1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội tich điền tại xã đọi sơn,huyện duy tiên,tỉnh hà nam

75 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, lễ hội đang được tổ chức ngày càng nhiều để đáp ứng những đòi hỏi trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân.Việc tham dự các lễ hội truyền thống là nhu cầu k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN

LÝ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN TẠI XÃ ĐỌI SƠN,HUYỆN

DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Anh Quyên Sinh viên thực hiện : Trần Thị Nhật Lệ

Lớp : QLVH 10B

Hà Nội – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ths Nguyễn

Thị Anh Quyên - giảng viên trường đại học Văn hóa Hà Nội Trong suốt quá trình

thực hiện đề tài em luôn nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của cô, giúp

em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong khoa Quản lí văn

hóa, thầy cô trong thư viện trường Đai học văn hóa Hà Nội đã tận tình truyền đạt

kiến thức, tạo điều kiện để em có thể hoàn thành đề tài này

Em cũng chân thành cảm ơn chính quyền địa phương Hà Nam đã nhiệt tình

giúp đỡ cung cấp tài liệu và hình ảnh cho em những tài liệu quý báu và nhiệt tình

của các anh chị trong ban văn hóa xã Đọi Sơn

Do thời gian có hạn, trình độ kinh nghiệm của em còn hạn chế nên bài viết

của em không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến chỉ bảo của

thầy cô giáo cùng các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trần Thị Nhật Lệ

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI 8

1.1 Một số khái niệm về lễ hội 8

1.1.1 Khái niệm lễ hội 8

1.1.2 Lễ hội truyền thống và đặc trưng của lễ hội truyền thống 10

1.1.3 Khái niệm về quản lý 11

1.1.4 Khái niệm về quản lý lễ hội 12

1.2 Vai trò của lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt 15

1.2.1 Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc 15

1.2.2 Giá trị giáo dục 16

1.2.3 Giá trị văn hoá tâm linh 17

1.2.4 Giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc 19

1.2.5 Giá trị kinh tế 21

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với công tác tổ chức lễ hội 23

CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN TẠI XÃ ĐỌI SƠN, HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY 26

2.1 Khái quát về lịch sử, kinh tế, văn hóa – xã hội của xã Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam 26

2.1.1 Vị trí địa lý 26

2.1.2 Lịch sử hình thành 26

2.1.3 Tình hình kinh tế - văn hóa xã hội 27

2.2 Lễ hội Tịch Điền xã Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam 27

2.2.3 Công tác chuẩn bị cho việc tổ chức lễ hội Tịch Điền 29

2.2.4 Diễn trình lễ hội Tịch Điền 31

2.2.5 Ý nghĩa văn hóa của lễ hội Tịch Điền 34

2.3 Thực trạng của công tác quản lý và tổ chức lễ hội Tịch Điền từ năm 2009 đến nay 35

2.3.1 Về công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản về quản lý lễ hội 35

2.3.2 Quản lý các nguồn lực tổ chức lễ hội 36

2.3.3 Quản lý dịch vụ, hoạt động vui chơi, giải trí trong lễ hội 38

Trang 4

2.3.4 Quản lý công tác vệ sinh môi trường và an ninh trật tự công cộng 39

2.3.5 Công tác tổ chức kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức lễ hội 39

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN TẠI XÃ ĐỌI SƠN HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM 41

3.1 Đánh giá thực trạng về công tác tổ chức và quản lý lễ hội Tịch Điền 41

3.1.1 Những thành tích 41

3.1.2 Những hạn chế 42

3.1.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 43

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội 45

3.2.1 Tuyên truyền phổ biến các văn bản quy định của lễ hội 45

3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp chính quyền và nâng cao trình độ cán bộ văn hóa ở địa phương 46

3.2.3 Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý lễ hội 47

3.2.4 Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ hội 47

3.2.5 Chú trọng bảo tồn giá trị của lễ hội và chống thương mại hóa 48

3.2.6 Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng 49

3.2.7 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa 50

3.2.8 Tổ chức lễ hội hướng vào hoạt động du lịch 51

3.2.9.Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động lễ hội Tịch Điền 52

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam và là một hiện tượng có tính chất tổng hợp chứa đựng trong nó cả tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian và

văn nghệ dân gian Bên cạnh đó, theo Giáo sư Trần Quốc Vượng trong Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm thì “Lễ hội còn là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa”

Ngày nay, lễ hội đang được tổ chức ngày càng nhiều để đáp ứng những đòi hỏi trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân.Việc tham dự các

lễ hội truyền thống là nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng hướng về cội nguồn, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa Lễ hội truyền thống tồn tại đến hôm nay đều là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa lâu dài Quá trình tiếp biến ấy khiến cho lễ hội luôn mang dáng vẻ của thời đại mà vẫn không mất đi diện mạo ban đầu, cái cấu trúc hai mảng lễ và hội của nó

Hiện nay, người dân đã có khả năng và điều kiện làm chủ bản thân thì niềm tin vào sự linh thiêng của thần thánh chuyển hóa dần nhường chỗ cho những tình cảm thiêng liêng nhớ về cội nguồn, lòng tôn kính và biết ơn tổ tiên, tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước trở thành cảm hứng chủ đạo của lễ hội truyền thống Vì vậy, chức năng tín ngưỡng của lễ hội có phần giảm thiểu, chức năng vui chơi, giải trí của phần hội được tăng lên Các trò chơi dân gian, những làn điệu dân

ca, dân vũ được khai thác thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia

Vấn đề đặt ra là công tác tổ chức và quản lý đã phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, phong tục tập quán địa phương cũng như giữ gìn, phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống và giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trong khi lễ hội diễn ra chưa Do đó, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu về công tác

tổ chức và quản lý lễ hội để góp phần làm phong phú thêm kho di sản văn hóa Việt Nam trong thời hiện nay

Bản thân tôi là một người con được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Nam – một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng với bề dày lịch sử và có nhiều nét văn hóa

Trang 6

đặc sắc Hơn nữa, tôi là một người học tập – nghiên cứu về văn hóa nên tôi nhận thấy vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu về lễ hội truyền thống ở địa phương mình là một việc làm cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng tổ chức lễ hội cũng như bảo lưu

và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Trên cơ sở những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội Tịch Điền tại xã Đọi Sơn,huyện Duy Tiên, tỉnh

Hà Nam” làm đề tài khóa luận của mình

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

2.1.Đối tượng nghiên cứu

Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Tịch Điền, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

2.2.Phạm vi nghiên cứu

Lễ hội Tịch Điền, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam từ năm 2009 đến nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lễ hội Tịch Điền nhằm cung cấp một số thông tin về cơ sở ra đời, quá trình hình thành, những đặc điểm cũng như tìm ra những giá trị tiêu biểu và thực trạng của công tác tổ chức và quản lý lễ hôi Từ đó, đề xuất một số giải pháp

để nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội Tịch Điền, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam từ năm 2009 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp sau:

Đóng góp về tư liệu nghiên cứu: Đề tài góp phần là một nguồn tư liệu, dẫn

chứng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa ứng xử trong lễ hội nói riêng Đồng thời, làm phong phú và đa dạng thêm cho kho tàng tư liệu văn hóa dân tộc về các lễ hội

Trang 7

Các giải pháp đề xuất trong nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả công tác

tổ chức và quản lý lễ hội trong thời gian tới

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài có bố cục gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về công tác tổ chức và quản lý lễ hội

Chương II: Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Tịch Điền tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Chương III: Giải pháp nhằm năng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý

lễ hội Tịch Điền tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI

1.1 Một số khái niệm về lễ hội

1.1.1 Khái niệm lễ hội

Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa đã đưa khái niệm lễ hội rất khác nhau, xuất phát từ nhiều góc độ Để hiểu được khái niệm này phải hiểu được lễ là gì, hội là gì

- Lễ: là nghi thức được tiến hành để dánh dấu kỉ niệm một sự việc, một sự kiện có ý nghĩa nào đó (theo từ điển Tiếng Việt 2002)

GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Lễ là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội

là phần phái sinh tích hợp”

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam có nhiều cách trình bày định

nghĩa lễ hội như trong Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) có viết: Lễ là hệ thống

các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện, còn hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “Nhân khang, vật thịnh”

Trong cuốn Văn hóa học xuất bản năm 1997, Đoàn Văn Chúc còn cho

rằng:“Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội, hay tự nhiên, tư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại được thực hiện theo nghi điển rộng lớn, mức

độ rộng lớn, tùy thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ

Trang 9

Trong Văn hóa học của Đoàn Văn Chúc (1997) Hội là cuộc vui chơi bằng

vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa phương nhất định vào dịp lễ

kỷ niệm một sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm đạt được sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ hội

+ Khái niệm lễ hội

Thấy giáo – TS Cao Đức Hải trong giáo trình “Quản lý lễ hội và sự kiện “

đã đưa ra định nghĩa : “Lễ hội là một tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định”(trang 14)

TS Dương Văn Sáu trong “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch”

(2004) định nghĩa: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội”

Trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại của Ngô Đúc Thịnh (2005) định

nghĩa: “Lễ hội là một hoạt động kỉ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay một nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ hay trò chơi truyền thống Là một hoạt động hết sức phổ biến, lễ hội có thể là sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tai lâu đời trong truyền thống”

Như vậy, lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng

và tôn giáo Lễ hội bao gồm hai thành tố là lễ và hội kết hợp giữa tín ngưỡng và vui chơi, giữa con người và thần linh, giữa thế giới âm và dương để thông qua đó, con người có thể bày tỏ niềm mong ước của mình vào các vị thần linh trên trời

Đồng thời, thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng

Trước đây, con người chưa có đủ khả năng chinh phục, chế ngự và làm chủ thiên nhiên cũng như làm chủ xã hội nên bị bất lực và chi phối bởi những thiên tai bất trắc, may rủi hay bất công do thiên nhiên hay con người gây nên Vì thế, thần linh là nơi họ đặt niềm tin vào đó như: thần linh trời đất, thần linh núi sông Vậy nên, xưa kia có nhiều làng xã đã xây dựng đình, miếu để thờ các vị thần linh tại địa phương và thường tổ chức lễ hội tại những nơi đó, nhằm thể hiện sự biết ơn đối

Trang 10

với các vị thần linh đã ban cho người dân nơi đó sức khỏe, mùa màng bội thu, vật nuôi sinh sôi phát triển Hơn thế nữa, họ còn cầu mong các vị thần tiếp tục che chở, bảo vệ và ban phúc lành may mắn, thịnh vượng cho họ Các lễ hội truyền thống thể hiện rõ nhất điều này Trong lễ hội truyền thống có sự tác động và ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo, tín ngưỡng để thần linh hóa trần tục

1.1.2 Lễ hội truyền thống và đặc trưng của lễ hội truyền thống

Liên quan đến khái niệm “Lễ hội truyền thống” còn có khái niệm “Lễ hội cổ truyền” dùng với nghĩa gần như tương đương với nhau Truyền thống hay cổ truyền

thật ra chỉ là hai thuật ngữ Hán – Việt dùng để nói về cùng một đối tượng

Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổ truyền của dân tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo và khẳng định để bảo tồn và phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội Như vậy, lễ hội truyền thống được coi như là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình thái sinh hoạt văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình xã hội được tổ chức theo

những giai đoạn lịch sử khác nhau Trong Hán – Việt Từ điển bách khoa, Đào Duy

Anh đã định nghĩa truyền thống như sau: “Thống gồm có nghĩa là mối tỏ, đường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa “Đời nọ truyền xuống đời kia””

Ngoài “Lễ hội truyền thống” và “Lễ hội cổ truyền” còn có “Lễ hội dân gian”

là lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của các xã hội truyền thống Xã hội truyền

thống có thể hiểu là những tập hợp người được tổ chức bởi các đơn vị “cộng đồng”, dựa trên ưu thế của tính chất “cộng đồng” Hơn nữa, xã hội truyền thống là các cộng

đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc, các xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc, các xã hội tiền công nghiệp tồn tại trước khi hình thành

những dân tộc quốc gia Từ đó có thể thấy, “Lễ hội truyền thống”, “Lễ hội cổ truyền” hay “Lễ hội dân gian” là đồng nhất với nhau nói về lễ hội trong sinh hoạt

văn hóa tinh thần của người dân xưa và nay

Có nhiều định nghĩa khác nhau về lễ hội truyền thống, tùy thuộc vào các tác giả tiếp cận ở khía cạnh nào theo phương thức nào Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu văn hóa đều cho rằng lễ hội truyền thống là hình thái văn hóa có tính chất hai mặt

Trang 11

trong một chỉnh thể thống nhất Lễ hội truyền thống là một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của cộng đồng hướng tới một đối tượng thần linh nhất định

và những hoạt động văn hóa để minh họa cho các hành vi nghi lễ Lễ càng thiêng thì hội càng đông, hội càng đông thì lễ càng thiêng Mặc dù vậy, khi đứng ở góc độ quản lý văn hóa để tiếp cận và tìm hiểu về lễ hội thì tất cả các yếu tố của lễ hội sẽ được quan tâm để nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân gian của dân tộc, đồng thời tái sáng tạo những giá trị văn hóa bác học dựa trên những yếu tố dân gian Có thể nói quản lý văn hóa quan tâm đến việc bảo tồn, phát huy và khai thác những vốn văn hóa truyền thống cùng với sự tái sáng tạo để làm nên những lễ hội truyền thống mang đúng nghĩa của nó, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân

Lễ hội truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến của cộng đồng cư dân nông nghiệp nước ta Tính nguyên hợp của lễ hội thể hiện ở chỗ

lễ hội vừa là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng các vị thần linh, vừa là hoạt động vui chơi giải trí, là sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất

Như vậy, có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử, được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phong tục tập quán

1.1.3 Khái niệm về quản lý

Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận, chịu một sự quản lý nào đó Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, luật học, điều khiển học Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý

Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người

Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc

Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý:

Trang 12

- Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ - nxb Đà Nẵng năm 2002) thì

quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định

- Theo điều khiển học thì: Quản lý là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo một

hệ thống hay một quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc, luật định tương ứng để cho quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước

PGS.TS Phan Văn Tú trong “ Đại cương về khoa học quản lý”(1999) định

nghĩa :“Quản lý là một quá trình: đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có – thấy được, thấy đúng cái gì cần có – Biết tìm mọi biện pháp khả thi và tối ưu để đưa ra cái thiện có lên tới cái cần có”

Như vậy, một cách tổng quát nhất có thể định nghĩa về quản lý theo Mai Hữu Khuê trong cuốn Lý luận quản lý hành chính nhà nước (2003) như sau: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định” Hay “Quản lý là

sự tác động của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”

Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước Tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản

lý nhà nước Bằng chính sách và pháp luật Nhà nước trao cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước

1.1.4 Khái niệm về quản lý lễ hội

Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Nhà nước với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mọi người dân đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền về văn hóa như: quyền học tập, sáng tạo, phê bình văn hóa nghệ thuật, tự

do sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội

Trang 13

Ở Trung ương, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về văn hóa là Chính Phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Chính Phủ thống nhất quản lý và phát triển sự nghiệp văn hóa – nghệ thuật trên cả nước Thi hành các biện pháp để bảo tồn và phát triển văn hóa, chống các hiện tượng, hành vi truyền bá tư tưởng văn hóa phản động, đồi trụy, các hủ tục mê tín dị đoan Chính Phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch trình các dự án, pháp lệnh về tổ chức hoạt động và quản lý văn hóa, quyết định quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa Ban hành các nghị định, chế tài quản lý, quyết định các chính sách, đầu tư, tài trợ, hợp tác với nước ngoài về việc tổ chức hoạt động phát triển văn hóa

Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính pháp chế nhà nước ở các địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình theo quy định của pháp luật Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực thuộc tỉnh, thành phố, các Phòng Văn hóa Thông tin cấp huyện, các Ban Văn hóa các xã, phường, thị trấn là

cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản

lý văn hóa ở địa phương mình

Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa Chính sách pháp luật về văn hóa được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước Song song với việc tiến hành các chính sách về văn hóa, để quản lý văn hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan Cùng với việc banh hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý

an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành văn hóa

Theo TS Cao Đức Hải trong giáo trình “Quản lý lễ hội và sự kiện”(trang 17-18) được hiểu theo hai góc độ:

Thứ nhất, Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của lễ hội và sự kiện

Trang 14

Đó là việc ngiên cứu, xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách

và luật pháp có liên quan và can thiệp bằng hệ thống công cụ cơ bản này của cơ quan hữu trách nhằm các mục tiêu phù hợp với các đường lối chính sách của Đảng

và Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo các lợi ích văn hóa của công dân, cộng đồng và quốc gia dân tộc

Thứ hai : Tổ chứ lễ hội và sự kiện

Được hiểu như sự huy động, sự tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm tôn vinh và phat triển các giá trị vốn có của lễ hội dân gian cổ truyền lên một tầm mức mới, phù hợp với các nhu cầu văn hóa – kinh tế - xã hội của coonhj đồng, địa phương, đất nước Nói cách khác, là việc quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu lợi ích công cộng hay mục tiêu lợi nhuận hay cả hai đặt trong bối cảnh hiện tại cũng như

xu hướng phát triển của đất nước”

Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hội truyền thống nói riêng được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý: chính sách, pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài của Nhà nước đã ban hành

Quản lý lễ hội là một quá trình thực hiện bốn công đoạn: xác định nội dung

và phương thức tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện; tổng kết, đúc kết kinh nghiệm

Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Luật pháp và văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy trì và thực hiện nghiêm minh các điều khoản đã được ghi trong luật và các văn bản pháp quy – nghị định – chế tài, các văn bản liên quan

Theo quy định hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm cấp phép, kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội Đồng thời, phối hợp cùng các

cơ quan chức năng như: công an, quản lý thị trường, môi trường giao thông, y tế

Trang 15

xử lý sai phạm trong lễ hội Việc chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung thuộc chính quyền sở tại, nhưng được phân chia trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhà nước có liên quan Do đó, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm tùy từng vụ việc mà có những cơ quan chức năng chịu trách nhiệm giải quyết

1.2 Vai trò của lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần đặc biệt mang tính tập thể cộng đồng, lễ hội truyền thống chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội Nó là sản phẩm tinh thần, là di sản văn hoá phi vật thể có giá trị to lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện nay có thể khái quát thành năm giá trị cơ bản: Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc, giá trị giáo dục, giá trị tâm linh, giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc, giá trị kinh tế

1.2.1 Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc

Lễ hội là một hoạt động tập thể mang tính cộng đồng, lễ hội của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ thường được gọi là hội làng Hội làng là đặc trưng nổi bật nhất của đồng bào các dân tộc nước ta Làng, bản là một kết cấu tổ chức xã hội có tính cộng đồng cao, biểu hiện ở cộng đồng dân cư, cương vực kinh tế - văn hoá - xã hội Dân cư của làng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau từ rất lâu đời, có khi là quan hệ dòng tộc, có khi là quan hệ láng giềng "Tối lửa tắt đèn có nhau”, "Bán anh em xa mua láng giềng gần” và như vậy lễ hội là một hoạt động tinh thần gắn kết họ lại với nhau để cùng chung một niềm tin cùng hướng về tổ tông dòng tộc, cùng chung một thần linh, thành hoàng…

Tính cố kết cộng đồng ấy thể hiện qua sự cộng mệnh và cộng cảm Cộng mệnh là sự gắn bó giữa con người trong cộng đồng thông qua vận mệnh của cộng đồng, thể hiện ở việc cả làng cùng suy tôn, cùng tôn thờ một sức mạnh siêu nhiên bảo vệ cho sự tồn vong của cả cộng đồng Đó là Đức quốc Tổ Hùng Vương trong lễ hội Đền Hùng, Quốc mẫu Âu Cơ trong lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hoà), Thành hoàng làng trong các lễ hội Đình; Đức Phật, Thánh Mẫu trong các lễ hội, tôn giáo… Cộng cảm là sự thể hiện có chung thái độ tình cảm của các cá nhân và cả tập thể trong ứng xử văn hoá với tự nhiên, thần thánh và con người

Trang 16

Trong các lễ hội truyền thống các hoạt động của lễ và hội đều thể hiện tính cộng mệnh và cộng cảm, tính quần thể Các lễ hội còn thấm đượm tinh thần đoàn kết, dân chủ và nhân bản sâu sắc Khi tham dự lễ hội đứng trước thần linh hay nhân vật thiêng liêng thì dù là người tổ chức hay người dân tham gia lễ hội hay bất kỳ cương vị nào cũng đều bình đẳng trước thánh thần và bình đẳng với nhau trong tư cách người tham gia Vì thế những câu như "nước lụt thì lút cả làng”, hay "nước nổi, bèo trôi”, "chết một đống còn hơn sống một mình” đã thể hiện tính cố kết cộng đồng trong một đơn vị làng xã và lớn hơn là dân tộc

Bất kể một lễ hội nào cho dù là lễ hội nông nghiệp, lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo suy tôn các vị thần linh hay anh hùng dân tộc thì các lễ hội ấy bao giờ cũng là

lễ hội của một cộng đồng; biểu dương các giá trị văn hoá và sức mạnh của cộng đồng trên mọi bình diện “Mọi hoạt động diễn ra trong các lễ hội ấy đều thể hiện tính cố kết cộng đồng, mang tính biểu trưng nhằm kêu gọi, tập hợp quần chúng nhân dân trong một vòng tay lớn" Bởi vậy, tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và là giá trị văn hoá tiêu biểu nhất của lễ hội truyền thống

1.2.2 Giá trị giáo dục

Lễ hội truyền thống là biểu hiện của hai quá trình: lịch sử hóa và huyền thoại hoá những nhân vật được nhân dân thờ phụng Trong dân gian luôn tồn tại quan niệm "Có tích mới dịch nên trò” Những nghi thức cúng tế, những tục hèm, những trò chơi dân gian truyền thống trong các lễ hội thường có nguồn gốc xuất phát từ một sự thật lịch sử hay hư cấu nào đó Tất cả những “tích” như vậy đều có hạt nhân

cơ bản là mong ước, sở nguyện của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thực tế qua khảo sát lễ hội ở vùng trung du bắc bộ nhất là ở khu vực Phú Thọ, hầu hết các lễ hội truyền thống ở vùng này được gắn chặt với các sự kiện mang tính lịch sử thời kỳ Hùng Vương dựng nước Hệ thống di tích Đình, Đền đều thờ các vị tướng lĩnh thời

kỳ Hùng Vương như Tản viên Sơn Thánh, Quý Minh Đại Vương… và được coi là thành hoàng làng

Lễ hội truyền thống còn là kết quả quá trình sân khấu hoá đời sống xã hội, là

sự mô phỏng, tái hiện lại hình ảnh của các nhân vật của sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ dưới hình thức diễn xướng dân gian, các trò diễn dân gian Điển hình như lễ hội "Rước Chúa Gái” ở Lâm Thao, Phú Thọ là quá trình tái hiện truyền

Trang 17

thuyết lễ thời Hùng Vương về tích truyện Sơn Tinh đón Ngọc Hoa công chúa đưa

về núi Tản Viên và phản ánh cả các phong tục tập quán sinh hoạt thời kỳ Hùng Vương dựng nước Vì vậy có thể nói lễ hội truyền thống là một “bảo tàng lịch sử sống” một “kho báu sống” về lịch sử dân tộc.Giá trị giáo dục của lễ hội cũng được thể hiện trong tính hướng về cội nguồn "Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn cội

Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một

bộ phận hữu cơ, nguồn cội cộng đồng, như dân tộc, đất nước xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá… Hơn thế nữa hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam”."uống nước nhớ nguồn”, "ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, "chim có tổ người có tông, như cây có cội như sông có nguồn” Điều đó giúp nhắc nhở mọi người trong cộng đồng những bài học về đạo lý của ông cha về lịch sử của làng, lịch

sử của dân tộc và truyền thống ông cha…Lễ hội truyền thống là hoạt động văn hoá tinh thần thể hiện tình cảm con người với tổ tiên, thần thánh để cầu mong mọi lực lượng siêu nhiên che chở phù hộ cho con người Cũng từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giúp con người không bao giờ quên cội nguồn, con người đến với lễ hội là đến với lòng thành kính tổ tiên và các bậc tiền nhân, nhắc nhở mọi người nhớ đến bổn phận và trách nhiệm của mình với ông bà, tổ tiên, dòng tộc… Do vậy lễ hội truyền thống có giá trị lớn trong việc giáo dục đạo đức giáo dục truyền thống lịch sử của làng bản quê hương đất nước đối với mọi thành viên tham gia lễ hội

1.2.3 Giá trị văn hoá tâm linh

Con người luôn có nhu cầu lớn về đời sống vật chất và tinh thần Bên cạnh cuộc sống vật chất, cuộc sống hiện thực thì các yếu tố thuộc về lĩnh vực tinh thần là nhu cầu không thể thiếu, nó giúp con người cân bằng trong đời sống thực tại Trong cuộc sống thế tục, con người đôi khi bất lực trước sức mạnh tự nhiên, có lúc họ bế tắc trong sự giải thoát và phải tìm đến nguồn sức mạnh tinh thần, tìm đến sự che chở phù hộ của tổ tiên dòng tộc, của thành hoàng, của các vị thần, từ đó giúp họ có niềm tin tạo nên động lực, sức mạnh để vượt qua khó khăn trong lao động sản xuất

và cuộc sống Họ cầu mong và tin tưởng vào sự che chở của tổ tiên và thần linh cho cuộc sống bình an, mùa màng bội thu, dân khang vật thịnh

Trong các lễ hội truyền thống Việt Nam, các yếu tố tâm linh được ẩn chứa khá sâu sắc từ việc chuẩn bị đồ cúng tế, các nghi lễ tế, lễ rước, các bài tế… cầu

Trang 18

nguyện thần linh đến các trò diễn đều chứa đựng giá trị văn hoá tâm linh.Bên cạnh

đó, giá trị văn hoá tâm linh của lễ hội trong đời sống xã hội hiện nay còn thể hiện ở chỗ con người luôn hướng tới cái chân- thiện- mỹ, cái cao cả mà con người luôn ước vọng tôn thờ, trong đó có cả niềm tin tôn giáo tín ngưỡng Một điều chắc chắn rằng đứng trước tổ tiên, thần linh không một người nào cầu mong ước nguyện điều xấu sa có hại cho người khác, có hại cho cộng đồng Khi trở về thế giới tâm linh, họ luôn mong muốn và tin tưởng vào sự chứng giám và phù hộ của thần linh vì sự trung thực, thành tâm của họ Vì vậy, những nghi lễ, tín ngưỡng trong lễ hội đã giúp con người thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh.Trong xã hội hiện đại, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và công nghệ thông tin, đời sống vật chất có thể đầy

đủ, đời sống tinh thần cũng có thể được nâng lên do hệ thống thông tin, các hoạt động vui chơi, giải trí, phim ảnh, thể thao, nghỉ dưỡng…

Tuy nhiên, các hoạt động trên vẫn không thể tạo ra sức mạnh cộng đồng, sự

“cộng cảm”, "cộng mệnh’’; không thể có “thời điểm mạnh”, "không gian thiêng” như ở hoạt động lễ hội Chỉ khi nào trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội cổ truyền, con người hiện đại mới được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả chân- thiện - mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng “Con người có thể phô bày tất cả những gì tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức ăn mặc lộng lẫy đẹp đẽ khác hẳn ngày thường… tất cả đó là trạng thái thăng hoa từ cuộc sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực’’

Đối với người dân Việt Nam, lễ hội là một trong những loại hình văn hoá lâu đời nhất, lễ hội có sức lôi cuốn, hấp dẫn và trở thành nhu cầu, khát vọng của người dân cần được đáp ứng, thoả nguyện qua mọi thời đại "Thông qua những hình thức biểu hiện của mình, lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là cách ứng xử thông minh, khôn ngoan của con người đối với sức mạnh vô hình hay hữu hình mà

họ chưa nhận thức được Lễ hội trở thành một hiện tượng văn hoá tổng hợp làm thoả mãn nhu cầu văn hoá tâm linh và tâm lý vật chất của con người Bản chất của

Trang 19

lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từng giai đoạn lịch sử ”

1.2.4 Giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc

Nền văn hoá Việt Nam bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp, văn minh lúa nước, cộng đồng làng xã là cái nôi sản sinh ra nền văn hoá phong phú và độc đáo, đồng thời làng xã cũng là cái nôi bảo tồn nền văn hoá ấy không bị đồng hoá Dân tộc ta phải trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc nhưng chúng ta không bị đồng hoá, nền văn hoá Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển nhờ văn hoá làng xã, với phương thức sinh hoạt cộng đồng Các phong tục, tập quán, tín ngưỡng gắn với ngôi đình, mái chùa cùng với lễ hội là cái nôi giữ gìn bảo tồn văn hoá Việt Nam Đúng như GS.TSKH Tô Ngọc Thanh nhận xét: “Không có làng xã Việt Nam thì không có văn hoá Việt Nam”.Lễ hội là một hình thức tái hiện cuộc sống quá khứ thông qua các hoạt động tế lễ, các trò diễn Đó là cuộc sống lao động sáng tạo và khát vọng chống lại thiên tai địch hoạ

Cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân được thể hiện dưới các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần vô cùng sinh động hấp dẫn như các hoạt động

tế lễ, rước, các trang phục truyền thống, các bài văn tế, các trò diễn dân gian, các điệu dân ca, dân vũ, hát xoan, hát ghẹo… Các hoạt động ấy trong lễ hội không những tái hiện cuộc sống mà nó góp phần giữ gìn và bảo tồn nền văn hoá dân tộc, được lưu giữ từ đời này sang đời khác Nói một cách khác lễ hội truyền thống là kết quả của quá trình lịch sử hoá quá khứ và hiện tại, kết hợp quá trình huyền thoại hoá những nhân vật là sự kiện lịch sử được nhân dân thờ phụng Đồng thời còn là kết quả của quá trình sân khấu hoá đời sống xã hội và quá trình xã hội hoá trong tiến trình lịch sử

Quá trình mô phỏng tái hiện cuộc sống quá khứ và những nhân vật sự kiện lịch sử trong lễ hội đã đạt đến tính xã hội hoá cao Hình thức và nội dung của lễ hội phản ánh khá đầy đủ và sinh động đời sống vật chất là tinh thần xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ thể Đồng thời qua quá trình hình thành và tồn tại, lễ hội đã tác động mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thể cộng đồng trong một khu vực làng xã, một vùng, một dân tộc, một quốc gia, tuỳ theo tính chất và mức độ của lễ hội ấy Và như vậy lễ hội truyền thống góp phần bảo tồn văn hoá dân tộc ngay trong chính tâm thức của cộng đồng

Trang 20

Đặc trưng của lễ hội là tính truyền miệng, những sự kiện lịch sử, đời sống xã hội được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua dịp lễ hội hàng năm Nói một cách khác lễ hội truyền thống là “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.Lễ hội là bảo tàng sống về văn hoá dân tộc được thể hiện ở hai phương diện:Thứ nhất, lễ hội là sinh hoạt cộng đồng mô phỏng tái hiện lại hình ảnh các nhân vật sự kiện lịch sử được nhân dân thờ phụng thông qua các hoạt động tế lễ, diễn xướng, các trò diễn dân gian; Hoạt động này có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, được nhân dân lưu giữ trong trí nhớ và được chính nhân dân tái hiện mô phỏng một cách sinh động hấp dẫn và sáng tạo…Thứ hai, toàn bộ nội dung lễ hội, hình thức lễ hội, ý nghĩa và các giá trị văn hoá của lễ hội được tồn tại trong lòng cộng đồng Nó xâm nhập vào đời sống xã hội, trở thành nhu cầu tinh thần, thành mong ước, trở thành tiềm thức trong nhân dân Như vậy, lễ hội được bảo tồn ngay trong lòng cộng đồng, vừa là môi trường sản sinh ra văn hoá, vừa là môi trường tốt nhất để bảo tồn làm giàu thêm và phát huy nó trong đời sống xã hội.Vì vậy, muốn bảo tồn văn hoá trong đời sống cộng đồng, phải đưa nó trở lại trong đời sống nhân dân và xã hội hoá nó, cụ thể là phải đưa lễ hội, khôi phục lễ hội trong đời sống nhân dân, nó phải được gắn với đời sống tinh thần nhân dân, gắn với phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân

Do vậy không thể tách lễ hội truyền thống ra khỏi đời sống nhân dân, ra khỏi cộng đồng, cái nôi hình thành và đã sản sinh ra nó Đây là đặc trưng mà trong quá trình nghiên cứu lễ hội cần xem xét để bảo tồn lễ hội một cách phù hợp.Nếu đem so sánh các hình thức bảo tồn văn hóa giữa trạng thái "bảo tàng sống" của lễ hội với

“Bảo tàng tĩnh” trong các viện Bảo tàng thì sẽ thấy rõ điểm khác biệt Hầu hết các hiện tượng văn hóa vật thể (hiện vật, bảo vật, cổ vật…) được lưu giữ bảo tồn trong nhà bảo tàng đều là bảo tàng tĩnh có thể lưu trữ lâu và quá trình hao mòn mất đi dễ nhìn thấy và có thể phục chế gần như nguyên bản

Tuy nhiên, Bảo tàng tĩnh ít có tác động đến đời sống tinh thần cộng đồng Nhưng khác với văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể nói chung và lễ hội nói riêng được bảo tồn trong trạng thái động là chủ yếu Lễ hội mô phỏng đời sống xã hội, lịch sử… ngay trong hoạt động cộng đồng do đó cơ hội tác động trực tiếp vào giác quan con người qua lễ tế, lễ rước, trò diễn, đồng thời hình thành thái độ, tình cảm,

Trang 21

cảm xúc mới trước các sự kiện của lễ hội, tạo ra hình ảnh mới, vì thế lễ hội được bảo tồn ngay trong đời sống, tâm thức cộng đồng, trong mỗi người dân Sự hao mòn của văn hoá phi vật thể và lễ hội không dễ nhìn thấy, nó lặng lẽ âm thầm mai một, thậm chí mất đi (thất truyền) mà không dễ phục hồi Vì vậy, cần đưa lễ hội trở về đời sống cộng đồng, trở thành nhu cầu tinh thần không thể thiếu của nhân dân, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội góp phần bảo tồn nền văn hoá dân tộc

Lễ hội cũng chứa đựng truyền thống văn hoá phong phú kết hợp với hệ thống

di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ kỳ thú của làng quê Việt Nam là những lời mời gọi thiết tha khách du lịch đến với lễ hội Ngành du lịch không thể không khai thác lễ hội truyền thống với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, một sản phẩm du lịch văn hoá đặc biệt mang lại nguồn thu lớn cho ngành kinh tế du lịch

Thế giới đang hướng đến một sự phát triển bền vững, một nền công nghiệp sạch, trong đó du lịch chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Bản chất của du lịch là khám phá, tìm hiểu văn hoá, nhu cầu du lịch là do nhu cầu văn hoá quyết định, trong đó sự mong muốn hiểu biết văn hoá, giao lưu, tìm hiểu phong tục tập quán, các giá trị văn hoá lại chứa đựng chủ yếu trong lễ hội truyền thống, vì thế lễ hội là động lực thúc đẩy hoạt động du lịch.Lễ hội truyền thống không phải chỉ là tiềm năng du lịch nội địa mà còn là tiềm năng du lịch quốc tế, lễ hội cùng với hệ thống di

Trang 22

sản văn hoá và cảnh quan thiên nhiên đã là một nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch Đúng như một nhà kinh doanh Pháp về tiềm năng du lịch Việt Nam, ông Jean Cois Dugard đã nói: "Các bạn nằm ngủ trên một di sản văn hoá lớn, một tiềm năng kinh tế khổng lồ, các bạn chưa đánh giá đúng, chưa khai thác hết sức mạnh và lợi nhuận mang lại từ lăng tẩm, cung điện kia”

Theo Tổng cục Du Lịch Việt Nam thống kê : Đất nước ta với gần 9.000 lễ hội cùng với hệ thống di tích lịch sử văn hoá của mấy ngàn năm dựng nước với những cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, hệ thống di sản văn hoá thế giới, những kỳ quan thiên nhiên, hệ thống lăng tẩm, bờ biển… đã tạo môi trường tốt cho du lịch

Do vậy chỉ sau mấy năm đổi mới du lịch Việt Nam đã mang lại nguồn thu lớn: Năm

1994 du lịch Việt Nam đón 1 triệu khách nước ngoài, 3,6 triệu du khách trong nước, thu hơn 4000 tỷ đồng; Năm 2005 đã có 3,43 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam thu 30.000 tỷ đồng, đến năm 2008 khách quốc tế đến Việt Nam là 4,3 triệu lượt người, khách nội địa là 20 triệu lượt, thu 60.000 tỷ đồng Bên cạnh đó, lễ hội cùng với hệ thống di sản văn hoá góp phần tạo lập các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài, thông qua du lịch, việc tìm hiểu các phong tục tập quán, truyền thống văn hoá tạo nên sự hiểu biết tin cậy lẫn nhau, tạo lập mối quan hệ ngoại giao với đối tác nước ngoài gia tăng Đồng thời hệ thống lễ hội truyền thống và di sản văn hoá Việt Nam là một tiềm năng du lịch để thu hút đầu tư nước ngoài phát triển tại Việt Nam

Có thể nói di sản văn hoá thông qua hoạt động du lịch là nguồn thu hút vốn đầu tư nước ngoài tốt nhất với sức hút đặc biệt của nó Trong số 1000 dự án đầu tư vào Việt Nam đã được cấp phép với số vốn 10,23 tỷ đô la thì du lịch chiếm 117 dự

án với số vốn 1,95 tỷ đô la Như vậy du lịch Việt Nam chiếm 20% số vốn đầu tư vào Việt Nam… ngoài ra còn hàng chục triệu đô la của các tổ chức quốc tế đầu tư vào việc tôn tạo bảo tồn các di sản văn hoá… nguồn vốn này không chỉ tạo điều kiện cho ngành kinh tế du lịch phát triển mà còn tác động đến sự tăng trưởng của các ngành kinh tế khác và toàn bộ nền kinh tế đất nước

Vì vậy, lễ hội truyền thống cùng với di sản văn hoá Việt Nam mang trong mình giá trị kinh tế đặc biệt

Trang 23

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với công tác tổ chức lễ hội

Trước năm 1945 về cơ bản, lễ hội là một phong tục “đến hẹn lại lên” Ngay khi giành chính quyền từ tay thực dân Pháp, với tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh

đã kí sắc lệnh về bảo tồn di sản văn hóa lịch sử trong đó có di tích và lễ hội Nhưng trong thực tế do hoàn cảnh của cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài gần 30 năm cũng như quan niệm sai lầm, ấu trĩ một thời khiến phần lớn các đình, chùa, miếu mạo, đền bị phá hủy hoặc hư hại nặng nề Lễ hội và nhiều hoạt động dân gian khác không

có điều kiện tổ chức Có thể nó đây là “ khoảng đứt đoạn của” truyền thống lễ hội ở nước ta

Sau năm 1975, tuy đã giành đươc độc lập và thống nhất đất nước nhưng cả nước vừa phải tập trung mọi nỗ lực vào để hàn gắn vết thương chiến tranh đồng thời đối mặt với hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc Chế độ bao cấp lại duy trì qua lâu làm cho bức tranh kinh tế xã hội của xã hội của đất nước không sang sủa lên trong thời gian dài Trong bối cảnh ấy, chẳng ai chú ý đến di sản văn hóa mà tiêu biểu là lễ hội

Bước sang năm 80, tình hình đổi khác nhanh chóng Do sự đổ khác nhanh chóng do có sự ổn định dần quy lai cuộc sống đời thường, tạo điều kiện cho nhu cầu

đã trở thành tiềm thức từ ngàn đời sống lại Nhân dân đóng góp tiền để tu sửa những di tích còn sót lại hoặc dựng mới trên nền những công trình tín ngưỡng đã mất Cùng với đó nhiều truyền thống lễ hội được phục hồi, chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, do nhân dân tự tổ chức Tuy nhiên lễ hội lúc này còn han chế về tổ chức và quản lý Với tình hình đó tháng 4/1984 Nhà nước còn ban hành pháp lệnh “ Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh “ Đây là cơ sở pháp lý dầu tiên tạo điều kiện và cơ hội cho hàng loạt di tích lịch sử được trùng tu, tôn tạo điều kiện và cơ hội cho hàng loạt di tích lịch sử được trùng tu, tôn tạo trong cả nước từ nhiều nguồn lực khác nhau trong xã hội chỉ vài năm sau sắc lệnh năm 1984 được ban hành, hàng trăm bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đây là điều kiện cho lễ hội được phục tồn và tổ chức trở lại

Sau một thời gian dài trong cơ chế bao cấp, Đảng ta đã đổi mới và chuyển sang cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà nước, mở rộng giao lưu hợp tác quốc

tế nên nền kinh tế được phục hồi và phát triển sự phát triển ngày càng mạnh, nhiều

Trang 24

phong tục tập quán cũng được phát huy Trong đó là sự bùng nổ của các lễ hội dân tộc và được coi là thời kì phục hưng văn hóa dân tộc Việt Nam Tuy nhiên do thiếu

sự định hướng kịp thời nên nhiều nơi xuất hiện những biểu hiện phục hồi hủ tục, mê tín dị đoan và tiếp thu văn hóa ngoại lai một cách ồ ạt, không có sự chon lọc Hơn nữa, nhiều gia đình làm xáo mòn đạo đức bởi nó phá hoại thuần phong mỹ tục ảnh hưởng lớn tớ đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đó là vấn đề xã hội rất nhức nhối

Trước tình hình đó Nhà nước ban hành chỉ thi 27/CT – TW ngày 12/1/1998 của Ban chấp hành Trung ưng Đảng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới việc tang và lễ hội

Bộ chính trị đã hướng về nếp sống văn minh trong lễ hội như sau:

+ Bảo tồn chọn lọc, cải tiến, đổi mớ những phong tục tập quán tố đệp của dân tộc, loai bỏ dần trong cuộc sống những hình thức vừa văn minh, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

+ Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa, lãng phí và phiền nhiễu

+ Xóa bỏ hủ tục, bài trừ mê tín di doan

Để thực hiện chỉ thị 27, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị 14/CT – TTg ngày 28/3/1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: các cấp các ngành có kế hoạch tổ chức các hoạt động cũng như triển khai thực hiện nếp sống văn minh văn hóa, tiến bộ và giàu bản sắc dân tộc

Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du Lịch) ban hành thông tư 04/1998/TT – BVTT ngày 11/7/1998 về việc nếp sống văn minh theo chỉ thị của Đảng và Nhà nước Trong đó quy định rõ một số nguyên tắc về tổ chức lễ hội :

+ Hướng dẫn những ý nghĩa tốt đẹp của ngày lễ, ngày kỉ niệm

+ Giáo dục truyền thống tốt đệp của dân tộc: về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật

để bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và thắt chặt tình cảm cộng đồng

+ Tưởng nhớ công đức của thần thánh, tiền nhân, anh hùng dân tộc ghi nhớ công lao của các tiền bối trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc

+ Giới thiệu các di tích lịch sử, danh lam tháng cảnh, các công trình văn hóa nghệ thuật và phát huy vốn văn hóa truyền thống của dân tộc

Trang 25

+ Tổ chức lễ hội phải được phép quản lý theo phân cấp của Bộ Văn hóa Thông tin Tất cả lễ hội truyền thống đều được cơ quan văn hóa thông tin kiểm định nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa, nghi thức truyền thống và giá trị nhân bản trong lễ hội Nếu có sự thay đổi về nội dung hoặc hình thức của lễ hội phải được cơ quan có thẩm quyền của ngành Văn hóa Thông tin quyết định, được phép của giám đốc Sở Văn hóa Thông tin

Tại Nghị quyết Trung ương 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu ra quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc phải gắn với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán và lề thói cũ

Tại Quyết định số 39/2001/QĐ/BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin về việc ban hành Quy chế tổ chức lễ hội trong đó chương II đề cập đến vấn đề quản lý và tổ chức lễ hội

Tại Quyết định số 308/ 2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiên nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

Luật Di sản văn hóa Việt Nam điều 25 quy định: “ Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy các giá tri truyền thống, bài trừ các hủ tục chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội Việc tổ chức lễ hội phải theo quy định của pháp luật”

Cục Văn hóa – Thông tin cơ sở cũng yêu cầu các địa phương thực hiện công tác quy hoạch lễ hội, phân cấp quản lý rành mạch, phù hợp với quy mô, đặc điểm của di tích và lễ hội Đối với các lễ hội tổ chức lần đầu, hoặc khôi phục lại sau nhiều năm gián đoạn, hoặc có thay đổi nội dung hay quy mô thì phải xin giấy cấp phép tổ chức Những lễ hội theo quy định thì không phải xin giấy phép mà phải thực hiện báo cáo bằng văn bản

Có thể nói, Đảng và Nhà Nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, đường lối, chính sách ngày càng phù hợp cho việc tổ chức lễ hội ở nước ta góp phần giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc

Trang 26

CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN TẠI XÃ ĐỌI SƠN, HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY

2.1 Khái quát về lịch sử, kinh tế, văn hóa – xã hội của xã Đọi Sơn, Duy Tiên,

Hà Nam

2.1.1 Vị trí địa lý

Xã Đọi Sơn nằm phía Tây huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam cách thành phố Phủ

Lý 20 km, có diện tích tự nhiên 13.765 ha bằng 1,6,01% diện tích tự nhiên của tỉnh, nằm trong tọa độ địa lý từ 105053’26” đến 106002’43” vĩ độ Bắc và 20032’37” đến 20032’37” kinh độ Đông

- Phía Bắc thị xã Hòa Mạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

- Phía Đông giáp xã Nhân Lý, huyện Lý Nhân, Tỉnh Hà Nam

- Phía Nam giáp thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

- Phía Tây xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên, Tỉnh Hà Nam

- Đơn vị hành chính: 11 làng

- Dân số : Tính đến ngày 31/12/2008: 3.123 người

Xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên là quê hương giàu truyền thống cách mạng: Năm

2002 cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Duy Tiên được Nhà nước

phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân

2.1.2 Lịch sử hình thành

Xã Đọi Sơn là một xã thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam là địa phương có lịch sử lâu đời, giàu truyền thồng yêu nước và cách mạng Từ xa xưa dưới các triều đại Phong kiến, trong huyện đã có 1 vị tiên hiền là Tiến sĩ 3 vị Hương cống (cử nhân), 4 vị sinh đồ và tú tài Với số người đỗ đạt cao nhất của tỉnh đã góp phần tạo dựng nên miền quê địa linh nhân kiệt

Sau nhiều lần chia tách, thay đổi địa danh, từ Hà Nam Ninh rồi Nam Hà, tỉnh Hà Nam chính thức tách tỉnh với Nam Định năm 1997 Từ đây các huyện xã được tái lập lại, huyện Duy Tiên có 22 xã phường, thị trấn Xã Đọi Sơn có tất cả 11 thôn (thôn Đọi Tam, thôn Đọi Tứ, thôn Giáp Ba, thôn Đọi Lĩnh, thôn Kim Lũ, thôn Đoài, thôn Nguyễn, thôn Việt Hòa, thôn Sa Lao, thôn Nhất, thôn Nhì)

Trang 27

2.1.3 Tình hình kinh tế - văn hóa xã hội

Hà Nam là vùng đất phù xa màu mỡ, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa

Từ thời vua Hùng dựng nước và giữ nước và các giai đoạn lịch sử chống Pháp và chống Mỹ xâm lược nhân dân ở đây đã đóng góp công sức to lớn

Từ 2005 đến nay, kinh tế - xã hội của xã Đọi Sơn đã có những bước tiến vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị, nông thôn được đầu tư phát triển; các lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ mới; đời sống nhân dân được cải thiện, bộ mặt đô thị và nông thôn có nhiều khởi sắc Tổng sản phẩm trong xã (GDP) tăng bình quân 13%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của một số xã trong tỉnh Tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%/năm, công nghiệp và xây dựng tăng 23,4%/năm và các ngành dịch vụ tăng 18,6%/năm Việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giống mới, trồng cây xuất khẩu, sản xuất lúa giống và nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi như sản xuất trên vùng đất trũng, kinh tế trang trại, kinh tế vườn đồi đang tạo cho kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 39,68% năm 2005 lên 46,25% năm 2009, dịch vụ giảm từ 31,76% năm 2005 xuống còn 30,36% năm 2009, nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 28,55% năm

2005 xuống còn 23,39% năm 2009 Quá trình đổi mới theo hướng đa dạng hóa các hình thức sản xuất, kinh doanh làm cho hoạt động kinh tế trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trở nên sôi động, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, kinh tế tư nhân, cá thể và các loại hình kinh tế khác trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.Trong 5 năm, xã Đọi Sơn đã quy hoạch và được Chính phủ phê duyệt 2 khu công nghiệp với tổng diện tích 1.000

ha tại các vị trí thuận lợi giao thông.(Theo Sở Kế hoạch Đầu tư Tỉnh Hà Nam)

2.2 Lễ hội Tịch Điền xã Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam

2.2.1 Sự tích về lễ hội Tịch Điền

Trong lịch sử Việt Nam, Lê Hoàn là vị vua đầu tiên thân chinh ra ruộng cày Trong sách “Việt sử lược”, “ Đại Việt sử kí toàn thư”, “Đại Nam nhất thống chí” đều ghi chép:

Trang 28

Mùa xuân năm 987, Vua Lê Đại Hành cùng văn võ bá quan cày ruộng tại cánh đồng xã Đọi Sơn và bắt được chum vàng, năm 988 cày ở Bàn Hải (thuộc Đọi Sơn) bắt được chum bạc vì thế ở đây được gọi là Kim Ngân Điền Từ đó, hàng năm vua năm nào cũng đích thân ra cày ruộng với mong muốn cầu cho mùa màng bội thu, cây cối tươi tốt Và vua đi cày lại có ý nghĩa hết sức to lớn về mặt tinh thần khuyến khích nông nghiệp nước ta phát triển từ một nước thiếu lương thực trở thành nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo ra thị trường quốc tế Lễ hội Tịch được phục dựng

để khuyến khích nông nghiệp nghiệp và tưởng nhớ vua Lê Đại Hành Lễ hội Tịch Điền từ thời Lê Sơ và thời Lý được tổ chức long trọng được coi là một ngày lễ quan trọng trong năm ngày đó vua cung với văn võ bá quan cùng nhau ra ruộng vào dịp đầu xuân để cày khai xuân Đây là lễ hội có ý nghĩa to lớn vì thế đã được phụng dựng và phát triển

2.2.2 Qúa trình phát triển của lễ hội Tịch Điền

Lễ Tịch Điền đầu tiên ở Việt Nam diễn ra vào năm 987, dưới thời vua Lê Đại Hành.Thời Lý lễ Tịch điền được tổ chức long trọng hơn và là một trong những ngày hội chính của đất nước Lý Thái Tông là ông vua rất chăm lo cho nền nông nghiệp nước nhà Nhà vua đã nhiều lần đích thân xuống khởi cày Tịch điền Sử cũ ghi: ngày 14-10-1030 (Canh Ngọ), vua thân ra ruộng ở Điều Lộ xem gặt; ngày 1 tháng 4 năm 1032 (Nhâm Thân) vua đi cày tịch điền ở Đỗ Động Giang, hôm ấy, có nhà nông dâng Vua một cây lúa 9 bông; tháng 3- 1042 (Nhâm Ngọ), vua đi cày ruộng tịch điền ở Khả Lâm v.v Năm Thông Thụy thứ 5 (1038), vua Thái Tông cày ruộng

ở Bố Hải, sai quan lại chọn đất xây đàn cúng tế Vua làm lễ tế Thần Nông cầu cho được mùa lúa tốt, không bị thiên tai làm hư hại, rồi tự cầm cày cày ruộng Thời Trần, vua không thân hành ra làm lễ Tịch điền, mà sai quan lại đắp đàn Xã Tắc để cúng tế Đời Hậu Lê, năm Hồng Đức thứ 15 (1484), vua Thái Tông dựng đàn Tiên Nông bên ngoài thành Thăng long Hàng năm, vào tháng trọng xuân, vua và các quan ra cúng tế Thần Nông và làm lễ Tịch điền Nhà vua đích thân cầm cày cày ruộng Thời Lê-Trịnh, chúa Trịnh ra tế thay vua, rồi sai quan cày ruộng Thời nhà Nguyễn vua Minh Mạng được mệnh danh là vị hoàng đế của nhà nông Năm Minh Mạng thứ 9, dự lễ Tịch Điền, sau khi đích thân cày 3 đường nhà vua xúc động nhận

ra rằng, "việc cày cấy khó khăn hơn các nghề khác sao Nên giáng ân chỉ trù chọn

Trang 29

năm Minh Mạng thứ 10 trừ bớt 3 phần mười thuế lúa má Nhà vua nói: "Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cái ăn là Trời Tuy có cảnh tình, mây lành, chim phụng kỳ tập,

kỳ lân ra đời, chẳng bằng được mùa là điềm lành trên hết "

Sau đó lễ hội Tịch Điền do nhiều lý do đã bị mai một trong gần 1000 năm qua đến năm 2009 được Đảng và Nhà Nước quan tâm bắt đầu phục dựng lại và bắt đầu tổ chức lễ hội lần đầu tiên sau khi bị mai một công tác phụng dựng được chuẩn bị trước

đó rất nhiều ngày để có thể thu thập hết tài liệu ghi chép về lễ hội ở rải rác ở khắp nơi Các nhà nghiên cứu đã tập hợp lại và xây dựng kịch bản lễ hội bao gồm các nghi lễ

và trò chơi dân gian sau đó họp bàn và đua ra ngày tổ chức Ngày được chọn là 5 – 7 Tết âm lịch đây là thời gian hợp lý nhất và cũng là ngày vua Lê Đại Hành đi cày Lễ hội được tổ chức lần đầu thu hút nhiều dân chúng và báo chí tham gia Tiếp biến sự thành công đó là lễ hội năm 2010 đây là lần đầu tiên lễ hội chính thức diễn ra đươcj chuẩn đị chu đáo và sau đó là các năm về sau 2011, năm 2012 và 2013

2.2.3 Công tác chuẩn bị cho việc tổ chức lễ hội Tịch Điền

- Chuẩn bị về thời gian, địa điểm

Thời gian diễn ra lễ hội Tịch Điền là đầu xuân (mùng 5-7 Tết) đây là thời điểm thích hợp nhất bởi dịp đầu xuân mọi người vui đón tết và được nghỉ dài ngày nhu cầu vui chơi giải trí Như vậy đây là thời gian rỗi với người dân cho nên sẽ triệu tập và thu hút được nhiều người cùng tham gia vào việc sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Ngay sau tết năm nào lễ hội cũng được tổ chức để giúp con người trút bỏ âu lo, thay vào đó là sự phấn khởi kèm theo những khao khát ước mơ cho một năm mới đầy may mắn và mùa màng bội thu Với hình tượng vua đi cày có ý nghĩa hết sức to lớn nó cổ vũ tinh thần của người nông dân và tạo sự gần gũi thân mật

Địa điểm tổ chức lễ hội là cánh đồng xã Đọi Sơn và chùa Long Đọi Sơn một

di tích lịch sử được công nhận là di sản cấp quốc gia Tại cánh đồng rộng và bằng phẳng tại đây sẽ tiến hành lễ Tịch Điền, lễ rước chân nhang và tập chung các trò chơi Đây là địa điểm lý tưởng để dan chúng khách thăm quan có thể bao quát hết lễ hội Còn chùa Long Đọi Sơn là ngôi chùa cạnh chân núi canh cánh đồng tạo ra không gian linh thiêng cho lễ hội Sự lựa chọn thời gian và không gian như vậy chính là sự tiếp nối kinh nghiệm và truyền thống hàng năm của địa phương

- Chuẩn bị về kinh phí:

Nguồn kinh phí cho việc tổ chức lễ hội chủ yếu từ:

Trang 30

+ Nguồn công đức từ các năm trước để lại

+ Huy động đóng góp từ nhân dân

+ Từ các nhà hảo tâm

+ Từ các chi hội, các đoàn thể

+ Và các nguồn thu khác như trông xe, các dịch vụ khác

- Chuẩn bị về nhân lực

Nguồn nhân lực là yếu tố giữ vai trò quan trọng trong lễ hội Lễ hội Tịch Điền được tổ chức trước hết phải được sự đồng ý của chính quyền địa phương và

có sự họp bàn của các bô lão trong xã để chọn ra người phù hợp để đóng làm vua

và đám rước Việc sắp xếp như vậy một phần do dân làng bầu và do chính quyền phân công

Công tác chuẩn bị về nhân sự trong lễ hội đầu tiên phải kể đến việc thành lập Ban chỉ đạo bao gồm trưởng ban, phó ban và các ủy viên; và thành lập Ban tổ chức bao gồm trưởng ban, phó ban và các ủy viên; thành lập các tiểu ban gồm: tiểu ban rước nước, tiểu ban tuyên truyền, tiểu ban tiếp tân, tiểu ban khánh tiết, tiểu ban tài chính, tiểu ban anh ninh, tiểu ban giao thông, tiểu ban môi trường,… Trong đó mỗi người trong Ban chỉ đạo, Ban tổ chức và các tiểu ban đều được phân công những công việc cụ thể phù hợp với nhiệm vụ của mình

Tiếp đó là tìm ra đội tế, quân kiệu, đội múa, đội rồng và sư tử Và quan trọng nhất là đội trâu và đội trống vì đây là linh hồn củ lễ hội Tịch Điền Đàn trâu phải được tuyển chọn từ các xã khác nhau từ trước, trống thi huy động trống Đọi Tam Ngoài ra còn thành lập độ ngũ quản lý bảo vệ, trông xe, dọn vệ sinh môi trường,…

Ủy ban nhân dân xã Đọi Sơn kết hợp với Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Hà Nam đã gửi giấy mời các đại biểu ở các cơ quan trong và ngoài ngành về tham dự lễ hội này

- Chuẩn bị về cơ sở vật chất

Ban quản lý cho chuẩn bị cánh đồng nơi sẽ tiến hành cày quây xung quanh

để tiến hành công tác chuẩn bị làm sân khấu, nơi cày, nơi múa và nơi thực hiện nghi

lễ Sau đó là tiến hành lắp kiệu, lau rửa cờ quạt, và dọn dẹp sạch sẽ đường đi,…

- Chuẩn bị về nội dung

Trang 31

Trước khi mở hội vài ngày, mở cửa chùa Long Đọi Sơn để chuẩn bị lễ hội và tiến hành rước thử quanh khu di tích Từ ngày 5-7/1 (âm lịch) chính thức diễn ra hội trong đó:

Ngày 5/1 (âm lịch) tiến hành lễ rước:

Buổi sáng 6h 30 đến 7h30 làm công tác chuẩn bị

Từ 8h - 10h tiến hành lễ rước chân nhang Vua Lê Đại Hành

Từ 14h – 16h lễ rước nước

Ngày 6/1 (âm lịch) tiến hành làm lễ:

Từ 8h – 10h lễ mộc dục

Từ 14h – 16h lễ cáo yết tại đình làng Đọi Tam

Tất cả đều được tiến hành tại chùa Long Đọi Sơn và tiến hành múa lân- rồng lân và tổ chức các trò chơi Buổi tối từ 19h – 23h ngoài trời tổ chức văn nghệ hát trầu văn và múa

Ngày 7/1 (âm lịch)

Từ 7h - 8h lễ rước kiệu của làng Đọi Tam

Từ 8h –10h lễ cày Tịch điền

Từ 14h – 17h đại lễ giải hạn – cầu an ở chùa Đọi

Đan xen là các trò chơi dân gian như vẽ trâu, đu quay, đánh cù,…

2.2.4 Diễn trình lễ hội Tịch Điền

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn được khôi phục lại 2009 và được tổ chức thường niên Lễ hội diễn ra trong các các ngày 5, 6, 7 tháng Giêng bao gồm phần lễ và phần hội

Phần lễ:

Lễ hội Tịch Điền vẫn giữ nguyên các nghi lễ truyền thống vốn có

Lễ hội Tịch Điền được tổ chức, trước hết phải có sự họp bàn của các bô lão trong làng kết hợp đại diện của các ban ngành Người đại diện đứng lên chọn quân cờ, quân kiệu cho đám rước Ngoài ra còn chuẩn bị mọi thứ khác cho lễ hộ diễn ra tốt đẹp như: cảnh quan môi trường, thành lập đội bảo vệ , đội quản lý

Lễ hội Tịch Điền diễn ra vào đầu tháng Giêng mà theo quan niệm của người Việt Nam “ tháng Giêng là tháng ăn chơi” chào đón một năm mới tốt lành cho người thân và để vui chơi giải trí mọi người tham gia vào lễ hội Lễ hội Tịch điền

Trang 32

diễn ra không chỉ thu hút người dân xã Đọi Sơn mà còn lôi cuốn mọi người trong cả nước tham gia

Mở đầu là lễ rước chân nhang vua Lê Đại Hành nghi thức này rất đông vui Ban tổ chức lễ hội triệu tập đầy đủ quân cờ, quân kiệu và tất cả đoàn người tham gia

lễ rước Đoàn người bắt đầu lên chùa Long Đọi Sơn nơi có tượng thờ tiến hành rước chân nhang xuống cánh đồng nơi sẽ làm lễ cày Tịch Điền Đoàn rước có rồng vàng lộng lẫy và ô quạt rực rỡ

Sau khai mạc có đông đủ đại diện của các ban ngành như: Sở Văn Hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Hà Nam, Phòng Văn hóa Duy Tiên, các hội các ban ngành của địa phương đến dự cùng với toàn thể nhân dân Lễ khai mạc kết thúc còn lại buổ chiều diễn ra Sau đó là lễ rước nước được trang trí cầu kì có hai hàng kèn trống và rồng đi trước theo sau là đoàn người Đoàn rước bắt đầu xuất phát từ chùa Long Đọi Sơn ra sông Châu lấy nước Sau đó mang về để ngài mai làm lễ mộc dục Buổi chiều và tốt con tổ chức các trò chơi dân gian và văn nghệ

Ngày hôm sau (6/1 âm lịch) buổi sang tiến hành lễ mộc dục Kiệu rước nước

về cộng đồng làng cử hành luôn lễ mộc dục (tức là lễ tắm rửa tượng thánh thần), công việc này giao cho những người có uy tín do cộng đồng làng tín nhiệm và lựa chọn Họ thắp hương dâng lễ rồi tiến hành công việc một cách nghiêm trang, thận trọng Tượng thần linh được tắm rửa hai lần, lần thứ nhất là bằng nước ở kiệu rước

về, lần thứ hai là bằng nước ngũ vị hương đã chuẩn bị từ trước Lễ mộc dục được gọi là tắm rửa nhưng thực chất là lấy khăn, vải sạch nhúng vào nước rồi lau chùi nhẹ nhàng lên tượng thánh thần buổi chiều là lễ cáo yết tại đình làng Đọi Tam buổi tốt thi tố chức văn nghệ và hầu đồng

Sang ngày 7/1 (âm lịch) các công tác chuẩn bị lễ hội diễn ra từ sáng sớm các nghi thức: rước trống, rước linh vị vua Lê Đại Hành từ chùa Long Đọi Sơn xuống chân núi và nhập với đoàn rước Thành Hoàng Làng cùng tổ nghề trống Đọi Tam dưới chân núi Đọi đoàn rước tiến về khu ruộng mà trước đây vua Lê Đại Hành đã đi cày đầu năm khuyến khích người dân trồng lúa, chăm lo nông nghiệp vào năm 987 Sau đó là lễ bái yết Thần nông cầu một năm mới mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh.Sau màn đánh trống khai hội của đội trống nữ Đọi Tam là màn múa rồng Tiếp đến lão nông được tái hiện lại hình ảnh vua Lê Đại Hành bước lên lễ đài khấn

Trang 33

cáo vua Lê và Thần Nông, sau đó lão nông này đội mũ Cửu Long, mặc áo Hoàng Bào xuống ruộng đi cày 3 sá, theo sau vua là đoàn gieo hạt giống bao gồm đỗ xanh, lạc và thóc Sau khi vua cày xong các vị lãnh đạo địa phương và các lão nông xuống cày 9 sá

Diễn trình của lễ hội theo trình tự như trên, chứng tỏ có khà nhiều lớp văn hóa lắng đọng trong lễ hội Điểm nhấn của lễ hội đó là đại diên lãnh đạo cấp cao như chủ tịch nước hoặc phó chủ tịch nước năm nào cũng về với lễ hội Tịch Điền để khuyến khích nông nghiệp

- Phần hội:

Hội là dịp để người dân vui chơi thỏa thích các trò chơi dân gian Nó không

bị ràng buộc bởi nghi lễ, tôn giáo, đẳng cấp, lứa tuổi, giới tính Nếu phần lễ là những nghi thức thờ cúng linh thiêng có tính quy phạm được cử hành ở đình làng thì hội là những sinh hoạt dân dã, trên sân đình và khu vực bờ hồ để mọi người dự hội cùng tự do, bình đẳng vui chơi, tham gia vào các trò chơi dân gian như: Vẽ trâu,

đu quay, chơi cù, đấu vật,

Mở đầu phần hội là trò chơi vẽ trâu các con trâu thường ngày quen ra đồng thì hôm nay được tham gia vào con nào con ấy ngơ ngác không biết mình đang ở đâu Từ mờ sáng, các chú trâu “nền” được ban tổ chức lễ hội chọn lựa từ các thôn, xóm trong vùng đã được các chủ trâu tập kết tại bãi gần sân khấu chính để sẵn sàng làm giá vẽ cho họa sĩ

Sau hồi trống khai hội, các họa sĩ tỏa về khu sân bãi nhận trâu và bắt đầu công việc với bút, màu Các ý tưởng nghệ thuật tạo hình của các họa sĩ nhanh chóng được thể hiện cụ thể với đủ các sắc thái trên mình trâu đen mượt.Hội thi trang trí trâu được tổ chức từ 09h sáng đến 15h chiều Những chú trâu đạt giải sẽ được tham gia cày vào sáng ngày hôm sau Hội thi vẽ trang trí trâu cùng hòa vào không khí lễ hội “Tịch điền Đọi Sơn” đã làm nên nét văn hóa độc đáo, tiếp nối truyền thống mà vẫn mang hơi thở đương đại, góp phần khuyến khích, cổ vũ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới của đất nước nói chung, tỉnh Hà Nam nói riêng

Sau trò vẽ trâu là đến hội vật truyền thống, tất cả những nam giới đều có thể đăng ký với Ban tổ chức để tham gia Đây là trò chơi dân gian, mỗi ván đấu có hai người dùng sức để làm sao vật ngửa được đối phương thì sẽ dành chiến thắng

Trang 34

Những người xung quanh đánh trống reo hò, cổ vũ để khuyến khích tinh thần thi đấu cho các đấu vật Phần thưởng cho người chiến thắng là 500.000 đồng Đấu vật

có ý nghĩa rèn luyện sức khỏe, củng cố tinh thần thể thao cho mọi người

Sau hội đấu vật là hội chọi gà Chọi gà (còn gọi là đá gà) là một thú chơi dân gian mang đậm nét văn hóa truyền thống từ lâu đời Chọi gà là thú chơi để giải trí, xem về đấu pháp, tài nghệ của gà, nhưng còn một ý nghĩa khác đó là bói lộc đầu năm Chọi gà là một thú chơi tao nhã, vừa có tính tiêu khiển lại vừa khuyến khích việc chăn nuôi của nhà nông xưa Đặc biệt, trò chơi chọi gà có một sức hút rất đông đảo quần chúng, vừa mang tính chất giải trí, vừa mang tinh thần thượng võ, là chất keo sơn gắn kết tinh thần cộng đồng đã từng tồn tại trong một thời gian dài ở các hội làng xưa Hai con gà chọi người đỏ gay lừa mổ nhau, đập cánh vào nhau, nhảy lên đá móc vào nách, vào cổ họng, vào ức của đối phương quyết liệt hoặc ghì nhau

đè cánh đạp chân như những đấu thủ trên sàn đấu Những cú mổ hiểm hóc vào mắt, vào cổ đối phương đến chảy máu, những cú đá móc với những chiếc móc sắc nhọn đến toác ngực làm người xem xung quanh thán phục Chú gà nào dành chiến thắng

sẽ nhận được phần thưởng là 300.000 đồng

Ngoài các phần chơi có giải thưởng còn có các trò chơi vui, giải trí như: Đu quay, đánh cù thể hiện sự khéo léo, tinh tế và nhanh nhẹn của mọi người làm tăng thêm tinh thần cố kết cộng đồng

2.2.5 Ý nghĩa văn hóa của lễ hội Tịch Điền

Ngày xưa, lễ Tịch điền là một trong những lễ hội có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng các quốc gia mà nông nghiệp được xem là nền kinh tế quan trọng nhất; đặc biệt đối với các quốc gia dân số đông như Trung Quốc; các quốc gia thuần nông như Việt Nam Người xưa đã tổng kết “Phi nông bất ổn”, “Nông suy bách nghệ bại”

- nông nghiệp mà không bảo đảm, lương thực không đủ ăn thì đất nước, xã hội sẽ mất ổn định.Vua nói: Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo Có ý nghĩa hết sức to lớn cỗ vũ tinh thần khuyến khích phát triển nông nghiệp Nó được truyền từ đời này qua đời khác trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc Mội lần vua đi cày bằng trăm lời cổ vũ Lễ hội tổ chức ngay dịp đầu xuân để tạo khí thế phấn khởi hồ hởi cho nhân dân bắt đầu vào một vụ mùa bội thu, ngoài ra

Trang 35

nó cũng là dị để con người vui chơi giải trí tham gia vào các trò chơi độc đáo mà chỉ

có lễ hội Tịch Điền mới có

2.3 Thực trạng của công tác quản lý và tổ chức lễ hội Tịch Điền từ năm 2009 đến nay

2.3.1 Về công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản về quản lý lễ hội

Trong những năm qua, công tác quản lý lễ hội luôn được các cấp ủy Đảng, Chính quyền từ tỉnh đến cấp cơ sở quan tâm chỉ đạo và coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Các cơ quan chức năng và Chính quyền địa phương đã tăng cường đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp quy, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội trên hệ thống loa truyền thanh của xã, qua hướng dẫn nghiệp vụ, qua thông tin cổ động trực quan (pa

nô áp phích, băng rôn, khẩu hiệu), đặc biệt là Quy chế tổ chức lễ hội và Quyết định

số 39/2001 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 23/8/2001, Luật di sản văn hóa

Nhờ công tác triển khai phổ biến kịp thời các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tới các cơ quan, đoàn thể và nhân dân địa phương nên công tác tổ chức và quản lý lễ hội Tịch Điền trong những năm gần đây

có nhiều chuyển biến tích cực Lễ hội đã chấp hành theo Quy chế tổ chức lễ hội của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2001 về thực hiện thủ tục cấp phép tổ chức thuộc Chương II, Điều 5; Báo cáo tổng kết lễ hội với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin thuộc Chương II, Điều 4; Thời gian thực hiện tổ chức lễ hội thuộc Chương II, Điều 12 Đến nay, lễ hội Tịch điền đã thành lập Ban

Tổ chức lễ hội, điều hành theo chương trình đã được xin phép với cơ cấu thành phần theo quy định của Nhà nước

Bên cạnh đó, còn tuyên truyền phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước như: Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ ban hành quy định chi tiết thi hành

Trang 36

một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật

di sản văn hóa

Có thể nói những văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ sở pháp

lý cho công tác quản lý văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng; Cụ thể hóa những nội dung của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa

VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã trở thành công cụ đòn bẩy cho hoạt động quản lý văn hóa, thể thao và

du lịch cũng như lễ hội nói chung và lễ hội Tịch Điền nói riêng

2.3.2 Quản lý các nguồn lực tổ chức lễ hội

2.3.2.1 Quản lý nguồn nhân lực

Hiện nay, tại khu vực tổ chức lễ hội có hai loại nhân lực được quản lý: nguồn nhân lực tại chỗ, đó là cư dân địa phương thường xuyên tham gia các hoạt động dịch vụ có liên quan trong phạm vi ảnh hưởng của di tích và nguồn nhân lực vãng lai gồm các đối tượng lao động không cố định như: những người bán hàng rong, những người ăn xin

Ban tổ chức đã có phương án để quản lý tốt hai nguồn nhân lực này Đối với nguồn nhân lực tại chỗ, bố trí và sắp xếp đội ngũ nhân lực phù hợp, đúng vị trí, trước khi phân công nhiệm vụ, Ban quản lý đã xây dựng kế hoạch, kiểm tra, đánh gia, phân loại đối tượng Phân công và giao việc, tạo điều kiện công bằng để các các nhân được khẳng định và thể hiện trình độ năng lực của mình trong công việc Đối với nguồn nhân lực vãng lai từ nơi khác đến tham gia vào hoạt động lễ hội, Ban tổ chức lễ hội đã có những biện pháp kiểm soát đối tượng này Hạn chế để các cá nhân lợi dụng lễ hội hoạt động ăn xin, bán hàng rong

2.3.2.2 Quản lý nguồn tài chính

Đối với nguồn tài chính chi cho tổ chức lễ hội được quản lý như sau:

Lễ hội do cấp xã tổ chức và quản lý nên ngân sách do Ủy ban nhân dân xã Đọi Sơn trực tiếp cấp phát và xét duyêt quyết toán đối với Ban tổ chức lễ hội

Kinh phí lấy từ nguồn thu kinh doanh dịch vụ và thu được chủ yếu từ nguồn công đức của nhân dân địa phương và du khách thập phương được giao cho Ủy ban nhân dân xã Đọi Sơn nắm giữ, sau đó đầu tư trở lại chi cho các hoạt động tổ chức lễ hội lần sau và việc tu bổ di tích

Trang 37

Kinh phí tổ chức lễ hội được tài trợ từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thì

do Ban Văn hóa xã Đọi Sơn trực tiếp quản lý chi cho tổ chức lễ hội

Lễ hội truyền thống ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Đồng thời, lễ hội đang trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương Do đó, việc tăng cường hiệu lực quản lý lễ hội truyền thống dựa trên các quy định của Hiến pháp, các văn bản Nghị định, các Quy định của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và Luật Di sản văn hóa do Nhà nước ban hành nhằm mục đích đảm bảo quyền tự do sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc Đưa các hoạt động tổ chức lễ hội đi vào nề nếp nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của quần chúng nhân dân, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân thêm đa dạng, phong phú, vui tươi, lành mạnh trên cơ sở đó tăng thêm tinh thần đoàn kết gắn bó cộng

đồng của người dân Thông qua sinh hoạt lễ hội giáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tính tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước của mỗi người dân, tạo

ra môi trường bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa – nghệ thuật truyền thống và trò chơi dân gian, từ đó biến lễ hội truyền thống trở thành động lực phát triển kinh

tế - văn hóa - xã hội và quảng bá hình ảnh của địa phương Khai thác và phát huy tiềm năng sáng tạo, ý thức và vai trò của quần chúng nhân dân trong việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống

Trong những năm qua các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và lễ hội đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật và có đóng góp không nhỏ vào việc lập lại trật tự trong tổ chức và quản lý lễ hội trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, trên thực tế quản lý lễ hội trong những năm qua cho thấy: Yêu cầu thực tế cần được quan tâm quản lý trong các lễ hội thường đa dạng hơn, phong phú hơn, phức tạp hơn so với những gì chứa đựng trong các văn bản quản lý

Di tích chùa Long Đọi Sơn là không gian tổ chức lễ Vì thế, Ủy ban nhân dân xã Duy Tiên tích cực chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ, tôn tạo chùa Long Đọi Sơn, đầu tư chống xuống cấp cho di tích Đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất để lễ hội hàng năm được tổ chức trang trọng, thành kính

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w