1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu các giải pháp phát huy giá trị di sản hán nôm tại di tích đền ngọc sơn – phường lý thái tổ quận hoàn kiếm – thành phố hà nội

108 48 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua diễn trình lịch sử, chữ Hán cổ và chữ Nôm đã chiếm một phần quan trọng trong những giá trị di sản phi vật thể, là tài sản, nguồn tư liệu vô giá của dân tộc, được thể hiện và lưu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

***********

LÊ THỊ THẢO

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY

GIÁ TRỊ DI SẢN HÁN NÔM TẠI DI TÍCH ĐỀN NGỌC SƠN (Phường Lý Thái Tổ - Quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

Mã số: 52320305

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Sỹ Toản

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DI SẢN HÁN NÔM Ở DI TÍCH ĐỀN NGỌC SƠN 6

1.1 Khái quát về di tích đền Ngọc Sơn 6

1.1.1 Lịch sử ra đời, tồn tại của di tích đền Ngọc Sơn 6

1.1.2 Sự kiện lịch sử và nhân vật được thờ trong di tích 11

1.2 Các loại hình di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn 16

1.2.1 Hoành phi, câu đối, biển đề, đề tự 16

1.2.2 Văn bia 25

1.2.3 Các loại hình khác 27

1.3 Giá trị di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn 28

1.3.1 Giá trị lịch sử 28

1.3.2 Giá trị văn hóa 30

1.3.3 Giá trị khoa học 32

1.3.4 Giá trị giáo dục 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN HÁN NÔM TẠI DI TÍCH ĐỀN NGỌC SƠN 35

2.1 Thực trạng bảo vệ di sản Hán Nôm tại di tích Đền Ngọc Sơn 35

2.1.1 Thực trạng thiết chế quản lý 35

2.1.2 Thực trạng bảo vệ di sản Hán Nôm trên cơ sở khoa học 40

2.2 Thực trạng phát huy giá trị di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn 44

2.2.1 Công tác thuyết minh tại địa điểm 44

2.2.2 Tuyên truyền, quảng bá, trên các phương tiện thông tin đại chúng 46

2.2.3 Một số hình thức phát huy khác đối với các loại hình di sản 51

Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn 51

2.3 Đánh giá thực trạng bảo vệ và phát huy di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn 52

Trang 3

2.3.1 Hiệu quả đạt được 52 2.3.2 Hạn chế, tồn tại 54 2.3.3 Nguyên nhân 56

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN HÁN NÔM TẠI DI TÍCH ĐỀN NGỌC SƠN 60

3.1 Phương hướng bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn 60 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát huy di sản Hán Nôm tại di tích Đền Ngọc Sơn 63

3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ di sản Hán Nôm 63 3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả phát huy giá trị di sản Hán Nôm 81

3.3 Kiến nghị đề xuất với các cơ quan chức năng 99

3.3.1 Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Nội 99 3.3.2 Kiến nghị với Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội và hoạt động văn hóa khoa học của các cán bộ làm việc tại di tích đền Ngọc Sơn

100 KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kho tàng di sản văn hóa của nhân loại hay bất cứ một dân tộc nào đều

có hai bộ phận cấu thành là di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể Ở Việt Nam, theo điều 1 Luật Di sản văn hóa có định nghĩa: “ Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể

và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử - văn hóa - khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề và trình diễn và các hình thức khác.” Trong đó, bao gồm ngôn ngữ và chữ viết, và rõ ràng nó

có vai trò quan trọng hàng đầu trong các loại hình di sản văn hóa phi vật thể Bởi lẽ, ngôn ngữ, chữ viết là phương tiện chuyển tải tư tưởng của con người

và cũng là phương tiện giao tiếp của con người

Trên thế giới, cùng với tiến trình lịch sử loài người thì hệ thống chữ viết cũng đã sớm được hình thành và phát triển dựa trên các mối quan hệ, những phong tục tập quán cổ xưa và nhu cầu của xã hội Nó được bắt nguồn

từ những hệ thống biểu tượng, yếu tố tượng hình, tượng ý, các hình vẽ khá dễ nhớ và cho phép truyền đạt thông tin một cách nhất định Cho đến nay, các nhà nghiên cứu cho rằng, hệ thống chữ viết đầu tiên của loài người được ra đời vào cuối thiên niên kỷ thứ 3 TCN tại vùng Sumer (Lưỡng Hà), trải qua thời gian hệ thống ngôn ngữ và chữ viết của các nước trên thế giới được hoàn thiện như hiện nay và là yếu tố quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội của nhân loại

Ở Việt Nam, lịch sử các loại chữ viết được dùng đầu tiên là chữ Hán (chữ Hán cổ), chữ Hán vào nước ta theo con đường giao lưu văn hóa vào khoảng thiên nhiên kỷ thứ nhất TCN, được sử dụng trong khoảng thời gian khá dài với mục đích chủ yếu là phương tiện giao tiếp và giao lưu kinh tế với

Trang 5

được trước nhu cầu của việc ghi chép và diễn đạt lời nói, các vấn đề trong xã hội của người Việt, vì vậy chữ Nôm được ra đời nhằm giải quyết những vấn

đề trên, đến thời Trần hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh Có thể nói chữ Nôm được sử dụng rất nhiều và phổ cập ở các triều đại phong kiến thời

kỳ độc lập Ngày nay, chữ viết được sử dụng là chữ Quốc ngữ với công lớn là của Alexandre De Rhodes- một linh mục dòng tên người Châu Âu, là thành tố quan trọng hình thành nên các văn bản, tạo nên các giá trị đặc biệt trong các lĩnh vực của xã hội

Trải qua diễn trình lịch sử, chữ Hán cổ và chữ Nôm đã chiếm một phần quan trọng trong những giá trị di sản phi vật thể, là tài sản, nguồn tư liệu

vô giá của dân tộc, được thể hiện và lưu giữ trong rất nhiều các loại tư liệu sách, văn bia,… Đặc biệt, nguồn tư liệu chữ Hán Nôm tại các di tích lịch sử văn hóa trên cả nước Với hệ thống di tích lịch sử văn hóa trải dài trên khắp cả nước, phần lớn các di tích có niên đại từ lâu đời, hoặc mới được xây dựng hay

đã được trùng tu, tôn tạo đều dùng chữ Hán Nôm trong tất cả tên di tích cũng như các đơn nguyên kiến trúc, hoành phi câu đối, sắc phong, văn bia,…

Có thể thấy, chữ Hán Nôm có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội và cũng là thành tựu văn hóa quan trọng của nước ta

Nằm trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa của dân tộc, chắc hẳn không ai không biết tới Đền Ngọc Sơn và khu vực Hồ Hoàn Kiếm, đã đi vào áng thơ văn:

Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ

Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn

Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn

Hỏi ai gây dựng nên non nước này!

Là một trong những di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt, đền Ngọc Sơn hay trước kia gọi là chùa Ngọc Sơn, và hồ Hoàn Kiếm đã từ lâu được coi là lẵng hoa, là biểu tượng của thủ đô Hà Nội, với những nét đẹp cũng như những

Trang 6

giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu đã thu hút khách tham quan trong

và ngoài nước từ hàng trăm năm nay Nơi đây, cũng lưu giữ nhiều hiện vật, di vật có giá trị, đặc biệt những di sản Hán Nôm đặc sắc và tiêu biểu như: các câu đối, các văn bia,… phản ánh lịch sử xây dựng đền, ghi nhận công đức và công lao của người được thờ tự trong di tích

Vấn đề đặt ra ở đây, rất nhiều khách tham quan hay người dân đến với

di tích đền Ngọc Sơn, khi họ có nhu cầu tham quan, nơi tiến hành những văn hóa tín ngưỡng tâm linh của họ và hầu như không quan tâm gì tới các chữ viết

có tại di tích, chỉ có một số ít và đa số không hề hiểu những gì được khắc, viết bằng chữ Hán Nôm tại di tích Xét trong mối quan hệ giữa lịch sử chữ viết –

di tích lịch sử văn hóa – công chúng, thì có thể thấy chữ Hán Nôm luôn gắn liền với các di tích lịch sử và công chúng là người tiếp nhận những thông tin

mà chữ Hán Nôm muốn nói tới Tuy nhiên thực tế đặt ra hiện nay, rất nhiều người dân và ngay cả những nhà quản lý di tích cũng không hiểu hết được những thông tin và giá trị của những tư liệu Hán Nôm mang lại

Nghiên cứu các loại hình di sản Hán Nôm tại di tích Đền Ngọc Sơn –

di tích tiêu biểu có giá trị đặc biệt, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tới tham quan, chiêm ngưỡng và đáp ứng nhu cầu tâm linh, đi sâu phân tích và đưa ra các giải pháp phát huy những giá trị di sản Hán Nôm tại di tích, để từ

đó hướng tới phạm vi rộng hơn là phát huy giá trị di sản Hán Nôm trong hệ thống các di tích lịch sử văn hóa trên thành phố Hà Nội Với mục đích công chúng có thể biết, hiểu, đọc và dịch nghĩa được các chữ Hán Nôm có tại di tích, từ đó hiểu về di tích, về nhân vật thờ phụng, giáo dục và hướng tới hoàn thiện nhân cách con người, vẫn còn là vấn đề được đặt ra, cần có cách tiếp cận

và giải pháp phù hợp

Trên cơ sở đó cũng như quá trình tìm hiểu, khảo sát thực tế tại di tích, tôi muốn vận dụng những kiến thức chuyên ngành vào thực tiễn, tập dượt khả năng nghiên cứu và viết bài cho bản thân

Trang 7

Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Nghiên cứu các giải pháp phát huy giá trị di sản Hán Nôm tại di tích Đền Ngọc Sơn – phường Lý Thái Tổ - Quận Hoàn Kiếm – thành phố Hà Nội” làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình Hy vọng rằng, những kết quả nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp chuyên nghành bảo tàng học của tôi sẽ đóng góp ít nhiều vào việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản Hán Nôm đền Ngọc Sơn nói riêng và bảo tồn phát huy các giá trị di sản Hán Nôm tại các di tích lịch sử trên thành phố Hà Nội nói chung

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu các loại hình di sản Hán Nôm tại Di tích Đền Ngọc Sơn,

dựa trên cơ sở tìm hiểu lịch sử hình thành di tích, quá trình tồn tại và phát triển của di tích

- Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung, các giá trị của di sản Hán Nôm tại di tích

Đền Ngọc Sơn

- Nghiên cứu tình trạng, thực trạng bảo vệ các loại hình di sản Hán Nôm

tại di tích Đền Ngọc Sơn

- Bước đầu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát huy giá

trị di sản Hán Nôm tại di tích Đền Ngọc Sơn phục vụ cho đời sống tâm linh, văn hóa, xã hội

3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các loại hình di sản Hán Nôm thuộc di tích Đền Ngọc Sơn

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về vấn đề nghiên cứu: nghiên cứu toàn bộ các loại hình di sản

Hán Nôm tại Đền Ngọc Sơn

- Phạm vi về không gian: Tại Đền Ngọc Sơn, phường Lý Thái Tổ - quận

Hoàn Kiếm – thành phố Hà Nội

- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu các loại hình di sản Hán Nôm tồn tại

và thuộc di tích Đền Ngọc Sơn từ khi di tích được xây dựng cho đến nay

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu

- Khóa luận sử dụng phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin,

Duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

- Phương pháp khoa học được sử dụng tiến hành nghiên cứu: Bảo tồn di

tích lịch sử văn hóa, Khoa học lịch sử, Khảo cổ, Dân tộc học, Xã hội học,…

- Phương pháp khảo sát điền dã tại Di tích, sử dụng các kỹ năng : quan

sát, miêu tả, chụp ảnh, phỏng vấn, trao đổi,…

- Các phương pháp khác: thống kê, so sánh, phân tích, nghiên cứu tài

liệu,…

6 Bố cục của bài Khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, bố cục bài viết gồm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan về di sản Hán Nôm tại di tích Đền Ngọc Sơn Chương 2 Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm tại

em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Sỹ Toản đã quan tâm giúp

đỡ và chỉ bảo tận tình về kiến thức, chuyên môn ; em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác, anh, chị làm việc tại Di tích Đền Ngọc Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu để em có thể hoàn thiện bài viết này

Do trình độ nhận thức và kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy, em rất mong quý thầy cô đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thiện bài viết của mình

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DI SẢN HÁN NÔM Ở DI TÍCH ĐỀN NGỌC SƠN

1.1 Khái quát về di tích đền Ngọc Sơn

1.1.1 Lịch sử ra đời, tồn tại của di tích đền Ngọc Sơn

1.1.1.1 Niên đại di tích

Ở ngay giữa Thủ đô Hà Nội ồn ào náo nhiệt, có một di tích lịch sử

và thắng cảnh của thiên nhiên, của lịch sử và huyền thoại được nhắc tới như một nét thanh bình, mang trong mình những giá trị lịch sử văn hóa, những giá trị của tâm linh được ôm ấp từ bao đời tại đây đó chính là hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn thiêng liêng vời vợi Đối với người dân Việt Nam, không biết

từ bao giờ khi nhắc tới Thủ đô Hà Nội là nhắc tới hồ Hoàn Kiếm, nhắc tới đền Ngọc Sơn với niềm tự hào và sự gắn bó thân thiết Và có lẽ không chỉ người dân Thủ đô, mà bất kỳ ai nếu có dịp về Hà Nội, dù đi đâu, gấp đến mấy cũng phải tới Hồ Gươm, thăm tháp Rùa, thăm đền Ngọc Sơn, ngắm Tháp Bút, dạo qua cầu Thê Húc,… ngắm cảnh mặt hồ nước trong xanh, ngắm cảnh đền với nét hòa quyện hài hòa giữa công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên Có thể khẳng định Đền Ngọc Sơn và khu vực hồ Hoàn Kiếm đã trở thành một nét riêng độc đáo, một địa điểm công trình kiến trúc mang nhiều giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật và từ lâu đã trở thành một trong những biểu tượng của Thủ đô Hà Nội

Di tích lịch sử và thắng cảnh đền Ngọc Sơn và khu vực hồ Hoàn Kiếm (bao gồm : Đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm và di tích tưởng niệm vua Lê), đây là tên gọi được Bộ Văn hóa và Thông tin định danh trong quy định xếp hạng số 92 VHTT/QĐ ngày 10/7/1980 Tuy nhiên trong phạm vi nội dung nghiên cứu, bài viết chú trọng nghiên cứu di tích lịch sử đền Ngọc Sơn Trước đây, đền Ngọc Sơn tọa lạc trên đảo Ngọc phía Bắc hồ Hoàn Kiếm thuộc thôn Tả Vọng, thành Thăng Long Địa danh này trước đây được gọi là

Trang 10

thôn Tả Vọng, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, hiện nay đền Ngọc Sơn thuộc phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Trong lịch sử tồn tại đền Ngọc Sơn đã từng được gọi là đền Quan Đế, chùa Ngọc Sơn

Đền Ngọc Sơn được xây trên hòn đảo phía Bắc Hồ Gươm cách bờ bắc khoảng 200m, bờ đông khoảng 50m Hòn đảo nhỏ này vốn là một cồn cát của khúc sông Nhĩ Hà (Sông Hồng) xưa Theo nghiên cứu nguồn tư liệu hiện còn lại tại di tích cũng như việc hiện nay di tích không còn lưu giữ được những tư liệu thành văn ghi niên đại khởi dựng cụ thể, căn cứ vào nguồn tư liệu thư tịch

cổ cũng như sự hiện diện của các tài liệu văn bia, văn chuông thì đoán định niên đại xây dựng ngôi đền vào cuối thời Lê

1.1.1.2 Quá trình tồn tại di tích

Theo nhiều nguồn tài liệu và nghiên cứu thì, xưa kia di tích Đền Ngọc Sơn nằm trên một đảo nổi lên trên hồ Hoàn Kiếm, vào thời Lê Mạc, hồ Hoàn Kiếm bị lấp cửa thông ra sông Cái, và đắp bờ ngang ngăn hồ thành hai

là hồ Tả Vọng và hồ Hữu Vọng Hữu Vọng hồ sau này đã bị lấp, và Tả Vọng

hồ chính là hồ Hoàn Kiếm sau này, ở phía tây bắc của hồ Tả Vọng có một gò đất tên là Tượng Nhĩ Sơn (hay gọi là núi tai voi) Khởi nguyên, khi vua Lý Thái Tổ sau khi định đô ở Thăng Long (1010) đã đổi tên gò đất tên là Ngọc Tượng Sơn ( núi voi ngọc) Trên gò có một ngôi chùa nhỏ không biết được xây dựng từ bao giờ nhưng lâu ngày đổ nát xiêu vẹo Thời Lê Vĩnh Hựu (1735 – 1739), nhân cảnh trí đẹp đẽ nơi đây chúa Trịnh Giang đã cho xây dựng cung Khánh Thụy và đắp hai quả núi đất ở phía Đông đối diện với Ngọc Sơn gọi là Ngọc Bội và Đào Tai để kỷ niệm chiến thắng của Nguyễn Danh Phương- một lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa Chúa Trịnh còn sai xây thêm Tả Vọng đình làm nơi hóng mát Về sau, họ Trịnh suy vong, Lê Chiêu Thống được Nguyễn Huệ trao trả quyền, Lê Chiêu Thống đã phá hủy cung Khánh Thụy Đầu thế kỷ 19, có một nhà từ thiện người Làng Nhị Khê (thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) tên là Tín Trai, nhân nền cũ cung

Trang 11

Khánh Thụy đã dựng một ngôi chùa lấy tên là Ngọc Sơn tự ( chùa Ngọc Sơn), chùa có quy mô đẹp, có cả tam quan gác chuông Ít năm sau, chùa nhường lại cho một Hội hướng thiện đổi làm đền thờ Tam Thánh, và từ đó đền có tên gọi

là Đền Ngọc Sơn

Trải qua diễn trình lịch sử ngôi đền đã từng nhiều lần được trùng tu sửa chữa:

- Thời Nguyễn năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) Theo bài ký của Tiến sĩ khoa

Bính Tuất Vũ Hán Phủ khắc trên tấm bia “Ngọc Sơn Đế Quân từ ký” Lần

trùng tu này do cụ Tín Trai nhường lại cho Hội hướng thiện, sau đó dỡ bỏ gác chuông để dựng đền thờ đức Văn Xương Đế quân vào đấy, và đến năm 1842 thì hoàn thành

- Năm Tự Đức thứ 18 (1865), lần tôn tạo này cổng đền được nâng cao thêm, lại dựng thêm đình Trấn Ba (đình Trấn sóng) Đặt thêm một cái nghiên trên cửa ra vào và dựng núi đất giáp hồ một cây tháp có hình đầu bút, và là Tháp Bút hiện nay và sửa chữa lần đầu cầu Thê Húc

- Năm Đồng Khánh thứ nhất (1886) ông Nguyễn Trọng Hợp kinh lược xứ Bắc Kỳ đứng lên cùng Hội Lạc Thiện sửa chữa đền Ngọc Sơn, làm thêm đồ thờ Đến năm Thành Thái thứ nhất (1889), sửa chữa lại cầu Thê Húc, năm Thành Thái thứ 5 (1894), Hội An Lạc tu sửa lại đền, dựng thêm đàn giảng kinh Năm Khải Định Bính Thìn (1916), trùng tu nội điện, tu bổ cầu Thê Húc

- Năm 1947, Pháp phá hủy đình Trấn Ba, năm 1952, đình Trấn Ba được dựng lại như ngày nay, năm 1954 - 1955 trùng tu lại đình Trấn Ba

- Năm 2008, tu sửa chống dột các hạng mục kiến trúc chính của đền

- Năm 2012, tu sử các hạng mục cổng nghi môn, đảo ngói chống dột, chỉnh trang tổng thể các hạng mục kiến trúc, sửa cầu Thê Húc

Hiện nay, từ ngoài vào các công trình kiến trúc của đền bao gồm: Cổng nghi môn, Tháp Bút, cổng nghi môn nội, Đài Nghiên, cầu Thê Húc, Cổng Đắc nguyệt, đình Trấn Ba, nhà tiền tế, trung đường, hậu cung, hai nhà

Trang 12

tả vu, hữu vu, nhà Kính Thư, nhà trưng bày mẫu rùa và khu phụ Các đơn nguyên kiến trúc với bố cục hài hòa, xét trong tổng thể đã mang lại nét đẹp có một không hai của di tích đền Ngọc Sơn

Từ ngoài di tích, ta bắt gặp cổng nghi môn được xây dựng với bốn cây cột xây bằng gạch, theo dạng trụ điểu và những mảng tường lửng hợp thành Trên đỉnh hai cột giữa được đắp nổi bốn con phượng chụm đuôi, xòe cánh, hai cột bên là hình hai con ghê chầu vào, mô típ trang trí quen thuộc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam Ở mỗi cột đều đắp nổi câu đối chữ Hán, hai bên tường lửng có đắp hai chữ Hán lớn Phúc và Lộc, được tô son đỏ thắm, kết hợp với quang cảnh cây xanh, hồ nước, làm cho khung cảnh trở nên linh thiêng nhưng mang vẻ đẹp và sự gần gũi với bất kỳ ai khi tới đây

Ngay sau cổng nghi môn là công trình được gọi là Tháp Bút, được dựng trên ngọn núi đá cao 4m, được Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864 và ngọn núi đá ấy được gọi là núi Độc Tôn Tháp vuông bằng đá, có năm tầng, càng lên cao càng thu nhỏ lại với cạnh đấy tầng một là 2m và tầng 5 là 1,2m, với tổng chiều cao là 28,9m Tháp được xây dựng theo ý tưởng “tượng trưng cho nền văn vật”, với ngụ ý viết lên trời xanh, ý muốn nói, mượn ngọn bút này, lấy ngấn nước hồ Gươm làm mực và trời xanh làm giấy mới đủ viết hết nỗi lòng của các chí sĩ Bắc Hà đương thời Lưng chừng núi người xưa có dựng một cái miếu nhỏ tên là Sơn Thần miếu nghĩa là miếu thờ thần núi Theo quan niệm tín ngưỡng dân gian của người Việt nơi nào đã có núi thì phải có một vị thần cai quản Sơn thần miếu được xây dựng với ý nghĩa là sự tiếp nối một tín ngưỡng vốn có từ thời Nguyên thủy là thờ thần đá

Tiếp theo, là cổng nghi môn thứ hai, ở hai bên trụ xây hai cửa nách giả kiểu hai tầng tám mái cong Mặt trước của hai cửa này đắp nổi một bên là rồng, đang cuộn khúc đón đàn cá đang tiến ra, một bên là chú hổ trắng như đang tiến ra với người đời Hai trụ biểu nhỏ ở đỉnh trụ đặt tượng nghê ở tư thế chầu Và đã có Tháp Bút thì phải có Đài Nghiên, cổng Đài Nghiên được xây

Trang 13

theo kiểu tam quan, cửa chính tạo kiểu vòm cuốn, chính giữa đặt Đài Nghiên hình trái đảo, được làm từ một khối đá lớn màu xanh, hình quả đào cắt ngang theo chiều dọc, khoét lõm lòng chảo, bề dài quả đào 0,97m; bề ngang 0,8m; cao 0,3m, chu vi chừng 2m, được trùng tu vào năm 1865, có ba con cóc đội nghiên như ba cái chân kiềng và khắc một bài minh do Nguyễn Văn Siêu khắc với 64 chữ ý nghĩa

Sau đó là các hạng mục công trình Cầu Thê Húc và Cổng Đắc nguyệt lầu Cầu Thê Húc với ý nghĩa Thê là đậu, Húc là ánh sáng ban mai hay hiểu là

“nơi đậu nắng ban mai” xây dựng theo kiểu hình cầu vồng, sơn đỏ mang vẻ đẹp soi bóng xuống mặt hồ Đắc Nguyệt lâu có nghĩa là lầu được trăng, lầu

có hai tầng, có những cửa sổ hình tròn, tròn tượng trương cho dương, nước tượng trưng cho âm, âm dương kết hợp với ý nghĩa chỉ sự tồ tại và phát triển

Đi sâu vào trong khu di tích, ta thấy Đình Trấn Ba, một kiến trúc thanh thoát

và đậm chất thơ ngay phía trước cửa đền chính

Đền chính có 3 nếp nhà chính là tiền tế, tòa trung đường và tòa hậu cung là nơi thờ tự chính và diễn ra các hoạt động của lễ hội Hai bên có hai dãy nhà tả vu, hữu vu với bố cục liên hoàn kề sát với các công trình kiến trúc chính của đền Tòa Kính Thư xây nối liền với tòa tiền tế về phía Đông, Nhà hậu hay (phòng rùa) xây nối với tòa tiền tế về phía Tây, nơi trưng bày tiêu bản

cụ Rùa

Di tích đền Ngọc Sơn đã tồn tại qua bao đời nay, trải qua những lần trùng tu, tôn tạo và bảo vệ, nơi đây lưu giữ nhiều tài sản quý của dân tộc, là một di tích linh thiêng và ngày càng thân thiết gắn bó trong tiềm thức tâm linh của người dân Thăng Long- Hà Nội, và cũng là địa chỉ không thể thiếu đối với khách du lịch tham quan trong và ngoài nước Với nét thanh bình và thiêng liêng trái ngược với sự ồn ào tấp nập ngoài kia, đền Ngọc Sơn gắn với những huyền thoại và lịch sử hào hùng, nơi đây thật sự là một di tích đặc biệt độc đáo nổi bật giữa Thủ đô và đất nước

Trang 14

1.1.2 Sự kiện lịch sử và nhân vật được thờ trong di tích

1.1.2.1 Sự kiện lịch sử

Di tích đền Ngọc Sơn không chỉ là di tích tín ngưỡng, gắn với sự tích gươm vàng do Lê Lợi hoàn trả lại cho rùa thần dưới hồ, mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử phản ánh nhiều mặt lịch sử của dân tộ, đây còn là nơi sinh hoạt của Hội Hướng thiện, do những nhà trong khoa mục thành lập, là hội của các nhà Nho Hiện nay chưa xác định được thời gian thành lập Hội Hướng Thiện, chắc lẽ vào khoảng sau năm 1842, sau khi xây dựng đền Ngọc Sơn Với hai vị hội trưởng là hai nhà nho có uy tín bậc nhất lúc bấy giờ là Vũ Tông Phan (1800 – 1851), Tiến sĩ, Đốc học về hưu, mở trường Hồ Đình bên

Hồ Gươm và Nguyễn Văn Siêu (1799 – 1780), Phó bảng, án sát về hưu mở trường Phương Đình ở giáp Giang Nguyên (phố Nguyễn Văn Siêu hiện nay)

cả hai đều là những nhà giáo dục nổi tiếng đương thời, sách Khoa bảng lục ghi hai trường trên, học trò nhiều người thành đạt Không chỉ có công trong việc sáng lập đền, hội Hướng Thiện còn giữ vai trò chủ chốt trong việc bảo quản, tu tạo các công trình kiến trúc và cảnh quan, cũng như tổ chức hoạt động nhiều mặt, làm cho di tích đền Ngọc Sơn trở thành một di tích danh thắng bậc nhất ở trung tâm Thủ đô Hội Hướng thiện đã có những hoạt động sôi nổi theo đúng tên gọi hướng về những điều tốt lành, và không ngừng tiếp tục đi theo con đường sáng đẹp, tuyên truyền giáo dục điều thiện cho quần chúng Hội cũng tổ chức khắc ván in nhiều loại sách khác nhau như : sách thuốc, sách kinh của đạo Giáo, sách luận về tín ngưỡng (năm 1966 khi ngành văn hóa Hà Nội chuyển kho ván khắc này xuống kho ở chùa Hưng Ký còn đếm được 1.156 bản) Một hoạt động tích cực của các Hội viên Hội hướng thiện là tham gia nhóm “công quá” “Công” chỉ thành tích làm điều tốt, kể cả

ý nghĩa và sự việc cụ thể, “Qúa” là những điều lỗi lầm, trái với “công” “Công quá” có thể dịch gọn là “công và tội”, tăng công bớt tội, làm điều thiện tránh

bỏ điều ác, là mục đích của hội tu thân, là hoạt động của “hội công quá”, tiến

Trang 15

hành dưới sự tin tưởng và chứng giám của thần linh Hội có sáng tác những bài văn “giáng bút” mượn lời thần linh để giáo dục công chúng trong việc khuyến thiện, được nhiều người chấp thuận, dạy đạo lý làm người, thêm lòng tin tưởng ở sức mạnh huyền thoại đã được phán truyền

Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội nhiều hội khác như : Lạc Thiên, Tập Thiện, An Lạc, cũng lấy đền Ngọc Sơn làm nơi tuyên truyền chống thực dân Pháp Những năm đầu thế kỷ XX, các cụ Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn

Can đã cho xây dựng Kinh đàn để giảng kinh (nay là nhà bán đồ lưu niệm ở

phía trái đền chính) Dù triều đình Huế đầu hàng nhưng nhân dân vẫn kiên cường chiến đấu và các trí thức lập ra các tổ chức công khai kêu gọi nhân dân yêu nước tiêu biểu là phong trào Đông Kinh nghĩa Thục, đương thời gọi là các “Minh xã” Tiêu biểu là phong trào Đông Du, phổ biến nhiều văn bản bài thơ mượn thần thánh để truyền “đạo” làm cách mạng Lúc đầu các phong trào chưa bị thực dân Pháp để ý tới, nhưng sau do ảnh hưởng của nó ngày càng lan rộng và nhiều nơi có hành động lộ liễu nên bọn mật thám đã đi lung khám các đình, chùa tịch thu nhiều kinh sách của các tiê thánh giảng bút Tuy vậy, cách tuyên truyền này vẫn được kéo dài cho tới sau cuộc đại chiến thứ nhất Tận dụng đền Ngọc Sơn đã có cở sở khắc ván gỗ in ấn từ trước nên thời điểm ấy, các nhà Nho đã dùng lợi thế này in thành các “kinh” cổ động yêu nước chống Pháp

Thế kỷ XX, tại đền Ngọc Sơn đã cho in kinh Đạo Nam nho các nhà Nho yêu nước Nam Định, đứng đầu là cụ Nguyễn Ngọc Tỉnh biên soạn dưới chiêu bài “thơ giáng bút”, sau đó để phổ biến sách được in từ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ in thành sách

Chẳng hạn như:

Kể chi Nam Bắc xa gần

Ở đâu thì cũng quốc dân một nhà

Nước có mạnh thì dân mới mạnh

Trang 16

Dân có khôn thì nước mới khôn

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại lên hòn núi cao

Sau này, kinh Đạo Nam được dịch từ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ, in thành sách và được lưu hành rộng rãi Những năm gần dây, đền là nơi đón tiếp nhiều nguyên thủ quốc gia của nhiều nước, diễn ra nhiều sự kiện văn hóa của Thủ đô và là nơi thu hút nhiều khách tham quan

1.1.2.2 Nhân vật được thờ trong di tích

● Đức Thánh Trần

Trong hệ thống tâm linh của người Việt, Hưng Đạo đại vương là một nhân vật có công lớn với dân tộc, là một nhân thần, và được vinh danh là Đức Thánh Trần Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần được hình thành từ quá trình thánh hóa, thần hóa ngài, vị anh hùng dân tộc, ngài là vị thánh phù hộ cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, hộ quốc an dân, diệt trừ tà ma

và chữa bện cho nhân dân Đức Thánh Trần tên thật là Trần Quốc Tuấn 1300), ngài là con trai thứ của An Sinh vương Trần Liễu (anh trai vua Trần Thái Tông), một nhân vật nổi tiếng thời Trần Vào thế kỷ thứ XIII nhân dân Đại Việt trải qua ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân đội đập tan quân xâm lược giành lại chủ quyền

Đối với người Việt, trong tiềm thức tâm linh Người có hai tư cách: vị anh hùng dân tộc với nhiều chiến công hiển hách nhất là trận Bạch Đằng vĩ đại và tài trí uy lực diệt được mọi ma quỷ như khi sống Người từng diệt con tà Phạm Nhan, một loại quỷ chuyên bức hại phụ nữ, Người được thánh hóa và là nhân vật được nhân dân nể trọng Người được tước phong rất trọng thị là Thượng phụ Thượng trật thượng tướng quân, bình bắc đại nguyên soái Hưng Đạo đại vương Vì vậy, Người trở thành đối tượng được nhân dân đời đời thờ phụng, cũng bởi lẽ vậy mà Đức Thánh Trần được thờ phụng ở nơi thiêng liêng nhất – tại tòa hậu cung tại đền Ngọc Sơn

Trang 17

● Văn Xương Đế quân

Văn Xương Đế quân hay còn gọi là Văn Xương Tinh là một vị thần được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của

sĩ nhân Hiện nay, có hai nguồn gốc xuất xứ về đức Văn Xương Đế Quân: một là Văn Xương Đế quân chính là nhóm sao Đẩu Khôi, gồm sáu ngôi sao xếp thành hình bán nguyệt nằm ở phía trước sao Bắc Đẩu, mỗi sao có một tên, quản về vận khoa danh ; hai là: Văn Xương Đế quân là một nhân vật có thật tên là Trương Á (hoặc Trương Ác) sau khi thác có nhiều hiển linh được phong làm thần Tử Đồng, về sau được phong là “ Phụ nguyên khai hóa Văn Xương Tư lộc Hoằng nhân Đế quân”, từ đó dân gian kết hợp hai nguồn gốc này thành ra tên gọi Văn Xương Đế quân

Về nguồn gốc thứ nhất lý giải theo góc độ chiêm tinh, thiên văn như là một vị thần tinh tú Với nguồn gốc thứ hai: Thần vốn dĩ là một vị quan Thái thú Châu Ích vào đời Kiến Vũ (năm 22-55 sau Công nguyên) nhà Hán Sách

“Dư địa ký thắng” có chép: “Thần dễ thường là ông Trương Dục, nguyên quê đất Thục, ông đã chiêu tập 50 nghìn quân dân ứng mộ để vây kinh thành đánh lại giặc Bồ Tần Sau bị thua chết ở đất Tử Đồng vào năm Ninh Thái thứ 2 (374 sau Công nguyên).” Theo Đạo giáo thì: Ngọc Hoàng Thượng đế giao cho thần Tử Đồng chủ công việc cung Văn Xương và giữ sổ lộc của trần gian cho nên triều đình nhà Nguyên (1277 – 1367) đã ban cho thần tước Đế Quân

mà được thờ phụng ở các nhà hiệu trong nước

Văn Xương Đế quân là người tựu nghĩa, lại được thờ ở các trường học nên không biết từ bao giờ thần đã được các nhà Nho Việt Nam coi như thần

về học hành văn chương và công danh khoa cử Như vậy, Văn Xương Đế quan được coi là một vị thần tinh tú trông coi sổ thi cử, và chủ yếu về vấn đề công danh, vì thế Đền Ngọc Sơn thờ Văn Xương đế quân nhằm đề cao sự học, đề cao nhân tài

● Thần Lã Tổ

Trang 18

Thần Lã Tổ tên là Nham hiệu là Đồng Tân, là một vị thần của Đạo Giáo Theo truyền thuyết ông là người đất Kinh Triệu đời Đường nay thuộc tỉnh Hà Bắc – Trung Quốc Đời Đường Ý Tông niên hiệu Hàm Thông (860 – 874) thi đỗ trúng cập đệ đang làm quan huyện lệnh thì gặp Hoàng Sảo, Lã Động Tân bỏ quan về ở ẩn lên núi Chung Sơn tu luyện kiếm pháp, học thần thư và luyện đan chữa bệnh Sau ông theo đạo Giáo lấy hiệu là Thuần Dương

Tử Ông được coi là một trong 8 vị tiên được đời sau thờ cúng, được gọi là bát tiên trong huyền thoại Bát Tiên khánh thọ, bát tiên quá hải

Ông được coi như là một vị tiên cứu nhân độ thế, ở ban thờ Lã Tổ tại đền hai bên có tượng Thiên Khôi và Thiên Việt Thiên Việt có hình dáng một ông lão đạo mạo Thiên Khôi có hình dáng một tiểu quỷ mặt xanh, có sừng, mình trần quần ngắn, cổ tay, cổ chân đeo vòng, thắt lưng đỏ, một tay cầm sách, một tay cầm bút, một chân đứng trên con giao long, một chân dơ lên như hình chữ đẩu Sao Thiên Khôi phụ trách về khoa cử Bút và sách cầm ở tay là ghi tên những sẽ thi đỗ đầu và thi đỗ nói chung

● Quan vũ

Quan Vũ là một nhân vật lịch sử Trung Quốc, cũng được gọi là Quan Công tự là Vân Trường, Trường Sinh (162?- 220?) là một vị tướng thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam Quốc, là người góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị vua đầu tiên là Lưu Bị, ông cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục Hán, là anh em kết nghĩa của Lưu Bị và Trương Phi, nổi tiếng là dũng tướng trung thành, giữ chữ tín, với những chiến tích và phẩm chất đạo đức được đề cao và thần thánh hóa

Là một dũng tướng tài ba đánh thắng nhiều trận, song cuối cùng do chủ quan bị tướng nước Ngô bắt đem chém, tương truyền ông hiển thánh và được nhân dân khắp Trung Quốc khắp nơi thờ phụng, ông thường được thờ với tượng mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây thanh long yển nguyệt hoặc cưỡi ngựa xích thố Đời Tống Tuyên Gia ông được phong là Vũ An vương, đời Minh

Trang 19

Vạn Lịch được phong là Hiệp thiên hộ quốc trung nghĩa đại đế Theo bước chân di cư của người Hoa, và là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều nhất ở khu vực Đông Á, thần Quan Vũ được lập đền thờ nhiều nơi trên đất nước ta, dân ta thường gọi với tên là Quan Đế, Quan Công hoặc Quan Thánh đế quân Dân gian xem ông như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa trung thành, nhưng các nhà sử học cũng đề cập phê phán ông vì tính kiêu căng cũng như ngạo mạn Đền Ngọc Sơn thờ Quan Vũ nhằm đề cao tấm gương trung nghĩa của con người hướng người ta tới chân, thiện, mỹ

1.2 Các loại hình di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn

1.2.1 Hoành phi, câu đối, biển đề, đề tự

Bất cứ một di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật nào khi người ta nhắc

tới và hình dung ra về nó, thì đều nghĩ ngay tới những nét thiêng liêng, cổ kính và nhớ tới cảnh quan xung quanh cổng vào, hay bên trong di tích nơi thờ

tự đều hiện lên các loại hình được khắc, viết, hoặc đắp nổi chữ Hán Nôm Không biết từ bao giờ, một phần di sản không thể thiếu hay nói các khác là đặc biệt quan trọng đối với một di tích khi nó được thể hiện trên các sắc phong, hoành phi câu đối, văn bia, văn khánh,… là chữ Hán Nôm Chẳng phải tự nhiên, khi hiện tại chữ quốc ngữ đã là ngôn ngữ, cách viết thông dụng

và được sử dụng trong tất cả mọi văn bản, giấy tờ của quốc gia thì ở các di tích đình, đền, chùa,… vẫn sử dụng chữ Hán Nôm cho tất cả những gì thuộc

về di tích, vì rằng chữ Hán Nôm là một thành quả một nét đẹp của giá trị truyền thống dân tộc, với một thời gắn liền với những kì thi, gắn với người đọc sách, những người thầy đồ, người hiền tài và giỏi giang, mỗi một nét chữ, câu văn đều đều bao hàm những nội dung, ý nghĩa đầy tính nhân văn và giá trị Tiếp nối những giá trị ấy, di sản chữ khối ô vuông tại khu đền Ngọc Sơn, theo thống kê của tác giả Trần Văn Đạt, hiện tại còn 91 đơn vị, bao gồm hoành phi câu đối, biển đề, đại tự, văn bia

Trang 20

Hoành phi, câu đối là loại hình được phổ biến nhất, thông dụng nhất mà

dù cho không hiểu nội dung thì chỉ cần nhìn hình thức bên ngoài ai cũng có thể đoán định được Trong phong tục tập quán Việt thì, hoành phi là những tấm biển đồng có hình thức trưng bày theo chiều ngang treo trên cao bên ngoài các gian thờ tại đình chùa, từ đường, và thường khắc từ ba đến bốn chữ đại tự mang nhiều ý nghĩa, hai bên bức hoành phi bao gồm hai bức câu đối được thể hiện theo chiều dọc trưng bày cân xứng, được chạm, khắc hoặc đắp nổi các câu đối, tùy theo nơi trưng bày như gia đình, nhà thờ họ, đình, chùa, mà hoành phi câu đối có nhiều ý nghĩa khác nhau

Ở đền Ngọc Sơn, hoành phi câu đối là một loại hình di sản có số lượng nhiều nhất với các cách thức như khắc, đục, chạm nổi được thể hiện trên các trụ cột, trên các các tấm gỗ được sơn son thiếp vàng ở chữ,… Từ ngoài cổng nghi môn trở vào đều có các câu đối được đắp nổi màu đen trên trụ cột màu trắng, các công trình như Tháp Bút, Đài Nghiên, Đình Trấn Ba…cũng như bên trong đền hoành phi câu đối đều thể hiện vẻ đẹp nơi đây, răn dạy con người và nói lên công lao của những vị thần được thờ trong di tích Có thể thống kê ra đây một số hoành phi, câu đối, đề tự tại đền:

Hai bên trụ cổng nghi môn có đắp các đôi câu đối:

臨水豋山一路漸入佳景

蕁源訪古此中無限風光

Lâm thủy, đăng sơn, nhất lộ tiệm nhập giai cảnh

Tầm nguyên, phỏng cổ, thử trung vô hạn phong quang

Dịch nghĩa là: Ngắm nước, trèo non, một lối đi vào cảnh đẹp

Tìm nguồn, thăm cội, trong đây biết mấy phong quang

Đôi câu đối như lời chào đón du khách, hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn khi vào thăm di tích

立人標表開人徑

Trang 21

Lập nhân tiêu biểu khai nhân tính

Độ thế tân lương giác thế quan

Dịch nghĩa là: Gây dựng con người thì dựng cột tiêu chỉ đường

khai hóa cho họ

Cứu giúp thế tục thì xây cầu bến làm cửa giác ngộ cho đời Trên bề mặt phía trên hai bức tường lửng phía ngoài có đắp hai câu:

Ngọc ư tử

Sơn ngưỡng chỉ

玊 於 斯 - nghĩa là: Ngọc ở đây

山 仰止 - nghĩa là: Ngửa trông núi

Phía dưới có đắp hai chữ Hán lớn là chữ “福Phúc” và chữ “碌 Lộc” được tô son Toàn bộ câu đối, đề tự với ý nghĩa khen ngợi cảnh đẹp nơi đây, về với cuội nguồn dân tộc tham cảnh nơi đây để mang lấy phúc lộc tràn đầy

Tiếp tới là Tháp Bút, mặt Bắc của ba tầng dưới có ghi ba chữ Hán “Tả thanh thiên” nghĩa là “viết lên trời xanh” Ngay bên cạnh là miếu thờ thần

thần núi, hai bên cửa miếu có đắp đôi câu đối:

故甸湖山留旺氣

新祠香 火接餘靈

Cố điện hồ sơn lưu vượng khí

Tân từ hương hỏa tiếp dư linh

Dịch nghĩa là : Hồ núi kinh thành xưa còn lưu khí thịnh

Khói hương ngôi đền mới tiếp nối dấu thiêng

Phía lớp cổng nghi môn nội cũng có đắp nổi đôi câu đối với nội dung:

人間文字無權全凴音德

天上主司有眼單看心田

Trang 22

Nhân gian văn tự vô quyền toàn bằng âm đức

Thiên thượng chủ tư hữu nhãn đơn khánh đan điền

Dịch nghĩa là: Ở chốn nhân gian sự làm ơn làm phúc một cách vô tư

Việc khảo thí nhân gian chỉ soi xét chính lòng dạ của con người Hai bên trụ nhỏ xây giả cửa nách, mặt trước đắp nổi hình rồng uốn

khúc đón đàn cá đang thi nhau vượt sóng, bên trên đắp hai chữ “龍門 Long Môn” và bên hữu là Bạch Hổ, bên trên đắp hai chữ “虎榜 Hổ Bảng”, với ý

nghĩa của từ Long môn, theo văn hóa phương Đông chỉ sự thành công trong thi cử, học trò thi đỗ được coi như là đã vượt long môn, lập được một thành tích lớn Chữ Hổ bảng nghĩa đen là bảng Hổ, nghĩa bóng là bảng ghi tên những người đỗ tiến sĩ Hai bên Long Môn, Hổ Bảng cũng có đôi câu đối vừa giải thích ý nghĩa trên vừa ca tụng tòa Tháp Bút trước mặt:

虎耪龍門善人櫞 法

硯薹筆塔大塊文章

Hổ bảng Long môn thiện nhân duyên pháp

Nghiễn đài Bút tháp đại khối văn chương

Bát đảo mặc ngân, hồ thủy mãn

Kình thiên bút thế, thạch phong cao

Trang 23

Thế bút vươn lưng trời, núi đá cao ngất

Ở giữa vòm cửa và hai chữ Nghiên đài đắp bức cuốn thư bên trong khắc bài văn chữ Hán do Nguyễn Văn Siêu soạn với ý nghĩa hàm súc Theo nhà sử học

Nguyễn Vinh Phúc dịch như sau: “ Xưa lấy gốc đát làm nghiên, chú giải Đạo Đức Kinh, nghiễn ngầm bên nghiên lớn, viết sách Hán Xuân Thu Từ đá tách

ra làm nghiên, chẳng có hình dáng Không vuông không tròn, dùng vào mọi việc thật kỳ diệu Không cao không thấp, ngôi ở chính giữa Cúi soi hồ Hoàn Kiếm, ngửa trông ngọn Bút đá ứng vào sao Thai mà làm ra mọi biến đổi

Ngậm nguyên khí mà mài hư không” Mặt sau cửa có ghi chữ Hán “玉山祠

Ngọc Sơn Từ” với nghĩa chính là Đền Ngọc Sơn Tại đây, cũng đắp một số câu đối:

紫氣光回天咫尺

紅塵望膈水東南

Tử khí quang hồi thiên chỉ xích

Hồng trần vọng cách thủy đông nam

Dịch nghĩa là: Khí tốt rọi về, trời gang tấc

Bụi hồng cách nẻo, nước đông nam

Qua Cầu Thê Húc( 栖旭橋 )là lớp cửa thứ tư gọi là Đắc Nguyệt lầu, trên cửa có khắc ba chữ “得月耬 Đắc nguyệt lâu” nghĩa là “lầu được trăng” Hai

bên cửa sổ có đôi câu đối với nội dung ca ngợi vẻ đẹp thắng cảnh nơi đây:

宛在水中央

Uyển tại thủy trung ương

Trang 24

Dịch nghĩa là: Trăng trên hồ ngắm bao nhiêu cũng không chán, cũng như dầm mình trong làn nước miên man

Hai bên cửa có khắc đôi câu đối có nội dung tả cảnh giàu hình tượng:

僑引長虹栖島岸

樓當明月在猢心

Kiều dẫn trường hồng thê đảo ngạn

Lầu đương minh nguyệt tọa hồ tâm

Cô sơn mộc ấm tam thiên giới

Chước nước thủy ba trừng cửu thập xuân

Dịch nghĩa là: Non côi cây rợp ba nghìn cõi

Vốc nước sóng yên chín chục xuân

Đình Trấn Ba ngay trước đền, trên bốn trụ cột của đình có đắp nổi đôi câu đối:

劔有餘靈光若水

文從大塊夀 如山

Kiếm hữu dư linh quang nhược thủy

Văn tòng đại khối thọ như sơn

Dịch nghĩa là: Kiếm ngậm khí thiêng ngời tự nước

Trang 25

Văn hòa trời đất thọ như non

廟貌山容相隱约

天光雲影共徘徊

Miếu mạo sơn dung tương ẩn tước

Thiên quang vân ảnh cộng bồi hồi

Với nghĩa là: Dáng miếu hình non cùng thấp thoáng, bóng mây, ánh nắng quyện bồi hồi

Tựu chung, các câu đối bên ngoài đền và các đơn nguyên kiến trúc như: Tháp Bút, Đài Nghiên, Đình Trấn Ba đều ca ngợi vẻ đẹp của trời đất nước Nam, của đền Ngọc Sơn một lối đi vào chốn linh thiêng, răn dạy đời,sống phải có đạo và đề cao sự học trong nhân gian

Đi sâu vào bên trong đền, hai trụ biểu hai bên ngay trước tiền tế đắp hai câu đối:

道有主張斗北文明之象

人同瞻仰交南禮樂之都

Đạo hữu chủ trương Đẩu Bắc văn minh chi trọng

Nhân đồng chiêm ngưỡng Giao Nam lễ nhạc chi đô

Dịch nghĩa: Đạo có chủ trương, biểu tượng cho văn minh là sao Bắc đẩu Dân cùng chiêm ngưỡng , trung tâm của lễ nhạc tại nước Nam

Trung tâm gian tiền tế có bức hoành phi “天度世回 - Hồi thiên độ thế” với

nghĩa là xoay chuyển vận trời cứu vớt đời, nhắc nhở về mục đích của việc

“tàng khí, tu thân” ở trong ngôi đền Hai bên có đôi câu đối:

Trang 26

Thiên trụ lại dĩ tôn, địa duy nại dĩ lập, duy thử hạo nhiên

Dịch nghĩa là Hạo nhiên là chỉ chí lớn hướng về điều Thiện của con người, núi nổi tiếng không vì núi cao, nước linh thiêng không vì sâu, mà chính vì vốn có chủ Cột trời nhờ đó mà cao vững nhờ sự tôn kính, dải đất mà bền chắc là nhờ có sự tạo lập, đều là do chí lớn hướng Thiện của con người Tòa trung đường gian giữa được đặt hương án, sập thờ có bày đồ tự khí

và bài trí các tượng thờ, sau tòa trung đường là hậu cung nơi thờ tự chính của đền, tại đây tiếp tục bài trí các hoành phi, câu đối chữ Hán như:

金寶劍藏秋萬水

一片冰心在玉壺

Vạn kim bảo kiếm tàng thu thủy

Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ

Nghĩa là: nghìn vàng gươm báu náu dưới nước thu, một tấm lòng thanh giữ trong bình ngọc Hay câu đối đề cao chí nghĩa, đại trung để làm việc đại nghĩa, cái chí nghĩa là gốc ở chí nhân như:

大忠以行乎大勇

至義乃本於至仁

Đại trung dĩ hành hồ đại dũng

Chí nghĩa nãi bản ư chí nhân

為國為人民文武聖神留顯號

在上在左右聰明正直贊玄機

Vị quốc, vị nhân dân, văn vũ thánh thần lưu hiển hiệu

Tại thượng, tại tả hữu, thông minh chính trực tán huyền cơ

Dịch nghĩa là: Vì đất nước, vì nhân dân, văn võ thánh thần lưu truyền hiển hách, ở bên trên, ở tả hữu, thẳng ngay sáng suốt giúp đỡ máy huyền vi

位秉圖書開傣運

Trang 27

德流翰墨燦天章

Vị bỉnh đồ thư khai thái vận

Đức lưu hàn mặc xán thiên chương

Dịch nghĩa là: Ngồi nắm giữ sách vở bản đồ, mở ra vận đẹp

Đất thấm nhuần văn thơ từ phú, rạng rỡ nền trời

Đặc biệt trong số tất cả hoành phi câu đối tại đền Ngọc Sơn, chỉ có duy nhất một câu đối được viết chữ Nôm với nội dung ca ngợi chiến công vang dội của Trần Hưng Đạo – Đức Thánh Trần với trận Bạch Đằng lịch sử, đánh bại quân Nguyên Mông giữ chủ quyền cho dân tộc:

Vũ lược luyện hung binh, Lục Thủy nghìn thu ghi sử Việt

Văn tài mưu thượng tưởng, Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên

Tất cả các hoành phi, câu đối, đề tự, biển đề còn lại đều viết bằng chữ Hán duy nhất một câu được viết bằng chữ Nôm là khối di sản có giá trị to lớn cần được bảo tồn Theo nhiều nguồn tư liệu đã nghiên cứu, thì có những hoành phi câu đối đích thực là do Nguyễn Văn Siêu hoặc các vị chủ chốt trong Hội Hướng Thiện soạn, cũng có những câu đối sau này trong quá trình tôn tạo, tu bổ di tích đã được soạn lại, và có niên đại khá muộn như thời Khải Định, Bảo Đại

Thông qua một vài trích dẫn các hoành phi, câu đối tại đây, có thể kết luận rằng đền Ngọc Sơn của Hội Hướng Thiện đã trở thành một trung tâm văn hóa lớn của Hà Nội trong thế kỷ XIX, nhờ chủ trương văn hóa giáo dục tiến bộ, mang tính nhân văn cao và phát huy truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc Tóm lại, trong bất cứ đâu trong di tích ta đều thấy sự hiện hữu của loại hình di sản Hán Nôm, với nét chữ hài hòa, bố cục hợp lý, nội dung chủ yếu đề cập tới cảnh đẹp núi non, cảnh hồ, Hồ Hoàn Kiếm với sự tích trả gươm báu, những câu răn đời đẹp đạo và ca ngợi công lao của vị thần được thờ trong di tích, tất cả đã tạo nên một tổng thể thống nhất mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc

Trang 28

1.2.2 Văn bia

Cũng như các loại hình di sản khác, văn bia là một loại hình di sản văn hóa được nảy sinh ra trong đời sống xã hội, như một nét đặc thù và là một trong những hình thức ghi lại những thông tin, những điều có giá trị, được coi như một thể văn trong thời kỳ cổ đại và trung cổ và một nét truyền thống trong văn hóa phương Đông Văn bia chứa đựng trong đó những giá trị lịch sử của dân tộc, truyền thống anh hùng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, những phong tục tập quán của nhân dân

Hiện nay, đền Ngọc Sơn có số lượng văn bia tương đối nhiều, trong

đó một tấm văn bia được đặt ở khu vực nhà trưng bày mẫu rùa, còn lại được dựng đắp trên tường của di tích, với một số bia như sau:

- Thành Thái Nhâm Dần tu tập quyên ngân phương danh bi kí

- Tu bổ Ngọc Sơn từ bi kí

- Trùng tu quyền hóa tính thị hữu bi kí

- Khải Định Bính Thìn Trùng tu nội điện, tu bổ Thê Húc kiều cập đình, quyên ngân phương danh bi kí

- Trùng tu Văn Xương miếu bi kí

Trong đó, nội dung chủ yếu của các văn bia đều phản ánh về những nhóm, người có công đức để tu bổ đền, riêng tấm bia “Trùng tu Văn Xương miếu bi kí” năm (1865) theo tư liệu thì bia có nội dung là bài kí sửa lại miếu Văn Xương, tân tạo Tháp Bút, dựng Đài Nghiên trước được đặt tại đình Trấn

Trang 29

Ba trong các năm 1859- 1863 nhưng trong chiến tranh bia bị đạn bắn pháo vỡ nát, người ta đã dọn đi và người ta cho rằng bia đã bị hất ngay xuống hồ ngay đình Trấn Ba, tuy nhiên vẫn còn bản dập và dịch nghĩa được lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm Nội dung bia do Lương Hiên Đặng Huy Tá có viết:

“…nay đền mới đã hoàn chỉnh, phía trước kề bờ nước làm đình Trấn Ba, ngụ

ý là cột trụ đứng vững giữa dòng văn, bên tả phía đông cầu Thê Húc, dựng Đài Nghiên, lại phía đông trên núi Độc Tôn xây Tháp Bút, tượng trưng cho văn vật quan bốn năm mới làm xong.”

Tiêu biểu và có giá trị là tấm bia “Ngọc Sơn Đế Quân từ kí” do tiến sĩ

Vũ Tông Phan biên soạn vào thời Nguyễn năm 1943 có ghi:

“…trước đây ông Tín Trai làng Nhị Khê nhân có đền Quan Đế tại đây bèn

mở rộng sửa thêm gọi là chùa Ngọc Sơn, phía nam trước mặt dùng dựng một gác chuông, lâu năm chùa tiêu nát tưởng như tiêu vong Ngày gần đây, hội Hướng Thiện vốn do những khoa mục lập ra…vốn thờ Văn Xương Đế Quân

mà chưa có đền Các con ông Tín Trai tình nguyện nhường lại nơi này…hội sửa lại đền Quán Đế, gỡ bỏ gác chuông cải thiện thành đền Văn Xương Đền

có ba gian, ở giữa thờ Thánh, hai bên trái mỗi bên một gian, các phòng đông tây đều năm gian bắt đầu xây dựng từ mùa đông năm Tân Sửu (1841) đến mùa thu năm Nhâm Dần (1842) thì hoàn thành”

Bia Ngọc Sơn Đế Quân từ kí - 玊山帝君祠記 của Tiến sĩ Vũ Tông

Phan, hội trưởng Hội Hướng Thiện cho khắc ngay sau một năm soạn, được dựng trên tường ngay phía bên phải tòa hậu cung nơi thờ Đức Thánh Trần và được cho là có giá trị tiêu biểu ghi sự tích và quá trình trùng tu và tạo lập đền Đặc biệt, Bia Thái Sơn thạch cảm đương, trên tấm bia chỉ khắc đúng năm chữ “Thái Sơn thạch cảm đương” Người Trung Quốc có tục dựng một hòn đá trước cửa chính đền để trừ tà ma, trấn yểm Núi Thái Sơn là núi nổi tiếng nhất trong ngọn núi nổi tiếng trong ngọn núi nổi tiếng của Trung Quốc,

là núi có vị thần toàn năng, các triều đại vua chúa xưa phải đến đây cúng tế

Trang 30

nên đá của núi cũng rất linh thiêng, như vậy tấm bia “ Thái Sơn thạch cảm đương” dựng ở phía chân Tháp Bút là một tín ngưỡng xua đuổi tà ma, ngăn cản những ma tà ảnh hưởng xấu tới miếu thờ tự này

Trên diềm một số bia đều được trang trí chạm khắc với các mô típ trang trí, tạo hình quen thuộc, gần gũi trong đời sống như đề tài các dải mây, hoa lá, các văn hoa nền gấm, một số bia được trang trí khắc nổi đầu rồng chầu chữ thọ, rồng kiểu lá hóa rồng, số còn lại không có trang trí

1.2.3 Các loại hình khác

Ngoài hoành phi, câu đối, các đề tự, biển đề và văn bia, thì các hiện vật

thuộc các loại hình di sản hán nôm khác bên trong di tích cũng có số lượng khá nhiều và đa dạng như: hương án, bảng chữ, bài vị, chuông, khánh,… cũng

là những loại hình có giá trị

* Chuông: các loại chuông bao gồm chuông cúng, tức là chuông của

người tiến cúng vào đền, chuông thờ (treo), với niên đại khoảng thời gian thời Thanh (TK 20 – 1905) , thời Nguyễn (TK 19), trên chuông có khắc nhiều chữ

Hán Nôm, với tên gọi khác nhau: Ngọc Sơn miếu chung đúc (1871), Ngọc Sơn

từ chung đúc (1924), các chuông có kích thước tương đối nhỏ, một số chuông

đã bị gỉ nhiều, mờ chữ,…Có một chuông được đúc năm Tự Đức 24 năm

1841, trên vai có đúc nổi bốn chữ Hán “Ngọc Sơn điền chung” trong bốn ô vuông

* Khánh đồng: có một khánh đồng được đúc năm 1870 với tên “Ngọc

Sơn linh từ khánh”

* Bài vị : Bao giờ một di tích cũng đều có bài vị hoặc sắc phong để

thờ tự, hiện nay chưa thấy có sắc phong nào tại đền Ngọc Sơn, việc thờ tự được thực hiện thông qua các nghi lễ hướng tới bài vị Các bài vị có niên đại vào thời Nguyễn ( thế kỷ 19) Có bốn bài vị, trong đó hai bài vị không có đề

tự, hai bài vị có đề tự bằng chữ Hán các vị thần được thờ tại đền như: “Cửu thiên khai hóa Văn Xương” – bài vị thờ thần Văn Xương, “Trần Triều bên

Trang 31

thánh Hưng Đạo đại vương thần vị” – bài vị tại ban thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại vương

* Hương án: nổi bật nhất là hương án vào thời Nguyễn (thế kỷ 20)

với trang trí đẹp, tinh xảo, bốn góc chạm bốn con dơi và đồng tiền có khắc chữ Thọ, có chạm khắc nổi niên hiệu “Dân quốc mệnh tam niên” (1914), có thể hương án do người Hoa cung tiến nên lấy niên hiệu: Trung Hoa dân quốc Ngoài ra, còn một số loại hình di sản Hán Nôm khác như bảng chữ, văn khánh,… Tất cả tạo nên một kho di sản Hán Nôm vô cùng phong phú được thể hiện trên các loại hình hiện vật, tư liệu khác nhau, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

1.3 Giá trị di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn

sử nhân văn sâu sắc, cần được bảo tồn và phát huy, quá trình dựng nước và giữ nước, đất nước ta trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh, chữ Hán Nôm cũng thấm đượm trong mình những giá trị lịch sử theo quá trình lịch sử ấy Trải qua vài thế kỷ, chữ Hán Nôm là chữ viết chính trong cuộc sống dưới các triều đại phong kiến, có một thời chỉ học con chữ để đi thi đăng khoa để làm thầy làm quan- đấy là đối với xã hội, đối với việc xây dựng đình, chùa, miếu,… thì chữ Hán Nôm đã khẳng định được vai trò của mình từ thuở mới ra đời bằng

Trang 32

việc được sử dụng trong các cách đề tự, câu đối, sắc phong, thần tích, khắc văn bia,…trong các di tích

Như đã trình bày ở trên, di tích đền Ngọc Sơn là nơi chứa đựng nhiều loại hình di sản Hán Nôm quý và chứa đựng nhiều giá trị lịch sử:

Thứ nhất, thông qua toàn bộ nội dung các hoành phi, câu đối, văn bia nơi đây đã phản ánh được sự ra đời của di tích, với lịch sử từ khi đền được khởi dựng cho tới nay, đền Ngọc Sơn gắn liền với các sự tích như: trả gươm Thần khi gắn với sự kiện vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh lên ngôi vua tuyên ngôn một nền thái bình muôn thuở

Thứ hai, giá trị lịch sử của các loại hình di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn còn thể hiện ở chỗ, thông qua các câu chữ mà ca ngợi công lao của các vị thần được thờ trong di tích, thoạt nghe tưởng như không đọng lại giá trị lịch sử nhưng cần phải chú ý rằng các vị thần được thờ như Đức Thánh Trần người có công lao to lớn đối với dân tộc, được ca ngợi bằng đôi câu đối

Nôm “ Vũ lược luyện hùng binh, Lục Thủy nghìn thu ghi sử Việt – Văn tài mưu thượng tướng, Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên” toát lên một oai

khí, một phần lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc

Tiếp theo, trên các văn bia tại di tích, có nội dung chủ yếu là ghi tên những người, tập thể công đức tu bổ cho di tích, thông qua đó có thể suy xét một phần đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa nhân dân thời bấy giờ, với số lượng người công đức, số tiền tùy theo kinh tế, mà đoán định vài nét về lịch

sử khi cần nghiên cứu

Cuối cùng, dựa vào những nét chữ được khắc, đắp nổi các câu đối,

đề tự, văn bia tồn tại nơi di tích, vài điều có thể cho thấy lịch sử kỹ thuật chế tác, điêu khắc tạo khối hình chữ trên các chất liệu như: gỗ, đá,… trong giai đoạn lịch sử trước đây và cả những giai đoạn được tu bổ lại sau này

Tóm lại, di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn rất đa dạng, chỉ cần trải qua thời gian thì các loại hình di sản Hán Nôm ở nơi đây đã nhuốm màu

Trang 33

lịch sử, hơn nữa chúng còn có nội dung, ý nghĩa quan trọng phản ánh tiến trình lịch sử tồn tại của di tích, và với những ý nghĩa đó không thể phủ nhận

di sản Hán nôm tại đây đã mang trong mình những giá trị lịch sử sâu sắc

1.3.2 Giá trị văn hóa

Thế kỷ thứ X, sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, một kỷ nguyên mới trong lịch sử được mở ra khi đất nước thoát khỏi ách đô hộ của quân Nguyên, theo dòng giao lưu văn hóa mà chữ Hán và chữ Nôm đã trở thành chữ quốc ngữ ở Việt Nam cho đến khi những kí tự La Tinh xuất hiện và thay thế chữ Nôm vào năm 1920 Trở về với khái niệm, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất do con người sáng tạo, thì di sản Hán nôm chắc chắn mang đậm giá trị văn hóa của dân tộc Xét về những loại hình di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn thì có những mặt sau:

Toàn bộ các loại hình di sản Hán Nôm tại đây, chính là khối di sản to lớn do con người sáng tạo ra, để phục vụ cho đời sống của mình mà đã tiếp thu chữ Hán và biến đổi dựa trên những gì có sẵn của chữ Hán mà sáng tạo ra chữ Nôm, nó bao hàm giá trị tư tưởng sâu sắc khi đáp ứng cho mọi hoạt động sáng tạo, việc làm đều được ghi lại bằng chữ Hán Nôm

Ta lấy một loại hình di sản nổi bật là hoành phi, câu đối để phân tích thì trong lịch sử xưa kia mỗi khi nhà ai có việc lớn như mừng tân gia, vinh quy bái tổ, mừng thọ cha mẹ,…người ta thường tặng nhau đôi câu đối, sang hơn nữa là bức hoành phi và để có được nội dung của hoành phi, câu đối thì

nó luôn đi thành bộ và lại gắn liền với lối chơi chữ trong dân gian, người giàu thì thường có những hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng, người nghèo thì có khi chẳng mơ đến hoành phi câu đối, nhưng họ vẫn xin các bậc cao niên vài

ba nét chữ trên giấy điều đỏ khi có dịp gì thì dán lên vách, lên cửa lấy làm niềm hãnh diện Lâu dần, thú chơi hoành phi câu đối đã vượt lên đời thường, trở thành văn hóa của một dân tộc, không chỉ ở mỗi gia đình và những nơi linh thiêng thờ cúng, người ta chỉ sử dụng chữ Hán Nôm trong những bức

Trang 34

hoành phi, câu đối, đại tự để thể hiện nét văn hóa của dân tộc Tuy nhiên, hiện nay ít gia đình còn lưu giữ và có thú chơi hoành phi, câu đối, vì vậy giá trị của chúng có khả năng ngày càng bị mai một Các bức hoành phi, câu đối, đề tự ở

di tích đền Ngọc Sơn cũng với ý nghĩa đó, khi mà ngoài kia chữ Hán Nôm không còn được phổ biến nhiều thì những gì còn nơi đây đã mang lại nhiều giá trị văn hóa

Các loại hình di sản Hán nôm tại di tích đền Ngọc Sơn gắn với đời sống, tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc, được thể hiện việc nội dung toát lên những ý nghĩa răn dạy con người, tín ngưỡng thờ nhân thần của nhân dân Từ những câu đối chữ Hán được thể hiện từ cổng nghi môn, Tháp Bút, cho tới các loại hình khác như văn bia, khám thờ,…đều khẳng định được vị trí nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc

Một trong những giá trị tiêu biểu mà các loại hình di sản Hán Nôm ở

di tích đền Ngọc Sơn là nét đẹp trong nghệ thuật Không thể tìm thấy ở trong loại hình di sản Hán Nôm nào tại đây lại không mang dấu ấn của nghệ thuật

Đó là nghệ thuật xây dựng, khắc, chạm, đắp nổi các chữ trên những hoành phi câu đôi, văn bia, khám thờ, bài vị,… Trên từng chất liệu khác nhau, những người nghệ nhân lại có những kỹ thuật chế tạo, vẽ tạo những hình khối tạo ra những câu chữ khắc nhau, dựa trên những di sản Hán Nôm còn lại, các nhà nghiên cứu có thể biết kỹ thuật để đưa ra những sản phẩm Hán Nôm như thế nào từ đó đoán định được niên đại của chúng có từ rất sớm hay mới được tu sửa hoặc làm lại mới hoàn toàn

Nghệ thuật trang trí cũng được tìm thấy ở các loại hình di sản Hán Nôm tại đây, trên các đôi câu đối ở cổng Nghi Môn, cổng Đài Nghiên,…hay những nơi khác ta đều bắt gặp những mô típ trang trí quen thuộc, hoặc trên những văn bia được khắc cũng xuất hiện những đề tài trang trí như: rồng, mây, dây hoa lá,… trên mỗi văn bia đều khắc niên đại năm dựng bia, chính vì

Trang 35

thế mà từ đó có thể nghiên cứu phong cách nghệ thuật, kỹ thuật tạo hình, và lịch sử mỹ thuật của dân tộc

Đối với hoành phi, câu đối được dựng trong tòa tiền tế, trung đường, hậu cung, khi nghiên cứu nội dung của chúng, nghiễm nhiên nhìn vào có thể thấy nghệ thuật chế tạo gỗ, sơn son thiếp vàng làm nổi bật câu chữ Thể loại khác như chuông, khánh,… có khắc chữ Hán Nôm thì cũng phần nào thể hiện nghệ thuật đúc chữ trên các chất liệu, cho thấy nét tài hoa của nghệ nhân sáng tạo ra chúng

Ngày nay, khi các giá trị văn hóa truyền thống – đặc biệt là di sản Hán Nôm đang dần không còn được phát huy đúng vai trò của mình, thì các loại hình di sản Hán Nôm tại di tích đền Ngọc Sơn thực sự là những tài sản quý cần được trân trọng và giữ gìn

1.3.3 Giá trị khoa học

Thông qua các loại hình di sản Hán Nôm tai di tích đền Ngọc Sơn ta thấy được những giá trị khoa học trong việc tìm hiểu cũng như nghiên cứu trong lĩnh vực lịch sử, khoa học xã hội nhân văn:

Đầu tiên, đối với văn tự được thể hiện trên các loại hình di sản Hán nôm là tư liệu quý giúp sinh viên, các nhà nghiên cứu sử học nghiên cứu về lịch sử chữ viết của dân tộc, với những ai yêu thích loại chữ Hán Nôm thì đền Ngọc Sơn với số lượng câu đối, văn tự phong phú, giàu ý nghĩa sẽ là địa điểm

di tích mà đông đảo những người quan tâm nên tới tham quan học tập và nghiên cứu

Tiếp theo, dựa vào các chữ Hán Nôm được khắc, chạm nổi trên các trụ cột, trên hoành phi câu đối, trong văn bia tại di tích giúp cho việc nghiên cứu lịch sử tồn tại của di tích Đền Ngọc Sơn, trải qua diễn trình lịch sử di tích

đã được xây dựng từ bao giờ, và đặt trong mối quan hệ giữa việc nghiên cứu các loại hình di tích lịch sử của dân tộc, tìm ra những thông tin có giá trị phục

vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu khoa học Hơn nữa, với nội dung đã trình

Trang 36

bày trong phần các loại hình di sản Hán Nôm tại di tích, giúp việc nghiên cứu lịch sử dựng nước, giữ nước thông qua kho văn thơ kim cổ, các sự kiện lịch

sử diễn ra tại đây Như tấm bia “Ngọc Sơn Từ Quân Kí” tại đây do Tiến sĩ Vũ Tông Phan biên soạn, là tư liệu quý để nghiên cứu về Hội Hướng Thiện trong lịch sử với những đóng góp rất đáng kể trong lịch sử dân tộc Và tất cả đã làm nổi bật lên những giá trị trong việc nghiên cứu truyền thống văn hóa và đấu tranh cách mạng của dân tộc

Tất cả những loại hình di sản Hán Nôm tại đây kết hợp với kiến trúc phong cảnh đã tạo cho đền Ngọc Sơn có nét đẹp lộng lẫy, và là đề tài nghiên cứu trong văn thơ, sử học suốt bao nhiêu thế hệ, trở thành lẵng hoa, nét đặc trưng của Thủ đô Hà Nội

1.3.4 Giá trị giáo dục

Hiện nay, di tích đền Ngọc Sơn là một trong hơn bốn mươi nghìn di tích lịch sử thắng cảnh của nước ta có số lượng, tài sản tư liệu Hán Nôm phong phú và mang nhiều ý nghĩa giá trị, đáng để học tập, cũng như nghiên cứu Những hoành phi, câu đối, văn bia,…tại di tích với nội dung chủ yếu giáo dục nhân cách đạo đức con người hướng tới điều thiện, tu tâm dưỡng tính, đẩy lùi cái ác vì lẽ con người không chỉ có nhu cầu hiểu biết mà còn có những nhu cầu hướng thiện, khao khát cuộc sống tốt lành và chan hòa tình yêu thương

Di sản Hán Nôm tại đây, với nội dung đi sâu vào việc ca ngợi, ví von

vẻ đẹp muôn hình, muôn vẻ của thiên nhiên, của đất nước, của Hồ Gươm, Đảo Ngọc, với Tháp Bút, Đài Nghiên, Cầu Thê Húc,…gợi lên tình yêu đất nước, yêu con người, cảnh quan, thiên nhiên, giáo dục nhân cách có ý thức bảo vệ cũng như giữ gìn các di sản của dân tộc

Giá trị nhận thức luôn là tiền đề cho giá trị giáo dục và giá trị giáo dục lại làm sâu sắc cho giá trị nhận thức, bởi vậy nhân thức và hiểu được những nội dung được thể hiện qua các loại hình di sản nơi đây, từ cảm xúc

Trang 37

cho đến nhận thức hiểu biết, với những câu đối hoành phi ca ngợi các vị thần được thờ, dấy lên tinh thần tự tôn dân tộc, giáo dục truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước

Tóm lại, trên cơ sở những di sản Hán Nôm tại đây cũng như những nội dung đề cập tới chúng mang lại những giá trị giáo dục nhân văn sâu sắc,

ca ngợi vẻ đẹp non sông, hướng con người tới chân – thiện – mỹ, những bài học quý giá về lẽ sống, nâng đỡ nhân cách con người phát triển, biết phân biệt phải trái, đúng sai, tốt xấu, hình thành trong con người lí tưởng tiến bộ, có quan hệ tốt đẹp gắn bó với cuộc sống của cá nhân mình với cuộc sống của xã hội, và là địa điểm phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu Hán Nôm cho những

ai say mê ngôn ngữ này

Trang 38

Với những nét đẹp cảnh quan thiên nhiên, nhiều giá trị tiêu biểu,

Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch đã xác định tên gọi định danh và xếp hạng Đền Ngọc Sơn và khu vực Hồ Hoàn Kiếm là di tích lịch sử và danh thắng vào năm 1980 Tại quyết định số 2383/QĐ – TTg ngày 9 tháng 12 năm 2013, Đền Ngọc Sơn và khu vực Hồ Hoàn Kiếm đã được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt trong danh sách các di tích cấp quốc gia đặc biệt được xếp hạng đợt 4 Từ khi được xếp hạng di tích năm 1980, di tích đền Ngọc Sơn đã được các cơ quan,

tổ chức, ban ngành có liên quan bảo vệ, khai thác phát huy giá trị bằng các văn bản chỉ đạo mang tính pháp lý cao

Cơ cấu tổ chức là một hệ thống chính thức về các mối quan hệ vừa độc lập vừa phụ thuộc lẫn nhau trong tổ chức, thể hiện những nhiệm vụ rõ ràng do ai làm, làm cái gì và liên kết với các nhiệm vụ khác trong tổ chức như thế nào nhằm tạo ra một sự hợp tác nhịp nhàng để đáp ứng mục tiêu của tổ chức Hiện nay, di tích Đền Ngọc Sơn được tổ chức quản lý bởi nhiều bộ phận chức năng, quyền hạn trách nhiệm khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc được bố trí sắp xếp thành từng cấp, từng đơn vị hành chính cụ thể Trong đó

Trang 39

Sở văn hóa, thể thao và du lịch Hà Nội, Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội và cuối cùng là Phòng làm việc và quản lý di tích Đền Ngọc Sơn

Hiện nay, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch là cơ quan lãnh đạo cao nhất quản lý toàn bộ di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể trên

cả nước, trong đó có di tích đền Ngọc Sơn và di sản Hán Nôm thuộc di tích

Bộ quản lý, ban hành các văn bản quản lý nhà nước về văn hóa và chỉ đạo trực tiếp xuống các cấp, phòng ban có liên quan về việc bảo vệ, kiến nghị tu sửa, bảo quản, và các vấn đề có liên quan ảnh hưởng trực tiếp tới di tích đền Ngọc Sơn

Cục Di sản văn hóa là cơ quan có chức năng tham ưu, thực hiện chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực di sản văn hóa, với cơ cấu tổ chức bao gồm: lãnh đạo Cục trong đó có Cục trưởng, Phó Cục Trưởng, các văn phòng trực thuộc: Văn phòng, Phòng quản lý bảo tàng, Phòng quản lý di tích, Phòng quản lý di sản văn hóa phi vật thể, Phòng Thông tin – tư liệu Có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động: Quản lý nhà nước về các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa ; được Bộ trưởng bộ Văn hóa Thể Thao và du lịch giao trách nhiệm chỉ đạo và hướng hoạt động phát triển sự nghiệp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa trên phạm vi cả nước, trong đó có di tích đền Ngọc Sơn

Đền Ngọc Sơn thuộc quyền quản lý trực tiếp của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội giao nhiệm vụ cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội Sở chịu sự chỉ đạo, quản lý của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đồng thời cũng chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch một trong những chức năng chính của Sở là chức năng tham ưu giúp Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội quản lý nhà nước về văn hóa trong đó mục về di sản văn hóa trong đó có di tích lịch sử: hướng dẫn và tổ chức thực hiện các dự án, bảo quản tu bổ và phục hồi di tích đã được phê duyệt, tổ chức thu nhận bảo quản các di vật, cổ

Trang 40

vật, quản lý và hướng dẫn các hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn liền với di tích, nhân vật được thờ tại đây

Một trong các văn phòng chuyên môn, nghiệp vụ là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Ban quản lý di tích danh thắng Hà Nội có nhiệm vụ quản lý, thống kê, lập hồ sơ di tích các di tích thuộc khu vực thành phố Hà Nội và 12 di tích cấp quốc gia đặc biệt cần được bảo tồn và phát huy giá trị trong đó có di tích lịch sử thắng cảnh Đền Ngọc Sơn và khu vực Hồ Hoàn Kiếm Với cơ cấu tổ chức về cơ bản bao gồm: phòng hành chính – tổng hợp, phòng truyền thông, phòng nghiệp vụ cơ bản, phòng quản lý di tích cách mạng, phòng quản lý di tích cấp quốc gia đặc biệt Với nhiệm vụ giúp giám đốc sở trong công tác tham ưu tổng hợp, trực tiếp thực hiện công tác nhân sự, quản trị tất cả các hoạt động khác có liên quan, phụ trách việc đánh máy, lưu trữ, quản lý văn bản, sử dụng nguồn kinh phí, quản lý tài chính, kê toán, thủ quỹ,…hoạt động thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn cơ bản trong lĩnh vực quản lý về di tích, giới thiệu, thuyết minh phát huy những giá trị tiêu biểu của di tích và tổ chức các hoạt động văn hóa tôn vinh dân tộc

Phía trên là các cơ quan chức năng có thẩm quyền cao đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích Đền Ngọc Sơn, tiếp theo gần và sát nhất đối với công việc quản lý bảo vệ di tích đền Ngọc Sơn là Phòng làm việc, quản lý di tích đền Ngọc Sơn, có địa điểm ngay bên trái toàn hậu cung của di tích bao gồm cán bộ quản lý, cán bộ thuyết minh và nhân viên bảo vệ Với cơ cấu tổ chức như vậy, cán bộ quản lý sẽ bao quát toàn bộ những gì thuộc về di tích, di vật, cổ vật trong đó có các loại hình di sản Hán nôm tại di tích Cán bộ thuyết minh có nhiệm vụ tổ chức và tuyên truyền giới thiệu cho khách trong và ngoài nước khi tới tham quan tại di tích những truyền thuyết, huyền thoại gắn với di

Ngày đăng: 04/06/2021, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w