Với nhiều tài liệu, hiện vật gốc – bằng chứng chân thực của lịch sử, phần trưng bày mở đầu đã giới thiệu với người xem về quá trình hình thành mảnh đất con người Thái Bình với những truy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA DI SẢN VĂN HÓA
BÙI THỊ THANH MAI
TÌM HIỂU NỘI DUNG, GIẢI PHÁP TRƯNG BÀY PHẦN
“SỰ HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HIẾN THÁI BÌNH”
TẠI BẢO TÀNG THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH BẢO TÀNG HỌC
Mã số: 52320205
Người hướng dẫn: ThS TRẦN ĐỨC NGUYÊN
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình, tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện khóa luận, em đã nhận được sự động viên, hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cán bộ Bảo tàng Thái Bình và bạn bè cùng khóa
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn – Thạc sĩ Trần Đức Nguyên Sự quan tâm, tận tình chỉ bảo của thầy là nguồn động viên, cổ vũ rất lớn cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bảo tàng Thái Bình, cô Tống Thị Vân – Trưởng phòng Trưng bày tuyên truyền của Bảo tàng Thái Bình Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tiễn diễn ra tại Bảo tàng, có những vấn đề khó khăn phức tạp, cô đã tận tình chỉ bảo để em có thể hoàn thành đề tài khóa luận của mình
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế nên bài viết còn nhiều thiếu sót Em kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3M ỤC LỤC
CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ BẢO TÀNG THÁI BÌNH VÀ PHẦN
TRƯNG BÀY “SỰ HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ
1.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Bảo tàng Thái Bình 4 1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Thái Bình 12
1.2 Nội dung hệ thống trưng bày của Bảo tàng Thái Bình 13
1.3 Tầm quan trọng, ý nghĩa của phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình’’ trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Thái Bình 21
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, GIẢI PHÁP TRƯNG BÀY PHẦN “SỰ HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HIẾN THÁI BÌNH ” TẠI BẢO TÀNG THÁI BÌNH 23
2.1 Nội dung phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” tại Bảo tàng Thái Bình 23
Trang 42.3 Giải pháp trưng bày phần “Sự hình thành mảnh đất con người
và truyền thống văn hiến Thái Bình” tại Bảo tàng Thái Bình 53
2.3.3.3 Hệ thống trang thiết bị âm thanh, hình ảnh phục vụ trưng bày 59
2.3.3.6 Hệ thống trang thiết bị chống côn trùng và vi sinh vật gây hại với tài liệu, hiện vật trưng bày
60
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHẦN TRƯNG BÀY “SỰ HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HIẾN THÁI BÌNH” TẠI BẢO
3.1 Một số nhận xét, đánh giá về nội dung và giải pháp trưng bày 64
3.2 Một số ý kiến đề xuất nâng cao chất lượng về nội dung và giải
3.2.1 Một số ý kiến đề xuất nâng cao chất lượng nội dung và các tài liệu,
3.2.2 Một số ý kiến đề xuất nâng cao chất lượng giải pháp trưng bày 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thái Bình là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, giàu truyền thống lịch sử và văn hóa Thái Bình có lịch sử trên dưới 3000 năm, là vùng đất được coi là “Địa linh nhân kiệt” Quá trình hình thành mảnh đất Thái Bình là một quá trình hội cư, mở đất lập làng và sản sinh các tập tục văn hóa phong phú,
đa dạng và có nhiều giá trị Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, tên đất Thái Bình
có nhiều thay đổi, nhưng các sự kiện lịch sử ngàn năm về mảnh đất con người Thái Bình và biết bao chứng tích lịch sử văn hóa oanh liệt hào hùng của quê hương vẫn được lưu giữ, trân trọng cho hôm nay và mai sau
Bảo tàng Thái Bình là một thiết chế văn hóa đặc biệt của tỉnh Nơi đây lưu giữ, bảo quản và trưng bày, giới thiệu những tài liệu, hiện vật, hình ảnh phản ánh lịch sử mảnh đất và con người Thái Bình qua các thời kỳ lịch sử Sau 1/4 thế kỷ xây dựng, trưởng thành, Bảo tàng Thái Bình đã có những đóng góp tích cực trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên quê hương Thái Bình Đồng thời, Bảo tàng còn là một trung tâm giáo dục khoa học, giáo dục truyền thống, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên con đường hội nhập, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thăm Bảo tàng Thái Bình, khách trong nước và nước ngoài đã bị cuốn hút ngay từ phần đầu “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” Đây là phần trưng bày giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống trưng bày của toàn bộ nhà Bảo tàng Thái Bình Với nhiều tài liệu, hiện vật gốc – bằng chứng chân thực của lịch sử, phần trưng bày mở đầu đã giới thiệu với người xem về quá trình hình thành mảnh đất con người Thái Bình với những truyền thống văn hóa văn hiến tiêu biểu trong lịch sử, để từ đó tiếp đến phần quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Truyền thống mảnh đất – con người Thái Bình đã có nhiều tác giả, tác
Trang 6phẩm nghiên cứu xuất bản, nhưng việc tìm hiểu nội dung, giải pháp trưng bày của phần trưng bày này là một vấn đề chưa ai đề cập đến Vì vậy với tấm lòng trân trọng lịch sử, sự đam mê nghề nghiệp và những kiến thức chuyên ngành học tập tại trường và sự hướng dân của các thầy cô, em mạnh dạn chọn phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình’’ tại Bảo tàng Thái Bình làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Thông qua việc tìm hiểu nội dung, giải pháp trưng bày hiện nay của Bảo tàng Thái Bình và đưa ra một số ý kiến đóng góp nhằm phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế để hoàn thiện phần trưng bày trên tạo điều kiện cho việc tuyên truyền giáo dục, phát huy tác dụng với đông đảo khách tham quan
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài khóa luận này được thực hiện nhằm 3 mục đích;
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Thái Bình
- Nghiên cứu nội dung, giải pháp trưng bày phần “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” tại Bảo tàng Thái Bình
- Qua việc tìm hiểu thực trạng nội dung và giải pháp trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” để tìm ra những ưu điểm, hạn chế của nó Trên cơ sở đó, đề xuất một số những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến” tại Bảo tàng Thái Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và giải pháp trưng bày sử dụng tại
phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” tại Bảo tàng Thái Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con
người và truyền thống văn hiến Thái Bình’’ tại Bảo tàng Thái Bình
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận Chủ nghĩa Mác – Lênin: Chủ nghĩa duy vật lịch sử
và Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 7- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: bảo tàng học, sử học, mỹ thuật học, xã hội học…
- Phương pháp khảo sát, miêu tả, thống kê, phân tích, so sánh…
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Vài nét về Bảo tàng Thái Bình và phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình’’
Chương 2: Nội dung, giải pháp trưng bày phần “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” tại Bảo tàng Thái Bình Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phần trưng bày
“Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình’’ tại Bảo tàng Thái Bình
Trang 8CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ BẢO TÀNG THÁI BÌNH VÀ PHẦN TRƯNG BÀY
“SỰ HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG
VĂN HIẾN THÁI BÌNH”
1.1 Vài nét về Bảo tàng Thái Bình
1.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Bảo tàng Thái Bình
* Thời kỳ từ năm 1955 đến năm 1975
Đây là thời kỳ hình thành bộ máy tổ chức tiền thân của Bảo tàng Thái Bình Năm 1955, sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp hoàn toàn thắng lợi, ngành Văn hóa - Thông tin tỉnh Thái Bình đã hoàn thành nhiệm vụ phục vụ kháng chiến, kiến quốc, bước vào thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam
Từ năm 1955, Ty Văn hóa Thái Bình được thành lập Công tác Bảo tồn Bảo tàng nằm trong phòng Văn hóa quần chúng Lúc này mới chỉ có một đồng chí làm công tác bảo tồn - bảo tàng có nhiệm vụ tiếp nhận một số hiện vật sau cuộc cải cách ruộng đất, sưu tầm các tài liệu hiện vật, phim ảnh, phản ánh lịch sử kháng chiến, sản xuất, văn hóa xã hội của tỉnh
Tháng 7/ 1959, Vụ Bảo tồn - Bảo tàng của Bộ Văn hóa đã chính thức thành lập Tháng 11/ 1959, hầu hết các tỉnh đã thành lập phòng Bảo tồn - Bảo tàng thuộc Ty Văn hóa Đối với tỉnh Thái Bình, lúc đó có những cán bộ đầu tiên tốt nghiệp Trường Lý luận nghiệp vụ Văn hóa Hà Nội đã bổ sung lực lượng làm công tác Bảo tồn Bảo tàng cho Ty Văn hóa
Năm 1962 phòng Bảo tồn Bảo tàng được thành lập, trên cơ sở được tách
ra từ phòng Văn hóa quần chúng Năm 1963, cuộc chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt ở miền Bắc, Ty Văn hóa Thông tin phải rời thị xã Thái Bình, sơ tán về xã Đông Dương, huyện Đông Hưng ngày nay Thời gian
Trang 9này, bộ máy tổ chức của phòng Bảo tồn - Bảo tàng đã được kiện toàn và bổ sung lực lượng như các đơn vị khác thuộc Ty Văn hóa Thông tin
Đến năm 1966, Ty Văn hóa Thông tin lại tách làm hai 2: Ty Văn hóa và
Ty Thông tin Phòng Bảo tồn - Bảo tàng trực thuộc Ty Văn hóa Biên chế của phòng đã được bổ sung: tính đến trước năm 1976, phòng đã có hơn 10 biên chế trong đó có những cán bộ quân đội chuyển ngành về công tác
Phòng Bảo tồn - Bảo tàng có chức năng sưu tầm, trưng bày triển lãm lưu động phục vụ công tác tuyên truyền và tu bổ các di tích quan trọng Khi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt ở miền Bắc (năm 1972), thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban Hành chính tỉnh, toàn bộ cán bộ Bảo tồn - Bảo tàng đã cùng cán bộ ngành Văn hóa, hướng về cơ sở, vừa sản xuất phục vụ chiến đấu, vừa sưu tầm những tài liệu, hiện vật, phản ánh lịch sử sôi động, ác liệt của quân và dân tỉnh Thái Bình Hàng ngàn tài liệu, hiện vật qúy hiếm đã được sưu tầm
Trong giai đoạn này, Phòng Bảo tồn – Bảo tàng đã lập hồ sơ khoa học cho hai di tích có giá trị là Chùa Keo và Đình An Cố Sau đó 2 di tích này đã được xếp hạng cấp Quốc gia đợt đầu tiên năm 1962 Các di tích quan trọng của tỉnh như: chùa Keo, đình An Cố, khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, khu lưu niệm Bác Hồ… đã được Tỉnh ủy, Uỷ ban Hành chính tỉnh quan tâm xây dựng, bảo tồn, phát huy tác dụng
Tỉnh ủy, Uỷ ban Hành chính tỉnh đã xuất bản tập sách “Những văn bản
về công tác Bảo tồn Bảo tàng của Đảng, Chính phủ”, gồm các văn bản như: Chỉ thị số 188 TTg/VG ngày 24/10/1966 về việc Bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử trong thời gian chống Mỹ, cứu nước; Chỉ thị số 31 của UBND tỉnh ngày 26/7/1971 về việc Bảo vệ các di tích lịch sử và sưu tầm, bảo quản các di tích cách mạng và kháng chiến; Nghị quyết ngày 18/1/1975 của Thường vụ Tỉnh ủy về việc Xây dựng khu lưu niệm Bác Hồ và khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh… Đó là sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh
Trang 10ủy, Ủy ban Hành chính tỉnh Thái Bình đối với sự phát triển công tác bảo tồn - bảo tàng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
* Thời kỳ từ năm 1976 đến năm 1986
Đại thắng mùa xuân năm 1975 là mốc son lịch sử của đất nước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã vạch ra đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn quốc Nền kinh tế của đất nước phát triển theo mô hình bao cấp - đây là thời kỳ khó khăn, gian khổ của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Thái Bình nói riêng
Trong tình hình khó khăn như vậy, nhưng sự nghiệp bảo tồn - bảo tàng của ngành Văn hóa - Thông tin Tỉnh Thái Bình vẫn có những bước phát triển
và giành nhiều thành tựu đáng kể Thời kỳ từ năm 1976 đến năm 1986, phòng Bảo tồn - Bảo tàng đã bổ sung nhiều cán bộ Nhiều cán bộ trẻ có trình độ đại học đã được bổ sung Bộ máy tổ chức gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 2 tổ: tổ bảo tồn và tổ bảo tàng
Có thể nói, trong giai đoạn 10 năm sau khi đất nước hòa bình thống nhất, cán bộ hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn - bảo tàng của tỉnh Thái Bình đã hướng về cơ sở, sâu sát với quần chúng nhân dân, được nhân dân giúp đỡ sưu tầm được rất nhiều tài liệu, hiện vật, hình ảnh từ đó tổ chức được những đợt trưng bày tuyên truyền rộng khắp trong quần chúng nhân dân Phòng đã sưu tầm hàng ngàn tài liệu, hiện vật, gồm các loại hình, chất liệu, niên đại, nội dung lịch sử qua các thời kỳ…
Năm 1976, Phòng Bảo tồn - Bảo tàng đã phối hợp với Nhà Triển lãm thông tin Thái Bình tổ chức trưng bày chuyên đề “Truyền thống cách mạng của tỉnh Thái Bình” Năm 1983, Phòng Bảo tồn – Bảo tàng tổ chức trưng bày chuyên đề “Mỹ thuật cổ ở Thái Bình” tại Nhà Triển lãm thông tin Đồng thời, từng bước hoàn chỉnh đề cương nội dung, đề cương trưng bày nhà Bảo tàng tỉnh; xúc tiến việc xây dựng nhà Bảo tàng tỉnh
Trang 11Nhiều di tích lịch sử văn hóa đã được nghiên cứu xếp hạng Quốc gia Nhiều di tích lớn đã được trùng tu, sửa chữa như Chùa Keo, Đình An Cố, Đình chùa La Vân, Đền Đồng Bằng, Đền Tiên La…
Đặc biệt thời kỳ này, di tích khảo cổ thời Trần ở thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà đã khai quật 2 lần vào năm 1978 và 1980 cùng nhiều đợt thám sát khác nhau Năm 1989, di tích này đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia
Thời kỳ này Bảo tàng Thái Bình cũng tập trung giúp đỡ các xã, đơn vị, trường học xây dựng hệ thống nhà truyền thống ở cơ sở với tổng số trên 30 nhà truyền thống trong toàn tỉnh
* Thời kỳ từ năm 1986 đến năm 1996
Năm 1986, Ty Văn hóa sát nhập với Ty Thông tin thành Sở Văn hóa - Thông tin Bộ máy tổ chức của Sở Văn hóa - Thông tin cũng có sự thay đổi
Ủy ban nhân dân tỉnh đồng ý với đề nghị của Sở Văn hóa - Thông tin thành lập Bảo tàng tỉnh trên cơ sở của phòng Bảo tồn - Bảo tàng theo quyết định số 116/QĐ – UBND ngày 01/4/1986 của UBND tỉnh, với chức năng nhiệm vụ nghiên cứu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày giới thiệu các tài liệu hiện vật, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trong tỉnh
Bảo tàng là một đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin có con dấu và tài khoản riêng Đến thời điểm này lịch sử xây dựng trưởng thành của Bảo tàng
đã bước sang trang mới Đây là một sự kiện đánh dấu sự phát triển của ngành Bảo tồn - Bảo tàng trong lịch sử ngành Văn hóa - Thông tin tỉnh Thái Bình Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bảo tàng Thái Bình có trụ sở riêng tại khu vực Nhà Triển lãm thông tin, với hơn chục gian nhà cấp 4 và một nhà mái bằng đổ bê tông dùng làm kho lưu giữ hiện vật (nay là trụ sở Ban Quản lý di tích) Đồng thời UBND tỉnh cũng phê duyệt thiết kế và khởi công xây dựng nhà Bảo tàng Thái Bình với
Trang 12tổng diện tích mặt bằng là 14.000m2, diện tích xây dựng 3.000m2 Năm 1992,
Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao được thành lập Bảo tàng Thái Bình là một đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao
Trong 10 năm đầu của thời kỳ đổi mới, hòa với tình hình phát triển văn hóa xã hội của tỉnh Thái Bình, Bảo tàng Thái Bình đã đạt được một số thành tựu từ các lĩnh vực chuyên môn như sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày….Ngày 14/10/2001 Bảo tàng đã tổ chức đợt trưng bày chuyên đề lớn:
“Thái Bình với sự nghiệp nhà Trần” tại Nhà Văn hóa Lao động tỉnh nhân dịp
kỉ niệm ngày hội văn hóa thể thao của tỉnh Thái Bình Đợt trưng bày giới thiệu các tài liệu, hiện vật minh chứng Thái Bình là đất phát tích, lập nghiệp của nhà Trần và cũng là hậu phương vững chắc trong 3 lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông (thế kỷ XIII)
Trong lĩnh vực quản lý di tích, Bảo tàng đã nghiên cứu xếp hạng và tu
bổ tôn tạo nhiều di tích cấp Quốc gia; triển khai nghiên cứu bảo tồn các di tích ở địa phương theo yêu cầu của quần chúng nhân dân
Trong giai đoạn 1986 – 1996, Bảo tàng Thái Bình đã xây dựng, lập hồ sơ
đề nghị công nhận được 86 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia; công nhận
400 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Từ năm 1996 theo quy định của Bộ Văn hóa - Thông tin: di tích cấp tỉnh do UBND tỉnh xếp hạng nên những di tích do
Sở Văn hóa, Thông tin và Thể Thao Thái Bình xếp hạng trước đây đều duyệt lại Những di tích mới làm đều do UBND tỉnh ký xếp hạng cấp tỉnh
Đây là những thành tích đáng được trân trọng của Bảo tàng Thái Bình, trước khi Luật Di sản Văn hóa được ban hành
* Thời kỳ từ năm 1996 đến năm 2006
Trong thời kỳ này, bộ máy tổ chức của Bảo tàng đã được kiện toàn thành
3 phòng gồm: Phòng Hành chính tổng hợp, Phòng Nghiệp vụ bảo tàng và Phòng Quản lý di tích Về nhân sự, Bảo tàng đã có gần 30 cán bộ Bảo tàng
Trang 13đã tập trung chỉ đạo công tác chuyên môn, xúc tiến mạnh mẽ công tác hoàn chỉnh các loại đề cương của Bảo tàng
Năm 1996, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao tách ra thành Sở Văn hóa
- Thông tin và Sở Thể dục - Thể thao Bảo tàng Thái Bình trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin Năm 2000, Tỉnh ủy, UBND tỉnh phê duyệt đề án cải tạo và tiếp tục xây dựng hoàn chỉnh nhà Bảo tàng theo thiết kế mới Sau 2 năm xây dựng, Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình đã phối hợp với Trung tâm thiết kế trưng bày của Bảo tàng Hồ Chí Minh, tổ chức trưng bày nhà Bảo tàng Thái Bình, kịp thời phục vụ quần chúng nhân dân trong dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2/2003
Bảo tàng Thái Bình được xây dựng mới và đi vào hoạt động, là một sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển của ngành Văn hóa - Thông tin Thái Bình, đánh dấu sự quan tâm của địa phương Bảo tàng Thái Bình có cảnh quan, không gian thoáng rộng, đẹp, kiến trúc hiện đại kết hợp với truyền thống Với 3 tầng trưng bày, trên 3000 tài liệu, hiện vật, hình ảnh, được khách tham quan đánh giá tốt Từ năm 2003 Bảo tàng đã mở cửa thường xuyên phục
vụ công chúng trong và ngoài tỉnh Bình quân mỗi năm có hơn 20.000 lượt khách tham quan Bảo tàng
Luật Di sản Văn hóa được ban hành năm 2001, là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc chỉ đạo hoạt động Bảo tàng Thái Bình trên các lĩnh vực sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày giáo dục và công tác, quản lý di tích Kho bảo tàng được cải tạo bố trí hợp lý và là một bộ phận độc lập, số lượng hiện vật sưu tầm được Bảo tàng sưu tầm về hoặc do các tổ chức và cá nhân hiến tặng ngày càng tăng Năm 2000, Bảo tàng đã tiếp nhận và nghiên cứu trống đồng Đông Sơn phát hiện tại chùa Còng, xã Minh Tân, huyện Hưng Hà Trống đồng được ông Phạm Văn Nghị - người địa phương trông nom chùa Còng, khi đào đất khu vực ao chùa đã phát hiện (ngày 23/11/2000) Năm 2005 Bảo
Trang 14tàng đã tổ chức trưng bày chuyên đề “Cổ vật Thái Bình và 20 tỉnh trong cả nước” Trưng bày đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng công chúng
Trên hoạt động nghiên cứu khoa học, Bảo tàng Thái Bình đã biên soạn và xuất bản 2 cuốn sách “Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình tập 1” và sách “Di tích khảo cổ ở Thái Bình” Bảo tàng cũng đã thực hiện hai đề tài khoa học nghiên cứu khoa học cấp tỉnh với nội dung bước đầu giới thiệu khái quát về hệ thống
di tích lịch sử văn hóa, di tích khảo cổ học tiêu biểu của tỉnh Thái Bình
Đây cũng là thời kỳ Bảo tàng Thái Bình khẳng định vai trò, chức năng bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Các dự án xây dựng đền Trần (huyện Hưng Hà), tu bổ chùa Keo (huyện Vũ Thư), đền Tiên La (huyện Hưng Hà), đình Khuốc (huyện Hưng Hà)…đã được khởi công xây dựng Đặc biệt dự án xây dựng đền Trần, bảo tồn các ngôi mộ vua Trần ở
xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, đã khẳng định được vị thế của Bảo tàng Thái Bình trong công tác tham mưu cho ngành Văn hóa - Thông tin trong lĩnh vực nghiên cứu, xếp hạng, tu bổ tôn tạo, tuyên truyền về di tích lịch sử văn hóa Tính đến tháng 12/ 2006, số lượng di tích trong toàn tỉnh được xếp hạng cấp Quốc gia là 91 di tích
* Thời kỳ từ năm 2006 đến nay
Bảo tàng Thái Bình đã phát huy truyền thống 25 năm xây dựng, trưởng thành, được các cấp, các ngành quan tâm giúp đỡ Ngày 7/4/2008, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập trên cơ sở sát nhập Sở Văn hóa - Thông tin và Sở Thể dục - Thể thao và 1 bộ phận của ngành Thương mại Du lịch, 1 bộ phận Gia đình của Ủy ban dân số tỉnh Lúc này Bảo tàng Thái Bình trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm 2008, Bảo tàng Thái Bình đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thỏa thuận nhất trí và UBND tỉnh ra quyết định xếp loại II Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn sâu về công tác
Trang 15bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa trên đất Thái Bình, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình ra quyết định số 1066/QĐ-UBND ngày 19/05/2009 tách
bộ phận quản lý di tích của Bảo tàng Thái Bình thành Ban quản lý di tích; đồng thời ra quyết định số 1065/QĐ-UBND ngày 19/05/2009, về việc kiện toàn bộ máy tổ chức của Bảo tàng tỉnh với chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giới thiệu các tài liệu hình ảnh, hiện vật bảo tàng về lịch sử mảnh đất và con người Thái Bình với công chúng, cùng một số nhiệm vụ chuyên môn khác Bộ máy tổ chức của Bảo tàng được kiện toàn với 1 giám đốc, 2 phó giám đốc, 16 biên chế và gồm 3 phòng: phòng Hành chính tổng hợp, phòng Trưng bày tuyên truyền và phòng Sưu tầm - Kiểm kê - Bảo quản
Năm 2007, Bảo tàng đã phối hợp với Sở Thương binh xã hội tổ chức trưng bày chuyên đề, nhân dịp kỉ nệm 60 năm ngày Thương binh liệt sĩ Việt Nam Năm 2008 Bảo tàng Thái Bình phối hợp với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức trưng bày chuyên đề “Mỹ thuật dân gian Việt Nam” được công chúng đánh giá rất cao
Năm 2008 trong công tác sưu tầm, thu thập hiện vật, Bảo tàng tổ chức tiếp nhận xe tăng của Bộ tư lệnh Tăng - Thiết giáp tặng Đây là chiếc xe tăng cùng loại với chiếc xe tăng 843 do đồng chí Bùi Quang Thận – người con của Thái Thụy, Thái Bình đã chỉ huy cắm cờ giải phóng trên nóc Dinh Độc lập lúc 11h30’ ngày 30/4/1975 báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam được giải phóng
Trên lĩnh vực quản lý di tích, Bảo tàng đã tổ chức tổng kiểm kê di tích toàn tỉnh lần 2 vào năm 2007 và bàn giao các di tích quan trọng như chùa Keo, khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, đền Trần cho UBND các huyện Vũ Thư, Thái Thụy, Hưng Hà Tính đến thời điểm trước khi kiện toàn
bộ máy, Bảo tàng tỉnh đã xếp hạng 91 di tích cấp Quốc gia và 428 di tích cấp
Trang 16Tỉnh Tính đến nay (tháng 3/2012) Thái Bình đã có 104 di tích xếp hạng cấp Quốc gia và 438 di tích xếp hạng cấp tỉnh
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Thái Bình
Ngày 19/05/2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình ra quyết định số 1065/QĐ-UBND về việc kiện toàn bộ máy tổ chức của Bảo tàng tỉnh Trong đó đã quy định rõ chức năng nhiệm vụ của Bảo tàng Thái Bình như sau:
“ Điều 1 Kiện toàn tổ chức bộ máy của Bảo tàng tỉnh Bảo tàng tỉnh là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, có chức năng sưu tầm, bảo quản, trưng bày, giới thiệu các tài liệu hiện vật về lịch sử tự nhiên, xã hội của mảnh đất con người Thái Bình, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan, hưởng thụ văn hóa của nhân dân trong tỉnh, khách tham quan du lịch trong nước và quốc tế;
- Bảo tàng tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình
- Bảo tàng có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Trụ sở của Bảo tàng tỉnh tại thành phố Thái Bình (cạnh Quảng trường 14-10)
Điều 2 Nhiệm vụ của Bảo tàng tỉnh:
- Sưu tầm, kiểm kê khoa học, bảo quản và trưng bày hiện vật, tu sửa, phục chế các hiện vật;
- Tổ chức trưng bày, giới thiệu những tài liệu hiện vật tại Nhà bảo tàng để giới thiệu với khách tham quan, những truyền thống tốt đẹp của tỉnh Thái Bình;
- Nghiên cứu khoa học về di sản văn hoá, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền giám định các di vật, cổ vật theo luật di sản văn hoá;
- Tổ chức thực hiện khai quật khảo cổ học theo qui định của luật di sản
và qui định của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình;
Trang 17- Hướng dẫn nghiệp vụ cho các nhà truyền thống huyện, thành phố và các ngành;
- Quản lý kinh phí, cơ sở vật chất, tài sản và đội ngũ cán bộ, viên chức thuộc Bảo tàng tỉnh theo qui định của Nhà nước;
- Thực hiện hợp tác về hoạt động nghiệp vụ đối với bảo tàng các tỉnh, thành phố theo qui định của pháp luật
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao
Điều 3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bảo tàng tỉnh:
- Lãnh đạo, gồm: Giám đốc và Phó giám đốc
- 03 phòng chuyên môn:
+ Phòng Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản
+ Phòng Trưng bày tuyên truyền
+ Phòng Hành chính tổng hợp”
Hiện nay, Bảo tàng gồm 16 cán bộ biên chế chính thức Trong đó có 13 cán bộ có trình độ đại học chuyên ngành bảo tàng và chuyên ngành lịch sử
1.2 Nội dung hệ thống trƣng bày của Bảo tàng Thái Bình
Hiện nay nội dung trưng bày Bảo tàng Thái Bình gồm hai phần chính:
- Trưng bày trong nhà (bao gồm trưng bày thường trực và các phần trưng bày chuyên đề)
- Trưng bày ngoài trời (bao gồm trưng bày những hiện vật thể khối lớn
và khu vực tổ chức các hoạt động văn hóa)
1.2.1 Phần trưng bày trong nhà
Năm 2003 tòa nhà Bảo tàng Thái Bình được hoàn thiện và khánh thành với diện tích mặt sàn gần 3.000m2, diện tích xây dựng gần 1500m2
trên tổng diện tích khuôn viên là 73.600m2 Tòa nhà gồm 3 tầng, xây dựng hiện đại đáp
Trang 18ứng được các yêu cầu của một ngôi nhà dùng làm bảo tàng Tổng diện tích sàn trưng bày của cả 3 tầng là gần 3.000m2; diện tích dùng làm kho bảo quản
là 700m2
Trong không gian và diện tích của tòa nhà 3 tầng, Bảo tàng Thái Bình trưng bày giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển lịch sử đất và người Thái Bình; những thành tựu nổi bật trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước cùng những đặc trưng văn hóa tiêu biểu của Thái Bình
Phần trưng bày trong nhà Bảo tàng Thái Bình gồm 4 chủ đề như sau:
- Phần khánh tiết
- Phần trưng bày chủ đề “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền
thống văn hiến Thái Bình”
- Phần trưng bày chủ đề “Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm
từ đầu Công nguyên tới khi thành lập Đảng”
- Phần trưng bày chủ đề “Truyền thống cách mạng Thái Bình từ khi có
Đảng lãnh đạo”
* Phần khánh tiết: với cụm tượng đài “Bác Hồ với nhân dân Thái Bình
và tình cảm của Đảng bộ nhân dân Thái Bình với Bác Hồ” Sinh thời, dù bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ vẫn quan tâm đến phong trào cách mạng và đời sống của nhân dân cả nước Đảng bộ và nhân dân Thái Bình cũng đã vinh dự được 5 lần đón Bác về thăm: lần thứ nhất vào ngày 10/01/1946, lần thứ 2 vào ngày 28/04/1946, lần thứ 3 vào ngày 26/10/1958, lần thứ 4 vào ngày 26/03/1962 và lần cuối cùng vào hai ngày 31/12/1966 và 1/1/1967 Bác Hồ về thưởng công cho Đảng bộ và nhân dân Thái Bình - là tỉnh đầu tiên ở miền
Bắc đạt 5 tấn thóc/1ha Cũng trong lần về thăm này, Bác Hồ căn dặn: “Bác
rất vui lòng thấy Thái Bình có tiến bộ nhiều, Bác mong các đồng chí, đồng bào đều cố gắng hơn nữa để xây dựng Thái Bình trở thành một tỉnh gương mẫu về mọi mặt”
Trang 19Cụm tượng đài thể hiện 9 nhân vật, trong đó Bác Hồ là nhân vật trung tâm, xung quanh Bác là các tầng lớp công - nông - binh, cụ già và học sinh đón Bác Trên bục tượng là thảm lúa vàng, phía sau là lũy tre xanh và hình ảnh gác chuông chùa Keo - một di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của quê hương Thái Bình
Hai bên tường khu trung tâm có 2 bức phù điêu Một bên là biểu tượng truyền thống văn hiến và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm trước khi có Đảng Một bên phù điêu thể hiện nội dung trong thời kỳ cách mạng, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình đã lập nhiều thành tích xuất sắc
* Phần trưng bày chủ đề “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền
thống văn hiến Thái Bình”
Trong không gian diện tích trưng bày tại tầng 2, Bảo tàng Thái Bình trưng bày giới thiệu lịch sử mảnh đất con người, đời sống văn hóa và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Thái Bình trước khi có Đảng Bảo tàng Thái Bình trưng bày giới thiệu quá trình hình thành các vùng đất đai và sự du nhập của các luồng cư dân đến khai khẩn đất hoang, lập nên xóm ấp Vùng đất cổ phía Tây Bắc Thái Bình được hình thành khá sớm cách đây khoảng 2.500 năm lịch sử với các hiện vật minh chứng như các mảnh gốm, trống đồng và một mảnh khuôn đúc trống đồng phong cách Đông Sơn, mũi tên đồng mang phong cách Cổ Loa
Các hiện vật tại di chỉ và trong mộ táng, những viên gạch hoa văn ô trám lồng, mô hình nhà, mô hình trang trại, nhĩ bôi, bát đĩa có niên đại từ thế
kỷ I đến thế kỷ III là những hiện vật minh chứng cho sự quần cư của cư dân
cổ Thái Bình Các vùng đất khác trong quá trình biển tiến, nhân dân lấn biển lập làng, đặc biệt là Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ chiêu dân mộ binh khẩn hoang lập nên vùng đất Tiền Châu năm 1828, tiền thân của huyện Tiền Hải ngày nay Nhân dân Thái Bình có truyền thống đấu tranh dũng cảm chế ngự
Trang 20thiên nhiên, cần cù lao động sản xuất đã được khắc họa bằng các công cuộc trị thủy, khẩn hoang, các kinh nghiệm trồng lúa nước vốn được đúc kết từ cả một
bề dày lịch sử, các nghề thủ công truyền thống
Bảo tàng Thái Bình trưng bày giới thiệu trên 50 loại giống lúa có năng xuất cao thích nghi với từng vùng đất, trong đó có những giống lúa tiến vua như tám thơm, dự hương, nếp cái hoa vàng Bên cạnh đó, Bảo tàng còn trưng bày những công cụ sản xuất nông nghiệp phổ biến đã gắn bó với người nông dân Thái Bình trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, đặc biệt là miệng giếng đá sưu tầm ở thị trấn Diêm Điền có từ thời Trần còn lưu giữ đến ngày nay mà cán gầu múc nước đã hằn sâu mài thành rãnh
Bằng các tổ hợp hình tượng trưng bày kết hợp với cả phương tiện nghe nhìn minh họa, Bảo tàng Thái Bình tái hiện cảnh chiếu chèo sân đình với các kịch bản, tích chèo kinh điển; xem nhà thủy đình với các tích trò quân rối tiêu biểu của làng Nguyễn (Nguyên Xá) và làng Đống (xã Đông Các, huyện Đông Hưng) đã từng biểu diễn để lại ấn tượng sâu sắc cho khán giả trong và ngoài nước Nghệ thuật chèo và múa rối nước và niềm tự hào của người Thái Bình Ngoài 2 loại hình nghệ thuật truyền thống tiêu biểu, Bảo tàng còn trưng bày giới những tài liệu hiện vật, hình ảnh, những tác phẩm điêu khắc có giá trị như chùa Keo, đình An Cố, đền Đồng Bằng, đền Đồng Sâm, Tiên La, miếu Hai Thôn Thái Bình cũng là vùng đất có nhiều nhà khoa bảng với hơn
100 vị đại khoa, trong đó tiêu biểu nhất có thể kể đến Bảng nhãn Lê Quý Đôn (quê xã Độc Lập, huyện Hưng Hà) đã được tôn vinh là Nhà bác học thời phong kiến Việt Nam
* Phần trưng bày với chủ đề “Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm từ đầu Công nguyên tới khi thành lập Đảng”
Cũng tại tầng 2, Bảo tàng trưng bày về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm từ đầu công nguyên tới khi thành lập Đảng Từ những năm đầu Công
Trang 21nguyên, nữ tướng Vũ Thị Thục đã xưng hiệu “Bát Nạn tướng quân” dấy binh cùng Hai Bà Trưng đánh tan quân Đông Hán xâm lược, được Hai Bà Trưng phong chức
“Đông Nhung đại tướng quân” (hiện có sắc phong thờ tại đền Tiên La, xã Đoan Hùng và đền Buộm, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà) Ngoài ra còn có Lê Đô tướng quân (ở làng Hiệp Lực, xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ), bà Đỗ Thị Cẩm Hoa dấy binh ở Rèm, Bơn (xã Thăng Long và xã Hồng Châu, huyện Đông Hưng), Đỗ Thị Quế Hoa dựng căn cứ (ở làng Mỹ Lộc, Hương Đường, Tăng Bổng, Tang Điền)… Thời Đinh có Minh Công Trần Lãm giữ Kỳ Bố Hải Khẩu giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất sơn hà cùng tên tuổi của những tướng lĩnh Thái Bình như Bùi Quang Dũng, Bùi Quang Đạt còn lưu danh muôn thủa
Vào thời Lý, Thái Bình thực sự trở thành nơi xóm làng đông vui, trù mật Năm 1038, vua Lý Thái Tông đã ra Kỳ Bố Hải Khẩu cày tịch điền để động viên dân chúng cày cấy mở mang nông nghiệp
Thời Trần, với những di tích, hiện vật khảo cổ khai quật ở Tam Đường cùng các khu mộ tổ vua Trần ở xã Tiến Đức, di tích thờ Thái Sư Trần Thủ
Độ, Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung, ở xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà đã chứng minh đất Thái Bình là nơi phát tích của nhà Trần - một hậu phương lớn, góp phần cùng quân dân Đại Việt đại thắng quân xâm lược Mông Nguyên, thế kỷ XIII mở ra một trang sử hào khí Đông A của dân tộc
Thời Lê, Thái Bình có nhiều nhân tài với các tên tuổi: Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, Bảng nhãn Lê Quý Đôn… với hàng chục bộ bách khoa kinh điển để lại cho hậu thế Bảo tàng Thái Bình trưng bày giới thiệu một số mảng điêu khắc gỗ của những công trình kiến trúc lớn và sưu tập con giống bằng gốm sứ, gạch đất nung trổ hoa, bình vôi phong tục ăn trầu cổ của người Việt Bước sang thế kỷ XVIII, sự khủng hoảng mục ruỗng, thối nát của cả một chế độ, yêu cầu giải thoát cuộc sống đen tối của hàng triệu nông dân nghèo đã trở thành nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ các phong trào đấu tranh sôi động của đông đảo nông dân Bảo tàng Thái Bình trưng bày giới thiệu
Trang 22những tài liệu, hiện vật minh chứng cho một thời kỳ quật khởi của phong trào
áo vải với những tên tuổi như: Hoàng Công Chất ở làng Hoàng Xá , huyện Vũ Thư - thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa chống triều đình phong kiến Lê Trịnh 1739-1769; Tú Cao tức Trần Cao quê ở Dũng Thúy, huyện Vũ Thư; Lê Kiều Lan quê ở Thụy Quỳnh, huyện Thái Thụy đã giúp nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu giữ thành đá Chợ Và, xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ; Phan Bá Vành – lãnh tụ nông dân khởi nghĩa chống triều đình phong kiến ở Minh Giám, Kiến Xương… Cùng những tên tuổi các văn thân có tư tưởng canh tân đất nước chống lại chúa Trịnh trên vũ đài chính trị như Phạm Công Thế ở Thái Phúc, huyện Thái Thụy; Bùi Sỹ Tiêm quê ở làng Kinh Lũ, huyện Đông Hưng… Ngay từ đầu thế kỷ XIX, nhiều trí thứ trước nguy cơ xâm lược của tư bản phương tây đã đề xuất việc canh tân bảo vệ tổ quốc với các tên tuổi: Cử nhân Doãn Uẩn quê làng Ngoại Lãng, huyện Vũ Thư; Tiến sĩ Phạm Thế Hiển quê làng Luyến Khuyết, xã Thụy Phong, huyện Thái Thụy; Nguyễn Mậu Kiến quê làng Động Trung, huyện Kiến Xương; Tiến sĩ Ngô Quang Bích quê làng Trình Phố, huyện Tiền Hải… Rồi phong trào Cần Vương chống Pháp trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với các tên tuổi Tạ Hiện (còn gọi là Đề Hiện) quê làng Quan Lang, xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy; ngự sử Phạm Huy Quang quê làng Phù Lưu, xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng; Bang biện Nguyễn Đình Tốn quê làng Hoàng Nông, huyện Hưng Hà … được nhân dân ca ngợi:
“ Thứ nhất Đề Hiện, Quan Lang Thứ nhì Bang Tốn ở làng Hoàng Nông Lại thêm Án Kiến – Động Trung Huy Quang Ngự sử ở vùng Phù Lưu”
* Phần trưng bày với chủ đề “Truyền thống cách mạng Thái Bình từ khi
có Đảng lãnh đạo”
Tầng 3 của Bảo tàng trưng bày truyền thống cách mạng Thái Bình từ khi có Đảng lãnh đạo Bằng các tài liệu hình ảnh, hiện vật minh họa sẽ làm
Trang 23sáng tỏ các mốc son lịch sử trong chủ đề này Những người con ưu tú tiêu biểu như Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Năng, Bùi Hữu Diên… cùng các sự kiện của cuộc biểu tình nông dân Tiên – Duyên - Hưng (1/5/1930) và nông dân Tiền Hải (14/10/1930) đã góp phần để Xứ ủy đánh giá Thái Bình là tỉnh
có phong trào “mạnh nhất Bắc Kỳ lúc bấy giờ”
Trong kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ
và nhân dân tỉnh đã cùng bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực đánh địch 6.391 trận, tiêu diệt 16.806 tên; làm bị thương 8.011 tên; bắt sống 4.760 tên, gọi hàng 11.430 tên, phá hủy 430 xe cơ giới, 2 máy bay, 4 canô, 119 đại bác, thu hàng ngàn súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng khác Với thành tích như vậy, Thái Bình vinh dự được Hồ Chủ Tịch và Chính phủ tặng Huân chương Độc lập hạng nhất về thành tích kiến quốc chuẩn bị kháng chiến, nhất
là thành tích về thanh toán nạn mù chữ Được Bác Hồ tặng cờ thêu 8 chữ vàng “Quân dân một lòng tiêu diệt địch” Làng kháng chiến Tán Thuật, huyện Kiến Xương có Nguyễn Thị Chiên được phong là nữ Anh hùng lực lượng vũ trang đầu tiên trong toàn quốc
Trong kháng chiến chống Mỹ, Thái Bình là “Quê hương 5 tấn”, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, bắn rơi 4 máy bay Mỹ, thực hiện tốt khẩu hiệu “thóc thừa cân, quân vượt mức”; nhiều tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Trong những năm đổi mới, những thành tựu kinh tế, văn hóa của tỉnh cũng không ngừng phát triển và tăng trưởng, những khu công nghiệp lớn được mở mang, đời sống cán bộ nhân dân ngày càng ổn định và phát triển Với hàng ngàn tài liệu hiện vật quý cùng giải pháp trưng bày mỹ thuật đẹp, trang thiết bị nghe nhìn hiện đại, các phòng trưng bày đã nêu bật các chặng đường lịch sử, các mốc son quan trọng tiêu biểu trong chiến đấu và sản xuất của quân dân Thái Bình
Trang 24Ngoài phần trưng bày lịch sử, Bảo Tàng Thái Bình còn có phòng trưng bày chuyên đề về kinh tế biển, tiềm năng dầu khí và việc khai thác, sử dụng
để phát triển những khu công nghiệp lớn của tỉnh
1.2.2 Phần trưng bày ngoài trời
Phần trưng bày ngoài trời, gồm các loại hiện vật thể khối lớn gắn với những sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu của tỉnh trong cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc
Kho vũ khí lớn từ thô sơ đến hiện đại, từ loạt súng thần công trước thời chống Pháp đến các loại pháo mặt đất tham gia đánh địch của sư đoàn đồng bằng, các đơn vị pháo mặt đất và pháo nòng dài của tự vệ miền biển và bộ đội quân khu III bắn cháy tàu chiến Mỹ Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Phạm Trường Uy quê ở Vũ Lạc huyện Kiến Xương đã từng chỉ huy tên lửa mặt đất (Sam III) bắn cháy nhiều máy bay Mỹ; khẩu pháo 37 ly của đơn vị anh hùng (dân quân xã Đông Lâm huyện Tiền Hải ) đã tham gia bắn cháy máy bay Mỹ Chiếc máy bay Mic21 do đồng chí Phạm Tuân – Anh hùng lực lượng vũ trang đã từng lái bắn rơi máy bay B52 của Mỹ Xe tăng 843 do đồng chí Bùi Quang Thận – người con Thái Bình – chỉ huy và tham gia chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử - đồng chí là người cắm cờ trên Dinh Độc Lập vào hồi 11h30’ ngày 30/04/1975
Ngoài ra, trong quy hoạch xây dựng, phần trưng bày ngoài trời còn có vườn cây lưu niệm và tượng danh nhân tiêu biểu của tỉnh; khu trưng bày kiến trúc làng xã và di sản mỹ thuật điêu khắc Hán Nôm bằng chất liệu đá; khu hoạt động các loại hình văn hóa dân gian
Hàng năm, Bảo tàng Thái Bình sưu tầm bổ sung hàng trăm tài liệu hiện vật, phim ảnh; phục vụ trên 20.000 lượt khách tham quan; tổ chức trưng bày các chuyên đề phục vụ kịp thời yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tỉnh
Trang 251.3 Tầm quan trọng, ý nghĩa của phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Thái Bình
Trưng bày là cầu nối đưa bảo tàng đến với công chúng Không có trưng bày thì bảo tàng chỉ là kho bảo quản, lưu trữ các sưu tập đã được hệ thống hóa lại một cách khoa học và đã được nghiên cứu Những hiện vật bảo tàng quý hiếm là vật chứng cho những sự kiện lịch sử được bảo tàng sưu tầm, nghiên cứu, bảo quản chỉ được tiếp xúc với công chúng qua trưng bày Vì vậy có thể nói, nếu không có hiện vật thì không có bảo tàng và cũng không có bảo tàng nếu không có trưng bày
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác trưng bày nên ngay từ khi
ra đời, Bảo tàng Thái Bình đã rất chú trọng đến hoạt động này Bảo tàng không ngừng sưu tầm tài liệu, hiện vật làm phong phú thêm hệ thống tài liệu, hiện vật trưng bày cũng như tiếp thu, chọn lọc, áp dụng những phương tiện, trang thiết bị mới để hoàn thiện hệ thống trưng bày
Phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” là một phần quan trọng trong hệ thống trưng bày Bảo tàng Thái Bình vì đây là phần giới thiệu về trang sử mở đầu đánh dấu sự ra đời hình thành mảnh đất, địa danh Thái Bình, hình thành những lớp cư dân đầu tiên và
từ đó tạo nên những phong tục tập quán, những truyền thống văn hóa văn hiến của một địa phương Đến bất cứ vùng đất nào, để hiểu được con người nơi ấy thì phải tìm hiểu những vấn đề như điều kiện tự nhiên để hình thành mảnh đất, con người Thái Bình và những phong tục, tập quán, truyền thống văn hiến của
cư dân nơi đây Bảo tàng Thái Bình đã đáp ứng được nhu cầu đó bằng tất cả các hình ảnh, tài liệu hiện vật trưng bày của phần đầu đã minh chứng cho lịch
sử và truyền thống văn hóa của nhân dân Thái Bình Khách tham quan đến với Bảo tàng Thái Bình được tìm hiểu sâu sắc về vùng đất “địa linh nhân kiệt” có truyền thống yêu nước, yêu quê hương, có những tập tục sinh hoạt văn hóa
Trang 26nghệ thuật tiêu biểu cho một địa phương đồng bằng Bắc bộ, một nét văn hóa khác với các cư dân bản địa ở các vùng miền khác nhau
Từ truyền thống xây dựng quê hương đất nước đã hun đúc cho bao thế
hệ cư dân Thái Bình đoàn kết, mưu lược, kiên cường trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm từ trước và sau khi có Đảng, mảnh đất và con người Thái Bình đã đóng góp cho các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những sự kiện, những nhân vật đã từng ghi đậm dấu
ấn lịch sử truyền thống nước nhà
Thông qua phần trưng bày, Bảo tàng Thái Bình đã bước đầu tuyên truyền, giáo dục cho các thế hệ đặc biệt là thế hệ trẻ tinh thần yêu quê hương, đất nước Đồng thời giới thiệu cho công chúng những đặc trưng văn hóa của Thái Bình, để từ đó phát huy tạo nên sức mạnh to lớn, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng một địa phương vững mạnh góp phần nhỏ bé mà vĩ đại trong việc xây dựng một đất nước giàu đẹp, lớn mạnh
Trang 27
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, GIẢI PHÁP TRƯNG BÀY PHẦN “SỰ HÌNH THÀNH MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HIẾN THÁI
BÌNH ” TẠI BẢO TÀNG THÁI BÌNH
2.1 Nội dung phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” tại Bảo tàng Thái Bình
Thái Bình là địa danh hành chính cấp tỉnh được thành lập muộn hơn so với các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ (21/3/1890) Tuy nhiên, cách ngày nay khoảng trên 2000 năm, trên mảnh đất Thái Bình đã có cư dân sinh sống Trải qua quá trình vật lộn, đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, giặc dã hoành hành
để cải tạo vùng đất sình lầy, chua mặn, đầy lau lác, cỏ dại thành những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ, cư dân Thái Bình đã sớm hình thành những phẩm chất tốt đẹp, với nhiều truyền thống đáng tự hào: cần cù, dũng cảm trong lao động sản xuất, chinh phục cải tạo thiên nhiên, giàu kinh nghiệm thâm canh,
có nền văn hóa - nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc mà vẫn có sắc thái riêng, độc đáo; có truyền thống ngành nghề thủ công nổi tiếng; có truyền thống hiếu học; đặc biệt là truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm và đấu tranh với các thế lực cường quyền, phong kiến phản động
Phần trưng bày “Sự hình thành mảnh đất con người và truyền thống văn hiến Thái Bình” là 1 trong 4 phần trưng bày lớn của Bảo tàng Thái Bình Phần trưng bày này bao gồm 5 tiểu đề:
- Tiểu đề 1: Quá trình hình thành đất đai, cư dân, làng xã
- Tiểu đề 2: Truyền thống lao động, xây dựng làng nghề
- Tiểu đề 3: Truyền thống văn hóa nghệ thuật
- Tiểu đề 4: Truyền thống khoa bảng
- Tiểu đề 5: Di tích và lễ hội
Trang 282.1.1 Quá trình hình thành đất đai, cư dân, làng xã
Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc lưu vực sông Hồng, hầu hết cư dân Thái Bình là người Kinh sống chủ yếu bằng nghề nông Về vị trí địa lý, Thái Bình
có phía bắc và tây giáp các tỉnh: Hưng Yên, Hải Phòng; phía tây và nam giáp tỉnh Hà Nam và Nam Định; phía đông là biển Đất đai Thái Bình được bao bọc bằng các con sông lớn và biển cả: phía tây bắc là sông Luộc, phía đông bắc là sông Hóa, phía tây nam là sông Hồng Bờ biển Thái Bình dài 54km với
3 cửa sông lớn đổ ra là: cửa sông Thái Bình, cửa sông Trà Lý và cửa Ba Lạt của sông Hồng
Thái Bình là một trong hai tỉnh đồng bằng không có núi, không có đồi, thi thoảng mới có một số dải đất nổi lên theo các triền sông lớn
Về đơn vị hành chính hiện Thái Bình có: 1 thành phố và 7 huyện (Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy) với tổng số 285 xã, phường, thị trấn Sông Trà Lý là một nhánh của sông Hồng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam gần như cắt đôi địa phận của tỉnh thành hai vùng đất Bắc và Nam một cách tự nhiên Phía Bắc gồm có 4 huyện (Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy); phía nam là thành phố Thái Bình và 3 huyện (Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải) Trong đó, Tiền Hải có 8
xã, Thái Thụy có 5 xã giáp biển
Nằm trong quá trình cải tạo hàng chục vạn năm của vùng đồng bằng Bắc
Bộ, đất đai Thái Bình được hình thành chủ yếu do sự bồi đắp phù sa của 2 con sông là sông Hồng và sông Thái Bình cùng với công cuộc quai đê khẩn hoang, lấn biển của nhiều thế hệ cư dân… Nơi đây, còn sót lại một số dấu vết rừng nguyên sinh, nay thuộc địa phận xã An Vũ (huyện Quỳnh Phụ) và xã Vũ Ninh (huyện Kiến Xương)
Qua nhiều năm khảo sát sưu tầm, các thế hệ cán bộ của Bảo tàng Thái Bình và nhân dân trong tỉnh đã phát hiện, sưu tầm được khá nhiều di vật,
Trang 29những hiện vật tiêu biểu minh chứng về vùng đất Thái Bình đã được hình thành và là nơi sinh tụ của nhiều luồng cư dân cách ngày nay trên 2000 năm Cho đến những năm đầu công nguyên, phần lớn đất đai Thái Bình đã được khẩn hoang, khai phá hình thành các khu vực tập trung dân cư tạo nên một đời sống sinh hoạt đa dạng, nhộn nhịp Các hiện vật tại một số di chỉ và
mộ táng như: những viên gạch hoa văn ô trám, mô hình nhà lầu, mô hình trang trại, một loạt các hiện vật như nhĩ bôi, dọi xe chỉ bằng đất nung; các hình thú, rùa, vòng kim loại…Đây là những hiện vật có niên đại vào khoảng thiên niên kỷ I sau Công nguyên
Năm 2002 tại di chỉ chùa làng Còng, xã Minh Tân, huyện Hưng Hà, nhân dân đã phát hiện được 2 chiếc trống đồng Qua hoa văn, hoạ tiết, hình dáng của trống bước đầu xác định là trống đồng Đông Sơn loại I, có niên đại cách ngày nay khoảng 2000 - 2500 năm lịch sử Mặc dù số lượng chỉ có hạn, song qua đó cho thấy Thái Bình cũng là khu vực trong vùng phân bố của nền văn hóa Đông Sơn
Với đặc điểm hình thành đất đai, từ sớm Thái Bình – miền đất hạ lưu sông Hồng đã luôn luôn chứa đựng trong mình cả hai yếu tố song hành: thuận lợi và khó khăn Đó là sự hứa hẹn to lớn về một cuộc sống định cư mở mang trước vùng đất vốn là sản phẩm bồi tụ màu mỡ của thiên nhiên Song, đó cũng lại là miền đất hoang sơ với muôn vàn hiểm nguy rình rập, thử thách như giông bão, lụt lội, nắng hạn, đầm lầy, lau lách, thú dữ…
Từ sau Công nguyên, đặc biệt sau khi nhà nước phong kiến Đại Việt giành quyền tự chủ, mảnh đất Thái Bình mới thực sự là điểm dừng chân hội tụ của nhiều luồng cư dân ngày càng đông đúc, tạo nên một sự quần cư rõ rệt Thành phần, nguồn gốc của những luồng cư dân này được phản ánh rõ nét qua nhiều gia phả của các dòng họ lớn Tiêu biểu là dòng họ Bùi (gốc Phong Châu – Phú Thọ) có phổ hệ trên dưới 1000 năm, hiện còn cuốn gia phả được lưu giữ ở xã Quang Bình, huyện Vũ Thư cho biết: vào thế kỷ X, do có công
Trang 30giúp nhà Đinh dẹp cát cứ, Trấn đông Tiết độ sứ Bùi Quang Dũng đã được ban thưởng cắt cho vùng đất quanh Kỳ Bố hải khẩu (nay là vùng thành phố Thái Bình) Ông đã mộ dân, khuyến khích binh lính tổ chức dọn dẹp lau lách, khơi sông đào máng, khẩn hoang lập nên thái ấp Hàm Châu thuộc đất các xã Phú Xuân (Thành phố Thái Bình), xã Tân Bình (huyện Vũ Thư)
Sang thế kỉ XIII, Thái Bình trở thành vùng đất kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân đa dạng, nhộn nhịp Nổi bật của thời kỳ này là việc mở mang điền trang thái ấp, xây dựng các hành cung, lăng tẩm Tại khu di chỉ cung Long Hưng, dấu vết khảo cổ chạy từ làng Tây Nha đến gần đê sông Hồng, cả làng Thái Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà đào đâu cũng gặp phế tích, kiến trúc cung điện thế kỷ XIII Các hiện vật khảo cổ tìm thấy được Bảo tàng trưng bày bao gồm những loại gạch có dáng thú, đầu phượng, mỏ vịt; là một trong những loại gạch được sử dụng đắp trang trí trên các bờ cánh kiến trúc cung tẩm nhà Trần Đặc biệt là tấm mộc bài Đa Bối phát hiện thấy được tại làng Bái Thượng, xã Thụy Phúc, huyện Thái Thụy thuộc khu cánh đồng Đa Bối Tấm mộc bài dài 2,2m, một mặt đẽo phẳng, có khắc những dòng chữ Hán và một số chữ Nôm; nội dung chính nói về ruộng đất thời Trần Đây là 1 tư liệu vô cùng quý, có giá trị đã góp phần giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu về chế độ ruộng đất thời Trần Ngoài ra rải rác ở một vài nơi địa phận huyện Hưng Hà nhân dân còn phát hiện được một số quan tài dạng hình thuyền Sự phát hiện này thể hiện đây là một trong những việc táng tục, là một trong những nét văn hoá của cư dân cổ
Cư dân Thái Bình có nếp sống phong nhã, thuần phác coi trọng tình làng nghĩa xóm Mỗi họ tộc gia đình đều có từ đường thờ liệt tổ, liệt tông để dạy con cháu: “Ẩm hà tư nguyên” (Uống nước nhớ nguồn), khắc ghi “Công dưỡng dục, đức sinh thành” Và khẳng định đạo lý:
Tổ công tông đức thiên niên thịnh
Trang 31Đã trở thành đạo lý giáo dục con cháu uống nước phải nhớ nguồn, ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây Đồng thời, phải khắc ghi công dưỡng dục, đức sinh thành của cha mẹ
* Để tái hiện minh chứng đầy đủ quá trình hình thành mảnh đất Thái Bình, Bảo tàng Thái Bình đã lựa chọn một số tài liệu, hình ảnh tiêu biểu để trưng bày như:
- Ảnh: Rừng lau sậy cửa sông Thái Bình
- Ảnh: Cồn cát sa bồi vùng cửa sông Thái Bình
- Ảnh: Nước biển được nhân dân Thái Bình sản xuất thành muối
* Cho đến những thế kỷ đầu công nguyên, phần lớn đất đai Thái Bình đã được khẩn hoang, khai phá hình thành các khu vực tập trung dân cư tạo nên một đời sống sinh hoạt đa dạng, nhộn nhịp Để minh chứng cho giai đoạn này Bảo tàng Thái Bình đã sử dụng các tài liệu, hiện vật tiêu biểu như:
- Ảnh: Đền Rẹ, xã Văn Lang, huyện Hưng Hà- thờ thánh mẫu Vũ Như
- Ảnh: Chùa làng Còng, xã Minh Tân, huyện Hưng Hà - nơi phát hiện được đồ đồng và trống đồng
- Hiện vật: Rìu đá thuộc phong cách đồ đá mới, khai quật được ở xã Tân Hòa, huyện Vũ Thư
Trang 32- Hiện vật: Vòng đồng, dọi xe chỉ, tượng thú đồng phát hiện trong ngôi
mộ cổ ở thôn Mễ, xã Trần Phú, huyện Hưng Hà tháng 2/1981 (Thế kỷ I – III)
- Hiện vật: Sưu tập mũi tên đồng, niên đại thuộc văn hóa Đông Sơn, được phát hiện năm 1960 tại thôn Ô Cách, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ
- Hiện vật: Viên gạch mộ Mỹ Xá niên đại gần 2000 năm, khai quật được
ở xã Phú Sơn, huyện Hưng Hà
- Hiện vật: Bộ xương cá sấu phát hiện năm 1960 tại làng cổ Tuyết, xã An Vinh, huyện Quỳnh Phụ
- Hiện vật: Trống chậu – loại hình nhạc cụ có niên đại cách ngày nay
- Hiện vật: Mô hình nhà bằng đất nung thời Trần (thế kỷ XIII – XIV) khai quật được tại mộ cổ làng Dồm thôn An Quý, xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ
- Hiện vật: Bia mốc lộ giới năm 1746 của làng Đào Động, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ
- Ảnh: Đình làng Nứa, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà thờ Thiệu Dương công chúa đời Trần, người mở ấp An Nữ
Trang 33- Ảnh: Ban thờ cụ Nguyễn Công Áng, thôn Vân Trường, huyện Tiền Hải, người có công mở đất đầu thế kỷ XV hình thành huyện Tiền Hải
- Ảnh: Lăng mộ thượng thư Nguyễn Công Trứ – người hưng công khai hoang lấn biển huyện Tiền Châu (Tiền Hải), năm 1828
- Hiện vật: Quan tài bằng thân cây khoét rỗng tìm thấy tại làng Duyên Phúc (thị trấn Hưng Hà)
- Hiện vật: Mảnh quách gỗ trong ngôi mộ cổ ở xã Hồng Hà, huyện Hưng
Hà, niên đại thời Trần (Thế kỉ XIII)
- Hiện vật: Vịt đất nung (chim uyên ương) trang trí trên lưng viên ngói
bờ cánh kiến trúc cung Long Hưng thời Trần (Thế kỉ XIII – XIV) tại thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà
Nhóm hiện vật tiêu biểu đặc sắc, quý hiếm được Bảo tàng Thái Bình trưng bày ở một tủ đứng trang trọng giữa gian phòng trưng bày giới thiệu cho khách tham quan về mảnh đất và truyền thống văn hiến của cư dân Thái Bình trong lịch sử bao gồm:
- Hiện vật: Trống đồng Đông Sơn khai quật được tại di chỉ chùa làng Còng xã Minh Tân, huyện Hưng Hà
- Hiện vật: Chân đèn gốm men ngà xanh rêu, thời Mạc - Lê Trung Hưng, thế kỷ XVI –XVII, được sưu tầm tại chùa Đông Hồ, xã Thụy Phong, huyện Thái Thụy
- Hiện vật: Lư hương gốm thời Mạc - Lê Trung Hưng, thế kỷ XVI – XVII, sưu tầm được tại miếu Viềng, xã Đông Phương, huyện Đông Hưng
- Hiện vật: Chân đèn gốm hoa lam, thời Mạc năm 1581, được sưu tầm tại
di tích chùa Keo, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư Toàn bộ đèn được phủ men trắng ngà rạn, hoa văn xanh lam đậm với các họa tiết mây tản, mây lửa, cánh sen vuông kép Trên thân đèn khắc chìm dòng chữ Hán khi cốt gốm “Diên Thành vạn vạn niên chi tứ” (Diên Thành năm thứ 4 (1581)
Trang 34- Hiện vật: Đầu rồng bằng đất nung trong kiến trúc cung Long Hưng tại thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà (Thế kỷ XIII – XIV)
Bảng thống kê tài liệu hiện vật trƣng bày trong tiểu đề 1
Phần trƣng bày
Hiện vật bảo tàng Hiện vật bảo tàng làm ra
HVG khối
TLG
có chữ viết
Tác phẩm
NT tạo hình gốc
Phim ảnh, băng đĩa gốc
TLH
V phục chế
Tác phẩm
NT minh họa
T Tài liệu viết
T TL
KH phụ
- Hiện vật bảo tàng có 156 đơn vị, chiếm 85%
- Hiện vật bảo tàng làm ra có 27 đơn vị, chiếm 15%
2.1.2 Truyền thống lao động, xây dựng làng nghề
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, vấn đề trị thủy, khẩn hoang, lấn biển thật sự đã trở thành vấn đề thường trực tất yếu, một công việc có cả bề dày kinh nghiệm của nhiều thế hệ cư dân Thái Bình Ngay từ thế kỷ X, tương truyền, có đại sư Không Lộ ở Chùa Keo, cùng thày chùa Lưu Điều ở Canh Tân huyện Hưng Hà và quốc sư Minh Không ở La Vân huyện Quỳnh Phụ đã chỉ đạo dân “đắp đê sông Hồng”, “khơi thông sông Luộc”, “nạo vét sông Sinh” Tại di tích đình Tống Thỏ, xã Đông Mỹ huyện Đông Hưng và nhiều xã khác đều thờ “Trần triều hà đê xứ” - người đã cùng dân chế ngự bão lũ trên đê sông Trà Lý (thế kỷ XIII) Tương truyền, ông là một quan trông coi việc đê điều, khi đoạn đê của làng Tống Thỏ vỡ, ông đã thể hiện lòng dũng cảm của mình phi cả người và ngựa xuống dòng nước lũ để bảo vệ đê Cảm kích trước
Trang 35hành động dũng cảm của ông, nhân dân quyết tâm hàn khẩu đoạn đê vỡ, bảo
vệ xóm làng và đồng ruộng
Lăng tưởng niệm doanh điền Nguyễn Công Trứ tại xã Tây Sơn, huyện Tiền Hải, là nơi ghi lại sự kiện mở đất Tiền Châu( Tiền Hải) vào năm 1828 Lăng Thượng thư làng Hưng (xã Hồng Việt huyện Đông Hưng) là nơi yên nghỉ của cụ Thượng thư Lương Quy Chính – người tổ chức dân đào sông Tiên Hưng hồi đầu thế kỷ XX Cho đến ngày hôm nay, mảnh đất và con người Thái Bình được hình thành tương đối ổn định Truyền thống trị thủy, khẩn hoang, quai đê lấn biển không chỉ là cội rễ tự nhiên của tinh thần cố kết cộng đồng giữa các nhóm cư dân mà còn là cơ sở thiết yếu cho việc mở rộng địa bàn cư trú, thuần dưỡng đất đai canh tác, phát triển ngành nghề, đặc biệt là nghề trồng lúa nước
Với địa hình ba mặt là sông lớn, một mặt là biển, nội địa lại chằng chịt những con sông ngòi nhỏ, những người dân đến cư tụ ở Thái Bình đã sớm thích nghi, xử trí thông minh, biến yếu tố vốn thường coi là đứng đầu trong các hiểm họa (thủy, hỏa, đạo, tặc) trở thành điều kiện, biện pháp hàng đầu trong kỹ thuật thâm canh trồng lúa Việc quai đê, khơi ngòi, đào mương máng, dựng kè cống…đã thay thế cho phương thức sản xuất trồng lúa nước dựa vào sự lên xuống của thủy triều hết sức thụ động ở buổi sơ khai Kỹ thuật làm thủy lợi, kinh nghiệm trị thủy đã giúp người dân nơi đây khống chế được lũ trong mùa mưa, giữ được nước trong mùa cạn, thau chua, rửa mặn cải tạo đất canh tác phục vụ tích cực cho trồng trọt mà trực tiếp là sự sinh trưởng phát triển của cây lúa Nhân dân ta đã chọn lọc ra một số giống nông sản thích nghi với đồng bãi: đầm trũng cấy hom, mùa mưa cấy chăm, chiêm cút mùa di, và lai tạo được giống lúa cho sản phẩm gạo thơm tiến vua như: tám thơm, dự hương, nếp cái hoa vàng và gần đây đã tiếp thu ứng dụng khoa học lai tạo được trên dưới 50 loại giống lúa chịu được sâu bệnh, đạt năng xuất cao, một số vùng đồng đất
Trang 36trong tỉnh còn là nơi trồng cấy ra những sản phẩm như củ đậu, đậu tương… là loại nông sản có giá trị dinh dưỡng cao, có giá trị xuất khẩu…
Ngoài lúa là cây trồng chính, kinh nghiệm trồng trọt và truyền thống thâm canh tăng vụ, tăng năng suất của người Thái Bình còn được thể hiện rõ nét qua việc trồng trọt nhiều loại hoa màu, cây trồng khác như: ngô, khoai, dâu, mía, đay, cói, lạc, thuốc lào… những sản vật đã đi vào ca dao tục ngữ như: “dưa Quài, khoai Bái”, “gà Tò, lợn Tó”, “chè Mét, thuốc lào Khai Lai”…từ lâu đã là những sản vật nổi tiếng của Thái Bình
Đất nước đang trên đường đổi mới, máy móc sẽ thay dẫn công cụ truyền thống thô sơ Có được nền nông nghiệp sản xuất theo hướng hàng hóa và hiện đại chúng ta không thể quên chiếc cày chìa vôi, chiếc cày 51, chiếc bừa chữ nhị, chiếc cuốc sắt, cuốc bàn mai, của người dân cuốc ải, sới đất lấy bùn,chiếc gầu bẩy gầu dai, gầu sòng… Có thuốc diệt cỏ, ngày nay không được quên chiếc cào tre thủ công, chiếc cào cỏ cải tiến… có chế biến muối công nghiệp, cần nhớ về chiếc giếng nước của Diêm Điền có niên đại cách ngày nay hơn
700 năm, mà cán gầu múc nước đã hằn sâu, mài thành rãnh có thuyền đánh
cá không thể quên chiếc thuổng bắt cua, chiếc giỏ, chiếc vịt theo người xưa be
bờ tát cá…
Bảo tàng Thái Bình đã trưng bày một một số hiện vật các công cụ lao động sản xuất nông nghiệp phổ biến đã gắn bó với người nông dân Thái Bình trong suốt quá trình tồn tại và phát triển như:
- Hiện vật: Gầu múc nước – dụng cụ làm muối của diêm dân xã Thụy Hải huyện Thái Thụy
- Hiện vật: Cuốc bàn mai công cụ cuốc bãi sình lầy của dân vùng bãi trũng
- Hiện vật: Cày chìa vôi- công cụ làm đất cổ truyền
- Hiện vật: Miệng giếng nước bằng đá sử dụng trong sản xuất muối tại thôn Sơn Cao xã Thái Hòa huyện Thái Thụy
Trang 37- Hiện vật: Gầu vảy – công cụ tát nước cổ
- Hiện vật: Cào cỏ răng tre – công cụ làm cỏ thời cổ
Bên cạnh trồng trọt, Thái Bình còn nổi tiếng với các nghề thủ công truyền thống như: dệt vải và tơ lụa ở Then, Mẹo (Hưng Hà); Bơn, Đọ (Đông Hưng), Cao Bạt (Kiến Xương), Bộ La (Vũ Thư); dệt chiếu làng Hới (Hưng Hà), đúc đồng An Lộng (Quỳnh Phụ), rèn sắt Cao Dương (Thái Thụy), chạm bạc Đồng Sâm (Kiến Xương); mộc ở Vế, Diệc (Hưng Hà) và Đông Hồ (Thái Thụy)…Nhu cầu “mặc và sinh hoạt” được gắn liền với nhu cầu “ăn” đã được đáp ứng bằng các sản phẩm thủ công truyền thống và cùng phát triển suốt chặng dài trên dưới 20 thế kỷ qua
Riêng nghề dệt cùng với nghiệp trồng dâu nuôi tằm đã có từ khá sớm và còn để lại những dấu vết rõ nét bằng những dọi se chỉ, những dấu vải in lại trong các ngôi mộ cổ đầu công nguyên ở Hưng Hà, Quỳnh Phụ “Lụa Bộ La,
là Sóc, đũi Ngọc Đường”, hoặc “ Sồi se, đũi, nái không bằng vải Bái ruộm nâu” đã ghi nhận phần nào những trung tâm dệt vải lâu đời ở đất Thái Bình
Ở Hưng Nhân (cũ) nghề dệt chiếu được gắn với truyền thuyết về một ông tổ họ Phạm dưới triều Tiền Lê (thế kỷ X), đã truyền dạy cho dân cả vùng duyên hải, sau quan Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ triều Lê Hồng Đức (thế kỷ XV) người làng Hải Triều (xã Tân Lễ, Hưng hà) đã có công dạy dân cải tiến công cụ, phát triển nghề làm chiếu quê ông có tiếng trong cả nước “ Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới” Hiện đền thờ ông tại xã Tân Lễ – Hưng Hà Năm 1990, đền thờ trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia
Tương truyền, nghề dệt chiếu Hới còn tạo nên thiên tình sử giữa danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi với một cô lái chiếu làng Hới - lễ nghi học
sĩ Nguyễn Thị Lộ, còn in đậm trong lịch sử và ký ức của mỗi thế hệ cư dân làng Hới
Trang 38Cũng giống như nghề làm chiếu, nghề làm muối cũng đã có từ cách đây mấy trăm năm Người có công phát triển nghề muối và trở thành bà chúa muối tên thật là Nguyễn Thị Nguyệt Ảnh, nguyên là Đệ tam cung phi của vua Trần Anh Tông Hiện đền thờ bà thuộc thôn Quang Lang, xã Thụy Hải, huyện Thái Thuỵ
Cũng như cây dâu, con tằm trong nghề dệt vải, cây cói trong nghề dệt chiếu, người Thái Bình còn khéo sử dụng cây tre bình dị gần gũi trở thành thứ nguyên liệu chính cho phát triển nghề đan lát ở hầu khắp các địa phương Tại làng Giành (xã An Ninh, Quỳnh Phụ), nghề đan đã được nhiều người biết đến
vì những chiếc gùi, giành xinh xắn gắn liền với tên tuổi của vị tổ nghề từ mãi thời Trần là thị nữ Phương Dung Nghề đan gầu Giai vốn có xuất xứ ở làng Giai, xã Minh Lãng, Vũ Thư (và việc đặt tên gọi làng Giai để nhớ nơi sản xuất) Bên cạnh đó Bảo tàng Thái Bình còn trưng bày một số hiện vật dụng cụ của nghề đúc đồng như bễ thổi gió, khuân đúc, nồi đồng …của nghề truyền thống đúc đồng làng An Lộng – Quỳnh Phụ; hay là bức đại tự “Mậu Đức Thọ” dệt bằng mây được xác định đã có độ tuổi trên 200 năm tuổi, ở xã Thượng Hiền huyện Kiến Xương là quê hương của nghề mây tre đan truyền thống
- Ngoài ra bảo tàng còn trưng bày, giới thiệu một số sản phẩm mây tre đan như giỏ hoa, lẵng mây, mặt ghế, khay đĩa của làng Thượng Hiền huyện Kiến Xương, bức tranh thêu hình ảnh gác chuông chùa Keo – sản phẩm thêu ren của làng Minh Lãng huyện Vũ thư
- Bản đồ giới thiệu một số làng nghề tiêu biểu của tỉnh Thái Bình Từ các nông sản có giá trị dinh dưỡng cao, người dân Thái Bình còn biết làm ra nhiều loại sản phẩm, nổi tiếng như bánh đa Quỳnh Côi, bánh cáy làng Nguyễn tương làng Búng, thúng làng Roi
Trang 39- Ảnh: Tượng Dương Không Lộ (Chùa Keo- Vũ Thư), người chỉ đạo đắp
đê, đào sông thời Lý (ở địa phận Nam sông Luộc); người có công tạo dựng chùa Keo
- Ảnh: Hình ảnh mò tôm bắt cá, cải thiện đời sống là nghề phụ gắn liền với vùng sông nước
- Ảnh: Lăng thờ Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, tại thôn Ngoại Đê, xã Tây Sơn huyện Tiền Hải; người có công tổ chức khẩn hoang phía Đông, sông Long Hầu (Tiền Hải)
- Ảnh: Đắp bờ để trồng lúa, công việc ngàn đời của nông dân Thái Bình
- Ảnh: Lai tạo lúa để có lúa thơm ngon, công việc ngàn đời của người dân Thái Bình
- Ảnh: Chè mét- một đặc sản nổi tiếng ở Thái Bình
- Ảnh: Thu hoạch đay, lấy tơ dệt chiếu đan võng, phát triển nghề thủ công nghiệp
- Ảnh: Đồng dâu xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư
- Ảnh: Phơi vải- làng Mẹo xã Thái Phương, huyện Hưng Hà
- Ảnh: Nuôi tằm- một nghề phụ nổi tiếng của nông dân Thái Bình thời
- Ảnh: Đền thờ trạng nguyên Phạm Đôn Lễ tại xã Tân Lễ huyện Hưng Hà
Trang 40- Ảnh: Thêu ren ở làng Nội Lãng, xã Minh Lãng huyện Vũ Thư , một mặt hàng mỹ nghệ nổi tiếng đầu thế kỷ XX
- Ảnh: Sản xuất muối ở vùng Quang Lang vùng ven biển Diêm Điền
- Ảnh: Lăng nhũ mẫu đại vương Nguyễn Thị Tần, bà tổ nghề bánh cáy làng Nguyễn (xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng)
- Ảnh: Sản xuất bánh cáy- nghề chế biến nông sản thực phẩm thành đặc sản của xã Nguyễn Xá, huyện Đông Hưng
- Ảnh: Làm bánh đa – nghề truyền thống làng Cọi Khê, xã Vũ Hội huyện Vũ Thư
Mặc dù bị hạn chế vì tính chất tự cung, tự cấp của các làng xã xưa, song với bàn tay khéo léo của nông dân Thái Bình, các sản phẩm thủ công đã có một vị trí không thể thiếu trong đời sống của cư dân nông nghiệp Một số sản phẩm không chỉ phục vụ nhu cầu tại chỗ mà còn vượt ra khỏi phạm vi làng xã được đánh giá cao đến với đông đảo cư dân ở nhiều vùng, miền khác nhau trong cả nước Trong đó, các sản phẩm ẩn chứa nhiều giá trị nghệ thuật tinh xảo thể hiện sự tài hoa của những người thợ chạm bạc làng Đồng Sâm (xã Hồng Thái, Kiến Xương) là một minh chứng cụ thể Từ nghề hàn nồi để kiếm kế sinh nhai thường nhật, vào thời Lê, ông Nguyễn Kim Lâu người làng Đồng Sâm
đã lên tận Châu Tụ Long, Bảo Lạc để học hỏi nghề chạm bạc về truyền dạy cho dân và trở thành ông tổ của làng nghề nổi tiếng này Hiện ông được thờ tại đền
Tổ trong quần thể di tích Đồng Sâm thuộc xã Hồng Thái, Kiến Xương
Đối với làng nghề chạm bạc nổi tiếng này Bảo tàng Thái Bình trưng bày giới thiệu một số sản phẩm nổi tiếng của làng như :
- Hiện vật: Mâm đồng chạm Tứ quý, mạ bạc của cơ sở nghề chạm bạc Đồng Sâm
- Hiện vật: Nhóm đồ thờ bằng bạc (thời Nguyễn) ở đền Đồng
- Hiện vật: một số tác phẩm và mặt hàng mỹ nghệ của cơ sở chạm bạc Đồng Sâm