TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA DI SẢN VĂN HÓA VÕ ANH THƯ TÌM HIỂU SƯU TẬP GƯƠNG ĐỒNG CỔ TRUNG QUỐC TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG CỔ VẬT HOÀNG LONG – THÀNH PHỐ THANH HÓA KHÓA LUẬN TỐT NG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA DI SẢN VĂN HÓA
VÕ ANH THƯ
TÌM HIỂU SƯU TẬP GƯƠNG ĐỒNG CỔ
TRUNG QUỐC TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG
CỔ VẬT HOÀNG LONG – THÀNH PHỐ THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH BẢO TÀNG HỌC
Mã số: 52 32 03 05
Người hướng dẫn: TS PHẠM THỊ THU HƯƠNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu khoa học, người viết luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của ông Hoàng Văn Thông – Giám đốc Bảo tàng cổ vật Hoàng Long, anh Nguyễn Trung Hiếu – cán bộ thuyết minh của bảo tàng Người viết cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa di sản văn hóa đã truyền đạt những kiến thức và kỹ năng quý báu cho người viết Đặc biệt xin gửi
lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Phạm Thị Thu Hương, người đã nhiệt tình giúp
người viết hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tuy nhiên với năng lực của một sinh viên chưa được tiếp xúc nhiều với thực tế, còn thiếu kinh nghiệm nên những khuyết điểm khóa luận tốt nghiệp là không thể tránh khỏi Rất mong thầy cô và các bạn cùng đóng góp ý kiến để bài nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Võ Anh Thư
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của tiểu luận 3
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SƯU TẬP VÀ TỔNG QUAN VỀ BẢO TÀNG CỔ VẬT HOÀNG LONG 4
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sưu tập 4
1.1.1 Khái niệm sưu tập – sưu tập hiện vật bảo tàng 4
1.1.2 Các tiêu chí để xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng 7
1.1.3 Quy trình xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng 8
1.2 Giới thiệu về Bảo tàng cổ vật Hoàng Long 10
1.2.1 Vài nét về sự hình thành của Bảo tàng cổ vật Hoàng Long 10
1.2.2 Nội dung trưng bày của Bảo tàng cổ vật Hoàng Long 15
Chương 2 PHÂN LOẠI VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP GƯƠNG ĐỒNG CỔ TRUNG QUỐC TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG CỔ VẬT HOÀNG LONG 19
2.1 Vài nét về gương đồng cổ Trung Quốc 19
2.1.1 Gương đồng và nguồn gốc hình thành 19
2.1.2 Lịch sử phát triển gương đồng cổ Trung Quốc 22
2.2 Quá trình hình thành Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc – trưng bày tại bảo tàng cổ vật Hoàng Long 25
2.2.1 Gương đồng cổ Trung Quốc được phát hiện tại Việt Nam 25
2.2.1.1 Gương được chế tác vào thời kỳ kim khí 25
2.2.1.2 Gương được chế tác vào thời kỳ Bắc thuộc 26
2.2.2 Thanh Hóa – nơi phát hiện gương đồng cổ Trung Quốc 27 2.2.3 Quá trình hình thành Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày
Trang 42.3 Phân loại Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ
vật Hoàng Long 31
2.3.1 Các gương có niên đại thời Hán (TK3 TCN – TK3 SCN)(Bộ ảnh số 1) 31
2.3.2 Các gương có niên đại thời Đường (TK 7 – TK 10)(Bộ ảnh số 2) 38
2.4 Một số đặc điểm của sưu tập 40
2.4.1 Hình dáng, hoa văn trang trí 40
2.4.1.1 Gương có niên đại thời Hán (TK 3 TCN – TK 3 SCN) 40
2.4.1.2 Gương có niên đại thời Đường (TK 7 – TK 10) 41
2.4.2 Kỹ thuật chế tác 42
2.5 Giá trị của Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long 43
2.5.1 Giá trị lịch sử 43
2.5.2 Giá trị mỹ thuật và văn hóa 45
2.5.3 Giá trị kỹ thuật 49
2.5.4 Giá trị kinh tế 50
Chương 3 VẤN ĐỀ BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SƯU TẬP GƯƠNG ĐỒNG CỔ TRUNG QUỐC TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG CỔ VẬT HOÀNG LONG 52
3.1 Thực trạng vấn đề xây dựng, bảo quản và phát huy giá trị Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long 52
3.2 Một số giải pháp nhằm xây dựng, bảo quản và phát huy giá trị Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long 56
3.2.1 Một số giải pháp xây dựng sưu tập 56
3.2.1.1 Sưu tầm bổ sung hiện vật cho sưu tập 56
3.2.1.2 Xây dựng hồ sơ cho hiện vật trong sưu tập 57
3.2.1.3 Tư liệu hóa sưu tập 58
3.2.2 Một số giải pháp bảo quản sưu tập tại phòng trưng bày 59
3.2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long 61
3.2.3.1 Nâng cao đội ngũ cán bộ chuyên môn 61
Trang 53.2.3.2 Đa dạng hóa các hình thức trưng bày 62
3.2.3.3 In ấn, xuất bản, giới thiệu, quảng bá sưu tập 63
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thanh Hóa là một tỉnh có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa Theo dặm dài lịch sử từ thuở mở cõi, dựng nước, với nền cảnh một vùng địa lý – nhân văn khá riêng biệt, hội tụ đủ sông, núi, biển, rừng, cùng sự góp mặt sinh cư của nhiều tộc người Thanh Hóa là vùng đất chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam Đây cũng là nơi phát tích nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ mà ảnh hưởng và giá trị của nó đã vượt khỏi biên giới quốc gia Là đất quý hương của ba triều vua, hai đời chúa Trong sách viết về địa chí Thanh Hóa (Le Thanh Hoa), học giả người Pháp Ch Robequai đã nhận định: “Thanh Hóa không chỉ là một tỉnh mà đó là một xứ” Điều đó cho thấy Thanh Hóa là một vùng đất rộng lớn, hội đủ các yếu tố điển hình của một đất nước
Với lịch sử lâu đời, ở Thanh Hóa đã phát hiện ra nhiều chiếc gương đồng
cổ Trung Quốc trong những khu mộ cổ của người Hán và quan lại, quý tộc người Việt Gương đồng là cổ vật được trưng bày ở khá nhiều Bảo tàng Trung Quốc Nó được người Hán đưa vào nước ta từ mạt kỳ văn hóa Đông Sơn và thời
kỳ Bắc thuộc, nên hiện vật này cũng được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam Sưu tập đầy đặn về gương đồng cổ Trung Quốc là nét độc đáo của Bảo tàng cổ vật Hoàng Long (Thành phố Thanh Hóa)
Bảo tàng cổ vật Hoàng Long là bảo tàng cổ vật tư nhân đầu tiên được thành lập tại Việt Nam Đó là biểu hiện của sự chuyển biến tích cực, cũng như bộc lộ rõ nhu cầu nội tại của các cá nhân/tổ chức trong việc thành lập bảo tàng
kể từ khi Luật di sản văn hóa Việt Nam được ban hành và chính thức có hiệu lực
kể từ ngày 1/1/2002 Đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực bảo tàng ngoài công lập, trong việc tổ chức và quản lý di sản văn hóa của các cá nhân/tổ chức Sự ra đời và lớn mạnh không ngừng của các bảo tàng tư nhân nói chung
và Bảo tàng cổ vật Hoàng Long nói riêng đã góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc, của nhân loại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long hiện đang lưu giữ hơn 16 nghìn cổ vật của tất cả các thời kỳ văn hóa trên
Trang 7các vùng lãnh thổ Việt Nam và một số nước ở khu vực Đông Á, Đông Nam Á và; từ đó hình thành nên nhiều bộ sưu tập độc đáo và mang nhiều giá trị sâu sắc Trong số đó, Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc là một sưu tập rất độc đáo, mang nhiều giá trị, với số lượng gương trong sưu tập hiện trưng bày tại bảo tàng lên đến 91 chiếc gương Đó là nét đặc sắc riêng có tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long mà không nơi nào có được
Gương đồng cổ Trung Quốc xuất hiện ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, đặc biệt là ở một số tỉnh phía Bắc, trong đó có Thanh Hóa chứa đựng nhiều giá trị cả về lịch sử, mỹ thuật, kỹ thuật, tâm linh, sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc Song, những tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện
về sưu tập còn khá ít ỏi Ngoài một số bài viết khái quát, giới thiệu chung về gương đồng cổ Trung Quốc ở một số tạp chí, bài báo có liên quan hiện tại thì hiện tại Bảo tàng hầu như chưa có đầy đủ tư liệu về sưu tập này Cho nên việc nghiên cứu về Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc là một đề tài hết sức thiết thực và cần thiết để làm rõ được giá trị cũng như một số phương hướng bảo quản và phát huy một cách tốt nhất giá trị của Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long Với những lý do trên, em đã chọn đề tài:
“Tìm hiểu sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long – Thành phố Thanh Hóa” làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu giá trị, thực trạng bảo quản, phát huy giá trị của sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long Qua đó đề xuất một số ý kiến đề khắc phục những hạn chế của hoạt động này trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long, Thành phố Thanh Hóa
- Phạm vi nghiên cứu: Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp điều tra cụ thể thông qua khảo tả, chụp ảnh, thống kê hiện vật theo niên đại
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu tư liệu
- Sử dụng phương pháp mỹ thuật học trong việc xác định từng loại hoa văn, văn tự trên hiện vật
- Bên cạnh đó còn sưu tầm sách báo, tạp chí, các bài viết, kế thừa những kết quả nghiên cứu có liên quan đến gương đồng cổ Trung Quốc
5 Bố cục của tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục ảnh, phần nội dung của tiểu luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về sưu tập và tổng quan về
Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Chương 2: Phân loại và xác định giá trị của Sưu tập gương đồng cổ
Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Chương 3: Vấn đề bảo quản và phát huy giá trị của sưu tập gương
đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SƯU TẬP VÀ TỔNG QUAN
VỀ BẢO TÀNG CỔ VẬT HOÀNG LONG
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sưu tập
1.1.1 Khái niệm sưu tập – sưu tập hiện vật bảo tàng
Trước khi đưa ra khái niệm về “sưu tập hiện vật bảo tàng”, chúng ta phải hiểu thuật ngữ “sưu tập” Về mặt ngôn ngữ học, “Sưu tập” bắt nguồn từ tiếng
Latinh là Collectio, chuyển sang tiếng Anh và tiếng Pháp là Collection và tiếng Nga là Kolecxia Trong các cuốn Đại bách khoa thư của Liên Xô cũ đã giải thích thuật ngữ sưu tập là sự tập hợp có hệ thống một số lượng hiện vật (cùng loại hoặc liên kết với nhau bởi nét chung của chủ đề)1 Ngoài ra thuật ngữ sưu tập còn được đề cập trong cuốn Grande Larouse của Pháp và giải thích là sự liên kết của một đối tượng và được phân loại nhằm giáo dục, giải trí và sử dụng2
Trong cuốn “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”, sưu tập được giải nghĩa là sự tìm kiếm công phu và tập hợp lại3
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” sưu tập lại được giải thích theo hai nghĩa:
- Nghĩa 1: Tìm kiếm và tập hợp lại
- Nghĩa 2: Tập hợp những cái đã sưu tầm được theo hệ thống4
Như vậy, qua một số cách giải thích thuật ngữ sưu tập trên đây cho thấy sưu tập được hiểu là sự liên kết, tập hợp có hệ thống những đối tượng cùng loại bỏi những nét chung của chủ đề nhằm phục vụ cho mục đích giáo dục, giải trí và
sử dụng…
Sưu tập hiện vật bảo tàng được khẳng định là tiền đề, cơ sở cho sự hình thành và phát triển của các bảo tàng Sưu tập hiện vật của mỗi bảo tàng được xây dựng sẽ là một trong những nguồn tri thức quan trọng của từng lĩnh vực khoa học, đồng thời phục vụ cho công tác trưng bày – giáo dục – tuyên truyền
Trang 10Hiện vật và sưu tập hiện vật được trưng bày ở mỗi chủ đề cũng phải trải qua nhiều khâu công tác thì mới có thể trưng bày để phù hợp với nội dung và loại hình của bảo tàng, nhằm đem lại hiệu quả giáo dục nhất định
Nhìn ra thế giới những quốc gia có sự nghiệp bảo tàng phát triển thì họ đã rất chú ý đến công tác xây dựng sưu tập, nghiên cứu mô tả khoa học các sưu tập
và công bố các sưu tập Sự hình thành các sưu tập hiện vật bao giờ cũng xuất hiện trước khi có bảo tàng Đó là một quá trình lâu dài, quan trọng không thể thiếu để hình thành nội dung trưng bày của bảo tàng Có những bảo tàng ra đời
từ những bộ sưu tập lớn và hoạt động trên cơ sở phát triển của chính sưu tập đó VD: Bảo tàng hoa tuy líp (Hà Lan), Bảo tàng đàn ghita (Tây Ban Nha), Bảo tàng
áo giáp (Nhật Bản), Bảo tàng muối, Bảo tàng côn trùng, Bảo tàng rượu vang (Pháp)…; lại có những bảo tàng ra đời và phát triển dựa trên cơ sở nhiều sưu tập như Viện bảo tàng Louvre (Pháp), Viện bảo tàng Ermitage (Nga)… Chính vì vậy, các bảo tàng đều coi việc làm phong phú và hoàn thiện các sưu tập là hoạt động chủ yếu của mình
Hiện nay, khái niệm về sưu tập hiện vật bảo tàng có nhiều hướng tiếp cận khác nhau Nó đã được đề cập đến trong nhiều cuốn từ điển bách khoa của các nước trên thế giới, trong các cuốn Từ điển thuật ngữ Bảo tàng học và trong nhiều tài liệu chuyên ngành về bảo tàng học ở trong nước và quốc tế
Các chuyên gia bảo tàng học của Cộng hòa Liên bang Nga đã viết: “Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những hiện vật khác nhau cùng chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định không kể mỗi hiện vật trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay văn hóa”1
Các nhà nghiên cứu về bảo tàng và bảo tàng học ở Việt Nam đã đưa ra khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng như sau: “Sưu tập hiện vật bảo tàng hay sưu tập cổ vật là một tập hợp những hiện vật bảo tàng có liên quan đến một hoặc vài dấu hiệu chung về hình thức, chất liệu, nội dung; có tầm quan trọng và có giá trị
Trang 11lịch sử, khoa học, nghệ thuật và được sắp xếp, nghiên cứu có hệ thống và tạo thành một bộ tương đối hoàn chỉnh”1
Tháng 1 năm 1994, tại Hà Nội diễn ra Hội thảo khoa học thực tiễn “Sưu tập và xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng” Đây là hội thảo đầu tiên của ngành Bảo tàng về chuyên đề này Tại hội thảo có nhiều ý kiến khác nhau về “Sưu tập hiện vật bảo tàng”
Theo ông Đặng Xuân Hòa (Bảo tàng Cách mạng Việt Nam): “Sưu tập hiện vật bảo tàng là sự tập hợp của các hiện vật có đủ 3 tiêu chuẩn giá trị tối thiểu”
Các khái niệm về sưu tập hiện vật bảo tàng được trình bày trên đây đều khẳng định nội dung, yếu tố quan trọng của một sưu tập, đó là: đối tượng tập hợp thành sưu tập phải là các hiện vật bảo tàng, có cùng một hay nhiều dấu hiệu chung (hình thức, nội dung, chất liệu…), đang được lưu giữ bảo quản trong bảo tàng, cùng phản ánh về một vấn đề nào đó
Trong Luật di sản văn hóa năm 2001 (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002) cũng đã đưa ra định nghĩa về “Sưu tập”
Trang 12dưới góc độ di sản văn hóa như sau: “ Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc, hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ sắp xếp có
hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên xã hội”1
Như vậy, đã có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau về khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng Dù theo quan điểm nào thì đối với các hoạt động bảo tàng, sưu tập hiện vật luôn giữ một vị trí rất quan trọng Nó tạo nên sắc thái riêng, khẳng định giá trị, vai trò xã hội của mỗi bảo tàng Do đó vẫn đề xây dựng sưu tập hiện vật là cơ sở, nền tảng quyết định quá trình phát triển bảo tàng
1.1.2 Các tiêu chí để xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng
Xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng là sự liên kết những hiện vật bảo tàng
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học hoặc nghệ thuật… hàm chứa lượng thông tin chính xác, đáng tin cậy về nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội của con người và môi trường xung quanh Vì vậy khi xây dựng sưu tập hiện vật thì mỗi một bảo tàng phải căn cứ vào nội dung, loại hình, tính chất cùng với thành phần hiện vật bảo tàng được lưu giữ, bảo quản trong kho cơ sở để lựa chọn các tiêu chí xây dựng sưu tập cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu và mục đích của bảo tàng đặt ra
Những dấu hiệu chung làm cơ sở cho việc xây dựng sưu tập sẽ được coi là những tiêu chí để lựa chọn giải pháp xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng ở các loại hình khác nhau Đối tượng để xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng chủ yếu là hiện vật bảo tàng Nhưng không phải tất cả các hiện vật bảo tàng đều được đưa vào sưu tập mà nó đòi hỏi phải nghiên cứu, lựa chọn những hiện vật bảo tàng phù hợp với đề tài, mục đích và yêu cầu của một sưu tập đặt ra
Hiện nay, việc xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng đã đưa ra một hệ thống những tiêu chí làm cơ sở cho các bảo tàng nghiên cứu và vận dụng sao cho phù hợp với công tác xây dựng sưu tập của bảo tàng mình, nhất là đối với những bảo tàng thuộc loại hình lịch sử xã hội:
Trang 13
- Tiêu chí 1: Đề tài lịch sử, chủ đề, sự kiện lịch sử
- Tiêu chí 2: Loại hình
- Tiêu chí 3: Công dụng
- Tiêu chí 4: Chất liệu
- Tiêu chí 5: Địa điểm, nơi sản xuất
- Tiêu chí 6: Thời gian (tuyệt đối/tương đối)
- Tiêu chí 7: Triều đại
- Tiêu chí 8: Kỹ thuật chế tác
- Tiêu chí 9: Tác giả/Trường phái
- Tiêu chí 10: Dân tộc/Tộc người
- Tiêu chí 11: Tư nhân/Chủ sở hữu
- Tiêu chí 12: Danh nhân (gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của một nhân vật trong lĩnh vực lịch sử, khoa học, chính trị, quân sự, nghệ thuật…)
Ngoài ra còn có nhiều tiêu chí khác được sử dụng để xây dựng các sưu tập hiện vật thuộc loại hình lịch sử tự nhiên – khoa học tự nhiên phù hợp với sự phân chia và nghiên cứu hệ thống hóa của các ngành khoa học tự nhiên: Họ, giống, loài, loại, giá trị…
1.1.3 Quy trình xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng
Để xây dựng một sưu tập thì cần phải tiến hành theo những bước đi cụ thể
và tuần tự Dưới đây, xin trình bày 5 bước cơ bản xây dựng sưu tập do nhóm tác giả của Bảo tàng cách mạng Việt Nam nêu ra trong cuốn “Sự nghiệp bảo tàng – những vấn đề cấp thiết” (Tập 1, tr.136-156) và đã được kiểm chứng chứng minh tính thực tế, hiệu quả
- Bước 1: Xác định tên sưu tập
Việc xác định tên tức là tìm kiếm dấu hiệu chung của các hiện vật có trong sưu tập đó Đây là bước khởi đầu hết sức quan trọng, nó quyết định sự hình thành một sưu tập của bảo tàng và từ đó sẽ chi phối các bước tiến hành tiếp theo Việc xác đinh này phải căn cứ vào quy mô và nhu cầu sử dụng của bảo
Trang 14tàng Điều đó sẽ nâng cao tính khả thi của sưu tập cũng như tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho bảo tàng
- Bước 2: Sơ chọn hiện vật để nghiên cứu đưa vào sưu tập
Đây là bước tập hợp của các hiện vật hiện có tại bảo tàng Việc sơ chọn được tiến hành trên cơ sở các loại sổ sách ghi chép của kho và các hồ sơ lí lịch của hiện vật Qua đó, sẽ chọn được những hiện vật có chung tiêu chí nào đó phù hợp với việc xây dựng sưu tập
- Bước 3: Hoàn thiện hồ sơ từng hiện vật
Hoàn thiện hồ sơ ở đây là hoàn thiện những văn bản còn thiếu sót trong
hồ sơ hiện vật (Biên bản giao nhận, Biên bản bàn giao…) Tuy nhiên, sự hoàn thiện chỉ yêu cầu ở mức tối thiểu cần phải có trong hồ sơ Quá trình tiến hành phải đảm bảo tính chính xác và khoa học, cùng tuân thủ đầy đủ các quy định của nghiệp vụ lập hồ sơ Với việc hoàn thiện hồ sơ này sẽ giúp thêm cho bước sơ loại Trong khi hoàn thiện hồ sơ, những hiện vật đã qua sơ chọn lại một lần nữa được kiểm định lại và có thể sẽ xuất hiện những hiện vật không đủ tiêu chuẩn do không hoặc chưa có thể hoàn thiện hồ sơ
- Bước 4: Tiến hành nghiên cứu, thẩm định bổ sung thông tin vào hồ sơ
- Bước 5: Lập hồ sơ sưu tập (Sổ sưu tập)
Sau khi đã tiến hành 4 bước trên, chúng ta đã xác định được những hiện vật có đầy đủ tiêu chuẩn để đưa vào sưu tập Bước này là bước làm hồ sơ đăng
kí cho sự ra đời của sưu tập
Hồ sơ sưu tập sẽ được trình bày như sau:
Trang 15+ Trang bìa: Tên cơ quan chủ quản Tên nước
Tên cơ quan quản lý:
Tên sổ:
Tên sưu tập:
Kí hiệu:
Quyển sổ:
+ Trang 1: Bìa lót: như trang bìa
+ Trang 2+3+4: Lời giới thiệu (tóm tắt)
(Giới thiệu tổng quát về vài trò, ý nghĩa của sưu tập và lí do thành lập sưu tập) Xác nhận của Giám đốc Những người thực hiện 1…
2…
(Từ các trang sau của Sổ sưu tập là Danh mục các hiện vật trong sưu tập)
1.2 Giới thiệu về Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
1.2.1 Vài nét về sự hình thành của Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Bảo tàng cổ vật Hoàng Long toạ lạc tại 41 phố Đội Cung, phường Đông Thọ, Thành phố Thanh Hóa Trong khuôn viên Khu ẩm thực Rừng trong phố Bảo tàng được xây dựng năm 2000, với tổng diện tích là 3000 m² (bao gồm: khu hành chính/làm việc, kho bảo tàng, sàn sử dụng cho các khu trưng bày trong nhà, sàn sử dụng cho dịch vụ), cấp độ của công trình bảo tàng là: nhà cấp
4 Năm 2013 ông Giám đốc Hoàng Văn Thông đã khởi công xây dựng bảo tàng mới ở phường Đông Hương, Thành phố Thanh Hóa với tổng diện tích là 14.300m²
Ông Hoàng Văn Thông là giám đốc Công ty TNHH Xây dựng dân dụng
và Công trình giao thông Với hơn 30 năm đam mê và tâm huyết tìm kiếm và giữ gìn cổ vật, ông đã có một kho cổ vật vô giá với 16.000 cổ vật
Đầu tiên phải nhắc đến cái duyên của ông Thông đối với cổ vật Sau khi ra quân, ông làm nghề xây dựng Khi thi công công trình, đào móng nhà ông thường bắt gặp những mảnh bát, đồ gốm cổ Vì thấy đẹp nên ông rửa sạch và giữ lại Mỗi khi khảo sát, kiểm tra tuyến đường xây dựng, gặp một món đồ cổ
Trang 16giá phải chăng, ông lại mua về làm phong phú thêm bộ sưu tập của mình Và cũng không ít lần mua phải đồ giả, nhưng ông coi đó là một bài học kinh nghiệm Với lòng say mê trong nghiên cứu và ham học hỏi, ông Thông bắt đầu mua sách
để đọc, tìm hiểu về cổ vật Từ đó mỗi khi gặp được món đồ yêu thích, ông tìm cách trao đổi hoặc mua bằng tiền Trong khi hoàn cảnh kinh tế của gia đình vẫn còn gặp nhiều khó khăn với tình yêu và lòng đam mê cổ vật ông luôn phải giấu
vợ mỗi khi mua sách để nghiên cứu hoặc mua cổ vật về
Năm 1982 là năm quyết định đến cuộc đời sưu tầm của ông Thông Khi đang thi công một công trình cho Tỉnh đoàn Thanh Hóa, thợ đào móng đã đào được một
số bát đĩa cổ, ông đã cho thợ chôn lại Khi tiếp tục đào tiếp ở chỗ khác lại phát hiện một vại đựng nhiều bát đĩa rất đẹp Ông Thông đã trình báo với chính quyền địa phương và xin phép được gìn giữ số cổ vật trên Và từ đó ông luôn có suy nghĩ sâu sắc đến tầm quan trọng của các món đồ cổ trong đời sống văn hóa tinh thần của con người và ấp ủ mơ ước thành lập một bảo tàng xã hội để phục vụ công chúng đến bảo tàng để tham quan, giải trí, nghiên cứu và học tập
Lần cùng công nhân về thi công công trình ở huyện Vĩnh Lộc, được xác định là cùng đất của Chúa Trịnh ngày xưa, lúc đào móng công nhân tìm được một cái am, rồi tiếp đó tìm thấy một con rắn có hình trong suốt như pha lê, nhìn thấy cả xương và mạch máu Ông Thông đã xin với chính quyền địa phương cho phép tiếp tục khai quật và gìn giữ những cổ vật này Và lần đó ông đào được ba chiếc trống đồng và nhiều đồ đồng quý
Lần khác, ông đi công tác ở huyện Thạch Thành Nghe người dân đồn có
mộ ông cụ đào được chiếc bát cổ Ông Thông đến chiêm ngưỡng và mua lại chiếc bát với giá 5 triệu đồng Sau này chiếc bát được giám định là một báu vật Bước chuyển biến là khi ông có được mảnh đất ở gần cầu Hạc, Thành phố Thanh Hóa Ông Thông bỏ ra hàng chục năm trời đi sưu tầm hơn 200 loại cây cổ thụ, cây quý hiếm có hơn 100 tuổi
Ông lên Cẩm Thủy mua được một ngôi nhà sàn 200 năm tuổi, lên huyện Thường Xuân mua căn nhà sàn người Thái trong vùng giải phóng mặt bằng xây
Trang 17dựng hồ Thủy điện Cửa Đạt Ông còn đi các huyện mua được hai căn nhà gỗ lợp ngói có hơn 150 tuổi
Năm 2004, khi tỉnh Thanh Hóa cho thành lập Hội cổ vật Thanh Hóa với gần 100 hội viên gồm các nhà nghiên cứu và sưu tầm cổ vật Ông Thông đã cùng một số hội viên tổ chức trưng bày cổ vật tại cơ sở Rừng trong phố Ðưa hiện vật ra trưng bày và mời thêm một số hội viên cùng tham gia
Phòng trưng bày cổ vật tổ chức ở tầng 1 khu nhà sàn lợp lá cọ, sau này do nhu cầu trưng bày thêm hiện vật và du khách tới tham quan đã trở nên chật chội, ông Thông quyết định tháo cả sàn tầng 2 dành toàn bộ căn nhà rộng 200m2 trưng bày cổ vật Ông nhờ họa sĩ và một số nhà chuyên môn ở Hà Nội về giúp thiết kế
và trưng bày Những di vật, cổ vật thời tiền sử, sơ sử, từ văn hóa Hoa Lộc, văn hóa Ðông Sơn đến hiện vật thời Nguyễn; từ những chiếc bình đồng thờ thời Hán đến đồ gốm sứ thời Minh, thời Thanh đều được trưng bày Khách đến với phòng trưng bày cổ vật Rừng Trong Phố không chỉ là nhà nghiên cứu Du khách người
Mỹ, Áo, Pháp, Brunei, Hàn Quốc khi qua Thanh Hóa đều ghé nơi đây
Ông Giám đốc Bảo tàng quốc gia Hàn Quốc sau khi xem phòng trưng bày đã
đề nghị ông Thông đưa bộ sưu tập này sang trưng bày ở Hàn Quốc, khi về nước ông gửi cho ông Thông nhiều sách báo, tài liệu nghiên cứu hoạt động bảo tàng Khi Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa có chủ trương đăng ký di vật, cổ vật ông Thông là người tham gia đăng ký đầu tiên, ông chọn trong số di vật, cổ vật của mình đăng ký đợt I được 830 hiện vật
Ðược sự khuyến khích của bạn bè và những người sưu tầm cổ vật, nhất là
sự động viên của Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, ông Thông bàn với gia đình
và quyết định xin thành lập bảo tàng tư nhân Chỉ trong một thời gian ngắn, UBND tỉnh Thanh Hóa có Quyết định thành lập Bảo tàng cổ vật Hoàng Long Điều 17, Luật di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009,
có ghi: “… Khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể Hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể theo đề nghị của
tổ chức, cá nhân nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể Đầu tư kinh phí cho hoạt
Trang 18động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, ngăn ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể”
Là người sưu tầm, gìn giữ hợp pháp, hội tụ đủ những yếu tố và theo quy định của Luật di sản văn hoá năm 2001 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra quyết định số 2326/QĐ-UBND thành lập Bảo tàng cổ vật Hoàng Long Là bảo tàng tư nhân đầu tiên ở Thanh Hóa và là một trong ba bảo tàng tư nhân lớn nhất cả nước Ngày 19/11/2006, Bảo tàng cổ vật Hoàng Long khai trương và chính thức mở cửa đón khách tham quan Nhiều khách trong nước và quốc tế đến thăm, xác định : “Cổ vật đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long là vô giá Trong đó, nhiều cổ vật đồ đồng và đồ gốm có niên đại 2500 năm”
Hiện nay, đội ngũ cán bộ của bảo tàng có 6 người: 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 2 chuyên viên và 2 bảo vệ Như vậy, số lượng và trình độ cán bộ chưa đảm bảo để bảo tàng hoạt động một cách chuyên nghiệp theo đúng yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ
Bảo tàng cổ vật Hoàng Long ra đời là một là 1 trong 10 sự kiện văn hoá lớn của Việt Nam được tạp chí Thế giới di sản văn hoá bình chọn năm 2006, bởi đây là bảo tàng cổ vật tư nhân đầu tiên trên cả nước được thành lập đánh dấu
sự chuyển biến tích cực kể từ khi luật di sản văn hoá Việt Nam được ban hành
và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2002 Sự kiện đó đã đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực bảo tàng ngoài công lập, trong việc tổ chức
và quản lý di sản văn hóa của các cá nhân/tổ chức Sự ra đời và lớn mạnh không ngừng của các bảo tàng tư nhân nói chung và Bảo tàng cổ vật Hoàng Long nói riêng đã góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc, của nhân loại
Hiện nay bảo tàng đang lưu giữ hơn 16 nghìn cổ vật của tất cả các thời kỳ văn hoá trên các vùng lãnh thổ Việt Nam và một số nước ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, với sự phong phú về chủng loại, đa dạng về loại hình, được trưng bày khoa học và ấn tượng Tất cả nhằm mục đích mang lại cho nhân dân, các
Trang 19nhà khoa học, du khách tìm hiểu và cảm nhận được những giá trị văn hoá mà cha ông ta từ ngàn năm trước tạo ra và để lại Bảo tàng thành lập đã góp phần vào việc gìn giữ và phát huy những cổ vật quý giá mà hiện nay đang có nguy cơ
“chảy máu cổ vật”
Đến với Bảo tàng cổ vật Hoàng Long du khách được chiêm ngưỡng chiếc trống đồng lớn nhất Việt Nam do Bảo tàng và làng nghề Đông Sơn phục chế bằng phương pháp đúc đồng thủ công truyền thống, chiếc trống có đường kính đáy 1,54m, cao 1,21m, nặng 739kg, theo phiên bản trống đồng Ngọc Lũ, được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận là lớn nhất Việt Nam Du khách được trở về với những nếp sinh hoạt văn hoá từ mấy thế kỷ trước qua những nếp nhà sàn, nhà rông, nhà Việt cổ… những bộ sưu tập cồng chiêng Tây Nguyên,
bộ sưu tập dụng cụ đánh bắt cá, thưởng thức bát nước chè xanh, mâm cơm dân
dã bên bộ trường kỷ, sập gụ, tủ chè… Các bộ sưu tập gốm, có nhiều cổ vật mang nhiều giá trị có niên đại từ TK 1 – TK 3 (thời nhà Hán) Đồ gốm sứ với số lượng lớn của các triều đại phong kiến Việt Nam… Tất cả các hiện vật ấy được ông Hoàng Văn Thông dày công sưu tập và gìn giữ hơn 30 năm qua
Hằng năm, Bảo tàng cổ vật Hoàng Long đón hàng nghìn lượt khách từ nhiều nơi tới thăm Ngoài khách trong nước, bảo tàng còn đón các đoàn khách
du lịch quốc tế, và các nhà khoa học, khảo cổ nghiên cứu về vấn đề cổ vật Theo báo cáo của bảo tàng, năm 2013 bảo tàng đã đón gần 400 đoàn khách trong đó
có hơn 100 đoàn khách quốc tế
Bảo tàng cổ vật Hoàng Long thường xuyên mở cửa đón khách tham quan, đồng thời miễn phí vé vào và hướng dẫn thuyết minh Ông Thông đã thuê nhiều nhân viên có trình độ trình độ đại học, am hiểu về lịch sử, văn hóa, cổ vật để quản lý tại phòng trưng bày và hướng dẫn cho khách tham quan Ngoài ra, bảo tàng còn mở quầy hàng lưu niệm phục vụ khách tham quan, bán các sản phẩm bằng đồng, gốm sứ và nhận đúc mới sản phẩm đồng, sửa chữa đồ gốm sứ theo phương pháp thủ công truyền thống
Hiện nay để cho tương xứng phát triển của Bảo tàng Hoàng Long đang được đầu tư và xây dựng bảo tàng mới tại phường Đông Hương, Thành phố
Trang 20Thanh Hóa với vốn đầu tư và quy mô Hứu hẹn sẽ là một bảo tàng độc đáo kể từ phong cảnh bên ngoài và thiết kế bên trong tòa nhà bảo tàng với những trang thiết bị hiện đại sử dụng trong công tác trưng bày, bảo quản hiện vật; cách trưng bày sẽ được đổi mới hơn nữa để thu hút nhiều khách tham quan Bảo tàng cổ vật Hoàng Long đang hướng đến là một bảo tàng tư nhân đầu tiên tại Việt Nam có
số lượng hiện vật lớn, cổ, quý hiếm; có quy mô lớn; trang thiết bị hiện đại; đội ngũ cán bộ bảo tàng có trình độ cao Đặc biệt hơn nữa, việc xây dựng, phát triển
và đổi mới toàn diện bảo tàng sẽ là một chiến lược phát triển du lịch được khai
thác từ hệ thống trưng bày cổ vật đặc sắc tại bảo tàng tư nhân Nó sẽ vận hành
như một điểm du lịch khám phá Tạo bước phát triển về nhiều mặt như du lịch, kinh tế, văn hóa cho tỉnh Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung
Là một bảo tàng mang tính chất tư nhân, độc lập trong các khâu tổ chức nhân sự và tài chính Nguồn thu chỉ yếu của bảo tàng là từ phí dịch vụ Nên Bảo tàng cổ vật Hoàng Long không mang đầy đủ và ở mức tốt nhất những đặc trưng
và chức năng xã hội như bảo tàng công lập
1.2.2 Nội dung trưng bày của Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Hiện nay tổng số hiện vật của bảo tàng là hơn 16000 cổ vật thuộc nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, trong đó số hiện vật đang trưng bày là 6.200 hiện vật, với đầy đủ các chất liệu và trải dài qua các thời kỳ lịch sử trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và một số quốc gia ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Chiếm vị trí trung tâm là những chiếc trống đồng Đông Sơn, sau đó là rìu, mũi tên, lao kiếm, cuốc được đặt ở những nơi trang trọng nhất Lâu đời nhất là chiếc rìu đá mũi nhẵn, có tuổi khoảng 4.000 năm, hay chiếc kiếm hình người đội
mũ chóp nhọn (dài 69cm), tai đeo vòng rất độc đáo
Đồ dùng sinh hoạt hàng ngày có thố, thạp, nồi, ấm, đèn Đồtrang sức có chất liệu đồng, mã não, đá màu như vòng tay, nhẫn, khuyên tai đồng Riêng trống đồng Đông Sơn, bảo tàng có 10 chiếc còn nguyên vẹn, với nhiều hoa văn trang trí tinh xảo
Đồ sưu tầm giai đoạn văn hóa Việt - Hán những năm trước thế kỷ X gồm đỉnh ba chân, bình ba chân cao có tay cầm hoặc không, bình kiểu con tiện,
Trang 21gương đồng Trong đó, một số vừa mangphong cách Hán, vừa có phong cách Đông Sơn trang trí hoa văn vòng tròn tiếp tuyến, gắn quai hình chữ U ngược Đồ gốm có kiểu phỏng theo bình đồng hình con tiện có quai mặt hổ phù, nồi, vò trang trí văn in ô vuông, văn ô trám lồng, chén hai tai, mô hình nhà hai tầng, một tầng, mô hình chuồng lợn
Bộ sưu tập gốm thời Lý - Trần - Lê là gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm hoa lam gồm bát đĩa, ấm thân tròn hình cầu miệng nhỏ, vòi nhỏ, vai khắc nổi hình cánh hoa sen Loại gốm tiêu biểu thời Lý - Trần là gốm men ngọc có chất men trong, bóng tạo cảm giác sang trọng và gốm hoa nâu trang trí đơn giản, thô, nặng mang tính mộc mạc Trong khi đó, đặc trưng của gốm thời Trần - Lê - Nguyễn là gốm hoa lam, trong bộ sưu tập của bảo tàng có lọ hình đàn tỳ bà trang trí hoa cúc, sen, chim Ngoài ra còn có bộ sưu tập súng thần công, đỉnh đồng, bình đồng thế kỷ XIII, XIX, và cổ vật các tỉnh phía Nam, Chămpa, đồ sứ hoa lam của Trung Quốc
Hiện vật được trưng bày theo sưu tập và chất liệu với một số bộ sưu tập tiêu biểu như: Bộ sưu tập rìu đá cách ngày nay 4 vạn năm; bộ sưu tập trống đồng minh khí thuộc văn hóa Đông Sơn cách ngày nay khoảng 2.500 năm; bộ sưu tập
đồ đồng văn hóa Đông Sơn cách ngày nay khoảng 2.500 năm; bộ sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc; bộ sưu tập bát gốm thời Lý- Trần; bộ sưu tập gốm hoa nâu thời Trần thế kỷ XIII-XIV; bộ sưu tập bình tỳ bà gốm Chu Đậu thế kỷ XV;
bộ sưu tập ấm thế kỷ I-XIX; bộ sưu tập hiện vật gốm, sứ Trung Hoa thế kỷ XVIII Các bộ sưu tập nói trên là những hiện vật độc đáo và có giá trị cao về mặt lịch sử, văn hóa, kinh tế, đang được trưng bày khoa học và ấn tượng tạo nên
XI-sự hài hòa và tinh tế trong từng cổ vật làm cho du khách hài lòng khi đến tham quan và chiêm ngưỡng
Về nội dung trưng bày của bảo tàng thể hiện qua các bộ sưu tập hết sức đa dạng và phong phú, trong đó có một số bộ sưu tập hiện vật tiêu biểu, độc đáo
và thu hút nhiều sự quan tâm của khách tham quan khi đến với Bảo tàng cổ vật Hoàng Long, như:
Trang 22*Sưu tập đồ đồng cổ Đông Sơn được phân thành các sưu tập nhỏ theo các loại hình hiện vật khác nhau:
-Vũ khí: lưỡi giáo, mũi tên, dao găm, kiếm, rìu chiến, qua, giáp che ngực, vật dụng đeo binh khí, cung và nỏ Những hiện vật đặc biệt tiêu biểu trong sưu tập: có chiếc kiếm lệnh bằng đồng: kiếm dài khoảng 70cm, chuôi kiếm dài khoảng 12cm, đặc biệt trên chuôi kiếm có trang trí 12 lục lạc, đây là kiếm lệnh dùng cho thủ lĩnh trong quân đội để tăng vẻ uy nghi và oai phong khi họp quân lính hoặc khi ra trận Sưu tập dao găm: 2 chiếc dao chuôi có khối tượng người đàn ông đóng khố – dùng cho vua; 3 chiếc dao găm chuôi trang trí hình hoa lá – dùng cho thủ lĩnh, quan lại; và những chiếc dao găm tìm thấy trong các ngôi mộ
cổ, ít trang trí hoa văn
- Dụng cụ sinh hoạt: Thạp, thố, bình, âu, khay, đĩa, chậu, lọ, ấm, muôi, đèn dầu, cốc trầm Trong đó, có chiếc đốt trầm hình rồng, quai đốt trầm hình đầu rồng, còn phần nắp được trang trí hình chim phượng đang múa rất tinh xảo, thân được chạm trổ hình thoi và những hoa văn hình chữ S Những hiện vật đặc biệt tiêu biểu trong sưu tập như: Bình đựng rượu hình gà, bình đựng rượu hình hươu, đèn dầu lạc, đầu gậy hình chim
- Nhạc cụ: Chuông, lục lạc, trống Ngoài ra còn có các nhạc cụ như khèn, chiêng, cồng chỉ tìm thấy trong phần trang trí trên các trống, thạp, thạp, hoặc các hình tượng nhỏ Trong đó có: Sưu tập trống đồng (gồm 10 chiếc): 4 trống H1, 1 trống H1 muộn (theo cách phân loại của Heger), 1 trống Mường (trên mặt trống
có trang trí hoa văn cạp váy Mường), 1 trống Lào (trên mặt trống có trang trí hoa văn dòng sông và các loại cá đặc trưng của Lào), 1 trống Malaixia Sưu tập chuông dùng đeo cổ cho voi và ngựa chiến với đủ kích thước lơn nhỏ khác nhau
- Đồ trang sức: Vòng tay, vòng chân, vòng tai, khóa thắt lưng Đặc biệt có sưu tập khóa thắt lưng rất độc đáo, phân ra nhiều loại khóa thắt lưng dùng cho các đối tượng khác nhau, khóa thắt lưng dùng cho vua thì có 12 con chim lạc, khóa thắt lưng dùng cho tướng, thủ lĩnh quân đội thì trang trí tượng rùa hoặc những hình đơn giản khác
Trang 23- Hình tượng nhỏ: Thường là các tượng người hay thú đúc nhỏ để gắn trên các hiện vật khác, dùng để trang trí, vừa có công dụng cầm tay hoặc làm móc chặn
- Hiện vật minh khí: Đồ thu nhỏ dùng để tùy táng, với hầu hết các vật dụng bằng đồng thau điển hình dùng trong sinh hoạt hàng ngày Kỹ thuật đúc các đồ đồng này thường sơ sài, mỏng manh
- Sưu tập đồ gốm Trung Quốc, Nhật Bản và gốm Phong kiến Việt Nam: tiêu biểu có bát sứ triều Minh – Trung Quốc TK 14 – 17; Nai sứ Trung Quốc trang trí chim phượng, đáy có chữ Khang Hy niên chế
- Sưu tập ấn, triện TK 13 – 19: của người Chăm, thời Lý Trần và thời Pháp thuộc
- Sưu tập đồ trang sức: đá lạt ma, khuyên tai bằng vàng, đá dạ quang, ngọc lưu ly… trong đó có 3 viên ngọc lưu ly rất hiếm và có giá trị kinh tế cao
Ngoài ra có những hiện vật hết sức độc đáo mà ông giám đốc bảo tàng đã sưu tầm được như: bộ kinh chữ Phạn viết trên lá bối hay còn gọi là “Kinh lá bối” ( Bối diệp hay lá bối hay bối đa diệp la, tiếng Phạn là pattra, là một loại cây cọ - thực vật miền nhiệt đới, sinh trưởng chủ yếu ở phía Nam mọc nhiều tại các khu vực Tây Nam Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện và Trung Quốc; lá dái mà dày, có thể dùng để ghi chép kinh văn); tượng phật Thái Lan; đầu vượn bằng gỗ tìm thấy trong mộ thuyền ở làng Trang Cát, Hà Ninh, Hà Trung, Thanh Hóa (TK I –
TK III)
Trang 24Chương 2 PHÂN LOẠI VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP GƯƠNG ĐỒNG
CỔ TRUNG QUỐC TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG CỔ VẬT
Gương cổ Trung Quốc được làm từ kim loại đồng, vàng, bạc, hoặc hợp kim của đồng với các kim loại khác và hầu hết đều có nguồn gốc từ Trung Quốc Tượng hình văn tự Trung Quốc chỉ ý đầu tiên về “chiếc gương” là nước -
“Kang” 江 thứ mà dùng để soi: quả thực, chiếc gương đầu tiên là sự phản chiếu của mặt nước trong
Vào thời kỳ mà kim loại có thể đánh bóng và soi được được biết đến lần đầu tiên thì gương kim loại được tìm ra
Đa số những chiếc gương có niên đại từ thời Chiến quốc (TK V - TK III TCN) đến đầu đời Đường (TK VII SCN) đều mang màu sắc huyền bí với những họa tiết về phong thủy, dịch học, Đạo giáo, cùng những hình vẽ, những chữ viết đầy bí ẩn như để diễn tả, để nói lên một điều gì đó, nhưng cho đến nay trải qua hàng nghìn năm, vẫn chưa giải mã được hết Vì vậy, từ đó nảy sinh ra vô số huyền thoại quanh chuyện gương cổ Có những câu chuyện mang tính chất khoa học, cụ thể, nhưng cũng có những câu chuyện mang nhiều bí ẩn, mà có thể, cũng xuất phát từ khoa học, nhưng con người chưa lý giải được, nên đó chính là mục tiêu cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ
Trung Quốc là nơi phát hiện ra đồ đồng sớm nhất và vẫn tồn tại nhiều truyền thuyết về những di vật vô giá và những chiếc gương đồng cũng vậy
Gương đã được sử dụng ở Trung Quốc từ thời xa xưa và tầm quan trọng của chúng được được tăng lên đáng kể bởi sự thật rằng không chỉ con người sử
Trang 25dụng gương là một chiếc kính để soi mà người ta còn tin rằng những chiếc gương có sức mạnh kỳ diệu, có khả năng trừ tà và trong một số trường hợp có thể dự báo được tương lai Chiếc gương đặc biệt nhất được những thầy thuốc sử dụng trong việc chuẩn đoán bệnh, họ nói rằng gương có thể phản chiếu phần bên trong cơ thể bệnh nhân Như vậy, cách ngày nay 2000 năm người xưa đã hiểu tính chất của chiếc gương và sử dụng nó như một dụng cụ y tế trong thủ thuật khám, chữa bệnh, giống như là phương pháp chụp X quang ngày nay Khám phá này được xem như là “họ đã tìm ra tia X” vậy
Đã có một số lượng lớn những truyền thuyết và câu chuyện kể để đáp ứng một lượng nhu cầu lớn trong các lễ hội và các nghi thức khác nhau Một người lính tham gia chiến tranh sẽ đeo chiếc gương trước ngực để bảo vệ bản thân khỏi nguy hiểm Cô dâu về nhà chồng sẽ cầm chiếc gương đặt trên trái tim của mình (phong tục này vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi của Trung Quốc, mặc dù ở một số nơi chú rể là người cầm gương) để tránh bệnh tật và mang lại may mắn cho cô dâu Một quan chức khi được đề bạt vào một vị trí công việc mới thì họ sẽ nhận được những chiếc gương như là những món quà từ bạn bè, gương sẽ giúp anh ta thăng chức nhanh hơn Gương là một món quà sinh nhật phù hợp, đặc biệt nếu chúng có những câu khắc có ý nghĩa chúc thọ, chúc may mắn cho con cháu người mà nhận được món quà.Những chiếc gương có tay cầm được vũ nữ sử dụng trong các buổi biểu diễn trước cung điện, và hơn nữa vua có thể viết chữ khắc lên đó
Ngày nay, những chiếc gương được nhìn thấy ở trước cửa nhà hay trước cửa
ra vào của cửa hàng để tránh vận rủi ở những nơi gần hoặc đối diện lại (cửa hàng bán quan tài, kho chứa than và nhiều nơi khác được cho là không may mắn)
Bên cạnh đó, có người lại cho rằng, dùng một loại gương cổ có ký hiệu nào đó, có thể tìm ra được kho báu hoặc vị trí huyệt đất kết (tức là nơi chôn người chết sẽ đem lại sự thành đạt, giàu sang phú quý, hoặc địa vị cao trong xã hội cho con cháu của người quá cố theo luật phong thủy của Trung Quốc và Đông Á)
Trang 26Ngoài ra dân chúng còn đề cập đến một loại gương ghi sự vận hành của Nhị thập bát tú (28 vì sao nằm nối tiếp nhau ở 4 hướng) theo từng ngày, từng tháng, nhờ đó, người nông dân, người dân chài có thể nắm vững thời tiết cho việc trồng trọt, chăn nuôi và ra khơi đánh cá
Trước thời nhà Hán thì gương đã được sử dụng nhiều trong các nghi lễ mai táng, và được đặt trong mộ trên ngực người chết, nghi thức này được gọi là
護 心 鏡 (hộ tâm kính) – chiếc gương bảo vệ trái tim, trên một số chiếc gương những dấu tích của vải được bọc lên có thể được nhìn thấy rõ ràng Những chiếc gương và những đồ đồng khác thuộc gia đoạn nhà Tần được phát hiện ở những
hố khai quật rộng lớn, sâu khoảng từ 40 đến 50 feet, thì xuất hiện dấu tích của những ngôi mộ, nhưng không tìm thấy quan tài hay xương trong đó Tuy nhiên, phát hiện được chiếc gương thời Tần với dấu vết của sợi vải trên gương, điều này dường như cho thấy chúng đã được lấy ra khỏi ngôi mộ
Tương truyền Tần Thuỷ Hoàng có một chiếc gương, có thể soi thấy lục phủ ngũ tạng, biết được lòng dạ chính tà
Ngày nay, về chuyện mộ của Tào Tháo cũng có khá nhiều huyền thoại
Có người cho rằng mộ của Tào Tháo chưa được phát hiện Có người cho rằng
mộ của Tào Tháo gồm 72 ngôi, trong đó, ngôi mộ thật nằm ở dưới lòng sông, có
cơ quan, máy móc vận hành bằng sức nước để bảo vệ rất kỹ lưỡng Tuy thế có người mạo hiểm vào được bên trong Điều người ta phát hiện trước tiên là một tấm bia đá ghi đầy chữ triện và một chiếc gương đồng lớn treo trên vách
Hoặc bên lề lịch sử, ta còn nghe thấy những câu chuyện khá ly kỳ tưởng chừng như chỉ có trong thần thoại hoặc phim ảnh hư cấu Người ta cho rằng chính vua Càn Long nhà Thanh đã nhờ vào 2 chiếc gương cổ có 2 mặt: mặt trước để soi, mặt sau có ghi dòng cổ tự, nhưng khi chiếu ánh sáng phản xạ lên tường thì nó cho hình ảnh một họa đồ sông núi, nhờ đó vua Càn Long đã cho người tìm được một khối ngọc bích khổng lồ ở sa mạc Gobi Lúc gương đồng phản xạ ánh sáng, cũng có hiệu quả hội tụ ánh sáng, phản xạ một chùm tia sáng lên góc tường, còn rõ ràng hơn so với ánh sáng trên trần nhà, nhưng từ trong ánh
Trang 27sáng đó, người ta lờ mờ nhìn ra một thứ gì đó Vì vậy, tuy gương bị hoen gỉ nhưng hàm lượng linh khí của nó không bị xói mòn bao nhiêu cả Với linh khí, gương đã đem lại một cảm giác kỳ quái khi người ta nhìn thấy một đồ án cụ thể nào đó mà nó tuyệt đối không phải là ảo giác
Gương cổ Trung Quốc là loại gương soi mặt của người xưa, chế tạo tại Trung Quốc bằng đồng, bạc, hay hợp kim của đồng trong thiên nhiên hoặc qua
kỹ thuật luyện kim Một số ít gương đặc biệt (thường dùng trong cung điện của vua chúa) được chế tạo bằng vàng nguyên chất
Qua một số huyền thoại được ghi lại trong truyện “Phong thần” xảy ra vào đời Thương bên Trung Quốc, có đề cập tới chiếc “Gương chiếu yêu” tức là một loại gương để yểm trừ ma quỷ của phái “Đạo gia” ngày xưa Hoặc chiếc
“Hộ tâm kính” tức là tấm đồng lớn và dày có dạng một chỏm cầu lồi, chung quanh có vành, được đúc nhiều lỗ để kết chặt vào phần ngực của áo giáp “Hộ tâm kính” luôn luôn được đánh thật bóng, có công dụng bảo vệ phần ngực khỏi
bị gươm giáo đâm thủng, đồng thời có thể chiếu ánh sáng phản xạ của mặt trời vào mắt đối phương, làm cho đối phương bị lóa mắt, khó lòng chống đỡ lại được
Tại Thượng Thư, Quốc Ngữ, Thôn Trang Tử đều nói được sáng tạo ra vào thời kỳ Tiên Tần, cổ nhân đề cập trong Giám Vu Thủy, mà ý nghĩa cổ ngữ từ Giám
鑑 chính là Bồn – ý chỉ chỉ chậu đồng chứa nước chính là tấm gương sớm nhất
Qua các cuộc khai quật di chỉ cổ ở Trung Quốc, người ta phát hiện ra gương cổ đã được hình thành từ thời Đông Châu (776 – 256 TCN), trên cơ sở phát hiện tới đâu thì đánh giá tới đó
2.1.2 Lịch sử phát triển gương đồng cổ Trung Quốc
Trong lịch sử Trung Quốc, khi một triều đại mới lật đổ và thay thế triều đại cũ, bạn đầu họ không mong muốn một cuộc cách mạng triệt để thay đổi phong cách nghệ thuật Nhưng để khẳng định vị thế và xóa bỏ cái cũ, mỗi triều đại đều có những thay đổi mạnh mẽ trong phong cách nghệ thuật
Những người thợ giỏi nhất được thuê làm cho triều đình, và những đồ vật tốt nhất đến từ những lò sản xuất của nhà vua; do sự tàn phá, tranh giành quyền
Trang 28lực và bị lật đổ, nhiều nơi như thế đã bị phá hủy và những người thợ bị phân tán hoặc bị ép buộc phải mai danh ẩn tích Một vài người trong số họ, bao gồm những người già nhất và có kinh nghiệm nhất, chắc chắn sẽ không bao giờ quay trở lại nghề của họ, khi chết họ sẽ mang theo cả những bí mật đó và chúng mãi mãi bị chôn vùi
Thời xưa, không có sự phân biệt rõ ràng giữa các loại kim loại, và theo họ đồng thường chứa một lượng vàng hay bạc và thuộc loại cao cấp Ngược lại, từ những hiểu biết của chúng ta về kim loại, dường như họ có những hiểu biết rất
rõ ràng và sâu sắc về các loại kim loại và họ rất cẩn thận trong việc lựa chọn chúng Điều này góp phần rất lớn vào việc giải thích cho những đồ vật cao cấp
mà họ đã làm ra, và nó thực sự được xem là loại vàng hạng 3
Tuy nhiên, chắc chắn là không một ai biết được liệu có vàng và bạc được dát vào những đồ đồng sớm hay không, nhưng có thể nói rằng con người thời kỳ này ít nhiều biết về những kim loại quý hoặc là không để ý tới công dụng của chúng
Do sự kế thừa phong cách nghệ thuật qua các thời nên hoa văn trang trí và kiểu dáng gương có thể được nhận diện qua hai thời kỳ mà gương đồng được sản xuất ra nhiều nhất và trình độ lỹ thuật cao nhất (thời Hán và Đường):
- Thời Hán: gương chủ yếu có hình tròn (một số gương vuông), sau gương
có núm xỏ dây, trang trí các đồ án như: đồ án TLV, nhũ đinh, hoa văn thao thiết (Thao thiết 饕餮 theo truyền thuyết là một giống dã thú hung ác, tham ăn), văn
tự (chữ triện)… về chất liệu: thực tế là hợp kim của đồng nhưng lượng đồng chiếm tỉ lệ lớn
- Thời Đường: Gương đa dạng phong phú về hình dáng (tròn, vuông và có cán cầm tay), sau gương có núm xỏ dây, trang trí các đồ án như: bát tiên, rồng, phượng, phong cảnh, chim muông, văn tự (chữ khải)… về chất liệu: tỉ lệ đồng đúc gương đặc biệt giảm
Gương đồng là đồ dùng thời cổ đại, vào thời kỳ cổ đại, mọi người dùng nước soi mặt, sau khi phát minh ra đồ đồng, đều dùng chậu đồng chứa nước để phản chiếu hình ảnh
Trang 29Sau khi kỹ thuật luyện kim xuất hiện, bắt đầu từ thời đại Ân Thương, đã
có thể sử dụng đồng và chỉ để tạo ra tấm gương thô sơ, chế tác gương đồng thành hình vuông, mặt sau của chúng đều có khắc chữ hoặc vẽ đồ án, khi dùng tay cầm lên, sẽ phản chiếu ánh sáng về phía đối diện, có thể nhìn rõ gương mặt
Gương đồng thời Thương, Tây Chu và Xuân Thu, các nhà khảo cổ Trung Quốc nhiều lần phát hiện gương đồng lẻ tẻ, tới thời Chiến Quốc mới thịnh hành hơn, số lượng tăng nhiều
Đến thời đại nhà Hán, bởi nhu cầu sinh hoạt hàng ngày tăng lên, đến thời
kỳ Tây Hán thì càng phồn vinh, kỹ thuật chế tác gương đồng tăng vọt, công nghệ chế tác gương đồng tăng lên, tính chất tốt hơn, ở mặt sau khắc chữ và đồ
án phong phú đa dạng hơn Đến thời kỳ nhà Đường, Tống thì phát triển đến cao điểm
Kỹ thuật phát triển cho đến thời kỳ nhà Minh, Thanh, đến thời đại thủy tinh sinh ra, gương đồng từ từ biến mất khỏi sân khấu lịch sử
Thời điểm cổ đại, gương đồng là đồ vật có quan hệ mật thiết với sinh hoạt hàng ngày của con người, là dụng cụ không thể thiếu trong sinh hoạt, đồng thời
là mặt hàng mỹ nghệ, hiện tại có một số ít gương đồng được lưu giữ trong các bảo tàng, đều chế tác tốt, hình thái xinh đẹp, đồ vân hoa lệ, chữ khắc và đồ vật trên đó rất phong phú, chính là di sản văn hóa cổ đại trân quý
Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc lấy cơ sở là ba đời: Hạ, Thương, Chu Trong thời kỳ này, cả công nghệ chế tác gương lẫn số lượng gương đều phát triển và tăng mạnh, vượt qua trước kia rất nhiều
Tới đời Tần Hán, số lượng gương đồng được khai quật tăng nhiều, sử dụng phổ biến, số lượng gương đồng thời Hán không chỉ tăng nhiều, hơn nữa hình thức chế tác, nghệ thuật biểu hiện, thủ pháp làm ra cũng phát triển rất lớn
Về phần gương đồng nhà Tùy Đường, đều đã phát triển hơn so với trước kia, cũng có nhiều hợp kim luyện chung với đồng tạo ra gương đồng hơn, mà tính chất trong gương đồng cũng lộ ra ánh sáng bạc, đã đẹp hơn so với trước kia
Trang 30Đến đời Tống Kim Nguyên, công nghệ chế tác gương đồng không có gì đột phá, phần lớn chỉ là gương thời Đường kéo dài mà thôi, cũng chỉ nhiều ra một ít câu chuyện lịch sử liên quan đến gương đồng mà thôi
Thời cổ, gương đồng Trung Quốc thông qua việc mua bán hoặc tặng, từ
“con đường tơ lụa” trên đất liền hoặc theo thuyền trên biển lưu truyền ra nước ngoài Giữa thời Tây Hán, khai quật được gương đồng vãn kỳ tại Triều Tiên, Nhật Bản Thời Tam quốc, lưỡng Tấn không chỉ gương Ngô, gương Nguỵ đến Nhật Bản mà cả thợ Trung Quốc cũng đến Nhật Bản, thậm chí từ Trung Quốc vận chuyển nguyên liệu đến Nhật để chế tạo gương đồng
2.2 Quá trình hình thành Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc – trưng bày tại bảo tàng cổ vật Hoàng Long
2.2.1 Gương đồng cổ Trung Quốc được phát hiện tại Việt Nam
2.2.1.1 Gương được chế tác vào thời kỳ kim khí
Trong quá trình giao lưu văn hóa, quý tộc Việt Nam thời văn hóa Đông Sơn đã tứng sở hữu những chiếc gương đồng sớm từ những lò sản xuất gương nổi tiếng thuộc lưu vực sông Dương Tử (Trung Quốc)
Cho đến hiện nay, những gương có niên đại đáng tin cậy nhất là những gương đồng phát hiện trong các cuộc khai quật khảo cổ học Đó là những gương phát hiện trong khai quật của O Janse vào những năm 1930 - 1940, khai quật của các nhà khảo cổ học Việt Nam ở Đông Sơn, Thiệu Dương, Mạo Khê, Gò Dừa, Phú Chánh từ những năm 60 của thế kỷ trước trở lại đây
Hai loại gương Tây Hán khá phổ biến khác là loại Nhật Quang và Chiêu
Minh cũng phân bố khá rộng ở Việt Nam
Điển hình cho gương Nhật Quang khai quật ở Việt Nam là những tiêu bản của mộ đất thời Tây Hán ở Thiệu Dương (Thanh Hóa), trong mộ gạch ở Mạo Khê (Quảng Ninh), Làng Vạc Gương khai quật trong mộ chum ở Gò Dừa, Hội
An (Quảng Nam – Đà Nẵng) và Phú Chánh Trong khu mộ Quảng Châu và Điền Trì cũng phát hiện được hai loại gương này Chúng đại diện cho dòng giao lưu thương mại trong TK II và I TCN hơn là ảnh hưởng trực tiếp của những cuộc chinh phục quân sự
Trang 31Gương đồng khai quật trong mộ chum số 5 thuộc khu mộ Sa Huỳnh Gò
Dừa (Quảng Nam) được Reinecke và đồng nghiệp công bố năm 2002 Nguyễn
Chiều cũng công bố một gương đồng thu thập trong quá trình khai quật địa điểm
An Bang Niên đại C14 đã được hiệu chỉnh của hai địa điểm này đều nằm trong
thế kỷ 1 TCN Năm 1998, Bùi Chí Hoàng và đồng nghiệp công bố một chiếc
gương đồng Tây Hán khai quật ở khu mộ chum Sa Huỳnh tại Bình Yên (Quế
Sơn, Quảng Nam)
Có lẽ chiếc gương đồng Tây Hán phát hiện xa nhất về phía Nam của địa
bàn phân bố văn hoá Sa Huỳnh là ở Phú Chánh Nơi đây gương đồng nằm trong
mộ chum gỗ bên cạnh những trống đồng Đông Sơn Niên đại C14 đặt Phú Chánh vào khoảng niên đại thế kỷ 1 SCN
2.2.1.2 Gương được chế tác vào thời kỳ Bắc thuộc
Sự xuất hiện khá phổ biến gương Đông Hán phản ánh một sự gia tăng khá đột biến của nhu cầu sử dụng cũng như khả năng cung cấp loại mặt hàng cao cấp này vào những thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên Cũng có một lý do nữa là sự xuất hiện khá ồ ạt quan lại, binh lính Hán và gia quyến của họ theo chân cuộc viễn chinh của Mã Viện sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào năm 43 SCN
Gương đồng Tây Hán muộn và Đông Hán cũng đào được ở Gò Dừa, Lai Nghi, Bình Sơn, An Bang (Quảng Nam) thuộc phạm vi văn hóa Sa Huỳnh Theo
tư liệu của Đặng Tiến Sơn và thông báo trong sách của Hồ Xuân Em thì chúng còn được phát hiện khá nhiều ở các mộ gạch Quảng Ninh, Thanh Hoá, và rải rác
từ Quảng Bình trở vào đến Quảng Ngãi
Gương đồng cổ Trung Quốc xuất hiện ở ven biển miền Trung Việt Nam (phạm vi phân bố văn hóa Sa Huỳnh) có thể do sự giao lưu buôn bán của cư dân nơi đây với người Trung Quốc, họ nhập gương về để sử dụng qua con đường tơ lụa xuất phát từ Trung Quốc Sau khi chết họ dùng gương làm vật tùy táng hoặc chôn dấu cùng với tài sản trước khi sơ tán khỏi những vùng bị người Kinh Việt hay Chân Lạp đánh chiếm
Trang 322.2.2 Thanh Hóa – nơi phát hiện gương đồng cổ Trung Quốc
Xứ Thanh theo cách quan sát vị trí trên Trái Đất dựa vào thiên văn của con người thời cổ “thuộc về khu vực sao Dực sao Chẩn, về tinh thứ sao Thuần Vĩ” Và theo cách phân chia đất đai dựa vào địa vực, đất này cũng đã trải qua nhiều lần biến đổi về quy mô và tên gọi ở mỗi thời điểm lịch sử: “Xưa là bộ Cửu Chân, đời Tần thuộc Tượng quận; đời Triệu là quận Cửu Chân; đời Hán vẫn giữ nguyên tên quận như cũ và thống thuộc bộ Giao Chỉ; đời Đông Ngô, năm Nguyên Hưng thứ 1, chia quận Cửu Chân, đặt thêm quận Cửu Đức, đời Tần, đời Tống cũng theo như thế Vũ Đế nhà Lương lấy Cửu Chân làm châu Ái (tên Ái châu bắt đầu có từ đấy); đầu đời Tùy, bỏ quận Cửu Chân, chỉ gọi châu Ái, sau lại đổi châu Ái gọi là Cửu Chân, đời Đường gọi là châu Ái”
Cái tên Thanh Hóa mới xuất hiện từ thời Lý và tồn tại cho đến ngày nay
Về sự kiện này sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử Quán triều Nguyễn
viết như sau: “Nước ta thời Đinh Lê vẫn theo châu Ái, đời Lý năm Thuận Thiên thứ 1 (1010) đổi làm Trại, sau đổi làm Phủ Thanh Hóa (tên Thanh Hóa bắt đầu
từ đây)”
Văn minh của xứ Thanh xuất hiện sớm trong các nền văn minh của người Việt cổ, biểu hiện qua các thời kỳ từ đồ đá đến đồ đồng Những di chỉ khảo cổ học ở núi Đọ (Thiệu Hóa), Con Moong (Thạch Thành), Mái Đá Điều (Bá Thước), Đa Bút (Vĩnh Lộc), Đông Sơn (Thành phố Thanh Hóa), Hoa Lộc (Hậu Lộc), và gần đây, là bản Khặt, Cẩm Thành (Cẩm Thủy)…, qua các lần khai quật
đã phản ánh hết sức cụ thể và sinh động về bàn tay lao động sáng tạo, khéo léo tài hoa của người xứ Thanh từ thuở xa xưa Những công cụ lao động tinh xảo, kiến trúc, điêu khắc, các nghề thủ công truyền thống được kế thừa và phát huy
từ đời này qua đời khác trên khắp các khu vực của sông Mã, sông Chu, từ vùng núi, trung du, đồng bằng và ven biển Những búa, rìu đá, mũi tên đồng, kiếm, thạp đồng… đều được chế tác khá tinh xảo Trống đồng Đông Sơn với những cảnh sinh hoạt lao động sản xuất, sinh hoạt, những đường nét hoa văn tuyệt mỹ, sống động, biểu hiện kỹ thuật sản xuất ở trình độ cao của người Việt ở thời kỳ văn hóa Đông Sơn, thời đại Hùng Vương Kỹ thuật chạm khắc đá tài hoa, thể
Trang 33hiện qua những đường nét uyển chuyển tạo hình các bầy voi, ngựa, hổ, chó, phỗng… ở các huyện Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Thọ Xuân… và tòa thành đá nhà Hồ sừng sững hơn 600 năm thi gan cùng tuế nguyệt đã khẳng định nghề chế tác đá ở
xứ Thanh có từ rất sớm Nghề mộc nổi tiếng ở Đạt Tài (Hoằng Hóa); nghề gốm, sành, sứ ở thành phố Thanh Hóa, Đông Sơn, Thiệu Hóa, Hoằng Hóa; nghề rèn ở Hậu Lộc ở nhiều bản làng thuộc miền núi… Những hoa văn trên thổ cẩm, chăn, gối, khăn đội đầu, váy, áo… với những sắc màu sặc sỡ, duyên dáng của người Mường, Thái, Dao, Tày, Mông, Khơ Mú, là minh chứng về sự khéo léo, tài hoa của con người trong lịch sử và hiện đại
Tại Thiệu Dương, các nhà khảo cổ đã phát hiện trong cuộc khai quật đầu năm 1960 tổng số 13 gương đồng, đa phần nằm trong các mộ đất trên cánh đồng Khổ thuộc Làng Ràng ( Thiệu Dương, Thiệu Hóa, Thanh Hóa) Phần lớn gương tìm được ở phần nửa thân trên, trong đó tập trung ở phần đầu người chết Một vài chiếc còn dây treo và gắn liền với lược gỗ Theo Lê Trung người viết báo
cáo khai quật, gương Thiệu Dương được phân thành 6 loại: Tinh vân, Nhật
Quang, Chiêu Minh, Tứ ly, Quy củ, Hổ tước (Trường Lạc vị ương) Đa số gương
này thuộc cuối thời Tây Hán vãn kỳ và Đông Hán sơ kỳ Trong đó 2 gương Tinh
Vân có thể lên đến cuối tiền kỳ đầu trung kỳ Tây Hán Hiện tượng tập trung mộ
có gương Tây Hán và Đông Hán sớm ở Thiệu Dương củng cố thêm giả thiết về vai trò thủ phủ quận Cửu Chân của Thiệu Dương (Dương Xá, Làng Ràng), nơi tương truyền gọi là Tư Phố thời Hán Làng Ràng cũng là một trong những làng Đông Sơn cổ nhất trong vùng Niên đại cư trú bắt đầu từ bình tuyến tương đương Đồng Đậu, 3500 trăm cách ngày nay
Các cuộc khai quật hệ thống mộ gạch kiểu Hán của O.Janse ở Thanh Hóa phát hiện rất ít gương Tây Hán Trong sưu tập gương mộ gạch Đông Hán của O.Janse ở Thanh Hóa mà niên đại phổ biến nằm trong khoảng từ nửa sau thế kỷ
2 SCN đến đầu thế kỷ 3 SCN, rất hay gặp gương Lục Nhũ Lục Điểu và gương
Quy Củ Tứ Linh thuộc thế kỷ 2 SCN Đôi khi cũng gặp những gương có niên đại
đầu thế kỷ 3 SCN (thời Tam Quốc) như loại gương Hoạ tượng Thần nhân (Lục
Thần), Long Hổ, Tiễn hình Tứ Diệp Tứ Long
Trang 34Như vậy, Thanh Hóa là một vùng đất cổ, gương đồng được phát hiện ở đây rất nhiều, nhất là những chiếc gương chế tác vào thời kỳ kim khí (thuộc văn hóa Đông Sơn ở những địa điểm ven lưu vực sông Mã) và thời kỳ Bắc thuộc (đặc biệt được tìm thấy nhiều nhất là trong các khu mộ gạch thời Hán ở Thiệu Hóa) Đa số, đã phát hiện tại Thanh Hóa có niên đại gương được xác định chủ yếu là thuộc thời Hán và Đường, có một số gương có niên đại sớm hơn, nhưng hiếm là gương có niên đại thời Chiến Quốc, Lục Triều Gương thời Chu và Tần hầu như chưa phát hiện được tại đây
2.2.3 Quá trình hình thành Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Ông giám đốc Bảo tàng cổ vật Hoàng Long là người trực tiếp sưu tầm và xây dựng nên Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc Ông Hoàng Văn Thông vốn
là một người hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, thầu đường nên rất hay đi làm công trình ở những miền xa xôi, hẻo lánh, những vùng cao ở Thanh Hóa và cũng như các tỉnh ở khu vực phía Bắc Trong quá trình thi công công trình ông Thông rất hay đào được cổ vật và những ngôi mộ cổ trong đó có các đồ tùy táng chôn theo người chết Và quan trọng hơn là do niềm đam mê, yêu thích sưu tầm cổ vật cộng với cái “duyên” với đồ cổ mà ông đã gìn giữ chúng cẩn thận Rồi những lần đi công tác xa, ông đều hỏi thăm và tìm hiểu xem ai có đồ cổ không thì sẵn sàng bỏ tiền ra mua bán, trao đổi hiện vật từ nhiều nguồn trong và ngoài nước Chính vì vậy, ông đã xây dựng nên không chỉ Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc mà còn rất nhiều sưu tập hiện vật có giá trị hiện đang được lưu giữ
và trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
Trước kia gia đình ông cũng khó khăn, nhưng với niềm đam mê mà ông cho là “sức hút” của những cổ vật này quá lớn, dù gia đình không có tiền nhưng vẫn cố gắng vay mượn để mua bằng được đem về nhà cất giữ ở trong gầm tủ hoặc nơi riêng, chứ chưa có điều kiện bảo quản như bây giờ để giấu vợ vì vợ ông không bằng lòng việc này Và ông có gợi ý với vợ là sẽ mở một bảo tàng tư nhân nhưng vợ ông không đồng ý Nhưng cho đến nay, quyết định của ông đã quả đúng đắn, xây dựng bảo tàng kết hợp với khu ẩm thực là một sự sáng tạo
Trang 35giúp cả hai dịch vụ cùng phát triển mà không gây nên sự nhàm chán Chính vì vậy đã tạo nên nét đặc sắc riêng biệt, làm nên thương hiệu cho ông Thông và cũng tạo hình ảnh ấn tượng của khách tham quan trong nước và ngoài nước khi đến với thành phố Thanh Hóa
Quá trình sưu tầm cổ vật của ông Thông gian nan vất vả (ông có đam mê sưu tầm trong khi kinh tế gia đình vẫn còn nhiều khó khăn) và đó là một sự nỗ lực rất lớn để đến bây giờ ông đã sở hữu hơn 16000 cổ vật vô cùng giá trị Ở Thanh Hóa ông được xếp vào hàng “Đại gia xứ Thanh” vì ngoài sở hữu số lượng cổ vật lớn, giá trị Ông Thông còn sở hữu khu ẩm thực có tiếng tại Thành phố Thanh Hóa và nhiều bất động sản
Đặc biệt hơn nữa ông Thông không phải là một người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nhưng lại tình yêu đối với văn hóa Ông luôn có ý thức tìm tòi
và say mê nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của Việt Nam và các nước trên thế giới Việc lưu giữ nhũng cổ vật giá trị là một việc làm thiết thực đã góp sức vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và của nhân loại ngăn chặn vấn đề “Chảy máu cổ vật” đang diễn ra phức tạp hiện nay Đó là một việc làm mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, những hiện vật đó sẽ mãi kho tài sản vô giá về tri thức để lại cho cộng đồng và những thế hệ sau này, biết về lịch
sử văn hóa của cha ông để tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn, phát huy tốt hơn nữa
Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc hiện đang được trưng bày tại bảo tàng đều là những chiếc gương được tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt chúng được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ mạt kỳ Đông Sơn và trong các ngôi mộ gạch thời Hán Bên cạnh đó, có nhiều chiếc gương do mua bán trao đổi
từ nhiều nguồn trong và ngoài nước (từ các thương gia người Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn) Hiện nay, Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc gồm 88 chiếc gương có niên đại thời Hán và thời Đường
Khi bảo tàng được thành lập, Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc được đưa ra trưng bày Nhưng chiếc gương này đều được đánh số và nhập vào mẫu văn bản để đăng ký bảo hiểm với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Trang 362.3 Phân loại Sưu tập gương đồng cổ Trung Quốc trưng bày tại Bảo tàng cổ vật Hoàng Long
2.3.1 Các gương có niên đại thời Hán (TK3 TCN – TK3 SCN)(Bộ ảnh số 1)
Có dạng tròn đơn thuần là chủ yếu
Gương nhũ đinh, đồ án TLV (Tập ảnh số 1)
- Gương Tứ nhũ (4 nhũ đinh và 4 phần hoa văn trang trí xen kẽ)
Trang 372 V284 10,5 cm Đường gấp khúc, vân mây, tứ nhũ được nối bởi 4 đường kẻ kép tạo thành hình
vuông xung quanh núm gương
Nguyên vẹn Patin màu xanh dày, làm mất một số nét hoa văn trang trí
3 V289 12 cm Đường gấp khúc, tứ nhũ chìm do sự ăn mòn kim loại Nguyên vẹn Vết gỉ loang đen trắng xung
quanh vành gương
4 V294 14 cm Tứ nhũ rộng bản và hoa văn nổi không rõ nét Nguyên vẹn Patin đen nâu trắng
5 V305 12 cm Đường kẻ ngắn song song, chim phượng cách điệu quay đầu vào nhau, phía dưới
là 4 Hán tự, nhũ đinh nổi rõ có vòng tròn bao xung quanh Nguyên vẹn Patin đen, xanh, trắng
7 V318 12 cm Hình mặt trời cách điệu xung quanh và trung tâm vành gương, hoa văn chủ đạo
không xác định rõ được do lớp patin quá dày
Nguyên vẹn Patin xanh dày, nâu đen do ngâm lâu ngày trong bùn đất
Trang 38- Chiếc gương mang số hiệu V363 và V325 (đường kính: 13 cm)
Hoa văn trang trí gồm 7 phần tính từ ngoài vành gương tính vào đến núm gương, phần ngoài cùng (phần 7-V363) là văn răng cưa (V325: vành hoa văn mặt trời cách điệu), phần 6: hoa văn sóng nước; phần 5: văn răng cưa; phần 4: văn răng lược; phần 3: tứ nhũ đinh, hoa văn hình học, đường cong tròn đối xứng nhau; phần 2: 4 cặp Hán tự; phần 1: xung quanh núm gương trang trí 4 cánh sen cách điệu Tình trạng hiện vật: nguyên vẹn, patin đen, nâu, xanh
- Gương Ngũ nhũ ( có 5 nhũ đinh và 5 phần trang trí xen kẽ, có 2 chiếc)
Chiếc gương mang số hiệu V344: đường kính: 14 cm; trang trí văn răng cưa, văn răng lược; 23 Hán tự; 5 nhũ đinh; 5 chim cách điệu, đang đi theo hướng ngược chiều kim đồng hồ Tình trạng hiện vật: nguyên vẹn, patin đen, nâu, xanh
Chiếc gương mang số hiệu V307: đường kính: 13 cm; trang trí hoa văn răng cưa; văn răng lược; 5 nhũ đinh; 5 họa tiết chim cách điệu đang đi theo hướng cùng chiều kim đồng hồ Tình trạng hiện vật: nguyên vẹn, patin đen, nâu, xanh
- Gương Lục nhũ ( có 6 nhũ đinh và 6 phần trang trí xen kẽ, có 3 chiếc)
Chiếc gương mang số hiệu V346: đường kính: 12 cm; trang trí hoa văn răng cưa; văn răng lược; 6 nhũ đinh; 6 họa tiết chim bay ngược chiều kim đồng
hồ (2 cặp chim đối xứng nhau, duỗi thẳng đầu bay hướng về phía trước; 1 cặp chim đối xứng nhau, vẫn bay nhưng quay đầu về phía sau); 18 Hán tự được viết theo lối chữ Triện Tình trạng hiện vật: nguyên vẹn, patin đen, nâu
Chiếc gương mang số hiệu V311: đường kính: 13 cm, trang trí hoa văn răng cưa, văn răng lược; 6 nhũ đinh; 6 cặp chồi hoa cách điệu Tình trạng hiện vật: nguyên vẹn, patin đen, trắng, nâu, xanh
Chiếc gương mang số hiệu V348 (ĐK: 13 cm): trang trí thú vật thời Hán đang đi ngược chiều kim đồng hồ Tình trạng hiện vật: nguyên vẹn, patin đen, nâu
- Gương Bát nhũ (có 8 nhũ đinh và 8 phần trang trí xen kẽ)
Trang 39STT Số hiệu Đường
kính Hoa văn trang trí Tình trạng hiện vật
1 V300 13 cm Văn răng cưa, đường gợn sóng, văn răng lược, chữ T, 8 nhũ đinh, chim cách
điệu, 4 cánh sen cách điệu xung quanh núm gương Nguyên vẹn Patin nâu, trắng
2
V329
V328
V300
14 cm Văn răng cưa, văn răng lược, 8 nhũ đinh, 4 cặp chim phượng đối xứng và quay
đầu vào nhau, chữ V, 4 cánh sen cách điệu xung quanh núm gương Nguyên vẹn Patin nâu, đen
3 V330 12 cm Văn răng cưa, văn răng lược, 14 Hán tự lối chữ triện, chữ T, 4 cặp chim đối
xứng quay lưng vào nhau, 4 cánh sen cách điệu xung quanh núm gương Nguyên vẹn Patin trắng, nâu
4 V339 12 cm Vân mây, văn răng cưa, chữ V, chữ T, 4 cánh sen cách điệu quanh núm gương Nguyên vẹn Patin đen, nâu, trắng
5 V349 13 cm
Hoa dây, thú vật thời Hán đi ngược chiều kim đồng hồ, chữ T, chữ V, văn răng lược, xung quanh 8 nhũ đinh, núm gương đều có 4 cánh sen cách điệu, 26 Hán
tự theo lối chữ triện
Nguyên vẹn Patin đen, nâu, trắng
6 V350 12 cm
Văn răng cưa, văn răng lược, 20 Hán tự theo lối chữ triện, các con vật: chim, rùa, rồng cách điệu, cá, trâu, hổ, ngựa; 4 cánh sen cách điệu xung quanh núm gương
Nguyên vẹn Patin nâu, đen, xanh
7 V365 11 cm Văn răng cưa, văn răng lược, đồ án TLV, các con vật: chim, cá, trâu, hổ, ngựa Nguyên vẹn Patin nâu, trắng
Trang 40- Các gương có 2 vòng nhũ đinh (có 8 chiếc)
Bị rạn 2 chỗ ở vành gương Patin đen, nâu, trắng
2 V331 15 cm
Vân mây lớn, văn răng cưa, văn răng lược,
8 nhũ đinh vòng ngoài, 12 nhũ đinh vòng trong, đồ án TLV, các con vật: chim, hổ, rồng
Nguyên vẹn Patin nâu, đen, xanh
3 V342 17 cm
Vân mây lớn, văn răng cưa, văn răng lược, các con vật: rùa, hổ, rồng, chim, cá, hươu; 7 nhũ đinh vòng ngoài, 9 nhũ đinh vòng trong
Nguyên vẹn Patin đen nâu, xanh
4 V356 25 cm
Văn răng cưa, vân mây, văn răng lược, vòng ngoài là một bài thơ chữ Hán theo lối Triện thư 42 chữ, vòng trong khung vuông
có 12 nhũ đinh xen kẽ là một bài thơ chữ Hán theo lối Triện thư 33 chữ, xen kẽ là đồ
án TLV, Tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng, vòng ngoài có 8 nhũ đinh
Nguyên vẹn Patin đen, xanh
Quanh núm gương là hình 4 cánh sen cách điệu
Nguyên vẹn Patin đen, xanh
6 V364 22 cm
Vân mây, văn răng cưa, văn răng lược, vòng ngoài là một bài thơ chữ Hán 18 chữ theo lối Triện thư, đồ án TLV, đồ án “ Lăng hoa” có hình dạng những con dơi Vòng ngoài 8 nhũ đinh, vòng trong 8 nhũ đinh
Bị nứt, đã được gắn lại bằng keo Patin trắng, nâu, đen, xanh