Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Giảng viên Th.s Hoàng Bích Hà, cô đã tận tình giúp đỡ em từ khâu lựa chọn đề tài, cung cấp phương pháp nghiên cứu, thông qua đề cương và hướ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT
*************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyªn ngµnh: Qu¶n lý V¨n hãa
HÀ NỘI – 2011
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Khoa Quản lý Văn hóa - Nghệ thuật; các cán bộ làm việc tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Thái Nguyên), Bảo tàng Dân tộc học (Hà Nội), Thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội, thư viện Tỉnh Thái Nguyên, Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Thái Nguyên, Phòng Văn hóa thể thao và du lịch huyện Phú Lương, ủy ban nhân dân xã Tức Tranh đã cung cấp cho em những tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn đến ông Trần Văn Đình - già Làng Đồng Tâm,
ông Hầu Thanh Tĩnh - Chủ nhiệm "Câu lạc bộ Xình ca, hát ví Đồng Tâm" cùng các nghệ nhân múa Tắc Xình xóm Đồng Tâm đã giúp em có được những kiến thức thực tế giúp đề tài thêm phần sinh động
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Giảng viên Th.s Hoàng
Bích Hà, cô đã tận tình giúp đỡ em từ khâu lựa chọn đề tài, cung cấp
phương pháp nghiên cứu, thông qua đề cương và hướng dẫn suốt quá trình làm bài đến khi đề tài:
"Múa Tắc Xình trong Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm
Đồng Tâm - Xã Tức Tranh- Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên"
của em được hoàn thành
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Trang 3Mục lục
Lời cảm ơn
phần mở đầu 6
1 Lý do chọn đề tài: 6
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 9
3 Mục đích nghiên cứu: 9
4 Phương pháp nghiên cứu: 9
5 Đóng góp của đề tài: 9
6 Bố cục của đề tài: 10
Chương I: Khái quát đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa - x∙ hội của dân tộc Sán chay ở xóm đồng Tâm - x∙ Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh thái nguyên 11
1.1 Vị trí địa lý, khí hậu, đất đai xóm đồng tâm - x∙ tức tranh: 11
1.2 Kinh tế: 13
1.2.1 Trồng trọt: 13
1.2.2 Chăn nuôi: 16
1.2.3 Thủ công gia đình: 17
1.2.4 Trao đổi, mua bán: 18
1.3 Văn hóa - x∙ hội: 19
1.3.1 Nguồn gốc và tên gọi Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh: 19
1.3.2 Văn hóa vật chất: 20
Trang 41.3.2.1 Nhà ở của dân tộc Sán Chay ở Đồng Tâm: 20
1.3.2.2 Trang phục: 22
1.3.2.3 Đồ ăn, uống, hút: 24
1.3.3 Tổ chức xã hội: 29
1.3.3.1 Tổ chức thôn bản: 29
1.3.3.2 Các lễ, tết trong năm: 30
1.3.3.3 Hôn nhân, gia đình, dòng họ: 31
1.3.3.4 Tập quán cưới xin, sinh đẻ và nuôi con: 32
1.3.4 Văn hóa tinh thần: 35
1.3.4.1 Tôn giáo, tín ngưỡng: 35
1.3.4.2 Ngôn ngữ và văn nghệ dân gian: 36
Chương II: Múa Tắc Xình trong Lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - x∙ Tức Tranh 38
2.1 Lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm Đồng Tâm: 38 2.1.1 Lý do mở hội: 38
2.1.2 Thời gian và không gian tổ chức lễ hội: 39
2.1.3 Công tác chuẩn bị cho Lễ hội: 41
2.1.4 Phần nghi lễ trong Lễ hội Cầu mùa: 41
2.1.5 Phần hội trong Lễ hội Cầu mùa: 42
2.2 Múa Tắc Xình trong lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán Chay xóm Đồng Tâm - x∙ tức tranh: 44
2.2.1 Múa Tắc Xình trong Lễ hội Cầu mùa: 44
2.2.2 Diễn tiến của múa Tắc Xình: 45
2.2.3 Giá trị, ý nghĩa của điệu múa Tắc Xình trong đời sống tinh thần của người Sán Chay: 48
Trang 5Chương III: Bảo tồn vμ phát huy múa Tắc Xình trong Lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm
Đồng Tâm - x∙ tức tranh 52
3.1 Thực trạng điệu múa Tắc Xình trong Lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán Chay xóm Đồng Tâm: 52
3.1.1 Múa Tắc Xình trong Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở Đồng Tâm xưa kia: 52
3.1.2 Múa Tắc Xình trong Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Sán Chay trong bối cảnh hiện nay: 53
3.2 Bảo tồn vμ phát huy múa Tắc Xình trong Lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - x∙ Tức Tranh: 56
3.2.1 Đề cao sự thống nhất và phân cấp trong các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương: 57
3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm phát huy trách nhiệm của người dân Đồng Tâm về giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương: 58
3.2.3 Bảo tồn và phát huy Múa Tắc Xình trong hoạt động lễ hội ngay tại địa phương: 59
3.2.4 Nghiên cứu và ứng dụng Khoa học kỹ thuật vào quản lý và bảo tồn, phát huy múa Tắc Xình: 59
3.2.5 Có những chính sách thích hợp đối với những người có công sưu tầm, phục dựng vốn văn hóa dân gian này: 60
3.2.6 Bảo tồn và phát huy múa Tắc Xình trong mối quan hệ với phát triển du lịch: 61
3.2.7 Huy động những nguồn nhân lực khác: 62
Kết luận 64
tμi liệu tham khảo 66 PHỤ LỤC
Trang 6phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Hiện nay trên thế giới, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
đang được quan tâm đặc biệt ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến công tác này Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) của Đảng đã được thông qua với chủ trương "Xây dựng nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" Đây cũng là một chủ trương lớn
có tính định hướng cho những bước đi tiếp theo của sự nghiệp văn hóa nước nhà Theo đó, những giá trị văn hóa tốt đẹp sẽ được giữ gìn và phát huy Đồng thời tiếp thu thêm cái mới cho sự phát triển của nền văn hóa Với chủ trương này, trong những năm qua nhiều hoạt động giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số đã được triển khai, tổ chức Trong các giá trị văn hóa độc đáo và đặc sắc đó không thể không kể đến lễ hội truyền thống của dân tộc
Là một thành tố quan trọng trong kho tàng Di sản Văn hóa Việt Nam,
lễ hội truyền thống có vai trò to lớn không thể tách rời trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp bao gồm nhiều mặt của đời sống như: tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, tinh thần và vật chất, linh thiêng và đời thường Vì vậy, hàng năm trên mọi miền của Tổ Quốc người ta đều tổ chức lễ hội nhằm tưởng nhớ các vị khai canh, khai khẩn của làng, các vị sư tổ ngành nghề, các vị anh hùng dân tộc hoặc để cầu phúc, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu
Vì vậy, có thể xem lễ hội truyền thống là một bảo tàng văn hóa, là nơi lưu giữ những tín ngưỡng tôn giáo, những sinh hoạt Văn hóa dân gian, nơi phản ánh tâm thức người Việt Nam một cách chân thực nhất Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự thay đổi nhiều mặt của đất nước, lễ hội truyền thống Việt Nam đang có sự biến đổi to lớn, toàn diện
Trang 7cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện Vì vậy, trước những thách thức của xã hội hiện đại, để giữ gìn và phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống mà không làm biến dạng những đặc trưng vốn có của nó là một việc làm không hề dễ dàng
Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Sán Chay - sinh sống ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên là lễ hội mùa vụ nằm trong lễ hội dân gian của tỉnh Thái Nguyên Do điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế, như phần lớn các dân tộc thiểu số khác ở Thái Nguyên, người Sán Chay là cư dân nông nghiệp, các cây trồng chủ yếu xoay quanh vấn đề lương thực trong đó lúa đóng vai trò quan trọng Vì thế, Lễ hội Cầu mùa
được coi là lễ hội lớn nhất của dân tộc Sán Chay Tổ chức Lễ hội Cầu mùa, người Sán Chay muốn tạ ơn trời đất đã cho được mùa liên tiếp, thóc gạo
đầy nhà và cầu được mùa trong vụ tiếp theo, cầu cuộc sống yên ổn, ấm no, hạnh phúc, không ốm đau, bệnh tật,
Điệu múa Tắc Xình là một phần không thể thiếu và giữ vai trò quan trọng, làm nên nét văn hóa rất đặc trưng trong Lễ hội Cầu mùa của người Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
Điệu múa này mang giá trị tâm tinh to lớn, nó chính là cầu nối giữa nhân dân trong bản với thần linh Nó thể hiện rất rõ tín ngưỡng phồn thực,
âm dương hài hòa cùng với tấm lòng kính cẩn dâng lên thần linh những món ăn ngon, điệu múa đẹp, dân làng cầu mong cho một mùa cấy hái bội thu Đây cũng là dịp để dân làng thỏa sức vui chơi giải trí sau một năm lao
động vất vả và truyền lại cho con cháu vốn bản sắc văn hóa của ông cha thông qua lễ hội
Với những giá trị và vai trò đó, việc giữ gìn và phát huy Lễ hội Cầu mùa nói chung và điệu múa Tắc Xình của người Sán Chay xóm Đồng Tâm nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn hiện
Trang 8nay khi đất nước đang trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khi những giá trị văn hóa truyền thống đang có nguy cơ bị mai một
Là sinh viên của trường Đại học Văn hóa Hà Nội, chuyên ngành Quản lý Văn hóa thì việc nghiên cứu Lễ hội truyền thống nói chung và Lễ hội Cầu mùa của người Sán Chay nói riêng là rất cần thiết Bởi những kiến thức nghiên cứu thu thập được sẽ phục vụ rất nhiều cho công tác sau này của bản thân Ngoài ra, Thái Nguyên còn là thủ đô kháng chiến - có ý nghĩa rất quan trọng đối với lịch sử dân tộc; lại là nơi gắn bó với cuộc đời tôi nên không có gì là khó hiểu khi tôi dành cho con người và phong cảnh Thái Nguyên một tình cảm đặc biệt Tự thấy mình phải có trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của mảnh đất này
Vì vậy, với đề tài này tôi hy vọng sẽ góp thêm tư liệu vào việc bảo tồn và phát huy giá trị của Lễ hội Cầu mùa nói chung và điệu múa Tắc Xình nói riêng của tộc người Sán Chay xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
Với những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài:
"Múa Tắc Xình trong Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm
Đồng Tâm - Xã Tức Tranh - Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên"
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 92 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Múa Tắc Xình trong lễ hội cầu mùa của dân
tộc Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi nghiên cứu: xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú
Lương - tỉnh Thái Nguyên
3 Mục đích nghiên cứu:
- Khái quát đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội của dân tộc Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
- Tìm hiểu múa Tắc Xình và lễ hội cầu mùa của người Sán Chay ở nơi
Trang 10Báo cáo đề tài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Quỳnh
- Lớp QLVH 8C - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, khóa học 2007 -
6 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội của dân tộc Sán Chay ở xóm đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương
- tỉnh Thái Nguyên
Chương II: Múa Tắc Xình trong Lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
Chương III: Bảo tồn và phát huy múa Tắc Xình trong Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh
Trang 11Chương I:
Khái quát đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa - x∙ hội của dân tộc Sán chay ở xóm đồng Tâm - x∙ Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh thái nguyên
1.1 Vị trí địa lý, khí hậu, đất đai xóm đồng tâm - x∙ tức tranh:
Xóm Đồng Tâm là một xóm vùng sâu, vùng xa ở phía Đông Nam huyện Phú Lương, cách trung tâm xã Tức Tranh 5km, trung tâm huyện Phú Lương hơn 20km
Được hình thành từ năm 1926 gồm 8 hộ và 40 người Tất cả những hộ này là người dân tộc Sán Chay có nguồn gốc ở huyện Phú Lương - Đại Từ
- Đồng Hỷ họ quần tụ về đây lập làng: "Đồng Báng" Đến năm 1960, làng
Đồng Báng được chuyển tên thành làng Đồng Tâm
Xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh tính đến nay có 134 hộ và 629 nhân khẩu, có 96% là người dân tộc Sán Chay Đây là xóm đầu tiên của xã Tức Tranh, huyện Phú Lương được 2 lần đón nhận bằng Làng văn hóa tiêu biểu cấp tỉnh
Năm 1996, phòng Văn hóa thông tin huyện Phú Lương đã chọn xóm
Đồng Tâm là đơn vị điểm để xây dựng mô hình xóm bản văn hóa theo cuộc vận động xây dựng gia đình, làng, bản văn hóa (ngày nay là phong trào: "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa")
Có thể nói, xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh bên cạnh việc xây dựng
đời sống văn hóa, nhân dân địa phương còn giữ được những nét văn hóa
đặc sắc của người Sán Chay như cách ở, cách ăn mặc, sinh hoạt cộng đồng mang bản sắc của người Sán Chay
Trang 12Là một xóm mang khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với 2 mùa nóng lạnh rõ rệt Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ xuống dưới 30oC, thường xuyên có các đợt gió mùa Đông Bắc hanh khô Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ cao nhiều khi có mưa lớn và tập trung
Do địa hình tương đối dốc nên trong mùa nóng mưa nhiều, thường xảy ra lũ lụt, xói mòn sạt lở đất, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Là một địa phương vùng sâu vùng xa, đất đai của xóm Đồng Tâm bao gồm: đất rừng, đất ở và đất canh tác Trong đó, đất rừng chiếm diện tích lớn Đây là thế mạnh cho việc phát triển trồng rừng, bảo vệ sự trong lành của môi trường, nguồn nước ngầm tự nhiên, bảo vệ đất đai canh tác và là không gian rất thuận lợi cho việc chăn nuôi những loại gia súc lớn như trâu, bò, ngựa, ; khai thác các sản vật của rừng, với rất nhiều cây thuốc quý phục vụ cho việc chữa bệnh của nhân dân trong và ngoài xóm, những cây gỗ quý có giá trị đem lại thu nhập lớn cho người dân, Dọc những sườn đồi thoai thoải, ta sẽ bắt gặp ngay trước mắt những đồi chè xanh mướt, đem lại cho ta cảm giác yên bình của một vùng quê với những con người chân chất Chè là loại cây công nghiệp góp phần quan trọng vào việc đem lại thu nhập cho người dân Sán Chay nơi đây Khu vực đất đai bằng phẳng nhất được người Đồng Tâm dành cho việc trồng cây lương thực, trong đó lúa giữ vai trò chủ yếu Hiện nay, do kỹ thuật canh tác đất
được nâng cao và nguồn cung cấp nước ngày càng được quan tâm cho nên thay vì canh tác một vụ/năm trước đây, nay người dân đã nâng lên hai, ba vụ/năm
Về hệ thống cung cấp nước sinh hoạt và nước tưới, phần lớn địa phương vẫn sử dụng nguồn nước ngầm, nước tự chảy khá phong phú và cung cấp đều đặn Tuy nhiên do nguồn nước mặt hiện nay cũng đã và đang
bị ô nhiễm do khai thác khoáng sản đầu nguồn và dân số ngày một tăng,
Trang 13nên các chương trình cung cấp nước sạch đã được ủy ban nhân dân huyện Phú Lương quan tâm với phương án trước mắt chủ yếu là sử dụng nước giếng khoan, lớn hơn nữa là xây dựng các dự án thủy lợi vùng đồi do ủy ban nhân dân huyện Phú Lương kết hợp với Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn, Cục Thủy Lợi (Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn) tiến hành
1.2 Kinh tế:
Với người Sán Chay ở xóm Đồng Tâm, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, trong đó làm ruộng nước là chính Ngoài ra, nguồn thu từ cây chè, khai thác lâm sản và chăn nuôi góp phần rất lớn trong việc cải thiện
đời sống nhân dân nơi đây
1.2.1 Trồng trọt:
Trong số các loại cây nông nghiệp người Sán Chay canh tác thì lúa, ngô, sắn là loại cây chủ đạo Chè là loại cây công nghiệp rất được người dân quan tâm
Đối với loại cây lương thực, người Sán Chay tuyển chọn và sử dụng
bộ giống cây trồng tương đối phong phú Đó là loại cây dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, chịu hạn tốt, ít sâu bệnh Ví dụ về giống lúa họ có: lúa nếp khẩu lấy, khẩu mộ, hau láu, hau lim, hau đâm… Lúa tẻ gồm: khảu núi, khảu lai… Giống ngô có: ngô vàng, ngô nếp,…
Từ những năm 1960 trở lại đây, họ làm nương ít dần, giống lúa nương vì thế mà cũng mai một Thay vào đó là các giống lúa mới: chân châu lùn, bao thai, nông nghiệp tám, khang dân, khang ưu nhập từ Trung Quốc… Người Sán Chay trồng hoa màu chủ yếu là sắn, khoai lang, đậu xanh,
đậu đen, bầu, bí, hành, tỏi, rau ngót, ớt,… Các loại cây ăn quả trồng trong khuôn viên nhà ở như: mít, bưởi, đào, na, chanh, ổi…
Trang 14Nhìn chung, nông lịch của người Sán Chay không có nhiều khác biệt
so với các tộc người khác ở Thái Nguyên, trừ một vài ngày lễ, tết theo tập quán riêng
Giải pháp kỹ thuật truyền thống đối với đất trồng trọt gắn chặt với
điều kiện nước tưới Phần lớn các khu ruộng đều ở vị trí thấp hơn nguồn nước Nương được chọn ở những sườn dốc có nhiều cây guột và cây có lá màu xanh thẫm, đất ẩm có thể dính vào lưỡi dao khi băm thử, nhiều mùn giun đùn lên Để làm trên ruộng, sức trâu vẫn được dùng chủ yếu Công cụ làm đất chính bao gồm: cày, cuốc, bàn trang, bừa chữ nhị, thuổng, dao quắm, gậy chọc lỗ,…
Về mùa vụ, xưa kia việc canh tác các loại cây trồng của người Sán Chay hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên Hàng năm, họ chỉ trồng cấy được
vụ mùa tức là vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 9 Âm lịch), mùa khô đa
số đất đai đều bỏ hoang Từ tháng 2 đến tháng 9 âm lịch hàng năm là mùa gieo trồng, thu hoạch trong khoảng tháng 8 đến tháng 10 Nhưng ngày nay người dân trồng được cả vụ chiêm và vụ mùa với kỹ thuật tương đối giống nhau
Về chăm sóc bảo vệ, người dân nơi đây chủ yếu dùng phân gia súc (phân chuồng), phân xanh (lá cây, cỏ tươi) để bón ruộng Phân chuồng dùng để bón lót trước khi tra hạt hay đặt cây giống; phân xanh được dùng bón thúc cho lúa trên ruộng là chủ yếu Kỹ thuật này được người Sán Chay
áp dụng từ những năm 60 của thế kỷ 20 đến nay Ngày nay, họ còn dùng
đạm, kali, lân để bón thúc cho các loại cây trồng, chủ yếu là lúa Kỹ thuật mới này họ tiếp thu từ các cơ quan khuyến nông thông qua các lớp tập huấn ngay tại cộng đồng Theo tập quán, đối với tất cả các loại cây trồng
Trang 15khác nhưng nó cũng góp phần đem lại thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống nhân dân
Cây bông - nguyên liệu kéo sợi dệt vải, xưa kia cũng được trồng tại một số hộ gia đình Bông được trồng trên nương, chủ yếu do phụ nữ trong các gia đình thu hái Bởi không thể thu hoạch đại trà nên họ đều phải tranh thủ làm công việc này vào cuối những buổi lao động trên nương hoặc những ngày nông nhàn Tuy nhiên, hiện nay cây trồng và công việc này hầu như không còn nữa Các loại quần áo và vải vóc dùng trong sinh hoạt hằng ngày đều được mua sẵn tại các chợ phiên
Trong xã hội truyền thống, việc theo dõi năng suất và sản lượng thường không được người Sán Chay quan tâm Khi đó, những đơn vị đo lường của người Sán Chay hoàn toàn chỉ là quy ước đơn giản Với cách tính trọng lượng đó, họ khó có thể biết được chính xác sản lượng lúa, hoa màu thu hoạch được bao nhiêu hàng năm Ngày nay, do có tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất lao động của người Sán Chay đã được nâng lên rất nhiều
Do việc giao đất lâu dài cho nhân dân nên người dân được tự chủ canh tác trên ruộng đất, nương rẫy nhà mình, mọi công đoạn được họ theo dõi chặt chẽ, do vậy năng suất, sản lượng cây trồng của các hộ tăng lên rõ rệt
Như đã trình bày ở các phần trên, trong xã hội truyền thống hoạt
động kinh tế chủ đạo của người Sán Chay là trồng cây lương thực Ngày nay để hòa nhập với nền kinh tế thị trường, họ đã có rất nhiều thay đổi theo hướng hội nhập với nền kinh tế hàng hóa, đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, song canh tác cây lương thực đối với họ vẫn là hoạt động quan trọng hàng
đầu
Trang 161.2.2 Chăn nuôi:
Trước kia, khi người dân Sán Chay chưa thực sự quan tâm đến hoạt
động chăn nuôi gia súc, gia cầm thì săn bắt là hoạt động quan trọng thứ hai sau trồng trọt của người Đồng Tâm, việc đánh bẫy săn bắt còn có ý nghĩa ngăn chặn sự phá hoại của muông thú, bảo vệ mùa màng Hoạt động săn bắt muông thú, khai thác tự nhiên của họ diễn ra quanh năm, chủ yếu hoạt động này do người đàn ông trong gia đình đảm nhiệm
Công cụ săn bắt thú chủ yếu là cây súng kíp mua của người Tày,
ngư-ời Dao, dạn ghém làm bằng chì, thuốc súng cũng mua của ngưngư-ời Tày; chiếc nỏ tự tạo dùng tên pha thuốc độc và các loại bẫy
Họ có hai kiểu săn bắt:
- Săn tập thể, dùng chó sục sạo khi có thú lớn và săn cá nhân đối với các loại chim muông, chuột, sóc, Phần lớn các cuộc săn thú thường tranh thủ hoặc được tổ chức khi thấy thú xuất hiện Phát hiện thú ở khu vực nào đó, họ tổ chức vây phục ở những nơi thú có thể chạy qua, cho chó sục sạo, thú sợ chạy ra, họ phục và bắn Các loại thú săn được thường gồm: hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, gà rừng, sóc, cáo, cú mèo, tê tê, tắc kè, rắn các loại,
Khi săn được thú to (hươu, nai, lợn) họ chia nhau, người bắn được thú tạ ơn thần rừng ngay buổi chiều hôm họ mang thú về nhà Lễ vật gồm: đầu thú, thịt thú, rượu, cơm, nhang thắp và súng săn Tất cả được đặt trên sàn dựng ngay tại sân trước cửa nhà Nội dung bài khấn: Xưng tên những người trong nhà, lần lượt từ già nhất đến trẻ nhất, gọi tên cánh rừng mà người nhà mình hoặc mình đã bắn được thú, mời thần rừng về chứng giám, hưởng lễ vật, cầu phù hộ cho người trong nhà cứ đi là bắn được thú
Họ còn dùng các loại bẫy để bắt thú, bảo vệ mùa màng
Người Sán Chay Đồng Tâm có nhiều hình thức đánh bắt cá Dụng cụ
đánh bắt cá gồm: Chài, lưới, đó, vó, vợt,
Xưa kia, người Sán Chay có tập quán dùng cây có độc tố để đánh bắt cá Họ dùng cây cơi để đánh, câu cá, đơm đó, Phụ nữ và trẻ em hay đi
Trang 17xúc cá bằng vợt ở suối, vào mùa mưa đi móc cua trong hang, bắt ốc sau vụ gặt lúa chiêm, bắt ếch trên ruộng,
Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, khi muông thú trong rừng ngày càng cạn kiệt, người Sán Chay Đồng Tâm mới thực sự quan tâm
đến hoạt động chăn nuôi và nó đã nhanh chóng khẳng định được vai trò to lớn trong cuộc sống của người dân khi góp phần đáng kể vào việc cải thiện bữa ăn hàng ngày và đem lại thu nhập cho họ Các loại vật nuôi chính gồm: Trâu (bao gồm hai giống chính là trâu đen và trâu mốc), gà (gồm gà
đen và gà ri), vịt, ngan, ngỗng,
Xưa kia, người Sán Chay chăn nuôi theo kiểu thả rông Họ không làm chuồng trại mà nhốt các loại vật nuôi ngay dưới gầm sàn Riêng đối với lợn họ chú ý hơn, thức ăn cho lợn nấu bằng rau lang, lá ngái, lá thừng mực, ráy rừng, cây chuối rừng Phụ nữ trong gia đình chịu trách nhiệm chăn thả, tìm kiếm đồ chăn nuôi cho gia súc ăn hàng ngày Những ngày nông nhàn, trâu được thả rông tự kiếm ăn, tối được lùa về nhà Vào dịp cày bừa, họ cho trâu ăn cỏ, lá cắt trong rừng hoặc cây ngô tươi Khi súc vật bị bệnh, họ thường sơ tán vật nuôi lên nương hoặc vào rừng
Xưa kia, chăn nuôi của người Sán Chay chủ yếu cung cấp sức kéo và thực phẩm vào các dịp cưới xin, ma chay, tế lễ Hầu hết những nhà nghèo không có trâu Những gia đình khá giả nuôi trâu lấy sức kéo, đôi khi họ cũng mổ thịt trong dịp cưới, nhất là các đám ma đám chay Ngày nay, chăn nuôi đã là hoạt động kinh tế mang lại thu nhập lớn cho các gia đình, không chỉ để thịt, cung cấp thực phẩm cho các dịp lễ, tết, cưới xin mà họ còn bán ra thị trường
1.2.3 Thủ công gia đình:
So với người Tày, Nùng, Sán Dìu thủ công gia đình của người Sán Chay không phát triển Họ không có nghề thủ công nào nổi tiếng Nhiều loại nông cụ, dụng cụ gia đình, thậm chí cả vải mộc họ cũng phải mua Tuy nhiên, người Sán Chay xưa kia ở bản vẫn có những phụ nữ biết kéo
Trang 18sợi dệt vải Những người rèn chuyên nghiệp không có nhưng vẫn có những
lò rèn để sửa chữa nông cụ Nghề mộc xưa kia không phát triển, họ chỉ biết dựng những ngôi nhà sàn đơn sơ, hoặc làm những thứ đồ dùng đơn giản
Dệt vải: nghề dệt của người Sán Chay Đồng Tâm xưa kia không phát triển lắm Chỉ những phụ nữ trong những gia đình khá giả mới dệt vải Kỹ thuật trồng bông, kéo sợi, dệt vải của họ tương đối đơn giản Trước khi kéo thành sợi, bông được cán sạch hạt, bật cho thật xốp, đánh thành con, sau đó kéo thành sợi Sợi được cuộn thành con, giặt cho mềm và bớt xù lông, phơi khô và mang hồ bằng nước cháo loãng sau đó phơi thật khô trước khi dệt Hầu hết họ chỉ biết dệt vải mộc, khổ 40cm Họ có truyền thống nhuộm vải bằng chàm và củ nâu Củ nâu và chàm đều phải ngâm nhiều ngày, vải phải nhuộm và phơi rất nhiều lần Hiện nay, nghề dệt hầu như không còn tồn tại trong cộng đồng người Sán Chay Đồng Tâm nữa, quần áo, trang phục thường ngày của họ cũng mặc giống người Kinh Tuy không chuyên nghiệp nhưng nam giới Sán Chay biết đan những
đồ dùng thông thường trong gia đình Chủ yếu là đan nóng mốt và nóng
đôi Sản phẩm đan gồm: thúng, sọt, đó đơm cá tôm, vó, lưới, chài, giỏ
đựng ếch, tôm, cá,
1.2.4 Trao đổi, mua bán:
Mặc dù, xưa kia đời sống khó khăn, song người Sán Chay Đồng Tâm cũng sớm tham gia vào hoạt động buôn bán, các sản phẩm đem ra trao đổi mua bán thường gồm: Các sản phẩm thủ công truyền thống, các loại thảo dược chữa bệnh, các loại tôm, cá đánh bắt ở sông suối Họ họp chợ theo hình thức chợ phiên, ở đó họ bán các loại nông, lâm sản, dược liệu, mật ong, hàng thủ công, gia súc, gia cầm, mua sắm các loại nông cụ, đồ dùng gia đình, vải, giấy, thuốc men, mắm, muối và thực phẩm các loại
Trang 19Tại các địa phương của Thái Nguyên, người Sán Chay có nhiều tên tự gọi khác nhau: Cao Lan, Hờn Bán, Sán Chấy, trong đó tên tự gọi Sán Chấy là phổ biến hơn cả Người Sán Chí tự nhận là: Sán Chay, Sán Chấy, Sán Chới,
Theo kết quả của các nhà nghiên cứu khoa học, Cao Lan và Sán Chí
đều là những cộng đồng mới di cư sang Việt Nam cách đây một vài trăm năm
Trên thực tế, người Cao Lan và Sán Chí được phân biệt bằng tiếng nói: Tiếng Cao Lan gần với ngôn ngữ Tày (nhóm ngôn ngữ Tày - Thái), tiếng Sán Chí gần gũi với tiếng Hán Quảng Đông (nhóm ngôn ngữ Hán Quảng Đông)
Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999, tỉnh Thái Nguyên có 29229 người Sán Chay, đứng thứ 2 cả nước, chỉ sau Tuyên Quang (54095 người) và đứng hàng thứ 5 trong các dân tộc của tỉnh Tập trung ở 3 huyện: Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ Riêng 3 huyện này đã chiếm 82,78% dân số Sán Chay của tỉnh Thái Nguyên
Tất cả những người Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh đều thuộc nhóm Sán Chí, có nguồn gốc ở huyện Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ quần tụ về đây thành lập làng lấy tên "Đồng Báng" Đến 1960, làng Đồng Báng được chuyển tên thành bản Đồng Tâm
Trang 201.3.2 Văn hóa vật chất:
1.3.2.1 Nhà ở của dân tộc Sán Chay ở Đồng Tâm:
Xưa kia, người Sán Chay đều ở nhà sàn, vài chục năm trước đây một
số gia đình chuyển sang ở nhà đất và hiện nay họ đã chuyển sang ở nhà xây gạch đổ mái bằng như người Kinh Nhà ở của họ thường là khung gỗ, tường trình bằng đất sét trộn lẫn sỏi, đá hoặc tường xây bằng gạch mộc Nay đã có nhiều nhà xây cấp 4 hoặc kiên cố mái bằng Xưa kia, họ còn ở nhà nửa sàn nửa đất, nay loại nhà này không còn nhiều
Theo tập quán, xưa kia người ở trên sàn, gia súc, gia cầm nhốt ở dưới, vừa là để chống thú dữ, vừa để đề phòng mất trộm Nhà cửa của người Sán Chay đang trong giai đoạn cuối của quá trình chuyển đổi từ nhà sàn sang nhà đất Trong cùng một hộ, bên cạnh ngôi nhà xây bằng gạch, xi măng, lợp ngói (hoặc mái đổ bê tông) rất kiên cố, vẫn còn có ngôi nhà sàn nho nhỏ theo kiểu truyền thống Nhiều nhà đã dỡ bỏ hẳn ngôi nhà sàn cũ để làm nhà xây nhưng sau một thời gian lại dựng lại ngôi nhà sàn Phần lớn ở những hộ có cả nhà sàn và nhà nền đất, mọi sinh hoạt của các cụ già hay những sinh hoạt truyền thống của cả gia đình đều diễn ra trên nhà sàn Trên ngôi nhà sàn, phần sát vách hậu, đối diện cửa chính là nơi đặt bàn thờ tổ tiên Gian chính cũng là nơi để đàn ông trong nhà và khách ngủ qua đêm Phần gian phụ bên trái được ngăn thành nhiều buồng ngủ, bằng liếp nứa làm chỗ ngủ dành cho những người phụ nữ trong gia đình Bàn thờ bà mụ được đặt trong buồng ngủ của người mẹ hoặc người phụ nữ đã
có con Đó là một ống nứa thắp hương cài lên vách chỗ góc buồng
Để làm một ngôi nhà, người Sán Chay phải chuẩn bị nguyên vật liệu, xem đất, chọn hướng, chọn ngày khởi công , ngày dựng, Công việc chuẩn bị có khi đến hàng chục năm tùy theo khả năng kinh tế của gia chủ, chuẩn bị nguyên vật liệu là công việc quan trọng hơn cả Xem tuổi cũng là công việc quan trọng bắt buộc đối với người Sán Chay Ngày dựng nhà
Trang 21cũng phải xem, phải là ngày Đại an và Phúc sinh mới tốt Theo đó, cách tính như sau:
Các tuổi làm nhà tốt: 18, 19, 27, 28, 36, 37, 45, 46, 54, 55, 63, 64 (Phúc); 20, 29, 38, 47, 56, 65 (Đức); 21, 30, 39, 48, 57, 66 ( Lộc)
Các tuổi không được làm nhà: 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68 (Khốc); 15,
24, 33, 42, 51, 60 (Quỷ); 16, 25, 34, 43, 52, 61 (Tử); 17, 26, 35, 44, 53, 62 (Tặc)
Về tập quán làm nhà ở: Đối với nhà sàn, người Sán Chay chọn hướng nhà là chọn hướng của cửa chính, thường kiêng kỵ theo dòng họ Các họ Trần, La, Lý, Nịnh kiêng mở cửa ra hướng chính Bắc; Các họ Lâm, Vi kiêng mở cửa hướng chính Nam; Các họ Âu, Hoàng, Hà, Lương kiêng mở cửa ra hướng chính Đông; Họ Lục kiêng mở cửa ra hướng chính Tây Dựng cột quan trọng nhất nên phải chọn ngày tốt, giờ tốt Ngày cất nóc không phải xem, ngày nào cũng được
Những ngày tốt gồm: Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Kỷ Dậu, Canh Tuất, những ngày có các tinh tú như: Mẫn, Khuê, Dực, Chuẩn,
Kiêng kỵ những ngày: Quý Mão, ất Tý, Giáp Thìn, Đinh Dậu, Giáp Ngọ, Bính Tuất, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Bính Ngọ, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Kỵ những ngày 1, 7, 13, 15, 22, 27, 28, 29 Âm lịch Họ Trần, La, Lý, Nịnh kiêng ngày Hợi; họ Hoàng kiêng ngày Dần; họ Lâm và
họ Vi kiêng ngày Tỵ,
Khi làm nhà việc trước tiên là dựng cột cái, sau đó dựng các cột quân Những người đàn ông chịu trách nhiệm dựng lên khung nhà, đàn bà vận chuyển các tấm gianh để lợp Sau cùng là trải sàn và làm vách Đơn vị đo
đạc trong khi làm nhà của người Sán Chay là thước, thường được họ tính bằng độ dài từ khủy tay đến đầu ngón trỏ (khoảng 40cm) Trước đây, gia chủ thường không thuê thợ làm nhà vì sợ bị yểm, bị làm phản Vì thế, những người trong cùng bản thường giúp nhau dưới sự chỉ đạo của một số
Trang 22người có kinh nghiệm Công cụ dựng nhà sàn khá đơn sơ, chủ yếu gồm dao to, búa, rìu, đục, không dùng đinh sắt mà buộc bằng mây, lạt giang và dây rừng
Khi công việc dựng nhà đã hoàn tất, bất luận ngày nào cũng có thể tổ chức lễ lên nhà mới
Dù làm nhà sàn hay làm nhà đất, nhà xây gạch, người Sán Chay vẫn làm lễ lên nhà mới Gia chủ tổ chức lễ cúng với ý nghĩa cầu an Người đàn
ông chủ nhà tự cúng lấy, nếu không biết thì phải nhờ thầy Lễ vật gồm: 1
sỏ lợn luộc, 1 con gà luộc, xôi hoặc cơm, tiền vàng mã Nội dung cầu khấn đại ý: con cháu báo với tổ tiên rằng mình đã làm được nhà mới, mời
ông bà tổ tiên (thỉnh hai đời ông bà, cha mẹ bên nội nếu đã chết) về chứng giám, ăn uống và phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi, nhiều lúa, ngô, lợn, gà, Khấn xong gia chủ xin âm dương, nếu được một sấp một ngửa là ông bà đã đồng ý, nếu không, phải tiếp tục khấn và xin âm dương bao giờ được mới thôi
Những điều kiêng kỵ trong ngôi nhà chủ yếu liên quan đến phụ nữ Con dâu không được ngồi trước cửa ra vào, không được vào nơi ngủ của anh chồng, bố chồng, không được vào nơi thờ cúng tổ tiên Đặc biệt kiêng vào những ngày có kinh nguyệt, người phụ nữ không được bén mảng đến những nơi đó Riêng đối với con dâu họ La, sau khi sinh con 42 ngày mới
được ra vào bằng cửa chính
1.3.2.2 Trang phục:
Trang phục truyền thống của người Sán Chay ở Đồng Tâm tương đối
đơn giản Quần áo mặc thường ngày của đàn ông và đàn bà khá giống nhau, đều có khuy cài trước ngực, 2 túi dưới, nhuộm màu chàm, không có hoa văn áo dài may cổ đứng ngắn, cài khuy bên nách phải, có xẻ tà, tà trước dài hơn phía sau chút ít áo dài của người đàn ông và đàn bà giống nhau chỉ khác là áo của đàn bà thường dài và áo của đàn ông thường ngắn
Trang 23dưới đầu gối một chút Quần ống đũng đều rộng, có cạp thắt bằng dây Khăn đội ngày thường của người Sán Chay có màu đen Khi đi làm, cả đàn
ông và đàn bà đều dùng xà cạp giống nhau, may bằng vải trắng, thắt lưng bằng vải đen, khổ rộng 40cm, chiều dài khoảng 250cm
Đàn ông Sán Chay Đồng Tâm xưa kia để tóc dài và búi tó như đàn bà Phụ nữ thường mang đồ trang sức như: vòng bạc, châm cài tóc, nhẫn đeo tay, Khi đi chơi hội, người đàn ông mặc thêm một chiếc áo cánh trắng bên trong áo dài Còn đàn bà mặc áo dài, xẻ tà từ thắt lưng xuống, không
có khuy mà buộc ngang thắt lưng với dây lưng bằng lụa hoặc bằng nhiễu với những màu sắc khác nhau, đầu vẫn đội khăn, chân đi xà cạp
Trong đám tang, áo của cả nam và nữ đều là áo dài khâu bằng vải trắng, vạt để sổ, không có cúc mà buộc bằng dây vải, khăn làm bằng vải trắng Trong vòng 42 ngày kể từ khi có tang, nam giới quấn khăn trên đầu
và buộc nút sau gáy Từ ngày thứ 43 trở đi, họ khấn khăn xung quanh đầu như khăn xếp của người Kinh
áo của thầy cúng là áo choàng dài, khi mặc có thể dài đến sát gót chân, thân áo rộng, không có khuy, nền màu đen, hai tay rất rộng màu trắng Thân trước thêu rồng, phượng, Nam Tào, Bắc Đẩu; thân sau thêu các tầng trời, nhị thập bát Tú, Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Hoàng,
địa phủ, quỷ sứ, Diêm Vương
Hiện nay, trang phục của người Sán Chay ở Đồng Tâm đã có nhiều thay đổi Những trang phục truyền thống mặc thường ngày hầu như không còn nữa, chỉ có trang phục lễ hội nhiều người còn giữ lại Phần lớn đàn
ông, đàn bà mặc quần áo thường ngày giống người Kinh Việc trồng bông, dệt vải không còn nữa, đa số đều mua quần áo may sẵn hoặc cắt may ở các cửa hiệu, các loại đồ trang sức cũng được cất đi, không còn mấy ai đeo nữa
Trang 241.3.2.3 Đồ ăn, uống, hút:
Đầu tiên phải kể đến các món ăn, thức uống từ lương thực:
Xưa kia, người Sán Chay ăn ngô, dùng ngô làm lương thực chính ăn hàng ngày Họ chế biến ngô bằng cách: Ngâm ngô hạt trong nước cho mềm, đem giã, sàng sẩy sạch mày, dùng để nấu lẫn với gạo hoặc nấu cháo Bột ngô nhỏ, mịn dùng nấu bánh đúc, hoặc làm bánh nướng
Sau đó họ chuyển sang ăn cháo, dùng cháo trong các bữa ăn hàng ngày Để có cháo ăn, họ cho gạo, nước lã vào nấu cho nhừ nhuyễn Họ ăn cháo với rau và muối
Hiện nay, cơm gạo tẻ được người Sán Chay dùng phổ biến trong bữa
ăn hàng ngày
Xôi: là món ăn được người Sán Chay sử dụng nhiều trong các dịp lễ tết Họ hay dùng chõ đất nung để đồ xôi Người dân Đồng Tâm thường dùng gạo nếp, đậu, chế biến thành xôi đỗ xanh, xôi cẩm, xôi đỏ, Món xôi cẩm thường để cúng vào dịp tết 3 tháng 3 âm lịch Xôi đỏ dùng trong
cỗ cưới Giống như một số dân tộc láng giềng khác, người Sán Chay thường dùng ống nứa, ống giang non cho gạo nếp và nước vào rồi đốt trên lửa để chế biến cơm lam Đây là loại cơm rất dẻo có mùi thơm Ngoài cơm, xôi, cháo, người Sán Chay còn chế biến từ bột gạo thành các loại bún, miến
Bánh chưng (còn gọi là bánh nhân): theo tập quán người Sán Chay gói bánh chưng để cúng vào dịp tết Nguyên Đán Sáng mùng 1 tết, họ chần bánh bằng "nước rồng" trước khi cúng tổ tiên
Bánh gio: Là thứ bánh không thể thiếu vào dịp cúng tết mùng 5 tháng
5 Nguyên liệu làm bánh là gạo nếp, nước gio và lá chít Gạo nếp chọn làm bánh phải là thứ nếp nương, mười hạt như cả mười Gạo ấy được người phụ nữ Sán Chay nhặt hết hạt đen và hạt kẹ, đãi sạch rồi đem ngâm vào nước gio cho mềm Nước gio theo cách làm của người Sán Chay Đồng Tâm như
Trang 25sau: Đốt cành cây trà và cây đỗ tương thành tro, lọc lấy nước, ngâm gạo nếp làm cho hạt gạo trở thành màu vàng Sau khi gạo đến độ mềm vừa phải, người ta vớt gạo ra, sau đó dùng lá cây chít gói thành bánh có hình tròn, dài Mỗi cái bánh gio chỉ dài bằng gang tay, đường kính nhỉnh hơn quả chuối tiêu nên chỉ cần luộc ba giờ đồng hồ bánh đã rền Bánh để nguội bóc ra cắt từng khoanh, nhìn thấu qua trong suốt tựa màu sáp ong,
đem chấm với đường hoặc mật tạo cảm giác tê tê đầu lưỡi Ruột bánh trong suốt, không mùi vị, vẫn còn nhìn thấy lơ mơ những hạt gạo đã biến hình hài nhưng chưa hòa tan hết Nó là gạo nếp nhưng không phải còn rõ ràng như bánh chưng mà cũng không thành một khối bột chín như ruột bánh xu xê, bánh giò
Bánh dậm: được dùng cúng vào mùng 14 tháng 7 Lọai bánh này
được làm bằng cách: ngâm gạo nếp vào nước lã khoảng một ngày, vớt ra hong khô rồi cho vào cối giã thành bột Nhào nặn bột thành hình bầu dục dài 15cm, bẹt, cho nhân đỗ xanh hoặc đỗ đường tùy theo sở thích, gói lá chuối rồi đồ trong chõ như đồ xôi
Bánh giày: được làm bằng cách đồ xôi trắng cho chín, lấy ra để nguội rồi cho vào cối giã thật nhuyễn và bắt bánh bằng tay Nếu cho nhân đỗ xanh và đường vào giữa bánh thì phải ăn ngay, không để được lâu nhưng nếu không cho nhân thì có thể để lâu, khi ăn mang rán lên Bánh giày
được dùng trong lễ cúng chay tổ - là lễ cúng tổ tiên hai đời nếu người ta ngỡ ràng tổ tiên vì không được cúng giỗ mà gây ốm đau, thất bát cho con cái Lễ này chỉ thanh niên chưa lập gia đình hoặc phụ nữ góa mới được làm Xưa kia, người Sán Chay còn dùng bánh giày trong việc cưới hỏi Rượu: Là loại thức uống không thể thiếu trong đời sống của người Sán Chay Đồng Tâm Nó được dùng trong tất cả các đám cưới, đám ma, lễ hội, dựng nhà, ngày vui cũng như ngày buồn của người Sán Chay đều không thể thiếu được rượu, thậm chí cả ngày thường người dân cũng uống rượu Do quan niệm, rượu giúp cho con người cởi mở, dễ thông cảm với
Trang 26nhau và bỏ qua cho nhau những lầm lỗi nên khi ăn uống ở các đám cưới,
đám ma, lễ, tết họ đều uống rượu, chủ nhà thường xếp 4 người ngồi một mâm Trên mâm nhất thiết có một bình rượu trắng từ gạo nếp, còn các món ăn thì tùy theo tín ngưỡng và điều kiện kinh tế gia đình
Nghề nấu rượu có từ lâu đời, nguyên liệu nấu rượu gồm có: men rượu, gạo nếp hoặc gạo tẻ, sắn, Để nấu được rượu, người Sán Chay tự chế men rượu bằng cách: lấy một số cây trong rừng như cây trăm rễ, cây chỉ thiên về giã nhỏ, ủ lên men, trộn với bột gạo tẻ đã nhào, nặn thành bánh phơi khô cất đi dùng dần Cách nấu rượu như sau: gạo nếp hoặc gạo
tẻ (có thời kỳ không có gạo, dùng cả sắn) đem nấu chín như cơm, sau đó
đổ ra cho nguội bớt, rắc men cho đều rồi ủ vào vại độ vài ngày (trời nóng thì 2 - 3 ngày, trời rét thì lâu hơn), đổ nước vào ủ tiếp vài ngày nữa rồi mới
đem ra cất thành rượu Đồ cất rượu gồm có chiếc nồi bằng đồng (hoặc nồi gang), bộ phận làm lạnh chuyển hơi rượu thành nước là chảo nước đặt trên một chiếc chõ, trong chõ có một bộ phận bằng gỗ để hướng rượu chảy ra theo ống dẫn bằng tre Ngày nay, vào dịp tết Nguyên Đán, hầu như mọi gia đình đều nấu rượu để uống, có một số gia đình nấu rượu để bán còn bã dùng để chăn nuôi lợn Kinh nghiệm của những người nấu rượu cho biết, thời tiết ảnh hưởng nhiều đến thành công hay thất bại của một mẻ rượu, số lượng và chất lượng của mẻ rượu phụ thuộc vào quá trình lên men có tốt không
Về các món ăn của người Sán Chay Đồng Tâm, trước tiên phải kể đến thịt gà Gà là con vật được dùng nhiều trong hiến tế, cúng bái trong các gia đình người Sán Chay Cách chế biến phổ biến đối với thịt gà chỉ là luộc và xào Gà luộc để cúng phải để nguyên chân, có đủ tiết và lòng, gan
Gà cũng phải là gà trống, cũng có thể là gà mái nhưng phải là gà mái tơ không được cúng bằng gà mái già Cúng nguyên con, riêng con gà cúng ngày mùng 1 tết Nguyên Đán phải được làm lông bằng nước "rồng" chần bánh chưng và luộc cũng phải bằng nước "rồng" vào buổi sáng cùng ngày Nếu ngày mùng 1 Tết là ngày Dậu thì không được làm thịt gà vào ngày
Trang 27này, vì nếu không năm đó sẽ "giông", gia đình sẽ không chăn nuôi được
gà Vì vậy, chủ nhà phải cắt tiết gà vào thời gian trước giao thừa
Khi có khách quý, người Sán Chay tiếp bằng món thịt gà xào gừng
Họ coi bộ gan và thịt lườn gà là quý nên khi ngồi ăn thường gắp cho khách
và cho bố mẹ già
Nếu thịt gà chỉ được dùng chủ yếu trong các lễ tết và khi đón khách quý thì thịt lợn là món ăn phổ biến trong các bữa ăn hàng ngày của người Sán Chay Xưa kia, người Sán Chay không biết chế biến nhiều món từ thịt lợn như ngày nay nên chủ yếu thường luộc rồi chấm muối ăn ngay Thịt lợn luộc không chỉ là đồ cúng thông dụng mà còn là món chính trong tang
ma, cưới hỏi và lễ tết
Người Sán Chay Đồng Tâm xưa kia, cứ khi nào gia đình thịt lợn là
đặt nguyên sỏ lợn luộc lên bàn thờ tổ tiên Muốn dự trữ thịt lợn vào dịp tết, họ treo lên gác bếp Để tích mỡ ăn dần, khi thịt lợn, người ta lọc thịt
mỡ riêng, bóp muối cho vào chum, vại dùng dần Còn thịt, họ lọc xương, cắt thành từng miếng khoảng 1kg, không rửa nước, ướp muối vài ngày, sau
đó đem rửa nước sôi (cho co bóp vỏ bên ngoài của miếng thịt), cạo sạch,
để khô và treo ở trên bếp Làm như vậy có thể để thịt trong vài tháng, khi
ăn mang thịt ra rửa, thái thành miếng nhỏ hấp cơm
Vào ngày lễ, ngày tết, người Sán Chay có điều kiện kinh tế thường làm món thịt quay, cách làm như sau: Lợn nhỏ khoảng dưới 20kg, mổ thịt, moi ruột để riêng rồi dùng tre tươi xiên mình lợn, quay trên lửa củi gỗ Vừa quay vừa bôi nước mắm vào da lợn, dùng que sắt chọc thủng da cho nước mắm ngấm vào thịt lợn Trong đám tang, thường chỉ có thịt lợn luộc
và rau muống, rau cải Trong đám cưới, thịt lợn được chế biến thành nhiều món, một mâm cỗ của người Sán Chay Đồng Tâm thường có: 1 đĩa thịt lợn luộc, 1 đĩa thịt lợn quay, 1 đĩa giò lợn, 1 đĩa lòng lợn, 1 bát tiết canh lợn,
1 đĩa thịt gà luộc, 1 bát xương lợn bung với su hào hoặc đu đủ, 1 bát cây chuối rừng non thái nhỏ nấu với xương lợn
Trang 28Hiện nay, các món ăn truyền thống vẫn được người Sán Chay chế biến trong những dịp lễ tết nhưng do điều kiện đi lại mua bán bớt khó khăn hơn nên người dân không còn phải tích trữ thịt lợn nữa mà đã có thể mua thịt tươi về chế biến hàng ngày
Ngoài thịt gà, thịt lợn, người Sán Chay còn biết sử dụng các loại thực phẩm từ những loại động vật khác như: thịt trâu, thịt bò, thịt gia cầm, thịt thú săn bắt được, cá, ếch, tôm, cua, Họ còn biết sử dụng các bộ phận quý như mật gấu, nhung nai ngâm rượu uống để chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe
Ngày nay, các món ăn từ thịt gà, thịt lợn, cá, được chế biến thành nhiều món hơn Do không trồng được cây cẩm nên muốn làm các loại xôi cẩm người dân phải vào rừng lấy cây sau sau hoặc dùng phẩm màu, nhưng hiện nay, họ thường chỉ làm xôi đỗ xanh và đỗ trắng
Rau xanh là một phần không thể thiếu trong tư duy về các bữa ăn gia
đình của cư dân nông nghiệp lúa nước Trừ một số loại rau giống của người Kinh, người Sán chay trồng trong vườn nhà để phục vụ cho bữa ăn hàng ngày như: rau cải, su hào, rau muống, bắp cải, họ còn lấy các loại rau và hoa quả ở rừng về ăn như: rau ngót, dâu da xoan, nhãn rừng, sấu rừng, quả tu hú,
Nước chấm: Nếu như trước đây, người Sán Chay không ăn và không biết làm mắm tôm, mắm tép Loại nước chấm của họ chủ yếu là muối tinh
và nước muối, tương, thì nay họ đã biết dùng tất cả các loại nước chấm
do người Kinh chế biến và sản xuất
Về đồ hút, đàn ông và những người già Sán Chay thường hút thuốc lào bằng điếu bát và điếu cày Sau này, khi có điều kiện họ dùng cả thuốc lá cho nhu cầu của mình
Tuy hiện nay thói quen ăn uống của người Sán Chay Đồng Tâm có nhiều nét rất giống người Kinh với nhiều món ăn phong phú nhưng họ vẫn
Trang 29giữ một số kiêng kỵ trong ăn uống như: khi trong nhà người Sán Chay có
đám tang, quan tài còn ở trong nhà thì con cháu phải ăn kiêng, chỉ được ăn rau, không được ăn thịt, cá, mỡ, kiêng không ăn và không cúng thịt chó, nhất là người làm thầy cúng và gia đình thầy cúng Ngày nay, khi ăn cỗ người Sán Chay bố trí ngồi sáu người, thành phần ngồi chung mâm được
bố trí phù hợp theo giới, tuổi tác và địa vị xã hội Trong gia đình, cả khi ngồi ăn cơm và ăn cỗ, họ đều có kiêng kỵ: con dâu không được ngồi chung với bố chồng, anh chồng
Như vậy, bên cạnh việc tiếp thu ảnh hưởng trong thói quen ăn uống của người Kinh, người Sán Chay Đồng Tâm vẫn giữ lại cho mình những nét văn hóa rất riêng và đặc sắc
1.3.3 Tổ chức xã hội:
1.3.3.1 Tổ chức thôn bản:
Theo truyền thống, khu vực cư trú của người Sán Chay hình thành trên cơ sở dòng họ Mỗi dòng họ có một khu vực cư trú riêng Hiện nay do dân số tăng nhanh, du nhu cầu phát triển kinh tế, trong hầu hết các bản, các dòng họ đã cư trú xen cài lẫn nhau và xen cài với các dân tộc khác: Tày, Nùng, Sán Dìu, Điểm tụ cư đều được lựa chọn trên cơ sở nguồn nước, đất đai và rừng núi thuận lợi cho việc canh tác lúa nước Ranh giới giữa các bản thường được ước lệ bởi các dòng suối, ngọn núi hoặc các vật
có sẵn trong tự nhiên khác Đất đai của bản được chia thành: khu vực cư trú, khu vực sản xuất, khu vực thờ cúng của cộng đồng Theo tập quán, họ thường lấy khu vực cư trú làm trung tâm, từ đó phát triển khu vực trồng trọt, chăn nuôi, sinh hoạt cộng đồng
Trong bản thường có một già làng - người đứng đầu do dân bầu ra, là người có uy tín, am hiểu phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm sản xuất và
được mọi người kính nể Già làng có nhiệm vụ đôn đốc, điều hành mọi công việc của bản (sản xuất, sinh hoạt cộng đồng, tiến hành nghi lễ chung)
Trang 30Bản người Sán Chay đều có đình, miếu là những nơi thờ cúng chung,
có người trông nom hương khói thường xuyên Cúng đình, miếu thường
được tổ chức vào tết Nguyên Đán hoặc trước khi vào mùa hàng năm Đó là nơi cúng Ngọc Hoàng và người có công khai sơn, mở đất, dựng làng
1.3.3.2 Các lễ, tết trong năm:
Theo tập quán, ngày 30 tết Nguyên Đán các gia đình chuẩn bị cỗ cúng bản Cỗ cúng bản của họ không thể thiếu miến nấu thịt lợn, rau Sáng mùng 1 Tết, họ dậy sớm đi lấy "nước rồng" cầu mạnh khỏe, may mắn và hạnh phúc Trước khi lấy nước, họ phải thắp hương cầu thủy thần phù hộ dân làng có đủ nước để ăn uống, tắm giặt và sản xuất
Ngày mùng 2 Tết, họ tổ chức cúng bản, các gia đình mang cỗ ra miếu cúng Ngoài cỗ của các gia đình, mâm cỗ chung của bản bao gồm: Gà luộc (hay thủ lợn), cơm, rượu, tiền vàng và nhang Theo thông lệ, người già và thầy cúng đến sớm và đặt lễ trước Chủ tế thay mặt các thành viên trong bản khấn Nội dung cầu khấn: "Chúng con là dân bản thành tâm chắp lễ khấn vái, mong thổ thần về chứng giám, hưởng lễ vật, phù hộ già trẻ trong bản mạnh khỏe, muông thú không phá hoại mùa màng, " Cúng xong thầy cúng phải xin âm dương, nếu chưa được thì phải khấn lại khi nào
được mới thôi (một sấp, một ngửa là thổ thần đã đồng ý) Cúng xong các thành viên cùng nhau thụ lộc ngay tại miếu Họ thường giữ lại bánh chưng
và một ít rau về nhà với hy vọng năm mới sẽ phát đạt, khỏe mạnh hơn Theo tập quán, khi chuyển hoặc lập bản mới, họ đều tổ chức cúng
"thâu lộn" để xin phép lập miếu thờ mới Vào dịp bản có gia đình làm nhà mới hoặc mới đến nhập cũng đều phải cúng trình báo thổ thần Ngoài cúng
đình, miếu, người Sán Chay còn làm lễ hạ điền, lễ mở cửa rừng (vào ngày mùng 4 Tết), lễ giết sâu bọ (ngày 5/5), lễ cơm mới (vào tháng 9, tháng 10)
Xưa kia, lễ hội đám tăng (hội đèn) của người Sán Chay được tổ chức
3 - 5 năm/lần Với mục đích cầu thổ thần phù hộ cho dân bản mạnh khỏe,
Trang 31hạnh phúc, được mùa Nhiều nơi khi dân bản gặp khó khăn mất mùa, thiên tai, dịch bệnh, họ cũng làm lễ đám tăng
1.3.3.3 Hôn nhân, gia đình, dòng họ:
Người Sán Chay ở xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh thuộc nhóm Sán Chí Trong thực tế, tuy có nhiều gia đình Sán Chí có nàng dâu là người Cao Lan và ngược lại nhưng họ thường hay hết hôn với những người cùng nhóm là chủ yếu Hiện nay cũng có nhiều người Sán Chay Đồng Tâm thoát ly gia đình, kết hôn với những người ngoại tộc; luật tục của họ cấm kết hôn với người cùng chung một ông tổ, chung hương hỏa, những người cùng tên họ nhưng thuộc hai nhóm Cao Lan và Sán Chí có thể kết hôn
được với nhau Trước khi đi đến quyết định kết hôn, đối với họ bắt buộc phải xem số của cả nam và nữ Nếu số không hợp nhau thì nhất thiết không được kết hôn
Trong hôn nhân của người Sán Chay, vai trò của ông mối rất quan trọng Mối là người chịu trách nhiệm chính trong tổ chức cưới xin, và theo dõi giúp đỡ đôi vợ chồng đó suốt đời Kể từ khi nhận làm con của mối, họ phải có trách nhiệm phụng dưỡng bố mẹ mối như bố mẹ đẻ của mình Những vợ chồng có chuyện khúc mắc thường tìm đến bố mẹ mối để tìm sự trợ giúp
Người Sán Chay Đồng Tâm thường có tục "bán đầu" đối với những chàng trai con nhà nghèo không đủ tiền lấy vợ hoặc "mua đầu" đối với những gia đình giàu có hoặc chỉ có con một bề là gái, không muốn mất
họ Trong trường hợp này, người con rể không phải đổi họ sang bên vợ,
được thừa kế tài sản của bố mẹ vợ, có trách nhiệm phụng dưỡng, thờ cúng cha mẹ vợ, con mang họ mẹ, gọi bố mẹ cô gái là ông bà nội, gọi bố mẹ chàng trai là ông bà ngoại Trong trường hợp, gia đình nhà vợ có nhiều con rể, tùy cha mẹ vợ lựa chọn người thích hợp để làm con rể "bán đầu"
Họ thường chọn con rể cả hoặc rể út Khi chọn rể "bán đầu" nhà gái phải cưới rể
Trang 32Dân tộc Sán Chay có nhiều họ, mỗi họ chia ra các chi Mỗi họ thờ
"hương hỏa" một thần linh nhất định Người Sán Chay không phân biệt ngành trưởng, ngành thứ trong quan hệ dòng họ Họ qua niệm ai sinh trước làm anh, làm chị, ai sinh sau làm em
Gia đình người Sán Chay là tiểu gia đình phụ quyền Mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế - xã hội độc lập Quy mô gia đình thường gồm: một cặp
vợ chồng và các con của họ Việc chia tài sản cho các con khi ra ở riêng theo thông lệ nhất định Thông thường người nào nuôi dưỡng cha mẹ được hưởng nhiều ruộng nương hơn cùng toàn bộ tài sản trong ngôi nhà bố mẹ
đã dựng lên Trong gia đình, ông bố luôn là người có quyền quyết định cao nhất, nhưng mọi chi tiêu, thu vén là do bà mẹ
1.3.3.4 Tập quán cưới xin, sinh đẻ và nuôi con:
Trước tiên là lễ dạm hỏi, tham dự lễ dạm hỏi bên nhà trai bao gồm:
Ông mối, một người gánh đồ lễ và các bậc cao niên Đồ sính lễ bao gồm: một đôi gà trống thiến, 12 chiếc bánh giày, rượu, Trong lễ dạm hỏi, hai bên sẽ thảo luận và quyết định các nội dung như: ngày cưới, giờ đón dâu, tiền bạc và vật phẩm thách cưới của nhà gái
Xưa kia, đồ thách cưới thường gồm: bạc trắng 5,2 nén, thịt lợn 120kg, rượu 120 nậm, vòng tay bạc 1 đôi, khuyên tai bạc hoặc vàng 1 đôi, thắt lưng lụa 1 đôi, cau 120 quả, trầu 120 lá, ở nhiều nơi còn phải có 2 thúng gạo (một nếp, một tẻ), 24 chiếc bánh giày, 1 tấm vải dành biếu mẹ của người con gái Cũng trong lễ dạm hỏi nhà gái sẽ đưa cho nhà trai một tờ giấy đỏ ghi đường đi, lối rẽ để đón dâu Nếu thách cưới cao quá, nhà trai không lo được, lễ cưới sẽ bị đình lại
Đối với người Sán Chay Đồng Tâm, đoàn tham gia vào lễ đón dâu bao gồm: Quan lang, mối, chú rể, phù rể, phù dâu và 3 thanh niên mang vác của hồi môn Trong khi đi đón dâu, nhà trai cử bao nhiêu người đến
đón dâu thì nhà gái cử bấy nhiêu người đưa dâu về nhà chồng Khi dâu ra khỏi cửa, quan lang mở sách đọc những bài hát về đón dâu Về đến nhà
Trang 33trai, có khi đoàn đón dâu phải đợi giờ tốt mới được lên nhà Lên đến nhà, quan lang mở cửa cho dâu và phù dâu vào Đêm hôm đó phù dâu phải ngủ lại với cô dâu, hôm sau mới về Hôm sau nữa, đôi vợ chồng trẻ mang 1 con gà, 1 chai rượu, 1 thủ lơn đến trả nghĩa ông mối Lễ lại mặt được tiến hành vào 3 ngày sau hôm cưới Cùng đi với dâu rể có một phù dâu và một phù rể
Người Sán Chay sau khi lấy chồng vẫn ở nhà mẹ đẻ, thi thoảng mới
về nhà chồng, khi nào mang thai mới về ở hẳn nhà chồng
Khi người phụ nữ có mang, nhà trai sắm lễ mang sang nhà gái báo tin
và làm lễ xắt nhập Họ cho rằng mang thai là thời kỳ quan trọng nên người phụ nữ phải hết sức giữ gìn, kiêng mang vác nặng, trèo cao, không ăn quả chuối dính đôi (sợ sẽ sinh thai đôi), không ăn đu đủ (sợ con cam sài), không sờ vào quan tài (sợ đứa bé có bớt đen hoặc mềm xương),
Khi sản phụ chuyển dạ, nhà chồng làm lễ trình báo với tổ tiên để nhập vía cho cả hai mẹ con Nếu chưa có điều kiện thì có thể làm lễ trình báo nhập vía cho đứa con trước Mặc dù có bà đỡ, mẹ chồng và chị em chồng giúp đỡ nhưng xưa kia nhiều thai phụ vẫn phải một mình vượt cạn,
tự cắt rốn và tắm rửa cho con Phụ nữ Sán Chay thường đẻ ngồi trong nhà (người chửa hoang phải đẻ ở ngoài nhà) Trước kia, con gái không được sinh nở trong nhà bố mẹ đẻ vì khi đó cô ta đã là người thuộc họ khác Người ta cho rằng, nếu đẻ trong nhà, ma tổ tiên sẽ không phù hộ cho mẹ con sản phụ và gia đình bố mẹ cô ta nữa Vì thế thường khi có dấu hiệu chuyển dạ đẻ, người nhà làm một cái lều tạm cạnh nhà hoặc dưới tán cây quanh vườn Sau khi sinh đẻ, tắm rửa xong mới được lên nhà Hiện nay, phần lớn phụ nữ Sán Chay Đồng Tâm đều sinh nở tại các cơ sở y tế Một
số ít sinh con tại nhà những đã được nhân viên y tế giúp đỡ
Khi đẻ xong, gia chủ chuẩn bị mâm lễ trình báo với tổ tiên về sự có mặt của đứa bé trong nhà Lễ cúng này do bên ngoại hoặc ông mối làm vào lúc nửa đêm, không cho người ngoài biết, thịt gà không được chặt,
Trang 34không được gây tiếng động sợ vía của cháu nhỏ bị lạc Sau lễ cúng trình báo tổ tiên, họ gài cỏ gianh ở đầu cầu thang, báo hiệu kiêng người lạ vào nhà Nếu đẻ con trai thì gài bên trái, con gái thì gài bên phải Khi đứa trẻ
đầy tháng, làm lễ đặt tên và cúng mụ trong buồng tối Theo quan niệm của
họ, mụ nhiều con quá nên quần áo rách rưới, thắp đèn, mụ sẽ xấu hổ Lễ vật cúng mụ là 1 con gà, 1 chai rượu, 1 đĩa xôi Khi cúng mụ, mọi người tuyệt đối không được nói to, không được gọi từ trong buồng ra, sợ vía đứa trẻ bị lạc Khi tiến hành cúng mụ, phải mời ông bà mối, ông bà ngoại, cô, dì, chú, bác đôi bên tham dự Người được mời thường có quà cho cháu bé như: con gà, tấm vải, bộ quần áo trẻ con,
Cũng trong lễ đặt tên cho trẻ sơ sinh, họ cúng trình ma dòng họ và cúng gia tiên Lễ vật cúng phải tuân theo phong tục dòng họ, người cúng thường là người cùng họ với đứa bé Thông thường, đứa con đầu lòng của các cặp vợ chồng đều do ông bà ngoại, ông bà mối đặt tên, những đứa tiếp theo có thể do ông bà ngoại hoặc ông bà nội đặt tên Trong lễ đặt tên, ai xuất khẩu thành tên trước thì sẽ gọi tên đó Tên đứa trẻ không được trùng với tên người thân trong hai họ, tên phải được trình báo với gia tiên và
được ghi vào gia phả
Hiện nay, việc đặt tên phần nhiều do cha mẹ của đứa trẻ đặt, các nghi
lễ đã đơn giản hơn rất nhiều Nếu sinh đôi 1 trai 1 gái phải làm lễ tơ hồng Nếu đứa trẻ hay ốm, người Sán Chay có tục đổi tên mới Họ thường nhờ thầy cúng nhận đứa trẻ làm con nuôi và đặt một tên mới cho nó Đứa trẻ đã đổi tên suốt đời phải kiêng ăn thịt chó, thịt trâu, phải lễ tết nhà thầy cúng, phải thực hiện bổn phận làm con Trường hợp không có con, người Sán Chay thường nhận con của anh em trong gia đình, dòng họ làm con nuôi Nghi lễ nhận con nuôi đơn giản, họ làm một mâm cơm cúng trình báo tên, tuổi của đứa trẻ với gia tiên Nhiều khi đứa trẻ đã đi làm con nuôi vẫn giữ nguyên tên cũ
Trang 35Hiện nay, một số tập quán trong cưới xin, sinh đẻ và nuôi con vẫn
được lưu truyền nhưng đã đơn giản hơn rất nhiều, không gò bó như xưa nữa Nhiều gia đình đã có tập quán sinh hoạt gần như người Kinh, nhiều
hủ tục đã được loại bỏ
1.3.4 Văn hóa tinh thần:
1.3.4.1 Tôn giáo, tín ngưỡng:
Người Sán Chay quan niệm vũ trụ có 3 tầng, trên cùng là tầng trời - ở
đó có các tối thượng thần, cao nhất là Ngọc Hoàng; mặt đất là trần gian có muôn loài chúng sinh; âm phủ là thế giới tiếp theo sau cuộc sống ở trần gian Họ cho rằng con người chết đi là chuyển sang kiếp khác Đó là kiếp luân hồi mà người Sán Chay ảnh hưởng của Phật giáo
Chính vì quan niệm như trên nên trong nhà người Sán Chay có rất nhiều bàn thờ Ngoài thờ cúng tổ tiên họ còn thờ trời đất, thổ công, bà mụ thần nông, thần chăn nuôi, phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Táo Quân, Phật Nam Hoa, Trong trường hợp này, họ đặt bàn thờ Ngọc Hoàng ở vị trí cao nhất ở trong nhà (bên trên kèo nhà), Táo Quân thường thờ cúng ở nơi kín đáo (góc buồng, góc bếp, góc chuồng trâu, ) Tuy nhiên, có sự khác nhau về thần linh được thờ phụng giữa các dòng họ, ví dụ: họ Trần thờ Ngọc Hoàng, họ Thạch thờ Thạch Bàn Quan Âm,
Gia đình người Sán Chay nào cũng thờ ma ham Nơi thờ thường ở góc nhà và được bài trí đơn giản Đối với họ, đây là bàn thờ linh thiêng, không
ai được động vào trừ ngày lễ tết Bàn thờ tổ tiên được đặt ở gian giữa nhà hoặc gian đầu hồi
Bàn thờ của người Sán Chay khá đơn sơ, nhiều khi chỉ là một ống tre
để cắm hương Nhưng hàng năm, trước tết Nguyên Đán các bàn thờ được quét dọn và dán lên một tờ giấy đỏ
Các bản người Sán Chay đều có đình để tổ chức cúng lễ trong những ngày lễ tết hoặc tổ chức các nghi lễ chung của làng Xưa kia, đám ma của
Trang 36người Sán Chay thể hiện khá rõ rệt những nghi lễ của Phật Giáo và Đạo Giáo Trong khi làm ma, họ lập đàn cúng Phật, thờ Thái Thượng Lão Quân Người chết được tắm rửa bằng nước lá thơm áo mặc cho người chết khi khâm liệm được cắt hết cúc, xẻ một đường từ gấu lên Họ dùng bảy đồng tiền chinh xâu vào một sợi dây, các hốc mắt, mũi, tai, miệng mỗi nơi đặt một đồng Họ quan niệm đó là bảy ngôi sao dẫn đường đưa người chết về thế giới bên kia Khi khâm liệm, tay phải người chết đặt một
đoạn gậy, tay trái đặt vài đồng xu hoặc vàng mã Thi hài được đặt ở gian giữa, dọc theo chiều đòn nóc Nếu nhà quay về hướng Đông hoặc Tây thì
đầu người chết đặt ở hướng Bắc, nhà quay về hướng Nam hoặc Bắc thì đầu
đặt ở phía Đông Trước khi nhập quan tài phải được thầy cúng làm lễ, con trai đội khăn trắng, chống gậy tre có viết chữ "Hiếu" bằng Nôm tự Con cháu thường xuyên túc trực bên quan tài, mỗi ngày cúng cho người chết ba lần Mộ được đặt quay đầu lên đỉnh dốc, đắp thành nấm cao, dài theo hình quan tài
Ngày nay, nhiều nghi thức trong tang ma của người Sán Chay đã được loại bỏ hoặc đơn giản hóa Họ chỉ để người chết trong nhà 24 giờ Việc chôn cất người quá cố thường được tiến hành theo nghi thức đã quy định trong các Quy ước Làng văn hóa
Kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian của người Sán Chay rất phong phú, đa dạng Có loại được ghi chép thành văn, có loại vẫn chỉ được lưu truyền qua hình thức truyền miệng
Trang 37Kho tàng truyện cổ tích, thơ, ca, hò, vè của người Sán Chay phổ biến rộng rãi về đề tài đấu tranh với thiên nhiên, về lao động sản xuất, về quan
hệ xã hội và gia đình Nó thể hiện ước vọng của họ trong tình yêu, chinh phục thiên nhiên, ca ngợi chính nghĩa, đấu tranh chống cái ác nhằm có
được cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Đặc biệt "Xình ca" (còn gọi là hát ví) là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú của người Sán Chay Nói đến hát ví, ai nấy đều biết đó là hát ví Lưu Tam nhưng đến nay vẫn không ai khẳng định được Lưu Tam là ai? và sống ở thời đại nào? Song thực tiễn các bậc cao niên kể lại cổ tích rằng: Lưu Tam là một thiếu nữ rất tài ba xinh đẹp, hễ đi đâu? làm gì? hoặc tỏa lời ai đó đều bằng câu ví Và sau này, mãi mãi đời này qua đời khác, người Sán Chay chỉ có ví Lưu Tam là làn điệu hát chính cho các đêm, các ngày hội xuân, đám cưới, vào nhà mới, hát ví "Xình ca" có rất nhiều làn
điệu với giai điệu thiết tha, trong sáng, lời ca đẹp: Ví gọi, ví đối giao duyên, ví hát mừng nhà mới, ví trầu cau, ví ru con,
Các điệu múa của người Sán Chay có: múa Tắc Xình, múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa sửa đường, múa đâm cá,
Nhạc cụ cũng phong phú gồm các loại trống, thanh la, não bạt, chuông, kèn,
Vào những ngày hội đình, hội xuân, tết Nguyên Đán, đồng bào Sán Chay vui chơi giải trí, có những trò diễn sôi nổi như: đánh quay, "trồng cây chuối", "vặn rau cải", tung còn, đánh cầu,