1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu về sưu tập tượng gỗ triều lê – nguyễn trưng bày ở bảo tàng lịch sử việt nam

95 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA BẢO TÀNG NGUYỄN TUẤN ANH TÌM HIỂU VỀ SƯU TẬP TƯỢNG GỖ TRIỀU LÊ – NGUYỄN TRƯNG BÀY Ở BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA BẢO TÀNG

NGUYỄN TUẤN ANH

TÌM HIỂU VỀ SƯU TẬP TƯỢNG GỖ TRIỀU LÊ – NGUYỄN TRƯNG BÀY Ở BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 4

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3.Mục đích nghiên cứu 5

4.Phương pháp nghiên cứu 5

5.Bố cục bài khóa luận 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM 7

1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 7

1.2.Đặc trưng và chức năng của Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam 10

1.3.Vài nét về hệ thống trưng bày của Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam 14

1.3.1 Việt Nam thời tiền sử 15

1.3.2 Việt Nam từ thời dựng nước đầu tiên đến triều Trần 16

1.3.3 Việt Nam từ triều Hồ đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 20

1.3.4 Trưng bày sưu tập điêu khắc đá Chăm Pa 23

1.4.Khái quát về 2 triều đại Lê – Nguyễn trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc 24 1.4.1.Vài nét về triều Lê: 24

1.4.2.Vài nét về triều Nguyễn 27

CHƯƠNG 2: SƯU TẬP TƯỢNG GỖ THỜI LÊ – NGUYỄN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM 31

2.1.Sưu tập hiện vật và vai trò của sưu tập đối với hoạt động bảo tàng 31

2.1.1.Tổng quan về sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 34

2.1.2 Sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 37

2.2 Một số đặc điểm về phong cách mỹ thuật tượng thời Lê – Nguyễn 46

Trang 3

2.3.Giá trị của sưu tập 48

2.3.1 Giá trị lịch sử 48

2.3.2 Giá trị văn hóa 57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SƯU TẬP TƯỢNG GỖ THỜI LÊ – NGUYỄN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM 63

3.1.Thực trạng về vấn đề kiểm kê, bảo quản sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam 63

3.1.1 Về công tác kiểm kê 63

3.1.2 Công tác bảo quản sưu tập 65

3.1.3 Một số tồn tại trong công tác bảo quản sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam 70

3.2.Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch Việt Nam 73

3.2.1.Một số giải pháp cho việc kiểm kê, bảo quản hiện vật 73

3.2.2.Sưu tầm bổ sung hiện vật cho sưu tập 75

3.2.3.Đa dạng hóa các hình thức trưng bày 77

3.2.4.In ấn, giới thiệu, quảng bá sưu tập 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 85

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong đời sống người Việt, gỗ là một nguyên liệu hết sức gần gũi, được

sử dụng làm đồ gia dụng, vật liệu và trang trí kiến trúc Gỗ còn được dùng làm quan tài đưa con người về thế giới bên kia Trải qua hàng ngàn năm, những sản phẩm bằng chất liệu gỗ còn lại rất hiếm hoi

Trong kho tàng Di sản văn hóa thời Lê – Nguyễn, tượng gỗ là một đối tượng vô cùng quan trọng cần phải nghiên cứu chuyên sâu vì những bức tượng gỗ hàm chứa trong đó những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và cả trong đó nữa là cả một làng nghề điêu khắc gỗ thủ công ngày xưa Nó được thể hiện qua các bức tượng phật, tượng quan âm bồ tát, tượng thú được chạm khắc tinh xảo từ những khúc gỗ tưởng chừng như là vô tri, vô giác Từ những khúc gỗ tự nhiên ấy, qua bàn tay khéo léo của người thợ thủ công thời Lê – Nguyễn đã trở thành những sản phẩm quý giá, những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho truyền thống văn hóa dân tộc Vì thế khi nghiên cứu tượng gỗ thời Lê – Nguyễn giúp cho việc tìm hiểu tính kế thừa và sáng tạo của người dân Việt Nam nói chung và nghệ thuật thời Lê – Nguyễn nói riêng

Khi nói về đồ gỗ Việt Nam thì có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các bài viết của các học giả ở nhiều phương diện nghiên cứu khác nhau Song nghiên cứu về tượng gỗ còn quá ít ỏi Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam giúp ta thấy được vè đẹp của những bức tượng gỗ mà các nghệ nhân xưa đã thổi hồn vào trong các bực tượng gỗ đó

Trong thời đại mở cửa và giao lưu với thế giới bên ngoài Giao lưu văn hóa giữa các nước, chúng ta càng cần phải nghiên cứu, quan tâm hơn về bản sắc dân tộc Việt Nam hơn bao giờ hết Nghiên cứu, tìm hiểu sưu tập tượng gỗ

Trang 5

Vì những lí do nêu trên, em quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu về sưu tập tượng gỗ triều Lê – Nguyễn trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp Với đề tài này, em hy vọng sẽ có cơ hội tìm hiểu sâu thêm về Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam và đặc biệt là phần trưng bày tượng gỗ triều Lê – Nguyễn

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là sưu tập tượng gỗ triều Lê –

Nguyễn được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

- Thời gian : Về việc khảo sát và nghiên cứu nội bộ sưu tập hiện vật tượng

gỗ triều Lê – Nguyễn

- Không gian: Việc nghiên cứu và khảo sát được thực hiện tại khu trưng bày

hiện vật triều Lê – Nguyễn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu về quá trình hình thành, nội dung trưng bày hiện nay của Bảo

tàng Lịch Sử Việt Nam

- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng sưu tập tượng gỗ ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

- Nghiên cứu về nội dung, giá trị của sưu tập tượng gỗ triều Lê – Nguyễn

- Từ nghiên cứu thực trạng, giá trị của sưu tập từ đó đề xuất một số giải pháp

nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của sưu tập

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lê nin: Duy vật lịch sử

Trang 6

5 Bố cục bài khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục bài viết gồm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Việt nam

Chương 2: Sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo Tàng Lịch sử Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo quản và phát huy giá trị bộ sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Trong hệ thống các bảo tàng quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam được thành lập sớm nhất trên cơ sở kế thừa cơ sở vật chất của Bảo tàng Louis Finot – một Bảo tàng do Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp khởi công xây dựng năm 1926 và được khánh thành vào năm 1932

Khuôn viên của bảo tàng vốn là phần đất thuộc thôn Tây Long, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương và là khu đất quân đồn, thường gọi là Đồn Thuỷ Khi Pháp chiếm Hà Nội, nhà Nguyễn đã dâng phần đất này làm nhượng địa Lúc đầu, Pháp xây ở đây một toà lãnh sự (1873) Từ đó đến năm 1906, nơi đây trở thành bản doanh quân đội, lãnh sự quán và sau đó là Toà Công sứ (1906) Khi Phủ Toàn quyền (Phủ Chủ tịch hiện nay) xây xong thì ngôi nhà này được chuyển cho Bảo tàng Louis Finot, thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Từ

1926 - 1932, toà nhà cũ bị dỡ bỏ và xây dựng lại với kiến trúc như hiện nay,

do Viện Viễn Đông Bác Cổ quản lí Năm 1958, toà nhà được giao cho Chính phủ Việt Nam

Bảo tàng do kiến trúc sư Ernest Hébrard thiết kế Các chi tiết kiến trúc mang đậm phong cách châu Âu nhưng được cách điệu từ các chi tiết kiến trúc

gỗ truyền thống Hệ thống kết cấu chính của toà nhà được làm bằng bê tông cốt thép chính vì vậy rất bền và vững chắc Khi còn là Viện bảo tàng của trường Viễn Đông Bác cổ, đây là nơi trưng bày những đồ cổ thu thập được ở các nước Đông Nam Á để phục vụ cho công tác nghiên cứu về Đông Dương

và nhu cầu thưởng ngoạn của giới nghiên cứu

Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ chính phủ Pháp, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn và ngày 3/9/1958, Bảo tàng đã

Trang 8

chính thức mở cửa với hệ thống trưng bày hoàn toàn mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sử, văn hóa Việt Nam từ thời tối cổ cho đến Cách mạng tháng 8/1945 Mặc dù các sưu tập hiện vật còn khiêm tốn và thiếu vắng hiện vật ở một số giai đoạn lịch sử song bảo tàng cũng đã trưng bày, giới thiệu một cách tổng quát về sự hình và phát triển của nền văn hóa Việt Nam Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã có 2.200m2 diện tích trưng bày với khoảng 7.000 hiện vật trưng bày và hệ thống kho cơ sở của bảo tàng được sắp xếp khoa học, trang thiết bị hiện đại, đạt chuẩn quốc tế, hiện lưu giữ hơn 100.000 hiện vật làm lại gồm nhiều chất liệu sưu tập hiện vật quý hiếm thuộc các nền văn hoá núi Đọ, Hoà Bình - Bắc Sơn, Đông Sơn cùng các bộ

sưu tập hiện vật có giá trị như Sưu tập gốm men cổ Việt Nam, sưu tập điêu

khắc đá Chăm Pa, sưu tập đồ đồng thời Lê - Nguyễn Bảo tàng cũng là nơi

diễn ra nhiều hội thảo khoa học cấp quốc gia và quốc tế như Bảo tồn hiện vật khảo cổ (1996); Vai trò của bảo tàng trong thế kỷ XX (1997), cũng như tiếp nhận, triển khai các dự án giao lưu văn hoá của Thuỵ Điển, Pháp, Nhật Bản Ngoài hệ thống kho và hệ thống trưng bày chính, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam còn mở rộng thêm quy mô các phòng làm việc như: xây dựng khu nhà làm việc, hội trường, hệ thống sân vườn Đặc biệt, Bảo tàng Lịch sử có khu trưng bày ngoài trời với diện tích gần 4.000m2 nhằm tạo nên một quần thể trưng bày mang một dáng vẻ mới, đồ sộ, hấp dẫn phù hợp với nhu cầu hưởng thụ văn hóa xã hội

Công tác đối ngoại của Bảo Tàng luôn được chú trọng, mở rộng giao lưu, hợp tác với các bảo tàng, các tổ chức văn hóa trên thế giới Bảo tàng thường xuyên trao đổi các ấn phẩm chuyên ngành với hơn 100 bảo tàng và tổ chức văn hóa Tham gia các cuộc hội thảo khoa học quốc tế: "Sự phát triển văn hóa - xã hội trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Châu Á, 1994"; "Bảo tồn hiện vật khảo cổ, 1996"; "Vai trò của bảo tàng trong thế kỷ XXI, 1997"

Trang 9

Tiếp nhận, triển khai các dự án: Tổ chức SIDA (Thuỵ Điển) về in tờ gấp giới

thiệu nội dung hệ thống trưng bày; Tổ chức các nước có sử dụng tiếng Pháp

về giảng dạy đại học và nghiên cứu (AUPELF-UREF) tài trợ cho việc làm các phụ đề; phương tiện nghe nhìn phục vụ cho công tác tuyên truyền giáo dục, qua quỹ Viện trợ Văn hóa (ODA) của Chính phủ Nhật Bản Bảo tàng cũng

đã tổ chức nhiều đoàn cán bộ đi tham quan, khảo sát tại một số bảo tàng ở

Trung Quốc, Singapore, Indonesia, Malayxia, Lào, Brunei Darusalam

Trong quá trình xây dựng và trưởng thành BTLSVN đã trở thành một trung tâm văn hoá - khoa học lớn của đất nước Hàng chục triệu người ở khắp mọi miền đất nước và hàng trăm ngàn khách quốc tế từ mọi châu lục đã đến tham quan, trong đó có nhiều vị nguyên thủ quốc gia, các nhà lãnh đạo cao cấp đã ghi lại những tình cảm tốt đẹp của mình đối với lịch sử dân tộc Việt Nam trong những trang sổ vàng lưu niệm

Gần 50 năm qua, với những kết quả khả quan trong công tác nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục, phổ biến khoa học và hoạt động đối ngoại đã đem lại uy tín và tầm vóc cho BTLSVN, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển, hội nhập của hệ thống bảo tàng trong nước và quốc tế Vì vậy BTLSVN đã nhiều lần được nhận huân chương cao quí mà Đảng và Nhà nước trao tặng:

 Năm 1968: Huân chương Lao động hạng ba

 Năm 1975: Huân chương Lao động hạng ba

 Năm 1988: Huân chương Lao động hạng nhất

 Năm 1998: Huân chương Độc lập hạng ba

 Năm 2000: Cờ luân lưu của Chính phủ

Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Việt nam là một bảo tàng quốc gia, một trong những bảo tàng đầu ngành trong hệ thống bảo tàng ở Việt Nam và nổi tiếng trong khu vực

Trang 10

1.2 Đặc trưng và chức năng của Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam

Ngày nay, bảo tàng có tốc độ phát triển nhanh mạnh, có vai trò tích lũy những kinh nghiệm và duy trì sự sáng tạo văn minh của con người, các bảo tàng được khẳng định để phục vụ cho con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và phụ vụ cho sự phát triển của xã hội Có thể nói, BTLSVN là bảo tàng đầu tiên trong hệ thống bảo tàng của nước Việt Nam mới ra đời, do

đó, nó được coi là nhân tố quan trọng để có một hệ thống bảo tàng Việt Nam lớn mạnh như hôm nay

BTLSVN sưu tầm, giữ gìn các hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc về những sự kiện, những mốc thời gian tiêu biểu trong tiến trình lịch sử từ thời kì tiền sơ sử cho đến CMT8 năm 1945 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cùng các nhà

sử học, khảo cổ học đã khai quật, nghiên cứu khảo cổ học, các nhà nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã đột phá vào những mảng trống của các thời kỳ Tiền - Sơ sử Việt Nam, xuất bản nhiều ấn phẩm có giá trị về văn hóa Núi Ðọ, Hòa Bình, Bắc Sơn, Trống đồng Ðông Sơn là những vấn đề chưa mấy có sự quan tâm trước đây của các nhà khoa học trong và ngoài nước

BTLSVN còn tổ chức trưng bày triển lãm giới thiệu các hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc nói trên nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiểu biết – khám phá của công chúng Ngoài trưng bày cố định trong Bảo tàng, BTLSVN còn thường xuyên tổ chức các buổi trưng bày lưu động, trưng bày chuyên đề nhằm giới thiệu các sưu tập hiện vật gốc tới công chúng, đem đến cho họ những cảm nhận giàu tính giáo dục và khai sáng trí tuệ, tạo niềm tin cho họ với mong muốn làm thay đổi thái độ, hành vi của con người và làm tăng vốn hiểu biết của công chúng

Ngoài những đặc trưng cơ bản kể trên, BTLSVN ngày càng phát triển với nhiều hình thức hoạt động đa dạng đã thể hiện rõ vai trò của một thiết chế

Trang 11

chuyển giao các giá trị văn hóa của các thế hệ chủ nhân sáng tạo ra cho các thế hệ tương lai BTLSVN đã thực hiện được đầy đủ các chức năng xã hội của bảo tàng

- Chức năng nghiên cứu khoa học: hoạt động nghiên cứu giữ vai

trò quan trọng, nhằm mục đích phục vụ công tác trưng bày và bảo quản hiện vật Thông qua hệ thống trưng bày, bảo tàng có nhiệm vụ tuyên truyền và phổ biến tri thức lịch sử cho khách tham quan

Cùng với giới Sử học, giới Bảo tàng học và các cơ quan chuyên ngành khác, BTLSVN đã góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề về giai đoạn tiền sử, sơ

sử và lịch sử của dân tộc

+ Tổ chức và đồng tổ chức các cuộc hội thảo khoa học (Hội thảo về công tác bảo quản, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong bảo tàng, Hội thảo tiếp thị nghệ thuật văn hoá ở Việt Nam, Hội nghị Văn hoá Sa Huỳnh )

+ Tham gia các cuộc Hội thảo, Hội nghị khoa học trong và ngoài nước + Xây dựng các đề tài khoa học ngắn hạn và dài hạn cấp cơ quan và cấp Bộ

+ Phối hợp với các cơ quan ở trong nước và quốc tế nghiên cứu các đề tài về lịch sử - văn hoá Việt Nam

- Chức năng giáo dục tuyên truyền: Với hơn 2200 m2 diện tích

trưng bày, gần 7000 hiện vật gốc và nhiều tư liệu, tư liệu, tài liệu khoa học phụ có giá trị, hệ thống trưng bày chính của BTLSVN đã phản ánh sinh động những thời kỳ, những sự kiện nổi bật trong tiến trình lịch sử dân tộc Được đông đảo các đồng nghiệp, khách tham quan trong nước và ngoài nước đánh giá BTLSVN là một bảo tàng tầm cỡ trong khu vực Sau lần chỉnh lý nâng cấp, bảo tàng thường xuyên bổ sung các sưu tập hiện vật mới sưu tầm, sưu tập độc bản tàu cổ Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam), sưu tập di vật văn hóa

Trang 12

Óc Eo… và biên soạn, hiệu đính hệ thống nhãn chú thích, tạo ra sức hấp dẫn mới cho bảo tàng và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách tham quan

Hàng năm bảo tàng phối hợp tổ chức từ 3 - 5 cuộc trưng bày chuyên đề với các bảo tàng trong cả nước, các hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các nhà sưu tập tư nhân với chủ đề trưng bày ngày càng đa dạng Những năm gần đây, bảo tàng đã tổ chức thành công nhiều cuộc trưng bày được dư luận xã hội

và các nhà nghiên cứu đánh giá cao:

+ Kho báu từ 5 con tàu cổ dưới đáy biển Việt Nam

+ Cổ vật Thăng Long - Hà Nội

+ Cổ vật Đông Sơn - Rực rỡ một nền văn minh Việt cổ

+ Cổ vật đặc sắc văn hoá Óc Eo

+ Cổ vật Lý, Trần - Dấu ấn văn minh Đại Việt TK11 - 14…

Thường xuyên hỗ trợ các bảo tàng tỉnh, thành phố, các bảo tàng chuyên ngành trong việc nghiên cứu xây dựng đề cương trưng bày, giải pháp và thiết

kế mỹ thuật một số bảo tàng, nhà truyền thống trong cả nước: Nhà trưng bày văn hoá dân gian (Hội An - Quảng Nam), Bảo tàng văn hoá Sa Huỳnh và Chămpa (Duy Xuyên - Quảng Nam), Nhà trưng bày gốm sứ cổ Hải Dương, Bảo tàng Nhân học(Trường Đại học KHXH&NV),… Tổ chức, hướng dẫn khách tham quan trong nước và nước ngoài đến tham quan, nghiên cứu, học tập tại bảo tàng Từng bước xúc tiến công tác maketting, quảng bá về bảo tàng, thu hút khách tham quan: xây dựng website, phối hợp với Ban Khoa giáo (VTV2) Đài truyền hình Trung ương xây dựng một số phim khoa học, phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam giáo dục lịch sử từ xa, định kì tổ chức Hội nghị cộng tác viên với ngành Du lịch, Giáo dục-đào tạo

Công tác tuyên truyền, giáo dục ngoài bảo tàng, vốn là truyền thống của BTLSVN, những năm gần đây càng được đặc biệt quan tâm Hiện tại, bảo tàng đang có 3 bộ trưng bày lưu động hoạt động sôi động ở các tỉnh đồng

Trang 13

bằng Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc phục vụ hàng chục vạn lượt người mỗi năm Bảo tàng đã nghiên cứu thực nghiệm hình thức trưng bày lưu động mới: kết hợp giữa trưng bày tư liệu hình ảnh với trưng bày hiện vật gốc (sưu tập hiện vật của bảo tàng địa phương - nơi phối hợp trưng bày hoặc BTLSVN) tại một số tỉnh: Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hưng Yên, Phú Thọ, Hà Nam,…và đang tiếp tục hoàn thiện để phương thức trưng bày lưu động này sớm được triển khai rộng rãi trong cả nước

- Chức năng bảo quản di sản văn hóa: Bảo tàng là cơ quan nghiên

cứu và giáo dục khoa học có nhiệm vụ quan trọng là bảo tồn, bảo quản và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Đây là một chức năng quan trọng không thể thiếu được mà xã hội đã giao cho bảo tàng Bảo tàng Lịch sử Việt Nam luôn thực hiện nghiêm chỉnh vấn đề an ninh và việc bảo vệ an toàn cho hiện vật và sưu tập Thường xuyên kiểm tra, tránh để lộ các thông tin liên quan và các vấn đề bí mật khác trước khi các thông tin của

sưu tập được đưa ra nơi công cộng

Đối với những di sản văn hóa vật thể cụ thể là những di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, hay những tài liệu hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc có giá trị lịch sử - văn hóa – khoa học hoặc nghệ thuật phải được bảo tàng nghiên cứu sưu tầm thu nhận kịp thời phù hợp với loại hình bảo tàng để bảo quản Các sưu tập hiện vật bảo tàng là trọng tâm của bảo tàng Nếu hiện vật, sưu tập bị phá hủy thì bảo tàng sẽ mất đi một tài sản có giá trị, và nhân loại cũng mất đi một thành tố thuộc di sản văn hóa, di sản khoa học của chính mình mà khó có thể có gì thay thế được

- Trong bảo tàng, tất cả những biện pháp, phương pháp và kỹ thuật bảo quản hiện vật và sưu tập hiện vật gốc phải được thực hiện nghiêm túc với

chất lượng cao và phải được ghi chép trong hồ sơ tương ứng

Trang 14

- Chức năng tài liệu hóa khoa học : Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

luôn tiến hành nghiên cứu những sự kiện lịch sử, những hiện tượng tự nhiên, hay nghiên cứu thân tế và sự nghiệp của một danh nhân… được bảo tàng phản ánh trong nội dung chủ đạo của mình, từ đó tổ chức sưu tầm, thu thập và lựa chọn những tài liệu hiện vật gốc, sưu tập gốc tiêu biểu có giá trị bảo tàng

và tiến hành ghi chép lập hồ sơ khoa học – pháp lý cho chúng, đông thời làm đầy đủ các thủ tục, nguyên tắc bảo tàng học cho hiện vật gốc, sưu tập gốc như đăng ký vào sổ kiểm kê, đánh số hiện vật, xây dựng sưu tập và bảo quản

chúng theo chất liệu…

- Chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức : Bảo tàng có nhiệm

vụ nghiên cứu sưu tầm lưu giữ và truyền đi những thông điệp quan trọng về toàn bộ nền văn minh của nhân loại thông qua các di sản văn hóa mà loài người đã sáng tạo ra Thông tin của bảo tàng cung cấp rất đa dạng, rất phong phú, nó liên quan đến nhiều ngành khoa học, nhưng không thể nào thay thế được bảo tàng Bên cạnh đó, Bảo tàng thường xuyên đổi mới hệ thống trưng bày, triển lãm – đây là sản phẩm văn hóa đặc biệt của bảo tàng nhằm phục vụ nhu cầu giải trí, sử dụng thời gian rỗi và thưởng thức của công chúng, đông thời tổ chức các hoạt động văn hóa, khoa học, tổ chức trình diễn, khám phá, tạo ra các sản phẩm của bảo tàng và giới thiệu nội dung sản phẩm ấy, tiến hành các dịch vụ phục khách tham quan nhằm góp phần vào việc củng cố chất lượng nâng cao cuộc sống văn hóa tinh thần và nhu cầu thưởng thướng của xã

hội

1.3 Vài nét về hệ thống trưng bày của Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam

Dựa vào những kết quả của công tác sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, đồng thời dựa vào nguyên tắc phương pháp luận sử học về phân kỳ lịch sử BTLSVN với diện tích trưng bày hơn 2.200 m2, gần 7.000 tư liệu hiện vật, hệ

Trang 15

niên biểu, lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử với trưng bày sưu tập theo hướng trưng bày mở, tạo điều kiện để có thể cập nhật những tư liệu hiện vật mới do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho "diện mạo" trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem.Ngoài ra, các hiện vật cũng được trưng bày theo hướng "mở", cập nhật các tư liệu nghiên cứu mới nhất để nội dung trưng bày luôn luôn thu hút khách tham quan Bảo tàng cũng thường xuyên tổ chức trưng bày chuyên đề với các thiết bị chiếu sáng, màn hình hiện đại với hình ảnh phong phú, sống động, những dữ liệu khoa học chân xác ngày càng thỏa mãn nhu cầu khách tham quan, các nhà nghiên cứu khi đến bảo tàng

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng gồm 4 phần:

1.3.1 Việt Nam thời tiền sử

Trưng bày những tài liệu hiện vật thời tiền sử, tương đương với giai đoạn từ thời đại đồ đá cũ đến hậu kì thời đại đá mới Tiến trình này bắt đầu cách ngày nay khoảng 30-40 vạn năm đến khoảng 4.000 – 5.000 năm

Mở đầu cho phần trưng bày này là những di tích cổ sinh phát hiện ở hang Hùm (Yên Bái), hang Kéo Lèng (Lạng Sơn), những hiện vật thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá cũ tìm thấy ở di chỉ núi Đọ, Quan Yên (Thanh Hóa)… Những loại hình tiêu biểu gồm: Rìu tay, công cụ chặt thô, mảnh tước có tuổi Trung

kỳ Cánh tân (cách ngày nay 30-50 vạn năm)

Đến với phần trưng bày này, người xem được tận mắt quan sát những công cụ lao động đơn sơ, giản dị tưởng chừng như nó chỉ là những hòn đá, hòn sỏi, nhưng nó lại là những vật dụng cần thiết và có ích của người xưa: rìu tay, mảnh tước, hòn đá ghè đẽo một mặt…

Trang 16

Tiếp nối là các di tích thuộc hậu kì thời đại đá cũ cách ngày nay khoảng 15.000 – 30.000 năm , bao gồm nhóm di tích Thần Sa ( Thái Nguyên ) và văn hóa Sơn Vi

Tiếp theo là những di tích thuộc văn hóa Hòa Bình – một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á và thế giới Đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Hòa Bình là những loại hình công cụ như rìu ngắn, công cụ hình đĩa, hình hạnh nhân, hình bầu dục… đặc biệt hơn thời kỳ này đã thấy sự xuất hiện của đồ Gốm cho thấy có dấu hiệu ra đời nông nghiệp sơ khai ở khu vực này

Tiếp đến là văn hóa Bắc Sơn với những di vật điển hình như : đồ Gốm,

những công cụ làm từ đá cuội, rìu mài lưỡi đấu Bắc Sơn Đó là việc thừa kế những thành quả lao động từ văn hóa Hòa Bình và sáng tạo ra những công cụ sản xuất mới phù hợp với yêu cầu cuộc sống của họ Nền văn hóa Bắc Sơn có niên đại cách ngày nay khoảng 8000 – 10.000 năm, được phân bố chủ yếu trong hang động, mái đá vùng sơn khối Bắc Sơn ( Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng )

Tiếp đến là những hiện vật thuộc nền văn hóa Đa Bút (Thanh Hóa) và

văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An, Hà Tĩnh) có niên đại 5000 – 6000 năm cách

ngày nay Những hiện vật trưng bày cho nền văn hóa này không còn là những hiện vật thô sơ như những nền văn hóa trước nữa, mà là những di vật gốm đá tìm thấy trong các cồn sò điệp, cồn đất thuộc cụm di tích Cái Bèo ở Cát Bà và vùng hải đảo Quảng Ninh

Nội dung của phần trưng bày này đã khẳng định Việt Nam là một trong những cái nôi xuất hiện của loài người, bằng những di vật khảo cổ học gắn với mỗi nền văn hóa khác nhau đã thể hiện rõ trình độ kỹ thuật tạo tác ngày càng phát triển của người Việt cổ

1.3.2 Việt Nam từ thời dựng nước đầu tiên đến triều Trần

Đây là phần giới thiệu nhiều thời kỳ lịch sử:

Trang 17

Phòng trưng bày : thời dựng nước đầu tiên

Mở đầu phần trưng bày này là tài liệu hiện vật giới thiệu về các nền văn hóa tiền Đông Sơn với 3 giai đoạn chính : Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun Phòng trưng bày giới thiệu văn hóa tiền Đông Sơn cũng chủ yếu là bằng các công cụ lao động

Thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam được thể hiện sinh động qua các sưu tập hiện vật đầy sức truyền cảm của nền văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ ở thiên niên kỉ thứ I trước công nguyên Đó là những công cụ bằng đồng như lưỡi cầy, lưỡi hái, giáo, những chiếc rìu lưỡi xéo độc đáo, những thạp đồng, những chiếc trống đồng nổi tiếng như trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ…bằng chứng vật chất của nhà nước sơ khai Trước đó các nhà nước Văn Lang – Âu Lạc được giới thiệu từ truyền thuyết đến lịch sử, bằng các nguồn sử liệu như thư tịch, ảnh minh họa, tài liệu khoa học phụ… đã phác họa lại một nhà nước với các đơn vị hành chính, bộ máy quản lý cũng như các phong tục tập quán Những bằng chứng sử liệu được giới thiệu trong phần này cho người xem những nhận thức nhất định về một nhà nước sơ khai trong lịch

sử dân tộc Giữa phòng trưng bày là một cụm trống đồng Đông Sơn, giữa là cây cột, đặc biệt gây ấn tượng cho người xem về những di vật “Quốc bảo ”, được coi là biểu tượng gần với tín ngưỡng của người Việt, nó cũng là ước mơ, suy nghĩ của họ gửi gắm trong từng nét khắc họa đồ Ngoài những hiện vật bằng đồng đó phần trưng bày còn nổi lên với mộ cổ Việt Khê với hơn 100 hiện vật tùy táng: nhạc cụ, đồ trang sức tinh xảo… Tất cả những hiện vật này được sắp xếp theo hình thái kinh tế - xã hội, phác họa tương đối đầy đủ từ kinh tế, chính trị đến đời sống tín ngưỡng của nền văn hóa Đông Sơn

Sau nền văn hóa Đông Sơn, trong phần này còn giới thiệu văn hóa Sa Huỳnh được phân bố dọc các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình đến Đồng Nai

ra tới tận các đảo Lý Sơn, Côn Đảo, Thổ Chu phát triển liên tục từ thời đại đồ

Trang 18

Đồng, cho tới sơ kì thời đại đồ Sắt, cách ngày nay khoảng 2000 – 3000 năm Hiện vật trưng bày giới thiệu về văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu là các loại hình

mộ chum, các di vật đồ gốm có dáng đẹp, các đồ trang sức bằng đá quý và thủy tinh Loại khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu… Các loại hình mộ chum thuộc văn hóa Sa Huỳnh gồm rất nhiều hình dáng khác nhau : thon cao,

tù thấp, có loại có nắp, có loại không… Nó gắn với phong tục tập quán từng vùng, từng địa điểm, trung bày những loại hình mộ chum này nhằm giới thiệu cho khách tham quan về phong tục, tập quán, tín ngưỡng của người Sa Huỳnh

Ngoài ra còn có những hiện vật tiêu biểu của văn hóa Đồng Nai, Đồng Đậu với văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh phân bố ở lưu vực sông Đồng Nai ( Nam Bộ ) Đó là các loại hình gốm phong phú về kiểu dáng và hoa văn …

Phòng trưng bày : Mười thế kỉ chống Bắc thuộc

Phòng trưng bày này tập trung vào hai nội dung chính, đó là cuộc đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và giành độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam Khoảng thế kỷ thứ I trước và sau công nguyên, nền văn minh Việt Cổ mà tiêu biểu là văn hóa Đông Sơn đứng trước thử thách tồn tại, đó là sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương bắc Thông qua những hiện vật mang đậm bản sắc văn hóa Đông Sơn, người xem có thể thấy bên cạnh ách thống trị tàn bạo của những kẻ đi xâm lược, những kẻ muốn đồng hóa là sự đấu tranh kiên trì, quyết liệt của người Việt chống đồng hóa, chống lại ách áp bức của những kẻ ngoại xâm Sức sống văn hóa Việt vẫn được bảo tồn và phát triển để rồi bừng khởi khi đất nước giành độc lập tự chủ

Sự nghiệp chống giặc ngoại xâm trong suốt 10 thế kỷ còn có những hiện vật, những tài liệu về các cuộc đấu tranh vũ trang, từ cuộc khởi nghĩa đầu tiên của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị đầu năm 40 sau công nguyên, đến tận chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng 938 của Ngô Quyền Những

Trang 19

chiến thắng này đã kết thúc thời kì đô hộ của ngoại bang mở ra kỷ nguyên mới: thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc

Ngoài ra, phòng trưng bày còn giới thiệu một số di vật của nền văn hóa

cổ rất đặc sắc ở miền Nam: văn hóa Óc Eo với những hiện vật gốc từ đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ đến ảnh chụp các di tích, các đồ trang sức bằng đá

và kim loại quý… với sự bổ sung kịp thời của những hiện vật mới được khai quật trong thời gian gần đây là Gióng Am và Lộc Giang (lớp trên) đã đưa khách tham quan về với một nền văn minh phát triển rực rỡ chưa từng có ở những giai đoạn trước

Phòng trưng bày: triều Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý – Trần

Trưng bày về thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, lịch sử Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ: kỷ nguyên độc lập ( Kỷ nguyên Đại Việt ) Mở đầu thời kỳ này là triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê Hiện vật trưng bày chủ yếu

là những hiện vật phát hiện trong cuộc khai quật nghiên cứu ở thành cổ Hoa

Lư (Ninh Bình)

Tiếp nối triều đại Tiền Lê là triều đại nhà Lý (1010 – 1225), quốc gia phong kiến độc lập của Đại Việt đã phát triển trên mọi lĩnh vực Phòng trưng bày này giới thiệu những thành tựu của nền văn hóa Việt Nam đương thời Đó

là những hiện vật, vật liệu trang trí kiến trúc : Lá đề, đầu ngói, gạch có hình tháp, tượng Phật, đầu rồng, đầu phượng gắn trên các mái cung điện, chùa tháp cùng các đồ gốm men có màu sắc thanh nhẹ nổi tiếng lâu nay Đặc biệt, nghệ thuật điêu khắc đá thời kỳ này phát triển rực rỡ thể hiện trên những hiện vật đặc sắc tìm thấy ở khu chùa Phật Tích ( Bắc Ninh) như tượng Adida, tượng đầu người mình chim… Những hiện vật này chẳng những thể hiện trình độ thẩm mỹ cao của nghệ thuật thời Lý mà còn phản ánh sự thịnh đạt của Phật giáo Việt Nam thời đó

Trang 20

Thành tựu giữ nước: thế kỉ XI, quân dân Đại Việt thời Lý đã hai lần kháng chiến chống Tống thắng lợi (1075- 1077) Chiến tích chống quân xâm lược Tống được giới thiệu với bài thơ: “Nam Quốc Sơn Hà” bất hủ

Tiếp theo là phần trưng bày về những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam ở thời Trần (đầu thế kỷ XIII – XIV) Hiện vật và hình ảnh của các khu di tích thời Trần như chùa Phổ Minh (Nam Định), đền Kiếp Bạc (Hải Dương) cùng đồ men dân dụng và cung đình phản ánh sự kế thừa và những thành tựu phát triển của triều Trần Đặc biệt đáng chú ý là là sưu tập gốm hoa nâu, nét độc đáo của nghệ thuật gốm Việt Nam với nhiều tiêu bản đẹp và quý hiếm Minh chứng cho cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên oanh liệt của triều Trần là hàng cọc gỗ lấy từ trận địa sông Bạch Đằng ( Quảng Ninh) cùng các loại vũ khí như giáo sắc, lá chắn gỗ… thể hiện tinh thần quật cường của dân tộc Với mỗi triều đại, mỗi một tình hình kinh tế - xã hội, chính trị khác nhau, đặc biệt về kiến trúc nghệ thuật Bảo tàng đã rất chú trọng lựa chọn những hiện vật tiêu biểu riêng, độc đáo cho từng phong cách của từng triều đại đã làm nổi bật lên nét riêng biệt của mỗi triều đại trong lịch sử dân tộc

1.3.3 Việt Nam từ triều Hồ đến Cách mạng tháng 8 năm 1945

Phần trưng bày này gồm nhiều thời kì lịch sử :

Phòng trưng bày : triều Hồ

Đây là triều đại ngắn ngủi trong lịch sử Việt Nam (1400 – 1407), với bao nhiêu cải cách còn dang dở Hiện vật, hình ảnh trưng bày gốm những vật liệu kiến trúc ở Ly Cung (Thanh Hóa), bức ảnh toàn cảnh thành Tây Đô – một thành cổ độc đáo, kiên cố, những sử liệu về việc phát hành tiền giấy, cho dịch Kinh Thư ra chữ Nôm

Hiện vật và hình ảnh trưng bày là những vật liệu kiến trúc ở Ly Cung (Thanh Hóa), bức ảnh toàn cảnh Tây Đô …

Trang 21

Phòng trưng bày triều: Lê sơ - Mạc - Lê Trung Hưng

Đầu thế kỉ XV, dân tộc Đại Việt phải đứng lên chống nhà Minh xâm lược, giành độc lập Lê Lợi đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc, cuộc khởi nghĩa kéo dài 10 năm (1418-1427) và giành thắng lợi vẻ vang Để chứng minh cho giai đoạn lịch sử này là tấm bia Vĩnh Lăng đồ sộ có giá trị lịch sử nhất thời Lê sơ được đặt trang trọng trong phòng trưng bày Ngoài ra, nội dung lịch sử được thể hiện bằng những tư liệu về hệ thống chính quyền Lê Mạc và Lê Trung Hưng, những cải cách về chế độ ruộng đất

Ở đây trưng bày nhiều đồ gốm sản xuất tại Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu… với những nét đặc sắc về kiểu dáng, mầu sắc, nước men, hoa văn trang trí, chất lượng không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà cả xuất khẩu.Tiêu biểu nhất là tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay (chùa Bút Tháp – Bắc Ninh )

Phòng trưng bày: thời Tây Sơn

Đến thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng toàn diện Nội chiến liên miên, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tiếp, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn năm 1771 đã phát triển mạnh mẽ, tiến tới dẹp tan các thế lực phong kiến cát cứ và bước đầu thực hiện thống nhất đất nước Người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Thanh ( 1789) và giành thắng lợi

vẻ vang Sau khi đánh tan quân xâm lược, Quang Trung – Nguyễn Huệ còn thực hiện nhiều cuộc cải cách lớn nhằm phát triển sản xuất, phát triển văn hóa dân tộc, củng cố nền độc lập tự chủ của đất nước Phòng trưng bày có nhiều tài liệu hiện vật quý, trong đó có bức thư do chính tay Nguyễn Huệ viết gửi

La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nói về việc chọn đất đóng đô và chiếc trống đồng niên hiệu Cảnh Thịnh 8 (1800)

Trang 22

Phòng trưng bày: triều Nguyễn

Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của lịch sử phong kiến Việt Nam,

ra đời và tồn tại không những trong bối cảnh đặc biệt của đất nước mà còn trong tình hình thế giới có nhiều chuyển biến thắng lớn

Phần trưng bày này bên cạnh việc giới thiệu những vấn đề cốt yếu của lịch sử như : Thiết chế chính trị, kinh đô, kinh tế… còn huy động nhiều sưu tập hiện vật với nhiều chất liệu nhằm giới thiệu những nét văn hóa những ngành nghề thủ công truyền thống đương thời Những hiện vật tiêu biểu là tấm bản đồ “Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ năm 1838, hai khẩu sung nạm vàng của vua Minh Mệnh và Tự Đức Các sưu tập hiện vật: sưu tập chuông đồng, khánh đồng , sưu tập đồ đồng, và đồ đồng khảm, tam khí ( chủ yếu là

lư, đỉnh), sưu tập ấn triện… Nổi bật lên trong phòng trưng bày này là sưu tập

gỗ triều Lê – Nguyễn với số lượng phong phú, độc đáo cho thấy trình độ nghệ thuật chạm khắc của người Việt Sưu tập này còn thể hiện tín ngưỡng tôn giáo, ước mơ của họ qua hoa văn, chủ đề trang trí

Đứng trước sưu tập này, người xem không khỏi ngạc nhiên bởi tài chạm khắc gỗ của người xưa Hiện nay nghề chạm khắc này vẫn được lưu truyền trong dân gian, với những làng nghề nổi tiếng: Phú Xuyên ( Hà Nội), Thường Tín (Hà Nội), Mỹ Xuyên( Huế), Những sản phẩm của họ không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được bán ra nước ngoài

Phòng trưng bày: các phong trào chống Pháp và CMT8/1945

Một số tư liệu, hiện vật và hình ảnh tiêu biểu như: la bàn của Hoàng Hoa Thám, bút tích của Phan Đình Phùng, mảnh tàu Hy vọng bị nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đánh đắm trên sông Vàm Cỏ năm 1861, tranh sơn dầu

"Lễ phong soái Trương Định"… là những minh chứng sống động cho phong trào chống Pháp trên đất nước Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp (1883-1945), nổi bật là những cuộc khởi nghĩa của một số văn thân yêu nước trước khi Đảng

Trang 23

Cộng sản Việt Nam ra đời như: Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Lương Văn Can… Ngoài ra khách tham quan còn cảm nhận được khí thế sục sôi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm qua một sưu tập vũ khí thô sơ gồm lưỡi lê, giáo, mác, chông, bom tự tạo

Những chính sách cai trị cũng như âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp

đã thổi bùng lên một cao trào đấu tranh của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Miền Nam có khởi nghĩa của Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân Miền Bắc có khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Phan Chu Trinh Song do nhiều sai lầm và hạn chế, các phong trào chống Pháp này lần lượt bị thất bại Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập và lãnh đạo theo đường lối Mác - Lê nin thì công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mới thành công Phòng trưng bày giới thiệu những mốc lịch sử quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ trên trường quốc tế, quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, diễn biến và kết quả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Kết thúc hệ thống trưng bày chính là bức tranh hoành tráng Chủ tịch

Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà

1.3.4 Trưng bày sưu tập điêu khắc đá Chăm Pa

Là một trong 54 dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, người Chăm đã xây dựng và để lại một kho tàng nghệ thuật quý giá Đó là những tháp Chàm cổ kính, uy nghi và những điêu khắc đá gắn liền với kiến trúc đó Phòng trưng bày sưu tập điêu khắc đá Champa được trưng bày theo niên đại, từ thế kỉ thứ VII đến thế kỉ XIII Các tài liệu hiện vật điển hình và

có thể khối lớn như hai tấm bia đá Mỹ Sơn và Ponagar có khắc chữ Phạn, đôi

Trang 24

sư tử với hình khối lớn dáng đang quỳ, tượng Apsara, chim thần Garuđa, nhạc công thổi sáo…

Bên cạnh hệ thống trưng bày cố định trong nhà chính, BTLSVN còn xây dựng phần trưng bày ngoài trời khá phong phú, hấp dẫn với diện tích trưng bày khoảng 4.000m2

Các sưu tập hiện vật được trưng bày ngoài trời thuộc chủ đề “Văn hóa

nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XI – đầu thế kỷ XX” gồm 75 hiện vật được phân

chia theo các chủ đề:

- Sưu tập nghệ thuật thời Lý – Trần : 19 hiện vật

- Sưu tập nghệ thuật thời Lê – Nguyễn : 41 hiện vật

- Sưu tập điêu khắc đá Champa: 15 hiện vật

Cùng với số lượng hiện vật mới sưu tầm, trao đổi, phục chế, BTLSVN

đã huy động số hiện vật không nhỏ từ kho để đáp ứng nội dung trưng bày này

1.4 Khái quát về 2 triều đại Lê – Nguyễn trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc

1.4.1 Vài nét về triều Lê:

- Kinh tế

+ Nông nghiệp:

Hai mươi năm dưới ách thống trị của phong kiến nhà Minh, đời sống nhân dân Đại Việt rất cực khổ Để nhanh chóng phục hồi và phát triển nông nghiệp vua Lê Thái Tổ cho 25 vạn lính (trong tổng số 35 vạn) về quê làm ruộng ngay sau chiến tranh Còn lại 10 vạn người được chia làm 5 phiên thay nhau về quê sản xuất Nhà Lê kêu gọi dân phiêu tán về quê làm ruộng, đặt ra một số chức quan chuyên lo về nông nghiệp như Khuyến nông sứ, Hà đê sứ, Đồn điền sứ và định lại chính sách chia ruộng đất công làng xã gọi là phép quân điền; cấm giết trâu bò bừa bãi cấm điều động dân phu trong mùa cấy

Trang 25

Nhà Lê còn đẩy mạnh việc lập đồn điền và khẩn hoang nhằm khai thác những vùng đất mới Nhờ những chính sách tích cực, nông nghiệp đã đảm bảo tương đối đời sống nhân dân trong nước Tuy nhiên, ngay ở đời Lê Thánh Tông là thời kỳ xã hội phong kiến được coi là thái bình thịnh trị nhất mà sử

sách vẫn ghi nhận những thời điểm xảy ra đói kém

+ Thủ công nghiệp:

Nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển Kinh đô Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay Phường Yên Thái làm giấy, phường Nghi Tàm dệt vải lụa, phường Hà Tân nung vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Ngũ Xá đúc đồng, phường

gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác

Các ngành nghề thủ công truyền thống như ở các làng xã như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, làm nón, đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm v.v ngày càng phát triển Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công nhất Các công xưởng do nhà nước quản

lí gọi là Cục Bách tác sản xuất đồ dùng cho nhà vua, vũ khí, đóng thuyền, đúc tiền đồng ; các nghề khai mỏ đồng, sắt, vàng được đẩy mạnh

- Giáo dục

Ngay sau khi lên ngôi vua Lê Thái Tổ cho dựng lại Quốc Tử Giám ở kinh thành Thăng Long mở trường học các lộ mở khoa thi và cho phép người nào có học đều được dự thi Đa số dân đều có thể đi học đi thi trừ những kẻ phạm tội và làm nghề ca hát Ở các đạo phủ có trường công Nhà nước tuyển chọn người giỏi có đạo đức để làm thầy giáo Nội dung học tập thi cử là sách của nhà Nho Thời Lê sơ (1428-1527) tổ chức được 26 khoa thi tiến sĩ lấy đỗ

989 tiến sĩ 20 trạng nguyên Riêng thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) tổ

Trang 26

chức được 12 khoa thi tiến sĩ lấy đỗ 501 tiến sĩ 9 trạng nguyên Học chế thời

Lê mở rộng hơn các thời trước, không cấm con em nhà thường dân đi học như thời nhà Lý, nhà Trần Tài liệu học tập thì gồm mấy bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh tinh tuý, Bắc sử Phương pháp giáo dục chỉ có 2 nguyên tắc chủ chốt là trừng phạt bằng roi vọt và học thuộc lòng Ngoài ra còn nguyên tắc lặp lại tư tưởng

cổ nhân và biểu diễn bằng những câu sáo rỗng

Lê Thánh Tông khởi xướng và cho lập bia tiến sĩ lần đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám vào năm 1484, các đời vua sau này tiếp tục bổ sung thêm các tấm bia vinh danh mới Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, nhà Thái học, Quốc Tử Giám là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn, Lê Thánh Tông còn cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời mà Lê Thánh Tông là Tao Đàn chủ soái Việc thi cử và học tập thường xuyên và rất

nhiều tiến sĩ và trạng nguyên đỗ đạt và thành danh

Thời Lê sơ, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn; Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế Phật giáo bị đẩy lui xuống sinh hoạt ở các làng xã, trong khi đó Nho giáo lại được coi trọng và lên ngôi, đặc biệt là khu vực triều đình và giới nho học

Đó là đặc điểm chính của thời kỳ này Mặt khác do trước đó chịu sự tận diệt của nhà Minh nên nhiều chùa chiền, cung điện và các phật tử phát triển rực rỡ

ở các triều đại nhà Lý, nhà Trần đã bị xóa bỏ Hệ thống Nho giáo này do phong kiến nhà Lê bắt chước theo nhà Minh của Trung Quốc Người học tuyệt đối không ai được phát huy ý kiến riêng của mình, cấm chỉ tự do tư tưởng Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cho rằng kiểu người điển hình do phương pháp giáo dục này đào tạo là người hủ nho hoàn toàn trung thành với chế độ quân chủ nhà Lê

Trang 27

- Luật pháp

Về luật pháp, Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê đã được hoàn thiện trong thời Lê Thánh Tông, nên còn được gọi là Luật Hồng Đức Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm của nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp, nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt, với truyền thống nhân nghĩa, lấy dân làm

gốc

Nội dung chính của bộ luật là bảo vệ quyền lợi của vua hoàng tộc; bảo

vệ quyền lợi của quan lại và giai cấp thống trị địa chủ phong kiến Đặc biệt bộ luật có những điều luật bảo vệ chủ quyền quốc gia, khuyến khích phát triển kinh tế, gìn giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bảo vệ một số quyền

lợi của phụ nữ

1.4.2 Vài nét về triều Nguyễn

Năm 1778, Nguyễn Ánh quay lại và tập hợp lực lượng chiếm được Gia Định và đến năm 1780, ông xưng vương Tây Sơn sau đó nhiều lần tấn công Nguyễn Ánh khiến ông trốn chạy rồi quay về nhiều lần Đến năm 1790, Nguyễn Ánh chiếm được hẳn Gia Định.Trong 24 năm liên tiếp sau đó, Nguyễn Ánh ra sức củng cố lại vùng Gia Định; tranh thủ những sự ủng hộ, nhất là về các vũ khí, của các nhà truyền giáo người Pháp mà tiêu biểu sự giúp đỡ của giám mục Pigneau de Béhaine để củng cố quân đội và tạo cho mình một thế đứng vững vàng Cũng đồng thời lúc đó vua Quang Trung của Tây Sơn đột ngột qua đời, nhà Tây Sơn rơi vào cảnh "cốt nhục tương tàn", triều đình nhanh chóng suy yếu và mất lòng dân Nguyễn Ánh ra sức tấn công

và đến năm 1802 đánh bại hoàn toàn Tây Sơn Sau đó, ông lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, nhà Nguyễn thành lập

Trang 28

- Kinh tế

Thương mại Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất vẫn không phát triển lắm, tổ chức thương mại của người Việt sơ sài, trong phạm vi gia đình Nếu có những hội buôn lớn thì cũng chỉ là những phường họp vài thương gia hùn vốn với nhau để kinh doanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại thành những hội buôn làm ăn lâu dài Nhiều người Việt Nam dùng tiền của

để mua ruộng đất chứ không đầu tư kinh doanh, khuếch trương thương mại hay công nghệ

Trong vùng nông thôn, hoạt động thương mại cũng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở các chợ Ở đó, ngoài những cửa hàng tạp hóa quy mô nhỏ hay các cửa tiệm bán thuốc Bắc, còn có những nông dân bán thổ sản và nông sản địa phương và một số thương nhân nhỏ bán vải vóc, hàng xén, cau thuốc, đi rong từ chợ này sang chợ khác Theo sử gia Trần Trọng Kim, người Việt Nam chỉ quanh quẩn trong nước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt, nên bao nhiêu mối lợi lớn về tay người ngoài mất

Ở Kẻ Chợ trong thế kỷ XIX các thương khu (phường) đã thay đổi bản chất, đã thoát ly khỏi trạng thái chợ phiên có kỳ hạn và đã có thương gia cùng thợ thuyền cư trú thường xuyên Thanh Hoá được bắt đầu xây dựng đầu thời Gia Long và tới năm 1885 đã là 1 trung tâm thương mại Ở kinh đô Huế, năm

1837, triều đình đã cho lập chợ Gia Hội có tất cả 399 gian, dài suốt hơn 319 trượng

Những trung tâm thương mại từ cuối thế kỷ XVIII cũng vẫn tiếp tục hoạt động trong thế kỷ XIX Hội An tương tự 1 Bazar lớn của Ấn Độ với khoảng 60.000 dân mà 1/3 là Hoa kiều Hàng năm có những thuyền buồm Trung Hoa lường đến 600 tấn tới buôn bán.Ở Huế, người Tàu và người Việt

Trang 29

buôn bán rất lớn Thuyền buôn Trung Quốc chở đến vải vóc, đồ sứ, trà, thuốc Bắc, đồ chơi và chở về thổ sản như cau khô, tơ sống, gỗ, sơn, sừng tê và ngà voi

Cải cách tiền tệ giúp cho thương mại phát triển hơn so với thế kỷ trước Vua Gia Long và Minh Mạng đã cho đúc những nén vàng, nén bạc, nhờ đó thương mại đã có bước tiến hơn trước Tuy nhiên, tiền ít được đầu tư và được dân chúng đem cất trữ bởi tâm lý dân chúng còn mang nặng tính nông nghiệp

+Ngoại thương

Cho tới thời Thiệu Trị, chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với phương Tây khá cẩn trọng nhưng thương mại với họ vẫn được khuyến khích Hoạt động thương mại của Việt Nam với các nước láng giềng không thể phát triển tự do khi các quan chức đánh thuế nặng lên thương mại, còn thủ tục thì rất phiền phức Ngoài ra, triều đình còn cấm đoán một số mặt hàng, muốn bán phải có giấy phép riêng Không có một tầng lớp trung lưu làm giàu bằng thương mại để thúc đẩy triều đình mở rộng giao dịch quốc tế

Triều đình đã tổ chức nhiều chuyến đi công cán đến các nước trong khu vực để thực hiện giao dịch buôn bán Năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu Ba (Indonesia) Năm 1825, vua Minh Mạng phái người sang Hạ Châu mua vải và đồ thủy tinh Hàng bán

ra chủ yếu là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len dạ và vũ khí, đạn dược Các hoạt động này gần như là độc quyền của triều đình dù tư nhân không bị cấm Dù vậy, nhiều thương nhân cũng lợi dụng các chuyến buôn bán này để buôn lậu gạo và thổ sản sang Hạ Châu hay Quảng Châu

Hàng năm, thuyền buôn Trung Hoa thường đi lại giữa Việt Nam và Singapore Thương nhân người Hoa thường lén chở gạo đi và đem thuốc phiện về Trong những năm 1820-1830, giao dịch với Singapore rất hạn chế Nguyên nhân do hàng hóa của Việt Nam phù hợp với thị trường Trung Hoa hơn Khi người Pháp sắp chiếm hết Nam Kỳ, các bản lược kê tài chính cho thấy quan thuế hàng năm tương đương 3.000.000 france vàng trên tổng ngân

Trang 30

sách 40.000.000 mà các quan viên đã giữ lại gấp đôi số tiền thuế kia, như vậy

số tiền thu được vượt quá số tiền chuyển về triều đình rất nhiều

Năm 1850, Tự Đức không phái thuyền đi buôn ở Hạ Châu nữa Triều đình cũng tìm cách cản trở dân thường buôn bán với người Tây nên cuối cùng, thương gia ngoại quốc chủ yếu là Hoa kiều, Xiêm và Mã Lai, trong đó người Hoa chiếm tỷ lệ lớn nhất

- Văn hóa – Giáo dục

Vua Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan

Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa Nhiều người học chỉ để ra làm quan Trần Trọng Kim cho rằng "bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu Còn sự luyện tập hàng ngày, thì cốt tập cho thạo thuộc các lề lối ở chỗ khoa trường là: kinh nghĩa, tứ lục, thi phú, văn sách Ấy

là dùng hư văn mà xét tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh."

Thời vua Minh Mạng, ông muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông phần nhiều chỉ là những

hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua một kế hoạch nào cho quốc phú

Trang 31

CHƯƠNG 2 SƯU TẬP TƯỢNG GỖ THỜI LÊ – NGUYỄN TRƯNG BÀY

TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

2.1 Sưu tập hiện vật và vai trò của sưu tập đối với hoạt động bảo tàng

Trong nội dung trưng bày của bất cứ bảo tàng nào, mỗi một chủ đề được trưng bày đều là kết quả của nhiều khâu công tác Bảo tàng phải tiến hành công tác nghiên cứu, sưu tầm hiện vật, tiếp đến là kiểm kê hiện vật để chọn lọc ra những hiện vật trưng bày phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục Hiện vật và sưu tập hiện vật được trưng bày ở mỗi chủ đề cũng phải trải qua nhiều khâu công tác thì mới có thể trưng bày để phù hợp với nội dung và loại hình của bảo tàng, nhằm mang lại hiệu quả giáo dục nhất định

Như chúng ta đã biết, trong lịch sử thế giới, sự hình thành các sưu tập hiện vật bao giờ cũng xuất hiện trước khi có bảo tàng Đó là một quá trình lâu dài, một quá trình quan trọng không thể thiếu để hình thành nội dung trưng bày của bảo tàng Có những bảo tàng ra đời từ những bộ sưu tập lớn và hoạt động trên cơ sở phát triển của chính sưu tập đó Ví dụ: Bảo tàng hoa Tuy líp (

Hà Lan ), Bảo tàng Côn trùng (Pháp)… Vì thế các bảo tàng luôn coi trọng việc làm phong phú và hoàn thiện các sưu tập là hoạt động chủ yếu của mình

Về mặt ngôn ngữ học “Sưu tập” bắt nguồn từ tiếng anh La tinh là

Colletio, chuyển sang tiếng Pháp là Collection, tiếng anh là Collection, tiếng Nga là Kolexia và được giải thích trong từ điển Bách khoa toàn thư của Anh, Nga, Pháp là: Sự liên kết của một đối tượng được tập hợp lại có hệ thống, được phân loại để nhằm giáo giục, giải trí, sử dụng

Hiện nay, khái niệm sưu tập hiện vật có nhiều hướng tiếp cận khác nhau Nó đã được đề cập trong nhiều cuốn từ điển bách khoa của nhiều nước

Trang 32

trên thế giới, trong các cuốn Từ điển thuật ngữ Bảo tàng học và trong nhiều tài liệu chuyên ngành về bảo tàng học ở trong nước và quốc tế

Năm 1974 trong cuốn “Từ điển thuật ngữ Bảo tàng” xuất bản tại Matxcova, các nhà Bảo tàng học Liên Xô định nghĩa sưu tập: “Sưu tập hiện vật là tập hợp các hiện vật trong kho cơ sở, nhằm phục vụ cho một mục đích mang tính khoa học – những hiện vật được đưa vào sưu tập dưa trên một hoặc nhiều dấu hiệu chung, được liên kết lại thành một thể thống nhất hoàn chỉnh”1

Ở nước ta, trong cuốn từ điển từ và ngữ Việt Nam có giải thích: “ Sưu tập là tìm kiến và tập hợp lại” và “sưu tập là tập hợp những cái đã sưu tập được theo hệ thống”2

Những ý kiến nêu trên tuy có sự khác nhau về một số tiêu chí tuy nhiên đều tựu chung lại một vấn đề đó là: sưu tập là một tập hợp hiện vật và có một hay nhiều dấu hiệu chung

Theo giáo trình Cơ sở bảo tàng học của trường Đại học Văn hóa Hà

Nội thì thuật ngữ “sưu tập” được sử dụng trong lĩnh vực khoa học bảo tàng,

nhằm để chỉ các sưu tập hiện vật bảo tàng Sưu tập hiện vật bảo tàng có vai trò quan trọng đối với sự ra đời và hoạt động của bảo tàng, trước tiên nó gắn liền với hoạt động sưu tầm nhằm hình thành nên hệ thống sưu tập – cơ sở vật chất của sự tồn tại bảo tàng, sau đó nó gắn liền với việc kiểm kê, tổ chức kho bảo quản và hoạt động trưng bày – giáo dục của bảo tàng.3

Trong Luật Di sản văn hóa, sưu tập được định nghĩa như sau: “Sưu tập

là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, giữ gìn sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về

1 GS Nguyễn Lân Từ điển từ và ngữ Việt Nam NXB Thành phố Hồ Chí Minh Tr.1612

2 Từ điển thuật ngữ bảo tàng, Matxcova, 1947, tr 57

3 Cơ sở Bảo tàng học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội 2008, tr 197

Trang 33

hình thức, nội dung và chất liệu đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và

xã hội.”4

Như vậy, theo nội dung của khái niệm này chúng ta thấy rằng đối tượng được lựa chọn để xây dựng sưu tập không chỉ những di sản văn hóa vật thể như di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia mà còn cả di sản văn hóa phi vật thể, chúng cần được nghiên cứu, sưu tầm, phân loại sắp xếp vào sưu tập của bảo tàng để phục vụ cho các chức năng xã hội của bảo tàng

Đối với bảo tàng sưu tập là vốn cố định và là tài sản của mỗi bảo tàng,

là sự biểu hiện bản sắc đặc trưng, giá trị đích thực của bảo tàng tạo nên sắc thái riêng biệt cho từng bảo tàng và là nền tảng tạo nên vị thế xã hội của bảo tàng trong hiện tại và tương lai

Sưu tập hiện vật còn có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động của Bảo tàng

- Đối với hoạt động sưu tầm: Trong bảo tàng công tác sưu tầm có vai trò đặc biệt vì kết quả của nó là lựa chọn và thu nhận những hiện vật gốc

có giá trị lịch sử - văn hóa hoặc khoa học cùng với hồ sơ khoa học – pháp lý kèm theo đưa về bảo tàng để xây dựng hình thành kho cơ sở Như vậy giữa sưu tầm và sưu tập có mối quan hệ tác động ảnh hưởng lẫn nhau rất chặt chẽ

- Đối với hoạt động kiểm kê bảo quản: Trong quá trình tiến hành xây dựng sưu tập, cán bộ bảo tàng phải sơ chọn hiện vật và nghiên cứu hồ sơ hiện vật trong kho cơ sở của bảo tàng và các sổ sách khác Từ đó cán bộ bảo tàng có cơ sở để tiếp tục lựa chọn hiện vật đưa vào sưu tập và có được những

cơ sở khoa học cần thiết nhằm xác định yêu cầu và nhiệm vụ của công tác bảo quản kho cơ sở

- Đối với hoạt động trưng bày của bảo tàng : Sưu tập có vai trò và giá trị đặc biết bởi vì kết quả nghiên cứu xây dựng sưu tập sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng hoặc chỉnh lý các phần trưng bày và triển lãm của bảo tàng,

Trang 34

giúp cho bảo tàng luôn tìm kiếm và đổi mới các đề tài trưng bày chuyên đề

và trưng bày lưu động để phục vụ công chúng Mặt khác thì kho cơ sở của bảo tàng đã hình thành các sưu tập hiện vật, thì chính các sưu tập ấy sẽ là động lực tác động mạnh mẽ đến cán bộ trưng bày bảo tàng nảy sinh những ý tưởng mới để sáng tạo ra các phương pháp giải pháp mỹ thuật trưng bày mới thích hợp Các phương pháp trưng bày mới – hiện đại này có thể được áp dụng vào trưng bày của bảo tàng khi đã có sưu tập hiện vật được xây dựng hoặc các tổ hợp hiện vật trưng bày đã đầy đủ

Như vậy xây dựng sưu tập là một hoạt động nghiệp vụ mang tính khoa học trong công tác bổ sung kiện toàn kho cơ sở của bảo tàng Thực sự làm tốt việc xây dựng các sưu tập thì hiện vật gốc trong kho cơ sở mới được quản lý một cách chính xác cả về số lượng và chất lượng để phục vụ cho nghiên cứu khoa học trong và ngoài bảo tàng, phục vụ trưng bày giáo dục – thong tin của bảo tàng đối với công chúng

2.1.1 Tổng quan về sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Gỗ là một trong những loại chất liệu được người Việt khai thác sử dụng

từ rất sớm làm đồ gia dụng, vật liệu, trang trí kiến trúc,…và làm cả mộ táng nữa (nhiều mộ táng thời kì văn hóa Đông Sơn - Bắc thuộc được làm trực tiếp

từ các thân cây khoét rỗng) Sau nghìn năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến thay thế nhau trị vì, thì nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần đặc biệt

là đối với tầng lớp quý tộc cung đình ngày càng cao

Thời Lý, ngoài chất liệu được ưa thích sử dụng là đá và đất nung, gỗ vẫn được sử dụng làm vật liệu kiến trúc nhưng do tính chất kém bền vững hơn nên chưa phát hiện được những loại hình hiện vật bằng gỗ Cho đến nay chỉ còn lại rất ít những tác phẩm nghệ thuật quý hiếm bằng gỗ như: Bức chạm

Trang 35

rồng, bức chạm vũ công ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên) hay bộ cánh cửa chùa Phổ Minh (Nam Định),…có niên đại cuối thời Trần

Từ thời Lê Sơ, thế kỉ 15, trở đi chất liệu gỗ dần được sử dụng phổ biến với các chi tiết kiến trúc, bức chạm gỗ vẫn còn lại đến ngày nay, như: đình Tây Đằng (Hà Nội), đình Thổ Hà, Chu Quyến(Bắc Giang), đình Đình Bảng (Bắc Ninh) và những bức chạm lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một phần trong kho tàng di sản ấy

Đặc biệt, là thời kì Lê Trung Hưng, gỗ đã thực sự là nơi thả hồn của các nghệ nhân tài hoa, là chốn đi về của bao tâm hồn người Việt Hơn nữa, nó đã phản ánh được bối cảnh xã hội, những quy luật lịch sử, những tâm tư, tình cảm, ước mong của người dân,…

Chất liệu để tạo nên các tác phẩm điêu khắc là các loại gỗ thuộc hàng

tứ thiết (đinh, lim, sến, táu), ngoài ra gỗ mít,… cũng được sử dụng kết hợp với các kĩ thuật chạm nổi, chạm thủng, chạm lộng

Thời kì Lê Trung Hưng thế kỉ XVI - XVIII được coi là thời kì phát triển dòng văn hóa dân gian Việt Nam và một trong những nguồn sử liệu phản ánh rõ nhất điều đó chính là các sử liệu gỗ: những công trình kiến trúc, mảng chạm trang trí kiến trúc, đồ thờ, tượng thờ,… thể hiện sự khéo léo và tinh tế của người Việt xưa Sưu tập điêu khắc gỗ trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là những tác phẩm điêu khắc độc đáo của nền mỹ thuật thời kì này Nổi lên trong bộ sưu tập điêu khắc thời Lê – Nguyễn là bộ sưu tập tượng gỗ bao gồm những bức tượng phật, tượng thờ và tượng thú – là những hiện vật được tiếp quản từ Bảo tàng Louis Finot mà nguồn gốc của bộ sưu tập là mua bán từ nhiều miền của đất nước, do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đi trao đổi về hoặc là các hiện vật được làm lại

Thời Lê sơ có những bức tượng phật và tượng thú thể hiện được tài hoa của các nghệ nhân thời bấy giờ, sự khéo léo và tỉ mỉ thể hiện ở từng đường

Trang 36

nét tạc tượng Ở trên phần trưng bày có những bức tượng rất đẹp như tượng phật quan âm nghìn mắt nghìn tay, tương quan âm thiên thủ thiên nhãn, hay quan âm nhập niết bàn Ngoài ra còn những bức tượng thú được tạc với sự tinh xảo và tỉ mỉ cao như Hai bức tượng Vẹt (Con trống và con mái), tượng nghê…Phong cách tạc tượng thời Lê ít nhiều cũng ảnh hưởng tới phong cách tượng thời Nguyễn chính vì thế mà khi đến triều Nguyễn, nghệ thuật tạc tượng biểu hiện đạt trình độ cao hơn Cách thể hiện nhân vật bằng các pho tượng lớn bé khác nhau, có pho để mộc, có pho tô mầu, phần lớn được sơn son thếp vàng như : pho Adiđà, Thích ca sơ sinh, tượng thờ thần… được mô

tả rất sinh động Đồ sơn son thếp vàng thường được dùng trong thờ cúng Triều Nguyễn quả thực đã kế thừa được phong cách tượng bình dị, dân giã từ thời Lê và rồi từ đó phát huy, sáng tạo ra những cái mới để làm phong phú thêm cho kho tàng tượng gỗ của dân tộc ta

Sưu tập hiện vật này là nét biểu trưng cho giá trị lịch sử văn hóa xã hội Việt Nam Hơn nữa, sưu tập tượng gỗ này còn giúp các nhà nghiên cứu lịch

sử xã hội có những bằng chứng cụ thể để chứng minh được khả năng sáng tạo

kì diệu của các thời kì trước đây Qua các bức tượng được trưng bày giới thiệu, người xem có thể thấy rằng, không chỉ những đồ gỗ được làm ra để phục vụ cho đời sống sinh hoạt, nhu cầu thẩm mỹ con người mà nó còn được tạo tác để dùng trong cung đình, đình chùa hay dân gian, trong lễ nghi hay thờ cúng

Tựu chung lại, sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn là một sưu tập quý Với xu hướng phát triển của xã hội, những tác phẩm điêu khắc gỗ sẽ mãi là nơi để con người gắn bó, thể hiện tâm tư, tình cảm của mình Và đây cũng là nguồn sử liệu quan trọng giúp chúng ta trong quá trình nghiên cứu lịch sử văn hóa dân tộc

Trang 37

2.1.2 Sưu tập tượng gỗ thời Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Dựa trên chức năng, công dụng và loại hình, có thể phân chia nhóm hiện vật bằng tượng gỗ triều Lê – Nguyễn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam ra làm 2 nhóm chủ yếu:

ở đây

Hệ thống tượng thời Lê – Nguyễn được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam khá phong phú với 22 bức tượng với kích thước to nhỏ khác nhau

+ Tượng quan âm bồ tát: 2 pho tượng

+ Tượng thích ca sơ sinh: 2 pho tượng

+ Tượng phật: : 8 pho tượng

+ Tượng thú: : 10 pho tượng

+ Tượng chầu: 2 pho tượng

Trang 38

Tuy ảnh hưởng đối với chính quyền cai trị của Phật giáo không còn lớn như thời Lý - Trần nhưng về đời sống tâm linh thì vua, quan vẫn hướng theo đạo Phật, tìm đến cửa chùa niệm cầu, mong được Phật độ trì Trạng Lường Lương Thế Vinh, nhà toán học thời Lê sơ cũng là người am hiểu về Phật giáo Ông đã viết cuốn sách có tính chất giáo khoa về Phật giáo là Thiền môn khoa giáo và viết lời tựa cho sách Nam tông tự pháp đồ của thiền sư Thường Chiếu thời nhà Lý Có ý kiến trong giới nghiên cứu cho rằng vì là nhà Nho lại đi viết sách về Phật giáo nên Lương Thế Vinh không được thờ trong Văn Miếu

Trong đời sống chính trị, Nho giáo chiếm đa số nhưng trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân, Phật giáo vẫn đóng vai trò chủ đạo, cùng các tôn giáo tâm linh và tín ngưỡng dân gian Do nhân dân xây cất thêm rất nhiều chùa nên năm 1461, Lê Thánh Tông ra lệnh cho các lộ, phủ không được tự tiện xây chùa nhằm hạn chế bớt ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Tuy nhiên, sang thế kỷ 16, Phật giáo ngày càng phát triển mạnh hơn, ngay cả trong cung đình nhà Hậu Lê

Với chỗ dựa tâm linh là tôn giáo, các nghệ nhân đã tạc nên những bức tượng phật và nó đã xuyên suốt lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam

* Tượng phật A Di Đà ( Gỗ sơn son thếp vàng triều Nguyễn thế kỉ 19 – 20)

Tượng cao 66 cm Bệ tượng có chiều ngang 30cm Tượng phật được chạm trong tư thế kết giá toàn phần, bàn chân phải đặt lên đùi trái, bàn chân bên trái đặt lên đùi bên phải Bàn tay phải đan lên long bàn tay trái phía trước Đầu tượng trên đỉnh nổi lên một nhục kháo, tóc xoăn ốp khuôn mặt tròn, hai mắt khép hờ, tai chảy dài, cổ cao 2 ngấn, ngực nở bụng thon, trong mặc một lớp áo mỏng, ngoài khoác áo với những nét gấp mềm mại trải dài buông thong xuống mặt bên

* Tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay

Trang 39

Theo các tài liệu khảo cổ, mỹ thuật Việt Nam chứng minh rằng thời Lê Trung Hưng là thời kì các tín ngưỡng, tôn giáo như : Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo,… cùng tồn tại và phát triển Các tín đồ phật giáo từ tầng lớp quan lại, qúy tộc như: phò mã, công chúa, … cho đến bình dân đều góp tiền, cúng ruộng cho các chùa, tham gia sửa chữa, xây dựng chùa, làm tượng,…Văn bia các ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội như: Trấn Quốc, Kim Liên, Mía, Tây Phương đã thể hiện rất rõ điều này Trong rất nhiều pho tượng được chế tác trong thời kì này thì pho tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay hiện đang được thờ ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh là một tác phẩm tiêu biểu cho sự phát triển phật giáo cũng như nghệ thuật phật giáo của thời kì này

Tượng quan âm cao 270cm và có bề ngang 210cm được tạc dưới dáng một phụ nữ á Đông Tượng ngồi trên tòa sen được sự nâng đỡ của một con quỷ biển Tượng được thể hiện với những nếp áo chảy phủ dài, để lộ bàn chân, thắt nút (con do) trước bụng Vầng mặt trời đao lửa đặt trên tay Quan âm thể hiện sự hội nhập sức mạnh, bằng từ tâm cứu cho đời thoát khỏi khổ đau

Tượng được tạc 11 mặt, 42 tay lớn, 789 tay nhỏ, trong lòng mỗi bàn tay nhỏ tạc một con mắt Tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt mang ý nghĩa có thể nhìn tới mọi sinh linh và có nhiều tay để cứu vớt mọi chúng sinh Mặt tượng hình trái xoan bầu bĩnh mang dáng nữ hiền dịu, má dày và cằm có ngấn tròn, mắt nhìn xuống soi rọi nội tâm, điều đó ít nhiều có ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa Tuy nhiên, vẻ mặt tượng nhìn chung vẫn tuân thủ các nguyên tắc của tượng Phật giáo vừa biểu hiện nội tâm vừa biểu hiện sự đôn hậu, vẻ mặt ít nhiều toát ra chất chân dung Các tay lớn và nhỏ được sắp xếp cân xứng hai bên, từ cao xuống thấp tạo thành vầng hào quang lớn với các bàn tay thon nhỏ, các bắp tay để trần, thon dần về phía cổ tay Hầu hết các tay đều được trang trí trong tư thế kết ấn (mỗi thế kết ấn biểu hiện cho một lời cầu nguyện)

Trang 40

Phần bệ tượng hình vuông trang trí hoa sen, hoa cúc Đặc biệt, phần chân bệ tượng trang trí bốn tượng phỗng ở bốn góc trong tư thế nâng đỡ tượng Quan âm Phần bệ tượng có khắc dòng chữ Hán: “Nam Đông Giao Thọ nam Trương tiên sinh phụng khắc” có nghĩa là: tượng được tạo vào ngày lành, mùa thu năm Bính Thân (1656) do tiên sinh họ Trương với tước Nam Giao Thọ ở Nam Đông vâng lệnh khắc cúng vào chùa Pho tượng này do triều đình cung tiến cho chùa Bút Tháp và cũng là pho tượng duy nhất trong hệ thống tượng Phật cổ của Việt Nam có quy mô lớn, ghi niên đại năm tạc, quý danh người tạc Còn hầu hết các tượng khác chỉ là tượng của chùa làng, do dân góp tiền cung tiến hoặc tự chùa bỏ tiền ra làm Do vậy, chúng ta thấy được pho tượng là sự hội tụ cả hai dòng “văn hóa dân gian” và “văn hóa cung đình”

Tượng quan âm nghìn mắt nghìn tay được tạc ngồi ở thế kiết già, chân xếp bằng thư thái trên tòa sen nổi bồng bềnh trên mặt biển Đài sen là một bông hoa nở rạng rỡ, phần cao nhất là nhụy với những đường kẻ ngắn song hành, phía dưới là bốn tầng cánh hồng xen kẽ mãn khai

Đỡ bông hoa là con quỷ Ô Ba Long Vương, một loại rồng đen ở biển Đông Con quỷ chỉ ló đầu ra khỏi sóng, lấy đầu và hai tay đỡ lấy đài sen Đỉnh đầu quỷ được vạt phẳng để đỡ yên hoa Mặt quỷ mô phỏng mặt người song vẫn còn nhiều nét dữ tợn như mắt lồi, mày cau lại, mũi nhăn, cánh mũi to như mũi sư tử, má gồ, môi mỏng, tai đeo khuyên tròn, râu lù xù… Nó là đại diện của bóng tối, đã quy thuận Phật pháp, và hình ảnh nó đỡ tòa sen thể hiện đạo Phật đã giác ngộ cả loài quỷ dữ và thấm nhuần muôn nơi

Toàn bộ bức tượng quan âm nghìn mắt nghìn tay được chia thành nhiều tầng bậc Mỗi tầng đều có ý nghĩa riêng, tương ứng với các cõi: từ tòa sen trở lên là vô sắc giới, nơi có các thiên thần; từ tòa sen trở xuống là sắc giới - chốn nhân gian con người; xuống nữa là dục giới chứa đựng những ham muốn, dục vọng của loài ma quỷ Hình ảnh tòa sen nổi trên biển thể hiện sự phổ độ rộng

Ngày đăng: 04/06/2021, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w