15 Chương 2: Công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật được từ các con tμu đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam..... 37 Chương 3: Đánh giá, nhận xét vμ đề xuất giải pháp nhằm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TỒN-BẢO TÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TH.S NGUYỄN SỸ TOẢN
HÀ NỘI – 2008
Trang 2
MỤC LỤC
Mở đầu……… 1
1.Tính cấp thiết của đề tμi……… 1
2.Mục đớch nghiêncứu……… 3
3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu 3
4.Phương pháp nghiên cứu……… 3
5 Đóng góp của đề tμi……… 4
6 Bố cục của luận văn……… 4
Chương 1: Khái quát về Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam vμ công tác khai quật khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam………
1.1 Vμi nét về sự hình thμnh vμ phát triển của Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam……… 5
1.2 Công tác khai quật khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam……… 9
1.2.1 Quan niệm về di sản văn hoá dưới nước………
9 1.2.2 Quy trình khai quật khảo cổ học dưới nước………
10 1.2.3 Việt Nam với công tác khai quật khảo cổ học dưới nước……
15 Chương 2: Công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật được từ các con tμu đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
21 2.1 Hiện trạng hiện vật gốm sứ khai quật từ các con tμu đắm…… 21
2.2 Công tác bảo quản hiện vật gốm sứ khai quật từ các con tμu đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam……… 23
2.2.1 Bảo quản phòng ngừa………
23
Trang 3thuật………
2.3 Công tác phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật được từ các con
tμu đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam 37 Chương 3: Đánh giá, nhận xét vμ đề xuất giải pháp nhằm nâng cao
công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật được từ
các con tμu đắm ở Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
43
3.1 Đánh giá vμ nhận xét 43
3.1.1 Ưu điểm 43
3.1.2 Hạn chế 49
3.2 Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao công tác bảo quản phát
huy giá trị hiện vật gốm sứ từ khai quật các con tμu đắm tại Bảo tμng
Lịch Sử Việt Nam 51
Kết luận 56
Tμi liệu tham khảo 59 Phụ lục
Trang 4B¶ng m· ch÷ c¸i viÕt t¾t
AgNO3: B¹c nitorat
BaCl2: Bari clorit
CH3 _ COOH: Axit axetic
(COOH)2: Axit Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra – acetic
EFEO: Ph¸p quèc ViÔn §«ng B¸c Cæ häc viÖn
HCl: Axit clohidric
HNO3: Axit nitoric
H2SO4: Axit sunfuric
HF: Axit flohidric
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyvinyl axetat
ROV: M¸y kh¶o sat Remotely Operated Venicle
Th.S: Th¹c sü
Trang 5MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tμi
Trong khoảng mười năm cuối của thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, ngμnh khảo
cổ học nước ta bắt đầu đi vμo một lĩnh vực mới đó lμ khảo cổ học dưới nước Dưới
sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoμi chúng ta đã phát hiện vμ khai quật thμnh công năm con tμu cổ bị đắm ở vùng biển phía Nam của tổ quốc Việc khai quật thμnh công năm con tμu cổ đưa lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm về khai quật khảo cổ học dưới nước Song kết quả quan trọng hơn đó lμ việc đưa lên bờ hμng trăm ngμn hiện vật trong đó chủ yếu lμ gốm sứ
Thực chất đồ gốm cổ truyền lưu lại tới ngμy nay đã vượt qua giá trị sử dụng,
nó có giá trị như một chính thể nghệ thuật Nó vượt qua cả giới hạn thời gian vμ ý nghĩa khởi nguyên để tụ lại đó một mảnh tâm hồn Vμ trong ý thức của chúng ta ngμy nay, nó mang ý nghĩa tư liệu lịch sử vô giá
Trước hết, đồ gốm vừa lμ sản phẩm của thời đại, vừa lμ một phần bóng dáng của mỗi tộc người, nhưng nó còn lμ sản phẩm mang đầy đủ cá tính của một con người cụ thể Cho nên mỗi đồ gốm thực chất lμ một tác phẩm “cõng trên lưng” những giá trị nhất định vμ giá trị của lịch sử xã hội Từ đó, người ta dễ dμng tìm thấy được “hơi thở” của một quá khứ để thấy được vẻ đẹp truyền thống của cha
ông, để tâm hồn mỗi người hướng tới sự kính trọng các bậc tiền bối, học hỏi vμ xây dựng cái mới
Như vậy gốm đã trở thμnh một loại di vật có giá trị đặc biệt Nó không chỉ lμ tinh thần dân tộc mμ còn lμ bản sắc văn hóa được giữ gìn từ thế hệ nμy sang thế hệ khác
Hiện nay, gốm Việt Nam đã được các nhμ nghiên cứu rất quan tâm Song các
đợt khai quật khảo cổ học tại các trung tâm gốm cổ cũng chỉ giúp các nhμ nghiên cứu tìm thấy chủ yếu hiện vật lμ dấu vết của lò nung (bao nung, con kê ), các mảnh vỡ Còn các sản phẩm nguyên lμnh, cao cấp dùng cho trao đổi buôn bán thì rất ít Điều nμy lμm cho việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam gặp rất nhiều khó
Trang 6khăn Chính vì vậy mμ việc khai quật thμnh công năm con tμu đắm ở vùng biển phía Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam
Vμ đây cũng lμ một bằng chứng vô cùng sinh động cho việc nghiên cứu giao thương quốc tế, bởi hiện vật tìm thấy không chỉ lμ gốm sứ Việt Nam mμ còn có cả gốm sứ Trung Quốc,Thái Lan vμ những hiện vật khác
Như chúng ta đã biết Việt Nam nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông cả
đường bộ lẫn đường biển Việc buôn bán với nước ngoμi đã phát triển từ thế kỷ thứ
X ở phía Bắc, thư tịch cổ đã ghi thuyền buôn của nước ngoμi cập bến đến quốc đô Hoa Lư của Đại Cồ Việt dưới thời Đinh Lê Sang thời Lý việc buôn bán với Trung Quốc vμ các nước Đông Nam á của Đại Việt phát triển mạnh hơn, đặc biệt lμ ở thương cảng Vân Đồn Mặt khác ta cũng biết rằng bắt đầu từ thế kỷ XV “con
đường tơ lụa trên biển” vốn đã hình thμnh trước đó vμ ngay cμng giữ vai trò quan trọng Nằm trên con đường biển từ Đông sang Tây, trong thế kỷ XV, thương cảng quốc tế Vân Đồn đón nhận tμu Trung Quốc xuống, tμu ở các nước Đông Nam á lên Như vậy có thể nói rằng trong thế kỷ XV, Việt Nam tiếp tục tham gia một cách tích cực vμo con đường tơ lụa trên biển, trong đó mặt hμng quan trọng nhất lμ
đồ gốm
Hiện vật thu được từ năm con tμu đắm lμ rất quí nhưng do lâu ngμy bị ngâm
ở dưới biển nên hầu hết các hiện vật gốm sứ đều có dấu hiệu bị hư hỏng Nhiều hiện vật bị sứt, mẻ, bị vỡ, có hiện vật bị nhiễm muối nặng lμm hỏng men Chính bởi vậy mμ công tác bảo quản được đặt ra khá cấp thiết cho những đơn vị lưu giữ hiện vật nμy Không những phải loại bỏ những tác nhân gây hại mμ còn phải tiến hμnh phục dựng lại những hiện vật đã bị sứt mẻ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu sau nμy Mặc dù thấy rằng đây lμ một vấn đề khá quan trọng, song hiện nay với trình độ cũng như phương tiện kỹ thuật còn hạn chế nên việc bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật từ dưới biển đang trong những bước khởi đầu Do vậy mμ còn rất nhiều điều đặt ra đòi hỏi sự quan tâm của các ngμnh
vμ các cấp có liên quan Qua thời gian thực tập tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam em nhận thấy vai trò cũng như khó khăn trong việc bảo quản, phục dựng những hiện
Trang 7vật nμy, cùng với sự yêu thích của mình em mạnh dạn chọn đề tμi “Bước đầu tìm hiểu công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật từ các con tμu
đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam” lμm khoá luận tốt nghiệp của mình Do đây
lμ vấn đề mới vμ hiểu biết của em còn có hạn nên bμi viết không tránh khỏi những thiếu sót vμ nông hẹp Vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô vμ những ai quan tâm tới vấn đề nμy
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ từ các con tμu cổ
đã khai quật Từ đó đưa ra kiến nghị vμ đề xuất những giải pháp nhằm lμm cho công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật tại Bảo tμng Lịch Sử Vịêt Nam được tốt hơn
3.Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu
Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu của khoá luận lμ hiện vật gốm sứ khai quật
từ các con tμu cổ đang lưu giữ tại kho của Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
- Ngoμi ra khoá luận còn sử dụng phương pháp vật lý, hoá học, sinh học, phương pháp khảo cổ học…
Trang 8Ngoμi phần mở đầu, mục lục, tμi liệu tham khảo, ảnh, khoá luận được chia lμm 3 phần như sau:
Chương 1: Khái quát về Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam vμ công tác khai quật
khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam
Chương 2: Công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật được
từ các con tμu đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
Chương 3: Đánh giá, nhận xét vμ đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác
bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ từ năm con tμu đắm ở Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
Ngoμi sự cố gắng của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể vμ cá nhân để có thể hoμn thμnh tốt khoá luận của mình Qua đây em xin chân thμnh gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa, T.S Nguyễn Đình Chiến – Trưởng phòng kiểm kê - bảo quản vμ các cán bộ Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam, các bạn đồng môn.Vμ đặc biệt gửi lời cảm ơn tới Th.S Nguyễn Sỹ Toản – người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình lμm khoá luận
Xin chân thμnh cảm ơn!
Trang 9Chương 1: Khái quát về Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam vμ công tác khai quật khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam
1.1 Vμi nét về sự hình thμnh vμ phát triển của Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
Để phục vụ cho những mục tiêu về kinh tế, chính trị, nhằm xác lập sự thống trị vμ khai thác các nước thuộc địa ở Đông Dương, ngμy 25/12/1889 Đội khảo cổ học Đông Dương (Mission Archeologique d’Indochine) đã được thμnh lập nhằm tiến hμnh các công trình nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ vμ các công trình văn hoá trên bán đảo Đông Dương
Năm 1889 sau các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu xuyên Việt từ Nam ra Bắc, các nước Lμo vμ Campuchia, Lousi Finot đã kiến nghị với chính quyền thuộc
địa thμnh lập những cơ quan cần thiết ở Đông Dương đặc biệt lμ những cơ quan khoa học
Theo nghị định ngμy 20/10/1900 của toμn quyền Đông Dương pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện (Efrâncaised’ Extrême Orient) đã chính thức được thμnh lập tại Sμi Gòn trên cơ sở lμ Đội khảo cổ học Đông Dương Đến ngμy 26/02/1901, Viễn Đông Bác Cổ học viện đã dời trụ sở tại Sμi Gòn ra Hμ Nội nhằm
đáp ứng nhu cầu trên
Trong thời gian nμy, Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện đã tiến hμnh những công trình nghiên cứu về khoa học xã hội, đặc biệt lμ những công trình nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ học, các kết quả kiểm kê, xếp hạng di tích
vμ việc xây dựng một số Bảo tμng đầu tiên trên đất Việt Nam
Năm 1910 phòng trưng bμy Bảo tμng đầu tiên ra đời tại Hμ Nội trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại một ngôi nhμ kiến trúc kiểu Pháp, xây dựng năm 1874 Ngôi nhμ nay vốn lμ tư dinh của toμn quyền Đông Dương, sau đó lμ trụ sở của hội đồng tư vấn người bản xứ, từ năm 1908 được dùng lμm nơi
tổ chức Đại học Đông Dương Sau Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới ngôi nhμ nμy dμnh cho Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện lμm trụ sở bảo tμng Trụ sở mới của bảo tμng, nay lμ Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam được toμn quyền
Đông Dương Mongai llot thông qua Tháng 01/1926 toμ nhμ được khởi công xây
Trang 10dựng do Ernest He’brand vμ Clarles Batteur chủ trì thiết kế với sự cộng tác của kỹ sư MaxBepi vμ đến ngμy 17/03/1932 thì hoμn thμnh mang tên Bảo tμng Loui Finot (Musee Loui Finot) trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện (EFEO)
Đây được coi lμ một trong những tác phẩm kiến trúc đặc sắc vμ độc đáo của Đông Dương, vừa hiện đại lại vừa mang bản sắc phương Đông
Trong thời kỳ Pháp thuộc, Bảo tμng trưng bμy nội dung tương đối tổng hợp, chủ yếu lμ bộ sưu tập hiện vật vùng Viễn Đông, đặc biệt lμ di sản văn hoá của các nước Đông Dương thuộc Pháp, trong đó có Việt Nam.Tuy nhiên nội dung vμ tính chất của Bảo tμng chủ yếu phục vụ cho công việc nghiên cứu về Đông Dương vμ nhu cầu cổ ngoạn của giới nghiên cứu
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thμnh công, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 ngμy 23/11/1945 giao nhiệm vụ bảo tồn di tích toμn cõi Việt Nam cho Đông Dương Bác Cổ học viện (Việt Nam Oriental Institut) – một cơ quan mới lμm nhiệm vụ thay thế cho Viễn Đông Bác Cổ đã bị bãi bỏ trong điều 2 của sắc lệnh, đồng thời đổi tên Bảo tμng Loui Finot thμnh Quốc gia Bảo tμng viện Tháng 12/1946, cuộc kháng chiến toμn quốc bùng nổ, Bảo tμng lại trở về thủa ban
Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tμng từ tay chính phủ Pháp, Vịên Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toμn vμ ngμy 03/09/1958 Bảo tμng đã chính thức mở cửa với hệ thống trưng bμy mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sử văn hóa Việt Nam từ thời tối cổ cho tới thời đại kim khí, thời kỳ phong
Trang 11kiến vμ kết thúc ở thắng lợi của cuộc cách mạng tháng 8/1945 Mặc dù các sưu tập hiện vật còn khiêm tốn vμ thiếu vắng hiện vật ở một số giai đoạn lịch sử song Bảo tμng cũng đã trưng bμy, giới thiệu cho khách tham quan một cách tổng quát về sự hình thμnh vμ phát triển của nền văn hoá Việt Nam
Từ năm 1958 cho tới trước tháng 5/1975, mặc dù trong giai đoạn nμy có nhiều khó khăn do cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước nhưng các khâu nghiệp
vụ của Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam vẫn hoạt động rất có hiệu quả từ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bμy, tuyên truyền Trong đó, các khâu nghiên cứu, sưu tầm đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, nhiều di chỉ văn hoá được phát hiện vμ khai quật khắp mọi miền Tổ quốc Nhiều di vật lịch sử được thu thập
về Bảo tμng, một số công trình nghiên cứu được tổ chức hội thảo vμ công bố, đáng chú ý lμ thời tiền – sơ sử với sự hình thμnh nhμ nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc
được lμm rõ bằng những cứ liệu khoa học cụ thể Sau năm 1975, đất nước hoμn toμn thống nhất, Bảo tμng có điều kiện hơn để đẩy mạnh mọi hoạt động của mình Trong công tác nghiên cứu sưu tầm, nhiều đoμn cán bộ sưu tầm đã tiến hμnh khảo sát, sưu tầm từ Bắc vμo Nam, từ miền núi đến đồng bằng vμ cho tới vùng biển, mang về nhiều bộ sưu tập có giá trị, lμm hoμn thiện hơn các bộ sưu tập có trong bảo tμng vμ xây dựng thêm nhiều bộ sưu tập mới của các nền văn hóa khác nhau
Lμ một bảo tμng quốc gia nên các khâu công tác kiểm kê, bảo quản cũng
được tiến hμnh tốt Ngoμi việc luôn tìm cách khắc phục khó khăn do chiến tranh, các cán bộ kho bảo quản luôn giữ cho các hiện vật thông thoáng, an toμn, thực hiện tốt các công tác kiểm kê đánh giá, phân loại, đánh số, lập phích phiếu hiện vật Bên cạnh đó, các khâu công tác khác trong bảo tμng cũng luôn được chú trọng hoạt động Hệ thống trưng bμy luôn được tiến hμnh chỉnh lý nâng cấp cho phù hợp với chức năng vμ nội dung mới của bảo tμng Ngay sau khi tiếp nhận cơ
sở bảo tμng từ chính phủ Pháp, hệ thống trưng bμy bắt đầu chuyển sang hoạt động theo mục đích mới vμ mở cửa đều đặn phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân Nhiều hiện vật, sưu tập hiện vật mới được bổ sung trong các đợt chỉnh lý hệ thống trưng bμy Việc nâng cấp hệ thống trưng bμy với quy mô lớn trong hơn hai năm
Trang 121998 – 2000 vừa qua đã lμm thay đổi hẳn diện mạo của bảo tμng cả về hình thức
vμ nội dung với giải pháp trưng bμy theo niên biểu kết hợp với trưng bμy theo sưu tập cùng hệ thống nghe nhìn hiện đại Ngoμi hệ thống trưng bμy cố định, Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam còn quan tâm tới hoạt động trưng bμy lưu động với các chủ đề khác nhau mang đi giới thiệu ở các tỉnh, thμnh phố, kể cả các vùng có chiến sự ác liệt nhằm giới thiệu cho quần chúng nhân dân hiểu về lịch sử văn hoá của dân tộc mình, từ đó phát huy tinh thần yêu nước, tự hμo dân tộc trong mỗi con người Việt Nam
Cho đến nay, Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam đã có hơn 2200m2 diện tích, trưng bμy trong nhμ với khoảng 7000 hiện vật trưng bμy vμ hệ thống kho với 10000 hiện vật được lưu giữ bao gồm các chất liệu khác nhau tạo nên những sưu tập hiện vật
đồ sộ, quý hiếm vμ độc đáo như: sưu tập hiện vật từ các nền văn hoá khảo cổ từ thời sơ kỳ thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồng thau vμ sắt sớm, sưu tập văn hoá
Đông Sơn, sưu tập gốm men Việt Nam, sưu tập gốm tμu Cù Lao Chμm, sưu tập
điêu khắc đá ChămPa Ngoμi ra, Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam còn có khu trưng bμy ngoμi trời với diện tích gần 4000m2 nhằm tạo nên một quần thể trưng bμy mang dáng vẻ mới, đồ sộ, hấp dẫn với nhu cầu hưởng thụ văn hoá của xã hội Như vậy, Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam lμ nơi lưu giữ vμ bảo quản những di sản văn hoá vật thể quí báu của quốc gia, đồng thời cũng lμ nơi nghiên cứu khoa học vμ truyền bá khoa học lịch sử thông qua những bộ sưu tập hiện vật giá trị, quý hiếm vμ đầy sức truyền cảm, giúp cho người xem thấy được lịch sử văn hoá lâu đời rực rỡ vμ truyền thống anh dũng kiên cường chống ngoại xâm trong quá trình đấu tranh dựng nước vμ giữ nước của dân tộc Việt Nam
1.2 Công tác khai quật khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam
1.2.1.Quan niệm về di sản văn hoá dưới nước.
Hiến chương năm 1990 của tổ chức ICOMOS (The International Council On Monuments and Sites) đã khẳng định: Di sản khảo cổ học lμ những chứng cứ vật chất được đem lại bằng phương pháp khảo cổ học, bao gồm tất cả những vết tích
Trang 13vμ di vật để lại của loμi người như các kiến trúc vμ các di vật văn hoá khác đi cùng với chúng
Theo nghĩa đó, di sản văn hóa dưới nước phải được hiểu theo nghĩa: Lμ một
bộ phận nằm trong di sản khảo cổ học hoặc được tách ra từ di sản khảo cổ học mμ
di sản đó nằm trong môi trường ngập nước Di sản văn hóa dưới nước bao gồm các
địa điểm khảo cổ học dưới nước như các con tμu đắm hoặc các mảnh vỡ tách ra từ các con tμu đó cùng với tất cả những di vật đi theo chúng hoặc hμng hoá được chở trên các con tμu đó, các kiến trúc bị ngập nước
Đặc điểm nổi bật của di sản văn hoá dưới nước lμ chúng mang tính quốc tế khá sâu sắc bởi vì hầu hết các di sản đó được phân bố ở khu vực của biển quốc tế Bắt nguồn từ nền thương mại quốc tế, các tμu buôn quốc tế cùng với hμng hoá đã
bị chìm thường cách xa nơi xuất phát hoặc nơi đến của chúng Hiện nay có rất nhiều hoạt động ở biển lμm ảnh hưởng tới di sản văn hoá dưới nước mặc dầu các hoạt động đó mang lại một số lợi ích về kinh tế, song không tính toán vμ lường trước được những hậu quả của nó đối với các di sản văn hoá nằm sâu dưới mặt nước
Di sản văn hoá dưới nước có thể bị ảnh hưởng bởi các dự án xây dựng, mμ các dự án đó đã lμm biến đổi bờ biển, đáy biển hoặc các dòng chảy hiện tại dẫn
đến sự thay đổi hoặc di chuyển trầm tích vμ các loại hiện vật khác dưới đáy biển
Sự khai thác một cách mù quáng vμ thiếu phương pháp, phương tiện tiếp cận hợp
lý các di sản dưới nước cũng dẫn đến việc đe doạ các nguồn tμi nguyên đó Ngoμi
ra, di sản văn hoá dưới nước còn bị đe doạ bởi các hμnh động thiếu suy nghĩ, không có sự cân nhắc kỹ cμng, họ chỉ chú ý đến một vμi lợi ích nhỏ nhặt mμ phá đi nhiều thứ quý giá Do vậy mμ việc lập các dự án điều tra, khai quật phải tham khảo
kỹ cμng ý kiến của các nhμ nghiên cứu như vậy sẽ khắc phục được những ảnh hưởng trên đối với di sản văn hoá dưới nước
1.2.2 Quy trình khai quật khảo cổ học dưới nước
* Công việc chuẩn bị khai quật
Trang 14Khai quật khảo cổ học lμ một công việc hết sức khó khăn vμ đặt ra những đòi hỏi cao về kỹ thuật cũng như trình độ chuyên môn của những người lμm khảo cổ Công việc đó sẽ cμng khó khăn hơn khi nó được thực hiện trong môi trường biển, phải lμm việc trong điều kiện thiếu không khí, áp suất đè lên da rất lớn (cứ xuống mỗi 1m độ sâu thì áp suất đè lên da lμ 2kg/1m2) Công việc khai quật dưới biển muốn thực hiện được cần chuẩn bị chu đáo về nhiều mặt như con người, lương thực thực phẩm, phương tiện kỹ thuật, thu thập đầy đủ thông tin về con tμu cổ đó, xác định vị trí, toạ độ đắm của tμu, tình hình khí tượng, thuỷ văn của vùng biển nơi tμu bị đắm, xác định độ sâu dòng chảy vμ các điều kiện khí hậu khác, thuốc men, khí lặn dự trữ vμ phương tiện cấp cứu Trong đó việc chuẩn bị phương tiện cấp cứu, thuốc men lμ rất quan trọng Dưới áp lực công việc vμ môi trường lμm việc như vậy những trục trặc về sức khoẻ lμ điều hiển nhiên Có nhiều người sau một vμi lần lặn đã bị sốc, chảy máu mũi, máu tai, bị rạn mμng nhĩ những trường hợp
đó nếu không được cấp cứu, xử lý kịp thời sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, có thể dẫn tới tử vong Ngoμi ra việc chuẩn bị trang thiết bị để xử lý hiện vật ngay khi khai quật được cũng rất quan trọng, vμ lμ vấn đề lớn cần đặt ra ngay từ đầu
Tất cả các con tμu cổ bị đắm hầu hết đều được ngư dân phát hiện ngẫu nhiên khi đánh bắt thuỷ sản Việc tổ chức khai quật cần được khảo sát thăm dò để nắm
rõ hiện trạng Trên cơ sở đó hoμn tất các thủ tục về dự trù các trang thiết bị khai quật Việc khảo sát, thăm dò lμ rất cần thiết song không cần thiết phải huy động nhiều nhân lực, vật lực mμ chỉ cần một đội đơn giản gồm ba thợ lặn, một đến hai chuyên gia khảo cổ đến tận nơi tμu đắm Qui trình khảo sát sơ bộ gồm ba bước sau:
Bước 1: Hoạch định khu vực cần khảo sát, sau đó dùng máy chụp ảnh thả sâu
vμ máy dò từ tính để thăm dò vμ chụp ảnh trong diện tích 50m2– 500m2
Bước 2: Sau khi tìm được điểm đắm của tμu sẽ định vị toạ độ bằng vệ tinh
(GPS) Sau đó dùng máy khảo sát điều khiển từ xa ROV để xác định rõ hơn vị trí tμu đắm, có quay băng hình, chụp ảnh, lên bình đồ bằng bản vẽ
Trang 15Bước 3: Lặn nếu điều kiện dòng chảy, độ sâu vμ thời tiết cho phép để lấy
mẫu, chụp ảnh thêm
Sau khi có hồ sơ đầy đủ về di sản dưới nước, công tác chuẩn bị nhân sự cũng rất quan trọng, từ các nhμ khảo cổ học cho đến kỹ thuật viên lặn, chuyên viên bảo quản, lực lượng hậu cần, lực lượng an ninh bảo vệ an toμn cho công trường Về nguyên tắc, chuyên gia khảo cổ học dưới nước ngoμi việc được trang bị đầy đủ các kiến thức cơ bản về khảo cổ học nói chung, nhất thiết phải biết lặn ở các độ sâu cho phép để trực tiếp lμm việc dưới nước khi tiến hμnh một cuộc điều tra hay khai quật Kinh nghiệm cho thấy rằng khi cán bộ khảo cổ học trực tiếp lμm việc dưới
đáy biển mới không bỏ sót thông tin khoa học, nhất lμ vấn đề về địa tầng vμ sự phân bố hiện vật trong tμu đắm, thậm chí că những đặc điểm về con tμu như gỗ, ván, đồ dùng của thuỷ thủ đoμn cũng cần được ghi chép, miêu tả tỉ mỉ Đó lμ những thông tin quan trọng để giúp chúng ta dựng lại con tμu, hμng hoá chuyên chở vμ hμnh trình của nó Những công việc đó chỉ có cán bộ khảo cổ học mới có thể lμm được một cách đầy đủ Tuy nhiên khi lựa chọn cán bộ khảo cổ để có thể lặn cũng phải lựa chọn người cẩn thận, đó phải lμ những người trẻ, khoẻ, có tính kiên nhẫn, bền bỉ vμ phải có kỷ luật, có tinh thần đồng đội Các đức tính đó lμ tối cần thiết của một cán bộ khảo cổ học dưới nước, vì ở môi trường dưới nước chỉ cần một sơ suất nhỏ, một chút ích kỷ cá nhân có thể sẽ phải trả một cái giá rất lớn, thậm chí cả tính mạng của mình Công việc khai quật dưới biển cũng không thể thiếu các thiết bị như máy khảo sát điều khiển từ xa ROV (Remotely Operated Venicle), máy dò từ tích (Echo Sounder / Fish Finder), máy định vị vệ tinh mặt
đất, máy quay phim thả sâu (Drop camera), hệ thống điện đμm, băng ghi hình, phao cứu sinh, các khung cọc để xác định mặt bằng khai quật Việc khai quật dưới nước không đơn giản như ở trên cạn bởi vậy cần có các thiết bị kỹ thuật hỗ trợ để công việc khai quật được tiến hμnh chính xác vμ đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó cũng cần chuẩn bị dμn máy rửa sạch bùn, cát cho các hiện vật khai quật cùng các phương tiện đóng gói đảm bảo an toμn cho việc di chuyển về địa điểm tμng trữ trên đất liền Do nằm lâu dưới đáy biển, qua thời gian các con tμu cổ bị bùn, đất,
Trang 16cát lấp đầy, do vậy khi lấy hiện vật lên khỏi đáy biển cần phải lμm sạch những bùn cát bám trên hiện vật, đồng thời có những biện pháp xử lý ban đầu để tránh sự phá huỷ hiện vật do môi trường tồn tại bị thay đổi
Chuẩn bị hồ sơ, biểu mẫu phân tích, theo dõi vμ thống kê hiện vật khai quật (B1 – B7) Chuẩn bị kho tμng vμ cở sở xử lý bảo quản rửa mặn, gắn chắp phục hồi, lập hồ sơ khoa học cho hiện vật khai quật Hiện vật cần được bảo quản vμ đăng ký
số hiệu trước khi phân loại tổng hợp Nhập các dữ liệu về hiện vật theo quy trình quản lý vμ khai thác thông tin bằng máy vi tính
*Quy trình khai quật khảo cổ học dưới biển
Sau khi tμu chở các thiết bị khai quật vμ nhân lực tham gia công trường có mặt tại hiện trường, tμu sẽ thả neo định vị Căn cứ vμo kết quả khảo sát của đội lặn, các nhμ khảo cổ học quyết định một số mẫu chuẩn như thanh xμ, cột buồm lμm thμnh một đường trục chuẩn đề xác định phương vị toạ độ, sau đó dùng các khung nhôm vuông, cạnh 2m đặt theo đường trục vμ đeo số hiệu chia ô trong mặt bằng Công việc khai quật được tổ chức theo dây chuyền kết hợp giữa các nhμ khảo cổ vμ chuyên viên lặn Thông qua hệ thống camera KBM17 vμ máy điện đμm dưới nước, người điều hμnh lặn giúp các nhμ khảo cổ học chỉ dẫn vμ kiểm tra việc thổi hút bùn cát vμ thu hồi cổ vật Đối với mỗi độ sâu khác nhau áp dụng những phương pháp lặn khác nhau Ví dụ ở độ sâu trên 30m sẽ sử dụng phương pháp lặn
đơn giản gọi lμ Sport diving Đây lμ cách lặn ít tốn kém nhất mμ hiệu suất công việc cao Chỉ cần một bộ đồ lặn thông thường Scuba nhμ khảo cổ xuống lμm việc
từ 35 đến 40 phút dưới đáy biển một cách dễ dμng mμ không cần đến sự trợ giúp của các loại thiết bị đặc biệt như buồng giảm áp, các loại bình khí hỗn hợp đó lμ những thiết bị vμ dụng cụ rất đắt tiền Đối với độ sâu 35m – 40m thường áp dụng phương pháp lặn bằng cấp hỗn hợp khí bề mặt Trong điều kiện sóng biển dưới cấp
4 – 5, công trường khai quật tổ chức thực hiện được 6-7 ca lặn, mỗi ca 2 người, kéo dμi 45 phút (kể cả thời gian giảm áp dưới nước) Các ca lặn đều có văn bản theo dõi vμ băng ghi hình ghi lại mọi hoạt động của chuyên viên lặn Trong khi các thợ lặn lμm việc dưới nước thì các chuyên gia khảo cổ theo dõi vμ điều hμnh
Trang 17khai quật qua quan sát mμn hình, ghi chép mọi sự việc diễn ra dưới nước vμ trên boong tμu, lưu ý việc phác thảo hình vẽ của thợ lặn, thảo luận vμ quyết định khai quật theo từng ô Khi cổ vật được thợ lặn thu hồi vμo các giỏ nhựa đưa lên boong tμu, các chuyên gia khảo cổ học phân loại sơ bộ vμ đóng gói vμo các giỏ nhựa có ghi số, chằng lưới Các giỏ hiện vật nμy được ngâm trong các thùng nước biển chờ ngμy chuyển vμo kho trên bờ Sau khi lấy khỏi lòng biển đưa lên môi trường khác nếu không được xử lý kịp thời hiện vật sẽ rất dễ bị phá huỷ, mμ xử lý ngay trên tμu thì không thể do vậy phải tiếp tục để hiện vật trong môi trường tồn tại của nó Khi bμn giao các giỏ hiện vật có kèm theo các biểu mẫu theo dõi thống kê số lượng, chủng loại thuộc số ô cụ thể, ca lăn, người lặn, ngμy tháng lặn, người ghi chép khảo tả
ở độ sâu 70m, biển luôn có sóng lớn cấp 4 – 5, do vậy thường áp dụng phương pháp lặn bão hoμ Các thợ lặn lần lượt đặt khung ô vuông, thổi hút bùn, cát lấy hiện vật, đánh số bỏ vμo các giỏ nhựa, rồi bỏ vμo một rổ sắt lớn có thể chứa
được hμng nghìn hiện vật Tiếp đó cần cẩu sẽ kéo rổ sắt lên xμ lan Các nhμ khảo
cổ học vμ công nhân sẽ rửa sạch bùn đất ghi phiếu hiện vật, chụp ảnh, rồi chuyển
đến ngâm trong các thùng nhựa có đánh số hiệu theo dõi Mẫu vật đại diện mỗi chủng loại hiện vật được lựa chọn để đánh số, chụp ảnh, vẽ kỹ thuật Cùng với việc thu hồi cổ vật, việc ghi chép, vẽ hiện trường khai quật dưới biển được tiến hμnh bình thường
*Xử lý hiện vật trên bờ
Sau khi hiện vật được đưa lên bờ việc tổ chức ngâm nước ngọt, rửa mặn được tiến hμnh ngay sau khi kiểm tra đầy đủ số lượng bμn giao theo từng giỏ hiện vật Dùng bể hay thùng nhựa lớn ngâm nước ngọt trong khoảng 7 – 10 ngμy để khử mặn dần Sau đó kiểm tra bằng dung dịch bạc nitơrat (AgNO3 ), vμ axit nitơric (HNO3) Khi đã thấy hết độ mặn mới cho sấy khô Chuyên viên bảo quản sẽ ghi chép báo cáo kết quả bằng bảng phiếu số 6
Đối với các hiện vật mẻ, vỡ được các chuyên viên lặn bao gói trong từng túi nylon sẽ được ngâm rửa vμ gắn chắp lại bằng keo UVU hoặc PVA Các hiện vật
Trang 18thuộc nhiều bộ phận khác nhau cần được lắp khớp lại Hiện vật trong các giỏ sau khi xử lý rửa mặn, sấy khô sẽ được các nhμ khảo cổ tiếp tục phân loại, đánh số kiểm kê vμ hoμn thμnh các biểu phiếu miêu tả
- B4: Phiếu phân loại tình trạng hiện vật
án trang trí, kèm theo các bản dập hoa văn, băng hình quá trình khảo sát vμ khai quật Cũng từ đó công bố thμnh sách vμ tổ chức trưng bμy triển lãm, giới thiệu về con tμu cổ
Qua những đợt khai quật khảo cổ học dưới biển ở nước ta đã có thể xem lμ bước khởi đầu rất có triển vọng Mặc dù đây lμ công việc mới mẻ của ngμnh khảo
cổ học Việt Nam vμ cũng lμ công việc hết sức khó khăn, phức tạp Nhưng với việc tiếp thu áp dụng những kinh nghiệm khảo cổ dưới biển của nhiều nước cùng việc hợp tác với các tổ chức, các chuyên gia nước ngoμi chắc chắn trong tương lai Việt Nam sẽ tiến hμnh nhiều hơn nữa những cuộc thăm dò vμ khai quật dưới biển để lμm giμu thêm kho tμng di sản của đất nước, đồng thời mở ra những hiểu biết mới
về quá khứ của dân tộc
1.2.3 Việt Nam với công tác khai quật khảo cổ học dưới nước
Với đường bờ biển dμi hơn 300km, tiềm năng di sản dưới biển của nước ta vô cùng to lớn Tuy nhiên khảo cổ học dưới biển của nước ta vẫn chỉ đang lẫm chẫm bước những bước đi đầu tiên, trong khi đó không tính đến các nước phương Tây
Trang 19mμ chỉ nhìn ở khu vực Đông Nam á cũng có rất nhiều quốc gia phát triển hơn Việt Nam trong lĩnh vực nμy Tiêu biểu như ở Thái Lan đã có hẳn một trung tâm khảo
cổ học dưới nước, trực thuộc cơ quan Nghệ thuật khảo cổ học nằm ở thμnh phố cửa biển Nam Thái Trung tâm tuy không hoμnh tráng nhưng có đầy đủ trang thiết
bị vμ đội ngũ lμm công tác nμy Họ được đμo tạo khá cơ bản từ Mỹ, Anh vμ rất chuyên nghiệp, cho dù hoạt động của họ chủ yếu ở vịnh Thái Lan – một vùng địa
lý, khí hậu rất ổn định, ít gió bão vμ nước không sâu như biển ở nước ta Năm
1974 họ thực hiện công việc khai quật dưới biển đầu tiên với sự giúp đỡ của chuyên gia Đan Mạch Công việc khai quật con tμu cổ Kokhram tuy không mang mục đích lợi nhuận nhưng giá trị lịch sử của nó vô cùng to lớn Đến năm 1979, những hoạt động khảo sát của Thái Lan đã tìm ra bốn con tμu cổ thế kỷ XVI, chứng minh một nền kinh tế phồn thịnh lúc đương thời vμ vai trò vị trí của các lò gốm Thái đối với thị trường khu vực Những năm sau đó đã có thêm 16 tμu cổ
được khảo sát vμ khai quật Các nhμ khảo cổ học dưới nước của Trung tâm nói rằng họ đã cơ bản lên được bản đồ khảo cổ học vịnh Thái Lan Đây lμ một thμnh tựu đáng kể, theo đó có kế hoạch khai quật chủ động bảo vệ khá nghiêm ngặt nhưng điểm có tμu cổ, tránh sự huỷ hoại của ngư phủ
ở Philippin cách đây gần 20 năm Trung tâm Nghiên cứu khảo cổ học dưới nước thuộc Bảo tμng Quốc gia Philippin đã thực hiện công tác khai quật khảo cổ học dưới nước khá bμi bản Hiện nay quốc gia nμy đã phát hiện được 16 tμu đắm
cổ vμ 5 trong số nμy đã xác định được nguồn gốc vμ xuất xứ hμng hoá
Nhiều năm qua, đã có nhiều tμu được khai quật vμ năm 1998 Bảo tμng Quốc gia Philippin tổ chức một cuộc trưng bμy qui mô, hoμnh tráng Cuộc triển lãm
mang tên Năm trăm năm thương mại đường biển với nhiều hiện vật vμ đủ loại gốm
sứ, chứng minh Châu á, đặc biệt lμ Philippin đã có thương mại đường biển trước khi Châu Âu đặt chân tới đây
Ngoμi hai quốc gia trên, nhiều nước như Inđônêxia, Brunây, Malaysia cũng
đều phát hiện được những con tμu cổ vμ họ cũng đã khai quật nhiều tμu với sự tham gia đầu tư của đối tác nước ngoμi Tuy nhiên những cuộc khai quật có sự đầu
Trang 20tư tμi chính của tư nhân, của đối tác nước ngoμi không lấy mục đích nghiên cứu khoa học lμm chính, dẫn đến tình trạng các hiện vật khai quật được cho phép bán
tự do trên thị trường trong vμ ngoμi nước Chính phủ vμ các nhμ đầu tư thoả thuận việc đầu tư trục vớt dựa vμo sự rủi ro, lô hμng trên tμu vμ sức hút của thị trường để
định tỷ lệ phần trăm Bảo tμng Quốc gia được giữ lại những hiện vật độc bản Đó
lμ trường hợp của tμu cổ ở Malaysia ở Brunây, do đây lμ một quốc gia giμu có nên
họ đã dùng kết quả khai quật tμu cổ lμm một dự án giáo dục cộng đồng đặc biệt Công nghệ thông tin đã được sử dụng để biến tμu cổ thμnh một bảo tμng trưng bμy qua mạng Internet Khách tham quan, sinh viên, học sinh, chuyên gia khảo cổ học, Bảo tμng học trong vμ ngoμi nước được kết nối qua mạng vμ qua các cuộc thảo luận, hội thảo trực tuyến dưới sự bảo trợ của dự án tμu cổ ở Inđônêxia, tình hình khai quật tμu cổ khá phổ biến nhưng cũng rất lộn xộn Nhiều tμu được khai quật qua sự đầu tư của các công ty trục vớt tư nhân, nhưng cũng có tμu bị khai quật trái phép, không phải từ ngư phủ, mμ có sự tham gia của những tổ chức phi khảo cổ trong nước vμ có sự tham gia của nước ngoμi
Trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2002, Việt Nam đã tổ chức khai quật thμnh công năm con tμu cổ có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Theo thời gian trình tự năm con tμu cổ đã khai quật như sau:
Trung Quốc
Gốm sứ Thái Lan
Trang 21khai quật Cho đến tháng 7/1991, công việc khai quật đã hoμn thμnh Các chuyên viên lặn đã đo vẽ hình con tμu với chiều dμi 32,71m vμ chiều rộng gần 9m Hiện vật trong tμu trục vớt được trên 60.000 tiêu bản, tập trung nhất lμ số lượng đồ gốm
sứ Trung Quốc có niên đại sản xuất vμo năm 1690 Cuộc khai quật nμy có thợ lặn của Việt Nam vμ nước ngoμi, chuyên gia khảo cổ học lμ ông M.Flecker
*Tμu cổ Hòn Dầm
Tháng 5/1991, tμu cổ ở vùng biển Hòn Dầm, Phú Quốc (Kiên Giang) được khai quật Đây lμ chiếc tμu cổ đã được Jeremy vμ Rosemary Harper thông báo trong hội thảo gốm ở Hồng Kông năm 1978
Công ty Visal đã khai quật trên cơ sở những kinh nghiệm có được từ tμu cổ Vũng Tμu Con tμu nμy năm ở độ sâu hơn 17m vμ bị vùi trong cát biển có chỗ gần 2m Tμu có chiều dμi gần 30m vμ rộng gần 7m Đồ gốm phía trên mặt tμu bị hμu biển đóng lại thμnh khối lớn Kết quả cuộc khai quật đã trục vớt được gần 16.000
đồ gốm men ngọc vμ nâu Các chuyên gia khảo cổ học cho rằng những đồ gốm nμy sản xuất từ lò gốm Sawankhalok (Thái Lan) vμo thế kỷ XV Cuộc khai quật
nμy có thợ lặn Việt Nam vμ các chuyên gia khảo cổ học M.Flecker vμ W.Blake
*Tμu cổ Cù Lao Chμm
Tháng 5/1997 cho đến tháng 6/1999, tμu cổ ở vùng biển Cù Lao Chμm (Hội An), nay thuộc tỉnh Quảng Nam đã được thăm dò vμ khai quật khảo cổ học Tμu nằm ở độ sâu 70m – 72m Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam, Visal vμ Công ty Saga Horizon (Malaysia) đã phối hợp tiến hμnh khai quật Trưởng ban khai quật lμ ông Phạm Quốc Quân – Giám đốc Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam vμ ông Lâm Minh Châu – Tổng giám đốc Visal Tham gia cuộc khai quật nμy còn có nhiều chuyên gia khảo cổ học của Đại học Oxford (Anh quốc), Đại học Kebangsan (Malaysia), Cộng hoμ Séc, nhiều chuyên gia lặn vμ thuỷ thủ đoμn của Việt Nam, Malaysia, Anh, Indonesia, Singgapo Kết quả khai quật cho biết dấu vết con tμu dμi 29,4m, rộng 7,2m, trong lòng chia 19 khoang, gỗ đóng tμu còn tốt vμ các thanh dầm ngăn các khoang còn thấy được ghép chắc chắn Số lượng cổ vật thu được trong con tμu
Trang 22trên 240.000 tiêu bản, chủ yếu lμ đồ gốm sản xuất tại Chu Đậu (Hải Dương) vμ Thăng Long (Hμ Nội) thuộc Bắc Việt Nam, vμo nửa cuối thế kỷ XV
*Tμu cổ Cμ Mau
Tháng 8/1998 đến tháng 10/1999, Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam, Công ty Visal
vμ Bảo tμng tỉnh Cμ Mau đã tổ chức khai quật khảo cổ học con tμu cổ ở vùng biển tỉnh Cμ Mau Phụ trách khai quật lμ TS Nguyễn Đình Chiến vμ nhóm chuyên gia khảo cổ học của Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam cùng nhóm chuyên viên lặn của Visal
có bằng cấp quốc tế 3.1U Con tμu nằm ở độ sâu 35m vμ chỉ còn dấu vết chiều dμi khoảng 24m vμ rộng gần 8m Số lượng cổ vật thu được từ con tμu gồm hơn 60.000 tiêu bản Tập trung cao nhất lμ đồ gốm sứ men trắng vẽ lam vμ kết hợp vẽ nhiều mau, sản xuất ở Trung Quốc vμo đời Ung Chính (1723 – 1735) Đặc biệt công trình khai quật tμu cổ Cμ Mau chỉ có thợ lặn Việt Nam đảm nhiệm Đến năm
2002, kết quả khai quật đã được trình bμy trong báo cáo khai quật khảo cổ học tμu
cổ Cμ Mau vμ công bố trong sách Tμu cổ Cμ Mau (1723 – 1735)
*Tμu cổ Bình Thuận
Tμu cổ Bình Thuận được phát hiện vμ khai quật trong vùng biển tỉnh Bình Thuận, từ năm 2001 đến 2002 Tμu nằm ở độ sâu 39m – 40m Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam vμ Visal phối hợp khai quật với sự cộng tác của M Flecker, Trưởng ban khai quật lμ ông Nguyễn Đình Chiến – Trưởng phòng kiểm kê - bảo quản của Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
Kích thước con tμu sau khi khai quật cho thấy chiều dμi 23,4m vμ rộng 7,2m với 25 khoang Kết quả khai quật đã thu được hơn 60.000 tiêu bản Đa số lμ đồ gốm sứ hoa lam, một số lượng đáng kể lμ đồ sứ vẽ nhiều mμu Đây lμ những hμng gốm sứ sản xuất tại Trấn Cảnh Đức - tỉnh Giang Tây, lò Đức Hoá - tỉnh Phúc Kiến
vμ lò Quảng Châu - tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) Niên đại của tμu được xác
định vμo khoảng thế kỷ XVI – XVII, tương ứng niên hiệu Vạn Lịch (1573 – 1620) thời Minh
Nếu so với các nước Đông Nam á nêu trên, trong lĩnh vực nμy có nhiều nước phát triển hơn hẳn Việt Nam, song cũng có những nước chỉ giống chúng ta mμ
Trang 23thôi Tuy nhiên từ thực tiễn năm con tμu cổ mμ ta đã khai quật, những thông tin báo dẫn, những tư liệu của nhiều cơ quan, lưu trữ quốc tế vμ lịch sử đã khẳng định vai trò, vị trí của biển Việt Nam trên con đường tơ lụa quốc tế Do vậy yêu cầu đặt
ra lμ cần phát triển hơn nữa về lĩnh vực khảo cổ học dưới nước Vμ yêu cầu cấp thiết lμ cần phải có một cơ quan khảo cổ học dưới nước để đảm trách những cuộc nghiên cứu, khai quật tμu cổ ở biển Việt Nam Điều nμy cμng đặt ra cho chúng ta hơn khi mμ vμi năm trở lại đây nhiều tổ chức quốc tế kêu gọi hợp tác khảo sát tμu
cổ, nhưng do nhiều lý do về an ninh, đặc biệt lμ Việt Nam chưa có một đối tác cụ thể nμo để lμm được việc ấy theo đúng tinh thần của sự hợp tác
Với điều kiện nước ta hiện nay việc xây dựng một trung tâm khảo cổ học dưới nước lμ không khó nếu chúng ta có phương châm từng bước xây dựng, mua sắm trang thiết bị Đã có những công ty tư nhân của Việt Nam trang bị cho mình những thiết bị tối thiểu cho khảo sát vμ Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam, Bảo tμng Kiên Giang cùng các nhμ đầu tư nước ngoμi đã thuê của họ nhân chuyến tìm hiểu một tμu cổ ở Kiên Giang năm 2004
Tuy vậy, vấn đề quan trọng vμ trước hết đặt ra với trung tâm nμy không phải
lμ trang thiết bị mμ lμ nhân lực Đμo tạo được một nhμ khảo cổ học dưới nước rất tốn kém vμ phải gửi đμo tạo ở nước ngoμi vì hiện nay chúng ta chưa có một trung tâm như ở Trung Quốc ít nhất sau năm năm, nếu bắt đầu từ bây giờ, chúng ta mới
có một đội ngũ dựa trên một qui mô trung tâm đã được hoạch định từ lúc nμy Như thế chúng ta sẽ quá muộn, mất đi những lợi thế mμ hiện nay đang đặt ra cho Việt Nam
Tuy nhiên với những kết quả đã đạt được, tin rằng trong tương lai chúng ta sẽ
được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nhiều cổ vật mμ hiện nay đang nằm đâu đó ở dưới
đáy biển
Trang 24
Chương 2: Công tác bảo quản vμ phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật
được từ các con tμu đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
2.1 Hiện trạng hiện vật gốm sứ khai quật được từ các con tμu đắm
Đối với hiện vật khảo cổ học qua thời gian, môi trường tồn tại ảnh hưởng không nhỏ tới hiện trạng của hiện vật, đặc biệt khi hiện vật đó được đưa đến một môi trường khác không như môi trường nó vẫn tồn tại ảnh hưởng của môi trường tới hiện vật chủ yếu lμ theo chiều hướng tiêu cực, tức lμ cμng ngμy lμm cho hiện vật dễ bị phá huỷ Do vậy, khi muốn đưa hiện vật ra khỏi môi trường tồn tại của nó nhất thiết phải có biện pháp phù hợp để giảm thiểu sự hư hỏng của hiện vật
Những năm gần đây, khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam đã bắt đầu được chú
ý Chúng ta đã tiến hμnh một số cuộc khai quật vμ đã thu được rất nhiều hiện vật
từ các cuộc khai quật đó Tuy nhiên môi trường dưới biển có ảnh hưởng rất lớn tới hiện vật Vμ để bảo tồn được hiện vật các nhμ khoa học đã rất vất vả, tốn nhiều thời gian vμ tiền bạc
Những con tμu khi bị đắm, chìm xuống đáy biển, nó có thể bị nghiêng đi vμ hμng hoá bị văng xa Tuỳ theo vị trí của nó mμ các đồ gốm sứ có thể bị đè bẹp hoặc phát tán Từ những va chạm đầu tiên nμy khiến các hiện vật có thể bị vỡ, mẻ
vμ rạn nứt Các cấu trúc của tμu vỡ ra, các đệm ghế văng đi, sự tác động của các dòng hải lưu cũng góp phần lμm vỡ thêm các đồ gốm sứ trên tμu Sau đó thêm vμo lμ sự di chuyển của cát, sự tác động của các ống hút dùng trong khi khai quật cũng kéo theo một loạt những va chạm mμi mòn lμm hư hại thêm các đồ gốm sứ Môi trường biển lμ môi trường chứa rất nhiều muối Như ta đã biết muối tác
động tới hầu hết tất cả các chất liệu vμ lμm hư hỏng chúng rất dễ, đối với gốm sứ cũng không phải lμ ngoại lệ Nếu RH không thay đổi, muối tan sẽ lặp đi lặp lại quá trình tan vμ kết tinh toả ra khắp bề mặt gốm, nơi xảy ra quá trình bay hơi mạnh Sự kết tinh của muối dẫn đến hư hại vì trong quá trình nμy các tinh thể mới hình thμnh có thể tích lớn hơn thể tích của muối ở dạng dung dịch vμ sẽ tạo ra áp suất lớn hơn tác dụng lên xương gốm Yếu tố nμy đủ để khiến cho bề mặt gốm bị bong hoặc ảnh hưởng đến sự không liên kết của gốm Mặt khác những tác động
Trang 25của nước mặn lên các lớp men trong đã lμm mất lớp canxi vμ lμm tan mòn một số thμnh phần, đồng thời lμm tăng thêm một số muối hoμ tan, phần lớn lμ clorua vμ các muối không hoμ tan mμ ta có thể gộp chung lại lμ những cặn cứng Những cặn cứng nμy bám chặt vμo hiện vật khiến cho việc xử lý lμm sạch hiện vật sau khi khai quật lμ rất khó, đỏi hỏi khéo léo vμ tỉ mỉ
Mặt khác khi bị đắm dưới đáy biển lâu ngμy những con tμu sẽ bị vùi lấp bởi bùn cát Dưới bùn cát, trong môi trường yếm khí các sinh vật biển không thể phát triển được ở trên lớp bùn nμy có ôxy, các đồ gốm sứ nhanh chóng bị rong rêu, vỏ
ốc bao phủ gắn chặt trên bề mặt tạo thμnh những vết đốm không xoá đi được vμ lμm phân huỷ chất chì có trong lớp men phủ vμ lμm hỏng lớp men phủ
Tuy nhiên cũng tuỳ theo vị trí của hiện vật mμ môi trường có tác động xâm thực nhiều hay ít khác nhau ở gần các khối kim loại như chảo gang, nồi đồng, thanh gang, súng đạn với sự góp mặt của lớp rong, tảo biển lμ những tác động hoá học lên những lớp men của hiện vật Trong môi trường biển do có nhiều muối tác động nên kim loại sau một thời gian sẽ bị gỉ Đây lμ tác nhân gây lan toả ôxit sắt trên toμn bộ bề mặt hiện vật Bên cạnh đó do sự tiếp xúc trực tiếp, những ôxít sắt nμy bám chặt vμo lớp men hay những lớp bột bám bên ngoμi hiện vật cũng như tất cả những vật khác ở đó tạo thμnh những vết ố trên lớp men của hiện vật Để
đánh giá được sự bền vững của lớp men, cần phải có nhiều thông số như thμnh phần cấu tạo vμ nhiệt độ nung của gốm Những hiện vật cμng nung kỹ nghĩa lμ mức độ thuỷ tinh hoá tốt thì hiện vật cμng ít bị xâm hại hơn Tuy nhiên những đồ gốm sứ khai quật được từ năm con tμu cổ hầu hết được nung ở nhiệt độ thấp do vậy mμ dễ bị xâm nhập của nước biển lμm cho hư hỏng Hơn nữa, các đồ gốm thường có độ xốp hơn vì sự có mặt của các bọt khí trong thân cũng như trong lớp men phủ Trong thực tế những hoa văn trang trí nung nhẹ lửa, các men đỏ vμ xanh lục, những hoa văn trang trí bằng vμng kim bị mất đi trước tiên
Ngoμi ra độ mặn của nước biển, thời gian ngâm trong nước vμ nhiệt độ của nước cũng lμ tác nhân không nhỏ góp phần xâm hại hiện vật Một số hiện vật, nhất
lμ những chiếc hộp hay hũ có nắp bị dính liền miệng vμ thân với nhau do nhiệt độ
Trang 26trong tμu lúc bị đắm tăng cao hoặc do ngâm lâu ngμy trong nước hμu hμ bám vμo thì rất khó lμm sạch muối Còn nếu gỡ ra sẽ dẫn đến hiện vật bị sứt mẻ Cá biệt có những hiện vật do miệng bị bịt kín, nước biển bên trong gỉ dần tạo thμnh những hạt muối đọng trên hiện vật
Tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam hiện vật từ các con tμu đắm được lưu giữ trong hai kho đó lμ kho gốm Cù Lao Chμm vμ kho gốm Đông Nam á Hầu hết hiện vật đưa vμo lưu giữ đã trải qua quá trình bảo quản xử lý, nhiều hiện vật đã hoμn toμn hết muối Song có những hiện vật bị dính miệng không thể loại bỏ được hoμn toμn muối Ngoμi ra nhiều hiện vật cũng bị vỡ, mẻ, sứt vμ nhiều hiện vật đã được gắn chắp lại Vμ hiện nay Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam cũng đang tiếp tục tiến hμnh công tác bảo quản kỹ thuật đối với những hiện vật nμy để có thể loại bỏ những yếu
tố gây hại cho hiện vật, góp phần lưu giữ hiện vật lâu dμi phục vụ cho công tác nghiên cứu, trưng bμy của bảo tμng
2.2 Công tác bảo quản hiện vật gốm sứ khai quật từ các con tμu đắm tại Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam
2.2.1 Bảo quản phòng ngừa
Trong cuốn “Cơ sở bảo tμng” của Timothy Ambrose vμ Crispin Paine do Bảo tμng Cách mạng Việt Nam dịch có câu:
“Bảo quản phòng ngừa lμ các quy trình lưu giữ, vận dụng, trưng bμy vμ bảo quản các sưu tập của bảo tμng theo những cách thức không dẫn đến sự xuống cấp của bảo tμng vμ không cần đến việc bảo quản tu sửa”
Công tác bảo quản phòng ngừa trong bảo tμng lμ quá trình tìm mọi cách để ngăn chặn, giảm thiểu hay giảm nhẹ đi tất cả những ảnh hưởng mμ hμng ngμy
đang tác động đến sự tồn tại của một hiện vật
Theo bộ luật của Quy chế hμnh nghề đối với các Bảo tμng, điều 6.3 (ICOM):
“ Tất cả các nghiệp vụ của bảo tμng phải chịu trách nhiệm quản lý lưu giữ các hiện vật vμ mẫu vật cần phải sáng tạo vμ giữ gìn môi trường bảo vệ xung quanh để những sưu tập được lưu giữ trong kho, trong các triển lãm hoặc trong quá trình vận
Trang 27chuyển Sự bảo quản phòng ngừa đưa ra những biện pháp quan trọng trong sự quản
lý những bất trắc của bảo tμng ”
Ngay từ những ngμy đầu cải tạo nâng cấp bảo tμng, lãnh đạo Bảo tμng Lịch
Sử Việt Nam đã coi trọng công việc nâng cấp cải tạo hệ thống kho hiện vật với mục tiêu biến những kho hiện vật vốn chỉ lμ nơi lưu giữ các bộ sưu tập trở thμnh các kho bảo quản thực sự Cho đến nay, hệ thống kho bảo quản của Bảo tμng Lịch
Sử Việt Nam đã đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật cơ bản để bảo tồn các sưu tập hiện vật quý giá Các sưu tập được bảo quản tại các kho theo chất liệu: kim loại, hữu cơ, gốm vμ có chế độ bảo quản phù hợp với từng chất liệu Đồng thời đầu tư trang thiết bị cần thiết để kiểm soát điều kiện khí hậu trong các kho bảo quản vμ
có chế độ vận hμnh thích hợp với từng kho Sau khi việc cải tạo nâng cấp kho được hoμn thμnh, mỗi phòng kho được thiết kế trang thiết bị, hệ thống máy móc điều hoμ của Nhật, cùng các thiết bị thông gió, hút ẩm, phòng cháy chữa cháy, hệ thống chiếu sáng cùng các thiết bị kệ, bục, giá cất giữ Bước đầu triển khai nghiên cứu, phân tích đánh giá chất lượng khí hậu trong các kho bảo quản, như xác định hμm lượng các chất độc hại, chất phóng xạ, nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm Trên cơ sở phân tích, đánh giá đó có những điều chỉnh thích hợp, tạo cho môi trường vi khí hậu trong kho bảo đảm độ an toμn cao với cả hiện vật vμ cán bộ lμm việc
Riêng đối với hiện vật gốm từ các con tμu đắm hiện được lưu giữ trong kho gốm Cù Lao Chμm vμ kho Đông Nam á Đây lμ những hiện vật có giá trị lớn về lịch sử, văn hoá lại từng tồn tại ở môi trường đặc biệt nên việc bảo tồn vμ phát huy giá trị của hiện vật lμ điều hết sức cần thiết
Sau khi tiến hμnh bảo quản trị liệu hiện vật được đưa vμo kho Tại đây các cán bộ bảo tμng tiếp tục công tác bảo quản phòng ngừa với phương châm “phòng hơn chống” để duy trì sự tồn tại của các hiện vật Bảo quản phòng ngừa quan tâm
đến môi trường xung quanh các hiện vật trong kho hoặc phòng trưng bμy
Những yếu tố ảnh hưởng đến hiện vật gốm bao gồm:
* Nhiệt độ vμ độ ẩm
Trang 28Như ta đã biết, nhiệt độ có thể gây ra huỷ hoại cho hiện vật bảo tμng, nhiệt
độ tăng sẽ lμm tăng nhanh tốc độ phản ứng hoá học theo một nguyên tắc chung đó
lμ tốc độ phản ứng sẽ tăng gấp đôi khi nhiệt độ tăng 100C Đối với hiện vật gốm nói chung, đặc biệt lμ gốm men đều tồn tại ở một mức độ áp suất nμo đó, nếu như nhiệt độ bảo quản gốm tăng hoặc giảm đột ngột có thể lμm gốm hay lớp men bị rạn hoặc nứt hẳn ra Đấy lμ do sự khác biệt giữa mức độ giãn nở vμ co ngót của gốm vμ men gốm khiến lớp men tráng phải chịu áp suất lμm cho nó bị rạn nứt Hầu hết đồ gốm đều được nung ở nhiệt độ thấp, những hiện vật nμy có thể bị biến dạng hoặc tan ra trong điều kiện môi trường ẩm ướt Những đồ gốm nung ở nhiệt độ cao hơn có thể chứa các chất lμm đầy, các hạt khoáng chất một số có thể hoμ tan trong nước như thạch cao vμ canxi Những chất nμy có thể tan trong nước nếu gốm bị lâu trong môi trường ẩm ướt
Gốm khai quật từ dưới biển do bị ngâm lâu trong nước biển nên bị muối ngấm vμo thân gốm, đặc biệt lμ muối có khả năng tan trong nước Khi đưa gốm lên môi trường cạn do ở môi trường khô hơn muối kết tinh lại dẫn đến sự hư hại vì các tinh thể mới hình thμnh có thể tích lớn hơn thể tích của muối ở dạng dung dịch
vμ sẽ tạo ra một áp suất lớn hơn tác dụng lên xương gốm Yếu tố nμy đủ để khiến
bề mặt gốm bị bong hoặc ảnh hưởng đến sự liên kết của gốm Tốc độ diễn ra sự kết tinh nμy lμ yếu tố quyết định tính nghiêm trọng của sự hư hại Tốc độ nμy phụ thuộc vμo nhiệt độ vμ độ ẩm tương đối của không khí nơi hiện vật tồn tại Một môi trường ổn định về nhiệt độ vμ độ ẩm sẽ lμ nơi bảo quản tốt hiện vật gốm
Nắm được điều đó cán bộ kho gốm Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam với sự giúp
đỡ của trang thiết bị đã luôn duy trì một môi trường ổn định trong kho tránh tình trạng không khí trong kho lúc quá nóng, lúc quá lạnh Nhiệt độ tốt nhất để bảo quản gốm lμ 20oC (sai số 2), độ ẩm cμng thấp cμng tốt để tránh tình trạng muối kết tinh trên hiện vật
*Sinh vật phá hoại
Sinh vật phá hoại đặc biệt lμ loμi gặm nhấm có thể trở thμnh một vấn đề nan giải trong việc bảo quản Đối với hiện vật gốm do đặc tính dễ vỡ nên cμng tránh
Trang 29được sự va chạm cμng tốt Song nếu trong kho có sinh vật như chuột chúng sẽ chạy
đi chạy lại trong kho có thể lμm đổ vỡ hiện vật Hơn nữa loμi gặm nhấm nμy gặm bất cứ thứ gì, có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiện vật Ví dụ chúng cắn lμm hỏng hệ thống dây điện có thể dẫn đến cháy nổ trong kho
* Những tác động bên ngoμi
Do tính dễ vỡ của gốm, những hư hại mang tính cơ học lμ nguyên nhân phổ biến gây ra những hư hỏng không thể phục hồi được cho các đồ gốm Tính dễ vỡ khiến chúng trở nên nhạy cảm đối với những va chạm cơ học, có thể khiến chúng
bị sứt mẻ hoặc vỡ Trong bảo tμng, những tác động của môi trường có thể diễn ra trong suốt quá trình xử lý, đóng gói vμ bảo quản Tuỳ theo tính dễ vỡ của gốm, khi
bị vỡ, nó thường bị mất đi một lượng vật liệu nμo đó dọc theo cạnh bị vỡ Lượng vật liệu nμy mất đi nμy sẽ tăng lên nếu các cạnh nμy dựa vμo nhau, dù lμ do hoμn cảnh gây thiệt hại Ví dụ trong quá trình vận chuyển trong thùng hoặc do những
nỗ lực bảo quản thiếu kinh nghiệm Trong quá trình bảo quản, hư hại xảy ra có thể
do thiếu cẩn thận hay tác động quá nhiều lực.Việc xử lý không triệt để khi đưa gốm về từ hiện trường khảo cổ học không chỉ trực tiếp mμ cả gián tiếp Chẳng hạn như những chỗ chất bẩn hay trầm tích có thể bám khô vμ ngót lại, do đó để lại những vết cong vênh trên bề mặt
Ngoμi ra những thiên tai lớn như hoả hoạn, lũ lụt hay động đất có thể lμm gốm bị rạn nứt, sứt mẻ vμ vỡ
Để thực hiện tốt công tác bảo quản phòng ngừa vμ phát huy tác dụng của sưu tập cán bộ bảo quản đã thực hiện công tác kiểm kê một cách khoa học
Ngay khi hiện vật được phân chia vμ vận chuyển về bảo tμng, cán bộ bảo tμng
đã tiến hμnh kiểm kê vμ đăng ký số kiểm kê cho từng hiện vật Trước tiên hiện vật
được đăng ký vμo sổ nhập hiện vật tạm thời, tiếp đến tiến hμnh lμm phiếu hiện vật Khi phiếu nμy hoμn thμnh, tiến hμnh kiểm tra vμ ghi vμo sổ đăng ký hiện vật tμi sản quốc gia (sổ gốc), sổ nμy được đóng dấu giáp lai vμ đánh số trang Sổ đăng ký hiện vật được ghi chép cẩn thận, không tẩy xoá
Trang 30Với những mảnh vỡ trùng lặp được nhập vμo sổ hiện vật tham khảo để theo dõi riêng
Khi hiện vật được đưa về kho, hiện vật được đánh số theo hệ thống đăng ký thống nhất Số nμy được viết bằng sơn đỏ, vị trí đánh số phải thích hợp đối với mỗi hiện vật, đảm bảo ở chỗ khuất nhưng dễ tìm vμ không che lấp những nét trang trí, dấu, hay minh văn của hiện vật Đối với những hiện vật gồm hai hay ba bộ phận như: những chiếc ấm có nắp, hộp gồm ba phần, đều được đánh số ở tất cả các bộ phận vμ điền a,b,c ở sau mỗi số Sau số kiểm kê, hiện vật được đánh số phân loại Sau đó ghi vμo sổ phân loại hiện vật, sắp xếp hiện vật lên giá, kệ theo nhóm hiện vật, mμu men, chủ đề vμ thiết lập địa hình của kho Sơ đồ địa hình kho phải
được xác định trước, vị trí đặt giá kệ được sắp xếp gon gμng để có thể bổ sung mμ không cần phải dịch chuyển Số của các giá kệ được đánh theo một trình tự vμ quy tắc thống nhất, hợp lý
Sưu tập gốm Cù Lao Chμm ở Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam được đặt ở kho số 7, trong 24 kệ nhôm kính, mỗi tủ 3 đến 5 tầng có đánh số tầng, số kệ Sưu tập gốm còn lại được lưu giữ ở kho Đông Nam á
Hiện vật xếp trong kho đảm bảo an toμn hiện vật nhưng cũng rất dễ quan sát, tránh phải dịch chuyển nhiều hiện vật khi cần lấy chúng ra khỏi vị trí Trong mỗi
tủ, kệ hiện vật được sắp xếp từ dưới lên trên, hiện vật nặng để ở tầng dưới, nhẹ ở tầng trên, hạn chế việc đặt chồng hiện vật lên nhau
Khi hiện vật đã được đưa vμo vị trí ổn định, cán bộ bảo quản tiếp tục bổ sung thông tin chuyên sâu cho mỗi hiện vật, rồi tiến hμnh nhập thông tin hiện vật vμo máy tính theo chương trình đã được cμi đặt thống nhất
Đối với những hiện vật tiếp tục phải bảo quản, khi chuyển sang bộ phận kỹ thuật phải lμm phiếu bảo quản tu sửa hiện vật Những hiện vật nμy nhất thiết phải
được chụp ảnh, ghi rõ hiện trạng trước vμ sau khi bảo quản
2.2.2 Bảo quản kỹ thuật
Trang 31Cũng trong cuốn “Cơ sở bảo tμng” Timothy Anbrose vμ Crispin Paine đã
nêu lên định nghĩa: “Bảo quản kỹ thuật lμ quá trình liên quan đến việc tu sửa các sưu tập hiện vật bị hư hại, sử dụng các phương pháp bảo quản đặc biệt, các phương pháp đó có thể đan xen, thay đổi với nhau Sở dĩ có nhu cầu bảo quản kỹ thuật thường lμ do quản lý các sưu tập không đúng qui cách vμ dùng các biện pháp phòng ngừa không thích hợp
Bảo quản kỹ thuật lμ quá trình ngăn chặn sự xuống cấp của một hiện vật vμ
đảm bảo cho hiện vật tình trạng ổn định Công việc của các bảo quản viên lμ phân tích các nhu cầu của một hiện vật vμ xử lý hiện vật theo một phương pháp thích hợp ở những nơi có thể, bảo quản viên sẽ dùng các chất liệu vμ các phương pháp
xử lý, sau đó nếu chưa đúng yêu cầu họ lại có thể thay đổi các chất liệu vμ các phương pháp khác Chất liệu khác nhau đòi hỏi phải có cách xử lý để bảo quản khác nhau vμ bảo quản kỹ thuật thường lμ một hoạt động rất tốn thời gian vμ kinh phí Ngμy nay các nhμ bảo quản thường dùng những phương pháp khoa học kỹ thuật mới, rất phức tạp để kiểm tra, phân tích hiện vật trước quá trình xử lý
Trong lĩnh vực bảo tμng công tác bảo quản lμ kỹ thuật bảo tồn các sưu tập hiện vật Mục tiêu cơ bản của công tác bảo quản của tất cả các bảo tμng phải lμ giữ
gìn hiện vật trong tình trạng cμng ổn định cμng tốt
Trong thực tế công tác bảo quản xử lý các hiện vật bảo tμng đòi hỏi yêu cầu cao, không lμm mất đi yếu tố nguyên gốc vốn có vμ giữ nguyên hiện trạng Hiện nay có nhiều tổ chức, cá nhân tham gia lμm bảo quản hiện vật mμ không nắm được nguyên tắc nμy nên ở một số bảo tμng sau khi xử lý bảo quản hiện vật xong thì chúng chỉ giữ lại hình dáng còn mμu sắc nguyên thuỷ không còn
Gốm được coi lμ những vật liệu rất bền vững khi chất lượng của hiện vật còn tốt Tuy nhiên ta cũng thường thấy những hiện vật gốm chất lượng kém như gốm
được nung trong các lò nguyên khai, những loại gốm có phong cách mô phỏng mộc mạc vμ ngay cả những phế vật Chính những loại nμy có mặt trong những sưu tập quan trọng của bảo tμng
Trang 32ở Bảo tμng Lịch Sử Việt Nam trong kho tμi sản vô giá hiện vật gốm chiếm một phần khá quan trọng Có thể nói rằng chất liệu gốm ở đây rất đa dạng vμ phong phú Trong nước có gốm Đồng Đậu, gốm Đông Sơn, gốm Chu Đậu, gốm Phù Lãng ngoμi ra còn có gốm Đông Nam á vμ Châu á Gần đây trong sưu tập ấy còn được bổ sung thêm hμng trăm nghìn hiện vật lấy lên từ các cuộc khai quật tμu
cổ dưới biển Những hiện vật nμy ít nhiều đều bị ngấm muối vμ hư hỏng Bởi vậy công tác bảo quản xử lý lμ rất cần thiết vμ quan trọng để đảm bảo sự tồn tại của các hiện vật gốm đó qua thời gian
Trước khi tiến hμnh bảo quản cần phải kiểm tra đánh giá tình trạng hiện vật Tuỳ thuộc vμo từng hiện vật mμ ta có các cách kiểm tra đánh giá khác nhau Chúng ta có thể kiểm tra bằng mắt thường vμ các thiết bị đơn giản như kính lúp, kính hiển vi Đối với hiện vật chất liệu gốm ta dựa vμo các tiêu chí sau để xác định tình trạng hiện vật như:
- Thứ nhất: Để hiểu được bản chất nguyên liệu dùng để lμm gốm: xem xét
phần thân có được nung ở nhiệt độ cao hay nhiệt độ thấp hoặc không được nung; xem xét thμnh phần, đặc tính của lớp men, phần hoa văn trang trí trên đồ gốm vẽ trên men hay dưới men, có được nung hay không nung
Tất cả những đặc tính của đồ gốm sứ đều ảnh hưởng tới sự lựa chọn phương thức xử lý Các phần thân của đồ gốm sứ hoặc các lớp tráng men lμ sản phẩm được nung trong điều kiện nhiệt độ cao sẽ cứng, không bị xốp vμ rất khó bị hư hỏng trong quá trình lμm sạch Ngược lại, nếu phần thân của đồ gốm được nung ở nhiệt
độ thấp, các lớp men sẽ mịn hơn vμ xốp hơn rất nhiều Thân gốm sẽ có những
Trang 33thμnh phần ở trạng thái hoμ tan được do nhiệt độ nung thấp, các chất nμy có thể bị hoμ tan trong quá trình hiện vật bị ngâm trong nước
-Thứ hai: cần phải xác định tình trạng hiện vật để có cách lựa chọn, phương
án xử lý thích hợp
Ví dụ: đối với hiện vật gốm mới khai quật, cần phải kiểm tra rất thận trọng tình trạng của hiện vật, đặc biệt lμ độ ổn định của các thμnh phần đã bị huỷ hoại như lớp bề mặt đã bị ôxi hoá Những phần nμy cần phải được gia cố trước khi xử
lý Có những hiện vật được khai quật có thể chứa muối có khả năng hoμ tan, đối với hiện vật nμy chúng ta phải bảo quản trong một môi trường có độ ẩm tương đối
ổn định để tránh hiện tượng muối bị kết tinh phá vỡ cấu trúc hiện vật cho tới khi tiến hμnh qui trình khử muối
- Thứ ba: sự có mặt của bất cứ loại tạp chất bên ngoμi nμo phải được kiểm tra
kỹ lưỡng nhằm biết được bản chất vμ phạm vi bao phủ của nó trên bề mặt hoặc trong hiện vật Để xác định mức độ bao phủ của các vết bẩn ta có thể dùng tia X hoặc vẽ lại chi tiết Sau đó kiểm tra độ tan của các vết bẩn với các dung môi khác nhau Tuy nhiên nên kiểm tra trên diện tích nhỏ vμ tại vị trí lμ phần che khuất của hiện vật hoặc khi có thể một mẫu vật nhỏ của chất cặn lắng sẽ được lấy ra vμ kiểm tra riêng rẽ
Đối với khai quật khảo cổ học dưới biển, ngay từ công trường khai quật hiện vật bằng các chất liệu đều được xử lý sơ bộ bằng phương pháp rửa sạch bùn cát, sau đó ngâm vμo nước ngọt vμ thay nước hμng ngμy để loại trừ muối ra khỏi hiện vật Một số hiện vật bị nứt, vỡ do va đập mạnh trong quá trình tμu bị chìm hoặc khi khai quật thì được gắn chắp tại chỗ Sau đó các chuyên gia tiến hμnh phân loại hiện vật, chụp ảnh, lμm phiếu khoa học cho từng hiện vật Khi hiện vật chuyển về bảo tμng, hiện vật tiếp tục được theo dõi, bảo quản
Công việc khử muối cho hiện vật khai quật từ dưới biển lμ rất quan trọng, nó
đóng vai trò lớn trong việc lưu giữ bảo quản những hiện vật đó trong thời gian dμi Hiện vật gốm ngâm lâu ngμy dưới biển sẽ bị ngấm muối Có nhiều loại muối nhưng có thể chia lμm hai loại: muối hoμ tan vμ muối không tan
Trang 34Một khi hiện vật ngấm muối hoμ tan sau đó khô, muối trong hiện vật sẽ kết tinh lại dưới dạng tinh thể trong phần xương gốm, trong lớp bề mặt tại các lỗ nhỏ hoặc dưới lớp tráng men Quá trình kết tinh sẽ gây ra một số hư hại như bong tróc lớp tráng men, phá huỷ phần kết cấu của hiện vật gốm Chúng ta cần phải lưu ý lμ nguyên nhân chính gây nên sự hư hại của hiện vật lμ quá trình kết tinh chứ không phải sự có mặt của muối trong dung dịch, vμ vì lý do nμy gốm được khai quật trong môi trường biển phải luôn được kiểm tra độ nhiễm muối trước khi lμm khô
Có một số hiện vật khi khai quật lên đã có chứa muối đã khô vμ thậm chí còn gắn lại với nhau bởi những tinh thể muối Trong trường hợp nμy cần phải tiến hμnh củng cố trước khi loại bỏ muối
Muối hoμ tan có trong đồ gốm khô thường xuất hiện trên bề mặt hiện vật hoặc bắt nguồn từ những vết nứt trong lớp tráng men Trường hợp đặc biệt chúng
có thể bao phủ toμn bộ hiện vật bằng một lớp bột trắng Tuy nhiên, chúng ta rất khó nhìn thấy vμ thường xuyên xuất hiện như một lớp bột mịn thậm chí phải dùng kính lúp hoặc kính hiển vi quan sát thì mới thấy được Trong trường hợp hiện vật
ẩm ướt thì chúng ta không thể nhìn thấy muối hoμ tan Để kiểm tra sự có mặt của muối hoμ tan ta ngâm hiện vật trong nước được chưng cất vμ sau đó loại bỏ nước
vμ lμm bay hơi trên mặt kính đồng hồ trên đèn Bunsen Nếu có muối, muối sẽ lμm mặt kính đồng hồ mờ đi do những tinh thể mμu trắng Ta cũng có thể đem ngâm hiện vật trong nước cất, sau đó lấy một tờ giấy lọc đặt lên vùng hiện vật bị nhiễm muối vμ lμm ẩm bằng nước cất Giấy lọc sau đó được đặt vμo trong một bình chứa nước cất để tạo thμnh dung dịch muối trong bình, đem dung dịch đó đi thử
Để nhận biết muối clorua, ta lấy khoảng 10ml dung dịch trên vμo trong ống nghiệm nhỏ thêm ba giọt axit nitric loãng (HNO3)10% - 20%, ba giọt dung dịch bạc nitơrat (AgNO3) Do muối clorua khi phản ứng với bạc niơrat tạo ra kết tủa trắng nên nếu có ion clorua kết tủa trắng chứng tỏ dung dịch có chứa muối clorua
Đối với muối nitrat, dung dịch kiểm tra trước tiên cần được axit hoá bằng một vμi giọt axit sunfuric (H2SO4) loãng.Thêm vμi tinh thể sạch sắt sunfat vμ lắc mạnh hỗn hợp đến khi hoμ tan Cho từ từ vμi ml axit sunfuric (H2SO4) đậm đặc vμo trong
Trang 35ống nghiệm được đặt nghiêng Axit sunfuric (H2SO4) hình thμnh một lớp dưới đáy của ống nghiệm vμ một vòng mμu nâu được quan sát thấy giữa điểm nối của 2 lớp nếu như có sự có mặt của nitrat
Với muối sunfat, axit clohidric (HCL) được bổ sung vμo trong dung dịch thử sau đó lμ Bariclorit (BaCl2) Nếu có muối sunfat sẽ tạo nên kết tủa trắng
Để loại muối ra khỏi hiện vật, có rất nhiều phương pháp cụ thể như : rửa trong tình trạng nước lặng, rửa trong nước đang chảy, “lμm phân tán” vμ chiết suất
sử dụng khăn ướt mềm Phương pháp được sử dụng sẽ phụ thuộc vμo loại gốm vμ
điều kiện của nó Khi đồ vật trong điều kiện lμnh lặn vμ bề mặt trang trí ổn định thì có thể lμm sạch với vòi nước thông thường Tuy nhiên, khi xử lý bề mặt tráng men, phần trang trí hoặc phần kết cấu bị hỏng, hoặc khi hiện vật có nhiệt độ nung thấp phải dùng nước Clo lần rửa cuối cùng Nhiệt độ cao có thể lμm tăng thêm hiệu quả của một số kỹ thuật lμm sạch Đối với gốm nung ở điều kiện thấp có nguy cơ bị mất các thμnh phần hoμ tan nếu như hiện vật được ngâm trong thời gian lâu, cách hiệu quả nhất lμ lấy chổi lông lμm sạch các tinh thể muối trên bề mặt hiện vật vμ bảo quản hiện vật trong điều kiện độ ẩm ổn định
Gốm lấy từ các con tμu đắm đều lμ loại gốm tốt, được nung ở nhiệt độ cao, phần trang trí có tính ổn định do vậy dễ dμng trong việc sử dụng các phương pháp loại muối đã nêu trên
* Lμm sạch hiện vật trong nước lặng
Hiện vật được đặt trong một chiếc chậu sạch vμ từ từ đổ nước vμo để đảm bảo không khí trong xương gốm có thể thoát ra một cách dễ dμng Nếu đổ nước vμo nhanh có thể gây lên những hư hỏng do áp suất sinh ra khi không khí thoát ra quá nhanh Ngâm hiện vật trong nước để muối hoμ tan vμo nước ngấm ra khỏi hiện vật,
do vậy cần thay đổi nước ngâm thường xuyên mỗi ngμy một lần để duy trì sự chênh lệch giữa hμm lượng muối trong hiện vật vμ nước xung quanh Hμm lượng muối trong nước ngâm sẽ giảm dần sau mỗi lần thay nước, khi không còn muối trong dung dịch ngâm hoặc hμm lượng muối trong nước ngâm đạt giá trị chấp nhận được ta có thể dừng quá trình ngâm rửa Nước dùng để ngâm lμ nước máy vμ
Trang 36sử dụng nước cất cho lần rửa cuối cùng Thường thì hiện vật sau khi lấy từ biển lên
sẽ được xử lý trong nước biển pha loãng trước khi ngâm trong nước ngọt Phương thức nμy rất có hiệu quả
* Rửa trong nước đang chảy
Phương pháp nμy tận dụng nước chảy trong một chiếc chậu hoặc bồn tắm vμ vì vậy đồ vật liên tục được rửa bằng nước sạch
* Phương pháp phân tán
Phương pháp nμy chỉ có thể được sử dụng với những hiện vật còn lμnh lặn, phương pháp nμy được Macleod vμ Davies (1987) mô tả vμ sử dụng một dụng cụ lμm nhẹ nhμng phân tán nước lμm sao cho không có sự tích tụ muối trong nước xung quanh hiện vật
Sau mỗi lần ngâm hiện vật ta lấy 5ml nước rửa cho vμo ống nghiệm, sau đó cho thêm hai giọt bạc nitơrat bạc (AgNO3) 15% vμ hai giọt axit nitơric (HNO3) 10% để kiểm tra hiện vật còn muối hay không Nếu ống nghiệm trong suốt thì quá trình rửa muối kết thúc, nếu ống nghiệm đục chứng tỏ vẫn còn muối vμ ta tiếp tục ngâm rửa cho đến lúc ống nghiệm trong suốt
Tuy nhiên những phương pháp trên chỉ được sử dụng đối với những hiện vật
bị hư hỏng nặng cần phải củng cố lại trước khi áp dụng các phương pháp trên để loại bỏ muối ra khỏi hiện vật
Muối không hoμ tan thường ở dạng cacbonnat, sunphat vμ silicat Trong đó
có cả xác con hμ, sò vμ rong rêu bám vμo gốm khi bị ngâm trong biển Để bỏ loại muối nμy ta có thể sử dụng biện pháp cơ học vμ hoá học
*Phương pháp cơ học
Lμm sạch bằng phương pháp cơ học bao gồm các cách từ việc phủi bụi nhẹ bằng chổi lông cho đến việc dùng dao nhọn, đầu kim hay dùng các kỹ thuật mμi mòn bằng áp lực không khí để tách nhẹ các lớp cặn, tốt nhất lμ dùng các dụng cụ
sử dụng trong nha khoa
Nhìn chung, các phương pháp cơ học được dễ kiểm soát hơn phương pháp hoá học vμ ít có nguy cơ gây hại không mong muốn cho hiện vật trong quá trình