Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về những giá trị văn hoá hàm chứa trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ở một số địa phương Miền Bắc
Khẳng định vai trò của bảo tàng trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị Di sản Văn hoá phi vật thể
Mạnh dạn đề xuất một số ý kiến để bảo tàng hoàn thiện và giới thiệu sâu hơn nội dung trưng bày về chuyên đề tín ngưỡng thờ Mẫu.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lê Nin
- Phương pháp khoa học để tiến hành phân tích nghiên cứu về tín ngưỡng thờ mẫu: Bảo tàng học, Xã hội học, Văn hoá học
Bố cục của khoá luận
Bài khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận, có 3 Chương:
Chương 1: Bảo tàng trong việc bảo tồn Di sản văn hoá phi vật thể
Chương 2: Đạo Mẫu trong đời sống xã hội đương đại Việt Nam
Chương 3: Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá trong tín ngưỡng thờ mẫu ở Việt Nam.
BẢO TÀNG TRONG VIỆC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HOÁ
Một số khái niệm
1.1.1 Khái ni ệ m b ả o tàng, hi ệ n v ậ t b ả o tàng và s ư u t ậ p hi ệ n v ậ t b ả o tàng
Bảo tàng là những ngôi nhà bảo tồn những báu vật của nhân loại, giữ gìn ký ức của các dân tộc và nền văn hóa, cùng với những ước mơ và hy vọng của con người Theo định nghĩa của ICOM (Hội đồng Quốc tế các Bảo tàng), được thông qua tại kỳ họp thứ 20 ở Seoul, Hàn Quốc vào tháng 10/2004, bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và truyền tải di sản văn hóa.
Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, thường xuyên mở cửa cho công chúng, phục vụ cho sự phát triển xã hội Nơi đây sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể liên quan đến con người và môi trường, nhằm mục đích giáo dục, nghiên cứu và thưởng thức.
Theo Luật Di sản Văn hóa năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009, Bảo tàng được định nghĩa là một thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày và giới thiệu di sản văn hóa Bảo tàng cung cấp bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường xung quanh, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về Bảo tàng nhưng các định nghĩa đều khẳng định:
Bảo tàng là một thiết chế văn hoá đặc thù, một cơ quan văn hoá, khoa học và giáo dục
1 Timothy Ambrose và Crispin Daine Cơ sở Bảo tàng Bảo tàng CMVN dịch và xuất bản, 2000, tr24
Bảo tàng nghiên cứu và giới thiệu các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cùng với môi trường sống của con người.
Bảo tàng thực hiện các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, thu thập và bảo quản hiện vật, nhằm gìn giữ và trưng bày các bộ sưu tập liên quan đến lịch sử xã hội, tự nhiên Đồng thời, bảo tàng cũng cung cấp thông tin về các sưu tập này cho công chúng.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, tri thức khoa học đang có sự phát triển mạnh mẽ, và bảo tàng ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội Là một thiết chế phi lợi nhuận, bảo tàng luôn hướng tới mục tiêu phục vụ lợi ích công chúng, mặc dù vẫn cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và có thể được thanh toán bằng tiền.
Khái niệm về bảo tàng hiện nay có phần được mở rộng và đa dạng hơn
Bảo tàng được hiểu là một cơ quan văn hóa đặc thù, bao gồm năm không gian chính: không gian trưng bày trong và ngoài bảo tàng, không gian bảo quản và xử lý hiện vật, không gian dành cho thiết bị kỹ thuật, không gian cho cán bộ chuyên môn và hành chính, cùng không gian cho các hoạt động dịch vụ Bên cạnh đó, bảo tàng còn có nhiều chức năng xã hội quan trọng.
Bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học và giáo dục, là chức năng cơ bản của nó Hoạt động nghiên cứu của bảo tàng không chỉ giúp phát hiện thông tin khoa học mới mà còn truyền bá kiến thức và kết quả nghiên cứu vào sản xuất, phục vụ đời sống con người Chức năng này là tiền đề cho mọi hoạt động của bảo tàng, góp phần nâng cao giá trị và ý nghĩa của nó trong xã hội.
Chức năng giáo dục tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao thông tin và tri thức về khoa học, lịch sử, văn hóa Qua các hoạt động đa dạng, chức năng này giúp hình thành thế giới quan, giáo dục tư tưởng, đạo đức và thẩm mỹ, từ đó hỗ trợ sự phát triển toàn diện của con người.
Chức năng bảo tồn di sản văn hoá nhằm mục đích gìn giữ và bảo quản các hiện vật, sưu tập hiện vật trong tình trạng ổn định lâu dài Điều này giúp kéo dài tuổi thọ cho các hiện vật và sưu tập, đồng thời ngăn chặn sự huỷ hoại do các yếu tố môi trường, sinh học, thiên tai hoặc tác động từ con người.
Bảo tàng đóng vai trò quan trọng như một trung tâm thông tin và giải trí, nơi nghiên cứu và lưu giữ các di sản văn hóa của nhân loại Nhiệm vụ của bảo tàng là truyền tải những thông điệp ý nghĩa về các nền văn minh thông qua việc sưu tầm và bảo tồn các giá trị văn hóa mà con người đã sáng tạo.
Bảo tàng thực hiện chức năng giải trí thông qua các hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ văn hóa phong phú, giúp công chúng tham quan dễ dàng hiểu, ghi nhớ và cảm thấy thoải mái Người tham quan có thể tự do lựa chọn và chủ động tham gia vào các hoạt động của bảo tàng, từ đó thỏa mãn nhu cầu thưởng thức giá trị di sản văn hóa thực sự.
Chức năng tài liệu hoá khoa học là quá trình ghi chép và lưu trữ các sự kiện, hiện tượng trong lịch sử tự nhiên và xã hội thông qua việc sử dụng hiện vật gốc.
Để thực hiện chức năng của mình, bảo tàng cần nghiên cứu các sự kiện lịch sử và sự nghiệp của danh nhân, từ đó tổ chức sưu tầm và lựa chọn những tài liệu hiện vật gốc có giá trị Bảo tàng phải tiến hành ghi chép hồ sơ khoa học-pháp lý cho các hiện vật, đồng thời thực hiện đầy đủ các thủ tục bảo tàng học như đăng ký, vào sổ kiểm kê và bảo quản chúng theo chất liệu Mục tiêu là gìn giữ di sản văn hóa nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục và phổ biến tri thức cho công chúng, góp phần vào sự phát triển của xã hội.
Các bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chức năng giáo dục và thu hút khách tham quan từ các cộng đồng địa phương Sự tương tác giữa các yếu tố cộng đồng và việc phát huy di sản của họ là một phần thiết yếu trong nhiệm vụ giáo dục của bảo tàng.
Bảo tồn Di sản văn hoá phi Vật thể
1.2.1 Nh ậ n th ứ c và quan đ i ể m ti ế p c ậ n
Bảo tồn di sản văn hóa là một vấn đề quan trọng toàn cầu, đòi hỏi các giải pháp phù hợp để duy trì giá trị văn hóa nguyên gốc cho các thế hệ sau Người cán bộ văn hóa có trách nhiệm chuyển giao những giá trị này một cách đầy đủ và chính xác Để thực hiện điều này, cần có nhận thức đúng đắn về di sản văn hóa và tiếp cận với tinh thần trách nhiệm cao.
Trước đây, di sản văn hoá phi vật thể thường bị xem nhẹ, coi là một phần chức năng của di sản văn hoá vật thể thay vì là một loại di sản độc lập Điều này dẫn đến sự thiếu quan tâm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của chúng, khiến nhiều giá trị văn hoá phi vật thể bị mai một và thất truyền.
Sau cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 32, UNESCO đã thông qua Công ước Bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể, mở ra cách tiếp cận toàn diện cho loại hình di sản này Tuy nhiên, mỗi quốc gia vẫn có định nghĩa và phân loại riêng, phù hợp với điều kiện lịch sử và văn hoá của mình Tại Việt Nam, di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được xem là hai bộ phận hữu cơ cấu thành di sản văn hoá dân tộc, có mối liên hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau và tôn vinh giá trị của nhau, nhưng vẫn giữ tính độc lập tương đối.
Di sản văn hóa phi vật thể phụ thuộc vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa Khi chủ sở hữu di sản là một cộng đồng cư dân, ý chí, khát vọng và nhu cầu của họ ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của di sản.
PGS.TS Đặng Văn Bài nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể từ góc nhìn toàn cầu hóa Ông cho rằng, những di sản này không chỉ cần được bảo tồn mà còn phải được sử dụng và khai thác một cách hợp lý để đáp ứng nhu cầu văn hóa của cá nhân và cộng đồng Các yếu tố quyết định trong việc lựa chọn di sản nào cần được bảo tồn và phương pháp bảo tồn sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển văn hóa bền vững.
Di sản văn hóa phi vật thể mang đậm tính dân gian, thể hiện qua kho tàng tri thức bản địa phong phú, hay còn gọi là “túi khôn dân gian,” bao gồm hiểu biết về môi trường, lao động sản xuất, dưỡng sinh trị bệnh và ứng xử xã hội Tri thức bản địa được tích lũy qua nhiều thế hệ, phản ánh sự tương tác giữa con người và tự nhiên, đồng thời mang dấu ấn của cộng đồng sáng tạo, tạo nên sự đa dạng trong di sản văn hóa của quốc gia và dân tộc Đặc trưng này không chỉ làm tăng mức độ tinh tế trong di sản văn hóa phi vật thể mà còn thể hiện sự nhạy cảm với những tác động từ xã hội Sự nhạy cảm này, mặc dù dễ bị biến dạng, lại mở ra không gian sáng tạo cho các chủ thể văn hóa, góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa Việt Nam ở cả cấp độ quốc gia và địa phương.
Di sản văn hoá phi vật thể không chỉ liên quan đến các chủ thể văn hoá mà còn hòa quyện vào không gian sinh thái - nhân văn, nơi chúng được hình thành và hiện diện trong đời sống đương đại Điều này cho thấy di sản văn hoá phi vật thể không phải là bất biến, mà luôn chứa đựng những yếu tố mang hơi thở của thời đại Các thế hệ kế tiếp có quyền thừa hưởng giá trị di sản từ tổ tiên, đồng thời phải có trách nhiệm chọn lọc những tinh hoa để bảo tồn và chuyển giao Họ cũng cần sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới, làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hoá của quốc gia và nhân loại Các loại hình di sản văn hoá phi vật thể như Nhã nhạc cung đình Huế, Nghệ thuật ca trù Việt Nam, không gian văn hoá quan họ Bắc Ninh, và Nghệ thuật Chèo, Tuồng đều chứa đựng những dấu ấn sáng tạo qua nhiều giai đoạn lịch sử, không thể giữ nguyên như lúc mới ra đời.
Kho tàng di sản văn hóa quốc gia và cộng đồng dân tộc luôn bao gồm hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong quá trình giao lưu văn hóa Ở cấp độ quốc gia, yếu tố ngoại sinh là những tinh hoa văn hóa mà cộng đồng người Việt Nam tiếp thu có chọn lọc từ các quốc gia khác Tại cấp độ cộng đồng tộc người, yếu tố ngoại sinh thể hiện qua việc học hỏi từ các cộng đồng khác trong cùng lãnh thổ Ngược lại, yếu tố nội sinh là những giá trị văn hóa do các tộc người Việt Nam sáng tạo và chuyển giao cho thế hệ hiện tại Quan điểm này yêu cầu tôn trọng cả hai yếu tố để bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc và giao lưu văn hóa quốc tế Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam, di sản văn hóa đang đối mặt với nguy cơ bị huỷ hoại nghiêm trọng do sự thay đổi trong lối sống con người và ảnh hưởng của thiên nhiên.
Mục tiêu cơ bản của hoạt động bảo tồn di sản văn hoá
Bảo vệ di sản văn hoá là nhiệm vụ quan trọng nhằm khuyến khích sự sáng tạo trong xã hội và đảm bảo quyền tiếp cận bình đẳng cho mọi công dân Điều này tạo cơ hội cho tất cả mọi người tham gia vào việc bảo vệ, phổ biến và hưởng thụ giá trị văn hoá Mục tiêu chính là bảo tồn, phát huy và chuyển giao di sản văn hoá dưới dạng nguyên gốc hoặc gần với nguyên gốc nhất cho các thế hệ tương lai, phục vụ cho con người và sự phát triển bền vững.
Bảo tồn di sản văn hóa cần một phương pháp tiếp cận đúng đắn để nhận diện giá trị cốt lõi của nó, từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn phù hợp.
Quan điểm tổng thể yêu cầu nhìn nhận con người như chủ thể sáng tạo, đồng thời là sản phẩm văn hóa cao cấp Các hoạt động sản xuất văn hóa, môi trường sinh thái - nhân văn và di sản văn hóa cần được xem là một chỉnh thể hoàn chỉnh Mối quan hệ gắn bó giữa thiên nhiên và con người là yếu tố quan trọng nhất trong bối cảnh này.
Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, để hiểu rõ văn hóa và di sản văn hóa, cần xem xét tổng thể trong bối cảnh lịch sử phát triển, bao gồm các giai đoạn phát triển và chuyển tiếp Trong đó, ba giai đoạn phát triển cơ bản của văn hóa Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa dân tộc.
(Hai giai đoạn chuyển tiếp văn hoá là: một ngàn năm Bắc thuộc và giai đoạn thuộc Pháp)
Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế là một vấn đề quan trọng, đặt ra câu hỏi về khả năng và phương thức mà di sản văn hóa có thể góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Bảo vệ di sản văn hóa là bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, điều này không chỉ giúp gìn giữ những giá trị cốt lõi mà còn khẳng định bản lĩnh Việt Nam Di sản văn hóa chính là “phễu lọc” giúp chúng ta phân biệt và giữ gìn những giá trị văn hóa độc đáo, góp phần xây dựng và phát triển bản sắc dân tộc.
"Phanh tinh thần" giúp chúng ta hội nhập và tiếp nhận có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, từ đó góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến bộ, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc.
Khái quát về Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
1.3.1 S ự hình thành và phát tri ể n c ủ a B ả o tàng Ph ụ n ữ Vi ệ t Nam
Nhằm tôn vinh vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử và đáp ứng yêu cầu cách mạng trong thời kỳ mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hội đồng Bộ trưởng và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã quyết định xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội, thể hiện nguyện vọng của phụ nữ trên toàn quốc.
Năm 1985, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đồng ý với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về việc bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, nhằm giáo dục thế hệ trẻ Đồng thời, Ban Bí thư cũng cho phép Hội LHPNVN sử dụng ngôi nhà số 36 Phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội làm cơ sở vật chất ban đầu.
15 PGS.TS Nguyễn Chí Bền- Tạp chí Di sản văn hoá số 7-2004- tr 24-26
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 09/CT ngày 1/10/1987 của Chính phủ Việt Nam, chính thức khánh thành vào ngày 20/10/1995, nhân kỷ niệm 65 năm thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Với kiến trúc hiện đại, bảo tàng có tổng diện tích 4500m² và khu vực trưng bày gần 2000m², là nơi lưu giữ và tôn vinh những giá trị văn hóa và lịch sử của phụ nữ Việt Nam.
Trưng bày là bộ mặt của Bảo tàng, và trong suốt 24 năm hoạt động từ năm 1987 đến 2011, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã phát triển hai hệ thống trưng bày thường xuyên.
Hệ thống trưng bày thường xuyên lần 1 khi Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam được khánh thành ngày 20/10/1995 bao gồm 4 chủ đề:
Chủ đề 1: Mẹ trong ý thức cộng đồng
Phụ nữ Việt Nam đã đóng góp quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc, thể hiện qua vai trò của họ trong các giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã trở thành tổ chức tiên phong trong việc đấu tranh giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế và quyền lợi của họ trong xã hội Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại đã giúp phụ nữ Việt Nam khẳng định được bản thân và tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Chủ đề 4: Trang phục Phụ nữ các dân tộc Việt Nam
Nhân kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/2010), Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức hệ thống trưng bày lần thứ hai với ba chủ đề đặc sắc.
Chủ đề 1: Phụ nữ trong gia đình
Chủ đề 2: Phụ nữ trong lịch sử
Chủ đề 3: Thời trang nữ truyền thống và hiện đại
Kể từ khi thành lập, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức 59 triển lãm chuyên đề và 13 triển lãm lưu động, đồng thời phát hành 10 ấn phẩm sách, thể hiện các nghiên cứu độc lập Bảo tàng còn tổ chức nhiều diễn đàn và hội nghị nhằm nâng cao văn hóa và truyền thông kiến thức về gia đình và xã hội cho phụ nữ, đồng thời tạo cơ hội giao lưu văn hóa giữa phụ nữ Việt Nam và thế giới, hướng tới mục tiêu bình đẳng, phát triển và hòa bình.
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, từ khi thành lập, đã được vinh danh với nhiều phần thưởng cao quý từ Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Huân chương độc lập hạng Ba vào ngày 10 tháng 1 năm 2011.
1.3.2 Đặ c tr ư ng và ch ứ c n ă ng c ủ a B ả o tàng Ph ụ n ữ Vi ệ t Nam
Đặc trưng cơ bản của Bảo tàng nói chung là:
Đầu tiên, việc sưu tầm và gìn giữ các hiện vật gốc là rất quan trọng, nhằm bảo tồn những sự kiện và hiện tượng tiêu biểu trong lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội.
Vào thứ hai, sẽ diễn ra một buổi trưng bày triển lãm nhằm giới thiệu các hiện vật gốc và bộ sưu tập liên quan đến các sự kiện và hiện tượng trong lịch sử tự nhiên cũng như lịch sử xã hội, với mục đích đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và khám phá của công chúng.
Bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra điều kiện thuận lợi cho công chúng trải nghiệm trực tiếp các hiện vật gốc và sưu tập độc đáo, điều mà khó có thể tìm thấy ở nơi khác Đây là nơi duy nhất cho phép người dân “mục sở thị” những chứng tích lịch sử, sự kiện xã hội hoặc hiện tượng thiên nhiên trong bối cảnh thời gian cụ thể.
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một cơ sở văn hóa quan trọng, chuyên bảo tồn, nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày các hiện vật gốc, thể hiện vai trò to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc Bảo tàng không chỉ phản ánh giá trị văn hóa mà còn khắc họa đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ.
Bảo tàng hiện đang trưng bày những tài liệu và hiện vật thể hiện vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước Đồng thời, bảo tàng cũng lưu giữ các tài liệu phản ánh sự hình thành và phát triển của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, một tổ chức chính trị - xã hội có uy tín cao cả trong nước và quốc tế, đồng thời là đơn vị tổ chức xây dựng Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam, một công trình mang tính thời đại.
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam nổi bật với mô hình mới thể hiện đặc trưng giới và sự phát triển của giới trong xã hội Việt Nam xưa và nay, phản ánh những giá trị văn hóa và nhân văn sâu sắc Điều này tạo nên sự khác biệt cho Bảo tàng, không chỉ là nơi gìn giữ nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam mà còn đáp ứng nhu cầu nhận thức và giáo dục về giới.
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam thực hiện nhiều chức năng xã hội quan trọng, bao gồm nghiên cứu khoa học, giáo dục và tuyên truyền, bảo quản di sản văn hóa, cung cấp thông tin, giải trí và thưởng thức, cũng như tài liệu hóa khoa học.
TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
Đạo Mẫu trong hệ thống tôn giáo- tín ngưỡng của người Việt
2.1.1 Kh ở i ngu ồ n c ủ a Tín ng ưỡ ng th ờ M ẫ u
Tín ngưỡng thờ Mẫu khởi phát từ chế độ mẫu hệ trong thời kỳ nguyên thủy, khi phụ nữ giữ vai trò chủ gia đình và có quyền quyết định các vấn đề lớn trong gia đình và bộ tộc, ảnh hưởng đến sự tồn vong của xã hội Ở Việt Nam, nhiều địa danh như Núi Bà Mụ, Núi Bà Đen, Bà Chúa Xứ, và những nhân vật như Quan Âm Thị Kính, Thiên Hậu, Cô Hồng, Bà Chúa Kho cho thấy vai trò quan trọng của phụ nữ trong đời sống văn hóa và tâm linh.
Người mẹ luôn được tôn vinh trong gia đình và cộng đồng, là chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tình cảm Hình ảnh người Mẹ gắn liền với các hiện tượng tự nhiên như Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Thượng Ngàn, mang lại nguồn sống cho nhân loại Dân gian thờ Mẫu với niềm tin vào quyền lực linh thiêng và khát vọng về sự an lành, bình yên, tốt đẹp.
Tín ngưỡng thờ Mẫu tôn vinh các nữ thần với sức mạnh siêu phàm, có khả năng điều chỉnh quy luật tự nhiên Trong hành trình mưu sinh, hiện tượng tự nhiên là yếu tố quyết định, giúp con người cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và bảo vệ sự sống trước những tai họa rình rập.
Việc thờ tam tòa thánh Mẫu và Tứ Phủ trong văn hóa dân gian Việt Nam có nguồn gốc sâu xa, phản ánh quan niệm vũ trụ và nhân sinh của con người qua hàng nghìn năm Điều này thể hiện tư duy và khao khát tinh thần đối với Mẫu, người đã sinh ra và nuôi dưỡng các thế hệ, đồng thời là chỗ dựa vật chất và tinh thần cho mỗi cá nhân Mẹ được coi là nguồn an ủi và che chở trong những khó khăn, từ mẹ cụ thể đến mẹ siêu trần, tạo nên một khái niệm bao quát và thiêng liêng Việc thờ Mẹ không chỉ là một truyền thống tự nhiên mà còn thể hiện giá trị nhân văn đặc sắc của người Việt Nam, điều mà ít nơi trên thế giới có được.
Tín ngưỡng thờ Mẫu đã phát triển rộng rãi và trở nên phổ biến trên khắp Việt Nam, với mỗi vùng miền mang những sắc thái văn hóa riêng biệt Điều này tạo ra sự đa dạng trong nội dung và ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Mẫu, đồng thời thể hiện tính linh thiêng trong triết lý nhân sinh Cùng với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ Thần, Phật, tín ngưỡng thờ Mẫu giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Việt.
Tầm nhìn văn hóa trong tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện sự hướng về cội nguồn qua việc thờ cúng tổ tiên, thần linh và những người có công dựng làng, dựng nước Đối với người Mẹ, biểu tượng của sự nuôi dưỡng và hy sinh, tình nghĩa mẹ được coi là vô cùng sâu nặng Từ đó, tầm nhìn văn hóa mở ra, nhấn mạnh những yếu tố quyết định sự sinh sôi của cải, như hạt gạo và bát cơm, là những nhân tố thiết yếu nuôi sống cư dân nông nghiệp Do đó, cây, đất và nước được tôn vinh như những bà Mẹ, phản ánh sự kính trọng đối với các yếu tố tự nhiên trong đời sống.
Văn hoá Việt Nam thể hiện triết lý âm dương, đặc biệt trong nền văn hoá lúa nước, nhấn mạnh sự yên bình và tình nghĩa xóm làng, tạo nên sức mạnh đoàn kết trong việc chống lại thiên tai và kẻ thù Câu nói "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" phản ánh tinh thần mạnh mẽ của người Việt Nam trong bảo vệ quê hương.
Vinh quang và trách nhiệm đều gắn liền với vai trò quan trọng của người mẹ, điều này được thể hiện qua các hình tượng biểu trưng như sông cái, đường cái, Mẹ quê hương và Mẹ Việt Nam anh hùng.
Tại Việt Nam, người mẹ được tôn vinh đặc biệt thông qua tín ngưỡng thờ Mẫu, thể hiện sự kính trọng với những yếu tố sản sinh ra vật chất và của cải nuôi dưỡng con người Tín ngưỡng này không chỉ đơn thuần là thờ cúng, mà còn là sự suy tôn thiêng liêng đối với những yếu tố mang lại sự sống và phát triển cho con người.
2.1.2 Tín ng ưỡ ng th ờ M ẫ u l ư u truy ề n trong dân gian
Tam phủ là danh từ chỉ ba vị thánh thần: Bà Trời, Bà Chúa Thượng và Bà Nước, trong khi Tứ phủ bao gồm thêm mẫu Địa Phủ Các vị mẫu này quản lý những lĩnh vực quan trọng trong xã hội nông nghiệp Sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đã dẫn đến việc xuất hiện thêm các hình tượng như Ngọc Hoàng, thổ công và hà bá Đặc biệt, mặt trời được coi là vị thần quan trọng nhất, xuất hiện trên tất cả các trống đồng, thể hiện sự giao thoa văn hóa và tục thờ Trời ở Việt Nam.
Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam ra đời từ sự kết hợp giữa chế độ mẫu hệ và Đạo giáo từ Trung Quốc, phát triển thành một hệ thống có cấu trúc tầng lớp và thứ bậc, và đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn hóa dân gian.
Là sự mô hình hoá vũ trụ quan của người Việt, đó là một không gian thể hiện rõ thứ bậc vị trí của các nữ thần cai quản:
- Thánh mẫu Thượng Thiên: Cai quản trời và làm chủ, mây mưa, sấm chớp (trang phục màu đỏ)
- Thánh mẫu Thoải: Cai quản Thuỷ phủ (trang phục màu trắng)
- Thánh mẫu Thượng Ngàn: Cai quản rừng núi, cây cối (trang phục màu xanh)
Ba vị Thánh Mẫu đã tạo nên hệ thống Tam phủ của người Việt, hay còn gọi là Tam toà Thánh Mẫu Sau này, người Việt đã sáng tạo ra Thánh Mẫu Địa phủ, người cai quản đất đai với trang phục màu vàng, từ đó hình thành nên hệ thống Tứ phủ.
Dưới bốn vị thánh mẫu, có năm ông quan thừa hành từ đệ Nhất đến đệ Ngũ Bốn ông quan từ đệ Nhất đến đệ Tứ là các phái viên tương ứng.
Tứ toà thánh mẫu, riêng ông Ngũ là quan Tuần Tranh- Vị long vương cai quản sông nước
Tầng thấp hơn trong hệ thống thánh linh bao gồm 4 vị thánh bà, tiếp theo là 1 ông hoàng, và 12 tiên cô (thị nữ của thánh mẫu) như Cô Cả, Cô Đôi, Cô Bơ Ngang hàng với họ là 4 cậu quận, tiếp theo là Ngũ hổ, và cuối cùng là ông Lốt (rắn).
Thờ Mẫu là một hiện tượng văn hóa dân gian độc đáo, bao gồm nhiều truyền thuyết và bài văn chầu phong phú, kết hợp với các hình thức nghệ thuật như múa bóng và hầu đồng Trong đó, hầu bóng và lên đồng được coi là những đặc trưng không thể thiếu, tạo nên bản sắc riêng cho tín ngưỡng thờ Mẫu.
Thiết chế của Đạo Mẫu
Trong cuốn Đạo Mẫu ở Việt Nam của Giáo sư Ngô Đức Thịnh được xuất bản năm 2010 đã ghi chép về hệ thống điện thần Đạo Mẫu như sau:
- Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ (Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Địa Tiên Thánh Mẫu)
- Ngũ Vị Quan Lớn (Từ Đệ Nhất đến Đệ Ngũ)
- Tứ Vị Chầu Bà (hay Tứ Vị Thánh Bà) là hoá thân trực tiếp của Tứ Vị Thánh Mẫu
- Ngũ Vị Hoàng Tử (gọi theo thứ tự từ Đệ Nhất đến Đệ Ngũ)
- Thập Nhị Vương Cô (gọi theo thứ tự từ 1 đến 12)
- Thập Vị Vương Cậu (gọi theo thứ tự từ 1 đến 10)
Sau đây khoá luận xin được trình bày những vị tiêu biểu trong hệ thống điện thần của Thiết chế Đạo Mẫu
Phật Bà Quan Âm, vị Bồ Tát của Đạo Phật, ban đầu là nam thần nhưng đã chuyển giới thành nữ thần khi vào Trung Quốc thời Tống Tại Việt Nam, bà được tôn thờ như Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn, gắn liền với tín ngưỡng dân gian Trong truyền thuyết, bà đã cứu Công Chúa Liễu Hạnh trong trận chiến với các phù thủy, từ đó Công Chúa quy y và thúc đẩy sự hòa nhập giữa tín ngưỡng dân gian và Phật Giáo Do đó, hình ảnh Phật Bà Quan Âm xuất hiện trong nhiều nghi lễ và điện thờ của Đạo Mẫu.
Chùa Tiền Phật hậu Mẫu là biểu tượng cho sự hòa hợp giữa Phật Giáo và Đạo Mẫu, thể hiện sự đồng hành trong việc hướng con người đến những điều thiện Sự phổ biến của loại hình chùa này cho thấy người dân Việt Nam có khả năng dung hòa các tín ngưỡng, tạo điều kiện cho chúng cùng tồn tại và phát triển trong một môi trường văn hóa đa dạng.
Ngọc Hoàng, vị Thánh Vua Cha trong Đạo Mẫu, có ban thờ riêng tại các đền và phủ, nhưng vai trò của Ngọc Hoàng trong nghi lễ và thờ cúng lại ít được chú ý trong tâm thức dân gian Là thần linh cao nhất trong Đạo thờ Tiên của Đạo Giáo Trung Hoa, Ngọc Hoàng đã được kết hợp vào Đạo Mẫu và nhiều tín ngưỡng khác của người Việt một cách muộn màng.
Quan Thế Âm Bồ Tát đại diện cho Phật Giáo, trong khi Ngọc Hoàng đại diện cho Đạo giáo, tạo nên một không gian linh thiêng tại Điện thờ Mẫu, nơi hội tụ nhiều tín ngưỡng khác nhau Người dân Việt đã tiếp thu và biến đổi các tôn giáo, tín ngưỡng từ bên ngoài để phù hợp với văn hóa và bản sắc địa phương.
Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (Tam Toà Thánh Mẫu)
Mẫu, quyền năng sáng tạo vũ trụ duy nhất, đã hóa thân thành Tam Vị và Tứ Vị Thánh Mẫu, quản lý các miền khác nhau của vũ trụ: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn.
Mẫu Thượng Thiên, một phần của quan niệm dân gian về Tứ Pháp, bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, và Pháp Điện, đại diện cho bốn vị Nữ thần tạo ra hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, sấm, và chớp Những huyền thoại và thần tích liên quan đến Mẫu Thiên chủ yếu xoay quanh Thánh Mẫu Liễu Hạnh, người được tôn thờ nhiều nhất trong Đạo Mẫu tại Việt Nam, thể hiện sự kết nối sâu sắc giữa tín ngưỡng và quyền năng vũ trụ.
Về các truyền thuyết, thần tích và ngọc phả của Mẫu Liễu Hạnh, có thể khái quát trong mối quan hệ với Tam Toà Thánh Mẫu như sau:
Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất hiện muộn trong điện thần Tứ phủ, có nguồn gốc từ thế kỷ XV-XVI thời Hậu Lê Tuy nhiên, bà nhanh chóng trở thành Thần chủ Đạo Mẫu Tam phủ và Tứ phủ, được tôn vinh hơn tất cả các vị Thánh Mẫu khác.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một biểu tượng kết hợp giữa thần linh và đời sống trần gian, với vai trò vừa là Thiên Thần vừa là Nhân thần Bà có cha mẹ, chồng con và thường xuyên chu du khắp nơi để trừ ác, ban lộc, khiến người đời vừa sợ vừa kính trọng Mẫu Liễu, cùng với Đức Thánh Trần, thể hiện sự hòa quyện giữa nhu cầu tâm linh hướng về cái cao cả và việc chữa bệnh, trừ tà, cứu giúp con người trong những khó khăn đời thường, cũng như cầu tài lộc.
Trong Điện thờ Tam Toà Thánh Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh, với vai trò là Mẫu Thượng Thiên, được thờ cúng ở vị trí trung tâm, mặc trang phục màu đỏ Theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu có khả năng hóa thân thành Mẫu Thượng Ngàn, người bảo vệ miền núi Tại Huế, Thánh Mẫu Vân Cát (Mẫu Liễu) được xem là ngang hàng hoặc đồng nhất với Thánh Mẫu thiên Ya Na, có nguồn gốc từ văn hóa Chăm.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh thể hiện những đặc điểm của con người trong đời sống hàng ngày, bao gồm cả tình yêu và sự thù ghét, lòng từ thiện và sự độc ác Bà là biểu tượng cho những xung đột xã hội giữa cuộc sống dân dã và đời sống cung đình, đồng thời phản ánh cuộc chiến giữa Nho giáo và các giá trị văn hóa khác.
Bà với dòng Đạo Nội hiện nay thể hiện sự xung đột và hòa hợp tôn giáo, đặc biệt là sự kết hợp giữa tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu và Phật giáo Sự hòa hợp này đã tạo điều kiện cho các điện Mẫu thâm nhập vào các ngôi chùa ở làng quê, góp phần làm phong phú thêm đời sống tâm linh của cộng đồng.
Mẫu Liễu Hạnh còn hoá thân thành Địa Tiên Thánh Mẫu- Bà mẹ của Đất, cai quản mọi đất đai và đời sống các sinh vật
Thánh Mẫu toàn năng là biểu tượng linh thiêng trong miền rừng núi, nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số Các đền thờ Mẫu Thượng Ngàn xuất hiện rộng rãi, nhưng nổi bật nhất là hai địa điểm Suối Mỡ (Bắc Giang) và Bắc Lệ (Lạng Sơn), nơi thờ phụng chính với hai truyền thuyết tương đồng.
Mẫu Thượng Ngàn, khác với Mẫu Thượng Thiên là Công chúa Liễu Hạnh, có nguồn gốc từ người trần, có thể là con gái hoặc cháu của Vua Hùng Bà gắn bó với núi rừng và yêu thiên nhiên, cây cỏ, muông thú Với phép tiên của mình, Mẫu Thượng Ngàn mang lại yên vui, ấm no cho dân lành và trở thành vị Thần bảo trợ cho núi rừng và bản làng.
Mẫu Thoải là một vị Thần quan trọng trong văn hóa Việt Nam, có nguồn gốc từ dòng dõi Long Vương và gắn liền với sự hình thành của dân tộc Việt Dù có nhiều truyền thuyết khác nhau ở các vùng miền, nhưng điểm chung là Mẫu Thoải trị vì các vùng sông nước, thể hiện sự tôn kính của người Việt đối với nguồn cội và văn hóa thủy lợi.
Trong Tam Toà Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Thiên hóa thân thành Mẫu Liễu Hạnh, con gái Ngọc Hoàng, đã nhiều lần giáng sinh trên trần thế Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải có nguồn gốc từ Sơn Thần và Thuỷ Thần, liên quan đến các nhân vật nửa lịch sử nửa huyền thoại như Tản Viên, Hùng Vương, Âu Cơ, Lạc Long Quân, Kinh Dương Vương, và Kinh Xuyên Tam Toà Thánh Mẫu thể hiện sự kết hợp giữa tư duy vũ trụ luận (Trời, Đất, Nước), tư duy huyền thoại (Thiên Thần, Sơn Thần, Thuỷ Thần) và tư duy lịch sử (Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương), phản ánh đặc trưng tâm lý của người Việt.
Tứ Vị Thánh Bà hay Tứ Vị Chầu Bà
Nghi lễ Lên đồng- điều kiện để tín ngưỡng duy trì trong đời sống
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ và lễ hội rất phong phú và đa dạng, với nhiều sắc thái độc đáo Một trong những nghi lễ nổi bật nhất là Lên đồng, thể hiện sự khác biệt so với các tín ngưỡng và tôn giáo khác Dưới đây là một số khái niệm liên quan đến tín ngưỡng này.
2.3.1 Khái ni ệ m Lên đồ ng
Lên đồng là một nghi thức quan trọng trong tín ngưỡng dân gian của Saman giáo, một hình thái tôn giáo phổ biến trong thời kỳ hưng thịnh của chế độ bộ lạc Trong Saman giáo, con người giao tiếp với thế giới siêu nhiên thông qua các tín đồ (ông đồng, bà đồng), những người được tin là có khả năng sử dụng phép thuật và tự đưa mình vào trạng thái ngây ngất để kết nối với thần linh.
Hầu đồng là hiện tượng xuất thần, giúp con người trở về với tâm hồn trẻ thơ và sự trong sáng, không bị ảnh hưởng bởi cuộc sống trần tục Qua đó, họ có thể tiếp cận thế giới thần linh, lắng nghe tiếng "thầm thì" của vũ trụ và tổ tiên.
Hầu đồng là một hình thức diễn xướng dân gian trong tín ngưỡng thờ Mẫu, nhằm giáo dục truyền thống và khắc sâu sự tích về các anh hùng, giúp quần chúng nhớ về tổ tiên và bảo tồn bản sắc văn hóa Ngoài ra, lên đồng còn được coi là một dạng Yoga tinh thần, qua các động tác và trạng thái xuất thần, giúp con người thanh lọc tâm hồn và thể xác, mang lại cảm giác thanh thản và sức khỏe tốt hơn.
Lên đồng là một hiện tượng giúp cân bằng cuộc sống, mang lại cảm giác như thay đổi thân phận và xóa nhòa sự bất công trong xã hội Người tham gia trải nghiệm sự lâng lâng khi hòa nhập giữa linh hồn và vũ trụ, từ đó nhận được sự kính nể từ cộng đồng.
Lên đồng mang nhiều ý nghĩa khác nhau trong tín ngưỡng, nhưng cũng có thể trở thành hiện tượng lệch lạc, thể hiện qua những câu nói như “Thứ nhất ngồi đồng, thứ nhì chồng quan.”
Ghen tuông giữa vợ chồng không thể so sánh với ghen tuông giữa những người cùng giới, nhưng đôi khi, việc lên đồng lại khiến nhiều phụ nữ có những hành động sai trái Điều này dẫn đến quan niệm rằng “chết đường chết chợ không bằng lấy vợ ngồi đồng”.
Theo quan niệm dân gian, việc trở thành ông đồng, bà đồng thường liên quan đến yếu tố gia đình, với nhiều người có nguồn gốc từ những gia đình đã có người từng "đi ở nhà Thánh" Dù có những trường hợp không có "gien" gia đình, nhưng những người này vẫn tin rằng họ có "căn" đồng Nếu không ra đồng khi có "căn", họ có thể gặp phải tình trạng "cơ đày" hay "Thánh dày", thường biểu hiện qua bệnh tật mà thuốc men không chữa khỏi, thậm chí có thể đe dọa đến tính mạng.
22 Hương Nguyên , Quanh t ụ c th ờ M ẫ u, Tạp chí Di sản văn hoá số 7-2004-Tr 74-77
Hầu hết các trường hợp mở phủ không phải do tự nguyện hay ý thích cá nhân, mà thường là kết quả của áp lực từ hoàn cảnh, khiến nhiều người trở thành Ông đồng, bà Đồng thực thụ, ngoại trừ một số ít người rảnh rỗi theo đuổi hầu đồng.
Nhìn chung họ có những đặc tính sau:
Họ là những người nhạy cảm với biến đổi của môi trường xã hội, có tính cách thất thường, có lúc vui vẻ nhưng cũng có lúc buồn bã Khi cần, họ thể hiện hành động quyết đoán, và trong dân gian, tính cách này thường được gọi là "tính đồng bóng".
Những người này thường sở hữu khả năng nghệ thuật nổi bật, đặc biệt là trong múa, hát và âm nhạc Khi ra đồng, mặc dù chưa có nhiều thời gian học tập và luyện tập, họ vẫn có thể trình diễn một cách thuần thục Nhiều em bé chỉ mới 7-8 tuổi nhưng khi lên đồng, họ thể hiện vai thần linh một cách chững chạc, và thường tin rằng hành động của mình là do thần linh nhập vào.
Sau khi trở thành Ông đồng, Bà đồng, họ sống như mọi người nhưng phải tuân thủ một số kiêng kỵ, đặc biệt trong dịp lễ Những kiêng kỵ này bao gồm cả ăn uống và giao tiếp với người khác giới, mặc dù nhiều người trong số họ vẫn có gia đình và cuộc sống như bao người khác.
2.3.3 Lên đồ ng (H ầ u bóng)- Kho tàng s ố ng c ủ a di s ả n v ă n hoá Vi ệ t Nam
Nhà nhân học Milton Singer đã mô tả lên đồng như một "biểu diễn văn hóa," nơi sân khấu dân gian giới thiệu những khoảnh khắc đặc sắc trong đời sống xã hội Sự kiện này thể hiện sự phức tạp và đa dạng của các hình thức giao tiếp của con người thông qua các kênh nghệ thuật Người biểu diễn cần cách điệu hóa các hành động và ứng xử, nhưng vẫn phải giữ lại những đặc điểm dễ nhận biết để khán giả có thể kết nối và hiểu được.
Lên đồng và nghi lễ nhập đồng được coi là nghệ thuật biểu diễn với những đặc điểm của sân khấu truyền thống, đồng thời là một loại hình sân khấu tổng hợp nhờ sự kết hợp giữa âm nhạc, lời hát, y phục và các vật dụng Tuy nhiên, việc xem Lên đồng là biểu diễn thuần túy là không chính xác, vì sân khấu chỉ mang tính giải trí, trong khi Lên đồng là một nghi lễ chứa đựng trạng thái ngây ngất, nơi cơ thể người lên đồng bị chiếm lĩnh bởi các vị thần trong điện thần.
Lên đồng là trạng thái thăng hoa, khi con người cảm nhận được sự thánh nhập, dẫn đến tình trạng vô thức Trong trạng thái này, họ tự nhiên tái hiện cử chỉ, động tác của vị Thánh cùng với lời hát và tiếng đàn của cung văn.
Những giá trị cơ bản của Đạo Mẫu
2.4.1 Giá tr ị nh ậ n th ứ c Th ế gi ớ i t ự nhiên
Đạo Mẫu coi con người và thế giới tự nhiên là một thực thể thống nhất, không tách rời như cách nhìn của khoa học phương Tây Người Mẹ của con người cũng chính là người Mẹ của thiên nhiên, thể hiện sự nhân hóa và nữ tính hóa tự nhiên, từ đó biến việc sùng bái thiên nhiên thành sùng bái nữ tính Việc tôn thờ Mẫu không chỉ là sự hiện diện của bản thể tự nhiên như Mẹ Mưa, Mẹ Mây, mà còn là lực lượng cai quản tự nhiên như Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa, mang lại những điều tốt lành cho con người.
Con người xưa đã thiêng hoá tự nhiên và sùng bái nó để bảo vệ môi trường sống Qua thời gian, sự sùng bái này đã chuyển sang thờ phụng Nữ thần, thể hiện sự nhân thần hoá tự nhiên Điều này xuất phát từ những đặc tính chung của tự nhiên và tính nữ, bao gồm khả năng sản sinh, bảo trữ và che chở.
2.4.2 Giá tr ị L ị ch s ử Đạo Mẫu gắn bó với dân tộc, là thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh hoá Trong thần điện của Đạo Mẫu- hầu hết các vị Thánh đều được lịch sử hoá, tức là đều hoá thân thành những con người có danh tiếng, có công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc
Trong văn hóa dân gian, nhiều vị Thánh thần được hình thành từ các nhân vật lịch sử có thật, như Trần Hưng Đạo trở thành Đức Thánh Trần, Mẹ Âu Cơ hóa thân thành Mẫu Thượng Ngàn, hay Lê Khôi và Nguyễn Xí được tôn vinh thành Ông Hoàng Mười Ngoài ra, còn có những vị thần linh xuất phát từ nhiên thần hay thiên thần, được người đời tôn sùng và ghi nhớ.
"Nhân thần hoá" và "lịch sử hoá" gán cho các nhân vật có sự nghiệp và công trạng với đất nước hoặc địa phương, thể hiện ý thức lịch sử và xã hội Hành động này không phải là ngẫu nhiên, mà xuất phát từ ý thức "hướng về cội nguồn".
“Uống nước nhớ nguồn” là một triết lý tôn vinh những người có công với dân tộc, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc Đạo Mẫu không chỉ gắn bó với cội nguồn văn hóa mà còn trở thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Trong tín ngưỡng này, người Mẹ - Mẫu đóng vai trò trung tâm, thể hiện sự linh thiêng và tâm linh hóa Như một học giả nước ngoài đã nhận định, việc một dân tộc tôn vinh người Mẹ - Mẫu chứng tỏ họ có trí tuệ và trái tim lớn.
Lên đồng là một di sản văn hóa nghệ thuật độc đáo, thể hiện sự kết hợp giữa tín ngưỡng Đạo Mẫu và các hình thức biểu diễn như âm nhạc, ca hát và nhảy múa Đây là kho tàng thần tích và huyền thoại về các thần linh, trong đó loại hình âm nhạc “chầu văn” nổi bật, góp phần làm phong phú thêm di sản âm nhạc thế giới Các bài văn chầu không chỉ là tài liệu quý giá để tìm hiểu về Đạo Mẫu và tính cách từng vị Thánh, mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm của nhân dân Chúng thể hiện con đường và phương thức sáng tạo nghệ thuật dân gian, được các nghệ nhân lưu truyền và sáng tác qua các thế hệ.
Ngũ sắc không chỉ là biểu tượng của Đạo Mẫu Tứ Phủ mà còn phổ biến trong nhiều tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam và Trung Quốc Tuy nhiên, ngũ sắc được thể hiện rõ nét nhất trong hệ thống tín ngưỡng này Màu đỏ, trắng, xanh, vàng không chỉ đại diện cho Tứ Phủ mà còn cho các yếu tố của thế giới như trời, đất, nước và núi rừng Đây là màu sắc của trang phục, đồ lễ của các vị Thánh và trang trí điện thờ, mang lại cảm giác tươi sáng và sống động khi đến với các phủ thờ Mẫu.
Mỗi Ông đồng, Bà đồng sở hữu hàng chục loại trang phục như váy, áo, quần, thắt lưng, mũ và đồ trang sức, tương ứng với vị Thánh mà họ giáng đồng Đối với những người giàu có, mỗi bộ trang phục có giá trị cao, được may từ vải đắt tiền và thêu cùng các đồ trang sức quý giá Khi hầu đồng, những bộ trang phục này tạo nên khung cảnh rực rỡ và đầy màu sắc.
Hát văn, hay còn gọi là hát chầu văn, là một hình thức nghệ thuật đặc sắc trong văn hóa tâm linh của người Việt cổ, gắn liền với đời sống tín ngưỡng Đây là một phần của nghi thức hầu tín ngưỡng Tứ phủ, có nguồn gốc từ đồng bằng Bắc Bộ Trong quá khứ, người dân Việt Nam thờ cúng Tứ phủ (trời, đất, núi, sông) và hát chầu thường đi đôi với tín ngưỡng hầu đồng, nơi mà mọi người tin rằng nghi thức lên đồng cho phép họ giao tiếp với thần linh thông qua các đồng cô, đồng cậu.
24 Ngô Đức Thinh, Đạ o M ẫ u Vi ệ t Nam- T ậ p 2 (Về hiện tượng Văn học dân gian Đạo Mẫu), Nxb Tôn giáo,Tr5
25 Ngô Đức Thinh, Đạ o M ẫ u Vi ệ t Nam , Nxb Tôn Giáo, 2010, Tr 416
Hát Văn, một thể loại âm nhạc độc đáo, đã phát triển trong môi trường tín ngưỡng và tạo ra ngôn ngữ âm nhạc riêng biệt, không giống với các loại hình ca hát dân gian khác Mặc dù mang tính chất riêng, Hát Văn vẫn chịu ảnh hưởng từ nhiều thể loại dân ca khác nhau như dân ca Bắc Bộ, ca trù và dân ca Mường Lời văn trong Hát Văn thường được lấy cảm hứng từ thơ ca dân gian và các tác phẩm văn học, thường sử dụng thể lục bát biến thể, thất ngôn, và tứ tuyệt Các bài hát thường kể lại câu chuyện về sự xuất xứ của Thánh, tôn vinh công đức và kỳ tích của các ngài, với giai điệu mượt mà hoặc dồn dập, tạo ra không khí tâm linh trang trọng Ngày nay, Hát Văn không chỉ được sử dụng trong các nghi lễ mà còn trở thành một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi, lành mạnh, có thể biểu diễn trước đông đảo công chúng.
Hát Chầu văn có 13 lối hát đó là: Bỉ, Miễu, Thống, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú Rầu, Đưa thơ, Vãn, Dọc, Cờn, Hãm và Dồn
Bỉ là một thể loại âm nhạc mang tính trang trọng, thường được sử dụng để mở đầu cho hình thức hát văn thờ Điệu Bỉ thường được thể hiện qua các thể thơ thất ngôn tứ cú hoặc thất ngôn bát cú, nhưng cũng có thể áp dụng cho các thể thơ khác như song thất lục bát hay lục bát Trong các bản sự tích chư thánh, đoạn Bỉ thường đóng vai trò là phần giới thiệu tóm tắt nội dung chính của toàn bộ bản văn, đồng thời thường sử dụng nhiều câu đối nhau (biền ngẫu) để tạo sự hài hòa và thu hút.
Mi ễ u là lối hát nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng khi hát thi và hát thờ
Th ổ ng chỉ dành riêng cho hát văn thờ, văn thi
Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để ca ngợi các nam thần
Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau (lời khen khi Giá đồng nhảy múa)
Phú r ầ u là lối hát rất buồn
Đư a th ơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách
Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát
D ọ c lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát- lục bát và hát theo nguyên tắc vay trả
C ờ n dùng để ca ngợi sắc đẹp của các vị thần
Hãm là lối hát rất khó vì phải hát liền song thất lục bát
D ồ n được lấy theo dây bằng, nhịp 3
Xá là một trong những điệu hát quan trọng nhất trong hát văn hầu bóng, bên cạnh các điệu như Cờn, Dọc và Phú nói Điệu xá nổi bật với đặc trưng của các giá nữ thần miền thượng, thể hiện sự linh thiêng và văn hóa độc đáo của vùng đất này.
Hát Chầu văn có khả năng kết hợp với các làn điệu cổ truyền khác như Ca trù, Quan họ, hò Huế và những điệu hát của các dân tộc thiểu số.
Hát Chầu Văn và hầu bóng thường diễn ra trong không gian văn hóa của Đình, Đền, Phủ Chúa Liễu hay Điện Thánh Thần, tạo nên bầu không khí tín ngưỡng huyền bí Dù trải qua nhiều biến cố, Chầu Văn vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam, vừa mộc mạc vừa đa dạng Có thể tách Chầu Văn khỏi các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và phát triển nó theo cách tiếp cận mới, đồng thời bảo tồn những làn điệu và phong cách diễn xướng cổ Để làm được điều này, cần có sự hiểu biết và tôn trọng nguyên tắc của Hát Chầu Văn, từ đó giá trị của loại hình nghệ thuật độc đáo này sẽ được kế thừa và phát triển trong cộng đồng.
2.4.5 Đạ o M ẫ u h ướ ng ni ề m tin vào đờ i s ố ng tr ầ n th ế c ủ a con ng ườ i