những vật chứng lịch sử là các tài liệu, hiện vật liên quan đến ngành Bưu chính Việt Nam hiện nay được bảo quản và trưng bày tại bảo tàng Bưu điện Việt Nam.. Với yêu cầu nghiên cứu, sưu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA DI SẢN VĂN HÓA
**********
DƯƠNG VĂN LỢI
TÌM HIỂU SƯU TẬP TEM BƯU CHÍNH
CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 TẠI BẢO TÀNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Bố cục khóa luận 7
Chương 1 - KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG BƯU ĐIỆN VÀ PHẦN TRƯNG BÀY TEM BƯU CHÍNH VIỆT NAM 9
1.1 Khái quát về Bảo tàng Bưu điện 9
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Bưu điện 9
1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng Bưu điện 12
1.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ của Bảo tàng Bưu điện 14
1.1.3.1 Hoạt động nghiên cứu 14
1.1.3.2 Hoạt động sưu tầm hiện vật 15
1.1.3.3 Hoạt động kiểm kê, bảo quản 16
1.1.3.4 Hoạt động trưng bày, tuyên truyền giáo dục 17
1.2 Nội dung trưng bày của Bảo tàng Bưu điện 18
1.3 Nội dung trưng bày tem Bưu chính Việt Nam và tem Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) tại Bảo tàng Bưu điện 21
1.4 Vài nét về sự ra đời của tem Bưu chính và lịch sử tem Bưu chính Việt Nam 22
1.4.1 Vài nét về sự ra đời của tem Bưu chính 22
1.4.2 Vài nét về lịch sử tem Bưu chính Việt Nam 25
1.4.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 25
1.4.2.2 Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến 1954 26
1.4.2.3 Giai đoạn từ 1955 đến 1976 28
1.4.2.4 Giai đoạn 1976 đến nay 30
Trang 3Chương 2 - SƯU TẬP TEM BƯU CHÍNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 TẠI BẢO TÀNG BƯU ĐIỆN 32
2.1 Khái quát về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 32
2.2 Tổng quan về sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn
1945 – 1954 tại Bảo tàng Bưu điện 36
2.2.1 Một số khái niệm liên quan 36
2.2.2 Tổng quan về sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai
đoạn 1945 - 1954 40
2.2.3 Đặc điểm cơ bản của sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam
giai đoạn 1945 – 1954 43
2.2.4 Chủ đề trên tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 52
2.2.4.1 Chủ đề trên tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam 1945 – 1946
2.3.2 Giá trị văn hoá 73
Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP BƯU CHÍNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 TẠI BẢO TÀNG BƯU ĐIỆN 78
3.1 Thực trạng nghiên cứu, quản lý, bảo quản sưu tập tem Bưu chính Cách
mạng Việt Nam giai đoạn 1945 -1954 tại Bảo tàng Bưu điện 78
3.1.1 Thực trạng về nghiên cứu sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt
Nam giai đoạn 1945 -1954 78
3.1.2 Thực trạng quản lý, bảo quản sưu tập tem Bưu chính Cách mạng
Việt Nam giai đoạn 1945 -1954 79
Trang 43.1.2.1 Thực trạng quản lý sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt
Nam giai đoạn 1945 -1954 79
3.1.2.2 Thực trạng bảo quản sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 -1954 80
3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 83
3.2.1 Hoàn thiện nội dung hồ sơ hiện vật và tiếp tục sưu tầm bổ sung cho sưu tập 83
3.2.2 Đa dạng các hình thức trưng bày 86
3.2.3 In ấn giới thiệu, quảng bá về sưu tập 88
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC………91
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Toàn Đảng, toàn dân ta ra sức củng cố và xây dựng cơ sở Cách mạng trong tình hình mới, bên cạnh đó vẫn hết sức đề cao công tác chuẩn bị cho những cuộc chiến mới, bởi vì ngay trong thời điểm đã giành được chính quyền thì tình hình trong nước lẫn quốc tế vẫn rất phức tạp, nhiều thế lực phản động và thù địch tiếp tục hoạt động và đe dọa chính quyền non nớt mới thành lập Ta vừa phải lo đánh giặc Pháp quay lại xâm lược vừa phải
lo diệt giặc đói, giặc dốt Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã vượt qua hết những khó khăn, vất vả và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954 Giai đoạn lịch sử 1945 – 1954 là một giai đoạn lịch sử vinh quang, hào hùng của dân tộc Việt Nam, có tầm ảnh hưởng quốc tế rộng rãi, đây là giai đoạn có vai trò to lớn trong lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc ta, thể hiện sự trưởng thành của chính quyền Cách mạng, tạo nền tảng cho những quyết định khó khăn sau này trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và đi đến ngày giải phóng hoàn toàn đất nước
Góp phần vào những thắng lợi vang dội này có sự đóng góp của nhiều ngành, trong đó có ngành Bưu chính Ngành Bưu chính có chức năng truyền thông tin liên lạc trong và ngoài nước Thời kỳ mới thành lập, ngành Bưu chính Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn cả về cơ sở sản xuất lẫn trình độ kỹ thuật Nhưng với sự sáng tạo, linh hoạt tài tình và ý trí quật cường, các cán bộ chiến sĩ ngành Bưu chính đã không ngại hy sinh, vất vả để hoàn thành tốt nhiệm vụ thông tin liên lạc, góp phần quan trọng trong các chiến thắng của dân tộc ta Những thành tích và những khó khăn, thiếu thốn của ngành, cũng như lịch sử ngành Bưu chính Việt Nam không chỉ được biết qua các tài liệu sách, báo lịch sử mà còn được phản ánh hết sức phong phú, sinh động qua
Trang 6những vật chứng lịch sử là các tài liệu, hiện vật liên quan đến ngành Bưu chính Việt Nam hiện nay được bảo quản và trưng bày tại bảo tàng Bưu điện Việt Nam Đây là những vật chứng có ý nghĩa hết sức quan trọng với lịch sử ngành Bưu chính nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung Đáng chú ý hơn cả trong những vật chứng lịch sử này là sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954
Sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 chứa đựng rất nhiều giá trị như giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị mỹ thuật Sưu tập tem này có những con tem sơ khai nhất của Bưu chính Việt Nam, từ những con tem Đông Dương in đè, đến những con tem đầu tiên của nền Bưu chính nước ta, do chúng ta tự thiết kế và in Đây là một sưu tập tem rất quý, nó phản ánh lịch sử ngành Bưu chính Việt Nam giai đoạn 1945 –
1954 hết sức xác thực và sinh động Qua bộ sưu tập, chúng ta có thể thấy được một giai đoạn lịch sử cực kỳ thiếu thốn, lạc hậu của ngành Bưu chính Việt Nam, nó cũng thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trước hoàn cảnh khó khăn của đất nước trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
Là một sinh viên học chuyên ngành Bảo tàng, em có cơ hội nhiều lần đến Bảo tàng Bưu điện thăm quan và tiếp xúc với sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam này Em nhận thấy đây là một bộ sưu tập có giá trị về nguồn sử liệu, giá trị bảo tàng rất sâu sắc Qua việc tìm hiểu bộ sưu tập này,
em sẽ hiểu hơn về lịch sử tem Bưu chính Việt Nam, cũng như lịch sử Việt
Nam Với những lý đó em đã chọn vấn đề “Tìm hiểu sưu tập tem Bưu chính
Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 tại Bảo tàng Bưu điện Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu về quá trình hình thành, nội dung trưng bày hiện nay của Bảo tàng Bưu điện
Trang 7- Tổng quan về sưu tập tem Bưu chính Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 tại Bảo tàng Bưu điện Việt Nam
- Nghiên cứu giá trị của sưu tập
- Từ nghiên cứu về sưu tập đưa ra một số nhận xét và giải pháp nhằm bảo quản và phát huy giá trị của sưu tập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
- Đối tượng nghiên cứu: sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954
- Phạm vi nghiên cứu: sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 hiện đang lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Bưu điện Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin
- Sử dụng phương pháp Bảo tàng học, sử học, mỹ thuật học
- Sử dụng phương pháp thống kê, miêu tả so sánh, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu tư liệu
- Bên cạnh đó còn sưu tập sách báo, tạp chí, bài viết, kế thừa những kết quả nghiên cứu có liên quan đến tem Bưu chính Việt Nam
Chương 2: Sưu tập tem Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến năm
1954 tại Bảo tàng Bưu điện Việt Nam
Trang 8Đây là phần chính của bài khóa luận, nội dung cơ bản của chương này
là khái quát về lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954; tổng quan và những giá trị của sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 -1954
Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo quản và phát huy giá trị sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 tại Bảo tàng Bưu điện Việt Nam
Chương cuối cùng của khóa luận nêu lên thực trạng công tác bảo quản tem và một số giải pháp nhằm phát huy giá trị sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 tại Bảo tàng Bưu điện
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này em luôn nhận được sự quan tâm, hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn Th.s Trần Đức Nguyên, Thầy đã động viên và tận tình chỉ bảo em từ lúc chọn đề tài đến những lúc em gặp khó khăn nhất Đồng thời, em cũng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các cô chú trong Bảo tàng Bưu điện, đã tạo những điều kiện tốt nhất trong quá trình khảo sát tại Bảo tàng giúp em hoàn thành đề tài nghiên cứu này Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy và các cô chú
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, đề tài tương đối mới
mẻ nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý của thầy cô và độc giả để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn và mong nhận sự góp ý!
Trang 9Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG BƯU ĐIỆN VÀ PHẦN TRƯNG BÀY
TEM BƯU CHÍNH VIỆT NAM
1.1 Khái quát về Bảo tàng Bưu điện
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Bưu điện
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người luôn luôn phải đấu tranh với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm để duy trì sự sống Chính nhu cầu tồn tại, con người phải liên kết với nhau để chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước đòi hỏi sự ra đời của thông tin liên lạc Trước đây, phương tiện liên lạc chủ yếu là tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng tù và, tiếng mõ, tiếng hú, tiếng kèn, tiếng trống, ám hiệu khói lửa, hoặc sử dụng sức người chạy bộ, ngựa, thuyền, chim bồ câu để truyền đưa tin tức Sau này với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhiều phương tiện truyền thông đã được ra đời như điện thoại, điện báo, telex, fax, internet, các phương tiện thông tin đại chúng – đài phát thanh (rađio), vô tuyến truyền hình…
Ở Việt Nam, sau khi xâm lược được nước ta, thực dân Pháp đã xây dựng
ở một số thành phố lớn hệ thống thông tin Bưu điện như: điện thoại, điện báo, đường thư phục vụ cho kế hoạch xâm lược, khai thác thuộc địa, bảo vệ chính quyền thực dân và đàn áp phong trào Cách mạng của nhân dân ta
Từ năm 1930, thông tin Bưu điện Cách mạng được hình thành, đó là những đường dây liên lạc từ nước ngoài về bằng đường bộ, đường sắt đường biển, đó là hệ thống thông tin được tổ chức chặt chẽ được hình thành từ nhiều tuyến từ Trung ương đến các Xứ ủy và các cơ sở bằng hình thức liên lạc công khai, bí mật và bán công khai với những phương tiện truyền thông tin hết sức thô sơ Bằng sự quả cảm và trí thông minh, những người giao bưu thông tin Cách mạng vẫn duy trì được thông tin liên lạc thông suốt, phục vụ Đảng, Bác
Hồ lãnh đạo cuộc Cách mạng Việt Nam đến thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945
Trang 10Thời kỳ 1945 – 1954, Bưu chính Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, cơ
sở vật chất thông tin và phương tiện vận chuyển Bưu chính thô sơ, lạc hậu Trong 9 năm kháng chiến kiến quốc chống thực dân Pháp, đội ngũ thông tin Bưu điện (với nhiều tên gọi khác nhau như Zét tê (ZT), giao thông, giao bưu, giao liên, thông tin, Bưu điện ) đã thầm lặng xông pha trên mọi chiến trường, phơi mình dưới làn đạn pháo, xuyên qua rừng sâu núi cao, đầm lầy, vượt mọi gian nan, thử thách để thiết lập mạng lưới thông tin liên lạc từ vùng căn cứ Việt Bắc đến các liên khu, các tỉnh miền Bắc, miền Trung, Khu 5, Nam Bộ và đến tận các thôn xã kể cả vùng tạm chiếm, vùng địch hậu Trong suốt quá trình Cách mạng và kháng chiến, thông tin Bưu điện là một lực lượng mũi nhọn phục vụ sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh chính trị, quân
sự, ngoại giao, trong xây dựng và phát triển kinh kế và nhu cầu giao lưu tình cảm của nhân dân, góp phần cùng quân và dân ta làm lên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975, ngành Bưu điện đã tập chung kiện toàn, mở rộng hệ thống Bưu chính và xây dựng lại toàn bộ hệ thống thông tin kỹ thuật điện bằng hai phương thức hữu tuyến và vô tuyến Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt từ 1964 – 1972, thực hiện chủ chương “ Địch đánh tuyến ta dịch, địch đánh điểm ta vòng, để làm cho hệ thống Bưu điện trở nên
an toàn, cơ động và vững chắc hơn’’ Bằng đôi chân vạn dặm và khẩu hiệu
“Đứt dây như đứt ruột, gãy cột như gãy xương”, cán bộ công nhân viên ngành Bưu điện đã không quản gian khổ, hy sinh, dũng cảm, kiên cường, băng mình qua lửa đạn quyết tâm “Sống bám máy bám đường, chết kiên cường bất khuất” để đảm bảo thông tin thông suốt trong mọi tình huống Trong khi đó, ở miền Nam ngành thông tin vô tuyến điện và giao bưu cũng phải vượt qua muôn vàn khó khăn, vất vả, thiếu thốn, lội suối băng rừng, có khi chỉ ăn rau rừng để “Nằm trong lòng địch mà đánh địch”, lợi dụng những phương tiện của địch để đánh địch và để mở “4 đường xương sống”, “3 mũi soi đường”
Trang 11làm cho mạch máu giao thông liên lạc không bao giờ tắt từ Trung ương đến Trung ương cục miền Nam, các cơ sở Đảng, các mặt trận, các thôn ấp, và để đưa đón cán bộ, vận chuyển thuốc men, vũ khí đạn dược đến nơi tập kết an toàn Với những phương thức thông tin bí mật, những hòm thư chết, những con đường giao liên công khai, hợp pháp, bán hợp pháp, các điểm liên lạc trong nhà dân sau đó là các trung tâm Bưu điện được thiết lập với trang thiết
bị thu tin, phát tin vô tuyến, hữu tuyến được sử dụng, thông tin liên lạc hai miền Nam Bắc đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn đất nước năm 1975
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nước ta đi vào công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta gặp phải muôn vàn khó khăn do hậu quả của chiến tranh, do cơ chế bao cấp, khủng hoảng kinh tế và xã hội Nhiệm vụ chính của ngành Bưu điện lúc này là khẩn chương xây dựng, củng cố cải tạo và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin trong nước, quốc tế và nâng cao năng lực mạng lưới, mở rộng loại hình dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thông tin toàn xã hội Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 về: “Phát triển nhanh Bưu điện, đáp ứng nhu cầu thông tin và
cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có, đồng thời ra sức xây dựng công nghiệp sản xuất thiết
bị thông tin hiện đại hóa từng bước có trọng điểm mạng lưới thông tin Bưu điện, làm cho công tác Bưu điện được nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi” Ngành Bưu điện đã vượt qua mọi khó khăn, khắc phục nghèo nàn, tiết kiệm tích lũy, năng động, sáng tạo, tự lực tự cường đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có
hệ thống Bưu điện viễn thông hiện đại so với các nước trong khu vực
Trải qua các giai đoạn lịch sử hết sức khó khăn, gian khổ, từ thời chiến tranh ác liệt đến thời bình đi vào xây dựng đất nước, ngành Bưu điện đã khẳng định được vai trò đặc biệt quan trọng của mình Với yêu cầu nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, giới thiệu các tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, phản ánh quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Bưu điện Việt Nam từ thời tiền sử đến nay, Bảo tàng Bưu điện Việt Nam được ra đời
Trang 12Bảo tàng Bưu điện là Bảo tàng chuyên ngành về Bưu chính, Viễn thông
và Công nghệ thông tin, được thành lập ngày 10/12/1994, nhân ngày quốc tế Bảo tàng 18/5 và kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bảo tàng ra đời trên cơ sở sáp nhập giữa phòng Truyền thống của ngành Bưu điện
và Bảo tàng Tem thuộc công ty Tem Việt Nam theo quyết định số TCCBLĐ ngày 16 tháng 12 năm 1991 của Tổng cục Bưu điện
Theo quyết định trên: “Thành lập Bảo tàng Bưu điện trực thuộc Văn phòng tổng cục, trên cơ sở tổ chức lại bộ phận bảo tàng lịch sử thuộc Trung tâm Thông tin Xuất bản và bảo tàng tem Bưu chính thuộc Công ty Tem” (Điều 1, quyết định)
Thời gian đầu, Bảo tàng được đặt tại trụ sở 18 Nguyễn Du - Hà Nội Tháng 5 năm 2007, Bảo tàng chuyển về số 10 Hạ Hồi Và nay, để Bảo tàng phát triển ngang tầm với lịch sử vẻ vang của ngành, đồng thời gìn giữ giá trị văn hoá cho thế hệ sau, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT đã quyết định đưa Bảo tàng Bưu điện Việt Nam về trưng bày tại tầng 3 Toà nhà VNPT - 57 Huỳnh Thúc Kháng - Hà Nội vào ngày 18 tháng 5 năm 2011
1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng Bưu điện
Theo ICOM: “Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên, mở cửa đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức”1
Hiệp hội các Bảo tàng Mỹ thì đưa ra định nghĩa về Bảo tàng như sau:
“Bảo tàng là một thiết chế (cơ quan) được thành lập hoạt động lâu dài và không có lợi nhuận, không chỉ nhằm mục đích thực hiện các trưng bày đương đại, được miễn thuế thu nhập quốc gia và liên bang, mở cửa đón công chúng
và hoạt động theo hướng quan tâm của công chúng Có mục đích bảo quản và
1 Hội đồng quốc tế các bảo tàng – lịch sử và quy tắc đạo đức bảo tàng, Cục Di sản văn hóa dịch và xuất bản (2005), tr.113
Trang 13bảo tồn nghiên cứu, giới thiệu, tập hợp và trưng bày có hướng dẫn phục vụ cho nhu cầu thưởng thức của người xem Những hiện vật trưng bày phải có giá trị văn hóa giáo dục, bao gồm những tác phẩm nghệ thuật, những công trình khoa học (cả những hiện vật sống và những vật vô tri, vô giác), những hiện vật lịch sử, và hiện vật khoa học ứng dụng (tư liệu lịch sử và kỹ thuật)
Do vậy các Bảo tàng còn bao gồm cả các vườn thực vật, các vườn thú, những khu thuỷ sinh, các đài thiên văn, cung điện, di tích lịch sử và di chỉ đáp ứng được những yêu cầu nêu ra ở trên”1
Theo Luật di sản văn hoá nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009): “Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng”2
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo tàng nhưng nhìn chung các định nghĩa đều nhấn mạnh vào những mặt cơ bản sau:
- Nhiệm vụ cốt lõi cơ bản nhất của bảo tàng là 6 khâu công tác nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giáo dục
- Mục đích hoạt động của bảo tàng là nhằm để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu, thưởng thức văn hoá quần chúng
- Khách tham quan chính là đối tượng mà bảo tàng hướng tới
Bảo tàng Bưu điện Việt Nam có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền giới thiệu các tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, phản ánh quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Bưu điện Việt Nam từ thời tiền sử đến nay, qua đó giới thiệu thành quả ngành Bưu điện đã đạt được và những đóng góp của ngành vào sự nghiệp xây dựng
Trang 14Điều 2, quyết định 1010/QĐ-TCCBLĐ, ngày 16 tháng 12 năm 1991của Tổng cục Bưu điện, quy định rõ chức năng của bảo tàng Bưu điện như sau:
- Sưu tầm, tàng trữ, bảo quản, trưng bày và giới thiệu các hiện vật lịch
sử và sự hình thành, phát triển và truyền thống của ngành Bưu điện
- Sưu tầm, tàng trữ, bảo quản, trưng bày và giới thiệu các mẫu tem Bưu chính của Việt Nam và các nước
- Tham gia nghiên cứu lịch sử của ngành và khoa học về tem Bưu chính
- Lưu giữ bản gốc mẫu tem đã được duyệt để in và phát hành
- Tư vấn nghiệp vụ bảo tàng đối với các đơn vị trong ngành
1.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ của Bảo tàng Bưu điện
1.1.3.1 Hoạt động nghiên cứu
Trong các Bảo tàng, công tác nghiên cứu khoa học là hoạt động nghiệp
vụ quan trọng, đồng thời là nhiệm vụ, có tính chất xuyên suốt toàn bộ hoạt động của Bảo tàng như sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giáo dục tuyên truyền Mọi hoạt động này đều dựa trên cơ sở hiện vật gốc, hiện vật bảo tàng
Công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng thực chất là nghiên cứu sưu tập hiện vật bảo tàng và các di sản văn hóa (bao gồm di sản bất động sản, môi trường, đối tượng di sản phi vật thể) Trong quá trình hoạt động nghiên cứu, bảo tàng khám phá ra những thông tin, tư liệu mới, xác định các phương pháp
sử dụng chúng để phục vụ cho chức năng xã hội của Bảo tàng
Công tác nghiên cứu của bảo tàng còn hướng tới nghiên cứu bảo tàng học – với từ cách là bộ môn khoa học xã hội để đóng góp những vấn đề lý luận cho bảo tàng học như những khái niệm về bảo tàng, đặc trưng, chức năng của Bảo tàng, các dự án khoa học triển lãm, sưu tầm…
Bảo tàng Bưu điện Việt Nam là một bảo tàng chuyên ngành về Bưu chính – Viễn thông và Công nghệ Thông tin, để thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng mình, lãnh đạo bảo tàng đã rất quan tâm đến công tác nghiên cứu khoa học Bảo tàng thường xuyên tổ chức những buổi hội
Trang 15thảo khoa học trong bảo tàng và theo định kỳ mỗi năm bảo tàng tổ chức 2 buổi gặp gỡ nhân chứng lịch sử, lần thứ nhất sẽ tổ chức từ khu vực Huế trở ra ngoài, lần 2 tổ chức từ Huế vào trong Qua các buổi hội thảo và gặp gỡ nhân chứng lịch
sử như vậy nguồn thông tin thu được từ các nhân chứng lịch sử và các nhà sử học góp phần làm bổ sung và chỉnh lý những thông tin cho các hiện vật trong bảo tàng
và cung cấp nguồn thông tin phong phú, chính xác để xuất bản nhiều tác phẩm sách, báo, tạp chí có giá trị Ngoài ra, lãnh đạo bảo tàng cũng thường tổ chức thi đua nghiên cứu khoa học cho cán bộ trong bảo tàng, qua các cuộc thi đua nhiều đề tại nghiên cứu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn đã được ra đời
1.1.3.2 Hoạt động sưu tầm hiện vật
Công tác sưu tầm là khâu công tác mở đầu quan trọng tạo tiền đề vật chất cho toàn bộ hoạt động của bảo tàng Trong bảo tàng nếu không có hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc mang giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thì không
có hoạt động bảo tàng Những hiện vật gốc mang giá trị bảo tàng được bảo tàng tổ chức thu thập, sưu tầm về bảo tàng theo các nguyên tắc và phương pháp của bảo tàng học
Trong suốt 18 năm qua, Bảo tàng Bưu điện đã thực hiện tốt công tác sưu tầm hiện vật, làm phong phú thêm kho cơ sở và hệ thống trưng bày của bảo tàng Các cán bộ công nhân viên bảo tàng đã cần mẫn lựa chọn hàng nghìn hiện vật, hình ảnh có giá trị bảo tàng và phù hợp với nội dung của Bảo tàng Bưu điện để tổng hợp, phân loại phục vụ cho công tác trưng bày Với những hiện vật chưa có nguồn gốc, cán bộ công nhân viên Bảo tàng đã nghiên cứu tài liệu, gặp gỡ nhân chứng lịch sử, tổng hợp và xác minh, cập nhật thông tin vào các loại biểu mẫu
Trong hoạt động sưu tầm, kế hoạch sưu tầm được bảo tàng thực hiện rất khoa học, đúng theo các quy trình Theo quy định của bảo tàng Bưu điện, cán bộ phòng sưu tầm để thực hiện một chương trình sưu tầm vào năm sau thì phải lập kế hoạch sưu tầm cho lãnh đạo bảo tàng duyệt từ tháng 11 năm trước,
Trang 16nếu được thông qua thì mới được thực hiện chương trình sưu tầm đó vào năm sau
Hoạt động sưu tầm của Bảo tàng Bưu điện ngoài những điểm tương đồng với những bảo tàng khác thì sưu tầm ở Bảo tàng Bưu điện có một số đặc trưng khác biệt Trong giai đoạn sưu tầm hiện nay, các hiện vật được sưu tầm về bảo tàng chủ yếu là các hiện vật là sở hữu của ngành Bưu chính Viễn thông, các cán
bộ kho và cán bộ sưu tầm nghiên cứu trong kho cơ sở của Bảo tàng nếu thấy cần thiết bổ sung thì họ sẽ làm đơn đề nghị lên lãnh đạo phòng, lãnh đạo phòng xét duyệt nếu thấy hợp lý đề nghị lên Tập đoàn được nhập hiện vật về kho Bảo tàng
Vì vậy, trong hoạt động sưu tầm của Bảo tàng hiện nay, các hiện vật được chuyển tới Bảo tàng chủ yếu là các máy móc không còn sử dụng của ngành Bưu chính nhưng có giá trị Bảo tàng, ít có khi phải mua bán, trao đổi từ bên ngoài
1.1.3.3 Hoạt động kiểm kê, bảo quản
Trong các Bảo tàng, công tác kiểm kê hiện vật Bảo tàng là việc nghiên cứu xác định, ghi chép, mô tả các hiện vật, sưu tập hiện vật Bảo tàng nhằm xác định giá trị, nội dung khoa học, lập các thủ tục pháp lý cho hiện vật Bảo tàng phục vụ cho công tác nghiên cứu, công tác trưng bày – giáo dục của Bảo tàng
Công tác kiểm kê hiện vật là một trong sáu khâu công tác của bảo tàng, sau công tác sưu tầm hiện vật, đây là khâu công tác giữ vao trò rất quan trọng,
có liên hệ chặt chẽ với các khâu khác, thực hiện tốt hoạt động kiểm kê thì các hoạt động khác của bảo tàng sẽ được tiến hành dễ dàng, thuận tiện hơn
Hoạt động Kiểm kê, Bảo quản của Bảo tàng Bưu điện được thực hiện rất bài bản và khoa học Hiện vật sau khi sưu tầm về bảo tàng được qua hội đồng xét duyệt hiện vật của bảo tàng Nếu được công nhận là hiện vật Bảo tàng sẽ được qua công tác kiểm kê, bảo quản để hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho hiện vật và được tổ chức bảo quản ở trong kho
Việc lập hồ sơ cho hiện vật sau khi được xét duyệt được các cán bộ kiểm kê tiến hành rất nghiêm túc, kỹ lưỡng đảm bảo đầy đủ các giấy tờ mang
Trang 17tính pháp lý cho hiện vật, và hoàn thiện thêm nội dung, giá trị hiện vật Hồ sơ hiện vật của Bảo tàng Bưu điện gồm 7 loại giấy tờ như sau:
là hoạt động bảo quản hiện vật được tiến hành rất tốt và nhanh chóng, với những thông tin khai thác được hồ sơ giấy tờ của hiện vật, cán bộ bảo quản có thể dễ dàng phân loại hiện vật một cách chính xác và đưa ra biện pháp bảo quản thích hợp
1.1.3.4 Hoạt động trưng bày, tuyên truyền giáo dục
Công tác trưng bày là một trong những công tác có vị trí rất quan trọng nhằm thực hiện sự giao tiếp của Bảo tàng với công chúng, với xã hội Trưng bày là bộ mặt của Bảo tàng, là cầu nối của Bảo tàng với công chúng, là nơi công chúng cảm nhận, thưởng thức những giá trị văn hóa của bảo tàng
Bảo tàng tiến hành công tác giáo dục tuyên truyền đến với công chúng thông qua nhiều hình thức tiếp cận để chuyển giao có mục đích thông tin, những tri thức về lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ, Bảo tàng thực hiện hoạt động tuyên truyền giáo dục này bằng phương pháp trực quan sinh động thông qua hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc và các chương trình giáo dục Để thực hiện công tác này Bảo tàng phải tiến hành hướng
Trang 18dẫn khách tham quan, in ấn, giới thiệu, xuất bản phẩm, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng
Hiện nay, các phòng ban trong Bảo tàng Bưu điện chưa được phân chia
ra rõ ràng nên trong công tác trưng bày, tuyên truyền giáo dục của Bảo tàng vẫn còn gặp nhiều khó khăn Tuy vậy, Bảo tàng Bưu điện vẫn luôn cố gắng để hoàn thành tốt công tác tuyên truyền giáo dục của Bảo tàng
1.2 Nội dung trưng bày của Bảo tàng Bưu điện
Phòng trưng bày của Bảo tàng Bưu điện có diện tích mặt sàn khoảng
500 m2 và được bố trí một cách khoa học, đi theo từng tiến trình lịch sử của ngành Bưu điện, giúp người xem dễ cảm, dễ hiểu về từng giai đoạn trưởng thành và phát triển của ngành Bảo tàng hiện đang lưu giữ, bảo quản và trưng bày hơn 400.000 tài liệu, hiện vật, hình ảnh về Bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tem Bưu chính
Phòng trưng bày của Bảo tàng Bưu điện gồm 3 chủ đề chính:
Chủ đề 1 : Thành tích vẻ vang của ngành Bưu điện
Phần trưng bày chủ đề về thành tích vẻ vang của ngành Bưu điện cũng chính là gian khánh tiết của bảo tàng bưu điên, được thiết kế theo hướng không gian mở, là nơi tổ chức những buổi hội thảo khoa học, sinh hoạt chuyên đề, kết nạp Đảng viên, Đoàn viên mới, giao lưu giữa các thế hệ
Tại đây, không gian rộng với chủ điểm là 2 bức tranh vươn ra biển lớn
và chiếm lĩnh không gian vũ trụ của Bưu chính viễn thông Việt Nam Đặt ở vị trí trang trọng của phòng là hai tủ trưng bày những phần thưởng cao quý mà ngành Bưu điện đã đạt được trong suốt quá trình hơn 65 năm xây dựng và phát triển như Huân chương Sao vàng; Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới
Chủ đề 2: Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Bưu điện, gồm các giai đoạn:
- Giai đoạn trước 1945
Trang 19- Giai đoạn từ 1945 – 1954
- Giai đoạn 1955 – 1975
- Giai đoạn từ 1976 đến nay
Phần trưng bày theo biên niên sử Trong giai đoạn trước 1945, Bảo tàng
đã sưu tầm và trưng bày giới thiệu một số hình ảnh về hoạt động Bưu chính, vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện bằng đường bộ tại nông thôn, một số vật dụng trước năm 1945 như thùng thư lưu ký do Pháp sản xuất của Bưu điện Đà Nẵng gửi tặng; đoạn cáp điện thoại do thực dân Pháp sản xuất, được lắp đặt phục vụ thông tin hữu tuyến Sài Gòn - Hà Nội từ năm 1888; máy điện thoại
do hãng Ericsson sản xuất, được sử dụng phục vụ thông tin liên lạc thời Pháp thuộc ở Hà Nội năm 1940, được công nhân người Việt cất giấu và sử dụng phục vụ chính quyền Cách mạng sau năm 1945…
Phần trưng bày giai đoạn 1945-1954 mang lại nhiều xúc cảm với người xem trước những hiện vật mà lớp cha anh đi trước đã sử dụng phục vụ cho việc thông tin liên lạc như chiếc xe đạp do đồng chí Nguyễn Văn Tân, cán bộ
kỹ thuật ngành Bưu điện có sáng kiến cải tiến, lấy bộ phận tạo ra điện Mô) của ô tô Pháp lắp vào bánh sau xe đạp, nối với bánh xe trước tạo thành máy phát điện một chiều, dùng để cung cấp nguồn điện cho máy vô tuyến điện; những vật dụng thô sơ như chiếc ống quyển được làm bằng thân cây tre, nứa; túi được khâu bằng vải thô dùng để đựng công văn, tài liệu; băng đỏ phù hiệu Quốc kỳ mà giao thông viên Hà Nội đeo khi làm nhiệm vụ trong những ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946; chiếc phao bơi bằng vải mà giao thông viên Vũ Thị Thuấn đã sử dụng 9 lần vượt sông Văn Úc để chuyển công văn, tài liệu và đưa đón cán bộ Cách mạng
(Đi-Na-Tại phần trưng bày này, Bảo tàng cũng trưng bày một số máy móc, thiết bị CBCNV ngành Bưu điện đã sử dụng như: máy vô tuyến điện BC-
1306, máy phát âm thanh manip dùng dạy học lớp vô tuyến điện báo đầu tiên…
Trang 20Tại phần trưng bày 1955-1975, Bảo tàng đã lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu nhất để giới thiệu một số hoạt động trọng tâm của ngành Bưu điện như: Lễ bàn giao Nha Bưu điện Bắc phần cho Chính quyền Cách mạng tháng 10/1954; hoạt động của một Phòng giao dịch Bưu điện ở giới tuyến;
Hệ thống loa truyền thanh do CBCNV Công ty Công trình Bưu điện mắc tại
bờ Bắc sông Bến Hải từ năm 1960 Bên cạnh đó là một số hiện vật phục vụ sản xuất và chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có máy điện thoại phục vụ giao thông vận tải tại bến phà Ghép - Thanh Hóa, nơi thường xuyên
bị máy bay Mỹ bắn phá, máy thu phát kèm ragônô phục vụ chiến đấu và phòng chống thiên tai, chiếc xe Hon đa mà lực lượng giao bưu khu Sài Gòn-Gia Định đã sử dụng để vận chuyển công văn, tài liệu, đưa đón cán bộ đến địa điểm tập kết an toàn
Giai đoạn 1975 cho đến nay, đi lên cùng đất nước, ngành Bưu điện bước vào giai đoạn tăng tốc, hội nhập quốc tế Tại đai trưng bày này, Bảo tàng đã lựa chọn một số sản phẩm công nghiệp thông tin do ngành Bưu điện sản xuất, mô hình, hình ảnh các công trình tiêu biểu: Công trình thông tin vệ tinh mặt đất đầu tiên do Liên Xô giúp đỡ, được xây dựng năm 1980 tại Do
Lễ, Kim Bảng, Hà Nam; hình ảnh xây dựng cột cao trên tuyến thông tin hữu tuyến dọc Quốc lộ 1A Hà Nội - TP Hồ Chí Minh - Minh Hải; Thi công lắp đặt cáp ngầm tại các thành phố lớn, lắp đặt anten viba số, phóng vệ tinh Vinasat…
Ngoài ra, còn rất nhiều các hình ảnh và hiện vật của những sự kiện lớn trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, phát triển viễn thông – công nghệ thông tin trong thời kỳ mới
Chủ đề 3: Tem Bưu chính Việt Nam và tem Liên minh Bưu chính thế giới (UPU)
Không gian trưng bày cuối cùng của Bảo tàng Bưu điện là phần trưng bày chủ đề: tem Bưu chính Việt Nam và tem liên minh Bưu chính thế giới
Trang 21Phần trưng bày cuối cùng này có các bộ sưu tầm tem rất phong phú và đa dạng gồm cả những mẫy tem Bưu chính Việt Nam và tem Bưu chính thế giới Chủ đề trưng bày về tem Bưu chính này luôn là phần mang đến sự thích thú
và để lại ấn tượng sâu sắc cho khách tham quan đến với bảo tàng Bưu điện
1.3 Nội dung trưng bày tem Bưu chính Việt Nam và tem Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) tại Bảo tàng Bưu điện
Phần trưng bày tem Bưu chính Việt Nam và tem liên minh Bưu chính thế giới bao gồm bộ sưu tập gần 400.000 con tem UPU của 264 nước, vùng lãnh thổ và tổ chức phát hành tem thế giới, những con tem này được trưng bày trong 2 tủ kéo hiện đại với 200 cánh; và hơn 4.000 mẫu tem Bưu chính Việt Nam phát hành từ năm 1946 đến nay, trong đó có bộ tem đầu tiên của nền Bưu chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phát hành đặc biệt nhân dịp
1 năm ngày Cách mạng tháng 8 thành công và quốc khánh 2 tháng 9 năm
1946
Đây là chủ đề cuối trong không gian trưng bày của bảo tàng, có ý nghĩa quan trọng, các hiện vật trong phần trưng bày này ngoài mang những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học đặc biệt quan trọng như những mẫu tem đầu tiên của nước Việt Nam, nó còn là những hiện vật cực kỳ quý hiến, có giá trị kinh
tế rất cao như các mẫu tem liên minh Bưu chính thế giới bằng vàng
Tem Bưu chính Việt Nam từ 1946 đến nay được trưng bày trong 4 tủ taplo
- Tủ 1 trưng bày tem từ 1946 đến 1980 gồm 1187 tem
- Tủ 2 trưng bày tem từ 1980 đến 1991 gồm 1186 tem
- Tủ 3 trưng bày tem từ 1992 đến 2001 gồm 789 tem
- Tủ 4 trưng bày tem từ 2002 đến nay gồm 354 tem
Tem giai đoạn từ 1946 đến 1954 được trưng bày trên mặt thứ đầu tiên của album tem thuộc tủ taplo 1, riêng những con tem Đông Dương in đè được trưng bày trong tủ kính nằm ở chính giữa của gian trưng bày
Trang 22Ngoài các hiện vật mang tính chủ đạo của gian trưng bày là các con tem Bưu chính Việt Nam và tem liên minh Bưu chính thế giới, trong gian trưng bày này còn giới thiệu một số tài liệu, hiện vật có giá trị, ý nghĩa như: các sổ dịch tem liên minh Bưu chính thế giới, một số mẫu phác thảo tem Bưu chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945 – 1954, bộ tem về các dân tộc Việt Nam, con dấu của Bưu điện Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt, trong phần trưng bày này nổi bật lên với tác phẩm tranh: Bác Hồ đang nghe điện thoại, được ghép bằng các con tem Bưu chính Việt Nam Đây là tác phẩm không những mang tính nghệ thuật cao mà nó còn thể hiện trình độ mỹ thuật tinh tế
và tình cảm kính mến của tác giả với Bác Hồ kính yêu
1.4 Vài nét về sự ra đời của tem Bưu chính và lịch sử tem Bưu chính Việt Nam
1.4.1 Vài nét về sự ra đời của tem Bưu chính
Lịch sử bưu chính thế giới đã ghi nhận hoạt động thư tín đã có từ thời
cổ đại và là đặc quyền của giới vua chúa Các Pharaoh Ai Cập cổ đại đã sử dụng những sứ giả để chuyển tin khắp trong và ngoài lãnh thổ của mình Thư tín trong thời kỳ này là những tấm đất sét có khắc chữ Có thể nói người lính truyền tin chiến thắng từ Marathon về Aten vào năm 490 (trước công nguyên)
là người bưu tá đầu tiên trong lịch sử
Ở châu Âu, hoạt động bưu chính phát triển tương đối nhanh Đặc biệt là tại nước Anh, vào thế kỷ 16, vua Henri VIII đã cử một viên quan chuyên coi sóc hoạt động bưu chính Năm 1661, Henry Bishop đã đưa ra sáng kiến sử dụng con dấu có khắc ngày, tháng, năm để đóng lên các bì thư tín nhằm theo dõi các tuyến thư
Từ thế kỷ 17, một số nước ở châu Âu đã tổ chức chuyển thư của cơ quan và nhân dân Người bưu tá chuyển thư và nhận tiền thanh toán cước phí
từ người nhận thư Phương pháp này gây nhiều phiền toái như: cước phí cao
Trang 23(người bưu tá phải đi ngựa hàng chục dặm để chuyển một bức thư), mất an ninh cho bưu tá
Bưu chính Pháp và Anh có phương án: người gửi thư mua một phiếu dán vào bì thư rồi bỏ vào thùng thư Bưu tá lấy thư, bóc lại phiếu và chuyển
đi Phương án này không được áp dụng lâu Tuy vậy những phiếu dùng thời
đó có thể được coi là "mẫu tem đầu tiên" và có giá trị sưu tầm rất cao Những mẫu đó hiện chỉ còn trên văn bản ở Bảo tàng
Đến thế kỷ 17, nước Anh mở đầu sự nghiệp Bưu chính do nhà nước kinh doanh Cho đến những năm 30 của thế kỷ 19, nước Anh vẫn thu lệ phí gửi thư theo số trang và cự ly vận chuyển của đường thư Một bức thư từ Luân Đôn đến Scotland phải trả cước phí bằng tiền công nhật của một công nhân xây dựng đường sắt Người dân bình thường không thể trả được giá cước đắt như vậy, cho nên người ta tìm mọi cách để giảm hoặc không trả cước Ví dụ: có một thương nhân khéo léo viết nhiều bức thư lên một tờ giấy rồi gửi cho một người nhận, người đó lại cắt tờ giấy thành từng thư rồi trao cho người nhận thư ở cùng khu vực Bởi vì thư đó là một tờ giấy nên chỉ phải trả cước của một bức thư và như vậy giảm cước phải nộp của người nhận thư
Sir Rowlland Hill (1795-1879) là một nhà cải cách kiệt xuất Ông quê ở Birmingham nước Anh, là một giáo viên dạy toán nhưng rất quan tâm đến hoạt động Bưu chính
Thời ấy, ở nước Anh còn lưu truyền một câu chuyện như sau: Năm
1888, Rowlland Hill đang đi chơi ở một vùng gần Luân Đôn, ông thấy một người phu trạm từ xa mang một phong thư đưa cho một cô gái Cô gái cầm bức thư chỉ nhìn qua rồi trả lại người phu trạm và nói: “Xin lỗi tôi không có tiền, mong ông trả về người gửi” Người phu trạm và cô gái lời qua tiếng lại Ông đi tới, hỏi rõ tình hình rồi trả giúp cô gái bưu phí Sau khi người phu trạm đi khỏi cô gái nói với ông rằng: “Bức thư này là của anh tôi gửi Chúng tôi đã hẹn trước với nhau nếu bình yên vô sự thì đánh một dấu tròn ở bì thư,
Trang 24sau khi xem xong tôi biết anh ấy ở xa không xảy ra chuyện gì, khỏi phải trả cước Thế là vừa có thông tin vừa không phải trả tiền”
Năm 1835, Rowlland Hill bắt đầu nghiên cứu vấn đề cải cách Bưu chính nước Anh Để tuyên truyền cho tư tưởng cải cách, năm 1837, ông cho xuất bản một quyển sách nhỏ mang tên “Cải cách bưu cục - tầm quan trọng và tính thực tiễn” (Post Office Reform It’s Importance and Practicability), trong sách này ông nêu ra một biện pháp cải cách là trong phạm vi vùng đất Anh và Bắc Ai-len, mọi thư tín không kể đường bưu xa gần mỗi thư nặng 1/2 ounce (14,2 g) chỉ thu cước 1 Penny và phải trả trước bằng cách mua một bì thư đã
có dấu hiệu trả cước để người gửi thư sử dụng
Để thuận tiện cho người gửi không muốn dùng bì thư đã in dấu hiệu trả cước, bưu cục bán cho một mảnh giấy “in hoa”nhỏ để dán lên bì thư tự làm Mảnh giấy “in hoa” nhỏ như một bông hoa, mặt sau có keo, chỉ cần làm ướt rồi dán lên bì thư Rowlland Hill gọi mảnh giấy đó là “lá nhãn” (label), thực
tế là con tem chúng ta dùng ngày nay
Tháng 01-1837, Rowlland Hill viết thư cho một thành viên Chính phủ Anh đề xuất kiến nghị này nhưng kiến nghị bị Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu chính Anh kịch liệt phản đối Sau đó, Rowlland Hill in quyển sách nhỏ này thành truyền đơn phát khắp nơi để tạo sự chú ý của dư luận Quốc hội Anh sau nhiều lần thảo luận, cuối cùng tháng 08-1839 đã thông qua một đạo luật nổi tiếng là “Luật cước 1 Penny”(One Penny Act) Ngày 10/01/1840, nước Anh quyết định thực hiện kiến nghị của Rowlland Hill: không kể xa gần, mỗi bức thư nặng 1/2 ounce thu phí 1 Penny Đó là chế độ cước bình quân 1 Penny có ảnh hưởng sâu rộng trên lịch sử Bưu chính toàn thế giới Để thực hiện kế hoạch cải cách Bưu chính của Rowlland Hill, Bộ Tài chính (thời đó bưu cục ở Anh do Bộ Tài chính quản lý) đã mời ông về làm việc
Tem 1 Penny Đen in hình Nữ hoàng Victoria để vừa thể hiện quyền uy của quốc gia vừa thể hiện sự nghiêm túc của một chứng khoán có giá mặt
Trang 25bằng tiền do nhà nước phát hành, khi in ấn đã áp dụng công nghệ in khắc tiên tiến nhất thường dùng để in tiền giấy của các nước ở Âu, Mỹ thời đó và in trên giấy có bóng mờ hình vương miện để chống làm giả Phía trên tem ở giữa
có chữ “Postage” (cước bưu), hai bên góc có hoa chữ thập, phía dưới tem, giữa là chữ “One Penny” (1 Penny) Tờ tem in chiều ngang 12 tem, chiều dọc
20 tem, tổng cộng 240 tem, giá mặt cả tờ vừa đúng 1 Bảng Anh Để ngăn ngừa làm giả, mỗi tem có một bóng mờ vương miện trên giấy, phía dưới tem
ở 2 góc có 2 chữ cái để đánh dấu Những con tem cùng hàng ngang, chữ cái ở góc trái giống nhau, những con tem cùng hàng dọc, chữ cái ở góc phải giống nhau Theo vậy mà đánh dấu
Nước Anh dự định ngày 10/01/1840 bắt đầu áp dụng cước bình quân 1 Penny, nhưng đến tháng giêng năm đó không chuẩn bị đủ bì thư và tem, cho nên tạm thời đóng dấu “đã thu cước” lên bì thư Về nguyên tắc, ngày phát hành tem là 06/05/1840, nhưng có bưu cục đã bán tem từ ngày 01/05/1840 Con tem đầu tiên của thế giới đã ra đời như vậy
Tiếp theo nước Anh, Brazil bắt đầu sử dụng tem vào năm 1843; sau đó
là Mỹ và Mauritius vào năm 1847; Pháp, Bỉ và Bavaria vào năm 1849; Áo, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ vào năm 1850; Đức và Đan Mạch vào năm 1852… Hầu hết các nước khác cũng bắt đầu sử dụng tem vào năm 1860 Như vậy là chỉ trong vòng 20 năm tem sau khi ra đời, tem Bưu chính đã có mặt trên khắp thế giới
1.4.2 Vài nét về lịch sử tem Bưu chính Việt Nam
1.4.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945
Ở Việt Nam, từ khi tiến hành xâm lược Nam Kỳ năm 1858, thực dân Pháp đã chú trọng đến thiết lập và phát triển hoạt động Bưu chính Con tem đầu tiên do chính quyền Pháp lưu hành tại Việt Nam vào năm 1863 mang hình một con cò Năm 1889, con tem indochine (Đông Dương) chính thức ra đời dùng chung cho cả ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia Từ năm 1892
Trang 26– 1900, thực dân Pháp phát hành bộ tem Navigation et commerce (Hàng hải
và Thương mại)
Năm 1904 – 1906 phát hành bộ tem La france (nước Pháp)
Năm 1907 phát hành mẫu tem phụ nữ An Nam, mẫu tem phụ nữ Miên
và bộ tem phụ nữ Đông Dương gồm 5 mẫu : Phụ nữ Miên, Phụ nữ An Nam, Phụ nữ Mường, Phụ nữ Lào, Phụ nữ Bắc Kỳ
Năm 1912 phát hành tem của thời kỳ 1904 – 1906 chỉ đổi giá
Năm 1914 – 1915 phát hành tem thời kỳ 1907 có in kèm thêm giá mặt Năm 1918 – 1919 phát hành tem đã in đè năm 1914 – 1915 và in đè nổi giá lần thứ hai
Từ năm 1920 đến năm 1927, thực dân Pháp phát hành ở Đông Dương liên tiếp nhiều loại tem mới như các mẫu tem: phụ nữ Bắc Kỳ búi tóc, chùa Một Cột, chùa Thiên Mụ, vịnh Hạ Long có mệnh giá từ một hào đến hai đồng
Từ năm 1936 đến 1943, nhiều loại tem mới được tiếp tục phát hành như tem in hình vua Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương, Hội chợ triển lãm, tem các danh tướng có công trong cuộc trinh phục Đông Dương, tem kỷ niệm
150 năm Đại Cách mạng Pháp
Sự xuất hiện của nhiều mẫu tem trong thời gian thực dân Pháp cai trị tại Việt Nam đã phần nào khẳng định phần nào khẳng định được vai trò của con tem trong hoạt động Bưu chính
Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tại vùng căn Cao – Bắc – Lạng có lưu hành một số tem gọi chung là Tem Việt Minh dùng trong vùng giải phóng Những mẫu tem này có thể có thể coi là tiền thân của Tem Bưu chính Việt Nam sau này
1.4.2.2 Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến 1954
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chế độ Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, biết bao
Trang 27việc phải làm để ổn định đời sống nhân dân, chống nạ đói, nạn mù chữ, không
có trang thiết bị kỹ thuật in ấn nên chính quyền Cách mạng chưa phát hành được tem mới Nhưng nhiệm vụ đặt ra là vẫn phải đảm bảo thông tin liên lạc, nhất là hoạt động Bưu chính để phục vụ nhu cầu giao lưu tình cảm của nhân dân Vì vậy, Chính phủ đã cho phép Bưu điện Việt Nam lấy những con tem Bưu chính Đông Dương không còn giá trị sử dụng đem in lên mặt tem các chữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”, “Quốc phòng”, “Cứu đói”, “Dân sinh”, “Binh sĩ bị nạn” và giá tị tiền mới tạm thời
sử dụng trên mạng Bưu chính Tổng cộng có 53 mẫu tem Đông Dương được
in đè với 13 loại tiêu đề khác nhau tạo thành 57 mẫu tem Việt Nam
Ngày 2/9/1946, nhân kỷ niệm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần thứ nhất theo sắc lệnh số 472/58, ngày 27/8/1946 của chủ tích
Hồ Chí Minh bộ tem đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, chiến tranh nhanh chóng lan tràn ra cả nước Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Do hoàn cảnh chiến tranh nên năm 1947, 1948, Bưu điện Việt Nam không phát hành được tem mới mà phải tiếp tục những mẫu tem Đông Dương in đè lên các chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Bưu chính hoặc Việt Nam Độc lập Tự do Hạnh phúc – Bưu chính để tạm thời sử dụng
Kỷ niệm 59 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bưu điện Việt Nam
đã phát hành bộ tem gồm 2 mẫu mang hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh do họa
sĩ Nguyễn Sáng thiết Kế mẫu Tem có kích thước 2.8 x 4.3 cm được in trên giấy đỏ tại nhà in Trung ương Việt Bắc Đây là bộ tem thứ hai do Bưu chính Việt Nam phát hành nhưng nó cũng là bộ tem đầu tiên được in trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Trong những năm tiếp theo 1951 – 1954, nhu cầu về thông tin liên lạc ngày càng cấp thiết, đặc biệt là thông tin về các cuộc kháng chiến, những
Trang 28kháng chiến vang dội của quân và dân ta trên chiến trường với hậu phương, với quốc tế càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Do đó, hoạt động Bưu chính cũng ổn định và mở rộng, tem Bưu chính phát hành cũng nhiều hơn.
1.4.2.3 Giai đoạn từ 1955 đến 1976
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nước ta bị chia cắt làm 2 miền, Miền Bắc được giải phóng, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam vẫn tiếp tục hoàn thành cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Do vậy, tem Bưu chính đã có những bước phát triển mới, có thêm nhiều bộ tem phản ánh, tuyên truyền chân thực với các sự kiện lịch sử quan trọng, đặc biệt với cuộc Cách mạng, phản ánh đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước, những hoạt động xây dựng và phát triển kinh tế của Miền Bắc hậu phương, hoạt động văn hóa xã hội, những giá trị truyền thống, hình ảnh về thiên nhiên, đất nước, con người, số lượng tem phát hành nhiều hơn, mẫu vẽ tem đẹp, hình thức phong phú và đa dạng, công nghệ in ấn tiến bộ hơn Ngoài ra về thể loại, thời kỳ này
đã phát hành thêm nhiều loại tem mới:
Tem miễn phí dùng cho quân đội, thương binh phát hành ngày 1/5/1958, loại tem này không có giá tiền in trên tem mà chỉ co chữ MBP/VQĐ hoặc MBP/TB Mỗi tem chỉ có giá trị gửi một thư thường không quá 20 gam
Tem máy bay được phát hành ngày 20/11/1959
Tem Bưu chính nông thôn được phát hành ngày 1/9/1962, gồm 3 mẫu nhưng chỉ có giá trị một chiều, cụ thể có thể gửi tài liệu trong xã và gửi công văn từ xã lên huyện
Ngày 27/2/1959, Chủ tịch nước ra sắc lệnh cho phép ngân hàng quốc gia Việt Nam tiến hành đổi tiền, do đó một số tem như tem Hai Bà Trưng, tem vịnh Hạ Long và nhiều loại tem khác đã phát hành trước đó vẫn còn giá trị nhưng phải đổi theo giá tiền mới
Trang 29Thời kỳ này, Bưu điện Việt Nam đã phát hành được 360 mẫu tem với tổng số 909 mẫu tem, trong đó có 117 mẫu tem về văn hóa truyền thống Việt Nam phản ánh nếp sống, sinh hoạt, phong tục tập quán,trang phục các dân tộc chiếm khoảng 12.8 tổng số các mẫu tem đã phát hành
Tại miền Nam, đáp ứng yêu cầu của lịch sử, ngày 20/12/1960, mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, tập hợp các lực lượng quần chúng, tạo thành khối đại đoàn kết dân tộc đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Do vậy, trong thời gian này, hoạt động Bưu chính, thông tin liên lạc cũng có nhiều thay đổi
Từ ngày 20/7/1954 đến ngày 30/4/1975 có hai dòng tem thư cùng tồn tại:
Tem do chính quyền Sài Gòn cũ phát hành lưu hành tại vùng bị chiếm gọi là Tem Việt Nam Cộng hòa Tuy nhiên, số lượng tem phát hành không nhiều (53 mẫu) chủ yếu về các chủ đề danh lam thắng cảnh, tem máy bay, tem nội các chính quyền Việt Nam cộng hòa
Ngày 30/4/1975, khi chính quyền ngụy quyền sụp đổ thì dòng tem này cũng chấm dứt
Tem mang tiêu đề “Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam” do Bưu cục Trung ương Miền Nam Việt Nam phát hành dùng trong vùng giải phóng
Bộ tem đầu tiên gồm 3 mẫu được phát hành ngày 20/12/1963 nhân kỷ niệm 3 năm thành lập Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam Tem có kích thước 5.5 x 2.5 cm, trên tem in hình lá cờ của Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam với 4 dòng chữ “Độc lập – Dân chủ - Hòa bình – Trung lập” in bằng 3 thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha (mỗi mẫu tem in 1 thứ tiếng) do họa s? Lê Thanh Đức thiết kế
Cuộc kháng chiến chống Mỹ - ngụy ngày càng giành được nhiều thắng lợi, giải phóng nhiều vùng rộng lớn Ngày 8/6/1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đổi tên là Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do đó, tem thư “Mặt trận giả phóng Miền Nam Việt Nam” được thay bằng tem “Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” Bộ tem đầu tiên do
Trang 30Bưu chính Cộng hòa Miền Nam Việt Nam phát hành ngày 22/4/1970 gồm 4 mẫu nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Lê nin
Như vậy, từ năm 1963 đến năm 1969, tem Bưu chính với tiêu đề “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát hành được 8 bộ với 12 mẫu Từ năm 1970 đến năm 1976 tem Bưu chính với tiêu đề “Cộng hòa miền Nam Việt Nam” đã phát hành 14 bộ gồm 48 mẫu Mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng với 70 mẫu tem phát hành trong thời kỳ này đã thể hiện được tốt vai trò tuyên truyền, phản ánh giá trị lịch sử, văn hóa của một thời kỳ lịch sử vẻ vang của dân tộc Tuy nhiên do điều kiện lịch sử nên tem Bưu chính có tiêu đề “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam” và “Cộng hòa miền Nam Việt Nam” phát hành không đều, số lượng phát hành còn hạn chế,
có những năm không phát hành tem
1.4.2.4 Giai đoạn 1976 đến nay
Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi, đất nước hoàn toàn giải phóng Ngày 24/6/1976,tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Cũng từ đây, tem Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tem Cộng hòa miền Nam Việt Nam hòa nhập làm một Quá trình này đã thể hiện rất sinh động qua bộ tem cuối cùng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều mang hình vẽ bản đồ Việt Nam, hoa đào, hoa mai và dòng chữ “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, “Độc lập, thống nhất, chủ nghĩa xã hội”
Bộ tem đầu tiên kể từ khi đất nước thống nhất mang tên “Việt Nam thống nhất” được phát hành ngày 24/6/1976 Tem có kích thước 3.1 x 4.7 cm, được in ốp sét 3 màu tại nhà in Tiến bộ Trọng tâm của con tem in hình bản
đồ Việt Nam màu đỏ, có ngôi sao vàng chỉ Thủ đô Hà Nội đặt trên nền mặt trống đồng Ngọc Lũ – sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam từ mấy ngàn năm
Trang 31lịch sử Trên mẫu tem có in tiêu đề “Việt Nam”, giá mặt tem là 12 xu, do họa
sĩ Đỗ Việt Tuấn và Nguyễn Văn Hiệp thiết kế
Từ năm 1946 đến năm 2000, Bưu chính Việt Nam đã phát hành được
848 bộ tem bao gồm 3164 mẫu tem với hàng triệu triệu con tem, chủ yếu tập chung phản ánh về các mốc lịch sử của các nước, anh hùng dân tộc, đất nước con người trong thời kì xây dựng đổi mới, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, trong đó có 361 mẫu tem phản ánh về đời sống văn hóa, phong tục tập quán, văn hóa truyền thống Việt Nam
Như vậy chỉ trong khoảng hơn 60 năm xây dựng và phát triển, ngành Bưu điện Việt Nam đã đạt được những thành tích đặc biệt xuất sắc, được Đảng, Nhà nước tặng nhiều danh hiệu thi đua cao quý Năm 1995, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Huân chương Sao Vàng- Huân chương ghi nhận công trạng cao nhất của Nhà nước cho ngành Bưu điện Và đây là Ngành kinh tế kĩ thuật đầu tiên được Huân chương này Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
đã tặng bức trướng thêu 10 chữ vàng "Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình" ghi nhận truyền thống tốt đẹp của Ngành Bưu điện
Trang 32Chương 2 SƯU TẬP TEM BƯU CHÍNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 TẠI BẢO TÀNG BƯU ĐIỆN
2.1 Khái quát về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng lúc phải đối phó với muôn vàn khó khăn phức tạp Nền kinh tế đất nước sau gần một thế kỷ bị chủ nghĩa thực dân kìm hãm và phải phục vụ chiến tranh đế quốc, đã trở nên xơ xác tiêu điều Đồng ruộng hoang hóa, thiên tai liên miên làm cho nông nghiệp mất mùa liên tục Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giao thông ách tắc, tài chính trống rỗng… Nạn thất nghiệp gia tăng ở cả thành thị và nông thôn, đặc biệt là nạn đói ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ tiếp tục đe dọa hàng triệu người Đất nước có hơn 90% dân số
mù chữ, tệ nạn xã hội lan tràn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân
vô cùng thấp kém Cái đói và cái dốt tích tụ từ bao năm đang kìm hãm cả dân tộc vừa giành được chính quyền về tay nhân dân Nền Dân chủ Cộng hòa Việt Nam đang rất cần điều kiện hòa bình để củng cố xây dựng
Đã vậy thù trong giặc ngoài lại đang có mặt khắp nơi trên đất nước Lực lượng Đồng minh gồm hàng chục vạn quân kéo vào Việt Nam ngay khi cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta vừa giành được thắng lợi Ở phía Bắc, được Mỹ cho phép, 20 vạn quân Tưởng tràn sang với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp phát xít Nhật, nhưng chúng lại nuôi dã tâm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Đông Dương, phá tan Việt Minh và lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh
Ở phía Nam quân Anh cũng sớm bộc lộ ý đồ giúp Pháp lập lại chế độ thuộc địa trên bán đảo Đông Dương Quân Nhật trước khi buộc phải rời khỏi Đông Dương cũng ra sức phục thù Cách mạng Việt Nam Quân Pháp tranh thủ tăng cường lực lượng và đánh chiếm mở rộng địa bàn xâm lược trước khi quân Đồng minh rút khỏi Đông Dương Lợi dụng vòng vây đế quốc đang rình rập Cách mạng, bọn phản động trong nước nổi lên hoặc từ bên ngoài kéo về hoạt
Trang 33động gây rối, phá hoại, nhất là bọn phản dân hại nước trong tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đảng (Việt Cách) thù trong giặc ngoài đã cùng xuất hiện với nhiều bộ mặt và nhiều mưu mô thủ đoạn khác nhau, nhưng nếu có chung một mục tiêu là bóp chết Chính quyền Cách mạng còn non trẻ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ tiêu cuộc Cách mạng giải phóng do Đảng Cộng Sản Đông Dương đang tổ chức lãnh đạo
Ngày 3/9/1945, ngay sau khi mừng độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đề nghị thực hiện 6 biện pháp cấp bách: phát động phong trào tăng gia sản xuất và mở lạc quyên cứu đói, mở phong trào chống nạn mù chữ, tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ, mở phong trào giáo dục cần kiệm liêm chính, bài trừ hủ bại, bỏ ngay 3 thứ thuế vô nhân đạo (thuế thân, thuế chợ, thuế đò) và cấm hút thuốc phiện, tuyên bố tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết Đây vừa là đòn tấn công đầu tiên của chính quyền mới, vừa là chính sách kinh tế xã hội đầu tiên của chế độ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam
Lòng tin của chính quyền Cách mạng đối với nhân dân đã khơi dậy tình nhân ái, lòng ái quốc của hàng triệu đồng bào Từ đó hàng loạt sắc lệnh của chính phủ, chủ trương của Đảng và Mặt Trận Việt Minh được nhanh chóng thi hành, biến thành hành động Cách mạng thiết thực Việc chống giặc đói và giặc dốt phục hồi nền kinh tế đất nước đã thu được những kết quả ban đầu khả quan: các cuộc “Lạc quyên cứu đói”, “Tuần lễ vàng” được tổ chức khắp nơi; toàn dân tăng gia sản xuất và Chính quyền Cách mạng cách địa phương đã chia lại ruộng công, tạm gai tạm cấp ruộng hoang hóa và ruộng vắng chủ cho người thiếu ruộng; chế độ ngày làm 8 giờ được áp dụng, quan hệ chủ thợ được quy định lại; đồng tiền Việt Nam (tiền cụ Hồ) được phát hành, quỹ đảm phụ Quốc phòng được thành lập; phong trào “Bình dân học vụ” được phát động đã lôi cuốn hàng triệu người hiếu học muốn thoát nạn mù chữ; mùa khai trường đầu tiên của tuổi trẻ nước Việt Nam mới được tổ chức ngay sau ngày mừng độc lập; tiếng Việt được quy định sử dụng làm ngôn ngữ chính thức
Trang 34trong giảng dạy, học tập và trong các hoạt động chính trị xã hội; cuộc vận động xây dựng nếp sống mới đời sống văn hóa mới đã dấy lên ở cả thành thị
và nông thôn… Bao công việc bề bộn nhưng mọi người đã hăm hở thực hiện, với ý thức làm chủ vận mệnh của mình trên một đất nước đã có tự do độc lập
Việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền cũng được tổ chức khá sớm Ngày 6/1/1946 cuộc Tổng tuyển cử tự do đầu tiên trong lịch sử dân tộc được tiến hành trên phạm vi cả nước Ngày 2/3/1946 Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên Quốc hội đã giao cho Cụ Hồ Chí Minh lập chính phủ mới Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thông qua tại kỳ họp thứ II Quốc hội khóa 1 (từ ngày 28 /10 đến 8/11/1946) Ở các địa phương, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp cũng được tổ chức Từ đây một hệ thống chính quyền hợp hiến, hợp pháp được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương Giữa hai kỳ họp Quốc hội khóa 1, ở Việt Nam có tồn tại một chính phủ Liên hiệp; những sự liên hiệp ấy thiếu nhiều cơ sở chính trị và xã hội để tồn tại… Đến đầu tháng 11/1946, Chính phủ Liên hiệp hoàn toàn tan
vỡ Một Nhà nước của dân, do dân và vì dân trở lại trong sạch với uy tín ngày một cao, toàn tâm, toàn ý cho dân tộc
Về ngoại giao, hàng loạt các đối sách vừa linh hoạt mềm dẻo vừa cương quyết, cứng rắn đã được Chính phủ ta ứng dụng từ tháng 8/1945 đến cuối năm 1946 Đến cuối tháng 12/1946 về cơ bản những âm mưu thâm độc của kẻ thù đối với Cách mạng Việt Nam đều không thực hiện được; các loại thù trong giặc ngoài bị loại dần chỉ còn lại một mình thực dân Pháp đối chọi với Việt Nam
Bằng nhạy bén chính trị và tài mưu lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chọn việc tạm hòa hoãn với Pháp nhằm tranh thủ hòa bình để chuẩn bị thêm cho một cuộc chiến tranh khó tránh khỏi
Với những âm mưu kiên quyết đánh chiếm Việt Nam và lập lại chế độ thuộc địa, thực dân Pháp tìm mọi cách trì hoãn cuộc đàm phán, phá hoạt mọi
Trang 35điều họ ký kết Từ cuối năm 1946 thực dân Pháp đã ráo riết chuẩn bị cho một cuộc vũ trang xâm lược trên toàn cõi Đông Dương, chúng âm mưu tiến hành đánh úp ta ở Hà Nội để buộc chính phủ Hồ Chí Minh phải đầu hàng
Ngày 20/11/1946 quân Pháp đánh Hải Phòng và Lạng Sơn Đầu tháng 12/1946 Pháp cho đổ thêm quân vào Đà Nẵng và liên tục khiêu khích ta ở Hà Nội Ngày 16/12/1946 D’argenlieur đòi khôi phục lại Hiệp ước năm 1883 và
1884 trong lúc valuy triển khai kế hoạch đánh chiếm Bắc Bộ Ngày 17/12/1946 quân Pháp tàn sát đồng bào ta ở Hà Nội Ngày 18 và sáng 19/12/1946 Pháp đưa ra 3 tối hậu thư đòi ta phải đầu hàng… Thực dân Pháp
đã chọn con đường chiến tranh với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng thực dân dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa” Đó cũng chính là lý do chính đáng nhất để nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ
Trong 9 năm kháng chiến, quân dân Việt Nam đã lần lượt đánh bại 5 kế hoạch chiến lược chiến tranh của Pháp; đã mở 10 chiến dịch lớn có ý nghĩa như những đòn chiến lược giáng vào đạo quân viễn chinh của Pháp sau đại chiến thế giới lần thứ II Như vậy chọn con đường chiến tranh là nước Pháp
đã tự chọn con đường kết thúc thê thảm thời kỳ đế quốc hùng mạnh của mình, thời kỳ mà công cuộc thực dân của người Pháp có vai trò và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nhiều quốc gia dân tộc
Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp góp phần quyết định vào việc làm sụp đổ hoàn toàn chế độ thực dân kiểu cũ trên bán đảo Đông Dương, mở đường cho việc làm sụp đổ toàn bộ hệ thống thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế giới Thắng lợi của kháng chiến chống Pháp đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta những kinh nghiệm thực tế sinh động của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường
Trang 36kỳ, tự lực cánh sinh, kinh nghiệm của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược
Trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp, ngày 20/7/1954 “Hiệp định đình chỉ chiến sự lập lại hòa bình ở Đông Dương” được ký kết Theo đó vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời, việc chuyển quân tập kết lực lượng của cả hai bên chiến tranh được tiến hành, việc thống nhất đất nước ở Việt Nam sẽ được thực hiện bằng một cuộc trưng cầu dân ý, sau hai năm thi hành Hiệp định và bằng một cuộc Tổng tuyển cử tự do trong cả nước…
Việc ký kết Hiệp định genève phản ảnh xu thế chung của tình hình thế giới lúc đó và cũng chứng minh cho lập trường đàm phán và nguyện vọng hòa bình, chấm dứt chiến tranh của nhân dân Việt Nam Mặc dù chỉ dừng lại ở những giải pháp quân sự, nhưng Hiệp định genève ngày 20/7/1954 cùng với thắng lợi của Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân Việt Nam chống xâm lược
2.2 Tổng quan về sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 tại Bảo tàng Bưu điện
2.2.1 Một số khái niệm liên quan
- Về khái niệm “Hiện vật bảo tàng”:
Ngay từ thế kỷ XVII, hiện vật bảo tàng đã được quan tâm Ông Maior trong công trình nghiên cứu của mình “Bảo tàng học miêu tả” đã viết: “Hiện vật bảo tàng phải là các hiện vật đã nằm trong các bảo tàng và nó được gìn giữ lâu dài như những vật chân chính có thật lấy từ cuộc sống hiện tại của nó, hiện vật bảo tàng phải là những hiện vật mang tính quý hiếm”1
Tập thể giảng viên khoa Bảo tàng, bộ môn Bảo tàng học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đã nghiên cứu và căn cứ vào chức năng xã hội, những nhiệm vụ xã hội và bảo tàng được giao, về trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
1 TS Nguyễn Thị Huệ (2002), Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.12
Trang 37Mác- Lênin về nhận thức đã nêu: “Hiện vật bảo tàng là nguồn nhận thức trực tiếp cảm tính cho nhận thức của con người, tiêu biểu về văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng những hiện vật
về thế giới tự nhiên xung quanh ta, bản thân nó chứng minh cho một sự kiện, hiện tượng nhất định nào đó trong quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội phù hợp với loại hình bảo tàng được sưu tầm, bảo quản phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục khoa học”1
Trong cuốn Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Huệ có viết: “Hiện vật bảo tàng là những hiện vật gốc mang giá trị và thuộc tính của hiện vật bảo tàng, có hồ sơ khoa học pháp lý kèm theo, phù hợp với nội dung và loại hình của bảo tàng, chúng được gìn giữ và bảo quản lâu dài để phục vụ cho những hoạt động và chức năng xã hội của bảo tàng”2
Qua những khái niệm trên đây, chúng ta có thể khẳng định: Hiện vật bảo tàng chính là nguồn sử liệu gốc quan trọng hàm chứa những thông tin gốc
về lịch sử xã hội, tự nhiên và con người, nó đã trải qua một quy trình xử lý của khoa học bảo tàng
- Về khái niệm “Sưu tập hiện vật bảo tàng”:
Như chúng ta đã biết trong lịch sử bảo tàng, sự hình thành các sưu tập hiện vật bao giờ cũng có trước bảo tàng Đó là một quá trình lâu dài, quan trọng không thể thiếu để hình thành nội dung trung bày của bảo tàng Có những bảo tàng ra đời từ những bộ sưu tập lớn và hoạt động trên cơ sở phát triển của chính sưu tập đó Ví dụ: Bảo tàng hoa Tuy líp (Hà Lan), Bảo tàng côn trùng (Pháp), lại có những bảo tàng ra đời trên cơ sở nhiều sưu tập như Bảo tàng Louvre (Pháp), viện Bảo tàng Emitage (Nga) Chính vì vậy các bảo tàng đều coi việc làm phong phú và hoàn thiện các sưu tập là hoạt động chủ yếu của mình
1 Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (1990), Cơ sở bảo tàng học (3 tập), tr.81, tập 1
2 Nguyễn Thị Huệ (2005), Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng, Nxb Chính trị Quốc gia
Trang 38Về mặt ngôn ngữ học “Sưu tập” bắt nguồn từ tiếng Latinh là collectio, chuyển sang tiếng Pháp, tiếng Anh là collection, tiếng Nga là colexia và được giải thích trong các từ điển Bách khoa toàn thư của Pháp, Anh, Nga: “Sưu tập
là sự liên kết của một đối tượng được tập hợp lại có hệ thống, được phân loại
để nhằm giáo dục, giải trí, sử dụng”
Trong cuốn “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”, Sưu tập được giải thích là
sự tìm kiếm công phu và tập hợp lại1 Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt”, “sưu tập” được giải thích theo hai nghĩa là: tìm kiếm và tập hợp lại; tập hợp những cái đã sưu tầm được theo hệ thống2
Qua những ý kiến trên, ta thấy rằng các tiêu chí tuy có một vài điểm khác nhau nhưng về cơ bản là: sưu tập là một tập hợp hiện vật và có một hay nhiều dấu hiệu chung
Đối với các bảo tàng Việt Nam thì sự hình thành của chúng không giống như các bảo tàng thế giới Các bảo tàng Việt Nam ra đời hầu hết trên cơ
sở các cuộc triển lãm nhằm phục vụ cho các mục đích chính trị, khoa học hay
để thể hiện nền văn hóa dân tộc mình Chỉ sau thời gian đầu mở phục vụ và dần ổn định thì các bảo tàng mới quan tâm đến các hoạt động có chiều sâu trong đó các vấn đề sưu tập Cùng với năm tháng phát triển của các bảo tàng, nhận thức về bảo tàng đi dần từ nhận thức khái quát đến nhận thức cụ thể và được bổ sung phong phú
Hiện nay, khái niệm sưu tập hiện vật có nhiều hướng tiếp cận khác nhau Nó đã được đề cập trong nhiều cuốn từ điển bách khoa toàn thư của nhiều nước trên thế giới, trong các cuốn từ điển thuật ngữ bảo tàng và các tài liệu chuyên ngành về Bảo tàng học ở trong nước và quốc tế
Các chuyên gia bảo tàng học của Cộng hòa Liên bang Nga đã viết:
“Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những hiện vật khác nhau, cùng chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định, không kể mỗi hiện vật
1 Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1612
2 Hoàng Phê (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.880
Trang 39trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay văn hóa”1
Các nhà nghiên cứu về bảo tàng và bảo tàng học ở Việt Nam đã đưa ra khái niệm về sưu tập hiện vật bảo tàng như sau: “Sưu tập hiện vật bảo tàng hay sưu tập cổ vật là một tập hợp những hiện vật bảo tàng có liên quan đến một hoặc vài dấu hiệu chung về hình thức, chất liệu, nội dung; có tầm quan trọng và có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật và được sắp xếp nghiên cứu
có hệ thống và tạo thành một bộ tương đối hoàn chỉnh”2
Qua các khái niệm, chúng ta thấy rằng, những yếu tố quan trọng của một sưu tập hiện vật bảo tàng đó là:
- Đối tượng tập hợp thành sưu tập phải là hiện vật bảo tàng
- Chúng có cùng một hay nhiều dấu hiệu chung (hình thức, nội dung, chất liệu )
- Chúng đang được lưu giữ bảo quản trong bảo tàng
- Chúng cùng phản ánh về một vấn đề nào đó
Trong luật Di sản Văn hóa (2009) cũng đưa ra định nghĩa về sưu tập như sau: “Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội”3
Khái niệm trên cho chúng ta thấy rằng: đối tượng được lựa chọn để xây dựng sưu tập không chỉ những di sản văn hóa vật thể như di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia mà còn có cả những di sản văn hóa phi vật thể, chúng cần được nghiên cứu, sưu tầm, phân loại sắp xếp vào sưu tập của bảo tàng để phục vụ cho các chức năng xã hội của bảo tàng
1 Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga, Cục Di sản Văn hóa xuất bản (2006), tr.235 (bản dịch)
2 Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (1994), Sưu tập hiện vật bảo tàng, tr.37, tr53
3 Luật Di sản Văn hóa (2009), NXB Chính trị Quốc gia, mục 9, điều 4, tr.34
Trang 402.2.2 Tổng quan về sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
Sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 là một sưu tập tem quý, nó là nguồn tài liệu phong phú, chính xác, là những vật chứng minh chứng cho thời kỳ lịch sử gian khổ mà oai hùng của dân tộc Việt Nam nói chung và ngành bưu điện nói riêng Việc nghiên cứu, phân loại, bố trí những con tem khác nhau thuộc giai đoạn 1945 – 1954 thành một sưu tập
sẽ góp phần làm cho việc bảo quản chúng được tốt hơn, kéo dài tuổi thọ và tạo điều kiện thuận lợi để khai thác, phát huy giá trị của những con tem lịch
sử này Sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 tại Bảo tàng Bưu điện Việt Nam là một sưu tập tem có nhiều giá trị, trong sưu tập này có những mẫu tem rất đặc biệt, đó là những con tem được ra đời từ những ý tưởng sáng tạo, linh hoạt của Chính phủ ta như: những con tem Đông Dương in đè, đặc biệt là bộ tem phát hành tháng 7 năm 1953, đây là bộ tem in giá tiền bằng trọng lượng “Thóc” (kilôgam)
Dựa vào mục đích sử dụng, sưu tập tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 được phân thành 2 loại:
- Loại 1: Tem tạm thời
Về nguồn gốc loại tem tạm thời này, nó chính là những con tem Đông Dương, do điều kiện khó khăn, thiếu thốn về vật chất, lạc hậu về trình độ kỹ thuật, Chính phủ ta đã linh hoạt, sáng tạo cho phép ngành Bưu điện sử dụng lại những mẫu tem Đông Dương làm tem sử dụng tạm thời trong giai đoạn này, bằng cách cho in đè phần tiêu đề mới và giá mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên Do đó những con tem này được coi như sản phẩm tem Bưu chính Cách mạng Việt Nam
Tem in đè là loại tem được phát hành trên cơ sở sử dụng những con tem đã phát hành trước đó để in đè thêm một nội dung nào đó trên bề mặt