1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Công tác tuyên truyền giáo dục của bảo tàng lịch sử việt nam những năm đầu thế kỷ XXI (2000 2009)

104 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là sinh viên năm cuối khoa Bảo tàng trường Đại học Văn hóa Hà Nội, để chuẩn bị cho khóa luận tốt nghiệp về nghiệp vụ Bảo tàng, dựa trên điều kiện thực tế và được sự đồng ý của giáo viên

Trang 1

Trường đại học văn hóa Hμ Nội

KHOA BẢO TÀNG

*********

Nguyễn thị như quỳnh

Công tác tuyên truyền - giáo dục

của bảo tμng lịch sử việt nam

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Như Quỳnh

Ủy ban nhân dân

Xã hội chủ nghĩaTrước Công nguyên Sau Công nguyên Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Nhà xuất bản

Văn hóa – Thông tin Chính trị quốc gia Bảo tàng Biên phòng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Phổ thông trung học

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Như Quỳnh

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của bảo tàng 6 1.1.2 Đặc trưng, chức năng của bảo tàng 11

1.2 Công tác tuyên truyền – giáo dục: Một hoạt động quan trọng của BTLSVN 14

1.2.1 Vị trí, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền – giáo dục 14 1.2.2 Chức năng tuyên truyền - giáo dục của BTLSVN với xã hội 18

CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN - GIÁO DỤC CỦA BTLSVN NHỮNG NĂM

2.1.1 Hướng dẫn tham quan: Một hình thức tuyên truyền - giáo dục truyền thống 21 2.1.2 Các phương pháp và hình thức hướng dẫn tham quan tại BTLSVN 25 2.1.3 Đối tượng khách tham quan và đội ngũ hướng dẫn viên 29

2.1.3.1 Đối tượng khách tham quan 29 2.1.3.2 Đội ngũ hướng dẫn viên 33

2.2 Công tác tuyên truyền - giáo dục thông qua các hình thức trưng bày của bảo tàng 34

2.2.1 Hệ thống trưng bày cố định của bảo tàng 34

2.3 Kết hợp công tác tuyên truyên - giáo dục với các trường phổ thông và đại học 56

2.4 Các hình thức hoạt động tuyên truyền – giáo dục khác của bảo tàng 61

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN

3.1 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế còn tồn tại trong công tác tuyên truyền -

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Như Quỳnh

3.2.3 Tăng cường phối hợp đào tạo thực tế cho sinh viên khoa Bảo tàng Trường Đại

3.2.4 Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các trung tâm du lịch 76 3.2.5 Nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn tham quan 78 3.2.6 Tăng cường điều tra nghiên cứu, đánh giá khách tham quan 79 3.2.7 Mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế 80 3.2.8 Tiến hành có hiệu quả các hình thức quảng bá thu hút khách tham quan 82

TAI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi dân tộc, quốc gia dù quá trình tồn tại và phát triển ngắn hay dài, dẫu

là vài chục năm hay vài thế kỉ đều có một lịch sử, một truyền thống riêng biệt nhằm xác định sự tồn tại của chính mình Lịch sử dân tộc ta không chỉ là những

kí ức, kỷ niệm về một thời đã qua mà nó còn là lời nhắn nhủ thiêng liêng của tổ tiên, là những kinh nghiệm được đổi, đúc kết bằng máu và nước mắt của ông cha

Nó là bài học, là hành trang và cũng là động lực để các thế hệ cháu con người Việt bước tiếp trên con đường hướng tới tương lai Việt Nam luôn tự hào là một dân tộc anh hùng với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, trải qua bao mất mát đau thương đã đứng lên kiên cường đấu tranh chống lại các thế lực xâm lăng giành lấy độc lập dân tộc

Thế kỷ XXI – thế kỷ của đa phương trời rộng mở với xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ và Việt Nam đang bước vào đó với đầy cơ hội

và thách thức Cơ hội cho một đất nước văn minh phồn thịnh hơn, nhưng làm sao

để hòa nhập mà không hòa tan, làm sao để tiếp thu những yếu tố mới một cách có chọn lọc và vẫn giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc thì đó lại là một thách thức không hề nhỏ Trong thời đại kinh tế thị trường, con người cứ hối hả lao về phía trước mà đôi khi quên một lần ngoái nhìn về quá khứ lịch sử Đặc biệt với lớp người trẻ tuổi, dường như họ say mê hứng thú với việc tiếp thu những nét văn hóa mới từ bên ngoài nhiều hơn là việc cố gắng tìm hiểu về lịch sử văn hóa dân tộc Quá khứ tạo nên Hiện tại và Tương lai, một dân tộc với bề dày lịch sử văn hóa lâu đời sẽ là nền tảng vững chắc cho dân tộc đó vươn cao, vươn xa hơn nữa trên con đường hội nhập và tạo được chỗ đứng riêng cho mình

Trang 6

Với bấy nhiêu đó, điều tôi muốn chứng minh ở đây đó là tầm quan trọng của truyền thống văn hóa lịch sử đối với mỗi dân tộc Và, đối tượng cụ thể mà tôi muốn đề cập tới chính là thiết chế Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – nơi lưu giữ và làm sống dậy các giá trị Việt

Nếu kiến thức chuyên sâu, trình độ khoa học kỹ thuật cao, tác phong năng động chuyên nghiệp, nhạy bén là những điều kiện cần cho một con người hữu ích trong thời đại mới thì những kiến thức về truyền thống văn hóa lịch sử của dân tộc là những điều kiện đủ không thể thiếu, nó sẽ có vai trò hoàn thiện nhân cách con người, khiến mọi suy nghĩ và hành động của mỗi cá thể Việt sẽ luôn quyết đoán và đúng đắn, luôn đúng với thuần phong mỹ tục của dân tộc Có thể thấy, ngoài việc giảng dạy bộ môn lịch sử trong nhà trường thì BTLSVN là điểm đến bổ ích không thể thay thế trong việc tuyên truyền - giáo dục tri thức văn hóa lịch sử dân tộc Trước sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, BTLSVN chính là một công cụ đắc lực tạo sức mạnh nội tại to lớn giúp đất nước vững bước trên con đường phát triển hội nhập

Và, để tri thức của BTLSVN đến được với công chúng, thực hiện những trọng trách lớn lao của mình mà xã hội đã giao phó, thì ta không thể không kể đến vai trò của công tác tuyên truyền – giáo dục bảo tàng Qua các hình thức tiếp cận của mình, công tác tuyên truyền – giáo dục chính là nhịp cầu nối bền vững cho bảo tàng đến được với công chúng và ngược lại, công chúng đến với bảo tàng chính là yếu tố đảm bảo sự sống cho bảo tàng vậy Rõ ràng, để bảo tàng khẳng định được vị trí, vai trò của mình với xã hội và nhất là trong xã hội hiện đại như ngày nay thì điều tất yếu là không thể thiếu vắng vai trò của công tác tuyên truyền - giáo dục bảo tàng

Trang 7

Là sinh viên năm cuối khoa Bảo tàng trường Đại học Văn hóa Hà Nội, để chuẩn bị cho khóa luận tốt nghiệp về nghiệp vụ Bảo tàng, dựa trên điều kiện thực

tế và được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn, tôi đã chọn đề tài: “Công tác tuyên truyền - giáo dục của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI (2000 – 2009)” với mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động

và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền - giáo dục của bảo tàng với xã hội, tích cực thực hiện theo lời dạy của Bác:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng công tác tuyên truyền - giáo dục của BTLSVN những năm đầu thế kỷ XXI - những thành quả đạt được cũng như những mặt hạn chế còn tồn tại

- Đưa ra phương hướng, giải pháp khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền – giáo dục của BTLSVN hiện tại và tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: hoạt động của bảo tàng gồm 6 khâu công tác, nhưng đề tài chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động của khâu công tác cuối - công tác tuyên truyền – giáo dục

- Phạm vi: Nghiên cứu thực trạng công tác tuyên truyền – giáo dục của BTLSVN trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa vào phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để xem xét, đánh giá và nghiên cứu vấn đề

Trang 8

- Phương pháp liên ngành: Bảo tàng học, giáo dục học, điều tra xã hội học, tâm lý học…

- Bên cạnh đó còn sử dụng các phương pháp so sánh – đối chiếu, phân tích – tổng hợp, lịch sử logic, thống kê – phân loại

5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu

- Hệ thống đầy đủ thông tin và nguồn tài liệu liên quan đến hoạt động

tuyên truyền – giáo dục của BTLSVN từ năm 2000 đến nay

- Nghiên cứu thực trạng, bước đầu đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền - giáo dục của bảo tàng

- Khóa luận cung cấp tài liệu tham khảo cho các bảo tàng và sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

6 Bố cục đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương I: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với chức năng giáo dục

Chương II: Thực trạng công tác tuyên truyền - giáo dục của BTLSVN những năm đầu thế kỷ XXI (2000 – 2009)

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục của BTLSVN

Thực hiện được đề tài khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo - Ths Nguyễn Sỹ Toản, trong suốt thời gian qua đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ em rất nhiều về chuyên môn Em xin cảm ơn các thầy cô trong khoa, đồng cảm ơn các cô chú, anh chị cán bộ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu chuyên môn, tài liệu thực tế giúp em hoàn thành khóa luận này

Trang 9

Do thời gian nghiên cứu và khả năng chuyên môn còn có hạn Vì vậy, khóa luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2009

Sinh viên: Nguyễn Thị Như Quỳnh

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN – GIÁO DỤC

1.1 Vài nét về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của bảo tàng

Năm 1858 Thực dân Pháp đã nổ phát súng đầu tiên chính thức xâm lược lãnh thổ Việt Nam Chúng tiến hành vơ vét bóc lột, đàn áp nhân dân ta đến cùng cực Để phục vụ cho các mục tiêu về kinh tế, chính trị và xã hội chúng đã tiến hành thành lập các cơ quan nghiên cứu trong đó có Đội khảo cổ học Đông Dương được thành lập vào ngày 15/12/1898 Đội có nhiệm vụ nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ và các công trình văn hóa ở các nước trên bán đảo Đông Dương

Ngày 20/1/1900, theo Nghị định của toàn quyền Đông Dương, Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện đã chính thức được thành lập tại Sài Gòn và đến ngày 26/2/1901 thì dời trủ sở ra Hà Nội Trong thời gian này, Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về khoa học xã hội đặc biệt là những công trình nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ học, các kết quả về kiểm kê, xếp hạng di tích và việc xây dựng một số bảo tàng đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam

Năm 1910, phòng trưng bày bảo tàng đầu tiên ra đời tại Hà Nội trực thuộc Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại ngôi nhà kiến trúc kiểu Pháp xây dựng năm 1874

Vì kiến trúc ngôi nhà đó không thích hợp để làm một viện bảo tàng cổ vật cho toàn cõi Đông Dương nên năm 1926, toà nhà này đã bị phá đi xây lại theo một kiến trúc mới và khánh thành năm 1932 Toà nhà là thành quả của sự hợp tác giữa nhà đô thị học Hébrard và kiến trúc sư Batteur, thành viên Học viện Pháp

Trang 11

quốc Viễn Đông Tòa nhà là một tác phẩm kiến trúc kết hợp cả hai phong cách kiến trúc Đông – Tây (xem ảnh 1, 2) Công trình do hãng Aviat nhận thầu Bảo tàng mang tên giám đốc học viện, nhà Ấn Độ học Louis Finot nhưng trong dân gian thường gọi là nhà Bác Cổ Toà nhà gồm một tầng lầu, một tầng trệt nổi và một tầng trệt hơi chìm Mái nhà lợp ngói ống, vòm mái cao 18,65 mét tạo sự thanh thoát và bay bướm Các tầng đều có sảnh hình bát giác Điều đáng nói là kiến trúc toà nhà hoà nhập với cảnh quan, xung quanh không có tường rào Tại một gốc si phía trước bảo tàng có ngôi miếu nhỏ, người mất của đến đây cầu khấn thường linh nghiệm

Paul Lévy, truởng bộ môn Dân tộc học Viện Bác cổ Viễn Đông mô tả cách bài trí của bảo tàng 75 năm trước: Tầng trệt chìm đặt các văn phòng, các phòng thí nghiệm, các xưởng, các phòng lưu trữ, và các phòng tiền sử Ở tầng trên, tức

là tầng trệt nổi, ngoài tiền sảnh có phòng tiền sử (thời đại đồ đồng bản địa với các

bộ trống tuyệt không đâu có) và phòng thi pháp học Đông Dương, tiếp đến là phòng các mộ kiểu Trung Quốc ở Bắc Kỳ, một phòng rộng dành cho Trung Kỳ, Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản Ở tầng lầu, tại tháp tròn tương ứng với tiền sảnh, một số vật nặn tái tạo theo đúng kích thước các hoạ tiết kiến trúc trên các công trình Đông Dương bị ảnh hưởng bởi nghệ thuật Trung Quốc và Ấn Độ Trong hai căn phòng khác của tầng này, treo ảnh của những nhà bác học đã mất hoặc còn sống, người Pháp hoặc người nước khác, đã đóng góp cho sự ra đời của Học viện Pháp quốc Viễn Đông và tạo ra tên tuổi trên khắp thế giới cho học viện Cũng tại hai phòng này, các bản đồ cho thấy các công trình do cơ quan khoa học này đã thực hiện ở Đông Dương và Viễn Đông cũng như các báo cáo trao đổi với các nơi trên thế giới Cuối cùng, một phòng rất lớn, tương ứng với phòng như vậy

ở tầng dưới, dành cho các nền văn minh của văn hoá Trung Quốc; các nền văn minh của văn hoá Ấn Độ minh hoạ bằng những tác phẩm nghệ thuật phong phú

Trang 12

Gian cuối của phòng này là phòng họp; tại đây cứ vào ngày thứ hai mùa đông và đầu xuân, giới ưu tú của Hà Nội chen nhau tới để nghe các hội viên của học viện trình bày những kết quả nghiên cứu mới nhất

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 (23/11/1945) giao nhiệm vụ bảo tồn di tích trên toàn cõi Việt Nam cho Đông Phương Bác Cổ học viện, bãi bỏ Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đồng thời đổi tên Musee’ Louis Finot thành “Quốc gia bảo tàng viện” Tháng 12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bảo tàng lại trở về thuở ban đầu thuộc Pháp

Ngày 7/5/1954 với thắng lợi Điện Biên Phủ giòn giã, cuộc kháng chiến trường kỳ chống Thực dân Pháp của dân tộc ta cuối cùng đã thành công, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng Năm 1958, Chính phủ Việt Nam chính thức tiếp quản cơ sở bảo tàng từ tay chính phủ Pháp và đặt tên là “ Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam” Bảo tàng đã nhanh chóng xúc tiến nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu hiện vật, chuyển đổi nội dung từ bảo tàng nghệ thuật thành bảo tàng lịch sử Ngày 3/9/1958 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN) chính thức mở cửa đón khách tham quan với hệ thống trưng bày hoàn toàn mới về lịch sử văn hóa Việt Nam từ thời cổ đại cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

Nửa thế kỷ qua, BTLSVN mở cửa liên tục, kể cả những năm tháng chiến tranh phá hoại, đón hơn 12 triệu lượt khách vào năm, trong đó có nhiều vị nguyên thủ Quốc gia và các nhà nghiên cứu nước ngoài Ngoài ra, mỗi năm viện tổ chức

ba cuộc triển lãm về các chuyên đề khác nhau và các cuộc trưng bày lưu động phục vụ đồng bào ở các tỉnh vùng sâu vùng xa Từ đó đến này, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn song viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh các hoạt động nghiệp vụ để ngày càng hoàn thiện, đảm bảo đúng chức năng với

xã hội

Trang 13

Về công tác nghiên cứu sưu tầm:

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhiều di chỉ văn hóa khảo cổ được phát hiện và khai quật từ trung du miền núi đến đồng bằng Bắc bộ và khu IV cũ, nhiều hiện vật được thu thập về bảo tàng, một số công trình nghiên cứu được tổ chức hội thảo và công bố, đáng chú ý là thời kỳ tiền sơ sử với sự hình thành của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc được làm rõ ràng bằng các cứ liệu khoa hoc Sau giải phóng Miền Nam, đất nước thống nhất, công tác sưu tầm tiếp tục được mở rộng từ Huế vào miền Tây Nam Bộ Bên cạnh các sưu tập mới thu được, những vấn đề thuộc thời kỳ tiền sơ sử ở Nam Bộ và Trung Bộ liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh – Champa, Óc Eo – Phù Nam cũng được nghiên cứu làm rõ thông qua các cuộc hội thảo khoa học Trong công cuộc đổi mới đất nước, ngoài việc đẩy mạnh sưu tầm ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, bảo tàng còn tiến hành sưu tầm hiện vật thông qua các cơ quan đoàn thể và cá nhân…nhằm bổ sung cho công tác chỉnh lý, nâng cấp hệ thống trưng bày

Về công tác kiểm kê bảo quản:

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ngoài việc giữ gìn kho bảo quản thông thoáng, an toàn, thực hiện tốt các công tác kiểm kê khoa học, bảo tàng còn phải thực hiện việc di chuyển, cất giấu hiện vật đến nơi an toàn tránh sự tàn phá của chiến tranh Đến nay bảo tàng đã nâng cấp cải tạo, quy hoạch toàn bộ hệ thống kho bảo quản hiện vật với các chất liệu và chế độ bảo quản của từng kho hiện vật có chất liệu khác nhau

Hệ thống kho cơ sở của bảo tàng hiện lưu giữ hơn 100.000 tiêu bản hiện vật, gồm nhiều chất liệu, nhiều sưu tập hiện vật quý hiếm: Sưu tập hiện vật thuộc các nền văn hóa Núi Đọ, Hòa Bình - Bắc Sơn, Sưu tập văn hóa Đông Sơn, Sưu tập gốm men cổ Việt Nam, Sưu tập điêu khắc đá Chămpa, Sưu tập đồ đồng thời

Lê - Nguyễn Trong những năm vừa qua, kho cơ sở của bảo tàng đã được bổ

Trang 14

sung nhiều sưu tập mới có giá trị, đặc biệt là từ khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Nam Bộ và ngoài biển Đông từ các con tàu đắm cổ Hệ thống kho cơ sở được sắp xếp khoa học, trang thiết bị hiện đại, đạt được chuẩn mực của kho lưu giữ hiện vật bảo tàng

Về công tác trưng bày tuyên truyền:

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã liên tục tiến hành các đợt chỉnh lý, nâng cấp hệ thống trưng bày dựa trên kết quả của các khâu nghiệp vụ trước đó Trong những năm từ 1958 – 1975, mặc dù đất nước gặp nhiều khó khăn nhưng công tác trưng bày tại bảo tàng vẫn được chú trọng chỉnh lý Nhiều hiện vật, sưu tập hiện vật mới được bổ sung trong các đợt chỉnh lý hệ thống trưng bày năm 1958, 1960 – 1961, 1970 – 1972 đã làm sáng tỏ hơn về nội dung lịch sử các thời kỳ Đặc biệt

là cuộc chỉnh lý nâng cấp hệ thống trưng bày trong 3 năm 1998 – 2000 đã làm thay đổi hẳn diện mạo của bảo tàng cả về hình thức và nội dung BTLSVN còn xây dựng nhiều sưu tập trưng bày lưu động để đưa đi phục vụ các tỉnh, thành phố

kể cả những vùng đang trong vòng khói lửa chiến tranh ác liệt nhằm cổ vũ khích

lệ tinh thần chiến đấu của chiến sỹ, người dân Sau năm 1975 đến nay bảo tàng

đã đưa nhiều bộ sưu tập đi trưng bày lưu động khắp mọi miền Tổ quốc, không chỉ nhằm giới thiệu về truyền thống lịch sử, tinh thần yêu nước của nhân dân ta mà cong kịp thời phục vụ các sự kiện lịch sử, chính trị quan trọng cũng như các Nghị quyết đường lối của Đảng và Nhà nước

Công tác đối ngoại luôn được chú trọng, mở rộng giao lưu, hợp tác với các bảo tàng, các tổ chức văn hóa trên thế giới Bảo tàng thường xuyên trao đổi các ấn phẩm chuyên ngành với hơn 100 bảo tàng và tổ chức văn hóa Tham gia các cuộc hội thảo khoa học quốc tế: "Sự phát triển văn hóa - xã hội trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Châu Á” năm 1994; "Bảo tồn hiện vật khảo cổ” năm 1996; "Vai trò của bảo tàng trong thế kỷ XXI” năm 1997 Tiếp nhận, triển khai

Trang 15

các dự án: Tổ chức SIDA (Thuỵ Điển) về in tờ gấp giới thiệu nội dung hệ thống trưng bày; Tổ chức các nước có sử dụng tiếng Pháp về giảng dạy đại học và nghiên cứu (AUPELF-UREF) tài trợ cho việc làm các phụ đề; phương tiện nghe nhìn phục vụ cho công tác tuyên truyền giáo dục, qua quỹ Viện trợ Văn hóa (ODA) của Chính phủ Nhật Bản Bảo tàng cũng đã tổ chức nhiều đoàn cán bộ

đi tham quan, khảo sát tại một số bảo tàng ở Trung Quốc, Singapore, Indonesia, Malayxia, Laos, Brunei

Trong quá trình xây dựng và trưởng thành BTLSVN đã trở thành một trung tâm văn hoá - khoa học lớn của đất nước Hàng chục triệu người ở khắp mọi miền đất nước và hàng trăm ngàn khách quốc tế từ mọi châu lục đã đến tham quan, trong đó có nhiều vị nguyên thủ quốc gia, các nhà lãnh đạo cao cấp đã ghi lại những tình cảm tốt đẹp của mình đối với lịch sử dân tộc Việt Nam trong những trang sổ vàng lưu niệm

1.1.2 Đặc trưng, chức năng của bảo tàng

Đặc trưng: Bảo tàng là một hiện tượng xã hội, ra đời, tồn tại và phát triển phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, đáp ứng các nhu cầu của xã hội, vì vậy thiết chế bảo tàng cũng mang trong mình những nét riêng biệt, những dấu hiệu, những đặc trưng cơ bản để phân biệt nó với các thiết chế, các cơ quan, các viện nghiên cứu hoặc các trung tâm văn hóa giáo dục khác

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một bảo tàng công cộng thuộc loại hình khoa học xã hội, chuyên ngành lịch sử với các tài liệu hiện vật gốc phán ánh chặng đường lịch sử đi lên của dân tộc Việt Nam Đến với BTLSVN, công chúng

sẽ được tiếp cận với hệ thống hiện vật có giá trị lớn về lịch sử, văn hóa Đó là các tài liệu hiện vật vô cùng quý hiếm và độc đáo mà công chúng khó có thể tiếp cận được ở bất kỳ nơi đâu ngoài BTLSVN Hệ thống tài liệu hiện vật mà bảo tàng có được là những chứng nhân lịch sử chân thực đáng tin cậy, minh chứng cho sự tồn

Trang 16

tại của các nền văn hóa, phản ánh quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước không ngừng nghỉ của cha ông Tất cả đã tạo nên hình ảnh một Việt Nam anh hùng, một dân tộc đậm giàu các giá trị văn hóa bản địa Và đó cũng chính là đặc trưng riêng có của BTLSVN

Chức năng: Thuật ngữ “chức năng” trong tiếng Việt được giải thích nói rõ

về vai trò, nhiệm vụ của một người nào đó, một vấn đề nào đó Đề cập đến chức năng tức là đề cập đến vị trí, vai trò và nhiệm vụ cụ thể của một hiện tượng nào

đó trong xã hội Bảo tàng là một hiện tượng xã hội, vì vậy nó cũng có những vai trò, nhiệm vụ với xã hội Nếu như đặc trưng là một hằng số bất biến thì chức năng lại là một yếu tố khả biến, nó thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ lịch sử, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội Do đó, ngành bảo tàng nói chung và BTLSVN nói riêng đã luôn tích cực không ngừng hoàn thiện mình để đảm bảo thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình mà xã hội đã giao phó Thực hiện tốt các chức năng của thiết chế mình với xã hội cũng có nghĩa là bảo tàng đang duy trì sự sống cho mình vậy

BTLSVN qua nửa thế kỷ hoạt động đã ngày càng trưởng thành, phát triển

và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của toàn xã hội Bảo tàng đã chứng minh, khẳng định sự tồn tại thiết yếu của mình bằng việc luôn nỗ lực thực hiện tốt các chức năng của mình với xã hội như:

Nghiên cứu khoa học là chức năng trước tiên của bảo tàng, thực hiện chức

năng này BTLSVN vừa là thiết chế văn hóa, là cơ quan đồng thời là một trung tâm nghiên cứu khoa học BTLSVN luôn chú trọng công tác nghiên cứu nhằm phát hiện ra những thông tin khoa học mới, làm sáng tỏ các vấn đề văn hóa lịch

sử vẫn còn đang là ẩn số Cán bộ bảo tàng chính là những con người đang ngược dòng thời gian quay trở lại quá khứ, tìm kiếm những mảnh ghép còn thiếu sót để bức tranh văn hóa lịch sử dân tộc ngày một hoàn thiện với đầy đủ đường nét và

Trang 17

màu sắc Cán bộ bảo tàng tiến hành nghiên cứu các tài liệu hiện vật gốc nhằm giải mã các thông mà hiện vật chứa đựng, xác định không gian – thời gian, giá trị

ý nghĩa của hiện vật Từ những kết quả đó, bảo tàng lại tiếp tục nghiên cứu để ứng dụng nó vào thực tiễn hoạt động của bảo tàng

Chức năng giáo dục, tuyên truyền tri thức khoa học là chức năng quan

trọng với mỗi bảo tàng Đến với BTLSVN công chúng sẽ được lĩnh hội nguồn tri thức về văn hóa lịch sử dân tộc một cách chân thực và sinh động nhất thông qua các tài liệu hiện vật gốc Để thực hiện tốt chức năng của mình, BTLSVN trong những năm qua đã luôn đổi mới, đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục: hướng dẫn tham quan, trưng bày chuyên đề, trưng bày lưu động phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa của đồng bào khắp mọi miền Tổ quốc, tổ chức hội thảo khoa học, nói chuyện chuyên đề, tổ chức các lớp học tại bảo tàng, tổ chức trình diễn nghệ thuật dân gian….đưa bảo tàng ngày càng đến gần hơn với công chúng

BTLSVN thực hiện chức năng bảo quản, giữ gìn kho báu di sản văn hóa

của dân tộc, ngăn chặn, phòng ngừa những yếu tố của môi trường tự nhiên và xã hội tác động ảnh hưởng đến sự tồn tại lâu dài của các tài liệu hiện vật vô giá đó Các cứ liệu lịch sử sẽ không bao giờ mất đi và luôn được phát huy giá trị

Thực hiện chức năng tài liệu hóa khoa học, BTLSVN tiến hành nghiên

cứu các sự kiện, hiện tượng trong lịch sử, ghi chép miêu tả và hệ thống hóa chúng thông qua tất cả các văn bản pháp quy của ngành

Cuối cùng là chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức văn hóa.Đây là chức năng được bổ sung cho bảo tàng trong thời kỳ mới để đáp ứng nhu cầu của

xã hội BTLSVN là một trung tâm thông tin cung cấp các tri thức khoa học lịch

sử có độ tin cậy cao.Bằng việc tổ chức các hoạt động văn hóa, chương trình khám phá, biểu diễn nghệ thuật…BTLSVN còn là địa chỉ cho công chúng tìm đến giải

Trang 18

trí, thưởng thức văn hóa, công chúng sẽ được chơi mà học, học mà chơi, vừa chơi vừa dung dưỡng tinh thần

Trong thời kỳ hiện đại, BTLSVN đã tham gia và có những đóng góp tích cực vào việc tổ chức sử dụng thời gian rảnh rỗi để đáp ứng nhu cầu giải trí cho công chúng sau những giờ lao động căng thẳng Đồng thời cho phép công chúng được sử dụng các sản phẩm và các phương tiện nghe nhìn khác của bảo tàng, được hưởng lợi từ các dịch vụ văn hóa do bảo tàng tổ chức

1.2 Công tác tuyên truyền – giáo dục: Một hoạt động quan trọng của BTLSVN

1.2.1 Vị trí, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền – giáo dục

Trong nhiều năm, ngành Bảo tàng Việt Nam vẫn chưa có tên gọi thống nhất cho khâu công tác này, nó tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau như: công tác tuyên truyền – giáo dục, công tác quần chúng, phổ biến tri thức khoa học… Thời gian gần đây, tên gọi được coi là đúng nhất và được sử dụng phổ biến nhất đó là

“công tác giáo dục”, vì nó là sự phản ánh hoạt động hai chiều và phù hợp với giá trị thực tế của công việc mà bảo tàng tiến hành Hàng loạt các bảo tàng lớn đã đổi tên phòng chức năng của mình, như: Bảo tàng Hồ Chí Minh, từ phòng Tuyên truyên – Giáo dục, nay đã đổi thành phòng Giáo dục; Bảo tàng Cách mạng Việt Nam từ phòng Tuyên truyền và Đối ngoại, nay đã đổi thành phòng Giáo dục; Bảo tàng Dân tộc học nay cũng đặt lại tên là phòng Giáo dục Tuy nhiên, BTLSVN cho đến nay vẫn giữ nguyên tên gọi “phòng Trưng bày – Tuyên truyền”, bởi bản chất của các hoạt động vẫn nằm ở cả hai cấp độ giáo dục và tuyên truyền chứ chưa mang tính chất giáo dục một cách rõ rệt Vì vậy, trong bài viết của mình, tôi

đã không sử dụng tên gọi “công tác Giáo dục” mà thay vào đó là “công tác Tuyên truyền – Giáo dục” nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác Tuyên truyền – Giáo dục của BTLSVN đã diễn ra từ năm 2000 đến nay

Trang 19

Công tác tuyên truyền – giáo dục được hiểu là khâu công tác cuối trong chu trình hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng Thực hiện các hình thức tiếp cận với công chúng để phát huy giá trị hiện vật Khâu công tác này xuất hiện từ khi bảo tàng công cộng ra đời Bảo tàng công cộng Louver ra đời năm 1791 ở Pháp dựa trên tinh thần dân chủ phát triển mạnh mẽ từ cuộc Cách mạng Tư sản Pháp năm

1789 Trước đó, ở Anh năm 1683 xuất hiện bảo tàng công cộng Ashmolean Ban đầu nó chỉ là một bộ sưu tập của nhà sưu tầm Ashmole (một nhà hóa học), cuối đời ông đã tặng lại cho Đại học Oxford với điều kiện trường phải thành lập một bảo tàng để cho mọi tầng lớp công chúng đến chiêm ngưỡng bộ sưu tập này Như vậy, bảo tàng đã mang tích chất là một địa điểm công cộng phục vụ cho lợi ích của toàn dân

“Các di sản văn hóa không những phải được giữ gìn cẩn thận mà còn phải

giữ để phục vụ cho việc tuyên truyền khoa học và giáo dục quần chúng Các di sản văn hóa đó không có ý nghĩa gì nếu chúng ta không tổ chức việc tham quan

để tuyên truyền về nó” [ 13 ] Công tác tuyên truyền - giáo dục là một hoạt động nghiệp vụ góp phần quan trọng thực hiện chức năng giáo dục – chức năng cơ bản của bảo tàng của BTLSVN nói riêng và hệ thống các bảo tàng nói chung Bằng các hình thức hoạt động của mình như: hướng dẫn tham quan, nói chuyện chuyên

đề, trưng bày lưu động, sinh hoạt tập thể,… công tác tuyên truyền - giáo dục thực

sự đã trở thành chiếc cầu nối quan trọng đem BTLSVN đến với công chúng Bảo tàng thông qua công tác tuyên truyền - giáo dục mà tiếp xúc phục vụ công chúng, khẳng định vai trò của mình trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa lịch sử dân tộc

Công tác tuyên truyền – giáo dục văn hóa khoa học cho quần chúng theo phương pháp bảo tàng là để người xem trực tiếp quan sát hiện vật gốc, đem lại sức thuyết phục mạnh đối với người xem Việc xem xét, tìm hiểu các sự kiện lịch

Trang 20

sử ở dạng tự nhiên là điều độc đáo nhất của phương pháp tuyên truyền – giáo dục bảo tàng, vì những di vật văn hóa gốc bao giờ cũng gây cho người xem những cảm xúc và tình cảm mạnh mẽ

Công tác tuyên truyền – giáo dục tư tưởng của bảo tàng đều lấy lý luận Mác – Lênin làm kim chỉ nam cho mọi hành động, dựa vào nhiệm vụ chính trị, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử làm cơ sở hoạt động, đồng thời phải dựa vào các công trình nghiên cứu khoa học Qua công tác tuyên truyền – giáo dục, BTLSVN đã thực sự tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng văn hóa tư tưởng Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ III, khi nói về nhiệm vụ

và đường lối của Đảng, nghị quyết đại hội đã chỉ rõ “Báo chí xuất bản, thông tin

truyền thanh, điện ảnh và các công tác văn hóa khác phải thực sự trở thành vũ khí ngày càng sắc bén của giai cấp công nhân trên mặt trận tư tưởng và chính trị Cần ra sức nâng cao tính tư tưởng, tính chiến đấu, tính quần chúng của công tác đó Chú trọng công tác thư viện, Bảo tồn bảo tàng” Và trong nghị quyết Đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cũng đã nêu: “Cố gắng đảm bảo các

điều kiện vật chất kỹ thuật để đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, công tác bảo tồn bảo tàng…” Như vậy, qua các văn kiện của Đảng và Nhà nước,

chúng ta có thể thấy bảo tàng là một bộ phận của cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng văn hóa Công tác tuyên truyền – giáo dục là một khâu rất quan trọng nhằm phát huy tác dụng của bảo tàng và chỉ có công tác tuyên truyền – giáo dục mới thực hiện được chức năng giáo dục cho quảng đại quần chúng

BTLSVN thông qua công tác tuyên truyền – giáo dục giúp nhân dân hiểu được truyền thống đấu tranh anh dũng của cha ông từ thời Hùng vương dựng nước đến cuộc kháng chiến thần thánh chống lại thực dân Pháp Gợi lên cho người xem thấy được sức mạnh lớn lao của một dân tộc đất không rộng, người không đông nhưng đã đánh bại bao thế lực xâm lăng lớn hơn mình gấp bội, thấy

Trang 21

được nền văn hóa giàu bản sắc truyền thống và chủ thể của nó chính là cái gốc tạo nên sức mạnh phi thường đó

Công tác tuyên truyền - giáo dục thể hiện sự linh hoạt, năng động trong hoạt động của bảo tàng, vì thông qua công tác tuyên truyền - giáo dục mà BTLSVN có thể đa dạng hóa các hình thức hoạt động của mình, đồng thời mở rộng mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân

Công tác tuyên truyền - giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ, kế thừa và phát huy kết quả của các khâu công tác nghiệp vụ trước Năm khâu công tác nghiệp vụ trước chính là điều kiện, tiền đề, nếu chúng được thực hiện nghiêm túc và có kết quả cao thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền – giáo dục hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Bởi, sau 5 khâu công tác thì hiện vật đã trải qua quy trình xử lý khoa học của bảo tàng và sẵn sàng cho nhiệm vụ tuyên truyền – giáo dục tới công chúng

Công tác tuyên truyền - giáo dục cũng có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động của bảo tàng, hỗ trợ đắc lực cho các khâu công tác nghiệp vụ trước đó

Ở khâu công tác tuyên truyền – giáo dục, BTLSVN sẽ có được các thông tin phản hồi trực tiếp từ phía khách tham quan và đó sẽ là cơ sở cho bảo tàng tự đánh giá, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của mình Có thể thấy đây

là mối quan hệ hai chiều mang tính biện chứng

Công tác tuyên truyền - giáo dục với các hoạt động thiết thực của mình đã đưa BTLSVN ngày càng đi sâu hơn nữa vào đời sống nhân dân, khẳng định vai trò không thể thay thế của thiết chế bảo tàng với sự tồn tại của xã hội loài người, đúng như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) đã nêu rõ:

“Mục đích của bảo tàng là tuyên truyền giáo dục quần chúng Vì vậy tất cả mọi hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng đều lấy việc phục vụ cho các đoàn thể quần

Trang 22

chúng làm thước đo cho chất lượng hiệu quả của mình Không có công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng thì công tác bảo tàng sẽ mất hết ý nghĩa”

1.2.2 Chức năng tuyên truyền - giáo dục của BTLSVN với xã hội

Bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ quá khứ, bảo quản hiện vật mà còn là công cụ giáo dục và phát triển xã hội Thiết chế bảo tàng đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu với xã hội loài người, bởi nó nắm giữ vai trò lớn lao luôn cần có cho bất kỳ thời đại nào, loại hình xã hội nào, đó là vai trò giáo dục Bảo tàng là thiết chế xã hội đặc thù, vì vậy chức năng giáo dục của nó cũng mang tính riêng biệt, khác biệt so với các thiết chế văn hóa giáo dục khác Bảo tàng sử dụng công cụ đặc biệt để tuyên truyền - giáo dục, đó chính là các tài liệu hiện vật gốc, nó là kênh thông tin đem đến cho công chúng những hiểu biết và nhận thức khoa học một cách dễ dàng nhất Quá trình nhận thức tại bảo tàng mang tính trực quan sinh động bởi các tài liệu hiện vật gốc là những hiện vật thật

có khối lượng, kích thước, màu sắc và những đặc điểm riêng Do đó, khi tiếp thu thông tin từ hiện vật thì nhận thức mang tính tích cực, trực quan, dễ hiểu hơn rất nhiều so với hệ thống lý thuyết và các khái niệm trừu tượng

Đứng trước bối cảnh lịch sử mới đầy thách thức, văn hóa ngày càng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Tại Hội nghị thưởng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Đan Mạch, tháng 3 năm 1995, các

Nguyên thủ quốc gia cũng đã thừa nhận rằng, “các nhân tố văn hóa là những

điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững, là một phần không thể tách rời với các chiến lược phát triển” Cùng với tinh thần đó, tại Đại hội VIII, Đảng ta đã đề

cập đến vấn đề văn hóa và xác định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,

vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội” và định hướng

phát triển văn hóa trên hai nội dung cơ bản: “phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

và tiếp thu tinh hóa nhân loại” Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một thiết chế văn

Trang 23

hóa – giáo dục đặc biệt, đã cùng với các thiết chế văn hóa – khoa học – giáo dục khác thúc đẩy sự phát triển đi lên của kinh tế - xã hội nước nhà, gìn giữ và phát huy bản săc văn hóa dân tộc

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với hệ thống tài liệu hiện vật về các nền văn hóa bản địa truyền thống, về công cuộc đấu tranh dựng nước - giữ nước của dân tộc qua hàng ngàn năm lịch sử, đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục – đào tạo của đất nước BTLSVN thực sự đã trở thành trường học thứ hai của toàn dân , nơi giáo dục phổ biến tri thức văn hóa lịch sử dân tộc Càng đặc biệt quan trọng hơn nữa khi tình trạng hiểu biết về tri thức văn hóa lịch

sử dân tộc của thế hệ trẻ hiện nay đã đến mức đáng phải báo động, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó qua mức điểm thi bộ môn Lịch sử trong các kỳ thi đại học, cao đẳng những năm gần đây đã ngày càng thấp, với phần lớn là điểm dưới mức trung bình

BTLSVN có vai trò nâng cao lập trường tư tưởng, đạo đức, bồi dưỡng văn hóa, rèn luyện nhân cách cho công chúng Với hệ thống tài liệu hiện vật phong phú gắn liền với hình ảnh Việt Nam qua từng chặng đường lịch sử, công chúng đến với bảo tàng sẽ được tiếp xúc, cảm nhận và sống trong không khí lịch sử hào hùng của dân tộc Và từ đó, tình yêu quê hương đất nước, ý thức tự tôn tự hào dân tộc sẽ thức dậy và chi phối mọi hành động, suy nghĩ của họ BTLSVN đã trở thành một thiết chế xã hội quan trọng góp phần to lớn trong việc thực thi nhiệm

vụ của Đảng đề ra: “Nhiệm vụ trọng tâm văn hóa nghệ thuật nước ta là góp phần

xây dựng con người Việt Nam có trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, có lối sống,

có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng ngang tầm với sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Công tác bảo tồn bảo tàng có vai trò giáo dục sâu sắc quần chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ về lòng yêu nước và tình cảm Cách mạng”

Trang 24

Công cuộc đổi mới của đất nước muốn thành công đòi hỏi phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, phải khai thác triệt để sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn đang được trân trọng lưu giữ, bảo quản và giới thiệu tại bảo tàng Thông qua công tác tuyên truyền - giáo dục, BTLSVN đóng vai trò là cơ quan tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng, đã và đang tích cực giáo dục, vận động quần chúng xây dựng nếp sống, môi trường văn hóa lạnh mạnh

Với hệ thống tài liệu hiện vật quý giá của mình, BTLSVN sẽ là ngôn ngữ

có sức truyền đạt nhanh nhất, hiệu quả nhất giúp bè bạn quốc tế thêm hiểu, thêm mến phục con người và đất nước Việt Nam anh hùng Với công tác tuyên truyền - giáo dục ngày càng được đẩy mạnh, BTLSVN sẽ là nhịp cầu nối giữa Việt Nam

và thế giới, là nơi mở rộng vòng tay bè bạn từ khắp năm châu bốn biển, tích cực

thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước: “Việt Nam muốn làm bạn

với tất cả các nước vì hòa bình, hợp tác cùng phát triển”

BTLSVN chính là nơi hội tụ của tinh hoa văn hóa cùng truyền thống lịch

sử ngàn đời của dân tộc Cảm nhận sâu sắc những truyền thống đó, con người hiện đại hôm nay sẽ kế tục sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nguyên tắc hòa nhập mà không hòa tan, vừa tiếp tinh hoa văn hóa của nhân loại lại vừa giữ vững các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Bởi trong xu thế toàn cầu hiện nay chúng ta rất dễ đánh mất mình, rất dễ trở thành bóng mờ hoặc bản sao của người khác Sự hiện hữu của BTLSVN sẽ là tấm chắn bảo vệ, là trụ đỡ vững chắc, giữ gìn sự cân đối hài hòa cho một Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc với một Việt Nam đang đi lên trên con đường phát triển hội nhập

Trang 25

CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN - GIÁO DỤC CỦA BTLSVN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2000 - 2009)

2.1 Công tác hướng dẫn tham quan bảo tàng

2.1.1 Hướng dẫn tham quan: Một hình thức tuyên truyền - giáo dục truyền thống

Ngày nay, thiết chế Bảo tàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của cộng đồng, nó được coi là ngôi nhà cất giữ những báu vật của loài người, lưu giữ ký ức của dân tộc, của nền văn hóa, của những ước mơ và hy vọng của con người trên toàn thế giới Để bảo tàng phát huy hết sực mạnh vốn

có, đảm bảo thực hiện đúng chức năng, hoàn thành tốt nhiệm vụ của thiết chế mình với xã hội, ngành bảo tàng nói chung và BTLSVN nói riêng đã luôn tích cực đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền – giáo dục nhằm đáp ứng những nhu cầu học tập, thưởng thức văn hóa ngày càng cao của công chúng BTLSVN đã luôn chú trọng nghiên cứu tìm hiểu, đưa ra các hình thức tuyên truyền – giáo dục mới nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu xã hội từ thực tế khách quan

Tuy nhiên, trong tất cả các hình thức thì hướng dẫn tham quan là hình thức gắn liền với công tác tuyên truyền - giáo dục của bảo tàng ngay từ những ngày đầu tiên và luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu không thể thay thế Hướng dẫn tham quan là hình thức tuyên truyền - giáo dục mang tính truyền thống, chủ yếu của tất cả các bảo tàng, bởi tham quan có mục đích rõ ràng về chính trị, giáo dục, văn hóa nghệ thuật, có dẫn chứng xác đáng về mặt khoa học lịch sử

Hướng dẫn tham quan là sự giới thiệu, thuyết trình một cách khoa học

Trang 26

tàng với những thông tin khoa học, lịch sử, văn hóa hàm chứa trong hiện vật làm dẫn chứng cứ liệu truyền đạt và tạo điều kiện cho khách tham quan lĩnh hội tri thức về các vấn đề của tự nhiên và xã hội tùy theo nội dung của bảo tàng

Khách tham quan khi đến với bảo tàng sẽ lĩnh hội tri thức bằng việc sử dụng tổng hợp các giác quan mà chủ yếu là thị giác và thính giác Kết hợp giữa nghe thuyết minh và nhìn hiện vật, khách tham quan sẽ có được nhận thức sâu sắc, rõ ràng về vấn đề mà mình đang tiếp cận Việc tiếp thu tri thức sẽ trở nên đơn giản dễ dàng hơn rất nhiều, vì phương tiện mà các cán bộ thuyết minh sử dụng để truyền đạt thông tin tới khách tham quan không phải là các bài giảng khô khan, các khái niệm thuật ngữ trìu tượng, mà chính là hệ thống tài liệu hiện

vật bảo tàng phong phú, sinh động, được sử dụng trong trưng bày “Hiện vật bảo

tàng là nguồn nhận thức trực tiếp cảm tính cho nhận thức của con người, tiêu biểu về văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng những hiện vật về thế giới tự nhiên xung quanh ta, bản thân nó chứng minh cho một sự kiện, hiện tượng nhất định nào đó trong quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên phù hợp với loại hình bảo tàng được sưu tầm, bảo quản nhằm phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục khoa học” [ 13 ] Hiện vật bảo tàng

là phương tiện giáo dục đặc biệt, riêng có của bảo tàng, nó có các thuộc tính hàm chứa thông tin, có thể bảo quản lâu dài, thuộc tính hấp dẫn và gây xúc động mạnh cho người xem Hiện vật bảo tàng mang tính vật thật, do đó quá trình nhận thức tại bảo tàng mang tính trực quan sinh động, tích cực chủ động Hiện vật bảo tàng

là các hiện vật gốc, là những vật chứng chắc chắn nhất, là chứng nhân sinh động

và đích thực của lịch sử, nó chứng minh cho sự tồn tại của một hiện tượng thiên nhiên, một sự kiện lịch sử của tiến trình phát triển xã hội loài người, mỗi hiện vật gốc đều mang dáng dấp, bộ mặt của lịch sử của từng thời đại, do đó nó sẽ tạo những cảm xúc lạ và gây xúc động mạnh sâu sắc khó phai mờ trong tâm tưởng của khách tham quan khi tiếp xúc với chúng

Trang 27

Các hiện vật bảo tàng được sử dụng trong hệ thống trưng bày đều có êtyket giới thiệu những thông tin khái quát về hiện vật, nhưng nó khó có thể đem lại nhận thức một cách toàn diện đầy đủ thông tin cho khách tham quan Thực tế cho thấy khách tham quan khi đến bảo tàng nhất là trẻ nhỏ và khách nước ngoài hầu như chỉ có thể đánh giá hiện vật qua những đặc điểm bên ngoài, những tri thức lĩnh hội được chỉ mang tính khái quát, không rõ ràng và gặp khó khăn trong việc kết nối thông tin giữa các phần trưng bày lại với nhau Một hiện vật gốc bao giờ cũng có hai mặt: một mặt được bộc lộ ra bên ngoài, được gọi là hình thức của hiện vật, như hình dáng, màu sắc, kích thước, trọng lượng, chất liệu, kỹ thuật chế tác, hoa văn trang trí… - là mặt mà khách tham quan có thể dễ dạng nhận biết, đánh giá Còn mặt kia là những giá trị ẩn kín bên trong hình thức, nó bao hàm nội dung lịch sử, thông tin khoa học tạo ra bản chất của hiện vật Hình thức và nội dung lịch sử của hiện vật đều có giá trị, nhưng giá trị lớn nhất và quan trọng nhất thuộc về bản chất của hiện vật Chính phần bản chất, phần nội dung lịch sử là linh hồn của hiện vật, cũng là phần mà khách tham quan khó có thể nhận thức, khai thác thông tin nếu như không được hướng dẫn tham quan Các hướng dẫn viên sẽ giúp khách tham quan giải mã các ẩn số thông tin hàm chứa trong hiện vật Các hiện vật vô tri vô giác, khi ta đi ngang qua và dừng lại ngắm nhìn trong giây lát, tưởng chừng như chẳng có giá trị gì to tát và khó có thể đọng lại ký ức trong ta Nhưng, qua công tác hướng dẫn tham quan với vai trò của người cán bộ thuyết minh, các hiện vật đó đã sống lại một cách sinh động lạ thường, mang trong mình sứ mệnh lịch sử lớn lao.Ví dụ như chiếc cọc gỗ lim trong trận chiến Bạch Đằng đã minh chứng cho chiến thắng oai hùng chống lại quân Nam Hán của dân tộc ta cách đây cả ngàn năm lịch sử Những chiếc trống đồng Đông Sơn với hoa văn trang trí độc đáo, tinh xảo đã chứng minh cho sự tồn tại của một nền văn hóa nổi tiếng khắp thế giới, và đã trở thành biểu tượng cho nền văn hóa Việt

Trang 28

Hệ thống trưng bày của BTLSVN nói riêng và của các bảo tàng nói chung được tổ chức theo một trình tự hợp lý, có kết cấu chặt chẽ theo một tiêu chí nào

đó nhằm mục đích truyền tải các vấn đề của tự nhiên và xã hội trên cơ sở hệ thống tài liệu hiện vật Công tác hướng dẫn tham quan sẽ giúp khách tham quan định hướng nhận thức một cách rõ ràng, mạch lạc, có thể gắn kết nội dung các phần trưng bày lại với nhau, hiểu được ý đồ trưng bày của bảo tàng về nội dung

và nghệ thuật Mặt khác, qua hướng dẫn tham quan, cán bộ thuyết minh có thể tập trung sự nhận thức của công chúng vào những vấn đề trọng điểm mà bảo tàng muốn thể hiện

Khách tham quan đến với bảo tàng ngày càng đông đảo và thuộc nhiều thành phần khác nhau Do đó, trình độ nhận thức và mục đích tham quan bảo tàng cũng khác nhau, có thể là giải trí thưởng thức văn hóa, bổ sung tri thức vào vốn sống hoặc phục vụ cho nghiên cứu, học tập chuyên sâu…Vì vậy, cán bộ thuyết minh sẽ tùy vào trình độ nhận thức, vào mục đích của đối tượng mà linh hoạt sử dụng những phương pháp, hình thức hướng dẫn khác nhau cho phù hợp, khách tham quan dù là ai cũng có thể thu nhận, lĩnh hội thông tin

Hướng dẫn tham quan sẽ giúp công chúng hiểu được cái hay, cái đẹp của hiện vật bảo tàng, từ đó dần hình thành trong họ ý thức trân trọng và bảo vệ di sản văn hóa dân tộc Hướng dẫn tham quan là hình thức giáo dục tác động trực tiếp lên suy nghĩ, tư tưởng của công chúng, góp phần hoàn thiện nhân cách con người Xã hội chủ nghĩa, có tình cảm đạo đức Cách mạng trong sáng như tinh thần của Nghị quyết lần thứ II BCHTW Đảng khóa VIII về giáo dục đào tạo đã

khẳng định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những

con người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập và XHCN, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Trang 29

Trong quá trình hướng dẫn tham quan, cán bộ thuyết minh sẽ lồng ghép tuyên truyền về các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước mà cụ thể gần nhất là các vấn đề liên quan đến văn hóa, di sản Nhờ đó các đường lối đó sẽ đi sâu vào tư duy, vào đời sống nhân dân Công chúng sẽ nắm được, hiểu rõ và dần hình thành ý thức chấp hành tích cực, tự giác

Hướng dẫn tham quan là quá trình cán bộ thuyết minh giảng giải, giới thiệu thông tin cho khách tham quan nghe và kết hợp chỉ hiện vật cho khách tham quan nhìn Nó phù hợp với quy trình nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Trong hướng dẫn thăm quan không thể thiếu vắng vai trò của người hướng dẫn viên, họ chính là chiếc cầu nối giữa hiện vật bảo tàng với khách tham quan

Tóm lại, hướng dẫn tham quan là hình thức giáo dục đặc biệt mang lại hiệu quả cao cho công tác tuyên truyền - giáo dục của bảo tàng Hình thức này đã

ra đời từ lâu nhưng nó sẽ không bao giờ là cũ, là lỗi thời Hướng dẫn tham quan

là hình thức tuyên truyền - giáo dục luôn cần có cho bất cứ một bảo tàng nào, dẫu cho đó là bảo tàng cổ điển hay hiện đại, quy mô lớn hay nhỏ và thuộc bất cứ loại hình nào

2.1.2 Các phương pháp và hình thức hướng dẫn tham quan tại BTLSVN

Để khách tham quan nắm bắt được một cách chính xác, toàn diện tri thức khoa học lịch sử, về truyền thống văn hóa dân tộc, thông qua đó hoàn thiện chính mình thì hướng dẫn thăm quan tại BTLSVN giữ một vai trò hết sức quan trọng Thực tế cho thấy, hầu hết khách thăm quan được cán bộ bảo tàng trực tiếp hướng dẫn đều cảm thụ nhanh chóng tri thức khoa học lịch sử và những giá trị truyền thống của dân tộc được đúc kết qua quá trình sinh tồn và phát triển của nhiều lớp người trên đất Việt Nam Những truyền thống đó có gốc rễ, có cội nguồn, có tính

Trang 30

bản địa sâu sắc BTLSVN là nơi trưng bày duy nhất một cách trọn vẹn toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc, từ thời công xã nguyên thủy đến cách mạng Tháng 8/1945 Chính vì vậy, khách tham quan dù là khách du lịch hay những nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên đều có thể khai thác, nắm bắt được một cách toàn diện mọi khía cạnh trong cuộc sống con người và xã hội Việt Nam

Công tác hướng dẫn khách tham quan trong thời đại mới đòi hỏi phải ngày càng năng động, tích cực tìm tòi những phương pháp, hình thức mới nhằm nâng cao khả năng nhận thức cho khách thăm quan Nhận thức được điều đó, ban lãnh đạo cùng các cán bộ nhân viên luôn trăn trở tìm hướng đi cho công tác hướng dẫn tham quan Trong những năm gần đây, công tác hướng dẫn tham quan tại BTLSVN đã có nhiều thay đổi tích cực, các phương pháp hướng dẫn tham quan đã bước đầu có sự đổi mới nhằm đem lại chất lượng phục vụ tốt nhất cho từng đối tượng khách tham quan

Các phương pháp hướng dẫn thăm quan tại bảo tàng về cơ bản có 2

nhóm chính:

- Phương pháp làm cho khách tham quan tiếp thu một cách bị động Giới thiệu nội dung trưng bày của bảo tàng theo cấu trúc đã có với các tài liệu hiện vật liên tiếp nhau, kết hợp với lời thuyết minh của cán bộ hướng dẫn để khách tham quan hiểu được nội dung mà bảo tàng muốn thể hiện

Đây là phương pháp thứ yếu trong hướng dẫn tham quan vì nó mang lại hiệu quả không cao trong giáo dục bảo tàng Nhưng trên thực tế thì hầu như cho đến nay nó vẫn là phương pháp cơ bản được sử dụng thường xuyên của các bảo tàng Việt Nam

- Phương pháp thứ hai là làm cho khách tham quan tiếp thu một cách chủ động, tích cực, thoải mái Nhóm phương pháp thứ hai này gồm các phương pháp

Trang 31

sau: phương pháp tái hiện, phương pháp kể chuyện, phương pháp tiếp xúc hiện vật, phương pháp sử dụng các thuật ngữ và thành ngữ

BTLSVN trong những năm gần đây đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp hướng dẫn tham quan cho từng đối tượng cụ thể Đối với công chúng nói chung như công nhân, nông dân, khách tham quan thuộc các nghành nghề khác, khách tham quan nước ngoài… thì bảo tàng chủ yếu sử dụng nhóm phương pháp thứ nhất kết hợp phương pháp kể chuyện, do nhu cầu của các nhóm đối tượng này chủ yếu là tham quan khái quát nhằm nắm được nội dung trưng bày chủ đạo của bảo tàng, chứ không có nhu cầu đi sâu tìm hiểu về một vấn đề cụ thể nào đó Với các nhóm đối tượng khác như học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu,…là nhóm đối tượng có nhu cầu tìm hiểu sâu tri thức, có nhu cầu được trao đổi thông tin với cán bộ hướng dẫn, nên BTLSVN sử dụng các phương pháp như: tái hiện bối cảnh lịch sử, kể chuyện lịch sử và đối thoại tìm hiểu nhân vật lịch sử

Muốn thực hiện tốt chức năng tuyên truyền - giáo dục về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chúng ta cần phải sử dụng đồng thời nhiều phương pháp như vậy, có thể sử dụng đồng thời cùng một lúc cả 2 hoặc 3 phương pháp trên, trong đó phương pháp tái hiện bối cảnh lịch sử là phương pháp chủ yếu được sử dụng thường xuyên nhất Cán bộ thuyết minh tại BTLSVN luôn khai thác triệt để các nguồn tư liệu trưng bày tại bảo tàng, đặc biệt là các tài liệu hiện vật gốc và các tài liệu khoa học phụ để làm sáng tỏ một thời kỳ lịch sử đã qua, để thấy được trong từng giai đoạn lịch sử ông ta đã sáng tạo, xây dựng và phát triển đất nước như thế nào, và khi giặc ngoại xâm lăm le ngoài bờ cõi thì tinh thần yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc ta đã được thể hiện ra sao để

có thể bảo vệ được nền độc lập của nước nhà Ngoài ra, để hỗ trợ cho việc tái hiện lại bối cảnh lịch sử thì tùy từng giai đoạn trưng bày, người cán bộ hướng dẫn tham quan có thể kể những câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của những nhân

Trang 32

vật lịch sử mà công lao của họ gắn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, hoặc kể về một di vật lịch sử tiêu biểu đại diện cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một thời đại

Phương pháp đối thoại cũng là phương pháp bổ trợ cho phương pháp tái hiên bối cảnh lịch sử, làm cho việc tái hiện đó thêm sinh động và lý thú, buổi tham quan, học tập tại bảo tàng thu được kết quả cao và đặc biệt nhận thức của đối tượng học sinh, sinh viên được nâng lên về nhiều mặt Bởi lẽ, bằng những câu hỏi, những thắc mắc về nội dung hệ thống trưng bày, học sinh, sinh viên sẽ được bổ sung, củng cố và hệ thống hóa lại vốn tri thức sẵn có của mình Chỉ có thể kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp trên thành phương pháp tổng hợp, chúng ta mới có thể biến buổi tham quan học tập tại bảo tàng thành một cuộc thám hiểm đầy bổ ích và lý thú Chỉ có như vậy, chúng ta mới đẩy mạnh quá trình quan sát và tư duy cho các em, kích thích yếu tố khám phá cá nhân, giúp các em nhận thức một cách thoải mái và đầy đủ về văn hóa lịch sử dân tộc

Đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp hướng dẫn tham quan, nhưng công tác hướng dẫn vẫn chưa thực sự thoát khỏi công thức: người nói – người nghe, hướng dẫn còn phần nhiều mang tính một chiều, thiếu sự tương tác giữa hai phía, đây cũng là thực trạng chung cho hầu hết các bảo tàng khác

Hiện nay, BTLSVN chủ yếu sử dụng hình thức hướng dẫn tham quan

khái quát, là hình thức tham quan dành cho các đối tượng tham quan với mục

đích thu được những nhận thức tổng thể về bảo tàng, hiểu được nội dung cơ bản,

có được những khái niệm chung về những vấn đề mà bảo tàng muốn thể hiện Tham quan theo hình thức này đòi hỏi cán bộ hướng dẫn phải có khả năng khái quát cao để vừa có thể giới thiệu mang tính hệ thống lại vừa có thể cụ thể hóa một số nội dung cần thiết và quan trọng

Trang 33

Bên cạnh đó, bảo tàng còn sử dụng phương pháp hướng dẫn tham quan theo chủ đề, tuy nhiên chỉ chiếm số lượng rất ít, dành cho các đối tượng sinh viên hay các nhà nghiên cứu có nhu cầu tìm hiểu sâu về một vấn đề nào đó

Thực tế cho thấy số lượng khách tham quan bảo tàng chủ yếu là khách tham quan tự do, khách tham quan được hướng dẫn còn chiếm số lượng rất ít Bởi, khách tham quan muốn được hướng dẫn thì cần phải đăng ký trước với bảo tàng, mặt khác, đội ngũ cán bộ bảo tàng không thể đáp ứng hết mọi nhu cầu của khách tham quan Vì vậy, đối với khách tham quan tự do, việc cung cấp cho họ những thông tin cơ bản nhất về bảo tàng là cần thiết BTLSVN đã tiến hành làm các tờ gấp, tờ rơi giới thiệu toàn bộ hệ thống trưng bày cũng như nội dung cơ bản của từng phòng, từng giai đoạn lịch sử Sau mỗi lần chỉnh lý hệ thống trưng bày thì các tờ rơi, tờ gấp lại được làm lại cho phù hợp với hệ thống trưng bày mới Tờ rơi, tờ gấp của BTLSVN được biên soạn ra nhiều ngoại ngữ: Anh, Pháp, Trung Quốc, đáp ứng nhu cầu của khách tham quan trong và ngoài nước

2.1.3 Đối tượng khách tham quan và đội ngũ hướng dẫn viên

2.1.3.1 Đối tượng khách tham quan

Công chúng khách tham quan chính là cơ sở để bảo tàng tồn tại, sức sống của một bảo tàng thể hiện ở thành phần và số lượng khách tham quan đến với bảo tàng đó Hàng năm, BTLSVN phục vụ, tiếp đón một số lượng lớn khách tham quan với thành phần phong phú, đa dạng Khách tham quan trong nước đến với bảo tàng thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi, nghề nghiệp, thành phần xã hội khác nhau,

từ học sinh tiểu học, trung học, phổ thông cho đến những người cao tuổi, cựu chiến binh, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ ngành Các tầng lớp nông dân, công nhân, trí thức, thương binh, bộ đội, các tổ chức, đoàn thể…đến từ khắp nơi trên cả nước

Trang 34

Những năm trở lại đây, do sự phát triển của xu thế hội nhập toàn cầu hóa nên BTLSVN không chỉ có khách tham quan trong nước mà đối tượng khách tham quan nước ngoài và Kiều bào sống ở khắp nơi trên thế giới cũng chiếm số lượng lớn và ngày càng gia tăng Khách quốc tế đến với BTLSVN cũng đa dạng

về đối tượng, lứa tuổi nghề nghiệp, thành phần xã hội, không phân biệt màu da, chủng tộc, thể chế chính trị…

Công tác giáo dục của BTLSVN trong nhưng năm gần đây có nhiều đổi mới tích cực, số lượng khách tham quan đã tăng đáng kể so với thập kỷ trước thể hiện rõ qua bảng số liệu sau:

Bảng thống kê số lượng khách tham quan của BTLSVN từ năm 1990

đến 1999

nước

Khách nước ngoài

Trang 35

Bảng thống kê số lượng khách tham quan của BTLSVN từ năm 2000 đến 2008

Nhận xét, đánh giá:

Qua 2 bảng thống kê, ta thấy số lượng khách tham quan của BTLSVN qua hai thập kỷ đã có nhiều thay đổi Cụ thể như sau:

Đối với khách tham quan tại bảo tàng:

- Số lượng khách tham quan tại bảo tàng từ năm 1990 đến 1999 có tăng

lên, nhưng tăng không nhiều Tính trung bình từ 1990 đến 1999, ta được số lượng

khách tham quan tại bảo tàng tăng hàng năm là 4.273 lượt khách

Năm Tại bảo tàng Lưu động Tổng số Khách

trong nước

Khách nước ngoài

Trang 36

- Còn số lượng khách tham quan tại bảo tàng từ năm 2000 đến 2008 đã

tăng với mức đáng kể hơn Tính trung bình từ năm 2000 đến 2008, ta được số

lượng khách tham quan tại bảo tàng tăng hàng năm là 5.656 lượt khách

Như vậy, ta thấy số lượng khách tham quan tại bảo tàng tăng hàng năm từ

2000 – 2008 đã tăng cao hơn so với thập kỷ từ 1990 – 1999 là 1.383 lượt khách

Các số liệu này đã minh chứng cho những nỗ lực, những thành công trong công tác tuyên truyền - giáo dục của BTLSVN trong việc thu hút khách tham quan đến với bảo tàng những năm vừa qua

Đối với khách tham quan trưng bày lưu động của bảo tàng:

- Số lượng khách tham quan trưng bày lưu động của bảo tàng trong 10 năm 1990 – 1999 có tăng lên nhưng tăng không đều, không ổn định Tính trung

bình từ 1990 đến 1999 ta được lượng khách tham quan trưng bày lưu động tăng

hàng năm là 500 lượt khách

- Số lượng khách tham quan trưng bày lưu động của bảo tàng trong 9 năm

2000 – 2008 tăng giảm không ổn định, nhất là trong mấy năm gần đây, số lượng khách tham quan càng ngày càng giảm đi Tính trung bình từ năm 2000 đến 2008

thì hàng năm số lượng khách tham quan trưng bày lưu động của bảo tàng không

những không tăng lên mà còn giảm đi ở mức đáng kể: 6.222 lượt khách mỗi năm

Nhìn vào số liệu trên ta thấy số lượng khách tham quan trưng bày lưu động hàng năm của bảo tàng đã giảm đáng kể, do hoạt động trưng bày lưu động

từ năm 2006 trở lại đây đã không còn được đẩy mạnh như trước, số điểm phục vụ trưng bày đã ít đi nhiều

Đối với số lượng khách tham quan nước ngoài, qua hai bảng thống kê ta thấy: số lượng khách tham quan nước ngoài có tăng nhưng mức độ tăng còn chưa đáng kể và còn tình trạng tăng giảm không ổn định nhất là trong mấy năm trở lại đây Nguyên nhân là do hệ thống trưng bày của bảo tàng chưa thực sự hấp dẫn

Trang 37

với khách tham quan nước ngoài, cán bộ thuyết minh của bảo tàng chưa đủ trình

độ ngoại ngữ để hướng dẫn, giúp họ thu nhận tri thức do đó, họ không cho bảo tàng là một địa điểm bổ ích Như chúng ta biêt, khách du lịch khi đến với một đất nước nào đó, nơi mà họ cần đến đầu tiên đó là các trung tâm du lịch nhằm có được sự hướng dẫn và những thông tin cần thiết Trong khi đó mối quan hệ với các trung tâm du lịch của BTLSVN cho đến nay vẫn chưa có được sự gắn bó thực

sự sâu sắc, đây cũng là một vấn đề cần đặt ra cho công tác tuyên truyền - giáo dục của BTLSVN trong thời gian tới

2.1.3.2 Đội ngũ hướng dẫn viên

Đội ngũ hướng dẫn viên của BTLSVN gồm 12 cán bộ, trong đó có 2 Thạc sỹ, còn lại là cử nhân các trường đại học được đào tạo chính quy ở khoa Bảo tàng trường Đại học Văn hóa Hà Nội, khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Ngoài ra còn có một số cán bộ được đào tạo từ khối các trường Đại học Ngoại ngữ

BTLSVN phân công nhiệm vụ thuyết minh theo hướng mỗi cán bộ đều phải phụ trách đoàn mình hướng dẫn trong suốt quá trình tham quan toàn bộ hệ thống trưng bày bảo tàng, chứ không chia nhỏ từng phần cho từng cán bộ Các cán bộ thuyết minh của BTLSVN được trang bị kiến thức chuyên môn sâu rộng, nắm vững nội dung trưng bày của bảo tàng qua từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử Cán bộ hướng dẫn của bảo tàng đã không ngừng tiếp thu học hỏi, cập nhật các kiến thức mới để ngày một nâng cao trình độ Đó là kiến thức của các lĩnh vực liên quan đến trưng bày bảo tàng để có thể giải đáp được mọi thắc mắc từ phía khách tham quan Chủ động tìm tòi, tiếp thu những phương pháp hướng dẫn mới

để đáp ứng nhu cầu thực tế và để công tác tuyên truyền - giáo dục trở nên hiệu quả hơn Cán bộ hướng dẫn BTLSVN luôn theo sát, tiếp thu và lĩnh hội tinh thần của mọi đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ đó lồng

Trang 38

ghép vào nội dung thuyết minh, truyền đạt cho công chúng tham quan Mặt khác, nắm được chủ trương của Đảng sẽ giúp cho công tác hướng dẫn tham quan không đi chệch hướng Xã hội Chủ nghĩa, luôn đặt lợi ích của khách tham quan lên hàng đầu và coi đó là mục tiêu hoạt động

2.2 Công tác tuyên truyền - giáo dục thông qua các hình thức trưng bày của bảo tàng

2.2.1 Hệ thống trưng bày cố định của bảo tàng

Trưng bày là hình thức thông tin cơ bản của bảo tàng, các tài liệu hiện vật trên phần trưng bày bảo tàng chính là ngôn ngữ truyền tải thông tin, là công cụ là phương tiện đặc biệt thực hiện chức năng tuyên truyền - giáo dục của bảo tàng Chất lượng trưng bày có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động giáo dục, hoạt động giáo dục là khâu công tác cuối cùng tiếp sau khâu công tác trưng bày,

kế thừa và phát huy kết quả của khâu công tác trưng bày trước đó Do đó, một phần trưng bày được tổ chức khoa học, có thẫm mỹ, cung cấp thông tin đầy đủ, xác thực…sẽ là điều kiện, là tiền đề hết sức thuận lợi cho công tác giáo dục thực hiện các chức năng của mình

BTLSVN qua nửa thế kỷ thành lập đã luôn chú trọng nâng cấp, chỉnh lý kiện toàn hệ thống trưng bày Hệ thống trưng bày chính của bảo tàng - cuốn sử của dân tộc Việt Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm) đến Cách mạng Tháng Tám - 1945 Với diện tích trưng bày hơn 2.200 m2, gần 7.000 tư liệu hiện vật, hệ thống trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc trưng bày niên biểu, lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử với trưng bày sưu tập theo hướng trưng bày mở, tạo điều kiện để có thể cập nhật những tư liệu hiện vật mới do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho

"diện mạo" trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem

Trang 39

Toàn bộ hệ thống trưng bày của bảo tàng được phân chia theo nguyên tắc phân kỳ lịch sử, chia làm bốn phần trọng tâm như sau:

- Việt Nam thời Tiền sử

Với diện tích 200 m2 và khoảng hơn 1000 hiện vật, phòng trưng bày này giới thiệu các giai đoạn phát triển của thời kỳ Tiền sử trên đất Việt Nam Những lớp cư dân nguyên thuỷ, qua quá trình sinh tồn đã sáng tạo nên những nền văn hoá nổi tiếng, phát triển liên tục từ thời đại Đá cũ đến thời đại Đá mới, cách ngày nay khoảng 300.000 - 4000 năm Phòng trưng bày chia làm hai giai đoạn: thời kỳ

đồ đá cũ và thời kỳ đồ đá mới

- Từ thời dựng nước đến triều Trần

Đây là phần trưng bày với nhiều thời kỳ lịch sử:

Thời dựng nước đầu tiên

Mười thế kỷ chống Bắc thuộc

Triều Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý Trần

Sau các văn hóa hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí, bắt đầu thời đại đồng thau

ở Việt Nam, tiến tới hình thành 3 trung tâm kim khí: Đông Sơn ở miền Bắc, Sa Huỳnh ở miền Trung và Đồng Nai ở Đông Nam Bộ

Phòng trưng bày thời kỳ dựng nước đầu tiên:

Được mở đầu bằng việc giới thiệu các văn hóa tiền Đông Sơn, với sự thể hiện ba giai đoạn phát triển chính: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun Các hiện vật trưng bày cho thấy sự xuất hiện và tác động của nghề luyện kim đồng thời cũng là giai đoạn phát triển tột đỉnh của kỹ nghệ chế tác đá, đặc biệt là các công xưởng chế tạo đồ trang sức Ngoài ra trong phần trưng bày này còn thể hiện văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai

Phòng trưng bày 10 thế kỷ chống Bắc thuộc:

Trang 40

Phòng trưng bày tập trung giới thiệu những sưu tập hiện vật đặc sắc và những hình ảnh về cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam chống phong kiến phương Bắc trong suốt 10 thế kỷ (thế kỷ I TCN đến thế kỷ X SCN) trên hai phương diện sau:

Quá trình đấu tranh bền bỉ của dân tộc Việt chống âm mưu đồng hoá của phong kiến phương Bắc trên lĩnh vực văn hóa, gìn giữ bản sắc và tiếp thu văn minh nhân loại, làm giàu cho văn hoá dân tộc

Các phong trào đấu tranh quật cường chống phong kiến phương Bắc xâm lược dành độc lập dân tộc mà mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 -

43 SCN)

Phòng trưng bày triều Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần:

Mở đầu thời kỳ này là các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê (nửa sau thế kỷ X) Đây là các triều đại phong kiến đã góp phần đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Hiện vật trưng bày giới thiệu ở phần này chủ yếu được phát hiện trong các đợt nghiên cứu và khai quật khảo cổ ở khu thành cổ Hoa Lư (Ninh Bình) năm 1970 Đó là những vật liệu kiến trúc gồm gạch xây tường, cọc gỗ đóng móng tường thành, gạch lát nền trang trí nổi hoa sen, chim phượng, cột đá khắc kinh Phật, gạch xây thành có khắc chữ "Đại Việt quốc quân thành chuyên" và "Giang Tây quân"

Triều đại nhà Lý (1010 – 1225) – quốc gia phong kiến độc lập của Việt Nam đã phát triển trên mọi lĩnh vực Bằng nhiều loại hình hiện vật, phòng trưng bày giới thiệu những thành tựu của nền văn hóa Việt Nam đương thời Đó là vật liệu trang trí kiến trúc như lá đề, đầu ngói, gạch có hình tháp, hình phật, đầu rồng, đầu phượng gắn trên mái cung điện, chùa tháp, cùng với các đồ gốm men có màu sắc độc đáo, trình độ kỹ thuật điêu luyện được thể hiện trên các hiện vật đặc sắc tìm thấy ở khu chùa cổ Phật Tích (Bắc Ninh) như: tượng Adida, tượng đầu người

Ngày đăng: 04/06/2021, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TRẦN MINH ĐẠO (2002), Giáo trình Marketing căn bản, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing căn bản
Tác giả: TRẦN MINH ĐẠO
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2002
2. BÙI DUY ĐỨC (1998), “40 năm công tác tuyên truyền của Viện BTLSVN”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 27 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm công tác tuyên truyền của Viện BTLSVN”
Tác giả: BÙI DUY ĐỨC
Năm: 1998
3. NGUYỄN THÚY HÀ (2000), “BTLSVN với việc thu hút khách tham quan”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 167 – 171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BTLSVN với việc thu hút khách tham quan”
Tác giả: NGUYỄN THÚY HÀ
Năm: 2000
4. NGUYỄN THU HOAN (2002), “Làm thế nào để giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ học đường ngày một hiệu quả hơn”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 145 – 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ học đường ngày một hiệu quả hơn”
Tác giả: NGUYỄN THU HOAN
Năm: 2002
5. NGUYỄN THU HOAN (2008), “Công tác trưng bày – tuyên truyền của BTLSVN – Một chặng đường nhìn lại, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 29 – 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác trưng bày – tuyên truyền của BTLSVN – Một chặng đường nhìn lại
Tác giả: NGUYỄN THU HOAN
Năm: 2008
6. PHẠM THÚY HỢP (2007), “Giao lưu trưng bày – Đôi dòng chưa cân đối”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 179 – 184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu trưng bày – Đôi dòng chưa cân đối”
Tác giả: PHẠM THÚY HỢP
Năm: 2007
7. NGUYỄN THỊ HUỆ (2008), Cơ sở Bảo tàng học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Bảo tàng học
Tác giả: NGUYỄN THỊ HUỆ
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
8. NGUYỄN THỊ HUỆ (2005), “Lược sử sự nghiệp Bảo tồn – Bảo tàng Việt Nam từ 1945 đến nay”, Trường ĐHVHHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử sự nghiệp Bảo tồn – Bảo tàng Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: NGUYỄN THỊ HUỆ
Năm: 2005
9. NGUYỄN THỊ HUỆ (2002), Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng
Tác giả: NGUYỄN THỊ HUỆ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
10. Luật Di sản văn hóa (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hóa
Tác giả: Luật Di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
11. BẢO TÀNG CÁCH MẠNG (1990), “Bảo tàng với sự nghiệp CNH – HĐH đất nước”, Kỷ yếu hội thảo khoa học tại Quảng Bình, tháng 8/ 1997, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo tàng với sự nghiệp CNH – HĐH đất nước
Tác giả: BẢO TÀNG CÁCH MẠNG
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1990
12. Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ, Nxb. VH, Hà Nội 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ
Nhà XB: Nxb. VH
13. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI (1990), Cơ sở Bảo tàng học (3 tập), Trường ĐHVHHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Bảo tàng học (3 tập)
Tác giả: TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Năm: 1990
14. TRẦN ĐỨC NGUYÊN (1999), “Công tác tuyên truyền và giáo dục khoa học của BTCMVN trong mười năm đầu thời kỳ đổi mới (1988 - 1999)”, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên truyền và giáo dục khoa học của BTCMVN trong mười năm đầu thời kỳ đổi mới (1988 - 1999)
Tác giả: TRẦN ĐỨC NGUYÊN
Năm: 1999
15. PHẠM QUỐC QUÂN (2006), “Bảo tàng Việt Nam cần phải làm gì để hội nhập?”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 3 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng Việt Nam cần phải làm gì để hội nhập?”
Tác giả: PHẠM QUỐC QUÂN
Năm: 2006
16. NGUYỄN TOÀN THỊNH (2001), “Công tác tuyên truyền – giáo dục của BTBP từ 1990 đến nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên truyền – giáo dục của BTBP từ 1990 đến nay”
Tác giả: NGUYỄN TOÀN THỊNH
Năm: 2001
17. ĐINH VĂN THÌN (2003), “Công tác trưng bày chuyên đề của BTLSVN – Nhìn lại và hướng tới”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 9 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác trưng bày chuyên đề của BTLSVN – Nhìn lại và hướng tới
Tác giả: ĐINH VĂN THÌN
Năm: 2003
18. NGUYỄN SỸ TOẢN (2008), “Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Một giảng đường đại học uy tín”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 100 – 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Một giảng đường đại học uy tín
Tác giả: NGUYỄN SỸ TOẢN
Năm: 2008
19. LÂM BÌNH TƯỜNG – MAI KHẮC ỨNG – PHẠM XANH – ĐẶNG VĂN BÀI (1998), Sổ tay công tác bảo tàng, Nxb. VHTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay công tác bảo tàng
Tác giả: LÂM BÌNH TƯỜNG – MAI KHẮC ỨNG – PHẠM XANH – ĐẶNG VĂN BÀI
Nhà XB: Nxb. VHTT Hà Nội
Năm: 1998
20. LÊ THỊ TUYẾT (2003), “Vai trò và hoạt động thực tiễn của BTLSVN trong việc góp phần hoàn thiện nhân cách con người hiện đại”, Thông báo khoa học, BTLSVN, Hà Nội, tr. 124 – 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò và hoạt động thực tiễn của BTLSVN trong việc góp phần hoàn thiện nhân cách con người hiện đại
Tác giả: LÊ THỊ TUYẾT
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w