Năm 2018, kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI đạt nhiều thành tựu, tổng doanh thu khối doanh nghiệp FDI đạt 310 triệu USD bằng 122% so cuối kỳ, đồng thời giải quyết việc
Trang 1CHU THỊ HƯƠNG GIANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2CHU THỊ HƯƠNG GIANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Hồng Hạnh
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ nội dung nghiên cứu do chính tôi thực hiện Số liệu trong luận văn được thực hiện khảo sát, điều tra trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2020
Học viên
Chu Thị Hương Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các Quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Quản lý kinh tế - Trường Đại học Kinh tế & QTKD - Đại học Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích trong giáo dục làm cơ sở cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Thị Hồng Hạnh đã tận tình, tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Lào Cai, Ban Quản lý khu kinh tế và các đơn vị có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu, khảo sát, thu thập thông tin để tôi hoàn thành luận văn
Do thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên luận văn của tôi không tránh khỏi tồn tại thiếu sót, kính mong nhận được sự nhận xét, đóng góp ý kiến của Quý thầy, cô và các anh, chị học viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.2 Quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 13
1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Lào Cai 26
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương 26
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Lào Cai 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
Trang 62.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 34
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 34
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 36
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai 36
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng 39
3.2 Thực trạng các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai 43
3.2.1 Quy mô, số lượng các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai 43
3.2.2 Quy mô, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2017-2019 phân theo lĩnh vực đầu tư 46
3.2.3 Quy mô, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017-2019, phân theo vùng địa bàn và nước đầu tư 47
3.2.4 Quy mô, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017-2019, phân theo hình thức đầu tư 49
3.2.5 Quy mô, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017-2019, phân theo khu công nghiệp 50
3.3 Thực trạng quản lý nhà nước hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai 51
3.3.1 Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư 51
3.3.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chủ trương thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp tại tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2017-2019 51
3.3.3 Tổng hợp tình hình đầu tư, đánh giá tác động của hiệu quả đầu tư 59
Trang 73.3.4 Cấp phép, điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2017-2019 62
3.3.5 Quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế 68
3.3.6 Tổ chức thực hiện xúc tiến đầu tư 70
3.3.7 Kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động đầu tư 72
3.3.8 Hỗ trợ giải quyết vướng mắc của nhà đầu tư 75
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai 76
3.4.1 Môi trường chính trị - xã hội 76
3.4.2 Năng lực của đội ngũ cán bộ nhà nước 77
3.4.3 Bộ máy nhà nước quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 78
3.4.4 Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách liên quan hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 79
3.4.5 Đối tác đầu tư và chính sách của các đối tác đầu tư 79
3.4.6 Tình hình kinh tế chính trị trong khu vực và trên thế giới 80
3.5 Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua điều tra, khảo sát thực tế 80
3.6 Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai 88
3.6.1 Kết quả đạt được 88
3.6.2 Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân 90
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH LÀO CAI 95
4.1 Triển vọng của Lào Cai trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 95
4.2 Quan điểm và định hướng quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai 96
4.2.1 Quan điểm 96
4.2.2 Phương hướng 97
Trang 84.3 Những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong thời gian tới 99
4.3.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Lào Cai 99
4.3.2 Hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao tỉnh Lào Cai 101
4.3.3 Nâng cao hiệu quả công tác thẩm định và cấp phép đầu tư 103
4.3.4 Xây dựng kết cấu hạ tầng quỹ đất tại các khu công nghiệp 105
4.3.5 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 106
4.3.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động đầu tư sau cấp phép 107
4.3.7 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động đáp ứng yêu cầu thu hút và sử dụng vốn đầu tư 109
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 114
Trang 9MTĐH : Mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thang đo Likert Scale 34
Bảng 3.1 Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Lào Cai từ năm 2006 đến năm 2019 45
Bảng 3.2 Số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2017-2019, phân theo lĩnh vực đầu tư 46
Bảng 3.3 Số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phân trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2017-2019 phân theo vùng địa bàn và nước đầu tư 47
Bảng 3.4 Quy mô, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017-2019, phân theo hình thức đầu tư 49
Bảng 3.5 Quy mô, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017-2019, phân theo khu công nghiệp 50
Bảng 3.6 Quy hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017- 2019 52
Bảng 3.7 Kết quả cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2017 - 2019 54
Bảng 3.8 Danh sách các công trình cơ sở hạ tầng 57
Bảng 3.9 Số lượng doanh nghiệp được ưu đãi thuế 58
Bảng 3.10 Kim ngạch xuất khẩu khu vực đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017-2019 59
Bảng 3.11 Tình hình cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dự án FDI 67
Bảng 3.12 Tình hình chấm dứt, giải thể các dự án FDI 68
Bảng 3.13 Tình hình xúc tiến đầu tư của tỉnh Lào Cai 70
Bảng 3.14 Kết quả thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động đầu tư 75
Bảng 3.15 Kết quả kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động đầu tư 76
Bảng 3.16 Bảng đánh giá trình độ học vấn của các cán bộ quản lý nhà nước 78
Bảng 3.17 Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua khảo sát thực tế 81
Bảng 3.18 Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua khảo sát thực tế 82
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ nguồn thu ngân sách đầu tư trực tiếp nước ngoàitại tỉnh Lào
Cai giai đoạn 2017-2019 61
Hình 3.2: Biểu đồ số lượng lao động khu vực FDI 62
Hình 3.3 Tổng số dự án đầu tư được thẩm định 64
Hình 3.4: Quy trình thẩm tra đầu tư 64
Hình 3.5: Sơ đồ quy hoạch khu công nghiệp Tằng Loỏng 70
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong 30 năm qua, việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Khu vực đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển, trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân và đóng góp đáng kể cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Với 26.876 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 336,2 tỷ đô la Mỹ và vốn thực hiện khoảng 187,4 tỷ đô la Mỹ, đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn, gia tăng năng lực sản xuất và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như điểm xuất phát thấp, điều kiện kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh hết sức khó khăn phức tạp, cơ sở hạ tầng thấp kém, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu, sản xuất hàng hóa hầu như không đáng kể Song, đến nay, diện mạo tỉnh Lào Cai đã có nhiều thay đổi sâu sắc, toàn diện, trở thành tỉnh phát triển khá của khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc Năm 1996 tỉnh Lào Cai có dự án FDI đầu tiên được cấp phép, đến nay Lào Cai đã thu hút được 61
dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 623,5 triệu USD; việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư FDI đã mang lại tác động toàn diện, thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh trên nhiều mặt, góp phần quan trọng khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của địa phương Năm 2018, kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI đạt nhiều thành tựu, tổng doanh thu khối doanh nghiệp FDI đạt
310 triệu USD bằng 122% so cuối kỳ, đồng thời giải quyết việc làm cho khoảng 3.500 lao động, tạo hiệu ứng lan tỏa tương đối rộng trên nhiều lĩnh vực, tác động sâu đến động lực cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước trên địa bànNhiều dự
án đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép nhưng triển khai thực hiện chậm Số
dự án đầu tư bị giải thể hoặc rút giấy phép trước thời hạn có xu hướng gia tăng Lượng vốn đầu tư còn thấp và phân bổ không đều ở các ngành kinh tế Tác động của vốn đầu tư chưa thật sự rõ nét, một số dự án làm ăn thua lỗ Sự chồng chéo về
Trang 13quy định pháp luật trong đầu tư Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách chủ trương thu hút đầu tư trực tiếp còn nhiều thiếu sót, chưa hoàn chỉnh Việc cấp phép, điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khá phức tạp, tốn thời gian Quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế còn nhiều bất cập
Do vậy, việc tìm ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Lào Cai là việc làm quan trọng và cấp thiết, để khai thác các nguồn lực của địa phương, đẩy nhanh công cuộc Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, phấn đấu đưa tỉnh Lào Cai trở thành một trong những tỉnh thu hút vốn FDI lớn trong cả nước, góp phần vào sự phát triển chung của cả nước, nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, góp phần ổn định chính trị xã hội Vì vậy, tôi chọn đề tài
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn
tỉnh Lào Cai” làm luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai và đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 14- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài được tổ chức nghiên cứu tại Sở kế hoạch đầu tư tỉnh
Lào Cai, Ban Quản lý khu kinh tế và các đơn vị có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Về thời gian: Các số liệu được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian từ 2017-2019
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và có cái nhìn rõ hơn về kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Lào Cai
Những lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong thời gian qua Và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai
4.2 Đóng góp của luận văn
Đánh giá được thực trạng quản lý nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai Từ đó để có thể đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm, những nhà phân tích đầu tư có liên quan
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
4 chương:
Trang 15Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Chương 4: Định hướng và các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển Về mặt địa lý có hai loại đầu tư, đó là đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài đã được hình thành và phát triển từ lâu Nguyên nhân chính của nó là do sự phát triển không đều về lực lượng sản xuất giữa các quốc gia,
về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn giữa các quốc gia đó hoặc do chính sách bảo hộ mậu dịch ngày càng chặt chẽ của từng nước hay do những vấn đề toàn cầu đặt ra cấp bách yêu cầu phải có sự gọi vốn tập trung trên quy mô quốc tế mới có thể giải quyết được
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư và sử dụng vốn là một chủ thể; có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân người nước ngoài (các chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra
Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một hệ thống các công cụ, biện pháp của một quốc gia nhằm điều chỉnh các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó trong một thời gian nhất định
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa FDI như sau: “Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mục
Trang 17đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”(Huỳnh Huy Quế, 2003)
Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD)
định nghĩa như sau: “Một đầu tư được coi là đầu tư trực tiếp khi phần sở hữu của nhà đầu tư đủ để cho phép kiểm soát công ty, còn trong khi đầu tư chỉ cho nhà đầu
tư được hưởng khoản thu nhập nhưng không cho quyền kiểm soát đối với công ty, nói chung được coi là đầu tư gián tiếp” (Huỳnh Huy Quế, 2003)
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản
lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" (Huỳnh Huy Quế, 2003)
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam định nghĩa: "Đầu tư trực tiếp nước
ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”Nói một cách
đơn giản hơn: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là quá trình di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua hình thức nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm mục đích thu lợi nhuận (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 1996)
Với hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Cho nên, họ trực tiếp kiểm soát hoạt động kinh doanh, đưa ra các quyết định có lợi cho mình và chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh
1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thứ nhất, chủ đầu tư được tự mình đưa ra quyết định đầu tư, quyết định sản
xuất kinh doanh và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Trang 18Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài tự mình điều hành một phần hoặc toàn bộ
công việc của dự án đầu tư
Thứ ba, nước nhận đầu tư có thể tiếp cận được với công nghệ, kỹ thuật tiên
tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư không chỉ là vốn đầu tư ban đầu mà còn có thể
được bổ sung, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được của chủ đầu tư nước ngoài (Vũ Trường Sơn, 2001),
1.1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
* Đối với nước đi đầu tư
- Giúp các chủ đầu tư tận dụng lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư, giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm nguồn vốn cung cấp nguyên vật liệu ổn định
- Giúp các chủ đầu tư có điều kiện đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh
- Giúp các chủ đầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ và tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước
* Đối với nước nhận đầu tư
Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển
- Góp phần giải quyết các khó khăn về kinh tế - xã hội như thất nghiệp, lạm phát, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp;
- Tăng nguồn thu và tạo điều kiện cải thiện tình hình ngân sách nhà nước, tạo
ra môi trường cạnh tranh tích cực;
- Giúp người lao động và các nhà quản lý học hỏi và nâng cao trình độ
Đối với các nước đang phát triển:
- Là nguồn vốn quan trọng để thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH-HĐH), đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới;
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH, hiện đại hóa;
- Góp phần phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao, tạo thêm việc làm cho người lao động;
- Là nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước nhỏ bé của các nước đang phát triển;
Trang 19- Giúp các doanh nghiệp trong nước mở cửa thị trường hàng hóa thế giới;
- Có điều kiện tiếp thu khoa học - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và tác phong làm việc công nghiệp
1.1.1.4 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là một loại hình đầu tư trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu
tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh ký Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả thuận và được các cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư phê duyệt
Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty liên doanh)
Đây là hình thức mà các doanh nghiệp có các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo
tỷ lệ vốn góp của mỗi bên Thông thường nhà đầu tư nước ngoài không được góp ít hơn một tỷ lệ đã được quy định trong luật đầu tư của nước nhận đầu tư
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là hình thức đầu tư mà doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Mỗi dạng FDI đều có những hạn chế cũng như lợi thế cho các bên tham gia đầu
tư Thông thường trong thời gian đầu tiếp nhận đầu tư, nước chủ nhà khuyến khích áp dụng hình thức liên doanh, thậm chí trong một số lĩnh vực đầu tư chỉ cho phép liên doanh để kiểm soát nhà đầu tư nước ngoài Khi hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã ổn định thì hình thức doanh nghiệp 100% vốn FDI là hình thức chủ yếu
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, do nhu cầu đa dạng hóa hình thức đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài đã áp dụng hình thức FDI mới sau:
- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà với nhà đầu tư nước ngoài
Trang 20để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định Hết thời hạn nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước chủ nhà
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO): là hình thức đầu tư dựa trên văn bản kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước nhận đầu tư
và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước nhận đầu tư Chính phủ nước sở tại có thể sẽ giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): là hình thức đầu tư nước ngoài được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong nhà đầu
tư chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT
- Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ - con: đây là một trong những mô hình quản lý được thừa nhận rộng rãi Công ty mẹ - con là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công
ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hội đồng quản trị và được thành lập dưới dạng công ty cổ phần
1.1.1.5 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Mặt tích cực
Là nguồn hỗ trợ cho phát triển
FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển
Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước kém phát triển là vốn đầu tư và kỹ thuật Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động vv Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới Do đó vốn
Trang 21nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp ghần đột phá vào cái “vòng luẩn quẩn” đó Đặc biệt là FDI nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây
nợ cho các nước nhận đầu tư
Chuyển giao công nghệ
Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ sảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu (hay còn gọi là cộng cứng) trí thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường (hay còn gọi là phần mềm.) Do vậy đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư FDI có thể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh kinh tế Đây cũng là điểm nút
để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo
Mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu tư, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suất lao động cũng tăng lên theo Vì vậy có thể thông qua tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
ta kinh tế
Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy
ta kinh tế ở các nước đang phát triển Nó là tiền đề, là chỗ dựa để khai thác những tiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế
Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế
đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại Thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trên
Trang 22thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao dộng quốc tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch
chuyển cơ cấu kinh tế
Ngoài những tác động trên đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có một số tác
Về mặt xã hội, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, thu hút một khối lượng đáng kể người lao động ở nước nhận đầu tư vào làm việc tại các đơn vị của đầu tư nước ngoài Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp vốn là một tình trạng nan giải của nhiều quốc gia Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được
Ở Việt Nam có khoảng trên100 nghìn người đang làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đây là con số khá khiêm tốn Tuy nhiên sự đóng góp của FDI đối với việc làm trong nước nhận đầu tư thụ thuộc rất nhiều vào chính sach và khả năng lỹ thuật của nước đó
b Mặt hạn chế
Chuyển giao công nghệ
Khi nói về vấn đề chuyển giao kỹ thuật thông qua kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài ở phần trên, chúng ta đã đề cập đến một nguy cơ là nước tiếp nhận đầu tư sẽ nhận nhiều kỹ thuật không thích hợp Các công ty nước ngoài thường chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ Điều này cũng có thể giải thich là: Một là, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cho nên
Trang 23máy móc công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu Vì vậy họ thường chuyển giao những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng của sản phẩm của chính nước họ Hai là, vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ, sử dụng lao động Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá của lao động sẽ tăng, kết quả là giá thành sản phẩm cao Vì vậy họ muốn thay đổi công nghệ bằng những công nghệ có hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là:
Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó Do đó nước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận
Gây tổn hại môi trường sinh thái Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chế phải bảo vệ môi trường theo các quy định rất chặt chẽ ở các nước công nghiệp phát triển, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu môi trường sang các nước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường không hữu hiệu
Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của các nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới
Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh
tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nươc ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo, sự phồn vinh có được bằng cái của người khác
Trang 241.1.2 Quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Quản lý nhà nước nói chung
Quản lý Nhà nước (Quản lý nhà nước) nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý, Nhà nước, vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng
quản lý, nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Trước hết, ta cần tìm hiểu những nội dung cơ bản về Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung Nền kinh tế thị trường thường bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình, kinh
tế tư bản Nhà nước,…
Mỗi chủ thể kinh tế trong nền kinh tế có những dự kiến, phán đoán và quyết định khác nhau phù hợp với những lợi ích của mình Để các quyết định tập trung, hướng vào mục tiêu chung, vừa có lợi cho mỗi bản thân chủ thể, vừa có lợi cho quốc tế dân sinh thì cần phải có sự điều hòa theo một định hướng chung, có hiệu quả cao nhất Nếu trong một nền kinh tế thị trường thuần túy, cơ chế đó là giá cả Tuy nhiên, trong một nền kinh tế hỗn hợp thì vai trò của Nhà nước là đặc biệt quan trọng Vai trò đó được nâng lên trong điều kiện chúng ta phải tập trung mọi sức lực
để tăng trưởng và phát triển nhanh, đảm bảo các mục tiêu công bằng xã hội
Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường không những giúp đảm bảo mục đích phát triển kinh tế thị trường theo định hướng mà còn phát huy được các mặt tích cực của nền kinh tế, hạn chế các nhược điểm của nền kinh tế thị trường, tạo môi trường bình đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển Nhà nước cũng giải quyết tốt các quan hệ đối ngoại, tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh tế trong nước
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vừa với tư cách là cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân, vừa với chức năng là người chủ tài sản thuộc sở hữu toàn dân Có nhiều quan điểm xung quanh vai trò và chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, nhưng trong giai đoạn hiện nay, có thể nói, Nhà nước tập trung chủ yếu vào các chức năng sau:
Một là, thể chế hóa một cách đồng bộ, nhất quán các chính sách kinh tế và
cơ chế kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền
Trang 25Hai là, cải cách bộ máy Nhà nước sao cho bộ máy này có đủ khả năng và tư
cách là một người trọng tài nghiêm minh, giải quyết và điều hòa các mối quan hệ lợi ích trong nền kinh tế thị trường
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư có trọng điểm khu vực kinh tế quốc
doanh, xây dựng một số ngành mũi nhọn, cung cấp các dịch vụ công cộng cho toàn
Môi trường tốt bao gồm không chỉ môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh; môi trường kinh tế nhiều tiềm năng phát triển; môi trường các nguồn lực dồi dào, phong phú; môi trường hành chính thuận tiện, nhanh chóng mà còn bao gồm cả khả năng giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường Hơn thế nữa, các công cụ quản lý kinh tế - xã hội chính là phương tiện mà Nhà nước dùng để tác động, điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội nhằm đạt được các ý đồ, mục tiêu mong muốn của mình
b Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Với hệ thống công cụ quản lý vĩ mô, Quản lý nhà nước về kinh tế có cơ hội tạo dựng, xác lập môi trường tốt cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động một cách có hiệu quả nhất, bao gồm các loại hình doanh nghiệp khác nhau
Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng vào quá trình đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế -
xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu
tư nước ngoài nói riêng
Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cũng tuân theo những nguyên lý chung về Quản lý nhà nước về kinh tế, nhưng cũng có những nét đặc thù riêng Nét đặc thù này xuất phát từ đặc điểm nội tại của hoạt động FDI, đồng thời cũng xuất phát từ điều kiện và yêu cầu riêng về quản lý FDI của Nhà nước
Trang 26Thứ nhất, FDI là hoạt động thị trường, hơn nữa là thị trường mang tính chất
và quy luật của thị trường quốc tế Do điều kiện cạnh tranh quốc tế các nhà đầu tư phải tính toán kỹ khả năng
Thứ hai, FDI là hoạt động của khu vực tư nhân nước ngoài có quyền sở hữu
và quyền quản lý Động cơ của nhà đầu tư nước ngoài khác với mục tiêu của nước chủ nhà Các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến những vấn đề thiết thực như thuế các loại, chi phí sản xuất và cuối cùng là lợi nhuận thực tế Trong khi đó nước chủ nhà lại quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, Quản lý nhà nước đối với FDI phải tạo điều kiện cho cả hai lợi ích này dung hòa được với nhau, bằng các chính sách hướng dẫn cụ thể và hấp dẫn, đồng thời không áp đặt, ép buộc một cách chủ quan duy ý chí
Thứ ba, FDI phần lớn do các công ty xuyên quốc gia tiến hành Lý thuyết và
kinh nghiệm cho thấy các công ty này có lợi thế về uy tín, nhãn hiệu, thị trường nhưng có xu hướng “bảo hộ” mạnh Vì vậy, việc thu hút các công ty này là một việc làm tốt, cần thiết Đồng thời cần có biện pháp thu hút tối đa lợi thế của họ như công nghệ, bí quyết quản lý kinh doanh
Thứ tư, FDI được thực hiện thông qua các dự án đầu tư Quy trình hoạt động
dự án FDI có nhiều đặc điểm khác với quy trình các loại dự án khác Quy trình này bắt đầu từ việc chuẩn bị dự án, lựa chọn đối tác, đàm phán, lập hồ sơ, ký kết, xin giấy phép cho việc triển khai và đưa dự án vào hoạt động Sự phức tạp này đòi hỏi cần có một cơ quan Quản lý nhà nước đủ mạnh để theo dõi, hỗ trợ cho dự án hoạt động thành công
Mục tiêu của công tác quản lý hoạt động FDI là thực hiện mục tiêu chung của Nhà nước trong quan hệ hợp tác với nước ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực có thể có của thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường và sự phân công lao động quốc tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài nguyên của đất nước để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích lũy, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mục tiêu cụ thể của công tác quản lý FDI là giúp các nhà đầu tư thực hiện một cách tốt nhất, hiệu quả nhất các quy định về đầu tư tại Việt nam, tạo môi
Trang 27trường hoạt động thông thoáng, giải quyết xử lý và điều chỉnh những phát sinh trong quá trình đầu tư, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững
1.1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Môi trường quốc tế là như nhau đối với mỗi quốc gia Như vậy, cơ hội và khả năng huy động vốn nước ngoài để phát triển kinh tế là như nhau Nhưng thực
tế, việc huy động vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, và đối với hoạt động FDI nói riêng Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI Chỉ có Nhà nước với quyền lực và chức năng của mình mới có khả năng tạo lập được môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực và thế giới nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài Vai trò quản lý của Nhà nước đối với FDI được thể hiện thông qua vai trò của Nhà nước trong việc hình thành phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư cho sự vận động có hiệu quả của FDI
Thứ nhất, tạo lập môi trường chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô ổn định
Ổn định chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô là những yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư xem xét đến khi cân nhắc quyết định đầu tư vào một quốc gia Ổn định chính trị là điều kiện để đảm bảo an toàn cho các hoạt động kinh tế Hoạt động đầu
tư là hoạt động mang tính rủi ro và ở chừng mực nhất định có tính mạo hiểm, càng rủi ro càng mạo hiểm hơn khi đầu tư ở nước ngoài Vì vậy, một đất nước có sự ổn định về chính trị, sự đảm bảo cao về trật tự an toàn xã hội sẽ làm cho các nhà đầu tư yên tâm về sự an toàn tính mạng và tài sản của mình khi bỏ vốn kinh doanh ở một quốc gia khác
Mặc dù FDI là hoạt động đầu tư tư nhân, nhưng vẫn được Nhà nước hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau Hoạt động này hơn nữa còn được sự đảm bảo, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi của các tổ chức kinh tế và tổ chức quốc tế Nhà nước có vai trò quyết định trong việc lựa chọn, thực thi chính sách kinh tế và chương trình đối ngoại theo hướng mở rộng các quan hệ song phương và đa phương với các nước và các tổ chức quốc tế cũng như đảm bảo uy tín của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế Quan hệ đối ngoại của Nhà nước như chiếc chìa khóa mở cửa cho
Trang 28nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm cơ hội để đầu tư cũng như để đảm bảo an toàn và
hỗ trợ cho hoạt động đầu tư của họ
Một quốc gia kém phát triển ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế thường phải đương đầu với những khó khăn và thử thách là cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế luôn trong tình trạng thâm hụt nặng nề, mâu thuẫn giữa khả năng thanh khoản thấp và nhu cầu đầu tư lớn, mất cân đối giữa thu chi ngân sách Ở đây thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề lạm phát, chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá hối đoái và xây dựng, củng cố hệ thống tài chính vững mạnh, tạo lập cân đối cung cầu trong ba lĩnh vực trên để ổn định kinh tế
vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng xuất khẩu cao, ổn định trên cơ sở đó đảm bảo sự ổn định các cân đối vĩ mô
Thứ hai, tạo lập môi trường pháp lý ổn định và thuận lợi cho sự vận động của FDI
Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay ở hầu hết các quốc gia là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch và các công cụ quản lý khác Nhà nước đóng vai trò điều hành kinh tế vĩ mô (định hướng, điều tiết, hỗ trợ) nhằm phát huy các mặt tích cực, ngăn ngừa các mặt tiêu cực của hoạt động FDI Các nhà đầu tư nước ngoài, các công ty nước ngoài hoạt động tại nước sở tại phải tuân thủ pháp luật của nước đó Do vậy, các định hướng kinh tế quan trọng đối với hoạt động FDI để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh
tế của đất nước cần được thể hiện thông qua các quyết định của luật pháp, chính sách Nhà nước Khi luật pháp, chính sách được xây dựng đúng đắn, phù hợp, công tác chỉ đạo điều hành thực thi nghiêm túc thì sẽ đạt được các định hướng và mục tiêu quản lý của Nhà nước đối với hoạt động FDI Ngược lại, nếu những định hướng và mục tiêu quản lý không được thực hiện đầy đủ thì trước hết là do sự chưa hoàn chỉnh trong chế định pháp luật, chính sách và trong công tác điều hành thực hiện các định chế được ban hành
Hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh, phù hợp với các thông lệ của khu vực
và quốc tế, không có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp trong hay ngoài nước,
Trang 29công tác quản lý của Nhà nước ngày càng đơn giản tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thì môi trường đầu tư càng có tính cạnh tranh cao và có khả năng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài
Thứ ba, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vững mạnh
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của nhà đầu tư, là cơ sở hình thành các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các dự án đầu tư Một đất nước với cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho những nhu cầu về thông tin liên lạc, giao thông vận tải và các dịch vụ khác Từ đó, các nhà đầu tư có thể mở rộng mối quan hệ thương mại, giao lưu buôn bán, giảm chi phí sản xuất đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, và tăng lợi nhuận Vì vậy đây là yếu tố tác động mạnh mẽ tới quyết định của nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm đầu tư
Đối với quốc gia đang phát triển, trình độ cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém, Nhà nước càng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và phân
bổ các nguồn vốn tập trung đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (Nguyễn Tấn Vinh, 2011)
1.1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư, được quy định tại Điều 67 Luật đầu tư
2014 như sau:
a Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư
Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu
tư Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung luật đầu tư và các luật liên quan như luật thuế, luật đất đai, luật đấu thầu,… và các văn bản dưới luật nhằm khuyến khích các hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo hoạt động đầu tư thực hiện đúng luật và đạt hiệu quả
b Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài
Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, địa phương và các vùng lãnh thổ, xây dựng quy hoạch,
Trang 30kế hoạch đầu tư trong đó quan trọng nhất là xác định nhu cầu vốn, nguồn vốn, giải pháp huy động vốn… Từ đó xác định danh mục các dự án liên quan Xây dựng chiến lược, kế hoạch thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần phải có tính động, không được khép kín mà phải có sự liên kết giữa các vùng và các địa phương, đảm bảo lợi ích của cả hai bên Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng thống nhất tổ chức bộ máy quản lý thích hợp trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng,
ăn khớp và tối ưu các chức năng quản lý của các bộ phận trong bộ máy quản lý hoạt động FDI Bên cạnh đó, quy hoạch không thể chạy theo số lượng mà cần quan tâm đến chất lượng dự án, theo quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh của thị trường
c Tổng hợp tình hình đầu tư, đánh giá tác động và hiệu quả kinh tế vĩ mô của hoạt động đầu tư
Đánh giá ban đầu
- Đánh giá công tác chuẩn bị, tổ chức, huy động các nguồn lực của dự án, bảo đảm thực hiện dự án đúng mục tiêu, tiến độ đã được phê duyệt;
- Đánh giá những vướng mắc, phát sinh mới xuất hiện so với thời điểm phê duyệt dự án; những vướng mắc, phát sinh mới do yếu tố khách quan (như môi trường chính sách, pháp lý thay đổi, phải điều chỉnh dự án cho phù hợp với điều kiện khí hậu, địa chất) hoặc do các yếu tố chủ quan (như năng lực, cơ cấu tổ chức quản lý thực hiện dự án, …);
- Đề xuất các biện pháp giải quyết các vấn đề vướng mắc, phát sinh phù hợp với điều kiện thực tế
Đánh giá giữa kỳ
- Đánh giá sự phù hợp của kết quả thực hiện dự án so với mục tiêu đầu tư;
- Đánh giá mức độ hoàn thành khối lượng công việc đến thời điểm đánh giá
so với kế hoạch thực hiện dự án đã được phê duyệt;
- Đề xuất các giải pháp cần thiết, kể cả việc điều chỉnh thiết kế, mục tiêu của
dự án (nếu cần);
- Các bài học kinh nghiệm rút ra từ việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án và quản lý thực hiện dự án
Trang 31 Đánh giá kết thúc:
- Đánh giá quá trình chuẩn bị đầu tư dự án;
- Đánh giá quá trình thực hiện dự án: hoạt động quản lý thực hiện dự án; kết quả thực hiện các mục tiêu của dự án; các nguồn lực đã huy động cho dự án; các lợi ích do dự án mang lại cho những người thụ hưởng và những người tham gia; các tác động của dự án; tính bền vững và các yếu tố bảo đảm tính bền vững của dự án;
- Các bài học rút ra sau quá trình thực hiện dự án và đề xuất các khuyến nghị cần thiết
Đánh giá tác động:
- Đánh giá thực trạng kinh tế - kỹ thuật vận hành của dự án;
- Đánh giá tác động kinh tế - xã hội của dự án
- Đánh giá tác động môi trường, sinh thái của dự án;
- Đánh giá tính bền vững của dự án;
- Các bài học thành công và thất bại của các khâu thiết kế - thực hiện - vận hành dự án
Đánh giá đột xuất:
- Xác định tình trạng và bản chất những phát sinh ngoài dự kiến;
- Xác định các ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của những phát sinh đến việc thực hiện dự án, khả năng hoàn thành các mục tiêu của dự án;
- Kiến nghị các biện pháp can thiệp, cơ quan thực hiện và thời hạn hoàn thành
d Cấp, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Luật này
Công tác thẩm định hồ sơ dự án là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm xem xét một cách khách quan khoa học và toàn diện các nội dung của dự án đầu tư ảnh hưởng trực tiếp tới tính hợp pháp và tính khả thi của dự án đầu tư để ra quyết định chấp thuận đầu tư Thẩm định cấp giấp phép đầu
tư cho các dự án FDI là việc nghiên cứu, phản biện một cách có tổ chức, khách quan và khoa học những nội dung cơ bản của một dự án FDI nhằm đánh giá tính hợp lý, mức độ hiệu quả và tính khả thi của dự án trước khi quyết định cấp giấp
Trang 32phép đầu tư Thẩm định dự án là cần thiết, có tính quyết định trong việc trả lời dự
án có được chấp nhận và cấp phép đầu tư hay không Nó là một bộ phận của công tác quản lý nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư thực sự có hiệu quả Thông qua thẩm định, các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá được mức độ phù hợp với quy hoạch tổng thể chung của ngành, địa phương; các mặt lợi hại của FDI nếu triển khai cũng như thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết vĩ mô đối với các dự án FDI trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Khi thẩm định, Nhà nước cần tôn trọng, đảm bảo lợi ích chính đáng của các dự án FDI trong quan hệ hài hoà với lợi ích chung xã hội và cần phải đưa ra các kết luận rõ ràng, chính xác về toàn bộ dự án FDI được thẩm định xong Trong quá trình thẩm định, các cơ quan cấp giấp phép thường xem xét cụ thể các nội dung sau:
- Tư cách pháp lý, năng lực tài chính của đầu tư nước ngoài;
- Mức độ phù hợp của mục tiêu dự án FDI với quy hoạch chung;
- Trình độ kỹ thuật, công nghệ áp dụng phù hợp với địa bàn tiếp nhận đầu tư;
- Hiệu quả kinh tế - xã hội do dự án FDI đi vào hoạt động tạo ra;
- Mức độ hợp lý của việc sử dụng đất, phương án đền bù giải phóng mặt bằng và vấn đề định giá tài sản
Các nội dung thẩm định cấp phép đối với dự án FDI nhiều hay ít và là những vấn đề gì tùy thuộc vào tình hình và sự lựa chọn của mỗi địa bàn tiếp nhận đầu tư trong từng thời kỳ nhất định Công tác cấp giấy phép, điều chỉnh giấy phép được thực hiện sau công tác thẩm định Vì vậy, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, đảm bảo về thời gian đầu tư của các doanh nghiệp FDI, các cơ quan quản lý nhà nước cần thực hiện nhanh, kịp thời, chính xác công tác thẩm định dự án
e Tổ chức và thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư
Xúc tiến đầu tư là hoạt động tạo lập nên hình ảnh quốc gia tiềm năng trong mắt các nhà đầu tư quốc tế Theo đó, Nhà nước với vai trò của mình có nhiệm vụ quan trọng tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để thu hút hơn nữa nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Cần phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và địa phương để thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất Ngày 14/01/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 03/2014/QĐTTg ban hành Quy chế quản lý
Trang 33nhà nước đối với hoạt động xúc tiến đầu tư Theo đó, hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm 8 nội dung, trong đó có nội dung hỗ trợ các tổ chức, DN, nhà đầu tư trong việc tìm hiểu về pháp luật, chính sách, thủ tục đầu tư; hỗ trợ DN tìm hiểu tiềm năng, thị trường, đối tác và cơ hội đầu tư; hỗ trợ các DN FDI triển khai dự án sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư
Về nguyên tắc, các hoạt động xúc tiến đầu tư trong nước và nước ngoài (bao gồm: xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và xúc tiến đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài) phải được xây dựng, tập hợp thành chương trình xúc tiến đầu tư, sau khi thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tập hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư hàng năm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật trong đó xác định rõ nội dung, địa điểm, thời gian, tiến độ, kinh phí và đầu mối thực hiện) Các cơ quan quản lý nhà nước cần đặc biệt chú trọng các hoạt động xúc tiến đầu tư đối với các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (xúc tiến đầu tư tại chỗ) thông qua các hình thức hỗ trợ, giải quyết khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy triển khai dự án hiệu quả Khuyến khích kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư với các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch và các chương trình tuyên truyền đối ngoại, văn hóa Nội dung quản lý nhà nước hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện định hướng xúc tiến đầu tư trong từng thời
kỳ và hàng năm;
- Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến đầu tư;
- Điều phối các hoạt động xúc tiến đầu tư;
- Theo dõi, tổng hợp đánh giá tình hình và hiệu quả của hoạt động xúc tiến đầu tư;
- Phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức và cá nhân trong hoạt động xúc tiến đầu tư Ở cấp Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư Ở cấp địa phương: Sở Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối, phối hợp với Ban Quản lý Khu kinh tế giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về xúc tiến đầu tư ở
Trang 34cấp địa phương Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định hoặc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư trong cơ cấu tổ chức của mình
g, Kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư, quản lý và phối hợp quản lý hoạt động đầu tư
Cơ quan nhà nước kiểm tra, thanh quyết toán định kỳ hoặc đột xuất khi thấy dấu hiệu vi phạm của các doanh nghiệp FDI
Mục tiêu của công tác thanh kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp FDI nhằm kịp thời điều chỉnh, xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình hoạt động, giải quyết những vấn đề ách tắc của doanh nghiệp trong việc thực hiện theo quy định của nhà nước về giấy phép đầu tư, các cam kết của các nhà đầu
tư Đồng thời thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát còn tạo nguồn thông tin phản hồi từ các doanh nghiệp FDI để các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá hiệu quả, mức độ hợp lý của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách đã ban hành Mặc khác công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá nhằm xem xét trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hướng dẫn, hỗ trợ các nhà đầu tư
Kiểm tra, thanh tra là công cụ quan trọng, hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện giám sát, quản lý sau Giấy chứng nhận đầu tư Tuy nhiên tùy theo quy định nhiệm vụ, chức năng mà các cơ quan có hình thức và phương thức kiểm tra khác nhau
Cơ quan nhà nước thực hiện công tác thanh kiểm tra định kỳ hoặc theo yêu cầu trong quá trình quản lý nhà nước đối với khu vực FDI hoặc đột xuất khi thấy dấu hiệu vi phạm trong hoạt động của các doanh nghiệp FDI Mục đích của công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp FDI là nhằm kịp thời điều chỉnh, xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình hoạt động, giải quyết những ách tắc của các doanh nghiệp trong việc thực hiện theo quy định của Nhà nước về giấy phép đầu tư, các cam kết của các nhà đầu tư Đồng thời, thông qua việc thanh tra, kiểm tra và giám sát, còn tạo ra nguồn thông tin phản hồi từ các doanh nghiệp FDI để các cơ quan quản lý nhà nước có căn cứ đánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách đã ban hành Kiểm tra, thanh tra là công
cụ quan trọng, hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện giám sát,
Trang 35quản lý sau cấp Giấy chứng nhận đầu tư Tuy nhiên, tùy theo quy định nhiệm vụ chức năng mà mỗi cơ quan nhà nước có các hình thức và phương thức thanh kiểm tra khác nhau Tuy nhiên, công tác này phải chú ý đến vấn đề tôn trọng đến các DN có vốn đầu tư nước ngoài, không can thiệp quá sâu vào hoạt động tác nghiệp, làm mất quyền tự chủ kinh doanh của DN
h, hướng dẫn, hỗ trợ, giải quyết vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư trong thực hiện hoạt động đầu tư; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư
1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Môi trường chính trị - xã hội
Sự ổn định chính trị - xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Tình hình chính trị không ổn định, đặc biệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi Hậu quả là lợi ích của các nhà ĐTNN bị giảm (họ phải gánh chịu một phần hay toàn bộ các thiệt hại đó) nên lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm sút Mặc khác, khi tình hình chính trị -
xã hội không ổn định, Nhà nước không đủ khả năng kiểm soát hoạt động của các nhà ĐTNN, hậu quả là các nhà đầu tư hoạt động theo mục đích riêng, không theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế -xã hội của nước nhận đầu tư Do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất thấp
Năng lực của đội ngũ cán bộ nhà nước
Nguồn lao động vừa là nhân tố để thu hút vừa là nhân tố sử dụng có hiệu quả FDI Bởi lao động có năng lực, có tay nghề thì sẽ tạo ra năng xuất cao Bên cạnh đó, các nhà ĐTNN sẽ giảm một phần chi phí đào tạo và bớt được thời gian đào tạo nên tiến độ và hiệu quả của các dự án sẽ đạt đúng theo mục tiêu đề ra
Trình độ lao động thấp kém sẽ làm cho nước chủ nhà thua thiệt, đặc biệt là việc tiếp nhận các công nghệ tiên tiến, các bí quyết quản lý sản xuất từ nước ngoài
Vì vậy, nước chủ nhà phải tích cực nâng cao trình độ đào tạo tay nghề cho người lao động: nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, nâng cao khả năng giao tiếp với nhà ĐTNN
Trang 36 Bộ máy nhà nước quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nhà nước phải mạnh với bộ máy quản lý gọn nhẹ, cán bộ quản lý có năng lực, năng động,có phẩm chất đạo đức Việc quản lý các dự án FDI phải chặt chẽ theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư song không ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội
Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách liên quan hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Môi trường pháp luật là bộ phận không thể thiếu đối với hoạt động FDI Một
hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện và vận hành hữu hiệu là một trong những yếu tố tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, định hướng và hỗ trrợ cho các nhà ĐTNN Vấn đề mà các nhà ĐTNN quan tâm là:
Môi trường cạnh tranh lành mạnh, quyền sở hữu tài sản tư nhân được pháp luật bảo đảm
Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận, quyền hồi hương lợi nhuận đối với các hình thức vận động cụ thể của vốn nước ngoài
Quy định về thuế, giá, thời hạn thuê đất Bởi yếu tố này tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm và tỷ suất lợi nhuận Nếu các quy định pháp lý bảo đảm an toàn về vốn của nhà đầu tư không bị quốc hữu hoá khi hoạt động đầu tư không phương hại đến an ninh quốc gia, bảo đảm mức lợi nhuận cao và việc di chuyển lợi nhuận về nước thuận tiện thì khả năng thu hút FDI càng cao
Do vậy, hệ thống pháp luật phải thể hiện được nội dung cơ bản của nguyên tắc: Tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và theo thông lệ quốc tế Đồng thời phải thiết lập và hoàn thiện định chế pháp lý tạo niềm tin cho các nhà ĐTNN
Đối tác đầu tư và chính sách của các đối tác đầu tư
Mỗi đối tác đầu tư sẽ có những chính sách riêng áp dụng đối với các nước khác nhau, bao gồm phương thức đầu tư, công nghệ… Khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, các đối tác đầu tư thường mang theo các công nghệ nhập khẩu vào Việt Nam Mức độ hiện đại, tiên tiến của công nghệ sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Nếu quy trình công nghệ lạc hậu, lỗi thời sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường của các nước nhận đầu tư
Trang 37 Tình hình kinh tế chính trị trong khu vực và trên thế giới
Tình hình này tác động đến không chỉ các nhà đầu tư đang tìm kiếm đối tác,
mà còn tới cả các dự án đang triển khai Khi môi trường kinh tế chính trị trong khu vực và thế giới ổn định, không có sự biến động khủng hoảng thì các nhà dầu tư sẽ tập trung nguồn lực để đầu tư ra bên ngoài và các nước tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được nhiều vốn FDI
Ngược lại, khi có biến động thì các nguồn đầu vào và đầu ra của các dự án thường thay đổi, các nhà đầu tư gặp khó khăn rất nhiều về kinh tế nên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả FDI Sự thay đổi về các chính sách của nước chủ nhà để phù hợp với tình hình thực tế, đòi hỏi các nhà ĐTNN phải có thời gian tìm hiểu và thích nghi với sự thay đổi đó Hơn nữa, tình hình của nước đầu tư cũng bị ảnh hưởng nên
họ phải tìm hướng đầu tư mới dẫn đến thay đổi chiến lược ĐTNN của họ Chẳng hạn, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á trong thời gian qua dã làm giảm tốc độ đầu tư FDI vào khu vực này Hàng loạt các nhà đầu tư rút vốn hoặc không đầu tư nữa vì sợ rủi ro cao
1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Lào Cai
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương
1.2.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Yên Bái
Thống kê cho thấy, sau 30 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, đến nay tỉnh Yên Bái đã cấp giấy phép, giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 34 dự án có vốn FDI với tổng mức đầu tư đăng ký là 245,43 triệu USD (tương đương với 5.319,74 tỷ đồng), tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như khai thác chế biến khoáng sản, chế biến nông lâm thuỷ sản và công nghiệp may mặc
Cụ thể: Giai đoạn từ 1997 - 2000, tỉnh Yên Bái đã thực hiện cấp Giấy phép đầu tư cho 03 dự án có vốn FDI, với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt 8,67 triệu USD; Giai đoạn từ 2001- 2010 cấp Giấy phép đầu tư cho 16 dự án có vốn FDI, với tổng
số vốn đầu tư đăng ký đạt 44,85 triệu USD; Giai đoạn từ năm 2011 - 2017, cấp
Trang 38Giấy chứng nhận đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 15 dự án, với tổng mức đầu tư đăng ký 191,91 triệu USD
Tuy nhiên, trong thực tế, đầu tư FDI trên địa bàn tỉnh Yên Bái những năm qua còn ở dưới mức tiềm năng, thế mạnh của Tỉnh Đầu tư nước ngoài tại Tỉnh tuy
đã có sự đóng góp cho đầu tư phát triển và thu nộp NSNN, song không đáng kể và chiếm tỷ lệ thấp Dự án đầu tư ít về số lượng, thấp về tổng mức đầu tư đăng ký và thấp cả về tổng mức đầu tư thực hiện
Nghiên cứu cho thấy, nhằm quảng bá giới thiệu hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Yên Bái với bạn bè quốc tế và với các NĐT, tỉnh Yên Bái đã xây dựng và ban hành danh mục dự án kêu gọi đầu tư; xây dựng và viết các dự án, phát hành các tài liệu, ấn phẩm như sách, catalogue, tờ rơi, băng, đĩa, tạp chí, trang thông tin điện tử Kinh tế Việt Nam Cùng với đó, Tỉnh đã tổ chức triển khai thực hiện vận động, thu hút, quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn theo đúng thẩm quyền được phân cấp Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá về chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư, tiềm năng, thế mạnh và môi trường đầu tư cũng như tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài của Tỉnh với nhiều hình thức đa dạng, phong phú Hàng năm, tỉnh Yên Bái còn xây dựng kế hoạch tham gia Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia, tiến hành rà soát, cập nhật bổ sung danh mục các dự án khuyến khích đầu tư; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp giấy chứng nhận đầu tư/giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các NĐT khi thực hiện dự án tại Tỉnh Nhờ đó, hoạt động thu hút đầu tư FDI của Tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, số lượng và quy mô các dự án FDI tăng lên đáng kể, góp phần làm thay đổi quan điểm và tư duy về định hướng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương (Nguyễn Thị Tâm, 2019)
1.2.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Giang
Trong năm 2018, trên địa bàn tỉnh Hà Giang có 29 dự án được cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng số vốn 1.505 tỷ đồng; có thêm 3 dự án ODA được ký hiệp định vay và 4 dự án đã xây dựng đề xuất… Kết quả trên khẳng định
sự nỗ lực của các cấp, ngành, cả hệ thống chính trị của tỉnh trong thu hút đầu tư.Hoạt động xúc tiến đầu tư được UBND tỉnh đặc biệt quan tâm bằng việc tổ chức nhiều chương trình tuyên truyền, quảng bá môi trường, chính sách đầu tư, tiềm năng
Trang 39và cơ hội cho các doanh nghiệp khi đến với Hà Giang như: Hội nghị “Giới thiệu Hà Giang” với các đối tác nước ngoài tại Hà Nội; gặp mặt các nhà đầu tư và tổ chức các Hội nghị Xúc tiến du lịch “Sắc màu Hà Giang” tại thành phố Cần Thơ; “Không gian trưng bày văn hóa, lịch sử và giới thiệu sản phẩm đặc trưng các dân tộc tỉnh Hà Giang” tại Hà Nội; Hội thảo “Liên kết sản phẩm du lịch vùng Bắc Quang – Vị Xuyên – thành phố Hà Giang năm 2018”; quảng bá, giới thiệu tài liệu xúc tiến đầu
tư của tỉnh trong các hoạt động xúc tiến đầu tư do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), Trung tâm Xúc tiến đầu tư phía Bắc (Bộ Kế hoạch - Đầu tư), Cục xúc tiến thương mại đầu tư (Bộ Công thương) tổ chức Đồng thời, tỉnh đã xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2018 – 2020; phát hành video và các ấn phẩm phục vụ xúc tiến đầu tư cũng như thường xuyên tổ chức các hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với cộng đồng doanh nghiệp đang đầu tư trên địa bàn
để nắm bắt thông tin, kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp
Trong năm qua, các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh đã tập trung giải quyết các vướng mắc về quy hoạch, đất đai để thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp như: Tập đoàn TH với các dự án trồng, chế biến dược liệu và chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa; Tập đoàn VinGroup với dự án Trung tâm thương mại, khách sạn và nhà ở thương mại ShopHouse; Tập đoàn Hào Hưng với Dự án trồng và chế biến gỗ; Công
ty Cổ phần dược liệu Bông Sen Vàng với dự án Nhà máy chế biến dược liệu; Khu phức hợp Làng Văn hóa du lịch cộng đồng gắn với làng nghề truyền thống của Công ty du lịch và lữ hành Miền đất Việt; dự án trồng và chế biến dược liệu của Công ty Cổ phần Y học bản địa…
Bên cạnh đó, thời gian qua tỉnh cũng chủ động nghiên cứu, đánh giá tiềm năng, thị trường, xu hướng và các đối tác đầu tư Tổ chức tiếp xúc, làm việc với nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã tìm đến
Hà Giang như: Tập đoàn Sungroup, Tập đoàn Thiên Minh, Công ty Cổ phần Bất động sản và thương mại Thanh Bình I, Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC và các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Mỹ… để nghiên cứu, tìm hiểu cơ hội đầu tư
Từ các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư, đến nay đã có 29 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng số vốn trên 1.505 tỷ đồng Trong đó có 3
Trang 40dự án xây dựng thủy điện; 10 dự án khai thác, chế biến khoáng sản; 14 dự án thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, du lịch, giao thông… và 2 dự án FDI Ngoài ra, đã có 7
dự án ODA được ký kết hiệp định và xây dựng đề xuất vay vốn đầu tư; 15 dự án được thực hiện điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Đặc biệt, tỉnh mở rộng hợp tác, liên kết phát triển du lịch với 6 tỉnh Việt Bắc, 8 tỉnh Tây Bắc và các địa phương trong và ngoài nước Qua đó, lượng khách du lịch đến tỉnh ngày càng tăng, doanh thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ đạt trên nghìn tỷ đồng
Những kết quả thu hút đầu tư của tỉnh trong năm qua cho thấy Hà Giang đang dần trở thành “miền đất hứa” của các nhà đầu tư Với sự quan tâm sát sao của Tỉnh ủy bằng việc chỉ đạo thực hiện chuyển mạnh từ “tiền kiểm sang hậu kiểm” trong thu hút đầu tư; thực hiện giao nhiệm vụ theo cơ chế “mỗi việc một cơ quan chủ trì, một người phụ trách, một thời gian hoàn thành và một kết quả nhất định” và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong thực thi công vụ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính Đồng thời, thực hiện Chiến lược Tái cơ cấu kinh tế tỉnh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn 2030, tỉnh ta đã thành lập 5 nhóm hành động, trong đó có Nhóm hành động Phát triển doanh nghiệp giúp tham mưu cho tỉnh xây dựng những kế hoạch, chiến lược thu hút đầu tư bài bản, trọng tâm Có thể tin tưởng, thời gian tới sẽ có thêm nhiều nhà đầu tư đến với Hà Giang (Duy Tuấn, 2018)
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Lào Cai
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm trong thu hút và sử dụng FDI ở một số địa phương cho thấy, muốn tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả FDI cần có giải pháp tạo điều kiện hấp dẫn để thu hút được FDI, đặc biệt là FDI từ các nước phát triển, các nước có công nghệ cao, công nghệ hiện đại Tuy nhiên, mục tiêu của các nhà đầu tư nước ngoài nhiều khi không đồng nhất với mục tiêu của quốc gia hay địa phương tiếp nhận FDI
Vì lợi nhuận, các chủ thể FDI luôn tìm mọi cách tối thiểu hóa chi phí, do đó cần có tầm nhìn trong hoạch định chính sách thu hút vốn FDI, sử dụng FDI cùng với quản lý nhà nước hiệu quả về nguồn vốn này Đối với tỉnh Lào Cai, có thể tham khảo các bài học kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, tạo môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định và tăng cường vai
trò của chính quyền địa phương