1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy hát ví phường vải ở xã kim liên, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an

82 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nhắc đến nền văn hóa dân gian của xứ Nghệ, trước hết phải nói đến dân ca Ví, Giặm một di sản không thể thiếu của mảnh đất này, với chất liệu trữ tình đằm thắm và sâu lắng dân ca Ví,

Trang 1

 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA- NGHỆ THUẬT

KHÓA LUẬN CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa- nghệ thuật

ĐỀ TÀI

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI

Ở XÃ KIM LIÊN, HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

 

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Cao Đức Hải - Giảng viên khoa Quản lý văn hóa - Trường đại học Văn hóa Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ bảo cho em trong quá trình thực hiện khóa luận

Em cũng xin chân thành cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo khoa Quản

lý văn hóa - Trường đại học Văn hóa Hà Nội đã trang bị cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập

Cuối cùng, em muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến giá đình, bạn bè, các nghệ nhân trong Câu lạc bộ hát ví phường Vải Kim Liên, chú Trịnh Hưng Minh Giám đốc Trung tâm Văn hóa huyện Nam Đàn… đã luôn hỗ trợ, động viên, đóng góp ý kiến, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận

Tuy nhiên, do thời gian và trình độ còn hạn chế nên khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Từ Thị Hiền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp đề tài: “Bảo tồn và phát huy hát

ví phường Vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An” Những vấn đề

nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực

Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2015 Sinh viên

Từ Thị Hiền

 

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

1 Lý do chọn đề tài   1 

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu   3 

3 Mục đích nghiên cứu   3 

4 Phương pháp nghiên cứu   4 

5 Đóng góp của đề tài   4 

6 Bố cục khóa luận   4 

CHƯƠNG 1   5 

KHÁI QUÁT VỀ HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI Ở XÃ KIM LIÊN,   5 

HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN   5 

1.1 Khái quát về vùng đất và con người ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An   5 

1.1.1 Vị trí địa lý   5 

1.1.2 Khí hậu   6 

1.1.3 Con người   6 

1.2 Giới thiệu khái quát về một số thể loại hát ví của dân ca xứNghệ   8 

1.3 Vài nét về hát ví phường Vải   13 

1.3.1 Nguồn gốc của hát ví phường Vải   13 

1.3.2 Nội dung của hát ví phường Vải   16 

1.3.3 Diễn biến của một cuộc hát ví phường Vải   18 

1.3.4 Quá trình chuyển biến của hát ví phường Vải   23 

CHƯƠNG 2   27 

THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY   27 

HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI Ở XÃ KIM LIÊN, HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN   27 

2.1 Đặc trưng của hát ví phường Vải Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An   27 

2.2 Giá trị của hát ví phường vải   29 

2.2.1 Giá trị lịch sử   29 

2.2.2 Giá trị văn học   31 

2.2.3 Giá trị tư tưởng   32 

2.2.4 Giá trị âm nhạc   34 

2.3 Cơ sở pháp lý để bảo tồn và phát huy hát ví phường vải   36 

2.4 Các hình thức bảo tồn và phát huy hát ví phường vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An   39 

Trang 5

2.4.1 Đầu tư về cơ sở vật chất   39 

2.4.2 Bảo tồn và phát huy trên phương diện nghiên cứu và sưu tầm   41 

2.4.3 Phối hợp đưa hát ví phường Vải vào trong các trường học   43 

2.4.4 Phổ biến hoạt động văn nghệ quần chúng trong quần chúng nhân dân   45 

2.4.5 Hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ   46 

2.4.6 Thành lập trung tâm bảo tồn và phát huy hát ví phường Vải   47 

CHƯƠNG 3   50 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ   50 

CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI   50 

Ở XÃ KIM LIÊN, HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN   50 

3.1 Đánh giá công tác bảo tồn và phát huy hát ví phường Vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An   50 

3.1.1 Thành tựu   50 

3.1.2 Hạn chế   51 

3.2 Tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy di sản hát ví phường Vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An   53 

3.3 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy hát ví phường vải   56 

3.3.1 Chế độ chính sách đối với nghệ nhân và tăng cường đào tạo đội ngũ kế cận hệ kế cận hát ví phường vải   56 

3.3.2 Gắn hát ví phường Vải với phát triển du lịch   58 

3.3.3 Tuyên truyền, quảng bá cho hát ví phường Vải   60 

3.3.4 Sáng tác ca khúc mới   62 

3.3.5 Xã hội hóa sinh hoạt văn hóa hát ví phường Vải   64 

3.3.6 Một số giải pháp khác   67 

KẾT LUẬN   69 

TÀI LIỆU THAM KHẢO   71 

PHỤ LỤC ẢNH   1 

Trang 6

MỞ ĐẦU  

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ An từ lâu đã được biết đến là miền đất có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đất đai cằn cỗi Song con người xứ Nghệ rất chịu thương chịu khó, kiên trì chống chọi được mọi thử thách và gian khổ Nghệ An là một trong những địa phương giàu truyền thống lịch sử và cách mạng, nơi đã sinh ra nhiều bậc hiền tài cho đất nước Rất nhiều người con ưu tú của Nghệ An đã trở thành những anh hùng trong công cuộc cứu nước vĩ đại đó như Phan Bội Châu, Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…và tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới

Khi nhắc đến nền văn hóa dân gian của xứ Nghệ, trước hết phải nói đến dân ca Ví, Giặm một di sản không thể thiếu của mảnh đất này, với chất liệu trữ tình đằm thắm và sâu lắng dân ca Ví, Giặm là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân xứ Nghệ.Câu ca xứ Nghệ đã bao đời nay cứ vang lên mãi trong lòng người xứ Nghệ và nhân dân cả nước

“Ai đi vô nơi đây, xin dừng chân xứ Nghệ

Ai đi ra nơi đây, xin dừng chân xứ Nghệ Nghe câu hò, ví dặm càng lắng lại càng sâu Như sông Lam chảy chậm, đọng bao thuở vui sầu”…

Nam Đàn - một miền quê của xứ Nghệ, mảnh đất thấm đượm nghĩa tình

và truyền thống hiếu học, nơi có điệu hát ví phường Vải một thể loại đặc trưng của dân ca Nghệ Tĩnh Hát ví phường Vải Kim Liên - Nam Đàn có những nét độc đáo khác với các điệu dân ca khác, nó man mác, tình cảm và

Trang 7

chân chất quê mùa của con người nơi đây Tuy mang những nét đẹp đơn sơ, giản dị và gần gũi với cuộc sống con người nhưng nó vẫn toát lên giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh rõ bản sắc văn hóa của vùng đất Nam Đàn với đặc trưng riêng Hát ví phường Vải phản ánh cuộc sống sinh hoạt và phong tục tập quán của nhân lao động Nam Đàn, nó thể hiện những ước mơ, những suy nghĩ, những nhận thức của người dân về tình yêu quê hương đất nước, về tình yêu đôi lứa

Cũng như các làn điệu dân gian khác thì hát ví phường Vải cũng tồn tại

và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng phương thức truyền miệng,

vì vậy theo dòng chảy thời gian nó cũng luôn chịu tác động bởi nhiều yếu tố

Từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều sách báo, nhiều nhà sưu tầm nghiên cứu về hát ví phường Vải ở các mặt, các khía cạnh khác nhau Các tác giả phải kể đến là: Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi, Vi Phong…

Hiện nay, trong bối cảnh xu thế hội nhập toàn cầu hóa, nền văn hóa nước

ta có cơ hội giao lưu học hỏi các nền văn hóa trên thế giới, đồng thời cũng có nhiều nền văn hóa trên thế giới du nhập vào Việt Nam, trong dòng chảy của nền văn hóa đó cùng với sự tiếp thu văn hóa tiên tiến của thế giới thì dường như dòng văn hóa truyền thống đang ngày càng mai một và dần đi vào quên lãng Thế hệ trẻ không còn hứng thú và ham học hỏi các loại hình nghệ thuật truyền thống vì trào lưu nhạc trẻ, nhạc thị trường đang thịnh hành Đứng trước tình hình đó thì trong Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ V ra Nghị Quyết về “Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Hơn lúc nào hết công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc biệt là các làn điệu dân ca là mối quan tâm hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân

Trang 8

Nam Đàn là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, giàu truyền thống văn hóa Việc bảo tồn và phát huy hát ví phường Vải không chỉ mang lợi ích về mặt tư tưởng mà còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc khác

Xuất phát từ lý do trên, việc nghiên cứu tìm hiểu bản sắc văn hóa, quá trình trình diễn xướng, giá trịcũng như những nét đẹp của hát ví phường Vải ở

xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An hiện nay là một việc làm cần thiết nhằm khôi phục một số hình thức hát ví ở Kim Liên, dân ca Nghệ An cũng như của dân tộc Việt Nam và từ đó có thể đưa ra đề xuất, giải pháp về việc giữ gìn, sưu tầm, bảo tồn và phát huy các giá trị đó

Được sinh ra và lớn lên trên quê hương Nam Đàn – Nghệ An Với tư cách là một sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa – Trường Đại học Văn

hóa Hà Nội tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy hát ví phường

Vải ở xã Kim Liên, huyên Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Hát ví phường Vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An + Công tác bảo tồn và phát huy hát ví phường vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu: Hát ví phường Vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy hát ví phường Vải ở

xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 9

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy hát ví phường Vải

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Nghiên cứu tài liệu

Chương 3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn

và phát huy hát ví phường Vải ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI Ở XÃ KIM LIÊN,

HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 1.1 Khái quát về vùng đất và con người ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Kim Liên trước đây được gọi là Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn là một trong những vùng đất nổi tiếng của Nghệ An Xã Kim Liên có làng Kim Liên, làng Hoàng Trù cùng với các làng: Ngọc Đình, Vân Hội, Tình Lý, Khoa Cử và Cường Kỵ Các làng này đều bao quanh núi Chung

Núi Chung là một thắng cảnh trong vùng, cũng là một di tích lịch sử Trên đó có đền thờ Nguyễn Đắc Đài, một thướng thời nhà Trần có công đánh quân xâm lược

Phía Đông Nam là dãy Lam Thành với ba ngọn núi Triều Khẩu, Phượng Hoàng, Nghĩa Liệt đứng kề ngã ba Tam Chế - Sông Lam Ở đây có thành Lam, nơi có kỳ tích “ăn cỗ đầu người” của Nguyễn Biểu - một danh thần đời Trần Trùng Quang, khi ông giáp mặt đối đầu với giặc Minh là Trương Phụ Phía Tây có Hùng Sơn, ở đó có thành Vạn An đền thờ Mai Hắc Đế Phía Bắc có núi Đại Vạc, Đại Huệ thế núi nguy nga rất đẹp, ở đây còn có dấu vết Thành Quách Hồ Qúy Ly và Hồ Hán thương trong hai cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc dưới ngọn sóng xâm lăng của triều đình phong kiến phương Bắc

Phía dưới Đại Huệ là dãy Đại Hải, nơi có mộ tổ vua Quang Trung - Nguyễn Huệ Bên dòng sông Lam cách Kim Liên 4km về phía Tây là làng

Trang 11

Đan Nhiệm, nơi chông ra cắt rốn của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu – người đã dương cao ngọn cờ yêu nước chống thực dân Pháp trong hai mươi năm đầu thế kỷ XX

Phía Tây Nam là dãy Thiên Nhẫn trùng điệp, ở đó có thành Lục Niên – đại bản doanh Lê Lợi

Khí hậu vùng đất Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An đã để lại cho những con người, những ai biết đến nơi đây một ấn tượng sâu sắc là không được thiên nhiên ưu ái, nắng lắm mưa nhiều, đất đai cằn cỗi Mùa hè nắng cháy oi bức, mùa đông mưa dầm kéo dài hàng tuần, heo may rét lạnh hàng tháng Tuy nhiên do địa hình phức tạp, lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm nên hạn hán, lũ lụt là mối đe dọa thường xuyên đối với sản xuất và cuộc sống của con người nơi đây Hoàn cảnh thiên nhiên đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến tính cách và tâm lý của con người nơi đây, họ đã phải đổ ra rất nhiều sức lực

và trí tuệ trong cuộc đấu tranh với tự nhiên để sinh tồn và xây dựng quê hương của mình

1.1.3 Con người

Người Kim Liên có bản sắc riêng của mình, dù đi đâu hay làm gì thì người ta cũng có thể nhận ra con người Kim Liên thông qua cử chỉ, việc làm, tình cảm cũng như cách cư xử, đối đãi với mọi người và phong tục tập quán

Trang 12

của họ Từ xưa vùng Kim Liên đã nổi tiếng là nơi có thuần phong mỹ tục, có truyền thống hiếu học và là con người nặng tình nghĩa

Nam Đàn ơi! Dẫu rằng đi cùng đất cuối trời, Vẫn nặng lòng thương nhớ Nam Đàn ơi

Con người Nam Đàn nói chung và người dân Kim Liên nói riêng từ bao đời nay họ sống rất nặng nghĩa tình, có tinh thần đoàn kết tương thân tương

ái Dù ở xa hay ở gần họ vẫn luôn yêu thương nhau Dù đi đâu về đâu thì con người nơi đây vẫn luôn nhớ về quê hương của mình, nặng lòng thương nhớ nơi chôn rau cắt rốn Đúng như câu hát đi vào lòng người từ bao thế hệ “ Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” Tinh thần đó, tình yêu quê hương đó luôn hiện hữu trong tâm trí của mỗi người con xa quê, và chúng ta không thể không nhắc đến vị lãnh tụ kính yêu, người con của quê hương Kim Liên trước lúc lâm thành vẫn vương vấn khôn nguôi về nơi mà mình đã sinh ra, Bác muốn nghe câu hò nơi quê hương đã từng nuôi lớn tâm hồn của Bác “Chuyện kể rằng trước lúc người đi xa Bác muốn nghe một câu

hò xứ Nghệ” Kim Liên, mảnh đất cằn cỗi, gian khó nhưng một ai là người con của quê hương yêu dấu này thì luôn thấy tự hào vì đã sinh ra những con người, những anh hùng cống hiến cả tuổi trẻ, xương máu cho đất nước Việt Nam

Người dân Kim Liên cũng rất hiếu học Những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Nam Đàn có 4 người học giỏi nổi tiếng được mệnh danh là tứ hổ thì làng Kim Liên đã có tới 3 người Đó là Vương Thúc Qúy, Trần Văn Lương và Nguyễn Sinh Sắc Công việc cúng tế, cưới xin, hội hè… bao giờ cũng được họ tổ chức một cách nghiêm trang, nề nếp và quy củ, hiếu đạo cũng là một đức tính của người dân nơi đây

Trang 13

Về sinh hoạt tinh thần thì vùng quê Kim Liên có nét bản sắc đậm đà Nổi bật là những đêm hát phường Vải Hát phường Vải là môi trường để anh chị

em giải trí với nhau, cũng là môi trường thi tài thử trí của cả nam thanh nữ tú Sau những ngày lao động vất vả, những thời gian rỗi họ vừa làm thêm việc phụ để kiếm kế sinh nhai họ vừa hát hò, đối đáp để giải trí quên đi những mệt nhọc trong cuộc sống Nhờ những buổi sinh hoạt này mà ngày xưa nhiều người không biết chữ nhưng khi nói đến nghĩa lý thì họ lại thông hiểu đến mức sâu sắc và triết lý, đặc biệt là người phụ nữa và bà Hoàng Thị Loan – thân mẫu của Bác là người tiêu biểu cho tinh thần đó

Thiên nhiên khắc nghiệt, lịch sử lắm gian nan, thử thách đã tạo nên nhân cách con người Kim Liên cần cù và sáng tạo, kiên trung và nghĩa hiệp, cầu thị

và học giỏi Trên mảnh đất này“Thời nào cũng có danh nhân, có nhiều bậc anh hùng tài cao chí lớn” đã làm rạng danh quê hương đất nước Trải qua bao đời từ thời tiền sơ sử đến nay, Kim Liên không chỉ có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sử dân tộc mà đã kiến tạo nên một vùng văn hoá đặc sắc

1.2 Giới thiệu khái quát về một số thể loại hát ví của dân ca xứNghệ

Dân ca là những câu hát do nhân dân sáng tác trong quá trình lao động

và sản xuất được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng các hình thức khác nhau, được nhân dân ta hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc

Ngày 27/11/2014, tại Thủ đô Paris (Pháp), dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

đã chính thức được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại, đây là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được tôn vinh trên trường quốc tế

Trang 14

Dân ca Ví, Giặm có một sức sống cực kì mãnh liệt Sức sống ấy không phải chỉ có ở quá khứ, mà đến nay nó vẫn đang không ngừng sinh sôi nảy nở trong chính tâm hồn người dân xứ Nghệ hôm nay Chẳng thế mà người xứ Nghệ có câu nói nổi tiếng rằng: “Bao giờ người xứ Nghệ mất đi giọng nói thì lúc đó mới mất đi tiếng hát dân ca Ví, Giặm”

Dân caxứ Nghệcũng như dân ca của các vùng miền khác đó là nó có rất nhiều thể hát Nhưng đặc trưng nhất của dân caxứ Nghệ có 3 thể hát chính: thể hát ví, thể hát dặm và thể hát hò Ngoài ra còn có một số thể hát ngoại lại được Nghệ hóa như hát ru, hát đồng dao, hát xẩm… Dù ở thể loại nào thì dân

ca Nghệ Tĩnh cũng luôn phản ánh được tinh thần, nguyện vọng và cũng như

sự phát triển của lịch sử xã hội

Hát ví là một thể hát dân ca đặc biệt trong kho tàng Văn hóa của xứ Nghệ, nguồn gốc của ví, có người cho là “Ví von” vì câu hát thường hay so sánh ví von, theo Ninh Viết Giao “Ví” là “Với” bên nọ hát với sang bên kia, ngoài ngõ hát “Với” vào sân nhà Hát ví chỉ xuất hiện và lưu truyền ở Nghệ Tĩnh bởi vì chính điều kiện tự nhiên, hình thức sản xuất và tinh thần của người dân nơi đây đã hình thành nên một nét phong tục tâp quán riêng biệt và đặc sắc

Hát ví xứ Nghệ là dân ca trữ tình, hát đối đáp giao duyên giữa nam và

nữ, là dân ca lao động

Theo sách “Địa chí Nghệ Tĩnh” có 12 điệu ví Theo thống kê của Vi Phong thì có khoảng 20 điệu ví Tên của các điệu ví xứ Nghệhầu hết đều phản ánh môi trường lao động và đặc biệt đều gắn với các phường hội nghề nghiệp Tại xứ Nghệ hát ví có: Ví phường Vải, ví phường Nón, ví phường Cấy, ví phường Củi, ví phường Đan, ví phường Buôn, ví phường Nốc, ví đò đưa, ví phường Vàng, ví đò đưa… Sau đây tôi xin trình bày một số thể loại ví cụ thể:

Trang 15

* Ví phường Buôn:

Hát ví phường Buôn thường gắn với những người chuyên sinh sống bằng đòn gánh đè vai lấy công Tùy theo loại nông sản hoặc hàng hóa mà thành các phường như: phường buôn chè, phường buôn chiếu, phường buôn nâu… mỗi lần đi chợ, đó là lúc họ tìm kiếm đồng tiền để sinh tồn những cũng là dịp họ gặp nhau, gần gũi, họ thường tổ chức các cuộc hát ví Thông thường những đêm trước ngày phiên chợ nghỉ lại quá là những đêm người ta tổ chức sinh hoạt văn nghệ Hoặc do phe nam trong làng, hoặc do người khác cùng đi chợ kéo nhau tìm bạn mà gây nên cuộc hát

* Ví phường Cấy:

Người dân Nghệ Tĩnh đã phải chịu đựng bao nhiêu cơ cực và khó khăn với thiên nhiên hà khắc quanh năm như gió Lào, hạn hán, lũ lụt Trong chế độ phong kiến cuộc sống làm thuê một nắm hai sương, người nông dân đi cày cấy trước khi trời chưa sáng trong màn sương dày đặc Để biểu lộ tình cảm với nhau trên đồng ruộng, câu hát ví được hình thành trong hoàn cảnh đó, nó mang tính chất bàng bạc, u uất, bâng khuâng, điển hình là câu “Người ơi” bắt đầu vào cuộc ví

*Ví phường Đan:

Ngay ở tên gọi chúng ta đã biết thể loại hát ví này gắn bó với nghề đan lát ở Ngọc Đình – Làng Sen – Xuân La – Nam Đàn, đóng bè đan lát các đồ dùng như: nong, nia, rổ, rá…

Nhân dân tranh thủ lúc nông nhàn, tranh thủ lúc buổi trưa, buổi tối để làm Đàn ông thì chẻ lạt, vót nan, trẻ con thì sắp xếp từng loại, còn đàn bà thì đan Một người nổi hứng hát lên câu, nên bài cả nhà đều hưởng ứng rồi dần dần hàng xóm, anh em mang theo nan lát, vừa làm vừa ca hát có hát công việc của họ mới bớt buồn tẻ, năng suất tăng lên Từ đấy ví phường Đan phát triển

Trang 16

* Ví phường Củi:

Là loại hoạt động thường xuyên có những dịp gặp gỡ giữa nam và nữ do

đó những cuộc hát sinh hoạt được tổ chức liên tục và dưới nhiều hình thức sinh động hoặc vừa làm vừa hát, người này nối tiếp người kia Hát trong khi gánh củi, hát lúc nghỉ dọc đường hay hát sau khi đi củi cỏ về Loại hát này có tính chất tranh thủ, nó hình thành tự phát, ít khi theo thủ tục chặt chẽ Mặc dầu vậy, nó có sức quyến rũ Những nam thanh nữ tú coi những cuộc hát này

là cơ hội tập luyện

* Ví Đò đưa:

Cũng có nơi gọi là ví phường nốc, cũng là một loại sinh hoạt đặc biệt của

ví do điều kiện đi làm trên sông nước mà có

Ví Đò đưa có đặc điểm là hát đối đáp nam nữ khi chèo thuyền, chống thuyền Thông thường hai phe ở trên hai thuyền khác nhau nhưng cùng đi theo một tuyến, cũng có khi người hát không phải là người chèo thuyền mà là khách đi thuyền, phe nam, phe nữ hát đối đáp nhau Hát như vậy cũng được gọi là hát cuộc, còn người vừa chèo hoặc chống mà hát một mình thì gọi là hát buông hát lẻ

Về mặt âm nhạc, tuy cũng có hát ví nhưng do lao động chèo chống mệt nhọc nên giọng hát cũng có một số biến dạng nhất định Làn điệu, thủ tục của hát ghẹo nối đều như hát ví phường Vải Thực tế nước lụt ảnh hưởng ít nhiều đến mùa màng nhưng đồng thời tạo hoàn cảnh rảnh rỗi cho người nông dân nơi đây Người ta chờ nước rút bằng cách tổ chức cuộc hát Mỗi nhóm ngồi trên một nốc cắm cách nhau không xa, xung quanh còn có nhiều nốc khác của người dự thính hay tiếp cho cuộc khác Hát ghẹo nốc cũng trải qua ba bước nhưng đặc biệt ở đây ít có các nho sĩ đóng vai trò trùm đầu “Thầy gà” như ở

ví phường Vải

Trang 17

* Ví phường Vải:

Ví phường vải là hát ví của người dệt vải, cạnh đó còn có hát ví của những người đi cấy gọi là ví phường cấy, hát ví của người đi củi gọi là ví phường củi… bởi hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng

Ở Nghệ Tĩnh việc làm ăn có hội có phường là truyền thống lâu đời Nghề thủ công dệt vải, tơ lụa, nuôi tằm nổi tiếng như đât Đồng Môn, các làng

ở Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Can Lộc… đều có hát phường vải Vào mùa thu khi mùa màng đã đã xong, anh chị em phường Vải thường

tụ tập vào một nhà trong xóm, lấy ca hát để giải trí và động viên nhau quên đi những mệt nhọc trong cuộc sống và sản xuất Cũng từ đó mà những điệu ví phường Vải được cất lên bên lũy tre làng, dưới những mái nhà tranh, dưới những đêm trăng hay bên thềm nhà, các chị e vừa hát cừa tay quay xa, tay cầm con cửi rút sợi Tay quay xa khi quay hi dừng, lên lên, xuống xuống nhịp nhàng hòa với tiếng quay vo vo êm ả, tiếng hát được cất lên thiết tha êm đềm, biểu hiện ở chỗ bắt đầu từ chữ “Người ơi” nhẹ nhàng, cấu tạo bằng một quãng 3 chữ, sau đó chuyển sang quãng 2 trưởng

Hát ví phường Vải khác với các hát ví khác là có thủ tục của một cuộc hát: Đầu tiên chỉ có nhóm chị em phường vải nữ ca hát với nhau Sau đó có sự tham gia của nhóm nam Hát phường Vải là phôi thai của hát đám, do đó có quy tắc của phường đề ra:

- Sinh hoạt của phường vải nữ

- Hát dạo của trai phường khác

- Vào cuộc: hát chào, hát mừng, hát hỏi rồi đến hát đố, hát đối, chuyển sang hát mời, hát xe kết, rồi tiễn ra về

Trang 18

1.3 Vài nét về hát ví phường Vải

1.3.1 Nguồn gốc của hát ví phường Vải

Cho tới ngày nay người ta vẫn chưa biết được chính xác hát ví Nghệ Tĩnh nói chung và hát ví phường Vải nói riêng có mặt từ bao giờ Nhưng có điều chắc chắn là hát ví phường vải ra đời từ chính cuộc sống lao động, quay

tơ dệt vải của người dân xứ Nghệ Nghề dệt vải là một nghề có từ lâu đời và phổ biến ở những vùng trung du và miền núi Theo Nguyễn Chung Anh (Tác giả hát ví Nghệ Tĩnh – NXB văn sử địa 1958) thì từ thời Tây Sơn hát ví đã thịnh hành và gần gũi với nhân dân lao động từ thế kỷ XVIII

Câu hát phường Vải có từ xa xưa, bắt nguồn từ phường Vải của các cô gái, khi nghề trồng bông, dệt vải thịnh hành trên đất Nam Đàn Buổi tối, khi các bà, các cô tập trung ở nhà chủ phường vừa quay xa, kéo sợi vừa cất lên những câu hát có vần là lúc các chàng trai bắt đầu kéo đến, cùng cất lên những câu hát Cứ thế suốt đêm những câu ví ngân nga khắp thôn xóm, khi thì tỉ tê, ngọt ngào sâu lắng, lúc lại hóm hỉnh, vui tươi Hát ví từ đó mà trở thành những câu hát của đôi lứa, cứ thế diễn ra trong cả mùa kéo sợi hàng năm

Theo cụ Trần Văn Tư, nghệ nhân hát phường Vải Kim Liên thì ngày xưa, nam thanh nữ tú của làng Kim Liên ai cũng biết hát Ví Phường Vải, bởi đây là lối trò chuyện, đối đáp thông minh giữa hai bên nam – nữ trong những làng làm nghề dệt vải Họ vừa làm, vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động Và cũng từ hát Ví Phường Vải mà nhiều đôi nam nữ đã nên duyên vợ chồng

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945 hát phường Vải là một bộ phận thân thiết trong cuộc sống tinh thần của nhân dân huyện Nam Đàn Vùng Kim Liên – Nam Đàn hát ví phường Vải phổ biến như vậy là vì dân số ở đây đông đúc

Trang 19

nhưng ruộng đồng lại ít Nhân dân sống bằng nghề nông là chủ yếu nhưng để kiếm kế sinh nhai các nghề phụ đã phát triển khá nhiều, có thể kể qua một số nghề thủ công như nghề tơi nón của làng Ngang, làng Thọ Toán, chợ Liễu, Nam Kim, Hoành Sơn Nong nia, thúng mủng, rổ rá ở các làng Ngọc Đình, Làng Sen, Xuân La… nghề làm gốm ở Nam Thái; nghề trồng dâu nuôi tằm ở Long Môn, Nhạn Tháp, Đông Sơn; nghề đóng thuyền ở Vạn Lộc, Hoành Sơn… Nhưng chỉ có nghề kéo vải là phổ biến nhất toàn huyện Nam Đàn Tiếng quay xa kéo vải có trong hầu hết các mái tranh dưới lũy tre xanh ở các làng xã Nam Đàn Thời gian vào tháng Bảy, tháng Tám, tháng Chín mùa màng đã xong xuôi, có thời gian rảnh rỗi người dân tranh thủ làm thêm những nghề phụ để tăng thêm thu nhập, trong lúc làm việc họ cất lên những lời

ca, rồi những câu hát đối đáp qua lại với nhau dần trở thành một thói quen hát phường

Nghề kéo vải thường là nghề của đàn bà con gái Nghề kéo vải là nghề

có động tác nhẹ nhàng Dụng cụ đơn giản: một cái xa, một cái quay và ít con cúi Tối đến, các cô trong làng nhóm họp tại một nhà, thềm, có khi là một góc sân… Một tay quay xa, một tay cầm con cúi rút sợi Tay quay xa khi quay khi dừng, lê lên xuống xuống, uyển chuyển nhịp nhàng; tay rút sợi cũng khi lên khi xuống, thoăn thoắt, mềm mại Tiếng xa kêu hòa với tiếng quay tạo nên một tiếng nhạc trầm trầm, đều đều Nhịp điệu khi kéo vải, âm thanh của xa quay trong đêm khuya thanh vắng nhất là lại có ánh trăng soi chiếu làm cho chị em dễ có hứng cất lên hát du dương, trầm bổng Tính chất nhẹ nhàng của nghề kéo vải đã làm ảnh hưởng khá lớn đến việc sáng tác ra các câu ca và việc hát hò trong khi phường nhóm họp

Lúc đầu hát phường Vải là những câu hát riêng giải trí của các chị em khi ngồi quay tơ kéo vải, chưa có những câu đối đáp giữa trai và gái Các chị

em vừa kéo sợi vừa hát để động viên nhau, tạo không khí vui vẻ, thoải mái và

Trang 20

tăng năng suất Mục đích hát là trực tiếp phục vụ cho công việc của mình, thỏa mãn nhu cầu “văn nghệ” của mình Cuộc sống của người dân Nam Đàn vốn dĩ cũng rất khó khăn, vất vả cả ngày làm việc quần quật ngoài đồng áng, tối đến họ lại phải làm bạn với xa quay để tìm kế sinh nhai Họ hát với nhau

để thể hiện những ước mơ, nguyện vọng, những tâm tư tình cảm và hát để quên đi những mệt nhọc trong cuộc sống lao động của mình

Nhưng có một hôm nào đó có chàng trai đi qua bất chợt nghe được tiếng hát nhẹ nhàng, tình tứ của các cô gái dưới ánh trăng trong đêm vọng ra

“Tiếng êm như nhiều, tiếng nhẹ nhàng như tơ”, “Giọng cao đón gió, giọng trầm lắng sương” tiếng hát khiến cho khách đi qua vương vấn muốn được làm quen “Đi chẳng được mà ở cũng không yên”, chàng cũng cất lên tiếng hát, tiếng hát đầu tiên của chàng cũng chỉ để thổ lộ cảm xúc của mình khi thấy cảnh chị em đang ngồi kéo vải và vui vẻ hát, khi tiếng hát cô gái cất lên đáp lại thì họ làm quen nhau qua những câu hát Tiếng hát của chàng trai và cô gái lúc này có ý nghĩa hơn bao giờ hết Những đêm sau chàng cố ý đi qua nhà phường nhưng không chỉ là một mình mà là cả một nhóm bạn, tụ họp đến đây

để hát đối đáp với nhóm phường nữ Không chỉ có một phường có các chàng trai đến hát, tất cả các phường kéo vải kia cũng vậy Và không chỉ hát một đêm mà hát đêm này qua đêm khác Tục hát đối đáp nam nữ của ví phường Vải bắt đầu như thế rồi lan rộng ra từ đó, truyền mãi về sau, sáng tạo thêm nhiều hình thức rồi đi đến một chỗ định hình thành một tập tục của người dân Nam Đàn

Phường Vải họp là có chủ nhà chứ không có chủ phường Họp ở nhà nào thì lấy tên nhà đó là tên gọi của phường Đôi khi tên phường vải không trùng tên với chủ nhà, mà mang tên người hát hay nhất Có thể nay họp nhà này mai họp nhà khác nên tên tổ chức của phường có tính chất “Tự động” nó cũng giống như phường Cấy, phường Gặt ở nước ta Mỗi địa điểm họp phường

Trang 21

thường có năm, bảy hoặc có khi nhiều thì vài chục chị em cùng quây quần vừa làm vừa hát với nhau Mấy câu hát sau đây cho ta thấy rõ tính chất họp nhóm của phường

Ờ… là chị em phường Vải ta ơi!

Đến đây ngồi lại ta chơi cùng ơ… phường

Hát phường Vải là một loại hình văn nghệ dân gian, một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca xứ Nghệ Nó được hình thành và tồn tại từ lâu, cho đến naycó những câu hát đã trở thành ca dao, có ý nghĩa răn dạy con người, răn dạy cuộc đời dùng những từ, những chữ khá cổ xưa… những điệu hát phường Vải đã đi vào lòng người, vào thơ ca Di sản văn hóa tinh thần ấy

đã làm nên một không gian văn hóa đặc thù của người dân Kim Liên – Nam Đàn

1.3.2 Nội dung của hát ví phường Vải

Làng Kim Liên – quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh Mảnh đất nắng lắm mưa nhiều của dải đất miền Trung thân thương Trải qua với cuộc sống gian khổ, với thiên nhiên hà khắc, với kẻ thù đã tôi luyện cho người dân Nam Đàn những đức tính cần cù, chịu thương chịu khó, kiên trì, dũng cảm… Hát ví phường Vải, nhân dân lao động nơi đây bộc lộ tâm hồn của mình là những rung cảm sâu sắc, điềm tĩnh và cảm động đến tha thiết Khi chú tâm nghe những lời ca hát ví phường Vải mới hiểu được tình cảm của người dân Kim Liên

Những bài hát phường Vải mô tả mọi mặt của đời sống, từ hạn hán, lũ lụt, những tập tục thói quen, những ước mơ, tình cảm đến những công việc hàng ngày… với mọi cung bậc cảm xúc khác nhau Hát ví phường Vải còn chuyển tải nhiều nội dung như tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù

Trang 22

bọn thực dân, ca ngợi sự lạc quan yêu đời của người dân xứ Nghệ Và đặc biệt nội dung trữ tình chủ yếu của hát ví phường Vải là tình yêu trai gái

Đến với ví phường Vải chúng ta sẽ thấy những rung cảm thầm kín, tinh

tế của người Kim Liên trong tình yêu, những chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống, trong đối nhân xử thế và những lời nhắn nhủ tâm tình

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Nghệ thì vô…”

Người xứ Nghệ luôn tự hào về chính quê hương của mình có truyền thống cách mạng vẻ vang và họ tự hào về vẻ đẹp hữu tình của quê hương non xanh nước biếc như một bức tranh

Xứ Nghệ không chỉ có phong cảnh hữu tình, nên thơ mà còn có những con người hiền lành, chất phác, giàu lòng yêu thương Bên cạnh đó, ví cũng cũng thể hiện đậm nét tình cảm gia đình, chồng vợ, có những lời hát bình dị

mà chất chứa tình cảm và trách nhiệm với nhau, cùng nhau chia sẻ mọi công việc trong cuộc sống

Ví cũng có nhiều bài hát nói đến lòng căm thù bọn tham quan hại dân Những bài hát này thường rất mạnh mẽ, thể hiện tinh thần chiến đấu chống phong kiến – chống ngoại xâm của người dân xứ Nghệ

Vua mà chi Quan mà chi Lọng vàng thì có, lọng vàng thì không

Hơn thế nữa chủ đề xuyện suốt của ví phường Vải là tình yêu đôi lứa Bằng câu hát họ đã nói lên tình cảm nồng nàn tha thiết của mình

Trang 23

Đôi ta như con một nhà Như cau một bẹ như cà một cây

Bài ca bộc con người nặng nghĩa tình của họ, càng mơ ước về tình yêu, gắn bó, thủy chung bao nhiêu thì lời ca càng mạnh mẽ,níu kéo lòng người bấy nhiêu

Nội dung hát phường Vải mang đậm tính trữ tình, song lại khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho Vì vậy, tính chất một số câu hát, quy cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình của một cuộc hát có phức tạp hơn Một cuộc hát phường vải phải hát có lớp lang như hát

lơ lửng (hát dạo), hát chào, hát mời, hát hỏi, hát đố, hát tình (hát xe duyên), hát tiễn hẹn trong một không gian, môi trường diễn xướng như ở sân vườn, sân đình và người phụ nữ đang ngồi quay xa, dệt vải

Qua những câu ca, những bài hát trên chúng ta càng hiểu hơn về cuộc sống và tình cảm của con người xứ Nghệ Dù vất vả khó khăn trong cuộc sống, hay những dang dở trong tình yêu thì họ vẫn luôn có niềm tin, vẫn luôn khao khát ước mơ về mái ấm gia đình Chắc cũng bởi từ bao đời nay họ sống

và vượt qua được cuộc sống khó khăn, gian khổ đã tôi luyện cho họ những ý chí, nghĩ lực và những hi vọng trong cuộc sống Họ sống giản dị, mộc mạc, chân thành những cũng giàu nghị lực và tình nghĩa

1.3.3 Diễn biến của một cuộc hát ví phường Vải

Ở làng Kim Liên, sau những ngày lao động chính người dân thường tìm thêm những việc làm phụ để kiếm kế mưu sinh Trồng dâu nuôi tằm là công việc phổ biến khắp vùng Nam Đàn Buổi tối sau khi làm xong công việc đồng áng họ thường tập trung lại một nhà vừa dệt vải vừa hát để giải trí sau ngày lao động vất vả, dần dần họ tổ chức thành các phường hát phường Vải, Kim Liên là vùng tiêu biểu cho phong trào này

Trang 24

Hát ví phường Vải tổ chức có thủ tục, có lề lối nhưng không diễn ra theo một định kỳ nhất định như một số dân ca khác, vì nó không gắn bó với phong tục tín ngưỡng nào cả Hát phường Vải có cả bốn mùa, tùy theo công việc và sinh hoạt của người dân nhưng sinh hoạt thuận lợi và thường xuyên nhất là vào những đêm có ánh trăng

Ở đây gọi là một cuộc mà không gọi là một đêm vì nếu gọi là một đêm thì đêm đó phải có mọi chặng, mọi bước mà hát phường vải trải qua Gọi là một cuộc vì hát phường Vải thường kéo dài hai, ba, bốn có khi năm, sáu đêm mới đủ mọi chặng mọi bước Một cuộc hát thường thường có 3 chặng:

Chặng thứ nhất: Gồm hát dạo hay còn gọi là hát lơ lửng, hát chào mừng

và hát hỏi bên nam đến nhà bên nữ hát phải đứng ngoài ngõ, hát dạo thường

là của bên nam, sau hát dạo là hát mừng đến hát hỏi, hát hỏi thường là của bên

nữ Bên nữ thường hát hỏi bên nam tên tuổi? quê quán ở đâu? Nhà có mấy người, làm ăn như thế nào? Chặng này nội dung câu hát chưa sâu sắc, chỉ là mới làm quen nhau

Mở đầu cho một cuộc hát phường vải, bao giờ người ta cũng hát dạo vài câu Hát dạo có khi người làng khác đến hát, có khi người ở trong nhà hát vọng ra níu chân khách

Để cho bên nữ biết là mình đến hát, từ ngoài đường, ngoài ngõ, bên nam phải hát lên vài câu Hát dạo của bên nam:

Dừng xa khoan kéo ơi phường Hình như có khách viễn phương đến nhà

Cũng có khi bên nữ hát dạo trước Thấy các chàng trai bàn tán ngoài đường, các cô không ngại ngùng, e lệ cất lên tiếng hát:

Bóng ai thấp thoáng vườn hoa,

Trang 25

Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều, Vân

Cũng nói thêm rằng không chỉ có trai gái thời thanh xuân mới đi hát, mà đàn ông đã có vợ, đàn bà đã có chồng, cũng hay đi hát Để cho các bà vợ, ông chồng ở nhà được yên tâm, trước khi đi hát, người ta xác định rõ tình cảm:

Ai có chồng nói chồng đựn sợ,

Ai có vợ nói vợ đừng ghen, Tới đây hò hát cho quen Rạng ngày ai về nhà nấy, Không há lẽ ngọn đèn hai tim

Trên là vài nét về hát dạo, tiếp đến là hát chào mừng Hát chào mừng tăng tính cách lịch sự của hát phường Vải Khi bên trai đến hát, bên nữ thường chào mừng bằng những câu khá niềm nở:

Cau non tiệm chũm lòng đào Trều têm cánh phượng ra chào bạn quen Đến hát hỏi Khách đến nhà, chào mừng xong rồi phải hỏi thông tin về nhau Hỏi tên tuổi, quê quán:

Hỏi anh tên họ là chi, Nói cho em biết mai em đi chào?

Đã có chồng hay chưa:

Ngó lên trời bạc mây hồng, Thương em hỏi thật có chồng hay chưa?

Sau mỗi câu hát hỏi thì bên nam hoặc bên nữ lựa lời mà đáp lại Hát hỏi

có tác dụng làm cho bên nam và bên nữ hiểu biết nhau hơn

Trang 26

Sau hát hỏi thường có hát phong cảnh Các câu hát phong cảnh thường

ca ngợi vẻ đẹp quê hương mình:

Vui thay Gia Lạc, Kim Liên, Mậu Tài của tốt, bàu sen hoa nhiều

Đây là chặng đầu mới chỉ đưa chuyện mà thôi, nên giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của câu hát phần nào còn bị hạn chế

Chặng thứ hai:Vượt qua được chặng hai “Hát đối, hát đố” bên nam mới

được bên nữ mời vào nhà hát cùng.Hát đố, hát đối ở chặng này trai gái thử thách sự thông minh, kiến thức của nhau Kiến thức có thể là về tình yêu, kinh nghiệm sống, sản xuất…đây được xem là chặng quan trọng nhất

Đố nhau về những tri thức sản xuất:

Đến đây hỏi khách nhà nông, Một trăm mẫu ruộng mấy công cày bừa?

Nhà nông đêm nghỉ ngày làm Một trăm mẫu ruộng, một ngàn ngày công

Ngày xưa hay hát với bà An (bà Hoàng Thị An, người mà Bác Hồ gọi bằng dì) có anh Tú San (không phải là Giải San Phan Bội Châu) và ông Hoe

Ba là người hay chữ Trong hát đối có hát đố, bà An cất tiếng:

Sơn sơn xuất, anh hùng hào kiệt Gái nữ nhi ngồi trong bóng nguyệt Nguyệt nguyệt bằng quân tử trượng phu Chàng mà đối được, em xin làm du (dâu) nhà chàng

Trang 27

Đây là câu hát đố chữ, đố không khó vì hai chữ sơn là một chữ xuất, hai chữ nguyệt là một chữ bằng, nhưng khó là ở đối lại

Chặng thứ ba: Gồm hát mời, hát tình nghĩa hay còn gọi là hát xe kết và

hát tiễn tức là hát lúc ra về phường bên nam đối được câu nào đó mới được mời vào sân, đối được câu nữa mới được mời vào nhà Vào nhà rồi còn phải hát mời, uống nước, hát mời trầu… Trai gái thổ lộ tình cảm với nhau ở chặng này Chặng thứ ba là những câu hát có nhiều giá trị về nội dung và nghệ thuật Hát mời là sau khi đã trải qua được hai chặng thì bên nữ mời bên nam vào nhà Hát mời là của bên nữ:

Bạn ơi, mời bạn vô nhà, Đừng đứng ngoài ngõ sương sa lạnh lùng

Khi bên nam vào nhà rồi thì bên nữ hát mời bên nam hút thuốc, uống nước, ăn trầu…

Hát mời uống nước:

Chè ngon, nước chát xin mời, Nước non non nước, nghĩa người chớ quên Tiếp đến là hát xe kết Đến bước này, hai bên nâm nữ nói lên lòng đính ước, nói lên sự gắn bó vợ chồng Bao nhiêu nỗi niềm, hi vọng… đến bước này họ đều thổ lộ cùng nhau:

Đôi ta như chỉn (chỉ) xe tư,

Xe răng như rứa y như một lời

Cuối cùng là hát tiễn Hát tiễn là hát lúc ra về nó là bước cuối cùng trong cuộc hát phường vải Hai bên đã tâm đầu ý hợp, tình nghĩa gắn bó, ra về lưu luyến:

Trang 28

Yêu nhau chưa ráo mồ hôi

Chưa tan buổi chợ đã chia đôi ngã đường

Ra về, ngoài những lời dặn dò giữ vẹn lòng thủy chung họ còn dặn dò nhau làm tròn nghĩa vụ đối với non sông:

Ra về dặn bạn thanh niên, Chớ mê bạn gái mà quên đức thù

1.3.4 Quá trình chuyển biến của hát ví phường Vải

* Giai đoạn 1930 – 1945

Đây là giai đoạn hát phường Vải rất phát triển và phổ biến vì nó phù hợp với hoàn cảnh lao động của người dân Kim Liên Nội dung của hát ví phường Vải rất giản dị nhưng thể hiện được tâm tư, tình cảm của người dân lao động

Họ hát trong lúc làm việc để động viên nhau, để quên đi những nỗi nhọc nhằn của công việc và cuộc sống Tiếng hát còn là sợ dây gắn kết của tình yêu đôi lứa

Một niềm kết tóc xe tơ, Một niềm chỉ đợi chỉ chờ mà thôi

Hầu hết các bài hát của ví phường Vải đều do người dân tự sáng tác lời Trong quá trình chuyển biến của nó trai gái không chỉ thổ lộ tình cảm với nhau mà còn thi tài qua những câu hát đối đáp nhau nữa Sau này có sự tham gia của nhà nho thì hát phường Vải có sự thay đổi rất lớn Trong hát phường Vải có sự xuất hiện của các “Thầy gà”, thầy gà có thể là các ông thầy đồ dạy học ở làng, ông tú tài, cử nhân hay anh nho sĩ thi hương… đứng ngoài bày cho người trong cuộc hát, cũng có khi thầy gà trực tiếp tham gia Các nhà nho

là những người có tri thức nên nhờ sự góp phần của các nhà nho mà câu hát trở nên mượt mà, điêu luyện hơn

Trang 29

Chơi tiếng, chơi chữ, chơi nôm… là một số thủ pháp mà thầy gà thường đặt ra cho ví phường Vải Thủ pháp này làm cho những cuộc hát ví trở nên thú vị, hấp dẫn, gay go nhưng cũng gây khó dễ cho người tham gia, đã đối là phải đối cho hoàn chỉnh và còn phải đáp lại nữa Nếu đối mà không đáp được

sẽ bị loại ra

Hát đối lúc mới đầu vào hát ví phường Vải cũng đơn giản nhưng càng về sau càng nhiều phiền phức Từ hát dạo, hát hỏi cho đến hát xe kết… đều có hát đối Quá trình diễn ra theo thời gian câu hát không còn tính chất bình dị, đơn giản như ban đầu nữa Nhiều cuộc hát không còn là nam nữ đối ca nữa

mà là “Thầy gà” ngồi ngoài kình địch nhau, bắt bẻ nhau từng câu đối khiến cho không khí trở nên căng thẳng, làm phường này kình địch với phường kia Lúc này người hát chỉ là “Phương tiện phát thanh” cho thầy gà Hát phường Vải bị biến thái từ nội dung, người tham gia, kết cấu câu và đến cả không khí của cuộc hát, trái hẳn với bản chất của người dân lao động trước đó: giản dị, tình cảm và vui vẻ… Các ông đồ tham gia vào hát phường Vải đã tạo ra sự mới mẻ, thú vị nhưng đã làm mất đi phần nào chất dân gian vốn có của nó Các ông “đồ Tây” cũng tham gia vào hát phường Vải Theo sự kể lại của của các cụ thì các ông “đồ Tây” chỉ tham gia vào khoảng những năm 30 – 31, thời kỳ này đang diễn ra phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Các ông đồ Tây là một số thầy giáo, thầy phán, thanh niên thành thị…

Các ông đồ Tây tuy tham gia trong thời gian ngắn nhưng đã làm cho phường Vải biến chất lại càng biến chất hơn, nó làm mất đi những thẩm mỹ trong trong câu hát phường Vải Các ông đồ không những đem tình cảm lãng mạn tư sản vào câu hát mà còn đem lối đối đáp bằng chữ Hán, tiếng Pháp vào câu hát:

Sao rua gọi tỏ ngày đêm Các anh vô nhởi (chơi) dạ em mê hoài

Trang 30

Ra về cất tiếng Ovoa Khăn hồng gửi lại mu xoa xin cầm

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa hát phường Vải bị biến chất hoàn toàn mà nó vẫn còn tồn tại, vẫn còn dồi dào sức sống nội tại theo thời gian

* Giai đoạn 1945 – 1975

Đây là thời kỳ sau Cách mạng tháng 8 thành công, lúc này cuộc sống của nhân dân được đổi mới, hình thức sản xuất cũng có sự thay đổi, có nhiều hình thức sinh hoạt giải trí, hát ví không còn theo quy cách cũ nữa Sinh hoạt hát phường Vải cũng không còn diễn ra thường xuyên, gần như dừng ở hoạt động

tự phát, tùy theo nhu cầu cá nhân hoặc nhóm người nhất định ở các địa phương

Thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh, đặc biệt là giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, trong hoàn cảnh bom đạn, cộng đồng không có khả năng, thời gian để an vui sinh hoạt văn nghệ công khai, mang tính tập thể như thời bình Nghệ -Tĩnh là trọng điểm của chiến tranh phá hoại, chịu nhiều bom đạn nên không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng không tồn tại là tất yếu và chính sách văn hóa thời chiến của Nhà nước, các hình thức sinh hoạt văn nghệ hội hè, tín ngưỡng tâm linh của cá nhân và tập thể bị ngăn cấm để tập trung phục vụ nhiệm vụ chính trị chống ngoại xâm Trong hoàn cảnh lịch sử này, mọi hình thức sinh hoạt văn nghệ giao duyên, tình cảm ủy

mị, tình cảm cá nhân (giống như sinh hoạt văn nghệ trong Quan họ, Ca trù, Xoan,…) đều bị cấm

Kháng chiến bùng nổ thanh niên lên đường chống giặc cứu nước, nhân dân ra sức sản xuất và kháng chiến nên hát ví phường Vải không được phát triển nữa Nhưng tiếng hát, tình yêu vẫn tồn tại, nội dung trữ tình của hát phường Vải đã tản ra và hòa lẫn với tiếng gọi cứu nước, trở thành tiếng hát

Trang 31

động viên nhân dân tăng gia sản xuất để có nhiều lương thực cung cấp cho tiền tuyến, thôi thúc động viên anh chị em và các chiến sĩ nhau cùng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc

* Giai đoạn 1975 đến nay

Sau 1975, mặc dù nước ta đã giải phóng dân tộc thống nhất đất nước nhưng cơ chế và thiết chế văn hóa chưa kịp chuyển biến phù hợp và kịp thời

Từ năm 1995 trở lại đây, sinh hoạt dân ca Ví, Giặm mới được sự quan tâm của chính quyền, các cấp quản lý văn hóa từ tỉnh đến xã/phường

Tuy nhiên, hời kỳ này cuộc sống thay đổi, kinh tế phát triển hơn, nhân dân ta sống trong một bầu không khí mới, có nhiều loại hình nghệ thuật, hình thức giải trí, thông tin đại chúng ra đời Nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên lúc này không còn thích hát phường Vải nữa Hát phường Vải vẫn sống, nhưng chủ yếu là trên sân khấu chuyên nghiệp, trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật, trong một số hoạt động lễ hội… Bây giờ người dân không còn quay tơ dệt vải như ngày xưa nữa nên người ta không tổ chức được theo hình thức diễn xướng của người xưa, các cuộc thi, các chương trình chỉ là biểu diễn lại hình thức hát trước đây

Giai đoạn này cũng có nhiều nhạc sĩ đã lấy âm hưởng của hát ví phường Vải để sáng tác ra những ca khúc cho mình Hay các điệu hát ví phường Vải chuyển từ dân ca đến kịch hát Nghệ Tĩnh

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY HÁT VÍ PHƯỜNG VẢI Ở XÃ KIM LIÊN, HUYỆN NAM ĐÀN,

TỈNH NGHỆ AN 2.1 Đặc trưng của hát ví phường Vải Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An

* Nói đến đặc trưng hát Ví của một vùng thì một trong các yếu tố quan trọng cần phải nhắc tới là ngôn ngữ Cùng với nhạc, lời ca làm nên giá trị, đặc trưng của hát ví phường Vải Kim Liên, một trong các nhân tố tạo nên dấu ấn, sắc thái riêng đó là tiếng nói, nhất là các yếu tố phương ngữ

* Hát ví phường Vải là cái tên gắn với nghề kéo vải thủ công ở Nam Đàn Trong quá trình làm việc, dưới mái tranh nghèo, bà con đã sáng tạo nên những câu ca làm say đắm lòng người Tiếng hát đã xua tan mệt nhọc giúp cho họ yêu đời, yêu cuộc sống và hăng say làm việc hơn

* Người dân Kim Liên hát phường Vải không hề tính đến thời gian Sinh hoạt hát ví phường Vải diễn ra không định kỳ như một số dân ca khác, vì nó không gắn bó với phong tục tín ngưỡng hay với hội hè nào cả cho nên bốn mùa đều có thể có, đặc biệt là từ sau mùa bông vải cho đến tháng Tám, tháng Chín hầu như đêm nào trên đất Kim Liên – Nam Đàn cũng có hát phường Vải Những năm “Phong trào” hát phường vải lên cao người đi chơi hát phường vải nhiều thì mùa hát có thể kéo dài đến tháng Chạp

* Hát ví phường Vải có thủ tục chặt chẽ Một cuộc hát ví có ba chặng: Chặng thứ nhất gồm hát dạo, hát chào mừng và hát hỏi Hát dạo thường

là của bên nam, sau hát dạo là hát chào mừng và hát hỏi Hát hỏi thường là của bên nữ Bên nữ thường hỏi bên nam tên họ là chi? Quê quán ở đâu? Anh

em có mấy người?

Trang 33

Chặng thứ hai là hát đối, hát đố Chặng này đòi hỏi nhiều trí tuệ, thông minh Bên nữ thử thách tài năng và sự hiểu biết của bên nam

Chặng thứ ba gồm hát mời, hát tình nghĩa và hát tiễn Hát mời thì phường bên nam phải đối được câu nào đó của phường bên nữ mới được mời vào sân, đối được thêm câu nữa mới được mời vào nhà Những câu hát ở chặng này có nhiều giá trị về nội dung và nghệ thuật

* Hát ví phường Vải có sự tham gia của các nhà nho, phần lớn các nhà nho xuất thân từ quần chúng lao động hoặc ít ra cũng có dịp lăn lộn trong quần chúng Họ thường làm “Thầy gà” cho đám con trai hoặc con gái, nhưng sau đó bản thân thầy gà cũng cất lên tiếng hát Sự tham gia lâu ngày của các nho sĩ đã nâng hát ví phường Vải thành một sinh hoạt văn hóa dân gian có tổ chức với những quy định rõ về thủ tục, trình tự các loại câu hát, về vai trò của các cá nhân và tập thể tham gia vào cuộc hát…

Ở Nam Đàn, ai cũng biết rằng Phan Bội Châu, thời còn thanh niên – thường gọi là San – là một tay đặt câu hát đối đáp có tài trong đám nhà nho đi chơi hát phường vải Nhân dân Nghệ Tĩnh còn lưu truyền lại khá nhiều giai thoại cùng một số câu hát bất hủ của nhà nho yêu nước ấy

* Cách hát của ví phường Vải cũng khác với các loại dân ca khác Trước khi hát một câu bao giờ bên nam cũng gọi “Ơ này chị em phường vải ta ơi” bên nữ thưa “Ơ, thưa chi” rồi mới hát Bên nữ trước khi hát cũng gọi: “Ơ, người đi nhớ ơi!”, bên nam cũng thưa: “Ơ, thưa chi” và khi các cô hát xong bên nam cũng khen như trên…

Nó có ý nghĩa làm tăng tính chất lịch sự của các cuộc hát, làm đối phương không bị đột ngột mà có sự chuẩn bị chú ý để lắng nghe

* Hát ví phường Vải là kho tàng trí tuệ của người dân Nam Đàn, người dân xứ Nghệ “Đối đáp là lề lối sinh hoạt của hát ví mà dân ca nhiều nơi khác

Trang 34

vẫn thường có, nhưng đối đáp giao duyên đến đối đáp bắt bẻ nhau, đấu tài, đấu trí thì ít nơi nào có như xứ Nghệ”.Chính những nhà nho đã làm cho nhiều câu hát phường vải mang tính chất “Trí tuệ”, trí tuệ mà gợi tình trong gia tài hát phường vải nói riêng, hát ví giặm nói chung ở xứ Nghệ

2.2 Giá trị của hát ví phường vải

2.2.1 Giá trị lịch sử

Kim Liên là vùng đất lưu giữ nhiều di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc đặc sắc và người dân nơi đây cũng giàu truyền thống cách mạng, lịch sử Trong quá trình lao động và sản xuất, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, con người nơi đây đã sáng tạo ra là điệu ví phường Vải Trải qua sự thay đổi và biến động của đời sống xã hội nó vẫn còn tồn tại và lưu truyền theo năm tháng

Nội dung trữ tình của hát ví phường Vải rất phong phú, thể hiện vẻ đẹp, chiều sâu tâm hồn của người dân qua các thời kỳ lịch sử

Những câu ví đã gắn bó với nhiều người, từ lúc sinh ra và lớn lên, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn của bao thế hệ nơi đây Những câu ca ví phường Vải đã gợi lên cho họ niềm tự hào, tình yêu quê hương đất nước, gợi cả tình yêu trong cuộc sống… Ai đã từng đến Nam Đàn quê hương của Bác, chắc hẳn

đã biết lúc nào cũng có tiếng nói chuyện của bà con lao động, cất lên những câu hát phường Vải đặc sắc

“Thanh Chương là đất cày bừa Nam Đường bông vải hát hò thâu canh”

(Nam Đường là tên gọi của Nam Đàn trước năm 1886)

Trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, hát ví phường Vải đã tiếp thêm sức mạnh, tinh thần và ý chí cho quân và dân

Trang 35

ta trên trên mọi mặt trận Tiếng hát không những động viên, khích lệ tinh thần cho hậu phương, người lao động đang sản xuất và chiến đấu nơi quê nhà nhà tiếng hát phường Vải còn theo thế hệ thanh niên, các anh chiến sĩ trên các con đường mặt trận Và trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931 hát phường Vải gắn kết, cổ vũ tinh thần cho người dân Nghệ Tĩnh, góp phần làm nên một phong trào đấu tranh yêu nước nước được khắp cả nước biết đến Khi hòa bình được lặp lại tuy tiếng hát phường Vải không còn được phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày của người dân nhưng phường Vải vẫn còn tồn tại

và đi cùng năm tháng

Ví phường Vải là thành quả sáng tạo của người dân lao động Nghệ Tĩnh nói chung và người dân Kim Liên nói riêng, nó phản ánh mọi mặt của đời sống và quá trình lao động của người dân theo từng giai đoạn, ví phường Vải còn chứa đựng cả những giá trị lịch sử quan trọng Cũng như các thể loại dân

ca khác ca dao khác, hát ví phường Vải không phải xuất hiện từ một khoảng trống, mà là từ một bối cảnh lịch sử xã hội nhất định, nó thoả mãn được những nhu cầu đời thường của xã hội con người Hát ví phường Vải tiếp tục phát triển, biến đổi trong không gian, thời gian và luôn phản ánh trong nó nội dung hay đặc điểm của từng thời kỳ lịch sử cũng như phản ánh tư duy và ước vọng của cộng đồng từng giai đoạn lịch sử nhất định

Vượt qua thời gian, sự khốc liệt của bom đạn, sự thay đổi và phát triển của đời sống xã hội, sự biến đổi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa… hát ví phường Vải vẫn khẳng định được sức sống trường tồn và vai trò của mình đối với con người

Trang 36

2.2.2 Giá trị văn học

Hát ví phường Vải đóng góp một phần vào việc làm cho tiếng nói của dân tộc thêm phong phú, chính vì thế mà trong kho tàng văn học của ta ví phường Vải chiếm một ví trị quan trọng đáng kể

Trong những câu hát của mình người dân xứ Nghệ đã sáng tạo nên những áng thơ văn mang tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc Hát ví phường Vải thường sử dụng thể thơ song thất lục bát, nhất là Lục bát nguyên thể và biến thể, thể thơ ngụ ngôn, đôi lúc kết hợp cả hai thể thơ song thất lục bát và ngụ ngôn Với cách dùng câu đặt chữ mỗi câu hát phường Vải thường từ 14 đến 30 chữ, có khi là 40 chữ, mỗi câu gọn gàng, dứt khoát nhưng nới lên được tất cả những suy nghĩ và tình cảm của con người Sự tăng lên, kéo dài số lượng câu hát càng có khả năng tăng thêm sức biểu đạt nội dung, ý nghĩa, làm cho âm điệu lời hát dàn trải giúp người hát bộc lộ hết mọi nỗi lòng và cảm xúc

Xét về phương diện văn học thì ví phường Vải còn là cuộc thi tài đọ sức

về văn chương Chính vì thế mà ngày một thu hút đông đảo các nhà trí thức

xa gần tụ hội về Nam Đàn để tham gia hát ví phường vải Trên cơ sở ấy, hát

ví phường vải đã vượt cao hơn văn nghệ bình thường và đỉnh cao là "Tuyên truyền cách mạng" khi các nhà cách mạng tham gia hát ví đã lồng vào nội dung cổ động, phát động phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc…

Hát ví phường Vải thường có các nhà nho tham gia ứng tác và đối đáp, vừa tình cảm vừa thể hiện trí tuệ, nhờ vậy hát ví chính là sự kết hợp giữa những người trí thức với người lao động

Các thầy “Đồ gà” sử dụng các thủ pháp chơi nôm, chơi chữ, chơi tiếng trong hát ví phường Vải

Ví dụ chơi Nôm:

Trang 37

“Đi rông gặp buổi đông ri Thì đương bông vải thường đi cõi này”

Trong những câu hát còn có những lối dùng mỹ từ Pháp như lối dùng điển tích lối dùng tỷ lệ, lối hợp loại, lối tiến đối, lối đảo ngữ…

Người Nghệ chất phác, mộc mạc, điều ấy ai cũng biết Nhưng không phải không tinh tế Tinh tế và mặn mà ám ảnh đến mức tâm trạng thành cổ điển trong văn học sử:

- Sáng trăng ngồi gốc cây mai Bóng mình lại tưởng bóng ai tìm mình

- Ra về sương xuống đầm vai Ngoảnh nhìn trở lại, bóng ai tờ mờ Trong kho tàng tục ngữ, ca dao vùng này có câu giận, câu thương, câu chán, câu hờn nhưng xét về tần số thì câu thương, câu nhớ, câu nghĩa, câu tình vẫn đậm đặc hơn cả Khi sáng tác thì rất phong phú, đa dạng Qua thời gian, tức là qua sự chọn lựa của con người, thì cái mà người Việt Nam muốn truyền cho nhau vẫn là tình - nghĩa (hơn cả kinh nghiệm sản xuất) Tình - nghĩa ấy ở vùng đất vốn nhọc nhằn này như được cô nén hơn, thống thiết hơn

2.2.3 Giá trị tư tưởng

Con người là chủ thể sáng tạo ra giá trị nghệ thuật dân gian, giá trị văn hóa mang đậm nét bản sắc của quê hương họ Ngoài nhu cầu lao động sản xuất, hát dân ca là một nhu cầu về sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người Hầu như phong trào ca hát dân gian truyền thống là niềm vui, là ham mê của

họ Tham gia hát ví phường Vải là sự yêu thích, là quyền lợi tinh thần của

Trang 38

người dân Kim Liên Sau những giờ lao động mệt mỏi, những đêm ngồi quay

xa với các điệu hát ví là phương tiện giải trí của họ

Hát ví phường Vải là phương tiện để truyền đạt tình cảm, tư tưởng cũng như thể hiện ước mơ, nỗi lòng trong cuộc sống của nhân dân Trong mỗi câu hát nó ghi lại nhưng buồn, vui, đau đớn, giận hờn và cả hoài bão, ý chí… của người dân xứ Nghệ

Sinh hoạt hát ví phường Vải không những giúp người dân lao động tăng năng suất làm việc mà người dân còn được giải trí, tăng niềm vui, tinh thần sảng khoái và quên đi những nỗi nhọc nhằn trong cuộc sống và lao động Hát

ví phường Vải được hình thành trong quá trình lao động của con người và nó quay trở lại tác động đến tư tưởng, tinh thần lạc quan của người dân lao động

Do đó, hát ví phường Vải thu hút được rất nhiều người tham gia

Hát ví phường Vải chứa đựng những giá trị hiện thực đáng chú ý Trong chế độ phong kiến thanh niên nam nữ dám vượt lên những trói buộc của lệ tục để bày tỏ những tình yêu, hứa hẹn, thề thốt với nhau qua những cuộc hát

Ra về nhớ lắm em ơi!

Nhớ xa e kéo, nhớ lời em than

Mặc dù nội dung trữ tình xuyên suốt của hát phường vải là nói về tình yêu trai gái, nhưng hát phường Vải cũng phần nào bộc lộ tư tưởng xã hội Trong chế độ phong kiến thực dân áp bức, con người sống gò bó lạc lõng

Túi (tối) trời vả lại mưa chan Mình em như con chiền chiện lạc vào ngàn rừng xanh

Đối với các nhà nho mê nôm, đã từng sáng tác thơ nôm để nói lên lòng yêu nước, đả kích bọn quan lại… thì việc tắm gội ít nhiều vào ngọn nguồn

Trang 39

mát mẻ của dân ca, đã giúp họ trau chuốt ngôn ngữ nghệ thuật, cung cấp cho

họ cái ý vị của cuộc sống Phương tiện văn nghệ tự túc của nhân dân, các sáng tác dân giam từ đời nọ qua đời kia cùng với sinh hoạt văn hóa dân gian ấy, đã bồi dưỡng cho họ tình yêu cuộc sống, tinh thần lạc quan và lòng tin vào một ngày mai tất thắng về chính nghĩa

Hát ví phường Vải đã gắn với con người Nghệ Tĩnh nói chung và người dân Nam Đàn nói riêng từ bao đời nay Nhờ chứa đựng chủ nghĩa nhân văn, tình yêu lao động, tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước… nó đã phản ánh chân thực cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với xã hội

Những câu hát phường vải được nhân dân sáng tác vàtrao truyền từ bao đời nay, nó có tính giáo dục và tính nhân văn hoa cả, là cái nôi để cho con người nhận thức được xã hội, tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước

và yêu chính mảnh đất quê hương của họ Qua những lời ca trữ tình của hát ví phường Vải cho ta thấy đằng sau cái trầm lặng, giản dị là con người yêu thương tha thiết và rất thẳng thắn, dũng cảm của người dân Kim Liên Những câu ca ấy luôn hướng con người tới hoàn thiện bản thân, cái “Chân – thiện – mỹ”

2.2.4 Giá trị âm nhạc

Thể ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát

có thể co dãn một cách ngẫu hứng Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tùy

thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ

Ví phường Vải tuy chỉ có một làn điệu, cấu trúc đơn giản, cả về thang

âm điệu thức, về tiết tấu giai điệu nhưng lại giàu sức biểu cảm Hát phường Vải mộc mạc, đậm chất trữ tình như chính bản thân của người xứ Nghệ Tuy nhiên, khác với Hò, hát phường Vải là thể loại dân ca trữ tình không chỉ thể

Trang 40

hiện ở nội dung câu hát mà còn bộc lộ rõ ngay ở trong phần câu nhạc của nó Kết cấu âm nhạc là kết cấu giữa thơ và ca, giữa vần và điệu, giữa nhịp thơ và tiết tấu của nhạc Bài ví phường Vải thường được viết ở hình thức một đoạn đơn, mỗi lối có hai câu thường được viết ở giọng thứ, nhịp 4/4 lời ca mênh mông sâu lắng

Hầu hết các bộ phận, các làn điệu ví phường Vải được trình diễn ở dạng

tự do nhịp điệu thường từ chậm vừa tới rất chậm Vì vậy, Ví phường Vải có màu sắc trung hòa giữa thứ và trưởng cho nên gây được ấn tượng lơ lửng, bay bổng, chênh vênh Tuy nhiên, khi người hát truyền được cái tinh thần, cái cốt cách của người dân xứ Nghệ đến với người nghe, để người nghe hiểu thêm về con người và vùng đất này, đó mới là thành công Người xứ Nghệ hát không

để nó bay đi, mà hát để lắng lại, để suy ngẫm

Hát ví nói chung và ví phường Vải nói riêng là nguồn chất liệu có giá trị

về mặt âm nhạc, có vai trò đối với âm nhạc đương đại Những nét tinh túy trong câu ví trở thành nguồn cội của các ca khúc đương thời

Điểm nổi bật nhất của Ví Phường Vải là tính trí tuệ sắc sảo và chất trữ tình đằm thắm trong nội dung lời ca và âm điệu Chẳng vậy mà ông Tư lão nghệ nhân hát phường vải ở Kim Liên cho biết, khi còn nhỏ, chính Bác Hồ cũng hay theo chân người lớn trong vùng đi nghe hát Ví Phường Vải

Và chính chi tiết này đã tạo cảm hứng để nhạc sĩ An Thuyên viết nên ca khúc nổi tiếng: “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác”, trong đó có đoạn: “Bác theo phường đi nghe hát, quần xắn gối đứng đầu sân ”

Lời ca trong phường Vải thường dùng thơ song thất lục bát, có cả những bài dùng ngụ ngôn hoặc kết hợp thơ ngụ ngôn và lục bát Âm điệu lời ca luôn bám sát thanh điệu tiếng nói thông thường của người dân xứ Nghệ Tiếng nói thông thường của người dân xứ Nghệ chỉ có 4 dấu Thanh không dấu, thanh

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w