1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước giai đoạn (1954 1975) tại bảo tàng phụ nữ việt nam

97 24 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những tài liệu, hiện vật, hình ảnh và các sưu tập hiện vật đa dạng, phong phú phản ánh về truyền thống lịch sử - văn hóa của phụ nữ Việt Nam hiện đang lưu giữ và trưng bày tại B

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

GIANG THU DUNG

SƯU TẬP HIỆN VẬT TỰ TẠO CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC GIAI ĐOẠN (1954 - 1975)

TẠI BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

Mã số: 52320305

Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN THỊ HUỆ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: TỔNG QUAN SƯU TẬP HIỆN VẬT TỰ TẠO CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC GIAI ĐOẠN (1954 -1975) TẠI BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 7

1.1 Khái niệm sưu tập, hiện vật tự tạo, sưu tập hiện vật tự tạo 7

1.2 Khái quát về bảo tàng phụ nữ Việt Nam 9

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 9

1.2.2 Đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng 11

1.2.3 Nội dung trưng bày của bảo tàng 15

1.3 Tổng quan sưu tập hiện vật tự tạo của Phụ nữ Việt Nam 20

1.3.1.Khái quát những nét chính về vai trò của Phụ nữ việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 – 1975 20

1.3.2 Quá trình nghiên cứu, sưu tầm hiện vật thuộc sưu tập 25

1.3.3 Phân loại sưu tập hiện vật 26

Chương 2: GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP HIỆN VẬT TỰ TẠO CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 -1975) TẠI BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 38

2.1 Giá trị lịch sử 38

2.2 Giá trị văn hóa 59

2.3 Giá trị mỹ thuật 71

2.4 Giá trị kĩ thuật 72

Chương 3 : GIẢI PHÁP BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SƯU TẬP HIỆN VẬT TỰ TẠO CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) TẠI BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 76

3.1 Thực trạng công tác bảo quản và phát huy giá trị sưu tập 76

3.1.1 Thực trạng công tác bảo quản hiện vật kho và trên hệ thống trưng bày 76

Trang 3

3.1.2.Thực trạng trong khai thác, phát huy giá trị sưu tập 82

3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác bảo quản và phát huy giá trị 87

3.2.1 Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác bảo quản 87

3.2.2 Giải pháp phát huy giá trị sưu tập hiện vật bảo tàng 91

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Qua bức thư gửi phụ nữ nhân ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 năm 1952, Bác Hồ

có viết “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu

mà thêm tốt đẹp rạng rỡ” Ngày 8/3/1965 đánh giá cao cống hiến của phụ nữ miền

Nam, Đảng, chính phủ, Bác Hồ đã tặng bức trướng thêu 8 chữ vàng “Anh hùng –

Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang” và Nhà nước đã tặng Phụ nữ miền Nam

Huân chương “Thành đồng” hạng nhất.Đó không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá cao vai trò của phụ nữ Việt Nam:

“Vừa hiền, vừa dịu lại vừa tươi

Mà lúc xông pha mạnh tuyệt vời Đánh giặc, lo nhà, xây dựng nước Đảm đang lừng lẫy bốn phương trời”

Đối với nước ta, phụ nữ Việt Nam luôn luôn giữ vị trí quan trọng trọng quá trình hình thành cộng đồng dân tộc, trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước.Truyền thống và phẩm giá của phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và đàng hoàng hơn Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, không ai có thể phủ nhận được vai trò to lớn của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực

Năm 1985 Ban Bí thư Trung Ương Đảng có văn bản đồng ý về sự cần thiết bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để giáo dục cho thế hệ trẻ ngày nay và mai sau Hai năm sau, ngày 1/10/1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký quyết định thành lập Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một sự kiện văn hóa, chính trị quan trọng trong các phong trào lịch sử, để hôm nay đồng

Trang 5

bào, chiến sĩ phụ nữ, nhân dân cả nước được chiêm ngưỡng một bảo tàng về giới

nữ đặt giữa lòng thủ đô ngàn năm văn hiến Có thể nói vai trò của phụ nữ các tộc người trong sáng tạo văn hóa, trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tich Hồ Chí Minh, của Đảng, của Nhà nước

Chính cái nhìn “nhân học – văn hóa”, “nhân học – xã hội”, “nhân học – chính trị”, “văn hóa giới”…đã giúp cho em muốn tìm hiểu, khám phá nhiều hơn

về phụ nữ Việt Nam Bản thân em là nữ giới, lại là một người theo học ngành Bảo tàng học, em muốn biết nhiều hơn những gì mà người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc Việt Nam đất nước đã từng trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc và vai trò cùng sự đóng góp của của người phụ nữ là vô cùng to lớn trong các cuộc kháng chiến kiến quốc ấy

Trong số những tài liệu, hiện vật, hình ảnh và các sưu tập hiện vật đa dạng, phong phú phản ánh về truyền thống lịch sử - văn hóa của phụ nữ Việt Nam hiện đang lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, có sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (giai đoạn 1954 – 1975) chưa được nghiên cứu về nội dung lịch sử - văn hóa dưới góc độ Bảo tàng học

Cũng chính vì lí do đó, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Sưu tập hiện vật

tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn (1954-1975) tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp

cho mình Với mong muốn góp một phần không nhỏ vào công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục với quảng đại quần chúng trong và ngoài nước về lịch sử đấu tranh anh hùng của phụ nữ Việt Nam

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu khóa luận là sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) tại Bảo tàng Phụ

nữ Việt Nam

Trang 6

3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu sưu tập hiện vật tự tạo tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), đang được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình sưu tầm hiện vật thuộc sưu tập hiện vật tự tạo của Phụ nữ Việt Nam, nội dung, phân loại các hiện vật trong sưu tập và phân tích các giá trị của sưu tập

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo quản, phát huy giá trị sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin: Duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

Phương pháp khoa học được sử dụng để tiến hành nghiên cứu: Bảo tàng học, Xã hội học, Mỹ thuật học…

Các phương pháp khác: Khảo sát, trực tiếp sưu tập, thống kê và phân loại; tồng hợp và phân tích; chụp ảnh; quan sát; ghi chép những câu chuyện được kể lại…

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục bố cục khóa luận gồm 3 chương.Cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong

cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 -1975 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Chương 2: Giá trị của sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo

quản và phát huy giá trị sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN SƯU TẬP HIỆN VẬT TỰ TẠO CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM

TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

GIAI ĐOẠN (1954 -1975) TẠI BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm sưu tập, hiện vật tự tạo, sưu tập hiện vật tự tạo

Sự hình thành của hầu hết các bảo tàng trên thế giới cơ bản giống nhau,

đó là sự dày công chuẩn bị các sưu tập, có sự đầu tư xây dựng các sưu tập, bộ sưu tập hiện vật.Điều đó, khẳng định một trong những yếu tố quyết định và điều kiện quyết định thành lập các bảo tàng.Vì vậy về nhận thức và quan điểm của các nhà bảo tàng học trên thế giới coi công tác xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng là một hoạt động khoa học có nội dung, quá trình, kết quả riêng của chính nó.Mặt khác, khi sưu tập hiện vật bảo tàng được xây dựng nó có vai trò, vị trí nhất định trong toàn bộ hoạt động của bảo tàng

Khái niệm sưu tập, sưu tập hiện vật bảo tàng:

Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam trong cuốn “Từ điển

từ và ngữ Việt Nam” sưu tập được giải thích theo hai nghĩa sau:

Nghĩa 1: Tìm kiếm và tập hợp lại

Nghĩa 2: Tập hợp những cái đã sưu tậm được theo hệ thống.1

Luật Di sản Văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành ban hành năm 2001

lại định nghĩa về sưu tập như sau: “Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật,

bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu

để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội”2

Trong lĩnh vực khoa học bảo tàng, thuật ngữ sưu tập được sử dụng để chỉ các sưu tập hiện vật bảo tàng Sưu tập hiện vật bảo tàng là tổng thể các hiện vật được tập hợp theo những dấu hiệu đặc trưng nhất định liên quan đến các nội dung, chủ đề, loại hình hiện vật, công dụng hiện vật, thời gian xuất hiện hiện vật

1 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng,2005, tr880

2 Luật Di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007

Trang 8

Vậy “Sưu tập hiện vật bảo tàng là gì”?Có khá nhiều công trình Bảo tàng

học trên thế giới và Việt Nam đề cập đến khái niệm này

Các chuyên gia Bảo tàng học của Liên Bang Nga đã viết:

“Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những hiện vật khác nhau cùng

chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định không kể mỗi hiện vật trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay văn hóa”3

Các nhà nghiên cứu về Bảo tàng và Bảo tàng học ở Việt Nam đã đưa ra khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng như sau:

“Sưu tập hiện vật bảo tàng hay cổ vật là một tập hợp những hiện vật bảo

tàng có liên quan đến một hoặc vài dấu hiệu chung về hình thức, chất liêu, nội dung; có tầm quan trọng và có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật và được sắp xếp, nghiên cứu có hệ thống và tạo thành một bộ tương đối hoàn chỉnh”.4

Khái niệm hiện vật bảo tàng, hiện vật tự tạo:

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Huệ: “Hiên vật bảo tàng là những hiện vật gốc

có hồ sơ khoa học – pháp lý và những thuộc tính của hiên vật bảo tàng, phù hợp với loại hình bảo tàng được giữ gìn bảo quản lâu dài để phục vụ cho những hoạt động, những chức năng xã hội bảo tàng”5

Theo“Từ điển từ và ngữ Việt Nam”, Nguyễn Lân, Nhà xuất bản TP Hồ

Chí Minh “Hiện vật là vật có thực, thường dùng để làm bằng cớ, để chứng

minh; hiện vật được trưng bày trong nhà lưu niệm”6

Theo “Từ điển Tiếng Việt”, Trung tâm từ điển học, Nhà xuất bản Đà

Nẵng “Tự tạo là (thiết bị, thường là vũ khí) tự chế tạo lấy để tự trang bị, vì

không có điều kiện mua sắm”7

3 Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga, Cục Di sản Văn hóa xuất bản, Hà Nội, 2006, tr235

4 Sưu tập hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 1994, tr37

5 Nguyễn Thị Huệ, Cơ sở Bảo tàng học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr152

6 Nguyễn Lân,Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NxbTP Hồ Chí Minh

7 Nguyễn Lân,Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NxbTP Hồ Chí Minh

Trang 9

Tuy nhiên chưa có một khái niệm chính xác nào nhắc đến, có thể nói “tự

tạo” là những hiện vật được chính con người chế tạo ra, phục vụ cho mục đích

của mình khi không có khả năng để mua, sắm Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu

rằng hiện vật “tự tạo” là những hiện vật tự chế tạo ra để sự dụng phục vụ cho

những công việc trong cuộc sống

Như vậy, khái niệm sưu tập hiện vật tự tạo là “Những hiện vật được chế

tạo ra để trang bị, sử dụng trong mọi lĩnh vực trong cuộc sống gắn với phụ nữ Việt Nam, được sử dụng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 –

1975 Chúng có những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung, chất liệu và được bảo quản trong Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam”

1.2 Khái quát về bảo tàng phụ nữ Việt Nam

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Năm 1985, Ban Bí thư Trung ương Đảng có văn bản đồng ý với chủ trương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của Phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc để giáo dục cho thế hệ trẻ ngày nay và mai sau

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam khởi công xây dựng tháng 7-1991, ngày 20/10/1996 Bảo tàng được xếp hạng là Bảo tàng Quốc gia loại I Công trình Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam thực sự là sản phẩm mang tính xã hội hóa sâu sắc, đem lại ấn tượng cho khách tham quan

Bảo tàng đặt tại số 36, phố Lý Thường Kiệt, Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ra đời đã có những thành quả bước đầu

và sự mến mộ của công chúng bởi những đặc trưng tiêu biểu sau:

Phụ nữ Việt Nam sớm có vai trò to lớn trong lịch sử dân tộc Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào mùa xuân năm 40 mở đầu trang sử nước nhà tới các vị anh hùng liệt nữ như Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai…đến những người mẹ lần lượt hiến dâng những đứa con của mình trong những cuộc kháng chiến Cả nước ta

Trang 10

hiện nay có trên 3 vạn bà mẹ “Việt Nam anh hùng” trong kháng chiến chống Mỹ

cứu nước Công lao ấy xứng đáng để xây dựng một Bảo tàng

Người Phụ nữ Việt Nam sinh ra và lớn lên trên mảnh đất với nhiều sự tích anh hùng Từ bến đò, ngọn núi, con sông… nơi đâu cũng ghi dấu những chiến công lịch sử vang dội Sang tới thời kỳ hiện đại trước những biến động xã hội xảy ra trong nước và trên thế giới sẽ nhanh chóng gạt bỏ những gì chưa kịp giữ lại của quá khứ Bởi vậy sự quan tâm thiết tha của phụ nữ đến quá khứ, truyền thống của dân tộc, đến cội nguồn của chân-thiện-mỹ để hoàn thiện cá nhân, để tìm lại chính mình là một bước phát triển mới, một yêu cầu tất yếu để ra đời Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Sự ra đời của tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam do Bác Hồ sáng lập

ra năm 1946 là một mốc son ngời sáng trong lịch sử phong trào Phụ nữ Việt Nam Một thế hệ những người phụ nữ được giải phóng, được giác ngộ về giới đã trở thành một lực lượng có tổ chức trong hệ thống chính trị - xã hội của đất nước.Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự là điểm tựa đưa tới vị thế cho người phụ nữ Việt Nam có vai trò trong nước và quốc tế Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã là người tổ chức, xây dựng kịp thời công trình Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, như lời đồng chí Đỗ Mười đánh giá trong cuốn sổ vàng nhân ngày khánh thành Bảo tàng

Phụ nữ Việt Nam có truyền thống vẻ vang, có tiểm năng to lớn Sự tiến bộ của phụ nữ không chỉ là lợi ích riêng của phụ nữ, của mỗi gia đình mà là lợi ích chung của cả xã hội Sự quan tâm và tạo mọi cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng, nâng cao vai trò vị trí và tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là động lực quan trọng trong sự nghiệp đổi mới

Vì vậy, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một công trình văn hóa vì mục tiêu phát triển cuả phụ nữ Việt Nam hôm nay và mai sau Bảo tàng sẽ góp phần đáng

kể vào việc giữ gìn và phát huy Di sản văn hóa dân tộc Đặc biệt góp phần vào

Trang 11

việc giáo dục truyền thống, lòng yêu quê hương đất nước và bồi dưỡng thế giới quan khoa học cho phụ nữ và nhân dân

1.2.2 Đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng

Đặc trưng của bảo tàng Phụ nữ

Chúng ta biết rằng đặc trưng cơ bản và cốt lõi nhất của bảo tàng là hiện vật gốc, hiện vật bảo tàng và chúng phải phù hợp với nội dung và loại hình của bảo tàng đó Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam với nội dung chủ đạo là phản ánh các vấn đề lịch sử, văn hóa, giới và phát triển của phụ nữ Việt Nam nên hiện vật của bảo tàng cũng phải phù hợp với nội dung chủ đạo ấy

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam có những đặc trưng sau đây:

Thứ nhất: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam nghiên cứu sưu tầm và trưng bày

những hiện vật gốc mang ý nghĩa, giá trị bảo tàng thể hiện vai trò to lớn của phụ

nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc

Thứ hai: Tài liệu hiện vật của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam không chỉ thể

hiện khía cạnh lịch sử, văn hóa mà còn đậm đà “cá tính” giới nữ trong quá trình lịch sử và đời sống văn hóa quốc gia Đó là những tài liệu hiện vật điển hình, tiêu biểu cho lao động, sáng tạo, dũng cảm, đức hi sinh cao cả chứng minh cho

vị trí, vai trò của Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Thứ ba: Hiện vật của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là hệ thống những tài

liệu hiện vật tiêu biểu cho các vấn đề lịch sử, văn hóa của Phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử và phát triển của dân tộc Việt Nam Đó là những hiện vật điển hình tiêu biểu cho lao động, sáng tạo, dũng cảm, đức hy sinh cao cả minh chứng cho vị trí, vai trò của Phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử của dân tộc

và trong đời sống văn hóa cộng đồng

Thứ tư: Hệ thống tài liệu hiện vật của bảo tàng vừa mang đặc trưng của

loại hình bảo tàng, vừa mang tính hài hòa trong lịch sử, văn hóa của dân tộc,

Trang 12

phản ánh khách quan hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trên nền tàng lịch sử văn hóa của dân tộc

Thứ năm: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam lưu giữ và trưng bày những tài liệu

hiện vật về sự ra đời và phát triển của tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – một tổ chức chính trị - xã hội của phụ nữ có uy tín cao trong nước và trên trường quốc tế Hội đã thực sự là điểm tựa đưa tới vị thế cho người phụ nữ Việt Nam có vai trò trong nước và quốc tế.Người tổ chức xây dựng kịp thời công trình Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Thứ sáu: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tạo điểu kiện để công công chúng

cảm nhận các tài liệu hiện vật bảo tàng, các bộ sưu tập hiện vật thông qua hệ thống trưng bày cố định, các cuộc trưng bày chuyên đề, trưng bày lưu động Trên cơ sở đó góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho công chúng

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ra đời đã góp vào hệ thống các Bảo tàng Quốc

gia Việt Nam một mô hình bảo tàng mới thể hiện đặc trưng “Giới” và sự phát triển của “Giới” trong xã hội Việt Nam xưa và nay, thể hiện những giá trị văn hóa - nhân văn truyền thống của phụ nữ Việt Nam Chính đặc trưng “Giới” đã

làm cho bảo tàng Phụ nữ Việt Nam có những nét khác biệt so với các bảo tàng khác trong hệ thống Bảo tàng Quốc gia Đặc trưng này cũng chi phối hoạt động

giáo dục của bảo tàng đó: Bào tàng Phụ nữ Việt Nam không chỉ có vai trò giáo

dục truyền thống mà còn có vai trò trong giáo dục về “Giới”

Chức năng của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Với chức năng là một thiết chế văn hóa, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào hoạt động xã hội hóa Bảo tàng hiện nay, nhằm giáo dục truyền thống lịch sử vẻ vang của Phụ nữ cho các thế hệ hôm nay và ngày mai Tuyên truyền đối ngoại phục vụ các đối tượng khách tham quan, đáp ứng

và thỏa mãn nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề về Phụ nữ Việt Nam nói chung và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nói riêng

Trang 13

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một thiết chế thông tin xã hội đa chức năng

Nó mang đầy đủ 5 chức năng cơ bản của bảo tàng đó là:

• Chức năng nghiên cứu khoa học: Chức năng nghiên cứu khoa học của

bảo tàng có ý nghĩa vô cùng to lớn Để thực hiện chức năng này, Bảo tàng Phụ

nữ Việt Nam đã tiến hành song song việc nghiên cứu cơ bản các vấn đề lịch sử,

văn hóa, “Giới” và sự phát triển của phụ nữ Việt Nam với hoạt động nghiên cứu

ứng dụng các vấn đề nghiệp vụ bảo tàng Vận dụng những kết quả nghiên cứu

đó vào 6 khâu công tác của bảo tàng: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và tuyên truyền giáo dục

• Chức năng giáo dục và phổ biến tri thức khoa học: Đây là chức năng

chủ yếu của bảo tàng Nhờ có chức năng này mà bảo tàng được coi là một thiết chế văn hóa giáo dục Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam thực hiện chức năng giáo dục

và phổ biến tri thức khoa học dựa trên hiện vật gốc, các bộ sưu tập hiện vật gốc

đã được tư liệu hóa một cách khoa học Trên cơ sở các tài liệu hiện vật trong kho cơ sở của bảo tàng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tổ chức trưng bày cố định, tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề, trưng bày lưu động để đưa hiện vật bảo tàng tiếp cận với công chúng Thông qua hệ thống trưng bày và triển lãm, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tổ chức hướng dẫn tham quan trong và ngoài bảo tàng, từ đó thực hiện chức năng tuyên truyền giáo dục của mình Ngoài ra, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam còn thực hiện chức năng tuyên truyền bằng các hình thức: Xuất bản các ấn phẩm của bảo tàng; tổ chức các cuộc tọa đàm để trao đổi, sinh hoạt truyền thống, hay tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng

• Chức năng bảo quản các tài liệu hiện vật gốc: Bảo tàng Phụ nữ Việt

Nam lưu giữ và bảo quản những tài liệu hiện vật, những bộ sưu tập hiện vật gốc

có trong bảo tàng Tiến hành nghiên cứu, kiểm kê hiện vật, phân loại, đánh số, xác định khoa học cho hiện vật Từ đó, khẳng định giá trị bảo tàng của hiện vật

và những thuộc tính vốn có của hiện vật Chức năng bảo quản tài liệu hiện vật của bảo tàng còn thể hiện ở việc giữ gìn, bảo vệ chúng khỏi bị đánh cắp, khỏi bị

hư hỏng hay bị mất mát vì lợi nhuận kinh tế nào đó

Trang 14

• Chức năng tài liệu hóa khoa học: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là nơi

nghiên cứu, sưu tầm các hiện vật gốc thể hiện vai trò, vị trí và sự đóng góp của Phụ nữ Việt Nam trong tiến trình phát triển lịch sử và văn hóa của dân tộc; tiến hành nghiên cứu, xây dựng và hình thành nên những bộ sưu tập hiện vật bảo tàng từ đó có phương pháp bảo quản, đồng thời tổ chức sắp xếp một cách khoa học phù hợp với nội dung hoạt động của bảo tàng

• Ngoài ra, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam còn có thêm chức năng thu thập

cung cấp thông tin: Thu thập, cung cấp thông tin khoa hoc, lịch sử – văn hóa và

là nơi tổ chức các sự kiện văn hóa của phụ nữ Việt Nam và Quốc tế…

Nhiệm vụ của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Tuy là bảo tàng còn non trẻ trong hệ thống các Bảo tàng của nước ta nhưng từ những ngày đầu mới thành lập, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam luôn chú trọng đề ra những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài nhằm thúc đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của Bảo tàng trong tương lai Với mục tiêu cơ bản là cần thiết phải bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã đề ra các nhiệm vụ sau:

• Nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch, dự án, đề án, công tác ngắn hạn, dài hạn về các mặt hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học phù hợp với các chức năng, nhiệm vụ của mình

• Tổ chức thực hiện các công trình nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, lâu dài các tài liệu, hiện vật bảo tàng, các bộ sưu tập hiện vật… để phục vụ công tác trưng bày và nghiên cứu khoa học trong và ngoài bảo tàng

• Nghiên cứu để không ngừng nâng cao tính bác học, thẩm mỹ nhân bản của hệ thống trưng bày bảo tàng Tổ chức các trưng bày chuyên đề, các cuộc trưng bày, triển lãm lưu động nhằm góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các đối tượng khách tham quan

Trang 15

• Tuyên truyền và hướng dẫn khách tham quan bảo tàng phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu truyền thông của Phụ nữ Việt Nam cùng với các hình thức khác nhằm mục đích thực hiện chức năng tuyên truyền giáo dục của bảo tàng

• Đặt quan hệ và xây dựng kế hoạch hợp tác khoa học với các bảo tàng

và các cơ quan văn hóa khoa học tương ứng ở trong và ngoài nước trình Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phê duyệt, tổ chức thực hiện

• Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học, cán bộ quản lý chuyên ngành bảo tàng và các ngành khoa học có liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động và phát triển của bảo tàng

• Tổ chức quản lý tài liệu, hiện vật chuyên ngành lưu giữ tài liệu sách, ảnh, phim, băng đĩa ghi âm ghi hình và những chương trình khoa học của bảo tàng

• Tổ chức quản lý các hoạt động của trung tâm văn hóa và dịch vụ, phục vụ khách tham quan và nghiên cứu tại bảo tàng Quản lý và sử dụng công chức, viên chức, tài sản, tài chính của bảo tàng theo đúng luật, chính sách hiện hành của Nhà nước và theo phân cấp của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

1.2.3 Nội dung trưng bày của bảo tàng

Ngay từ khi mới thành lập Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã định hướng cơ bản cho hệ thống trưng bày là làm sao phải xây dựng được hệ thống trưng bày phù hợp với nội dung, vừa mang tính dân tộc, hiện đại và độc đáo Bằng sự cố gắng nỗ lực của cán bộ trong bảo tàng, sự giúp đỡ tận tình của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và hơn 300 nhà khoa học, dựa trên cơ sở các hiện vật, tài liệu, hình ảnh đã sưu tầm được Bảo tàng Phụ nữ Việt nam đã tiến hành lựa chọn để xây dựng hệ thống trưng bày cố định ban đầu gồm 1206 tài liệu hiện vật các loại với 4 chủ đề sau:

• Chủ đề 1: Phụ nữ Việt Nam trong cộng đồng dân tộc

• Chủ đề 2: Phụ nữ Việt Nam trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc

• Chủ đề 3: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong sự đấu tranh giải

phóng Phụ nữ

Trang 16

• Chủ đề 4: Trang phục Phụ nữ các dân tộc Việt Nam

Các chủ đề trưng bày trên đây tồn tại đến năm 2005, sau đó được đổi mới

và nâng cấp trưng bày hoàn toàn.Công việc này diễn ra từ năm 2005 đến 2010 Năm 2005, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam nhận thấy cần phải cải tạo hệ thống trưng bày thường xuyên do sức hấp dẫn, thu hút hút khách tham quan không còn phù hợp Kết quả trưng cầu ý kiến khách tham quan bảo tàng và các nhà chuyên môn

đã cho thấy việc chỉnh lý hệ thống trưng bày là điều cần thiết.Vì vậy,trong lần chỉnh lý trưng bày mới (2006-2010) Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã xây dựng, lấy ý kiến khách tham quan, lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia bên ngoài, tiến hành thảo luận… để xây dựng một hệ thống trưng bày mới thu hút được khách tham quan và khẳng định được vai trò và vị trí của bảo tàng trong hệ thống bảo tàng Việt Nam

Ngày 20/10/2010 nhân kỉ niệm 80 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam khánh thành hệ thống trưng bày cố định mới Để có một bước tiến ấy, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã mất gần 5 nămgian khổ để thay đổi chính mình Trên bước đường đó, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam luôn được sự tư vấn, giúp đỡ của đội ngũ chuyên gia giàu lòng nhiệt huyết và kinh nghiệm ở cả trong và ngoài nước

Với tổng diện tích trung bình 1500m2 phân bố theo bốn tầng hệ thống trưng bày cố định của bảo tàng sử dụng 971 tài liệu, hiện vật các loại trong đó có

¾ tài liệu hiện vật gốc, 21 phim tư liệu Cấu trúc trưng bày của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam được sắp xếp theo vấn đề trưng bày có sự kết hợp biên niên sử, trưng bày theo đề cương kết hợp các phương pháp khác nhau như: trưng bày đời sống thực, tôn trọng tâm…trong đó nổi lên với sự lựa chọn nội dung đặc điểm nổi trội của Phụ nữ Việt Nam

Việc biểu đạt nội dung trưng bày trong toàn bộ hệ thống là một sự kết hợp khéo léo và nhuần nhuyễn giữa nội dung, kỹ thuật và mỹ thuật trưng bày Các phương pháp trưng bày của bảo tàng được vận dụng với phương châm: Nâng

Trang 17

hiện vật gốc lên tầng nhận thức cao hơn chứ không phải là dùng các yếu tố kỹ thuật và mỹ thuật để lấn át hiện vật gốc

Hiện nay, nội dung trưng bày mới của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam gồm có

3 chủ đề:

Trước khi tham quan nội dung trưng bày chính của bảo tàng, khách tham quan sẽ đi qua gian khánh tiết trang trọng nhất ở giữa tầng một.Vai trò của

người “Mẹ” được tập trung thể hiện ở gian khánh tiết.Bức tượng “Mẹ Việt Nam”

được dát vàng là điểm tập trung, gây sự chú ý nhất đối với khách tham

quan.Tượng “Mẹ Việt Nam” thể hiện được ý nghĩa của người mẹ trong cuộc

sống gia đình và xã hội … Bức tượng đứng trước một không gian tôn nghiêm để mỗi người đều có thể cảm nhận được tình mẫu tử luôn được coi là thứ tình cảm thiêng liêng nhất

Chủ đề 1: Phụ nữ trong gia đình gồm có 2 đề mục:

Đề mục 1: Phụ nữ trong hôn nhân

Ở phần trưng bày này, bảo tàng đã trưng bày các tài liệu, hiện vật, trang phục có liên quan đến các nghi lễ của việc cưới xin của các dân tộc trong xã hội phụ hệ như: Người Dao, người Thái Đen, người Xinh – Mun, người Bru – Vân Kiều, người Hoa…và trong xã hội mẫu hệ như dân tộc Cơ – Ho, người Mnông Gar, người Ê – Đê, người Chu – Ru…

Đề mục 2: Phụ nữ và sinh đẻ

Với đề mục phụ nữ và sinh đẻ các tài liệu, hiện vật của các dân tộc được trưng bày phản ánh các bước phát triển của phụ nữ ở các giai đoạn từ khi có ý định sinh con đến mang thai, sinh đẻ, cho đến khi chào đời và làm đầy tháng cho con Các tài liệu hiện vật được trưng bày như vòng cổ người Dao sử dụng để cầu

tự, ống nghe tim thai, phiếu siêu âm thai nhi khi mang thai, hiện vật là quần áo

mã, tiền giấy, vàng lá trong lễ cúng Mụ của người Việt…

Chủ đề 2: Phụ nữ trong lịch sử gồm có 4 đề mục:

Trang 18

Đề mục 1: Phụ nữ giai đoạn 1930-1945

Bảo tàng đã đưa ra trưng bày những tài liệu, hiện vật, hình ảnh về các nữ chiến sĩ cách mạng luôn gan dạ trong chiến đấu giai đoạn 1930-1945 tiêu biểu có: Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Thị Quế, Hoàng Thị Ái, Nguyễn Thị Nhâm…

Đề mục 2: Phụ nữ giai đoạn 1946 – 1954

Trong giai đoạn 1946-1954 trưng bày các tài liệu, hiện vật, hình ảnh về lực lượng du kích (tiêu biểu có Hồ Thị Bi, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Chiên, Võ Thị Sáu…), các hiện vật phản ánh công lao to lớn trong phục vụ kháng chiến:

Du kích:là lực lượng vũ trang quần chúng được thành lập ở các thôn xã có

nhiệm vụ chống càn nhằm tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ xóm làng Các đội nữ du kích phát triển khắp nơi.Cả nước có 980.000 nữ du kích Phát triển mạnh nhất là phong trào du kích Hoàng Ngân ở tỉnh Hưng Yên có tới 7.365 người; chiến đấu

680 trận, 13 lần phá đồn bốt, phá hỏng 16.000m dây điện thoại, tiêu diệt và bắt sống 383 tên địch Trong kháng chiến, có 12 nữ du kích được tặng danh hiệu Anh hùng như: Hồ Thị Bi, Nguyễn Thị Chiên, Mạc Thị Bưởi, Võ Thị Sáu

Phục vụ kháng chiến: Hưởng ứng các phong trào ủng hộ kháng chiến, phụ

nữ đã tích cực tham gia nhiều hoạt động khác nhau: Chăm sóc cứu chữa thương binh, đi dân công, ủng hộ tài chính và lương thực Chỉ tính từ khu vực Trung

Bộ trở ra, từ 1951 đến 1954, nhân dân đã đóng góp 1.575.000 tấn thóc thuế nông nghiệp, sản xuất 35.730.000m vải Phụ nữ các vùng tạm chiếm bất chấp nguy hiểm, nuôi giấu, đưa đón cán bộ và chuyển công văn tài liệu Từ năm 1950 đến

1954, nữ dân công vùng tự do đã đóng góp 9.578.000 ngày công vận chuyển lương thực, thực phẩm, súng đạn cho 18 chiến dịch, riêng chiến dịch Điện Biên Phủ là 2.381.000 ngày công

Đề mục 3: Phụ nữ giai đoạn 1954 – 1975

Giai đoạn 1954 – 1975 đây là giai đoạn miền Bắc giành độc lập tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam vẫn tiếp tục chiến đấu giành độc lập

Trang 19

Vì vậy, bảo tàng cũng tiến hành trưng bày giai đoạn này theo hai miền của đất nước Miền Bắc trưng bày các hiện vật trong cuộc sống thời chiến với phong

trào “Ba đảm đang”, những hiện vật về thanh niên xung phong và bộ đội, tiêu

biểu có La Thị Tám, Trương Thị Khuê…; các tài liệu hiện vật được trưng bày phản ánh về người phụ nữ miền Nam có liên quan đến những nữ chiến sĩ anh dũng có công lớn như: Bà Nguyễn Thị Định, Võ Thị Mô, Đinh Thị Vân hay bác

sĩ trẻ Đặng Thùy Trâm – người có công trong việc chăm sóc thương binh…

Đề mục 4: Phụ nữ giai đoạn 1975 đến thống nhất

Đưa ra những hình ảnh đánh giá sự hy sinh lớn lao của người phụ nữ trong chiến đấu cũng như trong thời bình, trưng bày chân dung của các nhân vật lịch sử, bà mẹ Việt Nam anh hùng

Chủ đề 3: Thời trang nữ

Trong chủ đề này chỉ có một chủ đề duy nhất là “Thời trang nữ” Bảo tàng

Phụ nữ Việt Nam đã trưng bày các hiện vật về nghệ thuật tạo hoa văn là khăn, yếm, thắt lưng nói lên sự khéo léo của người phụ nữ; trưng bày các bộ trang phục của các dân tộc Việt Nam như: Thái Đen,Tày, Nùng, Dao đỏ, Dao Thanh Phán, H’mông, Việt…; bên cạnh đó cũng trưng bày hiện vật là đồ trang sức của phụ nữ như hoa tai, vòng tay, xà tích, vòng cổ…Trong phần này bảo tàng cũng

có trưng bày tài liệu hiện vật phản ánh về tục nhuộm răng đen và ăn trầu của người phụ nữ

Nhìn toàn bộ hệ thống trưng bày của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam mỗi chủ

đề đều được thể hiện bằng một ngôn ngữ trưng bày riêng.Chính những yếu tố này đã tạo nên nét độc đáo, riêng biệt cho bảo tàng Bảo tàng đã thực sự thành công trong cách trưng bày với đầy sự tinh tế và sáng tạo Trong thời gian tới, bảo tàng sẽ tập trung bổ sung và nâng cấp hệ thống trưng bày cố định, tổ chức thêm nhiều các trưng bày chuyên đề mới giàu tính văn hóa, truyền thống của Phụ nữ Việt Nam Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ra đời đã phần nào khẳng định vai

Trang 20

trò, vị trí vô cùng quan trọng của Phụ nữ trong xã hội, đóng góp cho khu vực và

trên thế giới một loại hình Bảo tàng mới – Bảo tàng “Giới”

1.3 Tổng quan sưu tập hiện vật tự tạo của Phụ nữ Việt Nam

1.3.1.Khái quát những nét chính về vai trò của Phụ nữ việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 – 1975

Sau khi hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí kết năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm 2 miền Miền Bắc được giải phóng bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa, là hậu phương chi viện sức người sức của cho tiền tuyến miền Nam, vừa chiến đấu chống lại các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Miền Nam tiếp tục sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, trực tiếp đấu tranh chống đế quốc Mỹ Trong hoàn cảnh lịch sử

đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, được tập hợp trong tổ chức Hội, phụ nữ hai miền

đã có nhiều hoạt động đóng góp vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc

+ Miền Bắc giai đoạn 1954 -1975:

Năm 1965, Mỹ tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và

leo thang đánh phá miền Bắc Phần lớn nam giới được huy động ra mặt trận, phụ

nữ phải gánh vác các nhiệm vụ ở hậu phương Chị em hăng hái tham gia phong

trào "Ba đảm đang" do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động: đảm đang

sản xuất và công tác; chiến đấu và phục vụ chiến đấu; đảm đang gia đình, góp phần xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc, chi viện cho miền Nam Hàng triệu phụ nữ tham gia các lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội và thanh niên xung phong Quân dân miền Bắc đã bắn rơi 4181 máy bay, bắn cháy 271 tầu

chiến, bắt sống 472 giặc lái đánh bại cuộc "Chiến tranh phá hoại" của Mỹ

(1965 - 1972) góp phần làm nên thắng lợi của Hiệp định Pari tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Hồ Chí Minh 12 đơn vị, 181 phụ nữ được phong

Trang 21

danh hiệu Anh hùng, 1.718 phụ nữ được thưởng huy hiệu Bác Hồ, trên 3 triệu

hội viên đạt danh hiệu phụ nữ "Ba đảm đang"

Cuộc sống thời chiến: Để chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, miền Bắc

thực hiện "Quân sự hóa toàn dân", đào đắp công sự, hầm hào, sơ tán dân khỏi

các vùng trọng điểm, đồng thời đẩy mạnh sản xuất, tự cung, tự cấp những mặt hàng thiết yếu của cuộc sống Vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu là đặc điểm của thời kỳ này Công tác phòng không đặc biệt được coi trọng Người dân luôn phải sẵn sàng ứng phó với các trận không kích của giặc; hạn chế sử dụng những vật màu sáng, ánh đèn có thể thu hút sự chú ý của máy bay, xuống hầm trú ẩn khi có báo động Ở nhiều vùng, việc sinh hoạt, học tập diễn ra dưới hầm hoặc trong lòng địa đạo

Thanh niên xung phong và bộ đội: Năm 1965, lực lượng "Thanh niên

xung phong chống Mỹ cứu nước" thành lập với nhiệm vụ đảm bảo giao thông

trên các tuyến đường huyết mạch Hơn 6 vạn nữ thanh niên tham gia mở đường, san lấp hố bom tại các trọng điểm đánh phá ác liệt như cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), phà Bến Thuỷ (Nghệ An), ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh)

Các nữ bộ đội chủ yếu tham gia trong lực lượng y tế, thông tin, một số là lái xe phục vụ chiến trường Đội nữ lái xe Nguyễn Thị Hạnh có 35 cô gái vận chuyển hàng hoá và thương binh trên vùng tuyến lửa Quảng Bình, đã góp phần làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh

Dân quân: Là lực lượng vũ trang quần chúng do Ban chỉ huy quân sự địa

phương chỉ đạo Vừa lao động sản xuất trên đồng ruộng, nhà máy, xí nghiệp, các

nữ quân vừa phục vụ chiến đấu, trực chiến, vận chuyển thương binh, khắc phục hậu quả đánh phá của địch 20 đơn vị đã bắn rơi 28 máy bay và phối hợp với các đơn vị bộ đội bắn rơi 4.183 máy bay 245 đơn vị được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu biểu như đội dân quân Hoa Lộc, Đông Phương Hồng, đội pháo binh Ngư Thuỷ

Địa đạo Vĩnh Linh: Nhằm cắt đứt con đường huyết mạch chi viện cho

miền Nam, địch tập trung lực lượng không quân, hải quân đánh phá hủy diệt Vĩnh

Trang 22

Linh, giới tuyến của 2 miền Nam - Bắc Hệ thống địa đạo ra đời với tổng chiều dài hơn 10km, nơi sâu nhất là 15m, hàng trăm tiểu địa đạo, hầm chữ A, hầm tránh bom bi, điểm chốt Nối liền các địa đạo và trận địa là giao thông hào rộng 1m, dài hơn 30km Đây là nơi ăn, ở, sinh hoạt, học tập của hàng ngàn người Quy mô nhất là địa đạo thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, dài hơn 400m, gồm 2 tầng, có giếng nước, bệnh xá, nhà hộ sinh, cửa hàng, nơi học tập, hội họp…

+ Miền Nam giai đoạn 1954 – 1975:

Thực hiện phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang, phụ nữ miền Nam luôn đi đầu trong các cuộc đấu tranh chính trị ở nông thôn và thành thị, đặc biệt là phong trào Đồng khởi năm 1960.Phụ nữ tích cực tham gia chiến đấu trong các lực lượng vũ trang; cứu chữa thương bệnh binh; nuôi giấu, bảo vệ cán bộ

và làm giao thông liên lạc đóng góp xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu Nhiều người đã anh dũng hy sinh, hàng vạn phụ nữ bị giam cầm, tra tấn dã man trong các nhà tù của địch vẫn một lòng kiên trung với cách mạng Với những đóng góp to lớn đó, phong trào phụ nữ miền Nam đã được tặng Huân chương Thành đồng hạng Nhất và danh hiệu "Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang" 200 cá nhân, 56 đơn vị nữ được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang

nhân dân và 30.000 phụ nữ được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng

Đấu tranh chính trị: Đến năm 1965, có gần 20 triệu lượt phụ nữ tham gia

đấu tranh Ở nông thôn, nông dân đấu tranh chống bắt lính, chống dồn dân lập

"Ấp chiến lược", chống bắn pháo, rải chất độc hóa học, đòi bồi thường nhân

mạng… Ở thành thị, nữ công nhân, sinh viên, tiểu thương, trí thức, ni sư Phật tử… tổ chức mít tinh, biểu tình đòi hòa bình, quyền sống, bảo vệ nhân phẩm phụ

nữ, đấu tranh bảo vệ văn hoá dân tộc

Đấu tranh vũ trang: Toàn miền Nam có 40% dân quân du kích, tự vệ là nữ

Trên 50 đại đội và nhiều trung đội du kích, pháo binh nữ chiến đấu ở các vùng nông thôn, rừng núi đã bắn cháy nhiều máy bay, xe cơ giới và pháo hạm địch Ở thành thị, các đội tự vệ, biệt động nữ tổ chức các trận đánh vào cơ quan đầu não

Trang 23

Tình báo biệt động: Hoạt động thầm lặng, luôn đối mặt với hiểm nguy,

các nữ tình báo đã thu thập được nhiều tài liệu bí mật, xử lý chính xác thông tin,

có những tin tức giá trị làm thay đổi tình thế giữa ta và địch Ngoài việc chuyên chở vũ khí, các nữ biệt động còn trực tiếp tổ chức các trận đánh bất ngờ vào các mục tiêu quan trọng của địch

Liên lạc và nuôi giấu cán bộ: Phụ nữ là lực lượng chính trong các hoạt

động này Bằng trí thông minh và lòng quả cảm, các nữ giao liên đã sáng tạo ra nhiều hình thức độc đáo để cất giấu và vận chuyển tài liệu Nhiều phụ nữ che chở và nuôi giấu cán bộ, bộ đội, du kích, thương binh dưới các hầm bí mật ngay trong lòng địch

Đấu tranh trong tù: Chính quyền Sài Gòn xây dựng ở miền Nam 215 nhà

tù.Thủ Đức là nơi giam giữ nữ phạm nhân, đặc biệt là tù chính trị Ở chuồng cọp Côn Đảo, tù nhân bị cùm chân, phải ăn, ngủ, vệ sinh tại chỗ, bị tra tấn bằng dùi cui, roi điện, vôi bột… Mặc dù vậy, các nữ tù vẫn giữ vững khí tiết, liên tục đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù, chống ly khai đảng cộng sản, đòi để tang Bác

Hồ, đòi trao trả theo Hiệp định Pari

Chăm sóc thương binh: Ở chiến trường và vùng giải phóng, các nữ chiến

sỹ quân y đảm nhiệm từ việc đơn giản như sơ cứu vết thương, di chuyển, chăm sóc thương binh đến thực hiện các ca mổ phức tạp Bom đạn ác liệt, các trạm

xá di chuyển liên tục, các chị tham gia làm lán, hầm dã chiến, thức trắng đêm, dầm mưa dưới hào, nhường khẩu phần ăn để cứu chữa, đảm bảo an toàn cho thương binh, giúp họ mau chóng hồi phục sức khoẻ để tiếp tục công tác và chiến đấu Ở vùng địch, ngoài việc chăm sóc, cứu chữa thương binh dưới hầm bí mật, chị em còn làm nhiệm vụ cung cấp thuốc, dụng cụ y tế cho cách mạng.Cứu chữa thương binh dưới hào

Như vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những nhiệm vụ của cách mạng được thực hiện thắng lợi có phần cống hiến to lớn của phụ nữ Phụ nữ miền Bắc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, những truyền

Trang 24

thống tốt đẹp từ ngàn xưa đã được bồi thêm vào những nội dung, tính cách mới,

đó là tinh thần tập thể, là sức vươn lên mạnh mẽ, tinh thần cầu tiến, tinh thần ham học, óc sáng tạo, tinh thần cảnh giác cách mạng Họ đã trở thành những người sáng tạo và xây dựng ở khắp các ngành nghề, ở khắp mọi nơi Phụ nữ miền Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đã giữ trọn được bản sắc dân tộc, nền phong hóa, đạo đức cổ truyền của mình và còn phát triển lên những bước cao hơn Đây là biểu hiện chói ngời của lòng trung hậu, là biểu hiện tuyệt vời của tinh thần đảm đang đáng quý, xả thân vì cách mạng với tinh thần bất khuất, chí khí anh dũng kiên cường Phụ nữ miền Nam

đã đảm nhiệm xuất sắc vai trò của một lực lượng xung kích trong đấu tranh chính trị chống quân thù, trong đấu tranh vũ trang giết giặc cứu nước, cứu nhà

Trong phong trào “3 mũi giáp công”, phụ nữ còn là một lực lượng có nhiều khả

năng công tác binh vận Những đóng góp to lớn đó thật xứng đáng với tám chữ vàng “Anh hung - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang” mà Đảng - Nhà nước trao tặng cho Phụ nữ Việt Nam

Hình ảnh của người Phụ nữ Việt Nam không chỉ là hình ảnh của người chiến sĩ giữ nước kiên cường, bất khuất; mà còn là những người lao động thông minh, cần cù; là trụ cột của gia đình, nuôi già dạy trẻ; là người nghệ sĩ tài hoa sáng tạo và bảo vệ nền văn hóa của dân tộc Việt Nam

Lịch sử Việt Nam còn ghi đậm nét những hình ảnh về tinh thần lao động cần cù của người Phụ nữ Việt Nam Những câu ca dao như“ thân em vất

vả trăm bề ’’, “ lúa tốt vì bởi có phân, vì tay em lấm, vì chân em mòn…” rõ ràng phản sánh sự thật lịch sử về vai trò của người Phụ nữ Việt Nam trong lao

động sản xuất Một nhà viết sử phương Tây đã từng nhận xét: “Phụ nữ ở xứ này

rất năng động, họ làm nhà, làm gốm, chèo thuyền, bán hàng, bật bông, kéo sợi, dệt vải, may vá quần áo, phần lớn công viêc là do người phụ nữ cáng đáng”

Bên cạnh đó, người Phụ nữ Việt Nam còn là chủ gia đình.Những đức tính quý báu của người phụ nữ gánh vác gia đình là trung hậu, đảm đang Với những

Trang 25

tác phẩm trong văn học dân gian cũng đã phản ánh tinh thần hi sinh của người Phụ nữ Việt Nam trong gia đình Người phụ nữ có mặt khắp nơi, gánh vác mọi việc trong gia đình nhưng không bao giờ đòi hỏi những lợi ích riêng cho mình Trong gia đình người phụ nữ còn đảm nhận trách nhiệm người mẹ nuôi dạy con

từ tuổi bé thơ đến lúc trưởng thành Điều này đã được xã hội đánh giá rất cao

1.3.2 Quá trình nghiên cứu, sưu tầm hiện vật thuộc sưu tập

Hiện vật bảo tàng và sưu tập hiện vật có giá trị bảo tàng là cơ sở cho toàn

bộ hoạt động bảo tàng.Vì vậy, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam luôn chú trọng công tác sưu tầm, xây dựng các sưu tập hiện vật cho bảo tàng

Từ khi thành lập phòng truyền thống của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thì công tác sưu tầm hiện vật đã được chú trọng.Là một bảo tàng ra đời muộn, lại trong thời kỳ đổi mới đất nước phát triển, xã hội có nhiều đổi thay nên việc sưu tầm hiện vật để xây dựng bảo tàng là một vấn đề gặp không ít khó khăn.Nhất là hiện vật gốc của bảo tàng cần phải chân thực chứng minh cho lịch sử, văn hóa của Phụ nữ Việt Nam từ buổi đầu dựng nước đến nay Vấn đề đặt ra với Bảo tàng Phụ

nữ Việt Nam là sưu tầm tài liệu hiện vật ở đâu và sưu tầm như thế nào trong khi còn bao khó khăn về tổ chức và cán bộ Đặc biệt, khi sưu tập hiện vật tự tạo của Phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đòi hỏi phải lựa chọn được những hiện vật phù hợp với nội dung trưng bày

Vì thế, trong quá trình hình thành và phát triển của mình bảo tàng đã xây dựng kế hoạch sưu tầm theo từng giai đoạn cụ thể, trong đó có kế hoạch sưu tầm ngắn ngày và kế hoạch sưu tầm dài ngày Kế hoạch sưu tầm ngắn ngày được thực hiện trong 1 đến 6 tháng Kế hoạch sưu tầm dài ngày có những đợt thực hiện đến 2 năm, thậm chí 5 năm…

Kế hoạch sưu tầm được thực hiện với đội ngũ cán bộ sưu tầm để sưu tầm trực tiếp như: Trần Ngọc Ánh, Phùng Thị Tú Anh, Nguyễn Thị Bích Vân, Nguyễn Hải Vân…Kế hoạch sưu tầm được đặc biệt ở các chiến trường miền Bắc và miền Nam

Trang 26

Ngoài ra, việc sưu tầm cũng được thực hiện thông qua các cuộc triển lãm

và trưng bày, thông qua các cuộc tổ chức, vận động các ban liên lạc cựu chiến binh ở các địa phương, đơn vị, tổ chức, cá nhân cùng tham gia phát hiện hiện vật, sưu tầm, thu thập đóng góp hiện vật, tư liệu, hình ảnh cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Trong đó, có nhiều hiện vật tự tạo đa dạng khác nhau liên quan đến phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 –

1975 là một thời kì chiến tranh ác liệt của dân tộc

Căn cứ vào tình trạng tài liệu hiện vật có về sưu tập, các cán bộ bảo tàng

đã tiến hành chọn tất cả các tài liệu hiện vật có liên quan đến sưu tập ở tất cả các cấp độ kiểm kê đã được pháp lý hóa và chưa được pháp lý hóa Việc lựa chọn được tiến hành trước hết qua sổ kiểm kê bước đầu và sổ phân loại, sổ nhập hiện vật mới sưu tầm và cuối cùng là các nguồn khác (phòng tư liệu Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, cán bộ sưu tầm )

Đối với quá trình xây dựng một bộ sưu tập, bước thẩm định bổ sung thông tin để làm phong phú và chuẩn xác nội dung các hiện vật, hình ảnh là một bước quan trọng nhất nhưng cũng khó khăn nhất, mặc dù hầu hết các tài liệu hiện vật, hình ảnh về sưu tập còn chưa hoàn chỉnh về nội dung do nhiều hiện vật không sưu tầm từ thực địa mà được mua lại từ các cái nhân nên hồi sơ rất sơ sài, quá ít thông tin Vì vậy các cán bộ chuyên môn phải dành nhiều thời gian để bổ sung thông tin cho hiện vật.Sau khi hiện vật đã đầy đủ thông tin sẽ đề xuất để hội đồng thẩm định Cuối cùng làm sổ đăng ký quản lý sưu tập và nhập hiện vật vào máy tính để tìm nội dung hiện vật được dễ dàng hơn

1.3.3 Phân loại sưu tập hiện vật

+ Về số lượng hiện vật trong sưu tập:

Sưu tập hiện vật tự tạo của Phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn (1954-1975) là một sưu tập hiện vật phản ánh về một thời kỳ lịch sử của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Nhà nước khéo léo, nhanh nhạy của chị em phụ nữ đã có những sáng kiến tuyệt vời

Trang 27

sử dụng trong cuộc kháng chiến Sưu tập hiện vật hiện nay bao gồm 54 hiện vật

có giá trị thể hiện sự sáng tạo của chị em phụ nữ Việt Nam

Đây là sưu tập hiện vật khá đặc biệt nó là những “hiện vật tự tạo” phần

nào phản ánh tinh thần sáng tạo, thông minh của Phụ nữ Việt Nam trong điều kiện chiến tranh đã tự chế tạo ra được những đồ vật, hiện vật để phục vụ chi cuộc kháng chiến chóng Mỹ cứu nước, đồng thời phục vụ cho cuộc sống tinh thần trong thời chiến Vì vậy sưu tập này đã và đang hàm chứa nhiều giá trị để phục vụ cho các chức năng và nhiệm vụ của bảo tàng

Dựa vào các tiêu chí: Loại hình, chất liệu, công dụng, địa điểm, vùng miền…của bảo tàng học thì sưu tập hiện vật này có thể được phân loại như sau:

Phân loại theo loại hình hiện vật: Sưu tập gồm các loại hình (hiện vật

gốc thể khối, tài liệu gốc có chữ viết, tác phẩm nghệ thuật gốc tạo hình)

Trong “Sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn (1954-1975)” có 54 hiện vật

Bảng 1: Sơ đồ phân loại tài liệu hiện vật theo loại hình:

Nhóm 1: Hiện vật gốc thể khối:

Hiện vật gốc thể khối hay còn gọi tắt là hiện vật gốc - khối hoặc đồ vật gốc hay tư liệu đồ vật Nội dung thông tin của loại đồ vật này tập trung thể hiện qua lĩnh vực vật chất của chính nó như: chất liệu, hình dáng, cấu tạo, kích thước, trọng lượng, màu sắc và kỹ thuật chế tác Do đó, bản chất của tư liệu đồ vật là

nó khẳng định tình cảm đích thực, sức thuyết phục đặc biệt và tính chất xác minh đích thực của hiện vật Qua quá trình tiếp xúc nghiên cứu với hiện vật, khách tham quan thấy được không khí của một thời đại lịch sử nhất định, trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Trang 28

Hiện vật gốc thể khối có khả năng phản ánh độc lập và được xem như là

tư liệu nối liền hiện tượng với chủ thể nhận thức, gây ấn tượng mạnh mẽ cho khách tham quan và nhà nghiên cứu

 Lọ hoa vỏ đạn pháo 57 ly, khắc tên 32 nữ dân quân Đông Phương sử dụng (1968 – 1973)

 Hộp đựng bàn chải và kem đánh răng của bà Vũ Thị Đan (1968 – 1975)

 Vỏ con sam dùng tát nước của đội thuyền Ba đảm đang, Hợp tác xã Tiền Phong, tiếp tế cho các vùng chiến sự ven biển

 Nhẫn “Chung thủy” của bà Nguyễn Thị Minh được Hội liên hiệp phụ

nữ tỉnh Tuyên Quang tặng năm 1970

 Chổi của bà Lê Thị Khá dùng giấu tài liệu (Cai Lậy, Tiền Giang, 1971)

 Thúng đựng trầu của bà Cao Thị Cửu (Cai Lậy, Tiền Giang, 1963 – 1973)

 Hộp trang sức dùng để giấu tài liệu của bà Khưu Thị Hồng (Quảng Ngãi, 1973 – 1974)

 Quạt của bà Nguyễn Thị Dung được làm khi bị giam tại nhà tù Côn Đảo

 Bếp dầu làm từ vỏ hộp Guygô, sáng chế của bà Lê Thu Phân

 Lược làm từ xác máy bay của trung đội trưởng Hồ Thị Chuông còn giữ lại

 Khăn của bà Trịnh Thị Sơ dùng để chỉ đạo đấu tranh (Phước Hiệp, Mỏ Cày, Bến Tre, 1960 – 1966)

 Tẩu hút thuốc người yêu tặng bà Kan Lịch (A Lưới, Thừa Thiên Huế, 1964)

 Đèn dầu làm ám hiệu của bà Nguyễn Thị Thạnh (Tây Ninh, 1970 – 1975)

 Đèn vỏ bom bi, bộ đội tặng bà Trịnh Thị Hiệu (Quy Nhơn, Bình Định, 1964)

 Mõ sừng trâu của bà Lưu Thị Lãnh dùng gây náo động trong các cuộc biểu tình của phong trào Đồng Khởi

 Ống đựng trầu của bà Hồ Thị Non (Trà Sơn, Trà Bông, Quảng Ngãi,

1955 – 1959)

Trang 29

 Cối dùng làm ám hiệu của bà Nguyễn Thị Mộc (Thái Bình, Châu Thành, Tây Ninh, 1961 – 1969)

 Làn mây của bà Phạm Thị Rãnh , dùng đựng trầu cau và tài liệu binh vận trong các cuộc đấu tranh trực diện chống bắn pháo vào làng, chống bắt lính, vận động binh lính quay súng trở về với cách mạng tại (Hiệp Thạnh, Gò Dầu, Tây Ninh, 1954 – 1968)

Nhóm 2: Tài liệu gốc có chữ viết:

Tài liệu hiện vật gốc chữ viết là bộ phận rất quan trọng của hiện vật bảo tàng, chúng là phương tiện chủ yếu để thực hiện, giữ gìn truyền đạt tri thức.Tư liệu chữ viết có khả năng thông tin rất rộng và phong phú.Đặc điểm của nhóm tài liệu hiện vật gốc này tự nó nói lên được phần nào thông tin của chính nó (bản chất hiện vật) thông qua dấu hiệu từ ngữ (ngôn ngữ viết) và kí hiệu của từ ngữ Sưu tập này có những tài liệu gốc chữ viết sau đây:

 Tập thơ của người chiến sĩ cách mạng trong ngục tù của bà Bùi Thị Thu Hà

 Tập thơ “ Không đề” của nữ thanh niên xung phong Ngọc Thị Kẹo (tiểu đội 1, đại đội 931, đội 91, tỉnh Bắc Thái)

 Hồ sơ bệnh án giả điên của bà Huỳnh Thị Ngọc (Biên Hòa, Đồng Nai,

và cô đọng theo suy nghĩ, trình độ và cảm hứng nghệ thuật của tác giả

Nội dụng thực của tư liệu này rất phong phú, sinh động, phúc tạp và có khả năng gây xúc động thẩm mỹ mạnh hơn tư liệu đồ vật

Trang 30

 Bức thêu: Ngày tháng vào và ra nhà lao Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo,Tân Hiệp của bà Trịnh Thị Thu Nga

 Bức thêu của bà Trần Duy Phương làm trong thời gian bị giam tại nhà

tù Phú Tài

 Bức thêu của bà Đặng Hồng Nhật và 1 số chị em cùng bị giam giữ

Bức thêu “Ước vọng hòa bình” của bà Trần Thị Hòa thêu trong nhà tù

Bức thêu “Chùa Một Cột” của bà Võ Thị Thắng (Côn Đảo, 1970)

Từ cách phân loại trên ta thấy tỉ lệ loại hình tài liệu, hiện vật của sưu tập không đồng đều.Tài liệu hiện vật gốc thể khối chiếm tỉ lệ lớn nhất, trong khi đó tài liệu hiện vật có chữ viết và tác phẩm nghệ thuật chiếm tỉ lệ ít hơn

+ Phân loại theo chất liệu:

Việc phân loại tài liêu, hiện vật theo chất liệu sẽ giúp cho cán bộ bảo tàng bảo quản tài liệu hiện vật được thuận tiện hơn Theo tìm hiểu, kho cơ sởBbảo tàng Phụ nữ Việt Nam đều được chia làm các kho bảo quản theo chất liệu rõ ràng và đúng với nguyên tắc bảo tàng Hiện vật thuộc sưu tập này, xét theo tiêu chí chất liệu, chúng gồm có 6 nhóm sau: Kim loại; vải; giấy; gỗ, tre, nứa; da, xương, sừng; thủy tinh

Bảng 2: Phân loại tài liệu hiện vật theo chất liệu:

Hiện vật bằng kim loại 18 hiện vật 33,33%

Hiện vật bằng gỗ,tre, nứa 12 hiện vật 22,22%

Hiện vật bằng da, xương, sừng 03 hiện vật 5,56 %

Hiện vật bằng thủy tinh 06 hiện vật 11,11 %

Trang 31

• Hiện vật bằng kim loại

 Lọ hoa vỏ đạn pháo 57 ly, khắc tên 32 nữ dân quân Đông Phương sử dụng (1968 – 1973)

 Hộp đựng bàn chải và kem đánh răng của bà Vũ Thị Đan (1968 – 1975)

Nhẫn “Chung thủy” của bà Nguyễn Thị Minh được Hội liên hiệp phụ

nữ tỉnh Tuyên Quang tặng năm 1970

 Lược làm từ xác máy bay của trung đội trưởng Hồ Thị Chuông còn giữ lại

 Chiếc ca bà Phạm Thị Kính đã nhận từ tay anh bộ đội Phạm Văn Trung

 Chiếc hộp của chị Nguyễn Thị Chanh được anh Nguyễn Xuân Hợp tặng

 Nhẫn làm từ xác máy bay Mỹ thú 3000 bị bắn rơi trên miền Bắc, phụ

nữ Quảng Bình tặng bà Nguyễn Thị Định

 Tẩu hút thuốc người yêu tặng bà Kan Lịch (A Lưới, Thừa Thiên Huế, 1964)

 Bếp dầu làm từ vỏ hộp Guygô, sáng chế của bà Lê Thu Phân

 Đèn vỏ pháo sáng, bộ đôi tặng bà Huỳnh Thị Ngân (Châu Thành, Tây Ninh, 1968)

 Đèn của đồng đội tặng bà Lâm Thị Thà (Tịnh Biên, An Giang, 1969)

 Đèn vỏ bom bi, bộ đội tặng bà Trịnh Thị Hiệu (Quy Nhơn, Bình Định, 1964)

 Đèn vỏ đạn M79 của đồng đội tặng bà Lê Thị Đặng ( Mộc Hóa, Long

An, 1973)

 Loa của bà Trần Thị Tươi Sáng Ánh Hồng dùng kêu gọi quần chúng và binh lính (Phú Thạnh, Châu Thành, Hậu Giang, 1960 – 1975)

Trang 32

• Hiện vật bằng giấy:

 Tập thơ của người chiến sĩ cách mạng trong ngục tù của bà Bùi Thị Thu Hà

Tập thơ “Không đề” của nữ thanh niên xung phong Ngọc Thị Kẹo (tiểu

đội 1, đại đội 931, đội 91, tỉnh Bắc Thái)

 Hồ sơ bệnh án giả điên của bà Huỳnh Thị Ngọc (Biên Hòa, Đồng Nai,

1972 – 1975)

 Thẻ căn cước giả của người phụ nữ tham gia kháng chiến( 1971 – 1975)

 Quạt của bà Nguyễn Thị Dung được làm khi bị giam tại nhà tù Côn Đảo

 Bức thêu của bà Đặng Hồng Nhật và một số chị em cùng bị giam giữ

Bức thêu “Ước vọng hòa bình” của bà Trần Thị Hòa thêu trong nhà tù

Bức thêu “Chùa Một Cột” của bà Võ Thị Thắng (Côn Đảo, 1970)

 Cặp gối thêu trong tù của bà Nguyễn Thị Lượng (Mỹ Trung, Hòa Thịnh, Tuy Hòa)

Trang 33

Hiện vật bằng song, gỗ, tre, nứa, mây:

 Rổ đong bèo giống trong phong trào làm bèo hoa dâu cảu Hợp tác xã Quỳnh Hồng

 Chổi của bà Lê Thị Khá dùng giấu tài liệu (Cai Lậy, Tiền Giang, 1971)

 Lọ hoa của bà Võ Thị Cung (Tây Ninh, 1963)

 Thúng đựng trầu của bà Cao Thị Cửu (Cai Lậy, Tiền Giang, 1963 – 1973)

 Mõ tre của bà Võ Thị Tiếp dùng gây náo động trong phong trào Đồng khởi (Tân Xuân, Ba Tri, Bến Tre, 1960)

 Bát sọ dừa của bà Mai Thị Thước (Định Thủy, Mỏ Cày, Bến Trẻ,

1958 – 1960)

 Mũ rơm được sử dụng phổ biến

 Ống đựng trầu của bà Hồ Thị Non (Trà Sơn, Trà Bông, Quảng Ngãi,

 Túi xách của bà Phạm Thị Tư làm trong thời gian bị giam tại Khám Cần Thơ, năm 1971

• Hiện vật da, xương, sừng:

 Vỏ con sam dùng tát nước của đội thuyền Ba đảm đang, Hợp tác xã Tiền Phong, tiếp tế cho các vùng chiến sự ven biển

Trang 34

 Mõ sừng trâu của bà Lưu Thị Lãnh dùng gây náo động trong các cuộc biểu tình của phong trào Đồng Khởi

Dây phơi tết bằng tóc của các nữ tù bị giam trong “Chuồng cọp”

• Hiện vật bằng thủy tinh:

 Đèn vỏ nước hoa của đồng đội tặng bà Nguyễn Thị Triệu (Cái Nước,

Cà Mau, 1968 – 1975)

 Đèn vỏ lọ thuốc tây của bà Nguyễn Thị Thiêng (Lâm Đông, 1970 – 1975)

 Đèn vỏ lọ dầu gió của bà Trần Thị Xẩm (Cao Lãnh, Đồng Tháp,

Tạm thời lấy tiêu chí địa điểm, vùng miền để nghiên cứu tiến hành sưu tập hiện vật này thì có thể thấy hiện vật được phân chia là nhóm hiện vật của phụ nữa miền Bắc tự chế tạo và nhóm hiện vật của phụ nữ miền Nam tự chế tạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Bảng 3: Phân loại tài liệu hiện vật theo vùng miền:

Trang 35

Miền Bắc:

 Lọ hoa vỏ đạn pháo 57 ly, khắc tên 32 nữ dân quân Đông Phương sử dụng (1968 – 1973)

 Hộp đựng bàn chải và kem đánh răng của bà Vũ Thị Đan (1968 – 1975)

 Vỏ con sam dùng tát nước của đội thuyền Ba đảm đang, Hợp tác xã Tiền Phong, tiếp tế cho các vùng chiến sự ven biển

 Rổ đong bèo giống trong phong trào làm bào hoa dâu cảu Hợp tác xã Quỳnh Hồng

 Nhẫn “Chung thủy” của bà Nguyễn Thị Minh được Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Tuyên Quang tặng năm 1970

 Mũ rơm được sử dụng phổ biến

Tập thơ “ Không đề” của nữ thanh niên xung phong Ngọc Thị Kẹo (tiểu

đội 1, đại đội 931, đội 91, tỉnh Bắc Thái)

Miền Nam:

 Chổi của bà Lê Thị Khá dùng giấu tài liệu (Cai Lậy, Tiền Giang, 1971)

 Lọ hoa của bà Võ Thị Cung (Tây Ninh, 1963)

Dây phơi tết bằng tóc của các nữ tù bị giam trong “Chuồng cọp”

 Thúng đựng trầu của bà Cao Thị Cửu (Cai Lậy, Tiền Giang, 1963 – 1973)

 Hộp trang sức dùng để giấu tài liệu của bà Khưu Thị Hồng (Quảng Ngãi,

1973 – 1974)

 Quạt của bà Nguyễn Thị Dung được làm khi bị giam tại nhà tù Côn Đảo

 Túi xách của bà Phạm Thị Tư làm trong thời gian bị giam tại khám Cần Thơ, năm 1971

 Bếp dầu làm từ vỏ hộp Guygô, sáng chế của bà Lê Thu Phân

 Lược làm từ xác máy bay của trung đội trưởng Hồ Thị Chuông còn giữ lại

 Chiếc ca bà Phạm Thị Kính đã nhận từ tay anh bộ đội Phạm Văn Trung

 Chiếc hộp của chị Nguyễn Thị Chanh được anh Nguyễn Xuân Hợp tặng

Trang 36

 Nhẫn làm từ xác máy bay Mỹ thú 3000 bị bắn rơi trên miền Bắc, phụ nữ Quảng Bình tặng bà Nguyễn Thị Định

 Khăn của bà Lê Thị Anh dùng để chỉ đạo đấu tranh (Đông Hòa, Châu Thành, Tiền Giang, 1960)

 Khăn của bà Cao Thị Út dùng để chỉ đạo đấu tranh (Long Nguyên, Bến Cát, Bình Dương, 1960 – 1965)

 Khăn của bà Trịnh Thị Sơ dùng để chỉ đạo đấu tranh (Phước Hiệp, Mỏ Cày,Bến Tre, 1960 – 1966)

 Tẩu hút thuốc người yêu tặng bà Kan Lịch ( A Lưới, Thừa Thiên Huế, 1964)

 Đèn dầu làm ám hiệu của bà Nguyễn Thị Thạnh (Tây Ninh, 1970 – 1975)

 Đèn dầu của bà Nguyễn Thị Gấm (Mộc Hóa, Long An, 1967 – 1970)

 Đèn vỏ pháo sáng , bộ đôi tặng bà Huỳnh Thị Ngân (Châu Thành, Tây Ninh, 1968)

 Đèn vỏ nước hoa của đồng đội tặng bà Nguyễn Thị Triệu (Cái Nước, Cà Mau, 1968 – 1975)

 Đèn của đồng đội tặng bà Lâm Thị Thà (Tịnh Biên, An Giang, 1969)

 Đèn vỏ bom bi, bộ đội tặng bà Trịnh Thị Hiệu (Quy Nhơn, Bình Định, 1964)

 Đèn vỏ lọ dầu gió của bà Trần Thị Xẩm (Cao Lãnh, Đồng Tháp,

Trang 37

 Cối dùng làm ám hiệu của bà Nguyễn Thị Mộc (Thái Bình, Châu Thành, Tây Ninh, 1961 – 1969)

 Làn mây của bà Phạm Thị Rãnh , dùng đựng trầu cau và tài liệu binh vận trong các cuộc đấu tranh trực diện chống bắn pháo vào làng, chống bắt lính, vận động binh lính quay súng trở về với cách mạng tại (Hiệp Thạnh, Gò Dầu, Tây Ninh, 1954 – 1968)

 Cặp gối thêu thêu trong tù của bà Nguyễn Thị Lượng (Mỹ Trung, Hòa Thịnh, Tuy Hòa)

 Tập thơ của người chiến sĩ cách mạng trong ngục tù của bà Bùi Thị Thu Hà

 Hồ sơ bệnh án giả điên của bà Huỳnh Thị Ngọc (Biên Hòa, Đồng Nai,

1972 – 1975)

 Thẻ căn cước giả của người phụ nữ tham gia kháng chiến( 1971 – 1975)

 Bức thêu: ngày tháng vào và ra nhà lao Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo,Tân Hiệp của bà Trịnh Thị Thu Nga

 Bức thêu của bà Trần Duy Phương làm trong thời gian bị giam tại nhà tù Phú Tài

 Bức thêu của bà Đặng Hồng Nhật và 1 số chị em cùng bị giam giữ

Bức thêu “Ước vọng hòa bình” của bà Trần Thị Hòa thêu trong nhà tù

Bức thêu “Chùa Một Cột” của bà Võ Thị Thắng (Côn Đảo, 1970)

Trang 38

Chương 2 GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP HIỆN VẬT TỰ TẠO CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 -1975)

TẠI BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM

Sưu tập hiện vật bảo tàng có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của mỗi một bảo tàng.Quá trình xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng nó phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, mục đích và vai trò của bảo tàng ấy đối với

xã hội.Vì vậy, mỗi sưu tập hiện vật đều có giá trị nhất định để phục vụ cho mục đích của bảo tàng mình.Sưu tập hiện vật bảo tàng càng lớn, phong phú, đa dạng thì làm cho vị trí của bảo tàng ấy càng quan trọng đối với xã hội và tạo sự hấp dẫn đối với công chúng trong và ngoài nước

Giá trị là một khái niệm trừu tượng, là ý nghĩa của sự vật trên phương diện phù hợp với nhu cầu của con người.Như ta đã nói, xây dựng sưu tập luôn là việc quan trọng và cần thiết bởi mỗi sưu tập sẽ luôn chứa đựng nhiều giá trị khác nhau Sưu tập hiện vật bảo tàng sẽ tạo nên sắc thái riêng và vị trí xã hội cho mỗi bảo tàng, nó làm giàu cho kho cơ sở của bảo tàng, là nền tàng cho mỗi bảo tàng

có điều kiện phát huy vai trò của mình trong xã hội Sưu tập hiện vật bảo tàng được xây dựng sẽ cung cấp thông tin tập trung, nhanh, chính xác

2.1 Giá trị lịch sử

Lịch sử là những gì đã trải qua trong quá khứ của bất cứ một quốc gia, dân tộc nào trên thế giới; nó gắn liền với xã hội loài người.Như vậy, giá trị lịch sử chính là những giá trị trong quá khứ nó được kết tinh và ẩn chứa trong mỗi hiện vật và sưu tập hiện vật bảo tàng Mỗi một hiện vật và sưu tập hiện vật bảo tàng đều hàm chứa trong đó một hay nhiều giá trị.Vì chúng là những vật chứng đã tham gia trực tiếp vào những sự kiện, hiện tượng của lịch sử và đã được con người sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong các sự kiện, hiện tượng đó Có như vậy chúng mới được sưu tầm, thu thập đưa về bảo tàng Sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn

Trang 39

(1954-1975) là một trong những sưu tập như vậy và nó cũng hàm chứa những giá trị về lịch sử, văn hóa.Giá trị đầu tiên mà chúng ta có thể thấy là giá trị lịch sử

Sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước giai đoạn (1954-1975) tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam có giá trị lịch

sử sâu sắc.Nó phản ảnh khá đầy đủ về cuộc sống, chiến đấu của những người phụ

nữ Việt Nam đã tham gia vào cuộc kháng chiến của đất nước, mỗi một hiện vật đều

là những câu chuyện lịch sử hấp dẫn.Về những sự kiện lịch sử diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, trong không gian và thời gian cụ thể, mang tính chân thực, khách quan Vì vậy, mỗi hiện vật tự tạo của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã hàm chứa những giá trị lịch sử, giáo dục truyền thống và là bài học cần được lưu giữ cho thế hệ mai sau

Sưu tập hiện vật này mang đặc trưng riêng, là nguồn sử liệu của tri thức

và cảm xúc Nghiên cứu, tìm hiểu và tham quan các hiện vật lịch sử của bảo tàng, khách tham quan như được sống lại với quá khứ, như đang được tận mắt chứng kiến các hoạt động có thật của phụ nữ Việt Nam, từ đó có được những xúc cảm chân thực nhất

Các hiện vật trong sưu tập này là những tư liệu gốc của kiến thức, gây xúc động mạnh mẽ đối với người xem, giúp người xem tiếp thu nội dung dễ dàng, hấp dẫn Những hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã chứng minh cho một thời chiến đấu cũng như lao động sản xuất của chị em Phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử của dân tộc

Đặc biệt trong những năm khói lửa ở miền Nam, phụ nữ phải gánh chịu nhiều đau khổ do các chính sách hà khắc, man rợ của Mỹ, Ngụy Vì vậy, họ đã đấu tranh ngoan cường, chẳng những trên lĩnh vực đấu tranh chính trị, đấu tranh

vũ trang, đồng thời còn giữ vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực âm thầm khác trong cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ hơn 20 năm từ 1954 - 1975

a, Sưu tập hiện vật tự tạo của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn (1954 – 1975) đã phản ánh rõ nhũng nội dung

Trang 40

nêu trên, trong đó nổi bật là phản ánh sự tham gia trực tiếp chiến đấu, chăm sóc thương binhcủa phụ nữ Việt Nam tại chiến trường – nơi diễn ra chiến sự ác liệt giữa ta và địch

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneve được ký kết.Cuộc chiến tranh kết thúc.Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng.Theo Hiệp định Geneve, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy Ngụy quyền, Ngụy quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới

Cuộc kháng chiến trải qua 5 giai đoạn chiến lược:

Giai đoạn 1 (7/1954-12/1960):Thời kỳ giữ gìn lực lượng chuyển sang

khởi nghĩa từng phần - phong trào Đồng Khởi

Giai đoạn 2 (1/1961-6/1965): Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng

phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, đánh bại chiến lược "Chiến tranh

đặc biệt" của Mỹ

Giai đoạn 3(7/1965-12/1968): Phát triển thế tiến công chiến lược, đánh

bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và chiến tranh phá hoại lần 1

(7/2/1965-1/11/1968) của Mỹ ở miền Bắc

Giai đoạn 4(1/1969-1/1973): Đánh bại chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh và chiến tranh phá hoại lần 2 (6/4/1972-15/1/1973) của Mỹ ở miền Bắc,

buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris 1973 về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước

Giai đoạn 5(12/1973-30/4/1975): tạo thế, tạo lực và thực hành cuộc tổng

tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam kết thúc thắng lợi cuộc Kháng chiến chống Mỹ

Trong suốt quá trình kháng chống Mỹ cứu nước, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp công sức không hề nhỏ.Từ tham gia chiến đấu trực tiếp tại chiến

Ngày đăng: 04/06/2021, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo tàng cách mạng Việt Nam, Sưu tầm hiện vật bảo tàng, Nxb Văn hóa Thông tin, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tầm hiện vật bảo tàng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
2. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, 10 hiện vật hấp dẫn nhất trong trưng bày, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 hiện vật hấp dẫn nhất trong trưng bày
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
3. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bước đầu tìm hiểu đặc điểm hiện vật Bảo tàng phụ nữ Việt Nam,Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu đặc điểm hiện vật Bảo tàng phụ nữ Việt Nam
4. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Kỷ vật còn mãi với thời gian,Nxb Phụ nữ 5. Đặng Thị Tố, Giải pháp về nội dung trưng bày Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Tap chí Di sản số 3(2005),Tr 62 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ vật còn mãi với thời gian,"Nxb Phụ nữ 5. Đặng Thị Tố, "Giải pháp về nội dung trưng bày Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Kỷ vật còn mãi với thời gian,Nxb Phụ nữ 5. Đặng Thị Tố, Giải pháp về nội dung trưng bày Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Tap chí Di sản số 3
Nhà XB: Nxb Phụ nữ 5. Đặng Thị Tố
Năm: 2005
6. Đỗ Minh Cao (dịch), Phan Khanh (hướng dẫn), Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga,Nxb Thông tin, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga
Nhà XB: Nxb Thông tin
8. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt,Nxb Đà Nẵng, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
9. Hồng Dương, Góp phần định hướng công tác xây dựng sưu tập hiện vật ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tháng 12/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần định hướng công tác xây dựng sưu tập hiện vật ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
10. Lê Chân Phương, Phong trào phụ nữ “ba đảm đang” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Phụ nữ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào phụ nữ “ba đảm đang” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
13. Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
14. Nguyễn Thị Bích Vân, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam làm gì để thu hút khách tham quan, Tạp chí Di sản số 4 (45), 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam làm gì để thu hút khách tham quan
15. Nguyễn Thị Hằng (2005), Tìm hiểu nội dung và giải pháp trung bày về Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 – 1975 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nội dung và giải pháp trung bày về Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 – 1975 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2005
16. Nguyễn Thị Huệ (chủ biên), Cơ sở bảo tàng học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở bảo tàng học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Nguyễn Thị Huệ, Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
18. Nguyễn Thị Huệ (chủ biên), Sưu tầm hiện vật bảo tàng, Nxb Lao động, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tầm hiện vật bảo tàng
Nhà XB: Nxb Lao động
19. Nguyễn Thị Minh Lý (chủ biên), Bảo quản hiện vật bảo tàng, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo quản hiện vật bảo tàng
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
20. Nguyễn Thị Thập (chủ biên), Lịch sử phong trào Phụ nữ Việt Nam (tập 1), Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào Phụ nữ Việt Nam (tập 1)
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
21. Nguyễn Thị Tuyết, Công tác sưu tầm của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 12/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác sưu tầm của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
22. Nguyễn Văn Huy, Một số đổi mới trong Trưng bày ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Tạp chí Thế Giới Di sản tháng 4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đổi mới trong Trưng bày ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
7. Hình ảnh người phụ nữ trong Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Tạp chí Di sản (số 3), 2005, Tr. 43-47 Khác
11. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), (tâp 1), Nxb Sự thật,1990 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w