1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO HỨNG THÚ VỚI GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

93 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 722,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều trường vẫn coi GDTC là môn học phụ, chương trình môn học GDTC còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt, nội dung và hình thức chưa phong phú… Không ít sinh viên vẫn còn “sợ” môn học GDTC, co

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÔ QUANG HÙNG

NÂNG CAO HỨNG THÚ VỚI GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT -

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Ngọc Cương

THÁI NGUYÊN – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, Phòng Đào tạo Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các chuyên đề của toàn khóa học đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ Đặc biệt tác giả bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Ngọc Cương Người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học

để hoàn thành luận văn này Ngoài ra tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, của các thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Trong luận văn, chắc hẳn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tác giả mong muốn sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu đến từ các quý thầy cô, ban cố vấn và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn nữa và có ý nghĩa thiết thực áp dụng trong thực tiễn cuộc sống

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày….tháng 8 năm 2020

Tác giả

Ngô Quang Hùng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả đề tài

Ngô Quang Hùng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT III MỤC LỤC IV DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG ĐỀ TÀI VI

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

5 Giả thuyết khoa học 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Công tác giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên cao đẳng, đại học 5

1.1.1 Khái niệm về giáo dục thể chất và thể thao trường học 5

1.1.2 Mục đích, nhiệm vụ của giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên 7

1.1.3 Các hình thức giáo dục thể chất và thể thao trong trường cao đẳng, đại học 8

1.2 Lý luận chung về hứng thú 11

1.2.1 Khái niệm chung và đặc điểm của hứng thú 11

1.2.2 Cấu trúc và biểu hiện của hứng thú 13

1.2.3 Mức độ và phân loại hứng thú 15

1.2.4 Mối quan hệ giữa khái niệm hứng thú với các hiện tượng tâm lý khác 18

1.2.5 Vai trò của hứng thú trong hoạt động của cá nhân 21

1.2.6 Sự hình thành và phát triển của hứng thú 24

1.3 Hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên 25

1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên Đại học 25

1.3.2 Khái niệm hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên 27

1.3.3 Một số biện pháp nâng cao hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên29 1.4 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 31

Kết luận chương 1 33

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 35

2.1 Phương pháp nghiên cứu 35

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 35

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn 36

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm 37

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 37

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 38

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê 38

2.2 Tổ chức nghiên cứu 39

2.2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 39

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 40

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 41

3.1 Xác định cơ sở lý luận và nội dung khảo sát mức độ hứng thú của sinh viên với hoạt động Giáo dục thể chất và thể thao 41

Trang 7

3.1.1 Tổng hợp cơ sở lý luận 41

3.1.2 Xác định nội dung khảo sát mức hứng thú của sinh viên với hoạt động GDTC và thể thao 43

3.2 Thực trạng hứng thú, kết quả rèn luyện của sinh viên và yếu tố tác động đến công tác Giáo dục thể chất của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật 45

3.2.1 Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục thể chất của nhà trường 45

3.2.2 Thực trạng hứng thú của sinh viên với các hoạt động Giáo dục thể chất và thể thao 47 3.2.3 Kết quả học tập môn học Giáo dục thể chất của sinh viên 51

3.3 Biện pháp nâng cao hứng thú với giờ học Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật 54

3.3.1 Lựa chọn các biện pháp 54

3.3.2 Đánh giá hiệu quả biện pháp nâng cao hứng thú với giờ học Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật 58

3.3.2.1 Kết quả khảo sát, kiểm tra đánh giá trước thực nghiệm 59

3.3.2.2 Kết quả khảo sát, kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm 64

Kết luận chương 3 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

KIẾN NGHỊ: 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 1: CÁC MẪU PHIẾU KHẢO SÁT 4

PHỤ LỤC 2 10

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG ĐỀ TÀI

Bảng 3.1 Tổng hợp ý kiến chuyên gia về ý nghĩa, tác dụng của GDTC và thể thao 43 Bảng 3.2 Tổng hợp ý kiến chuyên gia về các tiêu chí đánh giá xúc cảm của sinh viên 44 Bảng 3.3 Tổng hợp ý kiến chuyên gia về các tiêu chí đánh giá hành động của sinh viên 44 Bảng 3.4 Kết quả khảo sát nhận thức của SV về tác dụng của GDTC và TT 48 Bảng 3.5 Kết quả khảo sát mức độ yêu thích với hoạt động GDTC và TT của SV 49 Bảng 3.6 Kết quả khảo sát biểu hiện về hành động của SV với hoạt GDTC và TT 50 Bảng 3.7 Kết quả khảo sát ý kiến của SV về các nhiệm vụ trong giờ học GDTC 52 Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả kiểm tra thể lực chung của sinh viên 52 Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả học tập học phần GDTC của sinh viên 53 Bảng 3.10 Ý kiến đánh giá của giảng viên về mức độ phù hợp của các biện pháp 57 Bảng 3.11 So sánh nhận thức của SV nhóm TN (n = 46) và nhóm ĐC (n = 48) trước

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hứng thú là một trong những biểu hiện xu hướng của nhân cách Nó là một trong những yếu tố thúc đẩy quy định tính lựa chọn thái độ và tính tích cực của con người hướng tới mục tiêu có nhiều ý nghĩa đối với đời sống của bản thân Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào

đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho

cá nhân trong quá trình hoạt động

Các nhà tâm lí học đã chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Khi được làm việc, hoạt động phù hợp với hứng thú

dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Một người có hứng thú cao với lĩnh vực, hoạt động nào đó thì họ thực hiện

nó một cách dễ dàng, có hiệu quả cao, tạo ra xúc cảm dương tính mạnh mẽ với lĩnh vực, hoạt động đó Họ sẽ tìm thấy niềm vui trong hoạt động, hoạt động đó trở nên nhẹ nhàng hơn và họ sẽ tập trung cao hơn vào hoạt động đó Do vậy, hiệu quả đạt được sẽ cao hơn Ngược lại khi phải hoạt động, làm việc với tâm

lý gò bó, gượng ép thì công việc trở nên nặng nhọc khó khăn làm cho người ta nhanh chóng mệt mỏi, chất lượng hoạt động giảm rõ rệt

Trong công tác Giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao cho sinh viên thì việc nắm bắt đặc điểm tâm lý của sinh viên để tạo hứng thú cho họ trong quá trình hoạt động GDTC và thể thao là hết sức quan trọng Tạo cho sinh viên hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao đồng nghĩa với việc tạo ra cảm xúc dương tính mạnh mẽ của sinh viên với hoạt động này và họ sẽ cảm thấy tràn đầy niềm vui khi tham gia vào hoạt động đó Từ đó sinh viên sẽ tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động thể thao do vậy hiệu quả của công tác GDTC

và thể thao cho sinh viên đạt được sẽ cao hơn Muốn tạo được hứng thú cho sinh viên với các hoạt động GDTC và thể thao, trước hết phải nắm bắt được

Trang 10

đặc điểm tâm lý và những biểu hiện về mặt hứng thú của sinh viên với hoạt động GDTC và thể thao Đó là cơ sở để đánh giá, nắm bắt được thực trạng hứng thú của sinh viên và nghiên cứu đưa ra những biện pháp nâng cao hứng thú cho sinh viên trong hoạt động này

Trong những năm gần đây, công tác GDTC cho sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học trong cả nước nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau Nhiều trường vẫn coi GDTC là môn học phụ, chương trình môn học GDTC còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt, nội dung và hình thức chưa phong phú… Không ít sinh viên vẫn còn “sợ” môn học GDTC, coi việc học nội dung GDTC là mệt nhọc, những kỳ thi là cực hình, ít sinh viên

có hứng thú với môn học này…

Bộ môn GDTC của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên có nhiệm vụ chính là xây dựng chương trình GDTC, giảng dạy các học phần GDTC, tổ chức các hoạt động thể thao cho cán bộ, viên chức và sinh viên trong các nhà trường, tham gia các hoạt động thể thao tại địa phương Ngoài ra, Bộ môn GDTC còn được Nhà trường giao nhiệm vụ tổ chức các đội tuyển Thể thao của nhà trường tham gia các giải thi đấu thường niên do địa phương và ngành tổ chức Bộ môn GDTC của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật về cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ được giao và đạt được những kết quả nhất định trong công tác GDTC cho sinh viên và các hoạt động thể thao của nhà trường

Tuy nhiên, qua khảo sát sơ bộ tác giả nhận thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác GDTC cho sinh viên của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên vẫn còn một số tồn tại nhất định Đa số sinh viên còn chưa thực sự tích cực, chủ động với các hoạt động GDTC và thể thao của nhà trường Trong các giờ học GDTC sinh viên còn chưa thực sự hứng thú với các hoạt động Mức độ nhận thức, xúc cảm và hành động dương tính với GDTC và thể thao còn thấp Do vậy kết quả đạt được chưa thực sự cao

Trang 11

Từ những vấn đề trên cho thấy việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao hứng thú của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật với các hoạt động GDTC và thể thao trường học là cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC Nghiên cứu về hứng thú của sinh viên cũng cho thấy một cách tiếp cận khác giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về GDTC và thể thao trường học

Qua khảo sát sơ bộ điều kiện thực tiễn, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hứng thú với giờ học Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, điều kiện thực tiễn và đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất một số biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn để nâng cao hứng thú với giờ học GDTC cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên, nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC cho sinh viên của nhà trường

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục thể chất và thể thao trường học cũng như cơ sở lý luận về hứng thú nói chung và hứng thú của người học trong các hoạt động giáo dục nói riêng Từ đó liên hệ, vận dụng trong hoạt động GDTC cho sinh viên

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động GDTC cho sinh viên tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên về các mặt như: điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình môn học GDTC; Thực trạng hứng thú (nhận thức, xúc cảm và hành động) của sinh viên với các hoạt động GDTC và thể thao; Đánh giá thực trạng trình độ thể lực chung và kết quả học tập của sinh viên…

5.3 Đề xuất và đánh giá hiệu quả bước đầu các biện pháp nâng cao hứng thú với giờ học GDTC cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên

Trang 12

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học:

` Hệ thống được cơ sở lý luận GD và lý luận GDTC về khái niệm, vai trò của hứng thú của người học trong các hoạt động nói chung và hoạt động GDTC và thể thao trường học;

Xác định được mối liên hệ giữa cơ sở lý luận của khoa học GD với lý luận và phương pháp GDTC trong việc khơi dậy và phát triển hứng thú của người học trong các hoạt động GDTC và thể thao;

Xác định được những cách thức tổ chức hoạt động GDTC và thể thao cho sinh viên dựa trên quan điểm, cách tiếp cận và xu hướng đáp ứng nhu cầu người học nhằm khơi dậy và nâng cao hứng thú của họ

Ý nghĩa thực tiễn:

Đánh giá được thực trạng công tác GDTC của Trường Cao đẳng Kinh tế -

Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên Kết quả này góp phần đánh giá, toàn diện hơn về công tác GDTC cho sinh viên;

Xác định được các biện pháp phù hợp để tổ chức giờ học GDTC nhằm nâng cao hứng thú của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên với giờ học GDTC và các hoạt động thể thao Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC và thể thao trường học

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động GDTC cho sinh viên của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên có những hạn chế nhất định, hiệu quả đạt được chưa cao Các nội dung, hình thức, phương pháp GDTC cho sinh viên chưa phong phú, linh hoạt do vậy sinh viên chưa thực sự hứng thú với giờ học GDTC Nếu nghiên cứu và vận dụng đồng bộ các biện pháp nâng cao hứng thú của sinh viên với giờ học GDTC phù hợp với tình hình thực tiễn thì chất lượng của hoạt động GDTC cho sinh viên sẽ được nâng lên

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Công tác giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên cao đẳng, đại học

1.1.1 Khái niệm về giáo dục thể chất và thể thao trường học

Theo tác giả Vũ Đức Thu thì GDTC là quá trình sư phạm nhằm GD và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người

Trong quá trình GDTC, hình thái và chức năng các cơ quan trong cơ thể được từng bước hoàn thiện, hình thành và phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động và hệ thống tri thức chuyên môn GDTC có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện năng lực vận động của con người, cả về tố chất thể lực và kỹ năng vận động

Giáo dục thể chất là một phạm trù biện chứng của triết học Đông - Tây

Nó tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người và tồn tại tự nhiên như một nhu cầu hết sức cấp bách, không thể thiếu trong điều kiện của nền sản xuất xã hội

và đời sống con người [27]

Tác giả Nguyễn Toán thì khái niệm GDTC là một loại hình GD với các nội dung chuyên biệt là:

Dạy học vận động (qua việc thực hiện các động tác): là truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người, qua đó hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết và những hiểu biết liên quan

Phát triển có chủ định các tố chất vận động Tác động có chủ đích theo định hướng các tố chất thể lực nhằm nâng cao sức lực vận động của con người Việc dạy học động tác và phát triển các tố chất vận động có liên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau, thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau Nhưng chúng không bao giờ đồng nhất và quan hệ có khác biệt trong các giai đoạn phát triển

Trang 14

Luật Thể dục, Thể thao quy định tách biệt rõ ràng khái niệm về GDTC và thể thao trường học:

Giáo dục thể chất là môn học chính khóa thuộc CTGD nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện;

Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao [33]

Từ các nội dung trên cho thấy “khái niệm về GDTC và thể thao trường học” theo như quy định trong Luật Thể dục, thể thao là chặt chẽ và đầy đủ hơn

cả Nội dung này vừa là quy định nhưng cũng có thể được hiểu là một khái niệm về GDTC và thể thao trường học

Nhiệm vụ của TDTT trường học:

Phát triển cân đối hình thái và chức năng cơ thể học sinh theo lứa tuổi; Phát triển toàn diện năng lực thể chất; Tăng cường sức khỏe và khả năng chống

đỡ những tác động có hại của môi trường

Hình thành và hoàn thiện cho người học những kỹ năng, kỹ xảo vận động

cơ bản trong cuộc sống kể cả kỹ năng, kỹ xảo thực dụng và thể thao; Trang bị cho người học kiến thức cơ bản về việc sử dụng hiệu quả các phương tiện, phương pháp TDTT

Hình thành những thói quen giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể thường xuyên, GD phẩm chất đạo đức ý chí, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức

kỷ luật, xây dựng niềm tin, khát vọng xây dựng cuộc sống lành mạnh trong mỗi người học

Các nội dung cơ bản của công tác TDTT trường học gồm: Thực hiện giờ học nội khóa theo chương trình quy định; Tổ chức tập luyện và kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thân thể theo lứa tuổi hàng năm; Tổ chức tập luyện ngoại

Trang 15

khóa theo CLB thể thao tự chọn trong các trường học; Ổn định hệ thống thi đấu thể thao các cấp của học sinh, sinh viên theo chu kỳ năm và nhiều năm [30]

1.1.2 Mục đích, nhiệm vụ của giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên

Mục đích của TDTT trong các trường đại học là góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận, bắt nhịp nhanh với thực tiễn cuộc sống

Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ cơ bản được đề ra với chương trình GDTC và các hoạt động thể thao trong các trường đại học gồm:

Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa Rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc; Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền

và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội;

Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hòa, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu (nghiện rượu, hút thuốc…), rèn luyện thân thể đạt những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng và năm học;

Phát hiện và bồi dưỡng các tài năng cũng như các hạt nhân trong các hoạt động TDTT cấp cơ sở, đặc biệt là trong các môn thể thao thế mạnh của nhà trường và địa phương

Trong các trường đại học và cao đẳng, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chung trong chỉ đạo, kiểm tra công tác GDTC, Thể thao và theo dõi sức khỏe của sinh viên Bộ môn (khoa) TDTT có trách nhiệm về việc tổ chức và tiến hành quá trình sư phạm và GDTC cho sinh viên theo kế hoạch dạy học

Trang 16

Các hoạt động TDTT cấp cơ sở và nâng cao thành tích thể thao do Hội thể thao đại học và chuyên nghiệp cơ sở cùng với bộ môn TDTT phối hợp với các tổ chức xã hội khác như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên thực hiện Công tác kiểm tra sức khỏe định kỳ và theo dõi tình trạng sức khỏe, thể lực của sinh viên trong quá trình tập luyện và thi đấu TDTT do trạm (phòng) y tế nhà trường phối hợp với bộ môn (khoa) TDTT tiến hành [27], [30]

Để công tác GDTC và Thể thao trong trường học đạt hiệu quả cao thì việc phân loại sức khỏe người tập là một trong những yếu tố quan trọng Từ đó xây dựng nội dung và hình thức GDTC và Thể thao phù hợp với từng nhóm đối tượng Đối với sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng, việc phân loại người tập thường theo các nhóm sau:

Nhóm cơ bản hay còn gọi là nhóm khỏe: bao gồm những sinh viên có sức khỏe bình thường hoặc tốt đã hoặc chưa có quá trình tập luyện TDTT Nhóm này tập luyện theo chương trình cơ bản của nhà trường;

Nhóm đặc biệt: bao gồm những sinh viên có sức khỏe yếu, có bệnh mãn tính hoặc thương tật, cần thiết phải phân biệt đối xử trong tập luyện Những sinh viên thuộc nhóm này không thể tập luyện theo chương trình chung;

Nhóm thể thao nâng cao (TTNC): Nhóm này bao gồm những sinh viên ở nhóm cơ bản đẵ có quá trình lập luyện TDTT, có năng khiếu ở môn thể thao nào đó và có nguyện vọng tập luyện nâng cao thành tích về môn thể thao lựa chọn, đặc biệt là những môn thể thao có truyền thống của trường Nội dung và yêu cầu đối với nhóm này do Bộ môn (Khoa) TDTT soạn thảo với yêu cầu cao hơn bình thường và việc tổ chức giờ học theo hướng huấn luyện thể thao để tạo điều kiện tiếp tục nâng cao thành tích thể thao cho họ [27]

1.1.3 Các hình thức giáo dục thể chất và thể thao trong trường cao đẳng, đại học

Công tác GDTC và Thể thao trong trường đại học được tiến hành thông qua giờ học GDTC và các hoạt động TT ngoại khóa

Trang 17

Giờ học Giáo dục thể chất:

Giờ học chính khóa là hình thức cơ bản của GDTC, được tiến hành theo

kế hoạch đào tạo chung của Nhà trường Giờ học TDTT chính khóa có những đặc điểm chung của hình thức lớp - bài với dấu hiệu quan trọng nhất là nhà sư phạm trực tiếp điều khiển và TCHĐ dạy học Nhiệm vụ trọng tâm của các giờ học GDTC là trang bị tri thức chuyên môn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống và cho hoạt động thể thao [27], [30]

Luật Thể dục, Thể thao quy định: GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện

Giờ học thể dục trong trường học các cấp chính là hiện thân của giờ học GDTC chính khóa Đây là hình thức cơ bản nhất của công tác GDTC được tiến hành trong các nhà trường Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý và GD người học Giờ học thể dục trong các trường học có nhiệm vụ trọng tâm là trang bị tri thức chuyên môn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống và hoạt động thể thao Giờ học chính khóa với ưu điểm là được

tổ chức chặt chẽ và có tính thống nhất cao theo kế hoạch đào tạo, theo thời khóa biểu của nhà trường và theo giáo án của giáo viên Các giờ học được tiến hành trên sân tập của nhà trường với các lớp học có số lượng học sinh, sinh viên tương đối ổn định và tương đồng về lứa tuổi.[28]

Hoạt động thể thao ngoại khóa:

Hoạt động thể thao ngoại khóa đáp ứng nhu cầu tập luyện, giải trí ngoài giờ học chính khóa của một bộ phận học sinh sinh viên với mục đích và nhiệm

vụ là góp phần phát triển năng lực thể chất một cách toàn diện, nâng cao thành tích thể thao cũng như giao lưu, giải trí của học sinh sinh viên Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tự học của học sinh sinh viên, hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT,

Trang 18

hướng dẫn viên Ngoài ra còn các hoạt động thể thao ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các giải thi đấu trong và ngoài trường được tổ chức hàng năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập của học sinh sinh viên, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể Hoạt động ngoại khoá với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, góp phần nâng cao sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt [27], [30]

Hoạt động thể thao ngoại khóa cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học

có vai trò rất lớn đối với công tác GDTC nói riêng cũng như GD nói chung:

Hỗ trợ cho giờ học chính khóa và thỏa mãn nhu cầu vận động cho sinh viên Hiện nay đa số các trương trình đào tạo đại học đều thực hiện chương trình GDTC chính khóa trong 3 học kỳ với tổng khối lượng từ 90 đến 120 tiết, mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi từ 2 đến 3 tiết Đối với bậc cao đẳng là 1 đến 2 học

kỳ với tổng khối lượng từ 60 đến 90 tiết, mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi từ 2 đến 3 tiết Do vậy, nếu chỉ GDTC qua giờ học chính khóa thì hiệu quả sẽ không cao, không đáp ứng được nhu cầu vận động của sinh viên;

Nghỉ ngơi tích cực sau các hoạt động học tập: Hoạt động học tập của sinh viên yêu cầu khả năng lao động trí óc cao Lao động trí óc với cường độ cao, kéo dài sẽ dẫn đến căng thẳng trí óc, mệt mỏi và giảm trí nhớ và khả năng làm việc Trong trường hợp này, các hoạt động TDTT như là biện pháp nghỉ ngơi tích cực và nâng cao khả năng lao động trí óc của sinh viên, nó có thể được thực hiện trước, trong và sau thời gian lao động trí óc Hoạt động TDTT hợp lý

có tác dụng nâng cao tính ổn định, sự chịu đựng trước những yếu tố căng thẳng,

đề phòng trạng thái mệt mỏi quá độ của quá trình học tập đặc biệt là trong các

kỳ thi Qua đó giúp sinh viên cân bằng được tâm lý và tổ chức được cuộc sống một cách lành mạnh [27];

Vui chơi, giải trí lành mạnh: Vui chơi, giải trí lành mạnh là nhu cầu chính đáng của tất cả mọi người, trong đó có sinh viên Cùng với sự phát triển, thì

Trang 19

môi trường xã hội ngày càng phức tạp, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng Những mặt trái của xã hội phát triển luôn cám dỗ và tác động trực tiếp đến thanh thiếu niên Hoạt động thể thao ngoại khóa được tổ chức phong phú, đa dạng là một công cụ rất hiệu quả trong việc lôi cuốn, thu hút sinh viên vào hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh cũng như hướng sinh viên vào các hoạt động tích cực, tránh xa tệ nạn xã hội;

Rèn luyện kỹ năng sống: Hoạt động TDTT ngoại khóa tạo cho sinh viên

cơ hội gặp gỡ, giao tiếp và tương tác với các cá nhân, tập thể qua đó giúp họ rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tự tin, dũng cảm cũng như kỹ năng phối hợp với các cá nhân, tập thể khác trong các hoạt động qua đó phát triển tâm lý, nhân cách của mình Việc tham gia vào các hoạt động tập thể, đặc biệt là các hoạt động ngoại khóa nói chung và thể thao nói riêng là cơ hội rất tốt để thể hiện vai trò cũng như trách nhiệm của cá nhân trong tập thể, trong cộng đồng Góp phần xây dựng nên một xã hội phát triển tích cực, hội nhập

1.2 Lý luận chung về hứng thú

1.2.1 Khái niệm chung và đặc điểm của hứng thú

* Khái niệm chung về hứng thú

Các nhà tâm lý học Mác-xit coi hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người Thái độ đó xuất hiện là do kết quả của sự ảnh hưởng qua lại giữa điều kiện sống và hoạt động của mỗi cá nhân Nguyên nhân gây ra hứng thú rất đa dạng khiến cho khái niệm hứng thú có nhiều cách giải thích và được xét theo nhiều khía cạnh khác nhau (khía cạnh nhận thức; theo sự lựa chọn của cá nhân đối với thế giới khách quan; theo khía cạnh gắn với nhu cầu) Họ đã nghiên cứu hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng đã chỉ ra tính chất phức tạp của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối tương quan với các thuộc tính khác của nhân cách (nhu cầu, xúc cảm, ý chí, trí tuệ …)

Trang 20

Về mặt khái niệm: Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng và thích thú được thỏa mãn với đối tượng

Ngày nay, các nhà tâm lý học đã đưa ra định nghĩa tương đối hoàn chỉnh

về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” Theo đó, hứng thú thể hiện mối

quan hệ giữa chủ thể với thế giới khách quan, giữa đối tượng với nhu cầu, xúc

sự hình thành và phát triển của hứng thú

- Thứ hai: Có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân Trong quá trình hoạt động với đối tượng, hứng thú quan hệ mật thiết với với nhu cầu Khoái cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động với đối tượng, đồng thời chính khoái cảm có tác dụng thúc đẩy cá nhân tích cực hoạt động, điều đó chứng tỏ hứng thú chỉ có thể hình thành và phát triển trong và thông qua quá trình hoạt động của cá nhân

Hứng thú của cá nhân được hình thành trong hoạt động và sau khi đã được hình thành chính nó quay trở lại thúc đẩy cá nhân hoạt động Vì lý do trên hứng thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng gây ra

nó, khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung chú ý cao độ vào đối tượng làm cho mình hứng thú, do đó tích cực hóa hoạt động của con người theo

Trang 21

hướng phù hợp với hứng thú dù phải vượt qua muôn ngàn khó khăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao… [8][32]

* Đặc điểm của hứng thú

Như đã nói ở trên, hứng thú là nét biểu hiện của xu hướng cá nhân, điều

đó được thể hiện qua các đặc điểm sau:

- Tính hạn chế của hứng thú bởi một phạm vi khá hẹp các kiến thức và hình thức hoạt động Chẳng hạn như hứng thú với một lĩnh vực nào đó (thể thao) và hứng thú với một chuyên môn hẹp của nó (một môn thể thao cụ thể, một công việc hoặc một hoạt động cụ thể trong lĩnh vực thể thao)

- Cụ thể hóa mục đích và thao tác hoạt động nhiều hơn so với bình thường

- Tích cực hóa không chỉ các quá trình nhận thức mà cả những nỗ lực sáng tạo của con người trong lĩnh vực mà họ hứng thú

- Thỏa mãn cảm xúc đặc biệt nhằm thích ứng lâu dài một hoạt động tương ứng Thông thường người ta không hiểu đúng bản chất của hứng thú

và chỉ coi nó là sự thích thú bề ngoài cũng như sự tò mò hiếu kì Thực chất, hứng thú chân chính chỉ xuất hiện khi có: những cảm xúc có được trong lĩnh vực mình quan tâm; hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực đó; sự thỏa mãn cảm xúc mà con người tiếp nhận được do có những kiến thức và có hình thức hoạt động trên

1.2.2 Cấu trúc và biểu hiện của hứng thú

Cấu trúc của hứng thú:

Cấu trúc của hứng thú được tiến sĩ tâm lý học N.G.Mavôzôva đưa ra và nhận được sự tán thành của nhiều nhà tâm lý học Cấu trúc này căn cứ theo 3 biểu hiện sau:

- Cá nhân hiểu rõ được đối tượng đã gây ra hứng thú;

- Cá nhân có cảm xúc dương tính sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú

do cảm nhận được ý nghĩa của đối tượng với bản thân;

Trang 22

- Tiến hành những hành động tích cực để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng Nghĩa là hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm, tình cảm thực

sự với đối tượng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú

Ở một mức độ nhất định thì khi thích thú một đối tượng nào đó, con người đều muốn hiểu biết nó kỹ hơn, sâu sắc hơn Do đó, không có yếu tố nhận thức thì không thể có hứng thú Ngược lại, hứng thú là một điều kiện để nhận thức đối tượng một cách cơ bản hơn, sâu sắc hơn Thái độ xúc cảm với đối tượng là một dấu hiệu quan trọng của hứng thú Bản thân nhận thức không thể tạo nên hứng thú, mà phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhận thức và thái độ xúc cảm Và cũng không phải bất kỳ thái độ cảm xúc nào cũng gây nên hứng thú Niềm vui nhất thời trong chốc lát chưa phải là biểu hiện của hứng thú ổn định

mà “chỉ có những biểu hiện của cảm xúc tích cực, bền vững của cá nhân đối với đối tượng mới có thể trở thành một dấu hiệu, một mặt không thể thiếu được

của hứng thú" Hứng thú là nguồn kích thích mạnh mẽ, bền vững tới tính tích

cực của cá nhân Nguồn kích thích này làm các quá trình tâm lý diễn ra khẩn trương căng thẳng, hoạt động trở nên say mê và đem lại hiệu quả cao Hứng thú còn góp phần tạo động lực vượt qua được khó khăn trở ngại gặp phải trong quá trình hoạt động

Hứng thú là sự kết hợp giữa nhận thức - xúc cảm - hành động Mặt nhận thức chỉ là sự hiểu biết của con người đối với đối tượng, mặt hành vi là chỉ hình thức biểu hiện bên ngoài, còn nội dung tâm lý của hứng thú được thể hiện qua xúc cảm tình cảm của cá nhân với đối tượng Nghĩa là phải có sự kết hợp giữa

sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động với đối tượng

Trang 23

Ba thành tố trên có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hứng thú cá nhân

Để có hứng thú đối với đối tượng nào đó cần phải có các yếu tố trên Nó có quan hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của từng mặt riêng lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức

độ của hứng thú [8]

Biểu hiện của hứng thú:

Từ những định nghĩa cũng như cách phân chia các thành phần cấu trúc của hứng thú mà có nhiều quan điểm khác nhau về những biểu hiện về hứng thú của con người Mỗi quan điểm đều có cơ sở lý luận và ưu nhược điểm Theo tiến sĩ tâm lý học N.G.Mavôzôva và nhiều nhà tâm lý khác, hứng thú biểu hiện ở 3 mặt nhận thức – xúc cảm – hành động

Biểu hiện hứng thú của một cá nhân với đối tượng nào đó chính là: sự nhận thức đúng, đầy đủ về đối tượng; xúc cảm tích cực đối với đối tượng và cuối cùng là những hành động tích cực xoay quanh đối tượng đó nhằm chiếm lĩnh nó

1.2.3 Mức độ và phân loại hứng thú

Mức độ của hứng thú:

Việc phân chia các mức độ của hứng thú có một số quan điểm khác nhau như: Có tác giả thì phân chia làm 2 mức độ của hứng thú; Tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc khi nghiên cứu về hứng thú học tập thì đưa ra 4 mức độ của hứng thú học tập…

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đã tham khảo, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các tác giả và phân chia mức độ của hứng thú thành 3 cấp độ Theo nghiên cứu của chúng tôi cũng như sự đóng góp ý kiến của các chuyên gia thì sự phân chia này là phù hợp với việc sử dụng để đánh giá mức độ hứng thú của sinh viên với hoạt động GDTC và thể thao trong trường học Đây cũng

là nội dung nghiên cứu cơ bản của đề tài Các mức độ của hứng thú được phân chia như sau:

Trang 24

- Hứng thú cao: Ở cấp độ này chủ thể có xúc cảm dương tính mạnh mẽ xuất phát từ nhận thức đúng và đủ về đối tượng Xúc cảm này thúc đẩy mạnh

mẽ chủ thể tích cực, chủ động đưa ra hành động để chiếm lĩnh đối tượng

- Hứng thú (mức trung bình): Chủ thể có xúc cảm dương tính ở mức vừa phải với đối tượng; Có nhận thức đúng hoặc tương đối đúng, đủ về đối tượng;

Có những hành động tích cực để chiếm lĩnh đối tượng nhưng chưa ở mức độ chủ động cao

- Chưa (không) hứng thú Chủ thể không có xúc cảm dương tính với đối tượng, chưa có nhận thức hoặc nhận thức sai về đối tượng Do vậy chưa có hành động tích cực, chủ động để chiếm lĩnh đối tượng Hoặc giữa 3 mặt xúc cảm - nhận thức - hành động chưa có sự tương quan, đồng bộ (VD: xúc cảm dương tính mạnh mẽ nhưng chưa hành động tích cực, hoặc hành động rất tích cực nhưng không xuất phát từ xúc cảm dương tính với đối tượng)

Phân loại hứng thú:

Có nhiều cách phân loại hứng thú khác nhau tùy theo góc độ (cơ sở) nghiên cứu:

Căn cứ vào mức độ hiệu lực của hứng thú có các loại sau:

- Hứng thú thụ động: Là loại hứng thú tĩnh quan, chỉ giới hạn ở việc con người tri giác (ngắm nhìn, nghe…) đối tượng gây nên hứng thú (VD: thích nghe nhạc, thấy khoái cảm khi xem tranh…) Hứng thú này không thể hiện tính tích cực để nhận thức sâu sắc, làm chủ đối tượng và hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực này

- Hứng thú tích cực: Được thể hiện ở chỗ chủ thể không dừng lại ở việc tri giác đối tượng mà còn chủ động hành động với mục đích chiếm lĩnh được đối tượng gây hứng thú Đây là một trong những nguồn kích thích sự phát triển nhân cách, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, năng lực và tính cách

Căn cứ vào nội dung và chiều hướng của hứng thú ta có 5 loại sau:

- Hứng thú vật chất: có thể biểu hiện thành nguyện vọng như muốn có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp

Trang 25

- Hứng thú nhận thức: Theo nghĩa rộng thì được thể hiện dưới hứng thú học tập, hứng thú khoa học có tính chất chuyên môn như: hứng thú vật lý học, triết học, tâm lý học

- Hứng thú nghề nghiệp là hứng thú một ngành nghề nào đó: hứng thú với nghề sư phạm, bác sĩ, kỹ thuật

- Hứng thú xã hội – chính trị: Hứng thú với một hình thức nhất định của công tác xã hội đặc biệt là hoạt động tổ chức, lãnh đạo với các vấn đề chính trị

xã hội

- Hứng thú với thẩm mĩ hoặc hứng thú với các lĩnh vực văn học, nghệ thuật : Hứng thú với văn học, sân khấu, phim ảnh, âm nhạc, hội họa

Căn cứ vào khối lượng của hứng thú:

- Hứng thú rộng: Thể hiện ở người có hứng thú nhiều mặt nhưng thường chỉ sâu sắc ở mặt nào đó Tuy nhiên cũng có những trường hợp đặc biệt VD: Bác Hồ có hứng thú với nhiều lĩnh vực và Bác cũng là một nhà văn, nhà báo…

Căn cứ mức độ sâu sắc của hứng thú:

- Hứng thú sâu sắc: Thể hiện ở thái độ thận trọng có trách nhiệm với hoạt động, công việc Mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm vững đến mức hoàn hảo đối tượng của mình

- Hứng thú hời hợt bên ngoài: qua loa đại khái trong quá trình nhận thức, trong thực tiễn Đây là những người nhẹ dạ nông nổi

Trang 26

Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú:

- Hứng thú trực tiếp: Hứng thú đối với bản thân quá trình hoạt động như: quá trình nhận thức, quá trình lao động, và hoạt động sáng tạo

- Hứng thú gián tiếp: Là hứng thú đối với kết quả của hoạt động Chẳng hạn muốn có học vấn, muốn nghề nghiệp, địa vị xã hội, chức vụ nhất định…

Hứng thú lý tưởng thường có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tích cực và tính bền vững, giữa chiều rộng và chiều sâu Người có hứng thú lý tưởng có một hứng thú trung tâm chủ yếu và sâu sắc trong cuộc sống và hứng thú dựa trên những hứng thú rộng rãi và nhiều mặt

1.2.4 Mối quan hệ giữa khái niệm hứng thú với các hiện tượng tâm lý khác

Hứng thú là một hiện tượng tâm lý phức tạp, để hiểu rõ bản chất của nó, cần xem xét nó trong mối quan hệ với các hiện tượng, diễn biến tâm lý khác

Là một thuộc tính tâm lý cá nhân, hứng thú liên quan chặt chẽ với các hiện tượng tâm lý khác như: nhu cầu, sở thích, thị hiếu, tình cảm, tính tò mò, tính ham hiểu biết, năng lực, thái độ

* Hứng thú và nhu cầu

Đa số các nhà tâm lý học cho rằng: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” Trong nhu cầu của con người luôn có sự thống nhất giữa yếu tố khách quan và chủ quan Khi con người đứng trước một nhu cầu khách quan nào đó, trước khi nó trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của mình thì nó phải được phản ánh vào đầu óc con người, phải được con người ý thức về nó Một khi nhu cầu đã được con người phản ánh và ý thức sẽ trở thành một thuộc tính chủ quan, một thái độ của nhân cách; nó có xu hướng điều chỉnh hành vi và hoạt động, xác định hướng tư duy, tình cảm và ý chí của người đó

Giữa hứng thú và nhu cầu có mối quan hệ qua lại với nhau Trước hết nhu cầu có thể không cần yếu tố hấp dẫn nhưng hứng thú phải luôn gắn liền với yếu tố hấp dẫn Đối tượng để thỏa mãn nhu cầu có thể cụ thể hoặc trừu tượng,

Trang 27

trái lại đối tượng của hứng thú phải cụ thể rõ ràng Nhưng giữa hứng thú và nhu cầu có liên quan chặt chẽ với nhau Nhiều khi hứng thú nảy sinh trên cơ sở của một nhu cầu, ngược lại nhiều hứng thú có thể tạo ra nhu cầu của cá nhân về đối tượng mà nó say mê

Tuy hứng thú và nhu cầu là động cơ hoạt động, nhưng hứng thú là thái

độ, tình cảm đặc biệt của chủ thể dành cho đối tượng, còn nhu cầu biểu hiện bằng lòng mong muốn, khát khao của chủ thể với đối tượng có khả năng đáp ứng Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi nhấn mạnh tính hấp dẫn, ý nghĩa

và khoái cảm tinh thần của đối tượng đối với hứng thú, trong khi nhu cầu nhấn mạnh đến sự thoả mãn, có qui luật bão hòa và có tính chu kỳ

* Hứng thú và sở thích, thị hiếu

Sở thích là ý thích riêng của mỗi cá nhân đối với đối tượng nào đó tương đối ổn định và lâu dài Trong bất cứ hoạt động nào của con người hay của xã hội cũng tồn tại sự yêu thích khác nhau của các cá nhân với đối tượng Sở thích nào được hình thành và tồn tại trong chủ thể một cách lâu dài, chi phối việc

hình thành và hoạt động thỏa mãn nhu cầu thì được gọi là thị hiếu

Theo Từ điển Tiếng Việt: Thị hiếu là xu hướng ham thích một lối, một kiểu nào đó đối với những thứ sử dụng hoặc thưởng thức hằng ngày

Thị hiếu vừa là biểu hiện sự yêu thích của cá nhân vừa là có tính cộng đồng xã hội Thị hiếu có thể thay đổi theo sự thay đổi của xu hướng cá nhân và

xã hội theo những khoảng thời gian khác nhau

Thị hiếu được hình thành và phát triển trong chính quá trình sản xuất, tiêu dùng, phương thức để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân cũng như của xã hội Như thế, thị hiếu được hình thành trong một thời gian dài, tồn tại như một phẩm chất văn hóa của chủ thể thỏa mãn nhu cầu Trong thành phần của thị hiếu

có trình dộ văn hóa, trình độ học vấn và truyền thống cùng nhiều yếu tố khác

Thị hiếu trở thành đối tượng được nghiên cứu như một khái niệm căn bản gắn liền với sự tiêu dùng của cá nhân và xã hội cũng như đặc điểm thỏa

Trang 28

mãn nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của chủ thể

Sở thích và thị hiếu cũng là biểu hiện của hứng thú về những khía cạnh độc đáo, riêng biệt, đặc thù thường gắn với tiêu dùng, còn hứng thú gắn với hoạt động của cá nhân nhiều hơn

* Hứng thú và tình cảm

Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của họ Tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình xúc cảm trong những điều kiện xã hội

Giữa hứng thú với xúc cảm- tình cảm có quan hệ chặt chẽ Thái độ của xúc cảm - tình cảm đối với đối tượng là dấu hiệu không thể thiếu được đối với hứng thú Nhưng hứng thú không phải là xúc cảm - tình cảm Xúc cảm - tình cảm có thể biểu hiện âm tính hay dương tính gắn liền với việc đối tượng có thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Hứng thú gắn liền với sự nhận thức ý nghĩa, giá trị của đối tượng và sự say mê hoạt động hướng về đối tượng để điều chỉnh, khám phá, sáng tạo,

* Hứng thú và tính tò mò, tính ham hiểu biết

Hứng thú có liên quan chặt chẽ với các hiện tượng tâm lý gần với nó như tính tò mò, tính ham hiểu biết nhưng hứng thú không đồng nhất với các hiện tượng đó

Tính tò mò là sự chú ý mạnh mẽ vào yếu tố bất ngờ, cái thay đổi, cái mới xuất hiện ở môi trường bên ngoài Sự chú ý này có thể kéo dài và đầy xúc cảm nhưng chỉ xuất phát từ khía cạnh bên ngoài mà không đi vào bản chất của đối tượng Tính ham hiểu biết gần gũi với hứng thú nhưng nó không tập trung vào một đối tượng hoặc một hoạt động nhất định mà nó bị khuyếch tán Một đứa trẻ ham hiểu biết thường không có hứng thú sâu sắc với một đối tượng, nhưng lại hứng thú với mọi thứ xung quanh Nhiều nghiên cứu về hứng thú đã khẳng định trong quá trình phát triển hứng thú ở cá thể, tính tò mò là biểu hiện đầu

Trang 29

tiên của hứng thú, kế đó tính ham hiểu biết mới xuất hiện

* Hứng thú và thái độ

Hứng thú là xu hướng chiếm ưu thế của cá nhân nhằm vào đối tượng nào

đó có ý nghĩa trong cuộc sống và tình cảm của nó Hứng thú là động lực thúc đẩy, duy trì hoạt động tích cực của cá nhân Hứng thú là một dạng thái độ đặc biệt, chứa đựng những quan điểm cảm xúc, cách sử dụng quen thuộc với đối tượng Vì vậy, biết được cá nhân có hứng thú với đối tượng nào, đồng thời chúng ta biết được thái độ của họ với đối tượng đó [8]

1.2.5 Vai trò của hứng thú trong hoạt động của cá nhân

Hứng thú có vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động của con người Cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động, làm cho con người hoạt động tích cực, say mê và đem lại kết quả cao trong trong mọi hoạt động

Khi có hứng thú đối với một công việc nào đó, con người sẽ thực hiện nó một cách hăng say và đạt kết quả cao Lúc đó, con người sẽ cảm thấy thích thú trong lao động, khiến cho công việc trở nên nhẹ nhàng, tốn ít sức lực hơn và có sức tập trung cao độ Ngược lại, khi tiến hành một hoạt động nào đó mà không

có hứng thú, không có sự say mê, con người sẽ thực hiện nó một cách gượng

ép, không mang tính tự giác, hoạt động trở nên khó khăn, nặng nhọc, dễ gây cho con người mệt mỏi, chán nản và hiệu quả đạt được sẽ không cao Như vậy, hứng thú đã làm tăng sức làm việc của con người, mang lại cho con người niềm vui, niềm say mê trong lao động, làm tăng hiệu quả, chất lượng của hoạt động

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động một cách sáng tạo Khi được phát triển ở mức độ cao, sâu sắc, hứng thú biến thành nhu cầu cấp bách Lúc đó, cá nhân cảm thấy cần phải hành động để thỏa mãn nhu cầu và tự giác bắt tay vào hành động

Về phương diện tâm lý học, hứng thú được xem như là một cơ chế bên trong, sự biểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người Trong môi trường giáo dục, hứng thú với các hoạt động có thể được xem là sự

Trang 30

biểu hiện của động cơ chủ đạo trong hoạt động của người học Kết quả đạt được trong các hoạt động giáo dục của người học không chỉ tùy thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân, mà còn tùy thuộc cả vào thái độ tham gia hoạt động và hứng thú với các hoạt động của người học Thực tiễn đã cho thấy ở mỗi người học, kết quả đạt được trong các hoạt động rất khác nhau, do họ có mức độ hứng thú với các hoạt động khác nhau là khác nhau - khi có hứng thú với hoạt động giáo dục nào, họ sẽ thích thú, tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động đó và đạt kết quả cao hơn Khi đã có hứng thú với một đối tượng nào đó người học sẽ tăng sức dẻo dai của mình trong quá trình hoạt động, vượt qua sự mệt mỏi cả về thể chất và tinh thần Nó làm cho người học tập trung chú ý cao hơn, nắm bắt nhanh, bền và thực hiện dễ dàng hơn Hứng thú tạo ra sự say mê trong hoạt động, giúp người học có thể vượt qua mọi khó khăn để chiếm lĩnh đối tượng một cách nhanh nhất Ngược lại, khi không có hứng thú với các hoạt động giáo dục, người học dễ rơi vào một tâm trạng rất bất lợi cho việc nắm bắt đối tượng,

họ sẽ sớm cảm thấy sự mệt mỏi Qua nghiên cứu đã chỉ rõ, kỷ luật ép buộc trong môi trường giáo dục cũng đem lại những hiệu quả nhất định cho người học, song nó làm kìm hãm sự phát triển tối đa trong mỗi người học và làm mất

đi các giá trị nhân văn Chính vì vậy, khi được củng cố và phát triển một cách

có hệ thống, hứng thú nhận thức sẽ là cơ sở cho việc hình thành thái độ tích cực với các hoạt động giáo dục của người học Đây sẽ là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy các họ làm việc, giúp cho hành động trở nên nhẹ nhàng, thoải mái và đạt hiệu quả cao hơn

Hứng thú trực tiếp không chỉ là động lực thúc đẩy hoạt động tích cực trong môi trường giáo dục, mà nó còn là thuộc tính bền vững của cá nhân, góp phần quan trọng vào sự hình thành xu hướng của nhân cách Có tác giả đã viết:

“Hứng thú nhận thức giữ vai trò là động cơ quan trọng của hoạt động trong quá trình hình thành nhân cách và thường biểu lộ ra ngoài dưới dạng lòng ham hiểu biết, tính tò mò, lòng khao khát kiến thức mãnh liệt”

Trang 31

Hứng thú là động lực cơ bản để hình thành và phát triển năng lực ở con

người Muốn hình thành năng lực phải có hứng thú “Hứng thú đến mức mãnh liệt, đắm say thường là dấu hiệu của những năng lực to lớn Và ngược lại, tài năng

thường kèm theo hứng thú mạnh mẽ đối với hoạt động” Hay đại văn hào

M.Goocki từng viết: “Tài năng nói cho cùng là tình yêu đối với công việc”

Muốn hình thành năng lực cho bản thân, mỗi người cần phải có hứng thú đối với hoạt động mà mình đang thực hiện và ít nhất phải có hai điều kiện cơ bản:

- Cá nhân phải nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đó

- Hoạt động ấy phải có sức hấp dẫn về mặt tình cảm đối với cá nhân: Nhờ có sức hấp dẫn đó mà cá nhân tích cực, say sưa, làm việc ở mức độ cao hơn, họ lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc, tiếp thu được các phương pháp hành động Năng lực của họ được nâng cao Do vậy, có thể nói, hứng thú là một trong những yếu tố quyết định việc hình thành và phát triển năng lực của

cá nhân

Mặt khác, giữa năng lực và hứng thú có mối quan hệ biện chứng rất rõ ràng: cái này là tiền đề, điều kiện cho cái kia phát triển và ngược lại Đúng như L.X.Xôlôvâytrich đã khẳng định: “Hứng thú và tài năng là hai bông hoa mọc chung một cành, hai mặt của một hiện tượng Nó là một cặp đôi không thể tách rời nhau như câu hỏi và câu trả lời Tài năng sẽ bị thui chột, nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy đủ, và nói chung không được nuôi dưỡng lâu dài Ngược lại, nếu không có những năng lực cần thiết để thỏa mãn những yêu cầu đòi hỏi của hoạt động thì hứng thú cũng bị lụi tàn”

Tóm lại, hứng thú có mối liên hệ chặt chẽ với các quá trình tâm lý và các thuộc tính tâm lý khác của con người Thông qua hứng thú, những nét tính cách của cá nhân được biểu hiện rõ nét, được hình thành, củng cố và phát triển ngay trong hoạt động của con người Có thể nói, thông qua việc thực hiện các hoạt động mà cá nhân yêu thích sẽ làm nảy sinh nhiều thuộc tính, tâm lý tích cực

Trang 32

1.2.6 Sự hình thành và phát triển của hứng thú

Hứng thú được hình thành, biểu hiện và phát triển trong quá trình hoạt động Cũng như các thuộc tính tâm lý khác của cá nhân, hứng thú được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nhân cách, thông qua hoạt động liên quan đến đối tượng gây hứng thú, trong đó chủ thể luôn tích cực tự giác hành động (A.N.Leonchiep, N.G.Marôzôva, A.A.Lublinxkaia )

Sự hình thành và phát triển của hứng thú được xem xét trên nhiều khía cạnh Trên phương diện sự phát triển của các hiện tượng tâm lý, hứng thú được hình thành và phát triển theo các con đường cơ bản sau:

Từ nhu cầu đến hứng thú: Do cá nhân có nhu cầu cấp thiết về một đối

tượng nào đó, không thực hiện được cá nhân cảm thấy khó chịu Dần dần để thỏa mãn nhu cầu, cá nhân tìm tòi say mê và có hứng thú với đối tượng đó Quá trình hình thành hứng thú bằng con đường này có những đặc điểm sau:

- Nhu cầu thể hiện sự cần thiết Hứng thú thể hiện thiện ý riêng đối với đối tượng nào đó;

- Một hứng thú sâu sắc chắc chắn sẽ trở thành nhu cầu;

- Nhu cầu không đồng nhất với hứng thú nhưng nó là cơ sở của hứng thú Hơn nưa, hứng thú cũng trở thành nhu cầu

Từ tình cảm đến nhận thức rồi đến hứng thú: Hứng thú bắt đầu hình

thành do sự hấp dẫn mạnh mẽ của một đối tượng nào đó đối với cá nhân và đem lại cho cá nhân một cảm tình đặc biệt Tiếp đến, cá nhân quan tâm tìm hiểu và hiểu rõ ý nghĩa của đối tượng ấy Từ đó nẩy sinh hứng thú Thái độ cảm xúc với đối tượng là một dấu hiệu không thể thiếu của hứng thú Tuy nhiên, chỉ những biểu hiện cảm xúc tích cực, bền vững của cá nhân mới trở thành dấu hiệu không thể thiếu được của hứng thú tích cực, bền vững

Từ nhận thức đến tình cảm rồi đến hứng thú: Khi cá nhân nhận thức

đúng đắn về vấn đề nào đó thì dễ dàng xây dựng ở họ một tình cảm với nó

Theo quan điểm hình thành và phát triển hứng thú học tập của

Trang 33

N.G.Marôzôva thì hứng thú của cá nhân với một đối tượng (hoạt động) nào đó được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Thái độ nhận thức có xúc cảm đối với hiện tượng, được

xuất hiện dưới dạng rung động định kỳ Ở giai đoạn này chủ thể chưa có hứng thú thật sự, do bị cuốn hút bởi nội dung của đối tượng, cá nhân trực tiếp thể hiện niềm vui khi nhận ra cái mới Đây là giai đoạn đầu tiên của hứng thú Những rung động đó có thể mất đi khi đối tượng không tác động trực tiếp nữa, nhưng cũng có thể, trên cơ sở đó hứng thú được phát triển Hứng thú chỉ xuất hiện khi cá nhân mong muốn nắm bắt và có hành động để nắm bắt đối tượng

- Giai đoạn 2: Ở giai đoạn này những rung động định kỳ được lặp đi lặp lại nhiều lần và được khái quát trở thành thái độ nhận thức có xúc cảm tích cực với đối tượng tức là hứng thú được duy trì Thái độ nhận thức xúc cảm với đối

tượng sẽ thúc đẩy chủ thể quan tâm tới những vấn đề đặt ra trước, trong và sau hoạt động Nói cách khác, ở chủ thể đã có sự nảy sinh nhu cầu nhận thức, tìm tòi và phát hiện

- Giai đoạn 3: Nếu thái độ tích cực đó được duy trì củng cố, khả năng tìm tòi và hành động độc lập ở cá nhân thường xuyên được khơi dậy thì hứng thú có thể trở thành xu hướng cá nhân Ở mức độ này, hứng thú với đối tượng

khiến cho toàn bộ lối sống của cá nhân được thay đổi: họ dành nhiều thời gian rảnh rỗi của mình vào việc tìm tòi thêm những kiến thức có liên quan đến vấn

đề mình yêu thích, tham gia hoạt động ngoại khóa, đọc thêm sách, tìm gặp những người cùng quan tâm tới những vấn đề của mình Hứng thú bền vững là giai đoạn cao nhất của sự phát triển hứng thú cá nhân [1]

1.3 Hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên

1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên Đại học

Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường

Trang 34

Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu

sự chi phối của hoạt động chủ đạo Hoạt động chủ đạo của sinh viên là tham gia các hoạt động giáo dục để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường cao đẳng, đại học Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ đó, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực của mình, kết quả thu được cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp tham gia các hoạt động của họ

Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Hoạt động trong môi trường giáo dục đại học là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình

Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp

họ hoạt động một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với các hoạt động lựa chọn

Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều

Trang 35

kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ

so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng

có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên.[25]

1.3.2 Khái niệm hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên

* Khái niệm

Từ khái niệm: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” Cùng với những phân

tích trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên như sau:

“Hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên là thái độ lựa chọn đặc biệt của sinh viên đối với các nội dung, hình thức nào đó của hoạt động GDTC và thể thao, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của nó đối với bản thân”

* Biểu hiện hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên Hứng thú với các hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên được biểu hiện thông qua các dấu hiệu cụ thể về mặt nhận thức, cảm xúc và hành động

Trang 36

với các hoạt động GDTC và thể thao trong nhà trường cũng như trong cuộc sống hàng ngày ngoài xã hội Những biểu hiện này khá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vào nhau

Biểu hiện về mặt nhận thức: sinh viên tích cực tìm hiểu và nhận thức

đầy đủ về mục đích, ý nghĩa, tác dụng của thể dục thể thao, đây là những nguyên nhân của sự yêu thích; Những nguyên nhân đó có thể trực tiếp liên quan đến đối tượng của các hoạt động GDTC và thể thao (nội dung, hình thức, phương pháp tập luyện ), hoặc gián tiếp liên quan đến đối tượng trên (nội dung tập luyện được ứng dụng nhiều trong thực tiễn, giáo viên dạy hay )

Biểu hiện về mặt xúc cảm: sinh viên có xúc cảm tích cực (yêu thích, say

mê ) đối với các hoạt động GDTC và thể thao: Các em thực sự yêu thích các hoạt động thể dục thể thao (hoặc môn thể thao, hình thức tập luyện… nào đó)

và coi đó là niềm vui, niềm hạnh phúc khi được tham gia

Biểu hiện về mặt hành động: sinh viên biểu hiện bằng các hành động tích cực, chủ động, sáng tạo với các hoạt động GDTC và thể thao như:

Đối với các hoạt động GDTC chính khóa:

- Chấp hành tốt các nội quy của giờ học thể dục ( lên lớp đúng giờ và sử dụng trang phục đúng quy định của giờ học thể dục );

- Tập trung, chú ý, lắng nghe giảng viên giảng dạy và thực hiện động tác mẫu;

- Chủ động trao đổi với giảng viên, cán sự hoặc bạn về những kỹ thuật động tác khó;

- Tích cực tập luyện trong giờ học

Đối với các hoạt động thể thao ngoại khóa:

- Tập luyện thêm khi có thời gian rảnh rỗi;

- Tham gia các CLB thể thao của trường và các tổ chức khác;

- Đọc, tìm hiểu các sách báo có liên quan đến GDTC và thể thao;

- Tuyên truyền về vai trò của thể dục, thể thao cho những người sống xung quanh;

Trang 37

- Vận động mọi người tham gia tập luyện thể dục, thể thao

Biểu hiện về mặt kết quả: Kết quả học tập, rèn luyện tốt như: Hoàn

thành tốt các yêu cầu của môn học; đạt các tiêu chuẩn về rèn luyện thân thể; có đóng góp tích cực cho giờ học và các hoạt động thể thao của lớp, trường cũng như địa phương

* Mức độ hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên

Như đã trình bày ở trên (trang 6), trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi phân chia mức độ của hứng thú đối với hoạt động GDTC và thể thao thành 3 cấp độ Các mức độ của hứng thú được phân chia như sau:

- Hứng thú cao: Sinh viên có cảm xúc dương tính mạnh mẽ với hoạt động GDTC và thể thao, điều này xuất phát từ nhận thức đúng và đủ về hoạt động này Kèm theo đó là việc sinh viên tích cực, chủ động cao trong việc nắm bắt và tham gia vào các hoạt động

- Hứng thú (mức trung bình): Sinh viên có xúc cảm dương tính ở mức vừa phải với hoạt động GDTC và thể thao; Có nhận thức đúng hoặc tương đối đúng, đủ về đối tượng; Có hành động tích cực tham gia các hoạt động nhưng chưa ở mức chủ động cao

- Chưa (không) hứng thú: Sinh viên không có xúc cảm dương tính với hoạt động GDTC và thể thao, chưa có nhận thức hoặc nhận thức sai về hoạt động này Do vậy chưa có hành động tích cực, chủ động để chiếm lĩnh và tham gia hoạt động Hoặc giữa 3 mặt xúc cảm - nhận thức - hành động chưa có sự tương quan, đồng bộ (VD: rất yêu thích thể thao nhưng chưa tích cực tham gia các hoạt động thể thao, hoặc rất tích cực tham gia hoạt động thể thao nhưng không xuất phát từ sự yêu thích mà tham gia vì những mục đích tiêu cực…)

1.3.3 Một số biện pháp nâng cao hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên

Là một mặt biểu hiện của xu hướng nhân cách, một trong những thành phần trong hệ thống động cơ của con người Do đó muốn nâng cao hứng thú

Trang 38

của sinh viên với các hoạt động GDTC và thể thao thì trước hết phải hình thành động cơ cho họ, giáo dục động cơ tham gia hoạt động thể thao và nhu cầu tập luyện đúng đắn Động cơ hoạt động thể thao tốt không tự nhiên mà có, nó cần được xây dựng trong quá trình sinh viên đi sâu chiếm lĩnh kiến thức về thể thao dưới sự hướng dẫn của giảng viên Động cơ tham gia hoạt động GDTC và thể thao rất đa dạng, muốn phát động được động cơ đúng đắn, động cơ chiếm lĩnh hoạt động này thì trước hết cần khơi dậy cho họ nhu cầu của họ với hoạt động thể thao hoặc đáp ứng nhu cầu sẵn có của họ Vì nhu cầu là chính là nơi khơi nguồn của tính tự giác, tích cực trong mọi hoạt động

Bên cạnh đó, hành vi của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan nhất là ở sinh viên có nhân cách chưa hình thành ổn định nên môi trường khách quan cần có những điều kiện thuận lợi để cho hứng thú với các hoạt động GDTC và thể thao phát triển như các hoạt động thể thao phong phú, điều kiện cơ sở vật chất tốt, sự động viên, giáo dục kịp thời của giảng viên… Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn quá trình công tác, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú của sinh viên với các hoạt động GDTC và thể thao như sau:

- Giảng viên cần không ngừng trau dồi kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp; Đổi mới phương pháp giảng dạy và hình thức tổ chức các hoạt động; Luôn là một tấm gương sang về lối sống, rèn luyện sức khỏe và luôn nêu cao tinh thần cao thượng của thể thao;

- Bằng nhiều hình thức khác nhau, giảng viên cần giúp cho sinh viên thấy được ý nghĩa, vai trò, sự cần thiết của thể dục, thể thao với đời sống của con người;

- Hướng dẫn sinh viên biết cách tự tập luyện và tham gia các hoạt động thể dục, thể thao cũng như vận động, hướng dẫn người khác tham gia; Hướng dẫn sinh viên biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đạt được trong quá trình tham gia các hoạt động thể thao vào các hoạt động khác trong cuộc sống;

Trang 39

- Mỗi giảng viên phải luôn luôn phối hợp với các đồng nghiệp và các cơ quan quản lý để làm phong phú hơn các nội dung giảng dạy trong các giờ GDTC chính khóa và các hoạt động thể thao ngoại khóa, đặc biệt là các hoạt động tập thể; Cần tăng cường các hình thức trò chơi và thi đấu trong mọi hoạt động thể dục, thể thao nhằm tạo ra sự đua tranh của sinh viên khi tham gia, kích thích hứng thú với hoạt động này;

- Vận dụng triệt để (theo điều kiện khách quan) quan điểm phân hóa trong việc tổ chức các hoạt động GDTC và thể thao cho sinh viên Mỗi một sinh viên hoặc nhóm sinh viên luôn có những nhu cầu, sở thích và trình độ tập luyện khác nhau, do vậy việc tổ chức hoạt động GDTC và thể thao hướng đến

sự đáp ứng sự khác nhau đó là điều hết sức cần thiết Điều đó bao gồm cả việc phát huy tối đa khả năng của những sinh viên có năng khiếu thể thao cũng như giúp đỡ những sinh viên có sức khỏe yếu tập luyện và tiến bộ;

- Đặt ra yêu cầu phù hợp với mỗi nhóm đối tượng khác nhau; Giới thiệu các nguồn thông tin về thể dục, thể thao; Hướng dẫn, tư vấn cho sinh viên lựa chọn những hoạt động thể thao phù hợp;

- Thầy cô và các cấp quản lý cần có những đánh giá, ghi nhận thành tích hay những tiến bộ của sinh viên kịp thời nhằm củng cố những thay đổi tích cực Đặc biệt những sinh viên có đóng góp cho phong trào thể dục thể thao của khoa, trường và ngoài xã hội

1.4 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hứng thú có vai trò rất lớn đến hiệu quả hoạt động của con người Do vậy, hứng thú của người học là một chủ đề nghiên cứu luôn được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên trong lĩnh vực GDTC và thể thao trường học thì vấn đề này còn ít được quan tâm nghiên cứu Dưới đây là một vài công trình nghiên cứu về hứng thú học tập nói chung và hứng thú trong lĩnh vực GDTC nói riêng

Tác giả Nguyễn Trung Kiên đã nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp

Trang 40

với chủ đề “Nâng cao hứng thú với giờ học thể dục cho học sinh Trường THCS Hương Sơn – TP Thái Nguyên” Đề tài đã đánh giá thực trạng hứng thú của học sinh và đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú với giờ học thể dục cho học sinh

Tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh (2013) đã công bố kết quả nghiên cứu với đề tài “Thực trạng hứng thú học tập các môn học thực tập sư phạm của sinh viên Khoa Sư phạm Kỹ thuật – Trường ĐH Bách khoa Hà Nội” Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên đối với các môn học rèn luyện nghiệp vụ sư phạm

Tiến sĩ Vương Huy Thọ nghiên cứu về “Biện pháp phát triển hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học nghề phổ thông” Tác giả đã đề xuất một số biện pháp phát triến hứng thú học tập cho học sinh trong dạy nghề phổ thông như: Lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp; Xây dựng môi trường học tập thân thiện… Tác giả cũng đưa ra quy trình dạy học theo hướng phát triển hứng thú học tập cho học sinh gồm 5 bước: Cụ thể hóa mục tiêu bài học; Thiết kế nội dung, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; Thiết kế giáo án; Thực hiện tiến trình dạy học; Tổng kết và đánh giá

Nhóm tác giả Lưu Thị Trí và Nguyễn Thị Bình có bài viết về “Một số vấn đề về hứng thú học tập và tạo hứng thú học tập cho sinh viên” Bài viết khẳng định vai trò của việc tạo hứng thú cho sinh viên trong dạy học ở trương đại học Tiếp đó tác giả đưa ra các số liệu chứng minh rằng hiện nay ít sinh viên có hứng thú học tập và có phương pháp học tập phù hợp, sinh viên lười phát biểu trong quá trình thảo luận… Cuối cùng tác giả đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho sinh viên

Các công trình nghiên cứu về khoa học giáo dục nói chung và về hứng thú học tập nói riêng đều có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn nhất định trong từng hoàn cảnh, từng giai đoạn Những kết quả nghiên cứu đó tạo nên cơ sở, chỗ dựa và mở đường cho những nghiên cứu tiếp theo Tuy nhiên, việc nghiên

Ngày đăng: 04/06/2021, 23:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w