PHÂN LOẠI HIỆN VẬT VÀ GIÁ TRỊ SƯU TẬP HIỆN VẬT ĐỒ ĐỒNG VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG NHÂN HỌC .... Bảo tàng Nhân học đã sưu tập và trưng bày về loại hình văn hóa Đông Sơn trong
Trang 1KHOA DI SẢN VĂN HÓA
VŨ THỊ NGÂN
TÌM HIỂU SƯU TẬP ĐỒ ĐỒNG THUỘC VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY
TẠI BẢO TÀNG NHÂN HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC
Mã số: 52320305
Người hướng dẫn: TS.NGUYỄN THỊ MINH LÝ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Để hoàn thành bài khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các cán bộ công tác tại Bảo tàng Nhân học trong việc tìm tài liệu và tiếp cận hệ
thống trưng bày Bên cạnh đó còn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của Ts Nguyễn
Thị Minh Lý giảng viên hướng dẫn Tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu về
đồ đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học” làm đề tài
khóa luận Với những hiểu biết còn hạn chế tôi không tránh khỏi sự thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các nhà nghiên cứu cùng các thầy cô, bạn bè
Tôi xin chân thành cám ơn!
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu của khóa luận 2
3.Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2
4.Phương pháp nghiên cứu 2
5.Đóng góp của khóa luận 3
6.Bố cục khóa luận 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG NHÂN HỌC VÀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ĐÔNG SƠN 4
1.1.Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Nhân học 4
1.2.Chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng Nhân học 4
1.2.1.Những chức năng chínhcủa bảo tàng 4
1.2.2.Nhiệm vụ chính của Bảo tàng 5
1.3.Giới thiệu hệ thống trưng bày của Bảo tàng Nhân học 6
1.3.1.Trưng bày thường xuyên: 6
1.3.2.Trưng bày đặc biệt (trưng bày mở) 8
1.3.3.Trưng bày chuyên đề 9
1.4.Thành tựu chính trong hoạt động của Bảo tàng 9
CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI HIỆN VẬT VÀ GIÁ TRỊ SƯU TẬP HIỆN VẬT ĐỒ ĐỒNG VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG NHÂN HỌC 12
2.1Quá trình phát hiện, nghiên cứu và phân bố văn hóa Đông Sơn 12
2.1.1Quá trình phát hiện và nghiên cứu 12
2.1.2Không gian phân bố của cư dân văn hóa Đông Sơn 14
2.1.3 Sưu tập hiện vật đồng Văn hóa Đông Sơn bằng chứng vật chất của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc 17
Trang 4Nhân học 33
2.2.1.Khái niệm sưu tập – Sưu tập hiện vật Bảo tàng 33
2.2.2.Nguyên tắc xây dựng sưu tập hiện vật Bảo tàng 34
2.2.3.Sưu tập hiện vật đồ đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học 36
2.3.Những giá trị đặc trưng của bộ sưu tập đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại bảo tàng Nhân học 58
2.3.1.Giá trị lịch sử 58
2.3.2.Giá trị văn hóa 59
2.3.3.Giá trị kỹ thuật 60
CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ BỘ SƯU TẬP ĐỒ ĐỒNG ĐÔNG SƠN TẠI BẢO TÀNG NHÂN HỌC 63
3.1.Thực trạng vấn đề xây dựng, bảo quản và phát huy giá trị sưu tập đồ đồng Văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học 63
3.1.1.Vấn đề xây dựng sưu tập 63
3.1.2.Vấn đề bảo quản sưu tập 64
3.1.3.Vấn đề phát huy giá trị sưu tập 65
3.2.Một số giải pháp nhằm xây dựng, bảo quản và phát huy giá trị Sưu tập đồ đồng Văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học 65
3.2.1.Một số giải pháp xây dựng sưu tập 65
3.2.2.Một số giải pháp bảo quản sưu tập tại phòng trưng bày 68
3.2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị sưu tập đồ đồng Văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học 70
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa Đông Sơn không chỉ được biết đến là một nền văn hóa Khảo
cổ nổi tiếng, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử, văn hóa dân tộc Văn hóa Đông Sơn còn nổi tiếng bởi sự phát triển rực rỡ của các bộ sưu tập đồng cực kỳ phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, có trình độ cao
về kỹ thuật chế tác và thẩm mỹ nghệ thuật Có thể nói, mọi tinh hoa văn hóa của người Việt cổ lúc bấy giờ đều tập trung vào thể hiện kiểu dáng và hoa văn trên đồ đồng
Ngoài ra, văn hóa Đông Sơn còn được coi là bằng chứng vật chất xác thực nhất về thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam Văn hóa Đông Sơn trải dài từ biên giới phía Bắc đến Nam đèo Ngang, tỉnh Quảng Bình, tập trung ở lưu vực ba con sông lớn: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Cả, có niên đại cách ngày nay từ 2000 đến 3000 năm Từ lâu văn hóa Đông Sơn đã trở nên nổi tiếng vì nó là một trong những nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhiều mặt, mà do đó văn hóa Đông Sơn đã được nhiều học giả của nhiều ngành khoa học quan tâm và nghiên cứu
Cho tới bây giờ, khi đời sống của nhân dân đang không ngừng được cải thiện, đời sống vật chất được nâng cao, thì việc tìm hiểu, khai thác và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống càng trở thành nhiệm vụ cần thiết và quan trọng Chính vì vậy mà sưu tập hiện vật đồng Văn hóa Đông Sơn là nguồn sử liệu vô cùng quý giá cho việc xác định giá trị lịch sử, văn hóa của nền văn hóa nước ta thời tự lập nguyên khai Đồng thời góp phần vào việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày và phát huy những giá trị của nền văn hóa này Như vậy, nghiên cứu sưu tập hiện vật đồng Văn hóa Đông Sơn là một việc làm có
ý nghĩa thiết thực
Bảo tàng Nhân học đã sưu tập và trưng bày về loại hình văn hóa Đông Sơn trong đó có rất nhiều tài liệu hiện vật quý báu, quan trọng, cung cấp cho
Trang 6chúng ta nhiều thông tin bổ ích, xác thực về đời sống vật chất và tinh thần của
cư dân văn hóa Đông Sơn
Là sinh viên năm cuối của Khoa Di sản Văn hóa trường Đại học Văn hóa Hà Nội, thực tập tại Bảo tàng Nhân học Hàng ngày được tiếp xúc, làm việc với các hiện vật Bảo tàng, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của
bộ sưu tập Được sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn Ts Nguyễn Thị Minh
Lý, nên tôi đã quyết định viết bài khóa luận của mình về sưu tập đồ đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học, với mong muốn mở rộng hiểu biết của mình đối với bộ sưu tập, và đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy giá trị sưu tập
2 Mục đích nghiên cứu của khóa luận
Nghiên cứu đặc điểm đồ đồng văn hóa Đông Sơn thông qua việc khảo
tả phân tích từng loại hình hiện vật Qua đó thấy được những đặc trưng riêng, tiêu biểu của sưu tập
Đồng thời nghiên cứu giá trị sưu tập hiện vật đồ đồng Đông Sơn, trên
cơ sở đó đưa ra những nhận xét về ưu điểm và những hạn chế về nội dung, tài liệu hiện vật trưng bày về văn hóa Đông Sơn Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của phần trưng bày
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài là sưu tập hiện vật đồ đồng văn hóa Đông Sơn đặt trong không gian trưng bày và hệ thống trưng bày của Bảo tàng Nhân học
Giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của cư dân Đông Sơn thông qua khối lượng hiện vật đa dạng được trưng bày tại Bảo tàng Nhân học
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn trong mối tương quan tổng thể với hệ thống trưng bày tại Bảo tàng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm khóa luận tôi đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp khảo sát thực tế
Trang 7- Phương pháp thu thập tài liệu, thống kê, miêu tả, chụp ảnh
- Phương pháp liên ngành như: lịch sử, Bảo tàng học, nghệ thuật học
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận cung cấp những thông tin, cùng những tư liệu khá đầy đủ và chính xác có hệ thống về sưu tập đồ đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học
Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến văn hóa Đông Sơn nói chung và đồ đồng văn hóa Đông Sơn nói riêng
Khóa luận còn nâng cao nhận thức và kiến thức chuyên ngành của bản thân về di sản văn hóa của dân tộc
Giải pháp nếu được thực hiện sẽ góp phần nâng cao giá trị của sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG NHÂN HỌC VÀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN
CỨU VĂN HÓA ĐÔNG SƠN
1.1 Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Nhân học
Bảo tàng Nhân học thuộc Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội) được thành lập tháng 3 năm 2003 Là cơ sở đào tạo và phục vụ đào tạo, nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn Là bảo tàng đầu tiên của một trường Đại học ở Việt Nam và là một trong những mô hình gắn đào tạo với thực tế Bảo tàng Nhân học đang dần trở thành một địa chỉ quen thuộc cho sinh viên và giảng viên tìm hiểu về lịch sử, văn hóa dân tộc Bảo tàng khuyến khích người đến tham quan và nghiên cứu khám phá quá khứ, diễn giải đời sống văn hóa xưa và nay của các cộng đồng cư dân Việt Nam
Bảo tàng là đơn vị tham gia trực tiếp đào tạo, nghiên cứu khoa học thông qua những hoạt động đặc thù của mình là một dạng giảng đường đặc biệt, dạy và học thông qua hoạt động thực tiễn nhằm phát huy một cách có hiệu quả nhất nguồn lực và vai trò khoa học của đội ngũ các nhà nghiên cứu
có kinh nghiệm, của đông đảo thành phần tri thức trẻ và khai thác được tối đa
cơ sở vật chất và tư liệu khoa học tích lũy từ hàng chục năm nay
Đối tượng phục vụ chính của bảo tàng là các cán bộ giảng dạy và sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Để thực hiện được nhiệm vụ của mình, Bảo tàng Nhân học phối hợp với các bộ môn liên quan trong Trường xây dựng và tổ chức các đợt sưu tầm, mua hiện vật Tổ chức các chương trình nghiên cứu, đào tạo các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn và trao đổi nghiệp vụ với các bộ môn, khoa trong trường và với các Bảo tàng khác
1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng Nhân học
1.2.1 Những chức năng chínhcủa bảo tàng
1.2.1.1.Trưng bày
Nội dung trưng bày đáp ứng được nhu cầu của công chúng (trước hết là đối tượng giảng viên và sinh viên trong và ngoài Trường) gắn cách thức và
Trang 9nội dung trưng bày với công tác đào tạo nghiên cứu của một số ngành học, một số khoa trong Trường Hiện nay, Bảo tàng có 2 phòng trưng bày cố định
về Khảo cổ học, Nhân học và Văn hoá Việt Nam và 3 mô hình trưng bày 3D ảo: về bảo tàng, Văn Miếu và cơ thể người Trong nhà bảo tàng ảo có 24 chủ
đề trưng bày hấp dẫn về nông nghiệp, nghề làm gốm, nghề luyện kim thời Tiền sơ sử, nghề dệt của người Thái, nghề làm tranh Đông Hồ, lịch sử Nho học và Khoa cử, cấu trúc chùa Việt
1.2.1.2.Thực nghiệm, xử lý hậu điền dã và nghiên cứu khoa học
Tại Bảo tàng, hiện vật của những cuộc khai quật, điền dã Khảo cổ học; sưu tầm Dân tộc học và Văn hoá học đã được xử lý một cách bài bản, khoa học Thông qua những đợt nghiên cứu này, nhiều sinh viên tốt nghiệp đã từng bước nắm vững kỹ năng nghề.Ngoài việc mở cửa phòng trưng bày thường xuyên, Bảo tàng đã đưa thư viện vào hoạt động Đồng thời phát huy tốt vai trò của phòng học đa năng, thường xuyên trình chiếu phim tư liệu về Văn hoá,
Dân tộc học, Lịch sử Việt Nam
1.2.1.3.Sưu tầm, thu thập hiện vật
Bảo tàng được xây dựng trên cơ sở bộ sưu tập hiện vật khảo cổ học do giảng viên và sinh viên Bộ môn Khảo cổ học (khoa Lịch sử) thu thập từ nhiều năm nay Bên cạnh những sưu tập khảo cổ học, hơn 5 năm qua, Bảo tàng đã chú trọng đến việc thu thập và mua hiện vật Dân tộc học, Hán Nôm và văn hoá Việt Nam
1.2.2 Nhiệm vụ chính của Bảo tàng
1 Sưu tầm, bảo quản, phục chế và phục dựng các hiện vật, mẫu vật
2 Sưu tầm và lưu giữ bằng nhiều hình thức khác nhau
3 Trưng bày bằng nhiều hình thức khác nhau
4 Giảng dạy và phổ biến kiến thức của giảng viên và sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn
5 Nghiên cứu các chủ đề liên quan đến lĩnh vực lịch sử, văn hoá, bảo tồn và bảo tàng
Trang 101.3 Giới thiệu hệ thống trưng bày của Bảo tàng Nhân học
Giống như công tác sưu tầm xây dựng các sưu tập, trưng bày phải gắn chặt chẽ với nội dung trưng bày đáp ứng nhu cầu của công chúng (trước hết là đối tượng giảng viên và sinh viên trong và ngoài trường), gắn cách thức và nội dung trưng bày với công tác đào tạo nghiên cứu của một số ngành học, của một số khoa trong trường Hiện nay Bảo tàng Nhân học đã mở cửa phòng trưng bày về Khảo cổ học, Dân tộc học phục vụ công tác học tập và nghiên cứu của cán bộ sinh viên trường, hoàn thiện những tủ trưng bày hiện vật mẫu, hiện vật mờ và ảo để công tác trưng bày – giáo dục được hoạt động đa dạng
và hiệu quả hơn nữa Bảo tàng Nhân học còn phối hợp với các Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học, Hiệp hội UNESCO bảo tồn cổ vật Việt Nam trong việc tham gia các trưng bày chuyên đề
Trưng bày Bảo tàng Nhân học chia 3 loại hình thức sau:
1.3.1 Trưng bày thường xuyên:
Trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Nhân học được chia thành ba phần lớn: Khảo cổ học, Dân tộc học và Văn hóa Việt Nam truyền thống
1.3.1.1 Trưng bày khảo cổ học
Đến với trưng bày khảo cổ học chúng ta sẽ tận mắt chứng kiến (trong một
số trường hợp sẽ tận tay sờ thấy) những hiện vật bằng chất liệu thể hiện lối sống, lối ứng xử với môi trường tự nhiên xã hội của những cộng đồng dân cư theo thời gian và không gian Trưng bày Khảo cố học được chia thành hai loại:
Trưng bày theo bộ sưu tập đặc trưng cho các thời đại văn hóa khảo cổ
từ thời đại đá cũ đến thời nhà Nguyễn Hiện vật từ nhiều vùng miền khác nhau phản ánh quá trình nghiên cứu điền dã, khai quật của cán bộ và sinh viên trường Đại học tổng hợp trước đây và Đại học Khoa học xã hội Nhân văn hiện nay Bên cạnh hiện vật là hệ thống bản đồ, sơ đồ, bản vẽ và bản ảnh tạo bối cảnh sinh động và cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các hiện vật với địa tầng và di tích Tuy diện tích trưng bày nhỏ và số lượng hiện vật không nhiều nhưng trưng bày khảo cổ học của bảo tàng Nhân học đáp ứng những tiêu chí
Trang 11của trưng bày dạy học: tiêu biểu, khái quát, dễ hiểu, chính xác và bắt mắt Ngoài bộ hiện vật thường gặp trong mỗi văn hóa khảo cổ Bảo tàng Nhân học còn sở hữu một số hiện vật độc đáo như bộ trang sức vòng tay, hạt chuỗi bằng
đá ngọc văn hóa Tiền Đông Sơn lưu vực sông Hồng; Vật đeo hình đầu trâu có niên đại văn hóa Gò Mun (cách ngày nay khoảng 3000 năm); Bình hình trứng gốm Chăm cổ (cách ngày nay gần 2000 năm); Ngói mặt hề Chăm (khoảng 1600- 1500 năm cách ngày nay); gạch trang trí Luy Lâu (cách đây khoảng
1400 năm); Sưu tập gốm sứ Xóm Trại Gốm (thế kỷ 16-18)
Trưng bày mở các bộ mẫu vật gốm, đá của một số văn hóa tiền và sơ sử Việt Nam Bảo tàng Nhân học là một trung tâm nghiên cứu và đào tạo khảo
cổ và là nơi lưu giữ nhiều sưu tập mẫu vật của các nền văn hóa khảo cổ Việt Nam, do vậy thế mạnh của bảo tàng chính là những mẫu vật gốm, đá, kim loại được phân loại và sắp xếp theo từng giai đoạn, từng nền văn hóa Mục đích của bảo tàng là giúp cho người nghiên cứu và người học tiếp cận trực tiếp và khai thác các mẫu vật này một cách dễ dàng Những nhà nghiên cứu và sinh viên có thể tiếp cận những mẫu vật này bằng hai cách: 1 Trực tiếp tới xem và làm việc với hiện vật tại bảo tàng và 2 Xem trên website của bảo tàng Trong tương lai, bảo tàng sẽ công bố một cách dần dần và đầy đủ cơ sở dữ liệu mà bảo tàng đang tiến hành hệ thống hóa và số hóa Và mỗi một năm hàng trăm nghìn hiện vật khảo cổ học, cổ sinh hoc, cổ nhân học và văn hóa cổ truyền được phát lộ một cách ngẫu nhiên và phần lớn trong chúng đã bị biến mất trước khi các nhà chuyên môn biết đến
1.3.1.2 Trưng bày dân tộc học và văn hóa Việt Nam truyền thống
Phòng trưng bày rộng 80m2 nằm tại tầng 4 dành để giới thiệu về văn hóa của các dân tộc Việt Nam Trong một diện tích trưng bày còn hạn chế hiện vật được tổ chức trưng bày theo từng lĩnh vực hoạt động sống của con người, ví dụ:
Hoạt động sản xuất bao gồm: công cụ sản xuất, cụ thể là công cụ sản xuất theo từng loại canh tác
Trang 12Hoạt động tôn giáo: Phân loại công cụ phục vụ đám cưới, đám ma, lễ hội Hoạt động mặc bao gồm: trang phục, trang sức và các sản phẩm liên quan đến nghề dệt cũng sẽ được phân loại theo kiểu thức, chức năng, kỹ thuật theo các đồ án, màu sắc và ý nghĩa biểu trưng của hoa văn trên những sản phẩm đó
Hoạt động ăn uống (văn hóa ẩm thực) được trưng bày các kiểu bếp, đồ dùng, dụng cụ chế biến, món ăn, cách thức ăn uống, nghi thức, nghi lễ
Ngoài ra hiện vật dân tộc học được trưng bày theo từng chuyên đề cụ thể Ví dụ: các công cụ đánh bắt cá, các công cụ hái lượm, thậm chí đi sâu vào các loại câu, các loại chài lưới, đó, các loại cung tên hay các loại bẫy những công cụ này được trưng bày lồng ghép vừa theo dân tộc, vừa theo chức năng
Trên thực tế, di sản văn hóa phi vật thể ẩn chứa trong từng hiện vật cụ thể của Khảo cổ học, Dân tộc học, Lịch sử văn hóa Ví dụ trang phục, món ăn đặt trong các nghi thức, nghi lễ của lễ hội, lễ tiết, lễ thức đều mang tính
đa nghĩa Ở đây bảo tàng thu thập, bảo tồn, giữ gìn và phát huy những di sản này thông qua những phương pháp và kĩ thuật hiện đại
Ngôn ngữ các dân tộc được trưng bày theo từng chữ viết của các dân tộc, các văn bản từ cổ chí kim (chữ Thái, chữ Khơme, chữ Chăm, Nôm Dao, Nôm Tày, chữ H’Mông, Êđê, Giarai hay lịch sử chữ phổ thông ) ở đây bảo tàng chú ý trưng bày các biểu tượng thông báo như “ta leo” (Thái), các loại cờ báo giờ, cầm canh hay trống, mõ, tù và
1.3.2 Trưng bày đặc biệt (trưng bày mở)
Sưu tập hiện vật và những tài liệu liên quan của Bảo tàng Nhân học dùng phục vụ cho việc dạy học, nghiên cứu, công bố, trưng bày, phục dựng và sáng tạo nghệ thuật Do tính chất nhạy cảm của nhiều loại chất liệu đối với sự thay đổi của điều kiện môi trường bên ngoài nên việc tiếp xúc với những hiện vật cần được tuân thủ theo những quy định của bảo tàng và phải được đặt dưới sự giám sát của các nhà chuyên môn Sinh viên và nhà nghiên cứu có nhu cầu làm việc với hiện vật Bảo tàng cần liên hệ trước với cán bộ của Bảo
Trang 13tàng để thu xếp thời giờ làm việc và cần thực hiện đầy đủ những quy định và quy chế của Bảo tàng Nhân học Hiện nay, Bảo tàng Nhân học đã xây dựng
và đưa vào khai thác một số sưu tập mở sau (những sưu tập này cũng vẫn đang trong quá trình bổ sung và hoàn thiện):
Sưu tập mẫu hiện vật loại hình miệng và hoa văn gốm Phùng Nguyên- Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn
Sưu tập mẫu hiện vật loại hình và chất liệu công cụ và trang sức đá Phùng Nguyên- Đồng Đậu- Gò Mun
Sưu tập mẫu hiện vật loại hình và chất liệu công cụ đá văn hóa Hòa Bình Sưu tập mẫu hiện vật gốm văn hóa Sa Huỳnh
Sưu tập mẫu hiện vật gốm Chăm (giai đoạn sớm thế kỷ 1-4 và giai đoạn từ thế kỷ 5-10)
Sưu tập hiện vật gốm sứ thời Trần, thời Lê
1.3.3 Trưng bày chuyên đề
Cùng với hoạt động trưng bày thường xuyên, trưng bày mở, Bảo tàng Nhân học còn chú trọng để tổ chức trưng bày chuyên đề nhằm giới thiệu các sưu tập hiện vật đang lưu trữ tại Bảo tàng Trong thời gian vừa qua, Bảo tàng phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, trung tâm UNESCO nghiên cứu và bảo tồn
cổ vật để tổ chức trưng bày chuyên đề nhân kỷ niệm các ngày lễ và các sự kiện quan trọng của đất nước như trưng bày nhân dịp hội nghị APEC, trưng bày nhân
kỷ niệm 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh Trong thời gian tới, Nhà trường có kế hoạch để xây dựng phòng trưng bày chuyên đề tại khuôn viên hiện nay của Bảo tàng với mục đích để phát huy giá trị của các bộ sưu tập hiện vật đang lưu giữ tại Bảo tàng Nhân học, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, đào tạo Bên cạnh trưng bày các sưu tập hiện vật, phòng trưng bày chuyên đề còn giới thiệu những kết quả nghiên cứu mới trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở trong nước và khu vực
1.4 Thành tựu chính trong hoạt động của Bảo tàng
Bảo tàng là đơn vị tham gia và trực tiếp đào tạo, nghiên cứu khoa học thông qua những hoạt động đặc thù của mình, là một dạng giảng đường đặc
Trang 14biệt, dạy và học bằng hoạt động thực tiễn nhằm phát huy một cách hiệu quả nhất nguồn lực và vai trò khoa học của đội ngũ các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, của đông đảo thành phần trí thức trẻ và khai thác được tối đa cơ sở vật chất và tư liệu khoa học tích luỹ từ hàng chục năm nay
Từ khi thành lập đến nay, Bảo tàng Nhân học đang dần trở thành một địa chỉ quen thuộc cho sinh viên và giảng viên trong và ngoài Trường tìm hiểu về lịch sử, văn hoá Việt Nam Hàng năm có hàng nghìn lượt cán bộ, sinh viên và hàng chục đoàn khách quốc tế tới thăm quan, nghiên cứu tại Bảo tàng
Bảo tàng Nhân học đã phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Trường như: Bảo tàng lịch sử Quốc gia, Trung tâm Thành cổ Hà Nội, Trung tâm Unessco nghiên cứu và bảo tồn cổ vật, Viện nghiên cứu Môi trường và Văn hoá, Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia I, Khoa Lịch sử, Khoa Lưu Trữ và Quản Trị văn phòng, Bộ môn Nhân học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn cùng tổ chức các trưng bày chuyên đề như 100 năm phát hiện và
nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh, Văn hoá của mình, Bảo vật Quốc Gia, Biển đảo Việt Nam Các cuộc trưng bày đã thu hút đông đảo khách thăm quan
Mỗi năm, Bảo tàng tổ chức từ 2 - 3 buổi thuyết trình khoa học, mời các diễn giả trong nước, quốc tế nhằm cập nhật các phương pháp nghiên cứu và những thành tựu nghiên cứu mới về khảo cổ học, nhân học, văn hoá Ngoài
ra, hàng năm Bảo tàng còn tổ chức các khoá học hè ngắn hạn, nhằm đào tạo những kỹ năng làm việc cho sinh viên yêu thích khảo cổ và nhân học
Trong công tác nghiên cứu khoa học, Bảo tàng đã thực hiện nhiều cuộc điều tra, khảo sát khảo cổ học ở Vĩnh Phúc, Bình Định, Quảng Nam, huyện Sóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội) và đã khai quật các di tích như Truông Xe (Bình Định), Hang Chổ (Hoà Bình), Hoa Lâm Viên, Đầu Vè, Bến Long Tửu, Thành Dền, Vườn Chuối (Hà Nội) Cán bộ Bảo tàng đã chủ trì và tham gia hàng chục đề tài nghiên cứu khoa học các cấp Ngoài ra, Bảo tàng đã tham gia
tổ chức một số hội thảo, tọa đàm khoa học trong và ngoài trường
Trang 15Trong năm 2012, Bảo tàng đã thực hiện và xây dựng mô hình 3D về bảo tàng ảo với 24 chủ đề trưng bày hấp dẫn về Khảo cổ học, Dân tộc học và Văn hóa Việt Nam truyền thống
Bên cạnh những sưu tập khảo cổ học, hàng năm Bảo tàng đã chú trọng đến các hoạt động sưu tầm, thu thập và mua hiện vật Dân tộc học, Hán Nôm
và Văn hoá Việt Nam Đồng thời, công tác kho đã được chú trọng đầu tư mới, bổ sung và sắp xếp khoa học Công tác bảo quản hiện vật đã và đang được tiến hành
Thư viện Bảo tàng đã được xây dựng và hoàn thiện với hơn một nghìn đầu sách về Khảo cổ, Lịch sử, Văn hóa, Dân tộc học… phục vụ đắc lực cho hoạt động tham khảo, nghiên cứu của cán bộ, giảng viên và các nhà nghiên cứu trong và ngoài trường
Trong quá trình hoạt động, Bảo tàng đã hợp tác nghiên cứu với các đơn
vị trong và ngoài ĐHQG, với các Đại học, Viện nghiên cứu nước ngoài như Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Quốc gia Di sản Văn hóa Hàn Quốc, Viện Nghiên cứu Di sản Văn hóa Hàn Quốc; Đại học Kanazawa, Đại học Tokyo (Nhật Bản); Đại học Tôn Trung Sơn(Trung Quốc)…
Trang 16CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI HIỆN VẬT VÀ GIÁ TRỊ SƯU TẬP HIỆN VẬT ĐỒ
ĐỒNG VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY
TẠI BẢO TÀNG NHÂN HỌC 2.1 Quá trình phát hiện, nghiên cứu và phân bố văn hóa Đông Sơn
2.1.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Di tích Đông Sơn được phát hiện và nghiên cứu trong những năm 20 của thế kỷ 20 và thuật ngữ Văn hóa Đông Sơn được chính thức nêu lên từ năm 1934 Song những di vật Văn hóa Đông Sơn thậm chí cả trống đồng thì được nhân dân ta biết đến từ lâu
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, một số nhà nghiên cứu, nhà thám hiểm, sĩ quan Pháp đã tiến hành thu lượm, mua bán những di vật thuộc Văn hóa Đông Sơn ở miền núi và đồng bằng lưu vực Sông Hồng Trong đó, hoạt động tích cực hơn cả là Dargence và Demange Năm 1924, một nông dân làng Đông Sơn, đã ngẫu nhiên phát hiện được một số đồ đồng nằm trong lòng đất nơi bờ sông bị lở Những đồ này được bán cho Pajot, một viên chức thuế quan Thanh Hóa Phát hiện này được khai báo đến Trường Viễn Đông Bác Cổ và Pajot được ủy nhiệm tiến hành khai quật khu di tích Đông Sơn Tiếp theo cuộc khai quật di tích Đông Sơn của Pajot, từ năm 1935 đến 1939, Olov Janse- nhà khảo
cổ học Thụy Điển, theo lời mời của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã 3 lần khai quật di tích Đông Sơn và điều tra thu thập đồ đồng ở những nơi khác như cầu công (Thanh Hóa), Phố Lu (Lào Cai)
Như vậy cho đến Cách mạng tháng Tám,những hiểu biết của chúng ta
về Văn hóa Đông Sơn không ngoài di tích Đông Sơn mà chủ yếu dựa vào kết quả cuộc khai quật của Pajot qua những bài nghiên cứu của Golou bew
Công cuộc tìm hiểu, nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn được xúc tiến mạnh mẽ từ khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng Các nhà nghiên cứu bước đầu hệ thống lại các tư liệu và các quan điểm học thuật về Văn hóa Đông Sơn
Trang 17Từ đây, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận và phê phán một số quan điểm sai trái của các học giả nước ngoài Họ đã nhận thức được tầm quan trọng của Văn hóa Đông Sơn vào một vị trí xứng đáng với nó Các nhà nghiên cứu nước
ta đều nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của Văn hóa Đông Sơn trong việc tìm hiểu nguồn gốc dân tộc cũng như quá trình hình thành nhà nước đầu tiên
Tiếp những năm sau của việc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương dựng nước, việc tìm hiểu Văn hóa Đông Sơn vẫn được đẩy mạnh nhằm đi sâu tìm hiểu các mặt của nền văn minh thời kỳ dựng nước Đó là vấn đề nông nghiệp, luyện kim và cuộc sống tinh thần của người Đông Sơn Hàng loạt di tích văn hóa Đông Sơn được khai quật một cách khoa học trên quy mô lớn
Để tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu Văn hóa Đông Sơn cũng như tìm hiểu thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc, Bảo tàng Nhân học
đã xây dựng bộ sưu tập với mục đích tìm hiểu, nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn ngày càng trở nên sâu sắc, toàn diện hơn, đúng đắn hơn Ngoài ra các công trình nghiên cứu có tính chất khảo cổ như đặc trưng văn hóa, niên đại, thời đại, các loại hình địa phương, nguồn gốc, mối quan hệ đa chiều của Văn hóa Đông Sơn, nhiều công trình đã đề cập đến trình độ sản xuất, quan hệ xã hội và
tổ chức xã hội đương thời Các nhà nghiên cứu khảo cổ đã sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để tìm hiểu bản chất Văn hóa Đông Sơn chứ không dừng lại ở việc so sánh mô típ hoa văn một số loại hình di vật để đi đến nhận định về mối quan hệ và nguồn gốc văn hóa Đông Sơn
Tóm lại trong suốt 78 năm kể từ khi phát hiện Văn hóa Đông Sơn luôn thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Cùng những khối lượng hiện vật, tư liệu nghiên cứu và phát hiện ngày càng phong phú đã góp phần vào nhận thức về một văn hóa Đông Sơn, Văn hóa bản địa cho những ai từng yêu mến hiểu biết về Văn hóa Đông Sơn
Trang 182.1.2 Không gian phân bố của cư dân văn hóa Đông Sơn
Khi nói đến cư dân Đông Sơn, chúng ta có thể hiểu đó là những cộng đồng cư dân có chung một nền văn hóa, cùng sống trong thời đại mà chúng ta gọi là giai đoạn Đông Sơn trong thời đại đồng thau Những cộng đồng này sống trong địa vực nhất định với những không gian sinh tồn khác nhau trong địa vực ấy
Như chúng ta đều biết các di chỉ mộ táng, di tích và di vật thuộc văn hóa Đông Sơn bao gồm nhiều kiểu loại khác nhau Trong các loại hình này, ta có thể phân chia thành hai dạng chính: dạng thứ nhất là những di tích và di chỉ có khả năng xác định chính xác sự sinh tồn của cư dân Đông Sơn trên một địa bàn
cụ thể Đó là các khu di chỉ, mộ táng, các khu xen kẽ cư trú và mộ táng, các tầng văn hóa có chứa di vật thể hiện đích thực sự sinh tồn của cư dân thời đại Đông Sơn tại đó Những tư liệu thuộc dạng này là những tư liệu xác thực cho phép ta dựng lại được không gian phân bố của cư dân Đông Sơn Dạng di tích
và di vật thứ hai là những di vật lẻ tẻ mà nhân dân phát hiện hoặc cất giữ rải rác đâu đó, các di vật này thực sự là những hiện vật có giá trị và mang đầy đủ đặc trưng của văn hóa Đông Sơn Các tài liệu khảo cổ học cho thấy bước vào thời đại kim khí, trên dải đất Việt Nam, sống trong nhiều địa hình không giống nhau, nơi cư trú của họ bao gồm một phần nhỏ là hang động, đa số còn lại thì sống rải rác ở vùng nay là trung du và đồng bằng thuộc các lưu vực sông
Cho đến nay có thể khẳng định rằng người Đông Sơn là chủ thể của các vùng đồng bằng và trung du thuộc các lưu vực sông chính ở miền Bắc và một
bộ phận ở miền Trung nước ta Ngoài ra, một bộ phận khác, sống rải rác trong các thung lũng thuộc các triền sông ở vùng núi cao Về mặt địa hình cư trú của người Đông Sơn, có thể phân ra thành mấy dạng chính: miền núi và hang động, đồng bằng thuộc các lưu vực sông chính, đồng bằng ven biển
Sau đây là một số phân tích một số dạng địa hình cư trú ở vùng đồng bằng của người Đông Sơn
Vùng đồng bằng thuộc lưu vực sông Hồng
Trang 19Đồng bằng sông Hồng là một trung tâm lớn nhất của cư dân Đông Sơn Các di tích văn hóa Đông Sơn ở đây được phát hiện trong khu vực các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Hải Hưng, Nam Hà, Hà Nội Ngoài ra, di tích và di vật Đông Sơn còn tìm thấy ở Ninh Bình và Thái Bình
Theo các tư liệu địa chất, cổ địa lý thì cách ngày nay chừng 2700 năm, đường bờ biển còn lan tới vùng Hải Dương, Mỹ Đức, Thường Tín ngày nay
và vào khoảng 2000 năm cách ngày nay thì đường bờ biển đã rút xa tới ranh giới Đông Triều, Vĩnh Bảo, Nam Định, Ninh Bình Ngày nay đồng bằng sông Hồng hằng năm vẫn tiếp tục lấn ra biển tại các khu vực cửa sông Những di tích Đông Sơn trong các vùng đồng bằng sông Hồng được tìm thấy trong các vùng đồng bằng phù sa cổ, đồng bằng phù sa mới cao, đồng bằng phù sa mới thấp và đồng bằng phù sa ven biển
Vùng đồng bằng châu thổ Sông Mã
Đây cũng là một trung tâm quan trọng của văn hóa Đông Sơn, đồng bằng Sông Mã nhỏ hơn đồng bằng Sông Hồng và được cấu tạo bằng phù sa hiện đại trải ra trên một bề mặt rộng, có thể hơi nghiêng về phía đông nam Vùng rìa đồng bằng ở phía bắc và tây bắc có tầng phù sa cổ của Sông Mã và Sông Chu cao khoảng 2-25m Đồng bằng Sông Mã có độ cao trung bình là 2-3m so với mực nước biển hiện tại Trong vùng đồng bằng Sông Mã còn tồn tại nhiều đồi núi sót rải rác giữa lòng đồng bằng Các tài liệu khảo cổ học cho thấy vùng hợp lưu giữa Sông Mã và Sông Chu, nơi trung tâm của đồng bằng Sông Mã là điểm tụ cư lâu đời của cư dân thời đại kim khí và là nơi sinh ra văn hóa Đông Sơn trong vùng này
Các di tích Đông Sơn ở đồng bằng này tập trung dày đặc trong các huyện Đông Sơn, Thiệu Yên, Hoằng Hóa Từ các trung tâm đó, di tích Đông Sơn còn mở rộng ra các vùng trung du ở Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Thạch Thành
và các vùng ven biển như Hậu Lộc, Quảng Xương, Tĩnh Gia
Trang 20Vùng đồng bằng lưu vực Sông Cả và ven biển Nghệ Tĩnh
Lưu vực Sông Cả là vùng đồng bằng rộng và phì nhiêu nhất trong vùng Nghệ Tĩnh Vùng đồng bằng này có phù sa giàu chất mùn, màu đen sẫm phân bố ven sông, còn đất đai khắp nơi có màu trắng xám thể hiện sự rửa trôi mạnh Các
di tích, văn hóa Đông Sơn ở khu vực này được tìm thấy ở các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Yên Thành, Thành phố Vinh (Nghệ An); Đức Thọ, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) Những di tích đó nằm rải rác trong các thung lũng đồi núi ven bờ Sông Hiếu và Sông Con là các chi lưu của hệ thống Sông Cả
Ngoài ra các di tích được phát hiện trong lưu vực Sông Cả, ở Diễn Châu (Nghệ An) còn phát hiện được một số di tích trong dải đồng bằng hẹp Đây là dạng đồng bằng ven biển được bồi lấp bởi trầm tích biển
Vùng đồng bằng Quảng Bình
Di tích văn hóa Đông Sơn ở đây được phát hiện trong các huyện: Hợp Hóa (Tuyên Hóa), Phúc Trạch, Cương Hà (Bố Trạch) và rải rác trong các huyện Quảng Trạch, Đồng Hới Điều đáng lưu ý là ở Quảng Bình hiện mới chỉ phát hiện ra các di vật lẻ tẻ thuộc văn hóa Đông Sơn và tại đây cũng phát hiện ra di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh Nơi đây có thể là vùng biên giữa hai khu vực văn hóa: văn hóa Đông Sơn ở phía bắc và văn hóa Sa Huỳnh ở phía nam
Tóm lại qua những di tích Đông Sơn đã được điều tra và khai quật ở Việt Nam, ta có thể thấy rõ không gian sinh tồn của người Đông Sơn tập trung ở các vùng châu thổ của các con sông lớn ở miền Bắc Việt Nam Người Đông Sơn đã khai thác nông nghiệp trong các vùng đồng bằng này và chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa Theo quy luật tự nhiên của những đồng bằng
đó trong quá trình hình thành và bồi tụ lan ra biển, trong các ô đồng bằng đã hình thành nhiều ô trũng đầm hồ, nơi thuận lợi cho canh tác lúa nước và khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên, một nguồn protein quan trọng đối với cư dân Đông Sơn và cả những cư dân sinh sống trong vùng này ở những giai đoạn muộn hơn và cho đến ngày nay [tr172;22]
Trang 212.1.3 Sưu tập hiện vật đồng Văn hóa Đông Sơn bằng chứng vật chất của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc
Một kỹ thuật chế tác đồ đá đạt tới tột đỉnh thì con người lại tìm tòi và khai thác một nguyên liệu mới, đó là đồng thau Việc nấu chảy kim loại đánh dấu bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển kỹ thuật và tác động mạnh mẽ đến sự chuyển biến của xã hội Trên thế giới nói chung, với nước ta nói riêng đây là thời kỳ lịch sử quan trọng, đánh dấu sự ra đời đầu tiên của một tổ chức nhà nước và hình thành dân tộc
Từ cuối hậu kỳ đồ đá mới đến thời đại đồ sắt, trên đất nước Việt Nam
đã hình thành những nhóm di tích tiêu biểu cho các giai đoạn phát triển nối tiếp, kế thừa nhau từ sớm đến muộn: Phùng Nguyên (cuối thời kỳ đồ đá đến đầu thời đại đồ đồng) Đồng Đậu (khoảng giữa thời kỳ đồng thau), Gò Mun (thời đại đồng thau phát triển) và Đông Sơn (cuối thời đại đồ đồng- đầu thời đại đồ sắt)
Với thời đại đồng thau phát triển cách ngày nay 4000 năm chúng ta bước vào thời kỳ nhà nước Văn Lang- thời kỳ Hùng Vương của lịch sử Việt Nam Đây là một thời kỳ phát triển rực rỡ của dân tộc ta
2.1.3.1.Văn hóa vật chất của cư dân Đông Sơn
Những tài liệu vật chất vô cùng phong phú thu được nhờ công cuộc nghiên cứu khảo cổ gần bảy thập kỷ qua cộng với sự hỗ trợ của các tri thức, các phương pháp nghiên cứu liên ngành đã cho phép chúng ta, đến đây, có thể
vẽ nên một bức tranh toàn cảnh, tuy chưa hoàn toàn đầy đủ và không khỏi còn những giả thuyết, ước đoán về đời sống vật chất của chủ nhân nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, những người đã có công tạo nền vững chắc cho sự hình thành một dân tộc Việt Nam với những bản sắc riêng Theo quan niệm của những người nghiên cứu, đời sống vật chất bao gồm hai bộ phận cấu thành cơ bản là hoạt động kinh tế và cuộc sống hàng ngày
Văn hóa Đông Sơn đạt đến trình độ cao nhờ sự phát triển của nền kinh
tế nông nghiệp trồng lúa nước dùng cày với sức kéo của trâu bò Lúa, sản
Trang 22phẩm chủ yếu của nền nông nghiệp này, hẳn đã cho thu hoạch dồi dào, đủ nuôi sống số dân tập trung với mật độ khá cao và còn dư thừa để phát triển hàng loạt nền sản xuất thủ công, đặc biệt là luyện kim – một nghề đòi hỏi công sức chuyên môn của nhiều người, cũng như chi dùng cho hàng loạt hoạt động xã hội và tôn giáo khác Cuộc sống hàng ngày bao gồm các mặt ăn, ở, mặc, đồ dùng hàng ngày, giao thông không chỉ phụ thuộc vào trình độ và đặc điểm phát triển kinh tế, mà còn chịu sự chi phối trực tiếp của điều kiện tự nhiên, môi trường và nhiều yếu tố khác như truyền thống, tập quán, quan điểm thẩm mỹ
Phạm vi nghiên cứu vấn đề đời sống vật chất thật phong phú, đa dạng
và lý thú, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp Bởi vì, nếu như đối với các xã hội hiện đại, nó là vấn đề hết sức cụ thể, thì đối với các xã hội đã lùi xa vào dĩ vãng, nó lại trở nên khá là trừu tượng Để tiếp cận vấn đề, trước hết chúng ta phải dựa vào tư liệu khảo cổ Những tài liệu vật chất này, tuy là những vật chứng câm, nhưng lại hết sức khách quan, trực tiếp, nên nó có sức thuyết phục lớn Tài liệu dân tộc học, văn học dân gian cho chúng ta những chìa khóa giải mã quý giá, khiến những vật chứng câm khảo cổ học có thể cất lời Tư liệu chữ viết, ở thời kỳ lịch sử muộn hơn Đông Sơn, tuy hiếm hoi, nhưng là những tài liệu hết sức quan trọng Ngoài ra, hàng loạt tri thức và phương pháp nghiên cứu của các khoa học tự nhiên và kỹ thuật cũng đã được vận dụng để có thể khai thác tối đa các thông tin khách quan từ những tài liệu thật, nhằm bổ sung, làm sáng tỏ hơn khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề mà ta đang quan tâm
Hoạt động kinh tế: nền kinh tế Đông Sơn thể hiện rõ tính kế thừa trực tiếp những thành tựu, kinh nghiệm sản xuất của các nền văn hóa tiền thân Nhưng xét về trình độ phát triển, nó không phải là một sự tiên tiến, mà mang những tính chất nhảy vọt ở mức độ nhất định, đủ để tạo nên những bước ngoặt đáng kể trong cơ cấu chính trị - xã hội Trong nền kinh tế Đông Sơn, nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo Các ngành thủ công nghiệp, đặc biệt là luyện
Trang 23kim đồng phát triển mạnh, luyện kim sắt ra đời Quan hệ trao đổi, buôn bán giữa các vùng trong phạm vi văn hóa Đông Sơn cũng như giữa Đông Sơn với các nền văn hóa láng giềng làm cho bộ mặt nền kinh tế - văn hóa Đông Sơn thêm phong phú
- Nền nông nghiệp Đông Sơn
Có thể nói rằng, văn minh Đông Sơn là văn minh của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước phát triển ở trình độ khá cao đương thời
Trước hết là nói về nghề trồng lúa nước của người Đông Sơn Cho đến nay về cơ bản các nhà nghiên cứu đã nhất trí rằng Việt Nam đã nằm trong vành đai phát sinh ra cây lúa nước Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rất nhiều hạt thóc, gạo cháy trong một số di tích thuộc các nền Văn hóa như nền văn hóa Phùng Nguyên đến Đông Sơn ở lưu vực Sông Hồng và các giai đoạn văn hóa nổi tiếng ở lưu vực Sông Mã, Sông Cả Ngoài ra còn rất nhiều tư liệu chữ viết có niên đại sớm, nhắc đến nghề trồng lúa nước của người Việt Cổ Nhưng những bằng chứng thuyết phục hơn cả là chính những sản phẩm, những tư liệu và những công cụ lao động của nghề trồng lúa thời Đông Sơn do khảo cổ học cung cấp được trưng bày trong nội dung văn hóa Đông Sơn
Có một mảnh khuôn đúc bằng đất nung được chế tạo bằng đất sét trộn thực vật Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy dấu vết là của hòa thảo bị băm vụn
và một số vết in của vỏ trấu rõ ràng một số mảnh nồi nấu đồng cũng bằng đất nung ở làng Vạc trong cuộc khai quật năm 1976 Dấu tích thóc gạo cũng được phát hiện ở làng Vạc nổi tiếng trong cuộc khai quật lần thứ nhất 1973 Những hạt thóc này được tìm thấy trong các địa điểm Đông Sơn, qua các lần nghiên cứu thì chúng ta biết được chúng thuộc nhiều loại khác nhau Chứng tỏ trong những điều kiện khác nhau thì giống lúa của người Đông Sơn cũng trải qua một bề dày lịch sử phát triển và kỹ thuật trồng lúa cũng ngày một tiến bộ
Một bằng chứng vật chất không thể thiếu về nghề trồng lúa là các công
cụ, dụng cụ chuyên dụng để thích hợp chủ yếu với cư dân nông nghiệp trồng lúa Đó là những bộ công cụ và đồ dùng tìm thấy trong các di tích Đông Sơn
Trang 24như: rìu, cuốc, xẻng, thuổng, lưỡi cày, dao gặt đồ dùng bằng đồng hay là bằng gốm dùng để dự trữ hay nấu nướng, chế biến thức ăn như nồi, niêu, bình, vò sự phổ biến đa dạng của loại hình công cụ cuốc, xẻng, mai, thuổng
mà đặc biệt là lưỡi cày bằng kim loại đã tạo nên một cuộc cách mạng thực sự trong kỹ thuật canh tác thời Đông Sơn
Ngoài ra, thời Đông Sơn đã có mặt của lúa nếp, được chứng minh bằng dấu tích những vỏ hạt thóc dạng tròn và cả sự có mặt của chõ đồ có nhiều kiểu dáng khác nhau được tìm thấy ở các giai đoạn tiền Đông Sơn và Đông Sơn Truyền thống lúa nếp, dùng nếp còn được phản ánh thật sự phong phú qua truyện dân gian, trong các phong tục tập quán như sự tích Bánh chưng bánh dầy còn đến ngày nay
Theo một số thư tịch cổ thì người Đông Sơn canh tác theo lối “đao canh thủy nậu” Có ý kiến cho rằng: đao canh hay hỏa canh là phương thức làm ruộng nương, còn thủy nậu là ruộng nước Nếu như vậy thì người Đông Sơn thời ấy đã phổ biến cả ruộng nương và ruộng nước Phương thức canh tác rất thô sơ như đốt cỏ hay ngậm cỏ trong nước để mục rồi cho trâu dẫm nhuyễn hoặc dùng cuốc, hay dùng lưỡi cày lật đất vùi cỏ xuống Bộ sưu tập công cụ Đông Sơn đã xác minh điều này Ở đây, công cụ rìu đồng rất phổ biến, chúng không chỉ nhiều về số lượng mà còn phong phú về loại hình Đương nhiên rìu không phải là công cụ chuyên dụng nhưng vai trò của nó trong canh tác thời Đông Sơn rất lớn Rìu không thể thiếu để chặt cây phá hoang, mở rộng diện tích cày cấy của người Đông Sơn
Cuốc có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài nhất, cuốc đá thời tiền Đông Sơn nay thay bằng cuốc đồng Thời Đông Sơn muộn nay đã xuất hiện cuốc sắt Cuốc có nhiều hình dạng cuốc có hình cánh bướm, cuốc được dùng trong nông nghiệp từ rất sớm, có thể từ thời kỳ đá mới và tồn tại lâu dài cho đến nay Bước ngoặt đáng nói của cuốc thời Đông Sơn là sự ra đời của cuốc sắt So với cuốc đá và cuốc đồng thì cuốc sắt có ưu thế hơn cả Lưỡi cuốc
Trang 25cứng rắn và sắc bén hơn, dễ tra cán hơn, tất nhiên sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn
Ngoài rìu, cuốc người Đông Sơn còn dùng mai, xẻng ở mức độ nhất định trong canh tác Chủ yếu chúng được dùng để đào đất (đào mương, khơi ngòi) thuổng có đặc tính là cứng, rắn, chắc khỏe kết hợp với vùng miền trung
du đồng bằng cao và vùng núi
Sự đa dạng lưỡi cày đồng được trưng bày đã thấy ở ba trung tâm Đông Sơn Trong các di tích có niên đại muộn Sự phong phú của nhiều loại hình có kiểu dáng khác nhau chứng tỏ kỹ thuật đúc cày, dùng cày không còn ở giai đoạn ban đầu mà còn nói lên sự đa dạng trong quá trình hình thành loại hình công cụ sản xuất trong nền Văn hóa Đông Sơn Loại cày đồng có nhiều kiểu dáng khác nhau là sản phẩm độc đáo của người Đông Sơn, là sự phát triển ở trình độ mới trong lịch sử phát minh và sử dụng cày của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước
Người Đông Sơn còn biết sử dụng sức kéo trâu bò Điều đó thể hiện hình bò được khắc họa trên trống đồng Hay theo thư tịch Trung Quốc, vài thế
kỷ trước công nguyên, người Cửu Chân đã biết cày bừa bằng trâu bò Dấu tích xương trâu bò cũng được tìm thấy nhiều trong di tích Đông Sơn Tất cả những bằng chứng này đã khẳng định đến đầu thời kỳ Đông Sơn muộn, cư dân văn hóa này đã sử dụng phổ biến cày có trâu bò kéo là thời kỳ mở đầu cho kinh tế canh tác tiến bộ ở vùng đồng bằng Sông Hồng, trung tâm phát triển số một của nền Văn hóa Đông Sơn
Công cụ gặt hái cũng được người Đông Sơn chú ý đó là nhíp, liềm và dao gặt Mỗi vùng khác nhau mà người Đông Sơn sử dụng những loại công
cụ khác nhau Ví dụ nhíp được tìm thấy nhiều nhất ở khu vực Sông Hồng, sau đến Sông Mã còn lưu vực Sông Cả thì chưa thấy Dao gặt có hình dáng đơn giản, làm từ một tấm đồng mỏng rìa lưỡi sắc Liềm thuộc loại công cụ thu hoạch tiến bộ, cho hiệu suất lao động cao, thích hợp với nhiều loại giống cây khác nhau, chân ruộng khác nhau cũng đã phổ biến vào thời đại Đông Sơn
Trang 26Ngoài trồng lúa hẳn người Đông Sơn còn phát triển nghề làm vườn, trồng rau, cây ăn quả Để bổ sung cho nguồn lương thực chính là thóc gạo, cư dân Đông Sơn có thể trồng nhiều loại cây có củ như khoai sọ, khoai lang, củ
từ thời Đông Sơn nhà nào cũng có thêm trồng rau, phổ biến là rau muống, cà, hành, gừng Phấn hoa bầu bí đã tìm thấy trong các di tích khảo cổ Đông Sơn Người Đông Sơn còn biết trồng một số cây công nghiệp như mía, đay, gai, bông, dâu tằm những dấu vải còn sót lại trong các khu di tích Đông Sơn muộn (Việt Khê, Thiệu Dương, Làng Vạc, Phú Lương, Xuân La) cho thấy nhiều khả năng vải được dệt từ bông và dây gai Những hình người trên trống đồng, những cảnh tượng được thể hiện có trang phục váy, áo, khăn Những y phục đó rõ ràng chủ yếu được may bằng vải dệt
Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi gia súc cũng đã có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp Đông Sơn Nó cung cấp cho con người nguồn dinh dưỡng protein quan trọng chủ động ổn định, đồng thời còn tạo nguồn sức kéo, nguồn phân bón cho trồng trọt So với trồng trọt thì chăn nuôi chỉ đóng vai trò phù trợ Môi trường sống cho cư dân tiền Đông Sơn và Đông Sơn ít thuận lợi cho chăn nuôi đặc biệt là nuôi lớn Lâu dần vai trò phụ trợ cho trồng trọt của chăn nuôi trở thành truyền thống của người Việt Người Việt trở thành người ăn thực vật là chính, họ coi thịt và các sản phẩm khác của chăn nuôi là phụ Qua di cốt động vật và các di vật tìm được trong các cuộc khai quật và các di tích Đông Sơn, chúng ta biết rằng ngay từ trong giai đoạn đầu hình thành Văn hóa Đông Sơn, các giống vật chó, lợn, gà trâu, và cả dê đã được thuần hóa Từng đợt khai quật làng Vạc 1973 đã tìm thấy răng của trâu
bò Hình như bò có u gốc Ấn Độ được khắc họa trên trống đồng Đông Sơn Các giống gia súc nhỏ như lợn, gà, chó đã được chăn nuôi ngay từ thời tiền Đông Sơn Chó được làm họa tiết trang trí trên trống từng người dắt chó Điều
đó chứng tỏ thời kỳ này loài động vật này đã rất gần gũi với người Đông Sơn Việc thuần dưỡng voi, dùng voi làm phương tiện chuyên trở, đi lại hẳn không
xa lạ với người Đông Sơn Hình voi được trang trí trên cán dao găm, cán
Trang 27muôi đồng tìm thấy ở Làng Vạc, có khối tượng voi có bành để chở trống đồng trên lưng Xương voi đã tìm thấy ở địa điểm Đông Sơn, Gò Chiền
Đánh cá và khai thác thủy hải sản vốn là một trong những hoạt động kinh tế lâu đời nhất của con người Cho đến thời đại Văn hóa Đông Sơn, nghề đánh bắt thủy hải sản ở nước ta đã có lịch sử hàng vạn năm Sống trong môi trường liền kề sông nước, đầm hồ, người dân Đông Sơn tiếp thu kinh nghiệm
và phương pháp thô sơ, đơn giản đó là lưỡi câu và các loại đồ đan bằng tre nứa Chì lưới cũng gặp phổ biến trong di chỉ Đông Sơn Tuy không tìm thấy lưới đánh cá nhưng có thể nghĩ rằng với sự phát triển nghề se sợi dệt vải, hẳn
là người Đông Sơn có điều kiện phát triển lối đánh cá cho hiệu quả cao Mô típ thuyền trang trí cán đồ đồng lớn nói lên vai trò quan trọng của nó trong đời sống người Đông Sơn Có những người cho rằng đây là những con thuyền vượt biển Với kỹ thuật đóng tàu thành thạo như vậy không thể không góp phần làm phát triển nghề đánh bắt thủy hải sản của người Đông Sơn
Săn bắt hái lượm thời kỳ Đông Sơn đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu, vai trò của chúng ngày càng mờ nhạt hơn trước sự phát triển mạnh mẽ và đầy ưu thế của trồng lúa Tuy là mờ nhạt nhưng chúng vẫn không bị loại trừ, điều này được thể hiện trong sưu tập vũ khí phong phú về loại hình Vũ khí được dùng trong chiến đấu là chính nhưng cũng không loại trừ dùng trong việc săn bắn
Tóm lại qua một vài nét phác họa cơ bản nhất của nền nông nghiệp Đông Sơn lấy canh tác lúa, trước hết là lúa nước làm nền tảng, ngoài ra còn phát triển nghề làm vườn và chăn nuôi gia súc Nền nông nghiệp đã cung cấp sản phẩm dù cho xã hội bao gồm cả một số bộ phận cư dân đã tách ra khỏi công việc đồng áng, những thợ thủ công trước hết là những thợ luyện kim và một số ngành nghề thủ công khác Không có một nền nông nghiệp ổn định phát triển đến một trình độ nhất định thì sẽ không có những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực sản xuất ở thời kỳ Đông Sơn này.[tr31;2]
Trang 28- Nghề thủ công giai đoạn văn hóa Đông Sơn
Nhờ nông nghiệp Đông Sơn phát triển, các ngành thủ công đã có điều kiện mở rộng và phát triển Đến lúc này, các nghề thủ công đặc biệt là nghề luyện kim đã tác động trở lại nông nghiệp bằng cách cung cấp cho công nghiệp những công cụ lao động có hiệu quả hơn hẳn các loại công cụ cũ, làm cho nông nghiệp phát triển vượt bậc
Luyện kim thời Đông Sơn
Kỹ thuật luyện kim đúc đồng của người Đông Sơn đã đạt đến trình độ điêu luyện Trống đồng, thạp đồng là những di vật tiêu biểu nhất cho trình độ
kỹ thuật và bàn tay tài hoa của người thợ đúc đồng thời Đông Sơn
Trong một số di tích thuộc Văn hóa Phùng Nguyên có niên đại tuyệt đối tính bằng phương pháp C14 vào khoảng đầu thiên niên kỷ II trước công nguyên đã tìm thấy vết xỉ đồng Đến giai đoạn văn hóa tiếp theo chúng ta dẽ dàng nhận ra sự phát triển mạnh mẽ của hơn hẳn của đồ kim loại Bước nhảy vọt trong nghề luyện kim chỉ thực sự xảy ra cùng với sự hình thành và phát triển của Văn hóa Đông Sơn Đồ đồng Văn hóa Đông Sơn so với các giai đoạn khác không chỉ hơn hẳn về số lượng mà còn hơn hẳn về sự phong phú,
đa dạng của các loại hình, sự xuất hiện của các loại sản phẩm mới được chế tạo bằng kỹ thuật và nghệ thuật cao Từ các kim loại đồng, thiếc, chì thu được nhờ luyện quặng, người Đông Sơn đã pha chế thành các hợp kim khác nhau
để đúc ra các loại đồ đồng cần thiết cho cuộc sống Sự đặc biệt của đồ đồng Đông Sơn là thành phần đồng - chì - thiếc Loại hợp kim đồng chì thiếc có ưu điểm: dễ nóng chảy, dễ điền đầy vào các chi tiết vật đúc đặc biệt là các hoa văn trang trí tinh tế nhưng vẫn có độ cứng thích hợp Những sản phẩm đồ đồng thau Đông Sơn gồm những đồ đựng như thạp, âu Nhạc cụ thì gồm trống, chuông Những công cụ và vũ khí được tạo dáng đẹp như dao găm cán hình người, hình thú, tượng tròn đúc rời, các loại rìu xéo Rìu xòe cân Kỹ thuật đúc trống đồng Đông Sơn là kỹ thuật đúc bằng khuôn phá Năm 1999 tại Bắc Ninh đã tìm thấy một mảnh khuôn đúc trống Còn đối với vũ khí, công cụ
Trang 29thì áp dụng phổ biến khuôn giữ hai mang Việc sử dụng từng loại khuôn đối với từng loại vật đúc chứng tỏ kỹ thuật của người thợ Đông Sơn đã đạt đến trình độ cao Khuôn giữ Đông Sơn chủ yếu làm bằng đá, một số ít làm bằng gốm Mỗi khuôn đúc một hiện vật Nếu như nghề luyện kim đồng thau của người Đông Sơn, những điều kiện tự nhiên thuận lợi, sự có mặt phong phú của mỏ sắt gần như là lộ thiên, dễ khai thác là những nhân tố quyết định làm cho nghề luyện sắt, chế tạo sắt phát triển cho đến nay chỉ mới chỉ phát hiện vài khu luyện kim loại rất phổ cổ tập trung chủ yếu vào vùng sông Cả như: Xuân Giang (Hà Tĩnh) Đồng Mỏm ở lưu vực Sông Hồng, Sông Mã Về niên đại, theo sự phân tích của nhiều nhà nghiên cứu thì đồ sắt thời kỳ này vào khoảng thế kỷ 5- 7 TCN
Vai trò của luyện kim có lẽ không chỉ dừng lại ở chỗ nó đã tạo ra được những loại công cụ mới nhất về vật chất, mà còn tạo nên những chuyển biến đáng kể trong quan hệ xã hội Luyện kim không chỉ mang tính chất phổ thông, đơn giản như chế tác gốm, đá, làm mộc hay dệt vải Nó đòi hỏi phải có
sự chuyên môn hóa cao Sự phân công lao động, sự xuất hiện của một nhóm thợ luyện kim tách khỏi nghề làm ruộng thì dĩ nhiên đây là những động lực thúc đẩy nhanh hơn những thay đổi trong xã hội
Việc chế tạo gốm
Tuy đồ gốm không bao giờ giữ vị trí then chốt nào đó trong nền kinh tế
xã hội cũng chưa bao giờ tạo nên một bước ngoặt lịch sử nào đó như đồ đồng,
đồ sắt, nhưng nó là vật dụng không thể nào thiếu được đối với những cư dân đặc biệt là cư dân nông nghiệp lấy trồng trọt làm cơ sở Đến thời đại Văn hóa Đông Sơn đồ gốm cổ nước ta đã trải qua lịch sử nhiều thiên niên kỷ qua sự phát triển tiến bộ của nó trên chặng đường là rõ ràng, nhưng dù sao thì cho đến tận thời kỳ Đông Sơn muộn đồ gốm của người Việt cổ vẫn chưa vượt qua giai đoạn đồ đất nung Về cơ bản thì đồ gốm giai đoạn này được làm từ chất liệu sét pha cát Chất lượng của gốm có sự khác biệt nhất định ở từng giai đoạn sớm hay muộn Kỹ thuật tạo hình gốm cao thể hiện ở sự đa dạng của
Trang 30loại hình sản phẩm và qua dáng nhìn nghiêng phức tạp, nhiều góc gãy Nhìn chung gốm Đông Sơn có kích thước lớn Người thợ gốm Đông Sơn còn dùng
cả phương pháp tạo hình bằng cách dùng khuôn để chế tạo nhanh những đồ gốm mô phỏng theo hình dáng đồ dùng thật trong cuộc sống hàng ngày Thợ gốm Đông Sơn còn biết làm đẹp mặt ngoài các sản phẩm của mình bằng cách quét lớp áo thổ hoàng và tạo hoa văn Hoa văn gốm Đông Sơn nghèo nàn Người Đông Sơn dùng phổ biến những loại hoa văn có nguồn gốc kỹ thuật và thực tế vẫn đóng vai trò làm tăng chất lượng sử dụng của đồ gốm Đó là các loại hoa văn thừng, văn chải, khắc vạch Người Đông Sơn vùng Sông Mã còn thích nhuộm đỏ sản phẩm gốm của mình bằng thổ hoàng
Chế tạo thủy tinh
Sản xuất thủy tinh là một nghề hoàn toàn mới, chỉ ra đời vào thời Đông Sơn Nói về trình độ kỹ thuật, thủy tinh Đông Sơn mới chỉ là thủy tinh sơ khai: thủy tinh đục và có thể tu sửa, gia công bằng những dụng cụ tương tự như Sa Huỳnh, chỉ có đồ trang sức, đó là hạt chuỗi, vòng tay, khuyên tai với các hình dáng khác nhau Về màu sắc thủy tinh thường có màu trắng, nâu, lam, vàng, đỏ, tía Vòng tay và vòng tai là loại có màu xanh lá cây già, ngoài
ra còn có màu xanh lơ, xanh ngọc
Chế tác đá thời Đông Sơn
Chế tác đá là nghề thủ công truyền thống duy nhất đi vào suy thoái mạnh
mẽ thời Văn hóa Đông Sơn các công cụ đá như: rìu bôn, bàn mài, hòn kê, cuốc chiếm một vụ trí khiêm tốn trong bộ sưu tập di vật Đông Sơn chúng đã bị công
cụ đồng sắt thay thế rất tích cực Nghề chế tác đá chỉ còn giữ được phần nào vai trò dang dở một thời trong lĩnh vực sản xuất đồ trang sức
Sự tồn tại của công xưởng chế tác đồ trang sức chứng tỏ nhu cầu đối với loại sản phẩm này rất cao Đồng thời nó chứng tỏ sự đòi hỏi chuyên môn hóa của kỹ thuật chế tạo đồ trang sức Sản phẩm độc tôn của thời kỳ này là khuyên tai hình vành khăn Về mặt kỹ thuật chế tác đồ trang sức đá thời Đông Sơn tiến bộ và tinh xảo hơn với giai đoạn trước Những khuyên tai thời Đông
Trang 31Sơn thường có lõi rất nhỏ và thành lõi gần như thẳng đứng phẳng, điều đó chứng tỏ mũi khoan cố định, động tác khoan hết sức chính xác
Nghề mộc và sơn thời Đông Sơn
Ngoài những tư liệu gián tiếp, chúng ta còn những chứng cứ về chính
đồ gỗ tuy rất hiếm và trong trạng thái bảo tồn kém Đó là những di tích cột nhà sàn bị cháy thấy ở di tích Đông Sơn, những dụng cụ, đồ dùng bằng gỗ tìm thấy ở trong các mộ thuyền Khi nghiên cứu về đồ sơn tìm thấy trong mộ thuyền Việt Khê, Minh Đức có niên đại vài thế kỷ trước công nguyên, nhiều người đã phải ngạc nhiên trước sự bền đẹp của những đồ sơn mài này So với một số nghề thủ công khác như là nghề gốm, nghề mộc nghề sơn ít phổ biến hơn hẳn Đồ sơn của thời Đông Sơn được bảo lưu cho đến ngày nay là đồ tùy táng và thường trong các mộ nhà giàu
Nghề dệt vải thời Đông Sơn
Các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều dọi xe chỉ thậm chí cả dấu vải trong các di tích Đông Sơn Sự phong phú của trang phục, khăn mũ của người Đông Sơn được ghi lại rất nhiều qua những hoa văn của đồ đồng Đông Sơn Một điều thuyết phục hơn cả chính dấu tích vải được tìm thấy trong mộ và thường bị mủn nát ở các Làng Vạc, Thiệu Dương, Núi Nấp, Việt Khê
- Cuộc sống hàng ngày của người Đông Sơn
Chủ nhân Văn hóa Đông Sơn là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, sông ngòi ao hồ sẵn, rừng rậm bao quanh Cuộc sống hàng ngày của họ từ việc lựa chọn nơi sinh
cơ lập nghiệp, xây cất nhà ở đến tập quán ăn mặc, đi lại đều phản ánh sự thích ứng hòa nhập với nền tảng kinh tế và điều kiện thiện nhiên
Nhà ở của người Đông Sơn
Trung tâm tụ cư của người Đông Sơn là vùng đồng bằng các hệ thống sông lớn Ở lưu vực Sông Hồng, làng xóm Đông Sơn phân bố trên phạm vi rộng lớn, có sự khác biệt nhất định về mặt địa hình Thường là những nơi cao
Trang 32ráo, thậm chí ở sườn núi hay trên những quả đồi thấp, nhưng bao giờ cũng tuân thủ nguyên tắc nằm gần các con sông lớn hay chi lưu của chúng
Vết tích nhà sàn Đông Sơn được các nhà khảo cổ học phát hiện Việc lựa chọn nhà sàn của người Việt cổ thể hiện lối ứng xử thông minh trước môi trường tự nhiên Đó là cấu trúc nhẹ nhàng, thích ứng với vật liệu tre, nứa, mái lợp tranh, rạ, thoáng đãng thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Quan điểm xây nhà như thế đã trở thành truyền thống của người Việt, nó còn tồn tại đến tận bây giờ
Trang phục của người Đông Sơn
Trang phục của người Đông Sơn thể hiện rõ tính chất của dân cư vùng nhiệt đới nóng ẩm Quần áo, váy, khăn cắt may đơn giản, nhẹ nhàng, thoáng Hầu hết các tượng người Đông Sơn và các hoa văn hình người chạm khắc trên
đồ đồng Đông Sơn đều thể hiện người cởi trần như cặp nam nữ trên nắp thạp Đào Thịnh và phần lớn tượng cán dao găm Ngay trong lễ hội, nam nữ đều đổi chiếc khố thường ngày thành chiếc váy dài, đầu đội mũ lông chim hay cắm lông chim, cành lau cao vút Phụ nữ Đông Sơn có kiểu áo khá hoàn chỉnh Họ mặc áo cánh dài tay, thân và vạt bó lấy thể hiện rõ đường cong cơ thể Nam giới thì nhìn chung là đóng khố Các tượng gắn trên dao găm, trên nắp thạp Đào Thịnh hay các người khắc trên trống còn cho ta hình dung người Đông Sơn có các kiểu tóc khác nhau, kiểu búi tó, tết bím, quấn ngược lên đỉnh đầu, kiểu tóc ngắn
Trang 33riêng vòng ống có tới 6 kiểu Vòng cổ trở nên phổ biến nhờ sự có mặt của các hạt cườm, hạt chuỗi thủy tinh Trong mộ Đông Sơn ta thấy những hạt chuỗi cườm gồm hàng trăm hạt được xâu lại với nhau
2.1.3.2 Văn hóa tinh thần của cư dân Đông Sơn
Nền văn minh Đông Sơn có sức sống mãnh liệt, phát triển rực rỡ ắt hẳn phải do những chủ nhân tài hoa với cuộc sống nội tâm phong phú sáng tạo nên Nghiên cứu đời sống tinh thần của chủ nhân văn hóa Đông Sơn phải dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau Trong số đó, quan trọng nhất vẫn là khối tài liệu khảo cổ Những di vật và di tích “biết nói” trong lòng đất sẽ cho chúng
ta biết ít nhiều về trình độ thẩm mỹ, bàn tay khéo léo của chủ nhân nó trong lĩnh vực tạo hình và nhiều nền nghệ thuật khác, chúng ta cũng đoán định được những suy tư, tư duy khoa học cũng như một số phong tục tín ngưỡng của người đương thời Bên cạnh tư liệu khảo cổ, những tư liệu thành văn hiếm hoi
mà phần lớn lại do người đời sau ghi lại, trong đó có cả một bộ sử Trung Quốc, cũng giúp ta tìm hiểu các khía cạnh tinh thần của người Đông Sơn Một
số tài liệu văn hóa dân gian được truyền tụng qua nhiều đời, trở nên một kho báu lưu giữ nhiều giá trị tâm linh người Việt cổ, nếu như chúng ta biết cách
“chắt lọc” từ những đám mây mù huyền thoại ra những sự thật lịch sử Tài liệu dân tộc học cũng hỗ trợ đắc lực cho việc lý giải nhiều hiện vật khảo cổ trong bước đường tìm hiểu những giá trị tinh thần Đông Sơn Nhiều khi chính những tài liệu dân tộc học lại là những mảnh vụn gần như nguyên mẫu của một truyền thống Đông Sơn đã qua hàng thiên niên kỷ
- Tôn giáo tín ngưỡng
Nhiều người cho rằng người Việt đương thời theo tôn giáo Có nhiều sử sách ghi chép lại: Người Lạc Việt, lạc tướng, lạc dân, lạc điền là chỉ cộng đồng người có thờ chim lạc mà hình ảnh ấy được thể hiện trên trống đồng Lại
có ý kiến cho rằng ngoài chim còn có hươu Còn có nhiều phỏng đoán nếu người Việt theo một tôtem của động vật nào đấy hoặc nhiều động vật thì ta thấy không chỉ có chim, hươu mà còn có giao long, bò, cóc xuất hiện nhiều
Trang 34trên đồ đồng Đông Sơn Có thể có một hệ thống thần thoại ổn định đa thần giáo Nhiều tín ngưỡng được bảo lưu và phát triển các tàn dư của các hình thức tôn giáo nguyên thủy, thờ các lực lượng thiên nhiên và siêu nhiên, tín ngưỡng vật tổ, ma thuật, thờ tổ tiên và phồn thực thể hiện ở hàng loạt những hội hè
Phong tục tập quán của người Đông Sơn được phản ánh ở nhiều sự tích
cổ khác nhau Người Đông Sơn có tục nhuộm răng, ăn trầu Ở một số địa điểm khảo cổ học đã phát hiện những chiếc răng trong mộ được nhuộm đen Người Đông Sơn còn có tục xăm mình, tục này được các cư dân ven biển, sông lớn còn được sử dụng kéo dài cho đến tận ngày nay Tục ăn đất, tục uống nước bằng mũi của người Đông Sơn còn được khắc họa rõ trên mặt trống Ngọc Lũ Người xưa cho rằng giã cối làm hiệu lệnh khi có người chết, giã cối để truyền tin hay trong lễ hội của dân Đông Sơn cũng có hoạt cảnh đôi trai gái mang cối ra giã thể hiện ước vọng sinh sôi nảy nở
Tục ma chay của cư dân Đông Sơn cũng hết sức quan trọng, đánh dấu một trong những cái mốc quan trọng trong cả cuộc đời con người Ở Đông Sơn, họ cho rằng người chết chấm dứt cuộc sống ở bên này và bắt đầu cuộc sống ở bên kia Thế giới bên kia vừa có cái giống lại vừa có cái khác thế giới của họ đang tồn tại Cuộc sống của cư dân người Đông Sơn sau khi chết cũng tương tự như khi sống Người chết phải lao động và chiến đấu Chính vì vậy
họ chôn theo người chết các công cụ như rìu, thuổng, dao găm, mũi tên, giáo Người chết cũng phải ăn uống, vui chơi sinh hoạt thì họ chôn theo muôi, bát, trống Tuy nhiên đồ chôn theo có khác đồ họ đang dùng, họ đập bẹp trống, thạp, họ bẻ cong dao găm rồi mới chôn theo người chết Trong văn hóa Đông Sơn còn có một số đồ tùy táng đặc biệt được thu nhỏ so với đồ vật dụng bình thường gọi là đồ “minh khí” Cũng có thể ngoài ý nghĩa tiết kiệm nguyên liệu, công sức để tạo nên vật dụng, còn có ý nghĩa tượng trưng cho nó khác đồ dùng hàng ngày
Trang 35Loại mộ phổ biến nhất trong văn hóa Đông Sơn đó là mộ quan tài hình thuyền hay còn gọi là mộ thân cây khoét rỗng Mộ loại này thường được tìm thấy ở những vùng sông nước như mộ Việt Khê, La Đôi, Chân Can
Lý do là khi sống họ gắn với thuyền và khi chết họ cũng muốn có chiếc thuyền để sang thế giới bên kia của cư dân vùng sông nước Ngoài ra còn có
mộ quan tài đóng đinh Những mộ này hình chữ nhật và cũng được chôn theo
đồ tùy táng (khu mộ làng Cả) Có nhiều ý kiến cho rằng loại mộ này có ảnh hưởng giao lưu của văn hóa phương Bắc
Thời Đông Sơn còn có tục hỏa táng Trong địa điểm Đào Thịnh, chiếc thạp và trống đồng có chứa nhiều than tro xương vụn và đồ tùy táng
- Lễ hội của người dân Đông Sơn
Một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cư dân Đông Sơn đó là các lễ hội Có thể lễ hội là một nửa cuộc sống của họ và
số lượng ngày hội của cư dân nông nghiệp như cư dân Đông Sơn tương đối nhiều, rải rác quanh năm Những ngày hội nhân dịp mừng vui của một đời người : cưới xin, sinh nở hay dịp chia tay của người chết với thế giới hiện tại Những ngày hội chịu sự tri phối của bởi quy luật thiên nhiên, nhiều ngày không mưa sinh ra hội cầu mưa, lụt lội thiên tai dẫn đến hội cầu nước rút Một
số hội mang tính chu kì của năm: hội mừng một sự bắt đầu của chu kỳ thời tiết một năm (mừng năm mới), mừng thành quả của một công đoạn lao động nhọc nhằn (hội mùa), hội đua sức khỏe và tài năng (hội đua thuyền)
- Âm nhạc của cư dân Đông Sơn
Âm nhạc là ngành nghệ thuật quan trọng và đã khá phát triển Không những dụng cụ âm nhạc tìm được nhiều: bộ gõ (trống đồng, trống da, chuông nhạc, sênh, phách), bộ hơi (khèn) mà nghệ thuật thanh nhạc cũng thể hiện qua nhiều hình thức
Nhạc cụ quan trọng bậc nhất là trống đồng, không những phổ biến ở ta
mà còn phổ biến ở nhiều vùng Đông Nam Á Trống đồng là một nhạc cụ tạo tiết tấu chính cho cả dàn nhạc Bằng kinh nghiệm chọn lọc các hợp kim khi
Trang 36đúc, người xưa đã tạo được những âm thanh trầm vang của trống, đó là âm sắc có độ ấm mà không đục, có độ vang mà không rè Những hình khắc trên trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà cho ta thấy được người Đông Sơn không chỉ đánh một trống mà họ còn sử dụng nhiều loại trống từ nhỏ đến lớn tạo ra được một dàn âm thanh khác nhau Người Đông Sơn không chỉ có trống mà
có cả chuông đồng, trong đó có cả chuông để gõ và chuông để rung, thêm vào
đó có cả khèn
- Mỹ thuật thời Đông Sơn
Người Đông Sơn không chỉ là những cư dân lạc quan yêu đời, có tâm hồn phong phú mà họ còn là những nghệ sỹ nhưng lại có lối tư duy khoa học trong việc tạo cho mình những phong cách mỹ thuật riêng mà không bị lẫn với bất cứ một phong cách nào trên thế giới có được
Mô típ trang trí hoa văn Đông Sơn là hoa văn tả người, động vật, đồ vật
và hoa văn hình học Những mô típ hoa văn đẹp đẽ của người Đông Sơn càng được tôn thêm vẻ đẹp tuyệt mỹ nhờ bố cục tài tình của người nghệ sỹ Đó là
sự bố cục theo đường nền của vật được trang trí, như trống đồng Ngọc Lũ Mảng hoa vănđậm nét nhất là hình mặt trời Tiếp đó là những vành hoa văn hình học rồi đến mảng hoa văn hình người, động vật, đồ vật trên trống, thạp
có bố cục không gian hai chiều, quay ngược chiều kim đồng hồ tạo cảm giác thế giới luôn vận động Người Đông Sơn còn sử dụng mảng hoa văn đối xứng như: hình người, động vật và đồ vật, đối xứng qua tâm trống Nhìn chung, nghệ thuật Đông Sơn có phong cách hiện thực, nhưng dần cũng bị cách điệu hóa, ví dụ như người múa, hình nhà sàn có xu hướng sơ đồ hóa Dòng tượng trang trí trong Văn hóa Đông Sơn cũng rất phong phú Đó là những khối tượng tạo ra với ý nghĩa tô điểm cho đồ vật quý như trống, thạp Đôi khi lại ngược lại, chính những đồ vật đó lại làm nền cho bức tượng ví dụ như dao găm có cán tượng người và động vật Tượng được trang trí có số lượng lớn, chiếm đa số trong điêu khắc Đông Sơn Tượng được thể hiện phong phú và sinh động Người Đông Sơn có óc sáng tạo, dường như bàn tay khéo léo của
Trang 37họ đã làm cho đồ vật trở nên có hồn hơn Sinh động nhất là khối tượng người nhảy múa ở làng cổ Đông Sơn, tượng miêu tả hai người chít khăn, khuyên tai nổi rõ Mắt và miệng được thể hiện từng chi tiết Hình người cõng nhauđang nhún nhảy theo từng đôi chân theo điệu khèn, tay ôm vòng lấy người ngồi sau lưng Còn người được cõng thì đang say xưa thổi khèn
Người Đông Sơn có đầu óc sáng tạo nghệ thuật Dường như dưới bàn tay của họ thì mọi đồ vật trở nên có hồn hơn Đó là những tượng hình người trên cán dao găm, kiếm Tượng người trên đồ vật khác như nắp thạp Đào Thịnh, ấm Đông Sơn, khung chạm Lãng Ngâm Khối tượng hình động vật: tượng voi được gắn trên cán muôi hoặc cán dao găm tìm được ở Làng Vạc Tượng chim Đào Thịnh có khâu đeo ở lưng thực sự là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình đẹp
Mặc dù số lượng tượng Đông Sơn không nhiều song nó đều có những nét đặc trưng nghệ thuật độc đáo Nó bình dị, gần gũi với đời sống hàng ngày của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, nhưng đường nét lại hết sức tinh tế tạo được một thần thái Đông Sơn mà không một nơi nào trên thế giới có được
Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa có trình độ phát triển cao về đời sống kinh tế, kỹ thuật, đời sống tinh thần cho phép ta giả thiết về cơ sở vật chất của một nhà nước sơ khai, thời kỳ của các Vua Hùng dựng nước Sức sống mãnh liệt của nền văn hóa Đông Sơn thời đại các Vua Hùng chính là nguyên nhân giải thích vì sao ở những kỳ sau, khi đất nước bị một ngàn năm
đô hộ của các tập đoàn phong kiến phương Bắc, dân tộc Việt Nam vẫn không
bị đồng hóa và vẫn được bảo tồn để rồi vươn lên khi đất nước giành độc lập,
tự chủ [tr26-43; 2]
2.2 Sưu tập hiện vật đồ đồng Văn hóa Đông Sơn trưng bày tại bảo tàng Nhân học
2.2.1 Khái niệm sưu tập – Sưu tập hiện vật Bảo tàng
Để hình thành mỗi một chủ đề trưng bày trong toàn bộ nội dung trưng bày của Bảo tàng, các cán bộ Bảo tàng phải tiến hành công tác nghiên cứu,
Trang 38sưu tầm hiện vật rồi sau đó mới kiểm kê, chọn lọc ra những hiện vật trưng bày phục vụ công tác tuyên truyền giáo dục Có thể nói, trải qua rất nhiều khâu công tác, hiện vật và sưu tập hiện vật được trưng bày phù hợp với nội dung và loại hình của Bảo tàng nhằm mang lại hiệu quả giáo dục nhất định
Sự hình thành sưu tập bao giờ cũng xuất hiện trước khi có Bảo tàng đó
là một quá trình lâu dài và quan trọng không thể thiếu để hình thành nội dung trưng bày Bảo tàng Bởi có hình thành được hiện vật và sưu tập hiện vật nhờ quá trình nghiên cứu sưu tầm thì mới có những nội dung trưng bày phù hợp với loại hình Bảo tàng
Dưới đây là một số khái niệm liên quan:
Khái niệm bảo tàng: Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu
tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân.[tr30; 14]
Khái niệm hiện vật bảo tàng: Là nguồn sử liệu gốc quan trọng hàm
chứa các thông tin gốc về lịch sử xã hội, tự nhiên và con người và môi trường xungquanh con người được tài liệu hóa khoa học và bảo quản, trưng bày trong Bảo tàng.[tr.17;11]
Khái niệm sưu tập: Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có
hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội.[tr.10;14]
Khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng: Là một tổng thể hiện vật được tập
hợp theo những dấu hiệu đặc trưng nào đó liên quan đến các mặt nội dung đề tài, loại hình (hiện vật) chất liệu, công dụng, địa điểm, thời gian xuất hiện và
nó chứa đựng các giá trị thông tin trở thành nguồn khai thác cho các lĩnh vực hoạt động khoa học giáo dục lịch sử văn hóa, nghệ thuật [tr.53;1]
2.2.2 Nguyên tắc xây dựng sưu tập hiện vật Bảo tàng
Sưu tập hiện vật bảo tàng có vai trò quan trọng trong bảo tàng Là cơ sở
để hình thành của hầu hết các bảo tàng trên thế giới cũng như Việt Nam đều
Trang 39có nguồn gốc cơ bản giống nhau, đó là sự dày công trong việc nghiên cứu, xây dựng các sưu tập hiện vật và coi các sưu tập hiện vật là nền tảng không thể thiếu được và có tính quyết định cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của bảo tàng Sưu tập hiện vật có tác dụng tạo nên sự hấp dẫn của người xem đối với bảo tàng Nguyên tắc xây dựng sưu tập được tiến hành theo năm bước:
Bước thứ nhất: Xác định tên sưu tập Đây là bước đầu rất quan trọng vì
bước này hình thành sưu tập cụ thể của bảo tàng và nó sẽ chi phối các bước tiếp theo trong quá trình tiến hành xây dựng sưu tập Xác định tên sưu tập chính là xác định dấu hiệu chung mà nhiều hiện vật bảo tàng đều có
Bước thứ hai: Sơ chọn hiện vật Đây là bước thực hiện trên nguyên tắc
chung, cần tập hợp tài liệu hiện có trong kho bảo tàng theo tên sưu tập Sưu tập đều sơ chọn và được thống kê vào danh sách có năm cột: số thứ tự, tên gọi
và nội dung tóm tắt của hiện vật, số ký hiệu, nơi bảo quản, ghi chú
Bước thứ ba: Hoàn thiện hồ sơ Hoàn thiện hồ sơ tối thiểu của bảo tàng,
có từng hiện vật theo quy định nghiệp vụ về hiện vật bảo tàng Trên cơ sở bảng thống kê sơ chọn hiện vật được tiến hành ở bước thứ hai, những người tham gia xây dựng sưu tập tiếp tục nghiên cứu hồ sơ (biên bản nhận, ghi chép hiện vật, biên bản bàn giao)
Bước thứ tư: Nghiên cứu thẩm định hồ sơ Bước này được tiến hành
với những hiện vật đã hoàn thiện hồ sơ ở bước thứ ba Kết quả thẩm định hồ
sơ được ghi vào một phiếu thẩm định hồ sơ bổ sung hiện vật, gồm các mục sau: tên gọi hiện vật, số đăng ký, tên và mã số của sưu tập, nhận xét khái quát tình trạng hồ sơ gốc, những bổ sung bước đầu
Bước thứ năm: Lập sổ sưu tập Kết thúc bước thứ tư, chúng ta đã tập
hợp được những hiện vật bảo tàng cũng có chung nhiều dấu hiệu được xác định ở bước thứ nhất Đến đây các bước xây dựng sưu tập cơ bản đã hoàn thành và sổ sưu tập độc lập gồm: Phần đầu sổ sưu tập gồm có: tên bảo tàng, tên sưu tập, sổ sưu tập, phần ruột sổ sưu tập gồm có: số thứ tự, tên gọi và nội dung tóm tắt hiện vật, số ký hiệu, ngày đưa vào sưu tập, ghi chú
Trang 402.2.3 Sưu tập hiện vật đồ đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Nhân học
Nói đến văn hóa Đông Sơn, điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất là bộ hiện vật bằng đồng thau cực kỳ phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, có trình độ cao về kỹ thuật chế tác và óc thẩm mỹ nghệ thuật Bộ hiện vật bằng đồng thau của văn hóa Đông Sơn không thể nào nhầm lẫn với bất cứ một sưu tập hiện vật đồng thau của bất kỳ nền văn hóa khảo cổ nào trên thế giới
Từ lâu, trước khi nền văn hóa Đông Sơn được xác lập, những di vật đồng thau nổi tiếng của nó đã được biết đến và số lượng các di vật này đã gia tăng nhanh chóng cùng với các cuộc khai quật và sưu tầm của L.Pajot và O Janse ở Đông Sơn và những nơi khác Cùng với thời gian và quy mô mở rộng nghiên cứu văn hóa Đông Sơn của giới khảo cổ học Việt Nam, kho di vật đồ đồng đó càng trở nên phong phú Con số đã lên tới hàng nghìn chiếc, trong
đó có rất nhiều di vật độc đáo lần đầu tiên biết đến [tr440-441; 23]
Hiện vật Bảo tàng có vai trò to lớn đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển củaBảo tàng Hiện vật Bảo tàng trước hết phải là hiện vật gốc của lịch sử
tự nhiên và lịch sử xã hội được lấy ra trực tiếp từ hiện thực xung quanh chúng
ta Vì vậy nó có tính khách quan và tính chân thực lịch sử, không ai có thể sáng tạo ra chúng theo ý muốn chủ quan Hiện vật gốc chính là cơ sở thực tiễn cho sự nảy nở và phát triển những nhận thức về các hiện tượng lịch sử xã hội
và lịch sử tự nhiên Tài liệu hiện vật văn hóa Đông Sơn thực sự chứa đựng những thông tin lịch sử khoa học tự nhiên và lịch sử khoa học xã hội tiêu biểu của dân tộc Việt Nam trong thời kì dựng nước đầu tiên Tài liệu hiện vật Văn hóa Đông Sơn phản ảnh sinh động, khách quan quá trình phát sinh, phát triển không ngừng của xã hội lúc bấy giờ Tài liệu hiện vật gốc Văn hóa Đông Sơn được xem là vật chứng chân thực của sự kiện, hiện tượng lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội thời đại Đông Sơn
Trưng bày hiện vật đồng Văn hóa Đông Sơn do cán bộ làm công tác trưng bày đã lựa chọn những hiện vật tiêu biểu đặc trưng về kiểu dáng cũng