đang dần mất đi tính truyền thống và những tinh hoa nghề mà ông cha đã sáng tạo, gìn giữ hàng trăm, ngàn năm Chính vì thế,

đảm bảo yếu tố truyền thống đang là yêu cầu bức thiết trong chiến lược phát triển bền vững của các làng nghề

1.1.2 Vai trò của làng nghề với sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà khoa học công nghệ đang dần thay thế cho lao động thủ công, khi một chiếc máy có thể thay thế cho hàng chục nhân công thì xuất hiện tình trạng dư thừa lao động, nhất là lao động phổ thông tại các vùng nông thôn Từ đó phát sinh nhiều vấn đề về việc làm, thu nhập và nhiều vấn đề xã hội khác Chính vì vậy, các làng nghề truyền thống đang thể hiện một vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển kinh tế - văn hóa- xã hội hiện nay

1.1.2.1 Phát triển làng nghề sẽ góp phần đẩy mạnh phân công lao động,

tạo việc làm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn

Làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ở nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc

Trang 12

làm, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của cư dân nông thôn Tăng tỉ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng của nông nghiệp

Làng nghề truyền thống có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp

Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp như các ngành chế biến, tạo điều kiện cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và

địa bàn hoạt động

Làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, hạn chế di dân tự do

1.1.2.2 Làng nghề truyền thóng góp phần tăng tổng giá trị sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế

Với quy mô nhỏ bé, được phân bố rộng khắp các vùng nông thôn trong cả nước, hàng năm các làng nghề sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, tiêu thụ ở thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài đã

đóng góp một phần đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và mỗi địa phương nói riêng

Làng nghề truyền thống góp phần làm đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá Các làng nghề truyền thống đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, kích thích sự ra đời của các nghề khác như dịch vụ, thương mại Ngoài ra, ở các vùng có làng nghề phát triển thường hình thành nên một trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá, những trung tâm này ngày càng được mở rộng và phát triển tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn Nguồn tích luỹ của nhân dân trong các làng nghề cao hơn từ đó có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như nhà cửa, đường xá và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt, dần dần hình thành các cụm dân cư

có lối sống đô thị ngày càng rõ nét hơn

Làng nghề truyền thống góp phần giải quyết việc làm cho người dân lao

động ở nông thôn Nước ta nông dân chiếm tới 80% dân số và 73% lao động cả nước Đất đai canh tác nông nghiệp thì hạn chế, mặt khác lao động nông thôn mang tính chất thời vụ Do vậy, một số lượng lớn lao động tại nông thôn không được giải quyết công ăn việc làm Các làng nghề phát triển đã góp phần giải quyết công việc cho một số lượng lớn lao động tại địa phương, một số làng nghề phát triển còn thu hút nhiều lao động tại các địa phương lân cận

Trang 13

Làng nghề phát triển cũng tạo điều kiện cho một số hoạt động kinh tế khác như thương mại, dịch vụ cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm do đó thu hút được nhiều nguồn lao động mới Ngoài ra, sự phát triển lan toả của các làng nghề sang các địa phương khác, vùng khác tạo đông lực cho phát triển kinh tế xã hội [7 T134]

1.1.2.3 Phát triển làng nghề tạo điều kiện thu hút được nguồn vốn nhàn

rỗi trong dân, phát huy được tay nghề cao từ dân cư

Làng nghề truyền thống đã thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi, tận dụng

thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do Do đặc điểm sản xuất

của các làng nghề truyền thống là sản xuất nhỏ, cơ cấu vốn và cơ cấu lao động

ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và lao động của từng hộ gia

đình Đó là một lợi thế để các làng nghề có thể huy động vốn trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, do tính chất sản xuất của nghề truyền thống sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao

động khác nhau, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên hay dưới độ tuổi lao động Do đó, nó giải quyết được công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn, hạn chế được hiện tượng lao động ở nông thôn đổ xô về các thành phố lớn tìm việc làm và phát sinh ra nhiều vấn đề xã hội gây áp lực đối với

điều kiện và dịch vụ cơ sở hạ tầng xã hội Đây đang là vấn đề lớn trong công tác quản lý xã hội

1.1.2.4 Làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá của dân tộc

Trong điều kiện mở cửa và hội nhập giao lưu như hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu Lịch sử phát tiển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển văn hoá dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hoá ấy đồng thời là sự biểu hiện tập trung nhất của bản sắc văn hoá dân tộc Nghề truyền thống cùng với những sản phẩm của nó là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, nó

được tạo ra từ bàn tay tài hoa và trí óc sáng tạo của người nghệ nhân, người thợ thủ công Mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật trong đó chứa đựng những nét đặc sắc của văn hoá dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng nghề Những sản phẩm ấy không chỉ đơn thuần là hàng hoá mà đã trở thành sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao và

được coi là biểu tượng truyền thống của văn hoá dân tộc Việt Nam Đó là

Trang 14

những di sản quý báu mà thế hệ cha ông ta đã sáng tạo ra và truyền lại cho thế

hệ sau Vì vậy, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam trong quá trình công nghệp hoá - hiện đại hoá hiện nay

Làng nghề cổ truyền với những người thợ tài ba tạo ra những sản phẩm truyền thống mang đậm tâm hồn người Việt, phong cách Việt phản ánh cuộc sống sinh động, những khát vọng ham muốn vươn lên của người dân lao động

đầy tính nhân văn Những sản phẩm không chỉ đẹp về hình thức bên ngoài mà còn chứa đựng bao hàm ý nghĩa bên trong được truyền từ đời này qua đời khác, cho tới tận hôm nay và mai sau

Sản phẩm của làng nghề làm ra không chỉ để tiêu dùng trong nước mà một số sản phẩm còn được xuất khẩu và được rất nhiều khách nước ngoài

đánh giá cao, ngoài vấn đề kinh tế quan trọng hơn còn giúp bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về Việt Nam, về bản sắc dân tộc người Việt góp phần củng cố nâng cao vị thế của nước ta trên trường Quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam vững bước hội nhập với Thế giới

Đảng - Nhà nước ta đã có những chủ trương, quan điểm chính sách nhằm duy trì và mở rộng các làng nghề, hướng tới công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn:

Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ 8 khẳng định: "Phát triển các ngành nghề

và làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân"

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10/01/1998 của Bộ Chính trị khẳng

định: Cơ cấu kinh tế nông thôn bước đầu đã chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, trong đó có đóng góp quan trọng của thành phần kinh tế thuộc các làng nghề truyền thống

Nghị quyết Trung ương lần thứ VII khoá X tiếp tục cụ thể hoá sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn với nhiều mục tiêu và giải pháp cụ

Trang 15

Để khuyến khích nông thôn hợp tác giữa các doanh nghiệp và các HTX

để cùng phát triển sản xuất Hỗ trợ và khuyến khích nông dân học nghề, duy trì mở rộng và phát triển các làng nghề Trong văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X của Đảng đã xác định:

Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đưa công nghệ tiên tiến vào nông nghiệp nông thôn Khuyến khích nông thôn hợp tác doanh nghiệp, các HTX

để phát triển sản xuất Hỗ trợ và khuyến khích nông dân học nghề, duy trì mở rộng và phát triển các làng nghề

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2010, Nhà nước ta đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của công tác phát triển bền vững nền kinh tế nông thôn trong chiến lược phát triển toàn bộ nền kinh tế đất nước:

"Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu "

Phát triển và mở mang các làng nghề truyền thống luôn được các cấp, ngành quan tâm và tạo điều kiện phát triển Quyết định của thủ tướng Chính phủ tháng 11/2000 về khuyến khích và phát triển các làng nghề truyền thống

đã khẳng định: "Nhà nước có quy hoạch và định hướng phát triển các cơ sở ngành nghề nông thôn theo cơ chế thị trường, bảo đảm phát triển bền vững giữ gìn vệ sinh môi trường thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn đồng thời có quy hoạch các cơ sở sản xuất ngành nghề thủ công truyền thống, phải gắn với phát triển ngành du lịch văn hoá"

Quán triệt sâu sắc các quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế của địa phương, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã

có chủ trương góp phần khôi phục, duy trì và phát triển làng nghề của tỉnh thông qua các Nghị quyết:

Trang 16

Nghị quyết số 04/NQ-TU ngày 25/5/1998 của BCH Đảng bộ của tỉnh

Bắc Ninh về "phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp, xác định phải coi trọng duy trì, khôi phục và phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, các

làng nghề truyền thống"

Đặc biệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XII đã

khẳng định: "Phát huy truyền thống tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, tranh thủ thời cơ, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, huy động mọi nguồn lực tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý nhằm mục đích đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá để sớm đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015" [3.T32]

Những năm qua, Bắc Ninh đã và đang tích cực đào tạo nghề, nhân cấy nghề mới đồng thời áp dụng các giải pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh Tỉnh hướng các hoạt động khuyến công cho các cơ sở trong làng nghề, nhất là chương trình triển khai bảo vệ và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống Bên cạnh đó cũng chú ý đến chương trình cấy nghề mới cho nông thôn, để phấn đấu đến năm 2015 ít nhất mỗi xã có một làng nghề phi nông nghiệp Vận dụng linh hoạt các chủ trương, chính sách của Nhà nước được tỉnh coi đây là biện pháp tạo môi trường thuận lợi nhằm khuyến khích, thu hút vốn đầu tư cho các làng nghề Bên cạnh đó, Bắc Ninh tiếp tục bổ sung quy hoạch các cụm làng nghề gắn với quy hoạch nông thôn mới, phát triển làng nghề theo hình thức đa dạng hóa chủ sở hữu, củng cố làng nghề hiện có, tập trung đầu tư cho các làng nghề có điều kiện phát triển tốt Chú trọng phát triển các nghề mới gắn liền với việc xây dựng văn hóa - du lịch tại nông thôn

1.2 Khái quát về làng nghề đúc đồng tại Đại Bái - Gia Bình - Bắc Ninh 1.2.1 Vài nét khái quát về vị trí địa lý làng Đại Bái

Xã Đại Bái nằm ở phía Đông nam của huyện Gia Bình, phía Bắc giáp xã

Đông Cứu, phía Nam giáp xã Quảng Phú (huyện Lương Tài), phía Tây giáp xã Mão Điền (huyện Thuận Thành), thôn Đại Bái nằm ở trung tâm của xã Đại Bái

Làng ngề đúc đồng Đại Bái nằm ở xã Đại Bái- huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh, tên gọi cổ là làng Bưởi Nồi (cũng có sách ghi chép lại thì Đại Bái xưa còn có tên là làng Văn Lang) Người dân xung quanh thì hay gọi làng Đại Bái là làng Bưởi Đây là làng nghề truyền thống với các nghề chính: Đúc

đồng, gò đồng, đúc nhôm, gò nhôm Ngoài ra làng Đại Bái còn có nghề dát

Trang 17

mỏng kim loại, gia công cơ khí, kim khí, hoàn chỉnh các chi tiết, chạm khắc kim loại Đại Bái cách thủ đô Hà Nội 35 km về phía đông, cách tỉnh lỵ Bắc Ninh 20 km, cách trung tâm huyện Gia Bình 3 km Đại Bái có đường quốc lộ

282 và tỉnh lộ 284 chạy qua, hiện nay đường đã được Nhà nước đầu tư kinh phí làm mới, đường 284 được trải toàn bộ bằng nhựa lên rất thuận lợi cho việc qua lại, giao lưu hàng hoá của nhân dân, 100% số đường giao thông trong làng đã được bê tông hoá [3 T7]

Đây là nơi có vị trí giao lưu thuận lợi cả về đường bộ và đường sông, làng có chợ Bưởi là nơi để người dân giao lưu, trao đổi sản phẩm với các vùng lân cận Trong vùng này cách làng Đại Bái 2 km cũng có một làng nghề là làng nghề Quảng Bố (xã Quảng Phú huyện Lương Tài) nhưng không nổi tiếng bằng các sản phẩm làng nghề Đại Bái

Thôn Đại Bái có tổng diện tích đất tự nhiên là 385.2 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 63% (242.7 ha), đất chuyên dùng là 15.58% (60,0 ha) đất khu dân cư là 7,09% (27,3 ha) Đại Bái là một vùng chiêm trũng, dân số lại

đông do đó diện tích bình quân trên đầu người rất thấp so với tổng diện tích

đất tự nhiên

Dân số lao động là một tiềm lực lớn mạnh của một quốc gia và cũng là một nỗi lo trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Theo thống kê năm 2008, làng Đại Bái có 1450 hộ với 6750 nhân khẩu Trong đó có 328 hộ làm thuần nông (chiếm 22,6%), số hộ ngành nghề kiêm nông nghiệp là 831 hộ (57%) số

hộ chuyên làm nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ là 291 hộ (20,1%)

Điều đáng lo ngại của Bắc Ninh cũng như của Đại Bái là dân số cứ ngày một tăng theo nên làm giảm diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất chuyên dùng (đất xây dựng cơ bản, giao thông, thuỷ lợi, đất lịch sử văn hoá, nghĩa

địa ) Từ năm 2005 – 2008 bình quân đất nông nghiệp trên đầu người giảm dần từ 476.79 m2 xuống còn 389.27m2, đất canh tác bình quân trên hộ cũng giảm từ 1874.13m2 xuống còn 1504.18m2/hộ Đặc biệt là diện tích đất canh tác bình quân cũng giảm rõ rệt Bình quân 01 lao động chỉ có 385.56m2 diện tích đất canh tác, đây là diện tích đất rất thấp so với một số vùng ở khu vực Bắc Bộ (608m2/lao động)

Một điều đáng quan tâm hiện nay ở Đại Bái là trong khi diện tích đất canh tác bình quân trên một lao động còn thấp, dân số tăng nhanh, diện tích

đất đai bị thu hẹp thì nhu cầu sử dụng đất cho phát triển tiểu thủ công nghiệp lại rất lớn

Trang 18

1.2.2 Sự hình thành và phát triển của làng nghề đúc đồng Đại Bái

Khi nói đến nghề đúc đồng truyền thống của nước ta, ai cũng phải công nhận rằng nghề này đã có từ bao đời nay, thực tế mà nói kể từ ngày vua Hùng Vương dựng nước đã có các khí vật được đúc bằng đồng: ngọn giáo cho đến các linh vật như: trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ…Trên các linh vật này thể hiện những đường nét hoa văn, các hình dáng đặc thù của dân tộc

ta trên mặt trống đồng như hình ảnh chim lạc Đây là di sản vô giá đối với con cháu muôn đời sau, nhưng đó cũng là minh chứng về tài hoa tinh xảo với đôi bàn tay nghệ thuật của những nghệ nhân đã tạo nên chúng Và có lẽ hai chữ:

“Đại Bái” thực sự trở thành thân thuộc và gắn liền với nghề đúc đồng truyền thống này

Trong ca dao hò vè của Đại Bái có chủ đề ca ngợi nghề đúc đồng như:

Muốn ăn cơm trắng cá trôi Thì về làng Bưởi đánh nồi với anh

Muốn ăn cơm trắng cá ngần Thì về làng Bưởi cầm cân bán nồi

Muốn ăn cơm trắng chả chim

Đi về làng Bưởi em tìm tình nhân

Thuyền ngược hay là thuyền xuôi

Có về bến Bưởi cho tôi cùng về

Theo sách “Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí” và gia phả sắc phong ghi

chép của đình làng Đại Bái thì ông tổ của làng nghề truyền thống Đại Bái là

cụ Nguyễn Công Truyền sinh năm 989 tại làng Đại Bái, xuất thân trong một gia đình nho học Năm 995 ông theo gia đình vào Thanh Hoá để sinh sống, khi lớn lên ông vào quân ngũ Năm 25 tuổi làm quan Đô uý của triều đình nhà

Lý, được phong hàm Điện tiền tướng quân Do cha bị bệnh mất, ông xin từ quan đưa mẹ về quê cũ (làng Đại Bái) từ đây ông bắt đầu truyền nghề gò - đúc

đồng cho dân làng, dân làng noi theo ông học nghề và lập nghiệp Lúc đầu chỉ vài hộ sản xuất với vai trò là nghề phụ nhưng sau đó nghề gò- đúc đồng đã trở thành nghề chính của làng Khi ông mất (năm 1069) được phong với các tên: Dịch Bảo Trung, Hưng Linh Phù Tôn Thần, Quang Uý Dịch Bảo, Trung Hưng Trung Thần, Doãn Túc tôn thần Người dân Đại Bái rất coi trọng các ngày lễ

tết, ngày hội làng, đặc biệt là ngày giỗ tổ dạy nghề 29/9 âm lịch hàng năm

Trang 19

Từ khi có nghề, kinh tế của làng dần dần phát triển mạnh, đời sống người dân dần được cải thiện và làng trở thành một trung tâm sôi động, trải qua các thế hệ hậu tiên sư như: Nguyễn Viết Lai, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Viết Thái, Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Công Tâm những người đã có công phát triển nghề này thì làng nghề ngày càng hoàn thiện, sản phẩm phong phú

và đa dạng hơn

Sách “Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự’’ viết về làng Đại Bái có

câu "Đại Bái Gia Định chi đả thau nhi, thau bồn, thau ấm, thau điếu, hành tinh

kỳ cự", nghĩa là làng Đại Bái huyện Gia Bình có nghề đập thau, làm đủ các mâm thau, ấm thau, chậu thau đều rất khéo

Người làm đồ đồng ở Đại Bái thường chỉ sản xuất ra các mặt hàng, còn tiêu thụ đồng lại nhờ vào chính những người buôn đồ đồng ở vùng phủ Từ Sơn thôn Trung Liệt (tên nôm là thôn Sặt) cũng vì buôn đồng nhiều nên có tên gọi

là Sặt đồng, phường buôn đồ đồng ở Sặt xưa giống như hệ thống phân phối hàng đồng cho khắp các tỉnh miền Bắc nước ta Chính vì thế cái tiếng về tài

đúc đồng ở Đại Bái cũng được lan rộng Người ở Đại Bái ngoài sản xuất ở làng quê mình cũng có một số người gánh đồ nghề đi các tỉnh khác đẻ hành nghề kiếm sống Họ có thể vừa sản xuất ra hàng mới và còn nhận hàng sửa chữa nữa

Song cuôi thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đồ đồng dân dụng ở nước ta đã phát triển tới đỉnh cao của nó Hồi ấy, trong mỗi gia đình ở phố phường hay ở thôn quê cũng phải có dăm bảy đồ vật bằng đồng do phường đúc đồng tạo ra Ngày ấy nếu ai có dịp về thăm Đại Bái thì mới thấy được sự phát triển của ngành nghề thủ công này Tiếng đe, tiếng búa giòn giã từ ngõ này sang ngõ khác, người ta gánh hàng đồng đi kìn kìn Thời trước nghề đúc đồng thường phục vụ cho các tôn giáo, các chính thể của mọi thời thế Ngoài việc đúc

đồng, chuông chiêng, tượng thờ, đỉnh đồng, nến, lư hương, mâm đồng thì việc

đúc tiền cũng khá tinh xảo Phường đúc đồng Ngũ Xá (Trúc Bạch - Hà Nội) chính là do người Đại Bái (Hà Bắc xưa) được vua Lê mời vào kinh đô đúc tiền Mãi cho đến những năm 1960 khi hàng nhôm tràn ngập trên thị trường thì đồ

đồng mới thu hẹp vai trò, vị trí và ưu thế của mình

Con cháu làng nghề đúc đồng Đại Bái hiện nay đã thể hiện được tài năng qua việc phục chế trống đồng Ngọc Lũ Đây là một công trình thủ công

đạt tới mức kĩ thuật tinh xảo Nghệ nhân Nguyễn Văn Quen người gốc xã Đại Bái là xã viên của HTX đúc đồng Ngũ Xá đã được vinh dự chủ trì trong công trình đúc quan trọng này Sau khi hoàn thành, tiếng trống vang lên rất đặc biệt,

Trang 20

đó không phải là tiếng trống có ý nghĩa vật chất, nó như tiếng của linh hồn của dân tộc ngân lên vang vọng Một kỉ niệm thiêng liêng với người nghệ nhân đúc đồng quê gốc ở Đại Bái là đầu năm 1960 ông vinh dự được ra đúc tượng Bác Hồ Đó là niềm hạnh phúc lớn lao trong đời thợ người Đại Bái

Cho tới khi kỹ thuật làm đồng dẻo phát triển thì nghề đúc đồng ở Đại Bái càng khẳng định được vai trò và ý nghĩa thực dụng của nó Hàng loạt đồ

đồng, ấm đồng, mâm, gáo bằng đồng ra đời phục vụ cho đời sống người dân trong và ngoài tỉnh Khi tới kỹ thuật nấu đồng dẻo người thợ Đại Bái đã nghĩ

ra một cách gọt đồng, gò đồng thay cho đúc đồng xưa kia Nồi đồng gọt nhẹ hơn nồi đúc Nếu có bị mốp thì chỉ cần lấy búa gõ lấy lại dáng là được

Người Đại Bái còn rất giàu tính sáng tạo, những năm chiến tranh phá hoại, từ vỏ đạn cao xạ, những bàn tay đúc đồng Đại Bái lại khéo léo tạo ra những lọ hoa rất đẹp [1.T30 – 33]

Sự phát triển và thay đổi lớn cho làng nghề Đại Bái là kể từ những năm

1990 trở lại đây Đại Bái rất phát triển với một kỹ thuật mới đó là chạm đồng

Đây là do công lao của nghệ nhân Nguyễn Văn Lục, ông đã học được nghề chạm đồng dưới Thái Bình, sau đó về truyền dạy nghề tại quê hương Từ ngày

đó đến nay, các sản phẩm của chạm đồng rất nổi tiếng và nhiều mẫu mã đẹp, tạo ra một lượng hàng đồ đồng mỹ nghệ cao cấp và trở thành nguồn hàng xuất khẩu lớn của địa phương

Trong thời chiến cũng như trong thời kỳ xây dựng CNXH người Đại Bái

đã không ngừng từng bước mở rộng quy mô sản xuất và tìm tòi cho ra nhiều sản phẩm mới như: hàng dân dụng, hàng quân dụng, đồ mỹ nghệ, các sản phẩm đặt hàng của Nhà máy với các hình thức sản xuất ngày càng phong phú như: công ty TNHH, HTX, doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất chuyên dụng

Ngày nay do nhu cầu của xã hội tăng cao mà sản phẩm của làng nghề ngày càng hoàn thiện hơn, đẹp hơn về mẫu mã và chủng loại thì phong phú, sản phẩm không chỉ nổi tiếng trong nước mà đã được xuất khẩu ra nước ngoài

Với ưu thế làng nghề đúc đồng truyền thống kết hợp với các di tích lịch

sử văn hoá, di tích thiên nhiên như: núi Thiên Thai, đền thờ trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh thuộc xã Đông Cứu, làng nghề Đại Bái nói riêng, huyện Gia Bình nói chung trong một tương lai không xa sẽ là một điểm thăm quan

du lịch hấp dẫn cho khách trong và ngoài nước

Tóm lại quá trình hình thành của làng nghề đã có từ hàng trăm năm nay

và trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử làng nghề vẫn tồn tại và phát triển, các sản phẩm dần được lưu truyền và hoàn thiện bắt kịp với thời đại Có được

Trang 21

như vậy là nhờ bí quyết nhà nghề của người dân trong làng đã giúp làng tồn tại và phát triển Nhưng có thể nói rằng trong nghề đúc đồng, yếu tố tạo nên những nét tinh hoa, tinh tuý của sản phẩm và cũng là yếu tố để làng Đại Bái

đứng vững đó là sự kết hợp chí sáng tạo và bàn tay khéo léo của người thợ cùng với đó là sự yêu nghề đã tạo ra sản phẩm độc đáo, tạo ra nét truyền thống văn hoá

1.2.3 Đời sống văn hoá tinh thần của người dân Đại Bái

1.2.3.1 Phong tục tập quán

Thứ nhất: Phong tục cưới xin

Theo sách “Lĩnh Nam trích quái” thì ngay từ thời Hùng Vương, người

Việt đã biết tiến hành các nghi thức của hôn lễ Lễ cưới ngày ấy được tiến hành qua các bước lễ dạm và lễ cưới Thời ấy, trong hôn lễ đã xuất hiện lệ thách cưới Sách ghi rằng: “Việc hôn thú giữa nam và nữ, lấy gói muối làm

đầu” Trong hôn lễ thường có các trò vui: các cô gái bạn của cô dâu chơi trò ném bùn, hoa quả vào chàng rể Lễ hợp cẩn cũng thấy có từ thời Hùng Vương

Đó là tục lệ ăn cơm chung của đôi trai gái khi họ đã chính thức trở thành vợ thành chồng

Để pháp điển hóa tục lệ cưới xin cho thần dân trong nước, ngày 23/12/1478, Lê Thánh Tông định ra nghi lễ về hôn nhân giá thú như sau:

“Phàm người lấy vợ trước hết phải mượn người mối đi lại bàn định rồi sau mới

định lễ cầu thân, lễ cầu thân xong rồi mới định lễ dân cưới, dẫn cưới xong rồi mới chọn ngày xin đón dâu Ngày hôm sau chào cha mẹ chồng, ngày thứ ba

đến lễ nhà thờ Nghi thức, tiết mục phải theo như đúng điều đã ban xuống mà làm, không để như trước (nhà trai dẫn lễ cưới rồi để 3, 4 năm mới cho đón dâu)

Năm 1804, trong Điều lệ hương đảng cho các xã dân Bắc Hà, Gia

Long quy định: “lễ cưới thì nên châm trước 6 lễ, lượng tùy nhà có hay không,

được viết khế cố ruộng Hương trưởng thu tiền cheo trong lễ cưới thì nhà giàu

1 quan 2 tiền, người vừa 6 tiền, người nghèo 3 tiền, người làng khác gấp đôi Nếu không có kẻ cẩu hợp chửa hoang thì phạt người gian phu 30 quan và cha anh 3 quan để giữ phong hóa”

Mặc dù nhà nước phong kiến quy định như vậy, nhưng trong thời kì lịch

sử, các thủ tục cưới xin của Đại Bái tùy từng làng và tùy từng gia cảnh mà tổ chức cầu kì hoặc đơn giản hơn Đối với đám cưới con nhà giàu hay con quan lại người xưa tổ chức 6 lễ:

Trang 22

- Lễ nạp thái: Nhà trai đến nhà gái ngỏ lời về ý kiến của mình

- Lễ vấn danh (tức lễ hỏi): trong lễ này nhà trai cần biết tuổi cô dâu

- Lễ nạp cát: Nhà trai thông báo cho nhà gái biết kết quả so đôi tuổi và kết quả xem ngày, giờ tốt để dự định làm lễ cưới

- Lễ thỉnh kỳ: Nhà trai đến nhà gái xin ngày cưới

- Lễ nạp tệ: Nhà trai dẫn đồ cưới đến nhà gái

- Lễ thân nghinh: Lễ đón dâu

Ngoài 6 lễ trên đây, ở những nhà quyền quý và nhà giàu còn có nhiều lễ khác trong ngày cưới như: lễ sống ông, bà, bố mẹ chồng, lễ tế tơ hang, lễ hợp cẩn,

lễ các nhà thờ họ, nhà thờ chi, lễ lại mặt…

Trước cách mạng Tháng 8 - 1945 con gái Đại Bái đi lấy chồng có lệ thách cưới Tùy theo mối quan hệ giữa 2 gia đình, điều kiện kinh tế, nền nếp gia phong, địa vị xã hội của 2 gia đình, nhân cách, phẩm hạnh, tài sản của ngời con gái mà số lượng, giá trị của đồ thách cưới được đưa ra một cách phù hợp mà bên nhà trai có thể chấp nhận được Thông thường người Đại Bái hay thách cưới: Khuyên vàng, xà tích, rượu thịt, quần áo, trầu cau…

Trước đây, khi ăn hỏi xong gia đình nhà gái cử người đi chia trầu cau cho làng mỗi nhà 2 quả liền cành

Người con gái sau khi về nhà chồng, nhà chồng không gọi bằng tên do

bố mẹ đặt cho mà gọi là: chị Đỏ, thím Đỏ, mợ Đỏ, cái Đỏ… còn người làng thì gọi tên cô dâu bằng tên của chồng Vợ chồng thì gọi nhau bằng “nhà tôi”,

“nhà cháu”…

Nghi lễ này được người dân Đại Bái thực hiện suốt từ khi nó được ban hành cho đến khi luật hôn nhân và gia đình của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1959 ra đời thì những nghi lễ này đã được thay đổi rất nhiều

Hiện nay, những cách gọi tên cho đến những phong tục trước đây của người dân Đại Bái đã có nhiều thay đổi Thực hiện theo chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong luật văn hóa, luật hôn nhân và gia đình nên đã giảm bớt đi được rất nhiều nghi thức rườm rà trong việc cưới xin Đại Bái đã chấp hành theo đúng pháp luật mà Nhà nước đã ban hành: việc cưới xin, tang

ma hiện nay tổ chức tiết kiệm, không hoang phí

Thứ hai: Tục kết chạ

Tục này ra đời rất lâu trong lịch sử nông thôn Việt Nam Cơ sở của tục kết chạ giữa hai làng là hai làng cùng thờ chung một vị thành hoàng, hoặc cùng chung một cánh đồng, một con sông, có một mối thâm giao hoặc một ân

Trang 23

Thứ ba: Phong tục tập quán trong việc làm nhà, để mả

Việc đầu tiên trước khi làm nhà là phải xem tuổi, theo nguyên tắc “lấy

vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông” Làm nhà dù to hay nhỏ nhất thiết phải kiêng tuổi kim lâu

Về mặt địa thế, người Đái Bái ngày xưa kỵ nhất hai trường hợp đó là:

“thứ nhất góc ao, thứ nhì đào đình” và còn nhiều thứ kiêng kỵ khác nữa Trước khi làm nhà các cụ còn chọn ngày phạt mộc, khai móng, chọn ngày cất nóc, lên nhà mới

Trong việc để mả, đối với nhà quyền quý, giàu có thì đây là sự kiện vô cùng quan trọng Người Đại Bái quan niệm “Sống về mồ về mả, không ai sống

có nhiều trò vui, trong đó có hai trò vui không thấy có ở nơi khác đó là trò vui

chạy gà trống trắng và trò vui ném cây bông Sách “Bắc Binh phong thổ ký”

gọi là trò diễn thần Bạch kê và ghi tóm tắt như sau:

Hàng năm đến ngày 10/4 vào đám Trước đó một tháng, người ta mua một con gà trắng nhốt vào lồng, đợi đến ngày vào đám thì mang cái lồng gà ấy

đến đình làm lễ, lễ xong thả con gà ấy ra ngoài nhang án Từ đó về sau, con gà trống đó ra đồng kiếm ăn, tối về đình ngủ dưới nhang án Nhân đó, người ta gọi nó là thần Bạch kê Hiện nay thì lệ ấy có thay đổi Làng vào đám khoảng 5

- 6 ngày Khi hành lễ và khi dã đám, người ta mua 2 chiếc thuyền giấy thả xuống sông Con gà trống trắng ngay khi lễ xong được đem về giết thịt Khi vào đám phải dùng gà trống trắng làm lễ như thế là theo phong tục của tổ tiên truyền lại

Trang 24

Trò vui thứ hai là ném cây bông Trò vui này được tiến hành vào ngày giã đám ngày 17/4 Cây bông là loại cây gậy bằng tre, hai đầu được vót thành những sợi phoi xum xuê Cây bông được đặt ngay dưới một cây dèn cao khoảng 1.50 mét để trên hương án Quan viên chức sắc tề tựu xung quanh để xem các cô đào hát múa Bài hát là bài ca trù có nội dung cầu chúc thần linh

và trình bày ước mơ, mong cho một năm phong đăng hoà cốc Trai tráng của 4 xóm tập trung tại sân đình, khi hát lễ xong, ba hồi chiêng trống nổi lên hai

ông cai đám cầm cây bông ném vút ra ngoài Mọi người đổ xô ra tranh cướp Thanh niên xóm nào cướp được cây bông thì chạy mang về xóm mình Thanh niên những xóm khác sẽ cố đuổi để giành lại Khi nào người cầm cây bông chạy về đến ngõ của mình thì thanh niên xóm khác mới không đuổi theo nữa Xóm nào cướp được cây bông thì mọi người coi đó là bằng chứng về một điều tốt lành cho cả xóm suốt năm đó, nên cả xóm tổ chức ăn mừng Các cụ già ở

đây cho biết cây bông tuy to nặng, được ném hết sức và bất chợt trong đình ra ngoài sân, đang rất đông người nhưng không chạm vào ai Tại trò này những người đang có đám tang sẽ không được tham gia Ngoài những lễ tết trên đây,

ở làng Đại Bái còn có các ngày lễ 6 -2 và ngày 29/9 âm lịch hàng năm là ngày mất của cụ tổ nghề Nguyễn Công Truyền

Hiện nay lễ hội của làng Đại Bái đã có nhiều thay đổi, các nghi thức nghi lễ của hội cũng diễn ra đơn giản và giản thiểu đi rất nhiều so với truyền thống trước đây Vào ngày lễ thì các hộ sản xuất đều nghỉ làm, và đây là cũng

là ngày mà họ gặp gỡ bạn bè, mời khách khứa, đối tác làm ăn về dự hội cùng gia đình làng xóm

1.2.3.3 Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

1.2.3.3.1 Tôn giáo:

Nằm trong vùng ảnh hưởng của trung tâm phật giáo Luy Lâu, Phật giáo

có mặt ở Đại Bái có lẽ từ thời Bắc thuộc

Chùa Diên Phúc tại làng Đại Bái: chùa nằm ở xóm Tây nhìn về hướng nam Chùa được xây dựng từ rất sớm và được trùng tu vào năm Phúc Thái thứ

5 thứ 6 (1647- 1648) chùa thờ phật, bồ tát và các vị hậu phật có công với làng

đó là các vị: Nguyễn Công Hiệp, Nguyễn công Thận… Chùa Diên Phúc hiện nay còn 4 tấm bia:

+ Diên Phúc tự bia ký (mờ không đọc được) + Bia nằm trên nền lò giống

+ Bia Diên Phúc tự bi + Bia công đức tín thí

Trang 25

Chùa còn có 2 pho tượng đá: pho lớn là tượng của cụ Nguyễn Công Hiệp, tạc vào ngày tốt, tháng 7 năm Khánh Đức thứ 2 (1650) chùa còn có một quả chuông đồng, đúc vào ngày 21/4 năm Tự Đức thứ 30 (1877) [3.T35 -37]

đốt phá Tháng 8/ 1948 đình Văn Lãng lại bị đốt phá và cho tới năm 1954 hoà bình lập lại từ những vật liệu còn sót lại của hai ngôi đình cũ nhân dân Đại Bái

đã dựng lại ngôi đình và lấy tên là đình Diên Lộc để thờ thành hoàng làng, á thánh và cụ tổ nghề đúc đồng của làng Hiện nay đình Diên Lộc còn giữ được

16 đạo sắc cuả các triều đại phong kiến Việt Nam từ thời Lê Cảnh Hưng đến thời nhà Nguyễn

1.2.3.3.3 Về văn hoá văn nghệ

Bên cạnh việc hoạt động sản xuất thúc đẩy kinh tế phát triển, làng nghề vẫn duy trì tốt công tác thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ Đời sống tinh thần của người dân đựơc nâng cao, các chính sách sinh đẻ có kế hoạch được người dân thực hiện đúng quy định Các chính sách về hoạt động văn hoá, lễ hội, ma chay, cưới xin đều được thực hiện tốt Làng Đại Bái luôn thực hiện chủ trương bảo tồn làng nghề truyền thống và luôn phấn đấu duy trì là một làng văn hóa

Về di tích lịch sử văn hoá, hiện nay làng nghề đã được nhà nước công nhận đây là một di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia vào năm 1998 Trong đó

có 5 di tích lịch sử đã được xếp hạng là:

1 Đình Văn Lãng (Đình Trong) - thờ Đức Lạc Long Quân

2 Đình Diên Lộc (Đình Ngoài) - thờ Đức Tổ Sư nghề đúc đồng

3 Chùa Diên Phúc - thờ Đức Phật, Thánh Mẫu

4 Tích giếng Thánh Gióng - thờ Thánh Gióng

Trang 26

đúc đồng, để lại vô số di vật đánh dấu sự phát triển của loài người Đến bây giờ đồ đồng Đông Sơn, đặc biệt là trống đồng của người Việt cổ đã cho chúng

ta niềm tự hào trong nền văn hoá Thế giới Trên đất nước Việt Nam, có đến hàng chục trung tâm, làng nghề đúc đồng với những thăng trầm, thịnh suy, dẫu sau này đồng không còn là thứ kim loại chính trong đời sống xã hội, nhưng cùng với nhiều vật phẩm bày trên bàn thờ cúng giỗ ngày tết, những đồ

đồng như: đỉnh đồng, lư hương, lọ hoa bằng đồng vẫn không thể thiếu vắng

Có người bày bộ ngũ sự, tam sự, nhưng cũng có người chỉ bày đôi hạc, mâm ngũ quả, tuỳ thuộc vào phong cách và truyền thống của từng dòng họ, từng gia

đình Có nhiều nơi làm nghề đúc đồng và trong số đó có làng nghề đúc đồng

Đại Bái- một làng nghề đã và đang gìn giữ những nghệ thuật truyền thống của cha ông ta đã để lại

Trong các sản phẩm thủ công truyền thống, văn hoá tinh thần kết tinh trong văn hoá vật thể Hầu hết các sản phẩm của các làng nghề truyền thống

được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời gắn với những thăng trầm của lịch sử xã hội Các sản phẩm thường phản ánh sâu sắc tư tưởng tình cảm và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam Những kỹ năng, kinh nghiệm được

đúc rút và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành một nghề tồn tại độc lập Giờ đây đi dọc con đường lớn chạy qua Đại Bái dễ dàng bắt gặp những cửa hàng bày bán sản phẩm được chế tác từ nguyên liệu đồng Lư hương, đỉnh đồng đến đôi hạc, bức tranh, câu đối đều được trạm khắc tinh xảo Bước vào xứ sở của đồng, mới thấy hết được kỹ nghệ chạm khắc qua bàn tay của những người thợ đang làm việc miệt mài, cần mẫn tạo nên các tác phẩm có giá trị thẩm mỹ và giá trị sử dụng Nghề chạm khắc đồng cũng tạo nên sự hưng thịnh cho làng quê vùng Kinh Bắc

Cũng như nhiều làng nghề, nghề đúc đồng Đại Bái trong quá trình hoạt

động của mình đã sản xuất ra nhiều sản phẩm làm đẹp cho cuộc sống con

Trang 27

người, đã tạo nên nhiều lớp nghệ nhân có tiếng, thợ nghề có tay nghề cao, tích luỹ cho mình nhiều tiềm năng, kĩ thuật nghề nghiệp Do đặc điểm của loại hình thủ công mỹ nghệ trên các sản phẩm làm ra không ghi danh tiếng người

và xuất xứ sản phẩm nên không có cơ sở để đánh giá chính xác giá trị cống hiến cho đời sống văn hoá - nghệ thuật dân tộc của làng nghề đúc đồng Đại Bái Song với thời gian hoạt động nghề lâu dài thì những cống hiến của làng nghề chắc chắn không ít và không nhỏ Bằng vào thực tế, trong hơn 20 năm trở lại đây sự đóng góp của làng nghề này thật là đáng kể Làng nghề đã sản xuất ra nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng về mẫu mã và chủng loại Những sản phẩm của Đại Bái có mặt trên khắp thị trường trong nước và nước ngoài Nhiều sản phẩm đã đạt giải cao trong các cuộc triển lãm như ở Quảng Ninh,

Đà Nẵng, hội chợ làng nghề được tổ chức tại Huế, tham gia hội chợ taị cộng

đồng Pháp ngữ, triển lãm tại bảo tàng Dân tộc học Nhiều cá nhân đã được chính quyền các cấp trao tặng các danh hiệu cao quy như: "Nghệ nhân, Bàn tay vàng", trong số đó tiêu biểu là nghệ nhân Nguyễn Văn Lục đã được công nhận danh hiệu "Bàn tay vàng" Ông đã tham dự nhiều cuộc triển lãm, sản phẩm của ông được đánh giá rất cao, được nhận giấy khen là người đã có công bảo tồn và phát triển làng nghề, nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh - một nghệ nhân thâm niên nhất của làng nghề, nghệ nhân Nguyễn Văn Điền họ là những "di sản văn hoá sống" đang lưu giữ trong mình những kiến thức kinh nghiệm, kỹ thuật nghề truyền thống để truyền đạt lại cho thế hệ sau

Điều đáng nói ở đây, làng nghề Đại Bái đã có từ hàng ngàn năm nay, trước những diễn biến của lịch sử sản phẩm làng nghề Đại Bái luôn được các lớp nghệ nhân trăn trở gìn giữ và bảo tồn Tiêu biểu trong vấn đề này, qua điều tra thực tế, nghệ nhân Nguyễn văn Điền đã là người đầu tiên đưa nghệ thuật tranh Đông Hồ thổi hồn vào trong chất liệu đồng để cùng một lúc gìn giữ 2 loại hình nghệ thuật truyền thống (Nghệ thuật luyện đúc đồng, dòng tranh

Đông Hồ) Mặc dù khi mới bắt tay vào làm đã gặp không ít những khó khăn bởi những nét vẽ tinh tế của tranh Đông Hồ trên các bức tranh "Tố nữ", "đám cưới chuột" nhưng cuối cùng với lòng yêu nghề, sự tận tuỵ và sự giúp đỡ của các nghệ nhân làng tranh Đông Hồ đã giúp cho nghệ nhân Nguyễn Văn

Điền đi đến thành công trong việc thực hiện ý tưởng của mình Và với sự sáng tạo ấy, đã làm cho nghệ thuật đúc đồng của Đại Bái có những bước phát triển, tạo cho làng nghề có thêm một diện mạo mới, góp phần làm phong phú tinh

hoa văn hoá của dân tộc

Trang 28

Từ sau năm 1980, nghề đúc đồng Đại Bái đã tỏ rõ được vị trí và vai trò của mình, trở thành nghề chính Xã Đại Bái nói chung và làng nghề Đại Bái đã thực hiện cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp Hiện nay tỷ trọng trong tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ của làng nghề Đại Bái là 80%, tỷ trọng trong nông nghiệp là 20%

Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2010 giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở Đại Bái đã đạt hơn 35 tỷ đồng chiếm 30% tổng thu nhập ngân sách toàn xã Làng nghề có 1450 hộ, hiện có 700 hộ làm nghề đúc đồng, nhôm mỹ nghệ trực tiếp và 500 hộ làm các công đoạn gia công Do có nghề truyền thống nên đời sống kinh tế của người dân ngày một phát triển, tổng thu nhập bình quân của người lao động là: 1,2 triệu đến 1,5 triệu đồng

Trong 2 năm trở lại đây (2008-2010) cơ cấu ngành nghề trong nông thôn ở Đại Bái có sự chuyển dịch rõ rệt Số hộ thuần nông có xu hướng giảm dần, nhưng số hộ chuyên ngành thủ công truyền thống có xu hướng tăng lên qua 2 năm qua, chứng tỏ xu hướng của Đại Bái là phát triển nghề truyền thống Chính nhờ chính sách khôi phục và phát triển làng nghề của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ hội và thế mạnh cho làng nghề vươn lên, ngành nghề thủ

Trang 29

công đã không ngừng được mở rộng và phát triển thu hút một lượng lớn lao

động dư thừa đáng kể trong nông thôn tham gia vào sản xuất để tăng thu nhập, cải thiện đời sống kinh tế cho người dân

Một thế mạnh của Đại Bái được tận dụng tương đối triệt để đó là nguồn lao động Lao động của Đại Bái được bổ sung tăng dần trong 2 năm qua Số người trong độ tuổi lao động là 77.68% (năm 2010) so với tổng số lao động,

đáp ứng tương đối cho phát triển nghề truyền thống của làng, đa dạng các khâu trong quá trình sản xuất, lao động trong thu gom nguyên liệu, gia công sản xuất, tiêu thụ, marketing

Làng nghề tạo thêm nhiều việc làm thúc đẩy quá trình phân công lao

động ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động Cũng như nhiều địa phương khác, giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc hiện nay Đối với Đại Bái khi mà dân số lao động nông thôn ngày một tăng, quá trình đô thị, công nghiệp hoá lại đang diễn ra rất nhanh, dẫn đến diện tích đất canh tác trên

đầu người ngày càng thấp Trước tình hình đó đóng góp của các doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề rất quan trọng trong việc thực hiện giải quyết việc làm cho người lao động

Làng Đại Bái có 1450 hộ với 6750 nhân khẩu, diện tích đất canh tác tại thời điểm này chỉ có vùng trũng của huyện, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Những năm trước tỉ lệ hộ nghèo thường chiếm trên 20% nhưng từ khi địa phương có chủ trương khôi phục phát triển nghề truyền thống đến nay toàn thôn có 60 -73% số hộ, 87% số hộ lao động làm nghề tiểu thủ công nghiệp Ngoài lao động chính thường xuyên còn thu hút thêm khoảng 1000

đến 1500 người từ địa phương khác đến làm thuê

Tạo diện mạo nông thôn mới làm tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống dân cư Thực tế cho thấy, diện mạo thôn Đại Bái có sự khác biệt rõ rệt giữa làng có nghề với làng thuần nông Với sự phát triển của làng nghề, các công trình hạ tầng trong thôn xóm như : Điện, đường, trường, trạm

được đầu tư khá khang trang, ở làng Đại Bái 100% đường chính trong xóm

được bê tông hóa, trạm xá, trường học được xây kiên cố, 985 hộ gia đình có

xe máy, ti vi, hiện nay làng có 30 xe ô tô các loại do các cơ sở, hộ gia đình tự mua sắm

Làng nghề phát triển góp phần tăng trưởng kinh tế tạo ra chất lượng hàng hoá đa dạng phong phú Làng nghề Đại Bái được xác định là một tiềm năng thế mạnh của xã, không những nó tạo ra nhiều việc làm tại chỗ tăng thu nhập cho người lao động ở trong thôn mà nó đã thực sự góp phần vào sự phát

Trang 30

triển kinh tế của huyện, xã Từ năm 2008 đến nay, giá trị sản xuất do tiểu thủ công nghiệp thường chiếm 80 - 85% giá trị doanh thu toàn xã

Trang 31

CHƯƠNG II:

Thực trạng hoạt động nghề đúc đồng ở lμng Đại Bái- Gia Bình - Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

2.1 Kĩ thuật luyện đúc đồng tại làng nghề Đại Bái

2.1.1.1 Công đoạn 1 Đúc phôi:

Tuỳ theo kích thước và sự phức tạp của chi tiết sản phẩm mà mỗi gia

đình, mỗi dòng họ có công thức truyền riêng, nhưng nhìn chung có thể giới thiệu như sau:

- Tạo khuôn nền lót: gồm đất và trấu trộn tạo thành một hỗn hợp rắn chắc

- Dùng sáp tạo thành hình sản phẩm lên khuôn lót, giai đoạn này gần như là công việc của một nghệ nhân

- Bọc khuôn ngoài: gồm hỗn hợp đất sét và tro trấu vì không cần độ cứng chắc như khuôn trong Thường khuôn ngoài phải chừa 1 hoặc hai lỗ để

đồng vào khuôn, tuỳ theo sản phẩm lớn hay nhỏ (hai lỗ: một đổ đồng, một thoát hơi)

- Tiếp theo là công đoạn đúc, người ta pha trộn đồng với các kim loại khác theo tỉ lệ thích hợp với hợp kim nấu chảy và đổ rót vào khuôn, quy trình

đổ rót thủ công này phải tuân theo một cách thức nghiêm ngặt để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh không được phép có vết rạn nứt hay tì vết

Trang 32

Giai đoạn đổ đồng: Đồng được nấu chảy (9000Cđồng đã chảy nhưng thường phải đun đến 14000C đến 1500 0 C cho đồng thật lỏng đối với những sản phẩm mỏng)

- Đồng nấu chảy được đúc bằng vá sắt (độ nóng chảy cao hơn đồng) đổ vào khuôn cũng vừa được đun nóng

- Sau cùng là để đồng nguội, đập khuôn và lấy sản phẩm ra

- Kế tiếp là giai đoạn hàn láng những khuyết điểm (nếu có) rồi khắc hoạ tiết hoa văn Giai đoạn này người thợ dùng những loại đục, búa cùng óc thẩm

mĩ, sáng tạo và cả sự khéo léo thuần thục

- Sau cùng là đánh bóng để hoàn thành sản phẩm

2.1.1.2 Công đoạn 2 Làm nguội - nghề chạm đồng :

Sản phẩm đúc ra sau khi đã đạt tiêu chuẩn về hình dáng, kích thước, hoạ tiết phải được tiến hành khâu làm nguội Muốn làm đựơc công đoạn này cần phải có dụng cụ riêng như: cây khoan, bàn dũa, đe, ve, búa, chạm, bàn xi trám khâu quan trọng nhất là chạm, với rất nhiều dụng cụ chuyên dùng, nghệ nhân chạm có thể tạo ra các đường nét như ý đó là các đường "chạm án",

"chạm chìm", "chạm đúc nổi", (chạm dương bản)

2.1.1.3 Công đoạn 3 Khảm đồng:

Nghề khảm đồng cũng là nghề đặc sắc ở Việt Nam, bản chất của công

đoạn này là đưa vào bề mặt của sản phẩm những kim loại quý khác như: vàng, bạc để tạo ra giá trị và tính nghệ thuật cao của sản phẩm Trước tiên các nghệ nhân phải đục trên bề mặt sản phẩm tạo thành hình âm bản cho các hoạ tiết, thiết kế,vừa khớp với những khối âm đã tạo ra từ các kim loại khác, tiếp theo

2.1.1.5 Công đoạn 5 Gò đồng:

Tuỳ theo từng sản phẩm với kích thước, hình dáng nhất định (thường theo độ dày, trọng lượng hạn chế, hình dáng phức tạp) người ta có thể thể hiện bằng phương pháp gò Đây là một nghề có tính nghệ thuật rất cao và độc đáo

Trang 33

Đối với người dân làng nghề Đại Bái, trình độ đúc đồng của họ cũng đã

đạt tới trình độ cao, thành công của các sản phẩm làng nghề đã khẳng định tài năng kỳ lạ của họ Bên cạnh sự thông minh sáng tạo, đôi mắt nhìn chuẩn xác, bàn tay khéo léo và đức tính cẩn trọng, người thợ thủ công còn có bí quyết và kinh nghiệm lâu đời, theo tục truyền từ khâu làm khuôn, nấu đồng, rót đồng thành sản phẩm Từ ý đồ ban đầu, theo đơn đặt hàng, các nghệ nhân phải tiến hành 2 công việc: tạo mẫu và làm khuôn Mẫu thường được đắp bằng sáp hay nến (prafin) Đối với thợ Đại Bái khó nhất là khâu làm khuôn, khuôn phải

được căn cứ vào tượng mẫu, khuôn có nhiều loại nhưng chất liệu thường dùng hơn cả là đất sét, bùn ao, giấy bản, vôi, trấu Người ta dùng bùn ao phơi sấy khô, rây mịn rồi trộn với tro trấu, giấy bản đã giã nhỏ, phơi sấy khô để làm khuôn luyện đồng tinh chất, khuôn tạo hình thì làm bằng đất sét trắng

Bao giờ cũng nung khuôn trước khi đúc, sự điều chỉnh nhiệt độ khi nung khuôn là một kỹ thuật khó, đòi hỏi phải tinh vi, cẩn thận và giàu kinh nghiệm Nung sao cho các đường vân trên khuôn không bị xây xước, để khuôn vừa chín, để không bị rạn nứt khi gắn các mảng khuôn không bị gờ gợn chỗ giáp ranh Khi đúc các nghệ nhân chú ý và tập trung mọi cố gắng vào 2 việc nấu đồng và rót đồng vào khuôn Nấu đồng nguyên chất và pha các kim loại khác theo tỷ lệ rất nghiêm ngặt để tạo đồng hợp kim Họ thường cân đong lượng đồng bằng mắt và bằng tay (nghĩa là ước lượng một cách chính xác) không có máy móc hiện đại nào trợ giúp Đây thực sự là bí quyết kĩ thuật đặc sắc của nhà nghề

Đối với đúc chuông thì cần cho thêm các kim loại quý hiếm như (vàng, bạc) vào hợp kim đồng Nhưng sự pha chế thêm vàng, bạc bao giờ cũng để

đúc thân và vú chuông nhằm tạo âm thanh vang và ấm khi đánh lên Đồng nấu

đồng thời một lúc dù phải tập trung nhiều lò, rót đồng vào khuôn cũng liên tục, không ngừng nghỉ có như vậy sản phẩm đúc dù lớn đến mấy cũng không

hề có vết chắp nối Người đúc đồng Đại Bái rất tự hào về nghề đúc đồng của mình, một nghề đã trở thành truyền thống quý báu của họ

2.2 Những sản phẩm tiêu biểu của làng nghề

Sản phẩm của đúc đồng Đại Bái mang phong cách riêng của các nghệ nhân tài hoa và nét đặc trưng của địa phương Mỗi sản phẩm của làng nghề

Đại Bái đều được sản xuất với sự kết hợp giữa kỹ thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo với đầu óc sáng tạo nghệ thuật Vì vậy

Trang 34

tổ nghề chung của cả làng là cụ Nguyễn Công Tryền, mỗi xóm lại có ông tổ nghề riêng (gọi là hậu tiên sư) Cụ Phạm Ngọc Thanh là tổ nghề đánh mâm ở xóm Tây, cụ Nguyễn Viết Lai là ông tổ nghề đánh nồi ở xóm Ngoài, cụ Nguyễn xuân Nghĩa , Nguyễn Công Tâm là tổ nghề đánh ấm siêu ở xóm Giữa [3.T16 - 17]

Là một làng nghề đã có thời gian hoạt động lâu năm và có tiếng trên thị trường nên sản phẩm mà làng nghề làm ra rất đa dạng và phong phú cả về mẫu mã cũng như kích cỡ, chủng loại Qua khảo sát thực tế làng nghề trên cơ sở tính chất đã được đưa vào sử dụng trong đời sống và cách phân loại của người dân làng nghề, xin chia sản phẩm thành 2 loại:

2.2.1 Loại hàng gia dụng:

- Nồi đồng (có hai loại là nồi đồng đất và nồi đồng điếu)

- Mâm đồng: có hai loại tròn (có chân và không có chân), loại lục giác

và bát giác

- Sanh đồng

- Chậu thau: có hai loại chậu tắm và chậu rửa mặt

- Siêu đồng: những siêu sản xuất cổ nhất có vòi rất ngắn (ấm đất) sau này khi người thợ tìm ra thuốc hàn đông (vảy hàn) thì siêu đồng mới có vòi dài và uốn cong

2.2.2 Loại hàng thủ công mỹ nghệ:

- Chiêng, thanh la, lệnh

- Mặt hàng ghép tam khí (vàng, bạc, đồng đỏ) loại sản phẩm này mới có hơn trăm năm trở lại đây, do có sự phối hợp giữa gò đồng và nghề kim hoàn

- Lọ hoa, câu đối bằng đồng

- Tranh chữ: chữ thư pháp, tranh tứ quý, tranh đồng quê, tranh Đông Hồ

được đúc bằng đồng

- Tượng phật, tượng Bác Hồ

- Các đồ thờ cúng như: hạc, rùa và hạc, đỉnh đồng, lư hương

Trang 35

- Trống đồng

Đối với hàng thờ cúng trước đây do khách tới tận làng nghề để đặt làm,

là đồ vật linh thiêng nên thái độ và cung cách của người thợ khi làm cũng rất cẩn trọng, tỷ mỉ và ít nhiều cũng gửi vào sản phẩm một chút tâm nguyện Các hoạ tiết trên các sản phẩm đồ thờ thường được chạm khắc rất công phu nên dẫu có trải qua năm tháng thì sản phẩm vẫn luôn giữ được màu sắc và những hoạ tiết trang trí cũng không bị phai mờ

Tranh đúc bằng đồng là thế mạnh của làng Đại Bái, dòng sản phẩm này

có nhiều kích cỡ, phong phú về thể loại, có những bức tranh lớn rộng với diện tích hàng chục mét (để trang trí cho đại sảnh, các công trình văn hoá ) nhưng phổ biến là loại tranh treo tường khổ 0,5 - 1m ngoài ra còn có nhiều cỡ nhỏ,

do đặc thù là sản phẩm được làm từ kim loại nên sản phẩm đúc đồng thường là nặng Nếu như nhẹ thì cũng từ 1 - 5 kg có những sản phẩm nặng tới hàng chục

kg Hình ảnh và đề tài của loại tranh này chủ yếu khai thác từ cuộc sống: tranh phong cảnh, tranh hồn quê và ở Đại Bái vẫn chủ yếu thấy dòng tranh chữ là nhiều hơn cả Hiện nay, làng nghề một số gia đình đã lấy dòng tranh Đông Hồ làm đề tài khai thác và tạo ra những sản phẩm độc đáo của dòng tranh này trên chất liệu đồng

Sản phẩm của Đại Bái mặc dù chưa có những tác phẩm lớn như làng nghề đúc đồng Ngũ Xá, nhưng những đóng góp của làng nghề trong việc gìn giữ và từng bước phát triển nghệ thuật đúc đồng của quê hương cũng là một

điều đáng mừng, sản xuất ra những tác phẩm vừa phục vụ đời sống vật chất, vừa phục vụ đời sống tinh thần, những sản phẩm của làng nghề truyền thống

đã có từ hàng trăm năm nay đã dần dần được khách hàng trong và ngoài nước biết đến

2.3 Cách thức tổ chức, quản lý và hoạt động nghề

Một thực tế cho thấy, cách thức tổ chức và hoạt động nghề ở các làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta trong đó có nghề đúc đồng Đại Bái vẫn trên cơ sở có tính tự phát Trước đây người làm nghề tranh thủ thời gian nhàn rỗi của nông nghiệp và tổ chức sản xuất làm nghề Ngày nay nhiều hộ đã chuyển hẳn sang làm nghề thủ công truyền thống nhưng về cơ bản vẫn là tự phát Cách thức tổ chức hoạt động của làng nghề vẫn còn manh mún và tự phát, phần lớn các gia đình nghệ nhân vẫn sản xuất tại nhà, hàng hoá sản xuất nhiều, mặt bằng sản xuất chật chội, tận dụng mọi chỗ mọi nơi trong không

gian sống của mình làm nơi sản xuất

Trang 36

Phần lớn các cơ sở sản xuất ở các làng nghề truyền thống vẫn là hộ gia

đình, chiếm tới 90% số lượng các cơ sở sản xuất ở các làng nghề Thực tế, có nhiều hộ gia đình có thể phát triển thành công ty riêng, nhưng do trình độ nhận thức chưa cao, mặt khác do chưa có nhu cầu nên họ vẫn chỉ dừng lại ở hình thức hộ gia đình Nguyên nhân là do đặc thù sản xuất làng nghề với các thao tác công nghệ còn đơn giản, tận dụng sức lao động thủ công là chính, không đòi hỏi mô hình quản lý phức hợp Hiện nay cũng chưa có nhà đầu tư nước ngoài nào tham gia đầu tư vào lĩnh vực sản xuất làng nghề

Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp sản xuất hàng thủ công được thành lập, tập hợp lao động có tay nghề ổn định, đầu tư máy móc, thiết kế mẫu mã mới, chủ động tìm kiếm thị trường Đặc điểm của các doanh nghiệp làng nghề là giám đốc là người địa phương, có trình độ văn hoá, có tay nghề, nắm bắt tình hình phát triển hàng hoá địa phương mình, có sự nhanh nhạy về thị trường đã đứng ra thành lập công ty Đồng thời các doanh nghiệp sản xuất thu gom hàng hoá cho các hộ gia đình, vừa hướng dẫn đầu tư vốn và đào tạo tay nghề để mở rộng cơ sở sản xuất Ví dụ như công ty Hoài Anh, công ty Điệp Nhung, Hợp Thành Chính sự ra đời của những công ty này đã làm thay đổi căn bản hình thức tổ chức và hoạt động của làng nghề Các công ty và cụm công nghiệp có vốn đầu tư lớn, có cơ ngơi nhà xưởng khang trang, rộng rãi và

đầu tư máy móc như: máy đánh bóng, máy phun sơn, máy dập Các công ty

có khả năng thực hiện các hợp đồng lớn hàng tỷ đồng, để phát triển sản xuất,

họ thuê thêm nhiều lao động đồng thời thuê luôn chính các gia đình, các tổ hợp sản xuất nhỏ và biến họ thành những cơ sở tinh nhuệ chuyên sản xuất cho mình

Trong xu hướng phỏt triển của làng nghề Đảng bộ xó Đại Bỏi (Gia Bỡnh) nhiệm kỳ lần thứ XIX (2005- 2010) đề ra mục tiờu: phấn đấu đến năm

2010 doanh thu từ tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đạt 60 tỷ đồng, khuyến khớch cỏc cụng ty, HTX tiểu thủ cụng nghiệp và cỏc hộ vào sản xuất tại khu cụng nghiệp làng nghề Đõy là mục tiờu lớn đũi hỏi sự cố gắng nỗ lực của chớnh quyền cựng người dõn Đại Bỏi nhằm tỡm hướng phỏt triển vững chắc trong cơ chế thị trường Trước sự phỏt triển sụi động của làng nghề và nhu cầu cú mặt bằng sản xuất trong những năm vừa qua UBND tỉnh Bắc Ninh đó cho phộp Đại Bỏi hỡnh thành cụm cụng nghiệp xó, nhằm thu hỳt cỏc doanh nghiệp tư nhõn đầu tư vào sản xuất, cải tiến kỹ thuật, mỏy múc, tỡm kiếm thị trường xuất khẩu cũng như là giảm sự ụ nhiễm làng nghề Sau hơn một năm đi vào hoạt

Trang 37

động, cụm cụng nghiệp làng nghề Đại Bỏi đó thu hỳt được nhiều doanh

nghiệp tư nhõn lớn, nhỏ, trong đú đỏng kể là Cụng ty Hợp Thành, chuyờn sản

xuất đồ đồng, lõu nay trở thành một trong những doanh nghiệp cú tiếng của

tỉnh Bắc Ninh, doanh thu mỗi năm lờn đến cả chục tỷ đồng, vừa được Chớnh

phủ tặng bằng khen năm 2005 Bờn cạnh đú là Cụng ty Đồng Anh, cú vốn cố

định hơn 10 tỷ đồng, xõy dựng 2 xưởng sản xuất trong cụm cụng nghiệp, lắp

đặt dõy chuyền Hàn Quốc kộo dõy tải điện, hiện cụng ty mới bắt đầu đi vào

sản xuất Sự thành cụng của cụm cụng nghiệp Đại Bỏi sẽ gúp phần nõng thời

gian sử dụng lao động, tạo thờm nhiều cụng ăn việc làm mới cho người lao

động nơi đõy cũng như là cỏc vựng lõn cận

Tuy đã có những chuyển đổi căn bản trong cách thức tổ chức hoạt động

nghề, song một số phương diện, làng nghề Đại Bái vẫn còn tỏ ra manh mún và

tự phát Các chủ hộ tự thuê thợ, tự quản lý nhân công, tự quản lý mảng giao

nhận và bán hàng Mỗi gia đình như một công ty sản xuất riêng và họ tận

dụng mọi nơi mọi chỗ trong gia đình để làm cơ sở sản xuất Bên cạnh đó thì

nhiều hộ sản xuất vẫn phải thụ động ngồi chờ nguồn việc làm, chờ các đơn đặt

hàng Với quy mô sản xuất như hiện nay, nhiều bất cập đã nảy sinh trong quá

trình hoạt động của một làng nghề và nhất là về không gian sản xuất, môi

trường sống của nhân dân

2.4 Sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm

Biểu 1: Số lượng hộ, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong làng

nghề Đại Bái:

STT Xóm Số hộ Công ty

TNHH

Doanh nghiệp tư nhân

HTX TCN

Làng nghề có 32 dòng họ, cả 32 dòng họ đều tham gia sản xuất ngành

nghề do tính gia truyền của dòng họ mà các sản phẩm sản xuất ra khác nhau,

Trang 38

mỗi sản phẩm mang một vẻ khác nhau nhưng do lượng tiêu thụ sản phẩm hiện nay nên việc sử dụng máy móc nhiều vào sản phẩm dân dụng như: đúc xoong, nồi, mâm, siêu, là chủ yếu do các đơn vị luôn có xu hướng cạnh tranh nhau

để đạt được thị hiếu của khách hàng về phía đơn vị mình Còn các mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì chủ yếu là các nghệ nhân và những người thợ lành nghề tham gia vào sản xuất, những hoạ tiết hoa văn được đúc trên nguyên liệu là kim loại đồng không giống với các sản phẩm như gỗ, giấy, tre, gốm nên đòi hỏi phải có kỹ thuật tinh xảo, phải có bí quyết gia truyền mới có thể tạo nên những sản phẩm độc đáo Đây là một dấu hiệu tốt tạo cho việc hoàn thiện các sản phẩm, khắc phục dần các nhược điểm, đổi mới mẫu mã chủng loại tạo nên sức đột phá mới hình thành nên các loại hình mới

Nếu như trước những năm 1980 nghề đúc đồng Đại Bái chưa xác lập

được vị trí trên thương trường là bao nhiêu thì nay cùng với việc chế tác ra những sản phẩm mang tính thẩm mỹ cao, mẫu mã đa dạng, cách thức kinh doanh linh hoạt, uy tín và doanh thu của làng nghề đã ngày một được khẳng

định và đã có tiếng vang lớn (Mặt hàng của Đại Bái ngày càng đa dạng phong phú cả về thể loại và giá cả, đồ đồng mỹ nghệ đòi hỏi một quy trình thực hiện công phu và kĩ thuật tinh xảo nên giá cả cũng rất phong phú, tuỳ từng loại mà giá khác nhau, có thể từ 300 -500 nghìn đồng hoặc từ 2 - 5 triệu đồng/1 sản phẩm, nhưng cũng có giá vài chục đến hàng trăm triệu/ 1 sản phẩm) Sản phẩm của Đại Bái đã có mặt tại các cửa hàng, cửa hiệu ở các thành phố lớn, không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu đi nhiều nước khác trên Thế giới Đặc biệt sản phẩm đồng Đại Bái ngày càng được thị trường thế giới ưa chuộng, đơn đặt hàng của đúc đồng Đại Bái từ những thị trường khó tính như: Nhật Bản, Hàn Quốc ngày càng tăng Bên cạnh đó, người dân Đại Bái không chỉ mạnh dạn đầu tư cơ sở sản xuất, tổ chức liên kết liên doanh hình thành cụm công nghiệp sản xuất như đã trình bày ở trên mà còn nhanh nhạy tiếp cận với những kĩ thuật mới như: máy cán, máy dập, máy

đánh bóng để thay thế một số công đoạn thủ công

Trong kinh doanh, nhiều hình thức phân phối và tiêu thụ sản phẩm được người dân Đại Bái sử dụng linh hoạt: bán xỉ, bán lẻ, chào hàng và bán hàng cho các cửa hàng, ngay cả biện pháp đầu tư vốn, đầu tư nguồn hàng cho khách rồi thu hồi vốn sau để tạo lòng tin Đặc biệt làng nghề cũng đã biết đến các hình thức kinh doanh hiện đại, tuy là việc áp dụng chưa được bài bản như các kiến thức về: marketing, chào hàng, quảng cáo trên báo, trên mạng, tham gia các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước là một hình thức quảng bá hữu

Trang 39

hiệu Đây là biện pháp tốt để xây dựng thương hiệu cho làng nghề Theo điều tra thực tế cho thấy hiện nay các hộ kinh doanh, các công ty tư nhân tại làng nghề Đại Bái đã hình thành cho mình một website riêng để bán hàng và giới thiệu sản phẩm Nghệ nhõn trẻ Nguyễn Văn Điệp - chủ cơ sở sản xuất Điệp Nhung là người đi tiờn phong của làng nghề Đại Bỏi trong việc xõy dựng thương hiệu Ngoài việc nõng cao chất lượng và thường xuyờn đổi mới mẫu

mó hàng hoỏ, từ năm 2007 anh Điệp đó lập cho cơ sở sản xuất của mỡnh website riờng Anh Điệp cho biết: “í tưởng xõy dựng thương hiệu và quảng

bỏ sản phẩm rộng rói cho làng nghề đó được chỳng tụi nung nấu từ lõu nhưng đến bõy giờ khi UBND tỉnh cú Quyết định hỗ trợ việc xõy dựng thương hiệu

và đăng ký bảo hộ nhón hiệu hàng húa mới cú điều kiện thực hiện” Hiện tại,

cơ sở Điệp Nhung đó xõy dựng xong website riờng dự cũn khỏ đơn giản về giao diện, mới chỉ đơn thuần là đưa hỡnh ảnh cỏc sản phẩm lờn website chứ chưa cú những bài giới thiệu sõu về làng nghề, quỏ trỡnh sản xuất, chưa cú chức năng đặt hàng và thanh toỏn trực tuyến… Cũn lại một số cỏc doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở làng nghề này mới chỉ quảng cỏo nhờ trờn một số website thương mại nhưng cũng khụng thường xuyờn, điều này dẫn đến hiệu quả quảng bỏ khụng cao vì vẫn còn thiếu kinh nghiệm cũng như chuyên môn

Còn với thị trường tiêu thụ rộng rãi, sản phẩm phong phú, đa dạng như

hiện nay Mỗi năm doanh thu từ nghề đúc đồng Đại Bái là hàng chục tỷ đồng

và phát triển theo từng năm Sự phát triển mạnh mẽ của nghề đúc đồng đã làm

thay đổi bộ mặt của làng Đại Bái, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống

Tuy nhiên, hình thức sản xuất phân phối và tiêu thụ sản phẩm của làng

Đại Bái hiện nay vẫn không thoát khỏi tình trạng nhỏ lẻ manh mún, tại chỗ

Trang 40

Sản phẩm làm ra thường do các chủ hàng tiêu bao, họ đầu tư vốn sản xuất và

họ chi phối các cơ sở sản xuất bởi giá, mẫu mã sản phẩm và thời gian giao hàng Bởi vậy nên người sản xuất được hưởng không đáng là bao từ giá trị

đích thực của sản phẩm mà mình làm ra Quan trọng hơn khi các sản phẩm này ra khỏi phạm vi lãnh thổ địa phương thì không còn dấu hiệu nào để nhận biết xuất xứ của chúng nữa Thứ duy nhất mà người tiêu dùng trong nước cũng như nước ngoài biết đến nguồn gốc của sản phẩm chính là lôgô, tem nhãn của các đơn vị phân phối sản phẩm

Xã hội không ngừng phát triển, thị trường mà cụ thể ở đây chính là nhu cầu thẩm mỹ của con người thay đổi, việc trưng bày các sản phẩm thủ công

mỹ nghệ vẫn là xu thế của người tiêu dùng Nhưng nhu cầu này ngày càng đòi hỏi trình độ nghệ thuật cao và các sản phẩm trưng bày ngày càng phong phú

và đa dạng Điều đó cũng có nghĩa là các mặt hàng bằng đồng cũng đang bị cạnh tranh

Dễ nhận thấy rằng, trong những năm gần đây, đồ gỗ đang có xu hướng lên ngôi Một phần do đồ gỗ sang trọng và ít chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh hơn so với đồ đồng Nếu như so sánh về mặt giá cả thì chắc chắn

đồ đồng có giá trị cao hơn với đồ gỗ, nhưng còn một nguyên nhân nữa hiện nay là mẫu mã các mặt hàng bằng gỗ đa dạng và rất phong phú và đặc biệt người sử dụng cũng dễ tìm mua

Thị trường ngày càng có sự cạnh tranh khốc liệt ngay cả với bản thân trong các hộ gia đình sản xuất cùng một mặt hàng cũng có sự cạnh tranh rõ rệt, gia đình nào có hàng đẹp và độc đáo sẽ thu hút được khách hàng mua nhiều hơn Nói rộng hơn, cũng chính là sự cạnh tranh của các làng nghề cùng sản xuất một mặt hàng đồng, nhưng mỗi làng có một bí quyết, một nghệ thuật riêng, đây cũng là cơ sở để mỗi làng nghề phát huy thế mạnh của mình

Sự cạnh tranh khốc liệt hơn nữa giữa các mặt hàng mỹ nghệ trang trí với nhau Làng nghề đúc đồng Đại Bái chắc chắn sẽ phải cạnh tranh với làng làm chạm khảm gỗ Thị trường biến đổi đòi hỏi những hộ gia đình sản xuất kinh doanh sản phẩm đồng phải có những thay đổi, những kế hoạch bắt kịp và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Như vậy, nghề đúc đồng Đại Bái mới có cơ hội tìm lại được vị trí của mình trong xã hội hiện đại

2.5 Tính truyền thống của làng nghề trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w