1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Chính sách marketing trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam

101 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách marketing trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam
Tác giả ThS. Hồ Thị Mộng Tuyền
Trường học Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Thể loại Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2019
Thành phố Quảng Nam
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 823,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở tiếp cận lý luận về marketing trong giáo dục đào tạo, nêu ra và phân tích thực trạng công tác đào tạo tại Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam; chỉ ra những vi[r]

Trang 1

GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI QUẢNG NAM

Mã số: ĐTCT.2015.66

Chủ nhiệm đề tài: ThS HỒ THỊ MỘNG TUYỀN

Quảng Nam, 2019

Trang 3

6 Ý nghĩa nghiên cứu

7 Cấu trúc đề tài

7

7 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

1.1 Những vấn đề liên quan về marketing trong giáo dục đào tạo 8

1.1.3 Các mục tiêu và quan điểm của hệ thống marketing trong đào

tạo

12

1.1.4 Tầm quan trọng của chính sách marketing trong giáo dục 14

1.1.5 Các yếu tố tác động đến chính sách marketing tring giáo dục đào

tạo

15

1.2 Các chính sách marketing trong lĩnh vực đào tạo 18

1.2.2.4 Chính sách truyền thông cổ động (xúc tiến hỗn hợp) 27

1.2.5.6 Quy trình dịch vụ (quy trình công nghệ đào tạo) 33

1.2.5.7 Chính sách cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ đào tạo 34 Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH MARKETING TRONG ĐÀO TẠO Ở PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI QUẢNG NAM

2.1 Giới thiệu chung về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và Phân

hiệu Quảng Nam

35

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Nội vụ Hà Nội 35

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Phân hiệu trường Đại

học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam

36

Trang 4

2.2 Kết quả đào tạo của Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

tại Quảng Nam trong thời gian qua

39

2.2.1 Số lượng tuyển sinh và kết quả đào tạo của Phân hiệu Trường Đại

học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam trong thời gian qua

39

2.3 Thực trạng chính sách marketing trong đào tạo tại Phân hiệu

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại tỉnh Quảng Nam trong thời

gian qua

44

2.3.1 Các yếu tố tác động đến chính sách marketing trong đào tạo ở Phân

hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam

44

2.3.1.1 Các quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo tác động đến

công tác tuyển sinh

44

2.3.2 Các chính sách marketing trong đào tạo ở Phân hiệu Trường

Đại học Nội vụ Hà Nội tại tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua

51

2.3.2.4 Chính sách truyền thông cổ động (xúc tiến hỗn hợp) 57

2.3.2.7 Chính sách cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ đào tạo 70

2.3.3 Đánh giá thực trạng về chính sách marketing trong đào tạo ở

NAM

3.1.2 Mục tiêu phát triển của Phân hiệu Quảng Nam trong thời gian

tới

79

3.2 Một số giải pháp tăng cường chính sách marketing trong đào

tạo nhằm thu hút sinh viên vào học ở Phân hiệu Trường Đại

80

Trang 5

học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam trong thời gian tới

3.2.1 Chính sách truyền thông cổ động (xúc tiến hỗn hợp) ở Phân hiệu

Quảng Nam

81

3.2.2 Chính sách sản phẩm đào tạo tại Phân hiệu Quảng Nam 83

3.2.4 Chính sách về học phí đào tạo tại Phân hiệu Quảng Nam 87

3.2.5 Chính sách phân phối sản phẩm đào tạo tại Phân hiệu Quảng

Nam

89

3.2.6 Chính sách về quy trình dịch vụ tại Phân hiệu Quảng Nam 91

3.2.7 Chính sách cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ đào tạo tại

Phân hiệu Quảng Nam

91

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 2.1 Kết quả tuyển sinh qua các năm ở Phân hiệu Quảng Nam 39 Bảng 2.2 Thống kê số lượng sinh viên học tại Phân hiệu Quảng Nam

10/2017

41

Bảng 2.3 Kết quả khảo sát 292 sinh viên nhập học năm 2017 đến từ các

địa bàn tuyển sinh như sau:

43

Bảng 2.4 Nhu cầu của sinh viên về cơ sở vật chất được hỗ trợ 47 Bảng 2.5 Nhu cầu của sinh viên về các hoạt động hỗ trợ 48

Bảng 2.7 Mức quy định học phí của Phân hiệu Quảng Nam trong thời gian

dạy tính đến tháng 10/2017

65

Bảng 2.11 Thống kê cơ sở vật chất ở Phân hiệu Quảng Nam 70 Bảng 3.1 Chỉ tiêu tuyển sinh của Trường đại học Nội vụ Hà Nội năm 2017 77 Bảng 3.2 Những nội dung lựa chọn vào học tại Phân hiệu Quảng Nam 83 Bảng 3.3 Số lượng giảng viên cần tuyển thêm đối với các ngành 85 Bảng 3.4 Quy định mức học phí của các trường đại học tự chủ kinh phí

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục được xem như là một hoạt động sự nghiệp đào tạo con người mang tính phi thương mại, phi lợi nhuận nhưng qua một thời gian dài chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là tác động của nền kinh tế thị trường đã khiến cho tính chất của hoạt động này không còn thuần túy là một phúc lợi công mà dần thay đổi trở thành “dịch vụ giáo dục” Một thị trường giáo dục dần hình thành và phát triển trong đó hoạt động trao đổi diễn ra khắp nơi, tăng mạnh cả về số lượng lẫn hình thức Các cơ sở giáo dục thi nhau ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của “khách hàng” với nhiều loại hình đào tạo khác nhau

Từ đó, tạo ra sự cạnh tranh giữa các trường với mức độ ngày càng khốc liệt, để thu hút người học đòi hỏi các trường không chỉ khẳng định mình qua việc nâng cao chất lượng đào tạo mà còn đẩy mạnh công tác marketing nhằm tạo sự nhận biết, cung cấp thông tin, khuếch trương thương hiệu, tư vấn đến với đối tượng khách hàng trong và ngoài nước Đúng vậy, nếu xem giáo dục cũng là một thị trường thì hoạt động marketing trong giáo dục là điều rất cần thiết Các trường đại học cũng giống như các doanh nghiệp, phải thực hiện các hoạt động để thu hút sinh viên, phải nắm bắt nhu cầu sinh viên cần gì và muốn gì để từ đó có những giải pháp marketing thích hợp

Với sự canh tranh khốc liệt trong quá trình thu hút sinh viên vào nhập học, mỗi trường đã xây dựng dựng chính sách marketing khác nhau như: đội ngũ làm công tác tuyển sinh, thời gian làm công tác tuyển sinh, chương trình, kinh phí thực hiện marketing Trong đó, một số trường cũng rất thành công nếu tính trên địa bàn khu vực Quãng Nam và Đà Nẵng như: trường Đại học kinh tế Đà Nẵng, đại học Duy Tân, cao đẳng Thương mại với chính sách marketing phù hợp kết hợp với chất lượng đào tạo nên hằng năm số lượng sinh viên vào nhập học tại các trường hầu hết đủ chỉ tiêu và vượt chỉ tiêu

Đối với Phân hiệu Quãng Nam, là cơ sở đào tạo còn mới, chưa có uy tín trong thị trường giáo dục; công tác marketing mặc dầu đã có sự đầu tư tuy nhiêu

Trang 8

vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn Tính từ năm 2016 -2018, Phân hiệu Quãng Nam có số lượng sinh viên vào nhập học ngày càng ít và không đủ chỉ tiêu tuyển sinh của Bộ giáo dục cho phép Do đó, trong thời gian tới, để thu hút sinh viên vào nhập học tại Phân hiệu ngày càng nhiều Cần phải thay đổi một cách toàn diện trên các phương diện như: chất lượng tuyển sinh, chất lượng giảng dạy, môi trường học tập và rèn luyện của sinh viên, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, xây dựng và quảng bá thương hiệu, đổi mới phương pháp marketing và từng bước hoàn thiện kênh tuyển sinh cho phù hợp với môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay cũng như sau này Đây là một vấn đề rộng lớn đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều mặt không những từ chủ trương của lãnh đạo nhà trường mà còn sự nỗ lực rất lớn của Phân hiệu Quảng Nam Vì vậy, để tồn tại trong thị trường giáo dục hiện nay, Phân hiệu Quảng Nam cần phải xây dựng những chính sách và có hướng đi riêng của mình và làm thế nào để thu hút được nhiều sinh viên vào học ở Phân hiệu Quảng Nam càng ngày càng tăng lên Với

tầm quan trọng của vấn đề này, tôi mạnh dạn chọn nội dung đề tài: “Chính sách marketing trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở Phân hiệu Trường Đại học Nội

vụ Hà Nội tại Quảng Nam” để làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu:

Hoạt động marketing là một công tác quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược marketing tổng thể của một doanh nghiệp tổ chức nói chung, cũng như doanh nghiệp tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói riêng Qua đó đưa ra cách thức mà doanh nghiệp, tổ chức sẽ thực hiện để truyền bá hình ảnh, nâng cao chất lượng trong hoạt động của mình để hướng đến mục đích cuối cùng là thu hút khách hàng hay cụ thể hơn là thu hút sinh viên

Vấn đề thu hút sinh viên là một trong những hoạt động cạnh tranh đang diễn ra giữa các trường đại học hiện nay, trước yêu cầu cạnh tranh bình đẳng được đặt ra giữa đại học công lập và dân lập, hay giữa các trường đại học trong nước và quốc tế Sự cạnh tranh này đòi hỏi các trường đại học trong nước, đặc biệt là các trường đại học ngoài công lập, phải tự phát triển mạnh mẽ hơn, và phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm thu hút và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng

Nói đến Marketing, người đã có sự cống hiến lớn nhất trong lĩnh vực này

là chính là Philip Kotler sinh ngày 27 tháng 5 năm 1931 tại Chicago, Hoa Kỳ;

là Giáo sư Marketing nổi tiếng thế giới; “cha đẻ” của marketing hiện đại, được xem là huyền thoại duy nhất về marketing, ông tổ của tiếp thị hiện đại thế giới,

Trang 9

một trong bốn “Nhà quản trị vĩ đại nhất mọi thời đại” cùng với Peter Drucker,

Fack Welch và Bill Gates (theo bình chọn của Financial Times) Ông là giáo sư của Trường Đại học Northwestern, Hoa Kỳ; là chuyên gia hàng đầu của Tập đoàn tiếp thị Kotler trong lĩnh vực hoạch định chiến lược marketing, và là giáo

sư tại các trường đại học như Johnson & Son, Viện marketing Kellogg Ông đã từng tư vấn cho nhiều chính phủ và các công ty nổi tiếng trên thế giới như IBM, General Electric, AT&T, Honeywell, Bank of America, v.v Những nguyên lý

và phương pháp tiếp thị của ông được tiếp nhận, áp dụng rộng rãi trong giới kinh doanh toàn cầu

Cái tên của Philip Kotler đã trở nên đồng nghĩa với tiếp thị, một chuyên gia hàng đầu của Kotler Marketing Group trong lĩnh vực hoạch định chiến lược marketing Ông được hàng triệu người trên thế giới biết đến như một chuyên gia

cừ khôi trong lĩnh vực marketing, một thuyết trình viên cao cấp, tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 100 cuốn sách và bài báo chuyên về marketing và quản trị kinh doanh; trong đó có marketing Management (ấn hành lần đầu năm 1967), một trong những cuốn sách kinh điển nhất của ngành tiếp thị và gối đầu giường của giới quản trị kinh doanh thế giới Những cuốn sách của ông đã được bán trên ba triệu bản bằng 20 thứ tiếng và được coi như kinh thánh về tiếp thị tại 58 quốc gia trên thế giới

Đối với marketing giáo dục xuất hiện muộn hơn, chúng ta biết rằng trong quá trình hội nhập đã mở ra những cơ hội, đồng thời tạo ra khá nhiều thách thức đối với mọi lĩnh vực, trong đó có hoạt động giáo dục Tại Việt Nam, việc giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học, cao đẳng bắt đầu từ mùa tuyển sinh năm 2015, đã góp phần làm cho thị trường giáo dục nóng lên và có sức cạnh tranh mạnmẽ Theo đó, các trường đại học bắt đầu quan tâm đến vấn đề marketing giáo dục (education marketing) Điều này giúp nhà trường tuyển sinh và đào tạo các ngành học gắn với nhu cầu xã hội, đồng thời giúp sinh viên và nhà tuyển dụng hiểu về mục tiêu, chất lượng, môi trường học tập và danh tiếng của nhà trường, từ đó giúp họ có các quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn trường đại học, ngành học phù hợp với nhu cầu

Marketing giáo dục (education marketing) thường được hiểu đơn thuần

là các hoạt động quảng bá thông qua các hình thức như print ads (quảng cáo trên các ấn phẩm), events (tổ chức các sự kiện), telemarketing (truyền thông

Trang 10

qua điện thoại), direct mail (ua đường thư hoặc bưu điện), leaflet (tờ rơi), TVC (truyền hình), e-marketing Thực tế, tại các trường đại học và các trung tâm đào tạo Việt Nam, các hoạt động marketing đơn thuần như vậy đã được thực hiện khá bài bản Ví dụ, Trung tâm Anh ngữ Apollo, Language Link, Đại học Rmit, Đại học FPT và một số trường đại học khác

Các trường công lập gần đây đẩy mạnh việc sử dụng các kỹ thuật marketing công phu vào trong giáo dục, bởi vì họ phải giải quyết nhiều rắc rối tương tự như các trường tư thục, như: tạo dựng thương hiệu, huy động các nguồn lực, tuyển dụng nhân sự, phát triển chương trình nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng

Hiện nay, lực lượng làm công tác thị trường của các cơ sở đào tạo có vai trò rất lớn trong quá trình tìm kiếm khách hàng (người học) và có thể quyết định đến tồn tại và phát triển của cơ sở đào tạo Nên trong thực tế, nếu có cái gì đó có thể được gọi là “lực lượng thị trường tự nhiên” trong giáo dục dựa trên các yêu cầu khách hàng, nó dẫn đến kết quả từ chỗ các bậc phụ huynh tìm kiếm sự giám sát hay ảnh hưởng của giáo dục lên con em họ, và các trường học nhận thức dịch

vụ và lợi nhuận, những thứ mà có thể thu được từ những cộng sự như thế

Chính vì tầm quan trong của makerting trong giáo dục là cầu nối giữa các trường học và cộng đồng nên trong những năm gần đây các trường công lập và ngoài công lập đã nỗ lực, dày công nghiên cứu, xây dựng chiến lược, chính sách makerting trong giáo dục để cạnh tranh thu hút sinh viên vào học và khẳng định thương hiệu của mình trong thị trường giáo dục hiện nay

- Trong thực tế đã có nhiều đề tài nghiên cứu hoạt động marketing trong các lĩnh vực khác nhau:

- Một công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hòa, “chính sách marketting nhằm thu hút sinh viện vào học tại trường trung cấp kinh tế Khánh Hòa”, tác giả của của đề tài đã ra được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, thuận lợi và khó khăn trong công tác tuyển sinh của trường Ngoài ra, dựa vào mục tiêu định hướng của của trường trung cấp để có cơ sở đưa ra chính sách marketting nhằm thu hút sinh viên vào học ở trường Trung cấp kinh tế Khánh Hòa

Theo tác giả Lê Quang (2015) “Ứng dụng marketting trong giáo dục và đào tạo” cho rằng; Hội nhập đã mở ra những cơ hội, đồng thời tạo ra khá nhiều thách thức đối với mọi lĩnh vực, trong đó có hoạt động giáo dục Tại Việt Nam,

Trang 11

việc giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học, cao đẳng bắt đầu từ mùa tuyển sinh năm 2015, đã góp phần làm cho thị trường giáo dục nóng lên và có sức cạnh tranh mạnh mẽ Theo đó, các trường đại học bắt đầu quan tâm đến vấn đề marketing giáo dục (education marketing) Điều này giúp nhà trường tuyển sinh và đào tạo các ngành học gắn với nhu cầu xã hội, đồng thời giúp sinh viên và nhà tuyển dụng hiểu về mục tiêu, chất lượng, môi trường học tập và danh tiếng của nhà trường, từ đó giúp họ có các quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn trường đại học, ngành học phù hợp với nhu cầu Tác giả đã phân tích khá đầy đủ các khái niệm marketing giáo dục, chỉ ra bất cập trong công tác marketting và từ đó xây dựng được các phương pháp marketing giáo dục trong

hệ thống các trường đại học tại Việt Nam

Từ những nghiên cứu của đề tài trên, chúng tôi sẽ có những nền tảng định

hướng phát triển trong vấn đề nghiên cứu của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc hoàn thiện chính sách marketing trong đào tạo nhằm thu hút sinh viên vào học ở Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam

* Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Hoạt động Marketing trong giáo dục đào tạo rất rộng lớn, tuy

nhiên, tác giả chỉ hướng đến Marketing trong đào tạo nhằm thu hút sinh viên vào học tại Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam và khảo sát các đối tượng vào học tại Phân hiệu Trong đó, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu 3 chính sách đó là chính sách truyền thông, chính sách liên kết đào tạo và chính sách sản phẩm đào tạo

- Về thời gian:

+ Thông tin về tình hình hoạt động của Phân hiệu được thu thập trong

giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017

+ Giải pháp đề xuất giúp Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam phát triển đến năm 2025

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về chính sách marketing trong giáo dục đào tạo

- Phân tích các chính sách marketing trong đào tạo ở Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam trong thời gian qua và tìm ra điểm mạnh,

Trang 12

điểm yếu; thời cơ và thách thức; thuận lợi và khó khăn của phân hiệu trong quá trình thực hiện chính sách marketting trong đào tạo

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường chính sách marketing trong đào tạo phù hợp nhằm thu hút sinh viên vào học theo đúng định hướng, mục tiêu

ở Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu khoa học sử dụng trong đề tài

- Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của các khoa học kinh tế: Phương pháp phân tích tài liệu; phương pháp tổng hợp; so sách; phương pháp điều tra xã hội học Bằng các phương pháp này tác giả có thể thu thập được các số liệu thực chứng chính xác, phù hợp Nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài bao gồm cả nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp

- Phương pháp phân tích tài liệu: Được sử dụng để phân tích lý thuyết các công công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách marketing, hệ thống hóa

để làm rõ cơ sở lý luận marketing trong đào tạo

- Phương pháp tổng hợp, so sánh: Ngoài những số liệu sơ cấp tác giả tự thu thập ở Phân hiệu Quảng Nam Số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều công trình nghiên cứu khác nhau có liên quan đến việc xây dựng chính sách marketing: kết quả khảo sát về nhu cầu của sinh viên về cơ sở vật chất của trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh và trường đại học kinh

tế thành phố Hồ Chí Minh, kết quả khảo sát về việc sinh viên chọn Phân hiệu Quảng Nam để vào học; các đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sĩ, sách giáo trình, sách tham khảo…Các tài liệu đó được thu thập, tổng hợp, phân tích

và so sánh nhằm tìm ra những đặc điểm cơ bản của việc xây dựng chính sách marketing trong đào tạo ở Phân hiệu Quảng Nam

- Phương pháp điều tra xã hội học: Nghiên cứu và tiến hành xây dựng bảng câu hỏi và điều tra mẫu Phân tích đánh giá thị trường tuyển sinh, các phương tiện truyền thông mà sinh viên nhận biết về Phân hiệu Quảng Nam trước khi đến nhập học dựa trên 292 mẫu phiếu điều tra khảo sát ý kiến Thời gian tiến hành từ 09/2017 đến 10/2017 Nội dung bảng câu hỏi và kết quả khảo sát, tác giả đã đưa vào trong thực trạng nghiên cứu của đề tài

Sau khi thu thập các dự liệu trên, đối với dữ liệu thứ cấp, tác giả thực hiện việc sắp xếp, phân loại theo thời gian, theo từng nội dung cụ thể có liên quan

Trang 13

đến các phần, mục trong đề tài và tiến hành mã hóa các dữ liệu theo chủ đề Đối với số liệu sơ cấp, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để thực hiện việc mã hóa các

dữ liệu trên Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để lượng hóa mức độ đánh giá của các đối tượng trả lời nhằm làm sáng tỏ thực trạng chính sách marketing ở Phân hiệu Quảng Nam trong thời gian qua Từ đó, làm cơ sở xây dựng chính sách marketing nhằm thu hút sinh viên vào học tại Phân hiệu Quảng Nam trong thời gian tới

6 Ý nghĩa nghiên cứu

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài làm sáng tỏ nội dung và cơ sở lý luận của các chính sách marketing trong đào tạo

- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích đề tài và mạnh dạn đưa ra các chính sách trọng tâm cụ thể phù hợp với nguồn lực của Phân hiệu nhằm thu hút sinh viên vào học ngày càng nhiều hơn theo đúng định hướng, mục tiêu của Phân hiệu Chính sách đó có khả năng ứng dụng tại Phân hiệu, đặc biệt là công tác tuyển sinh của Phân hiệu Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho cán bộ giảng viên, nhân viên và sinh viên trong Phân hiệu

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về chính sách marketing trong giáo dục đào tạo

Chương 2: Thực trạng chính sách marketing ở Phân hiệu trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam

Chương 3: Giải pháp tăng cường chính sách marketing trong đào tạo ở Phân hiệu Trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH MARKETING TRONG

GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

1.1 Những vấn đề liên quan về marketing trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

1.1.1 Khái niệm marketing lĩnh vực giáo dục đào tạo

Marketing giáo dục được hiểu là quá trình phân tích, định hướng, lên kế hoạch nhằm giúp các trường học tiếp cận các khách hàng mục tiêu (ở đây là người học, người liên quan đến người học, phụ huynh hay nhà tuyển dụng,…) của họ thông qua các công cụ marketing để có thể nhận biết được nhu cầu, mong muốn của khách hàng trước khoảng thời gian đào tạo và đáp ứng được các nhu cầu mong muốn đó Đồng thời theo dõi, xem xét, trau dồi, rút kinh nghiệm để từ đó có các giải pháp cụ thể hơn, gắn kết và truyền thông đến các sinh viên tiềm năng trong tương lai nhằm đạt được kết quả thành công cho cả nhà trường và học viên theo học

Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo thì marketing là tiến trình tìm kiếm, duy trì và gia tăng số lượng người học thông qua việc sáng tạo ra, cung ứng và truyền thông những giá trị vượt trội cho người học Do vậy quản trị marketing là quản trị nhu cầu và quản trị quan hệ với người học

Theo quan điểm marketing, thị trường các sản phẩm dịch vụ giáo dục đào tạo là tập hợp những người học hiện có và tiềm năng đối với một sản phẩm hay dịch vụ giáo dục đào tạo mà họ sẵn sàng và có khả năng thanh toán

Người học hay những “người mua” sản phẩm giáo dục đào tạo (bao gồm người học, phụ huynh người học, các doanh nghiệp, các tổ chức công quyền và chính trị xã hội, những người tài trợ …) bỏ tiền để sở hữu hoặc chuyển quyền sở hữu và sử dụng hay thụ hưởng những lợi ích từ các sản phẩm giáo dục đào tạo

Marketing đào tạo có những đặc điểm chủ yếu sau:

Về mục đích, marketing đào tạo vừa thuộc loại marketing xã hội vừa thuộc loại marketing kinh doanh Tính chất xã hội thể hiện ở chỗ nó thu hút người học để người thầy truyền lại tri thức, kinh nghiệm của nhân loại, đồng thời thể hiện ở chỗ không vì lợi nhuận Tính chất kinh doanh thể hiện ở chỗ đào tạo có lợi nhuận, tuy nhiên, lợi nhuận đào tạo không chỉ đơn thuần của cơ sở đào tạo mà còn biểu hiện dưới góc độ cá nhân đó là những kiến thức, kỹ năng mà

Trang 15

người học có được sau đào tạo, từ đây người lao động có việc làm đem lại hiệu quả hơn và tạo ra giá trị thặng dư lớn hơn khi chưa đào tạo Trong một cơ sở đào tạo, thì mức độ tính chất xã hội và tính chất kinh doanh có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau

Hiện nay giữa các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục vẫn chưa thống nhất về việc có hay không tính thị trường, tính hàng hóa của giáo dục Việt Nam Nhưng tuy còn nhiều ý kiến khác nhau thì nhiều người đã thống nhất rằng, với phương châm lấy người học làm trung tâm, các trường cao đẳng, đại học ngày nay nên coi sinh viên là đối tượng phục vụ được cung cấp dịch vụ đặc biệt

là dịch vụ đào tạo

Hành vi của những người học là người trả tiền chịu sự chi phối của nhiều tác nhân với mức độ khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau từ quá trình tiếp nhận hay tiêu dùng sản phẩm giáo dục đào tạo

Có sự khác biệt giữa quá trình mua được thực hiện bởi người mua hay người trả tiền và quá trình tiêu dùng sản phẩm giáo dục đào tạo được thực hiện bởi người học hay người thụ hưởng

Về đặc điểm của đối tượng marketing đào tạo: Marketing đào tạo thuộc loại marketing dịch vụ Các giá trị vô hình của cơ sở giáo dục đào tạo được thể hiện qua truyền thống, danh tiếng, đội ngũ giảng dạy và phục vụ, chất lượng đào tạo… còn giá trị hữu hình thì được thể hiện qua cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ phục vụ đào tạo… có ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn của người học hay người sử dụng sản phẩm giáo dục đào tạo

Về cơ cấu thành phần marketing hỗn hợp gồm các yếu tố: sản phẩm, giá

cả, phân phối, truyền thông cổ động, con người, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

và quá trình tổ chức đào tạo Trong đó, chú ý tới hai yếu tố cơ bản:

- Sản phẩm đào tạo: đối tượng chủ yếu để thực hiện trao đổi, là cái mà một cơ sở đào tạo cung ứng ra và khách hàng đào tạo là người thu nhận lấy Nó không phải là sản phẩm thông thường mà là sản phẩm đặc biệt có 3 đặc điểm chủ yếu:

Thứ nhất, loại sản phẩm: sản phẩm đào tạo thuộc loại dịch vụ, là vô hình,

người ta không thể thấy được trước khi chúng được mua Để đánh giá chất lượng dịch vụ, người ta sẽ xem xét những dấu hiệu hoặc những bằng chứng của chất lượng thông qua con người, thiết bị, biểu tượng, địa điểm, giá cả, dịch vụ

Trang 16

chính vì vậy, nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ là “quản lý bằng chứng” là làm cho cái vô hình trở thành hữu hình Đối với đào tạo, quản lý sản phẩm chính

là quản lý số lượng và chất lượng các yếu tố cấu thành đào tạo mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo

Thứ hai, nguồn gốc sản phẩm: nguồn gốc sản phẩm luôn gắn với môi

trường cung ứng ra nó Với cùng một đối tượng đào tạo, nếu một trường đội ngũ giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có tâm với nghề, cơ sở vật chất tiên tiến và môi trường đào tạo tốt thì chắc chắn chất lượng đào tạo sẽ tốt hơn so với những trường thiếu những điều kiện trên Điều này giải thích hiện tượng tại sao người học chọn trường, chọn thầy để nhận được dịch vụ đào tạo chất lượng cao Đây cũng chính là lý do để các trường làm marketing về hình ảnh của chính mình

Thứ ba, tính ổn định của sản phẩm: sản phẩm đào tạo xét trong một giới

hạn, thời gian nhất định (một tiết giảng, một bài giảng ) có tính không ổn định

về chất lượng Trong thực tế là cùng một thầy dạy với những điều kiện học tập khác nhau, mức đóng góp học phí như nhau, bên cạnh những học sinh giỏi còn có những học sinh yếu Dạy và học là hai mặt của một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực chung mới có kết quả tốt Đó là tính đặc thù của việc trao đổi sản phẩm Do đó, hiệu quả sử dụng sản phẩm giáo dục đào tạo tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố chủ quan và khả năng tiếp nhận của người học đối với những cống hiến của người cung cấp (người bán) là các cơ sở giáo dục đào tạo

- Chi phí trong đào tạo: là những gì mà người học phải chi trả để có được sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu

Tổng chi phí của người học là toàn bộ các chi phí mà người học phải bỏ ra

để có được sản phẩm giáo dục đào tạo Nó bao gồm các chi phí tiền bạc, thời gian, sức lực và tinh thần để tìm kiếm và mua sản phẩm

1.1.2 Sự cần thiết của marketing đối với giáo dục đào tạo

Bất kỳ một cơ sở đào tạo nào cũng cần làm marketing vì họ cần quảng bá

và cần cạnh tranh với các cơ sở đào tạo khác Nhất là trong điều kiện hiện nay,

sự xuất hiện của các trường cao đẳng, đại học ngày càng nhiều làm cho mức độ cạnh tranh giữa các trường ngày càng gay gắt nên mỗi trường cần đánh bóng tên tuổi của mình để mọi người biết đến, nhất là trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, phụ huynh đứng chờ con trước cổng trường sẽ nhận được hàng loạt các tờ rơi, các thông tin từ các trường

Trang 17

Các trường cần phải tập trung đẩy mạnh công tác marketing nhằm xây dựng cho mình một đặc điểm nổi bật, một yếu tố lợi ích khác biệt nào đó tốt hơn

so với các trường khác nhằm tạo tâm lý an toàn và thu hút sinh viên, cùng với các quyền lợi hay điều kiện tốt nhất mà sinh viên được hưởng khi học tại đây

Vì vậy có thể khẳng định marketing không dành riêng cho lĩnh vực nào Bất kể là một cá nhân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh hay dịch vụ, giáo dục đào tạo Nhưng điều tiên quyết muốn đi đến thành công chính

là biết marketing cho mình một cách hiệu quả

Marketing trong giáo dục đào tạo là cần thiết vì không có quảng bá, không xây dựng hình ảnh, không làm nhiều người biết đến chương trình đào tạo, ngành nghề đào tạo của trường mình thì sẽ không có học viên vào học và trường

sẽ không thể tồn tại được

Việc làm marketing của các cơ sở đào tạo là cần thiết, có ý nghĩa không chỉ đối với chính bản thân các cơ sở đào tạo mà còn rất cần thiết đối với người học:

Đối với cơ sở đào tạo:

- Giúp khắc họa và in đậm thương hiệu của cơ sở đào tạo trong tâm trí khách hàng và trở thành động lực quan trọng dẫn dắt người học đến với cơ sở đào tạo

- Tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triển các dịch vụ bổ sung và tăng thêm sức cạnh tranh của cơ sở đào tạo

- Mở rộng ảnh hưởng của giới công chúng

- Giữ được mối quan hệ tốt đối với các đối tác

- Một cơ sở đào tạo hoạt động marketing tốt sẽ được chính quyền địa phương và các cơ quan pháp luật cũng như các đối tác đối xử ưu ái và tốt đẹp; thu hút được nhiều nhân viên giỏi, thúc đẩy cán bộ giáo viên, chuyên viên và nhân viên nỗ lực làm việc và gắn bó mật thiết giúp với nhà trường

- Tăng cường khả năng cạnh tranh, tạo ra nhiều nhu cầu đào tạo, gia tăng giá trị cho người học và mở ra nhiều cơ hội liên kết với các đối tác khác

Đối với người học:

- Giúp người học hình dung và cảm nhận về cơ sở đào tạo

- Giúp người học tin tưởng vào chất lượng của nhà trường

- Gây ấn tượng cho người học, giúp người học lựa chọn nhanh chóng loại hình đào tạo, dịch vụ đào tạo phù hợp nhất

Trang 18

- Giúp đảm bảo cho người học về chất lượng đào tạo

- Tạo cảm giác thoải mái cho người học khi sử dụng sản phẩm đào tạo

1.1.3 Các mục tiêu và quan điểm của hệ thống marketing trong giáo dục đào tạo

* Mục tiêu của hoạt động marketing của các cơ sở đào tạo chủ yếu nhằm vào bốn mục tiêu cơ bản sau:

- Tối đa hóa mức độ tiêu dùng: việc xác lập mục tiêu này của marketing dựa trên một giả định là khi con người càng chi phí và tiêu dùng nhiều hơn thì

họ càng cảm thấy hạnh phúc hơn Những người làm marketing cho rằng marketing tạo điều kiện dễ dàng và kích thích tiêu dùng tối đa, nhờ đó sẽ thúc đẩy phát triển, tạo ra nhiều công ăn việc làm và đem lại sự thịnh vượng tối đa Theo quan điểm này thì “càng nhiều càng tốt” Tuy nhiên nhiều người tỏ ra nghi ngờ luận điểm tiêu dùng càng tăng có nghĩa là con người càng hạnh phúc hơn

- Tối đa hóa sự thỏa mãn của người học: Theo quan điểm marketing, một tổ chức chỉ có thể đạt được các mục tiêu của mình dựa trên những nỗ lực nhằm gia tăng sự thỏa mãn của người học Nhưng trên thực tế, việc gia tăng sự thỏa mãn của người học luôn gặp phải những trở ngại khó vượt qua do bị chi phối bởi nhiều yếu tố tác động trái chiều nhau Với nguồn lực giới hạn, mỗi tổ chức trong quá trình hoạt động phải cố gắng sử dụng hợp lý để đáp ứng yêu cầu của các nhóm lợi ích khác nhau và việc gia tăng sự thỏa mãn của nhóm này có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhóm người khác Ngoài ra, việc gia tăng lợi ích của người học đòi hỏi tổ chức giáo dục đào tạo phải bỏ thêm chi phí trên cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, điều mà không phải bao giờ cũng có thể thực hiện được

- Tối đa hóa sự lựa chọn của người học: Mục tiêu này đưa ra nhằm gia tăng sự đa dạng của sản phẩm và khả năng lựa chọn của người học với hàm ý rằng người học có nhiều khả năng hơn để lựa chọn, do đó họ có thể tìm chọn đúng loại sản phẩm giáo dục đào tạo nào để thỏa mãn được ước muốn của họ, làm cho họ cảm thấy hài lòng nhất Tuy nhiên, điều này làm cho giá thành của sản phẩm giáo dục đào tạo có thể tăng lên, phải mất nhiều thời gian hơn để khảo sát, đánh giá các loại sản phẩm cạnh tranh trước khi đi đến một quyết định lựa chọn Và có nhất thiết số loại sản phẩm nhiều hơn sẽ làm tăng khả năng lựa chọn thực tế không? Một số người cho rằng hiện nay trên thị trường giáo dục đào tạo,

Trang 19

mỗi loại sản phẩm có quá nhiều “thương hiệu”, song giữa chúng lại có quá ít sự khác biệt Thêm vào đó, khi người ta có quá nhiều thứ để lựa chọn thì việc lựa chọn sẽ trở nên khó khăn hơn Vì thế, công việc của người làm marketing là biết xác định các loại sản phẩm (ngành và chuyên ngành đào tạo) có cấu trúc hợp lý

và khéo léo kết hợp chúng trong một danh mục sản phẩm (danh mục các ngành, chuyên ngành đào tạo) nhằm tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn mua đúng những gì họ mong muốn để thỏa mãn nhu cầu

- Tối đa hóa chất lượng cuộc sống: Nhiều người cho rằng, các vấn đề marketing sẽ được giải quyết một cách toàn diện và triệt để hơn nếu người làm marketing đứng trên quan điểm marketing xã hội và hệ thống marketing lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống làm mục tiêu cơ bản cho hoạt động của mình Tuy nhiên, chất lượng cuộc sống là một tiêu chuẩn khó đo lường, bị chi phối bởi số lượng, chất lượng, sự sẵn có và giá cả sản phẩm cũng như chất lượng của khung cảnh văn hóa và môi trường tự nhiên trong đó người ta tiêu dùng sản phẩm

* Quan điểm của hoạt động marketing trong giáo dục đào tạo:

Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 điều 20 qui định: “cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, chống lại nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi” Như vậy đào tạo là hoạt động không vụ lợi nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, tiền lời thu được sau khi trang trải chi phí hoạt động phải được sử dụng nhằm mục đích ban đầu hoặc tái đầu tư hay đưa vào quỹ dự trữ để tiếp tục phát triển hoạt động đào tạo

Dich vụ đào tạo là một “sản phẩm lao động” có thể dùng để thỏa mãn nhu cầu của con người Vì vậy, nếu có được “đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi” thì nó là một hàng hóa Hàng hóa ngày nay được hiểu rộng hơn và có hai đặc trưng bổ sung cho nhau:

Thứ nhất là đặc trưng “ mức độ công cộng”

Thứ hai là đặc trưng “mức độ thị trường”

Khi coi dịch vụ đào tạo là hàng hóa, phụ huynh, người sử dụng sản phẩm đào tạo là khách hàng, cơ sở giáo dục là “ nhà sản xuất” thì yêu cầu hoạt động

Trang 20

marketing trong đào tạo là thiết lập, duy trì và củng cố các mối quan hệ với khách hàng, nhà sản xuất nhằm làm thỏa mãn mục tiêu của các thành viên này

Như vậy, để tiến hành marketing đào tạo có hiệu quả, các trường phải tổ chức nghiên cứu thị trường, xác định đúng nhu cầu Xây dựng chiến lược marketing, đưa ra những chương trình hành động, những chính sách, những quyết định marketing thích hợp nhằm thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược đề ra

1.1.4 Tầm quan trọng của chính sách marketing trong giáo dục

Nói tới hệ thống chính marketing cũng có nghĩa là nói tới những phương án lựa chọn và quyết định của marketing - mix cho một thị trường mục tiêu Chính marketing đóng một vai trò chủ đạo đối với hoạt động Marketing của bất kỳ một doanh nghiệp hay tổ chức nào, nó không chỉ cho thấy đâu là khách hàng cần phải tập trung hướng tới

mà nó còn vạch ra lối đi đúng đắn cho tất cả các hoạt động khác, nhằm khai thác một cách có hiệu quả nhất phân đoạn thị trường đã lựa chọn

Chính vì vậy, bất kỳ một cơ sở giáo dục đào tạo nào cũng cần làm marketing vì

họ cũng rất cần quảng bá và cần cạnh tranh với các cơ sở đào tạo khác để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất

Muốn tồn tại và phát triển, các trường cần phải tập trung đẩy mạnh công tác marketing nhằm xây dựng cho mình một đặc điểm nổi bật, một lợi ích nào đó hơn hẳn

so với các trường khác nhằm tạo tâm lý an toàn và thu hút sinh viên, cùng các quyền lợi hay điều kiện tốt nhất mà sinh viên được hưởng khi học tại đây, nhất là các trường ngoài công lập Bởi vì, đối với khối trường ngoài công lập, thì khách hàng chính là đối tượng quyết định sự tồn tại, phát triển cũng như đi đến thành công của họ

Các vấn đề hiệu quả và nâng cao hiệu quả trong giáo dục đào tạo, nhất là giáo dục đại học, thường chịu tác động của các chiến lược quản lý theo định hướng thị trường Đối với các trường công lập, chi phí hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước, nhưng đối với các trường ngoài công lập, họ gần như phải tự chủ hoàn toàn về tài chính Do các trường ngày một nhiều hơn khiến cho cuộc cạnh tranh giữa các tường ngày càng quyết liệt và phức tạp hơn, nên đòi hỏi mỗi trường phải xây dựng cho mình một chiến lược marketing riêng để tạo điểm nhấn thu hút sinh viên

Với sự phát triển không ngừng của các cơ sở đào tạo như hiện nay, thì không phải chỉ cần sản phẩm đào tạo có chất lượng tốt và học phí phù hợp là có thể thu hút được sinh viên, mà họ phải biết được sự tồn tại của trường, phải được giới thiệu khái quát về những ngành nghề đào tạo cũng như môi trường học tập tại trường và đặc biệt

Trang 21

là lý do tại sao họ phải chọn trường đó, nó có gì khác, nổi trội và ưu việt hơn những trường khác

Chính sách marketing giúp cho trường sẽ đưa được hình ảnh của mình đến với sinh viên và các tổ chức bên ngoài, thu hút sự quan tâm tìm hiểu và lựa chon của sinh viên Chính marketing cũng là yếu tố thúc đẩy các tổ chức, cá nhân ngoài trường giới thiệu quảng bá hình ảnh thay cho mình, tạo ấn tượng riêng về trường

1.1.5 Các yếu tố tác động đến chính sách marketing tring giáo dục đào tạo

Các yếu tố tác động đến chính sách marketing là bao gồm các hai yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường vi mô

1.1.5.1 Môi trường vĩ mô

a) Môi trường văn hóa xã hội

Hoạt động Marketing dưới hình thức này hay hình thức khác đều trong phạm vi xã hội và từng xã hội lại có một nền văn hóa hướng dẫn cuộc sống hàng ngày của nó Văn hóa là tất cả mọi thứ gắn liền với xu thế hành vi cơ bản của con người từ lúc được sinh ra, lớn lên…

Những yếu tố của môi trường văn hóa phân tích ở đây chỉ tập trung vào hệ thống giá trị, quan niệm về niềm tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi, đây là các yếu tố có ảnh hưởng đến việc hình thành và đặc điểm của thị trường tiêu thụ Khi phân tích môi trường văn hóa cho phép các tổ chức có thể hiểu biết ở những mức độ khác nhau về đối tượng phục vụ của mình

Tiêu thức thường nghiên cứu đó là:

Lực lượng học sinh ở các trường trung học phổ thông, lực lượng lao động ngoài thị trường đang có nhu cầu học tập nâng cao trình độ Thông qua tiêu thức này cho phép các trường học xác định được quy mô của nhu cầu và tính đa dạng của nhu cầu

Nghề nghiệp tầng lớp xã hội ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành học, trường học Với yếu tố này các trường học cần xác định đúng nhu cầu, đối tượng và từ đó xác định mục tiêu đào tạo, đa ngành, đa nghề đáp ứng yêu cầu của xã hội

b) Môi trường chính trị, pháp luật

Môi trường chính trị bao gồm các đường lối, chính sách của chính phủ, cấu trúc chính trị, hệ thống quản lý hành chính và môi trường luật pháp… có thể cản trở hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chính sách marketing của một tổ chức

Các yếu tố thuộc môi trường này chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hội mở ngành, nghề phù hợp với khả năng của các cơ sở đào tạo Với sự thay đổi cơ chế chính sách của Bộ giáo dục và Đào tạo hằng năm, các trường học phải nắm bắt kịp thời để có

Trang 22

những giải pháp phù hợp để thích nghi với sự cạnh tranh khốc liệt trong thị trường giáo dục hiện nay

c) Môi trường kinh tế và công nghệ

Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế và công nghệ đến hoạt động đào tạo của các trường Các yếu tố thuộc môi trường này quy định cách thức hay phương châm đào tạo của mình để giành được vị trí tốt nhất trong toàn xã hội Qua đó, các cở sở đào tạo sẽ sử dụng toàn bộ tiềm năng của mình để chiếm lĩnh thị trường

Xu hướng vận động và bất cứ sự thay đổi nào của các yếu tố thuộc môi trường này đều tạo ra hoặc thu hẹp cơ hội quy mô đào tạo của các trường ở những mức độ khác nhau và thậm chí dẫn đến yêu cầu thay đổi mục tiêu chiến lược tuyển sinh của các trường

d) Đối thủ cạnh tranh

Đối thủ cạnh tranh cũng là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các trường Qua đó, các cơ sở đào tạo sẽ không ngừng đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật… nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội Là nguồn lực to lớn góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong điều kiện cạnh tranh ngày cang khốc liệt, các trường cần phải vươn lên vượt qua đối thủ của mình Muốn vậy, các trường cần phải cần xác định cho mình một chiến lược cạnh tranh hoàn hảo, chiến lược cạnh tranh cần phản ánh được các yếu tố ảnh hưởng của môi trường cạnh tranh bao quanh một cơ sở đào tạo

Phân tích môi trường cạnh tranh là hết sức quan trọng, coi thường đối thủ, coi thường các điều kiện, yếu tố trong môi trường cạnh tranh dẫn đến thất bại là điều không thể tranh khỏi

e) Môi trường địa lý, sinh thái

Đối với một cơ sơ đào tạo, sự tồn tại và phát triển của nó ngoài sự tác động của chính sách nhà nước, pháp luật, chính trị, văn hóa xã hội, đối thủ cạnh… thì vị trí địa

lý cũng có sự chi phối rất lớn đến sự tồn tại và phát triển đó Với những trường nằm ở những nơi có đường sá giao thông thuận lợi, vị trí trung tâm thành phố thuận lợi cho việc học tập, vui chơi, làm việc… Là nơi ưu tiên lựa chọn của người học Do đó, những trường nào càng nằm ở vị trí địa lý thuận lợi sẽ có cơ hội tiềm kiếm được nhiều khách Nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng và thuận lợi cho

sự phát triển công tác đào tạo của trường

Trang 23

1.1.5.2 Môi trường vi mô

a) Khách hàng

Khách hàng là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động marketing của cơ sở đào tạo Hiện nay khách hàng của các trường đại học, cao đẳng là học sinh cấp 3, những người đang làm việc ngoài xã hội và một số các cá nhân, tổ chức có mong muốn học tập nâng cao trình độ

Đối với khách hàng là các cá nhân, học sinh phổ thông thì các trường cần nghiên cứu rõ nhu cầu học tập của họ để xây dựng phương án đào tạo phù hợp với nhu cầu đa dạng của người học

Đối với các khách hàng là một tổ chức thì các trường cần phối hợp các phương thức đào tạo như hợp tác liên kết đào tạo để khai thác được nguồn lợi ích từ các đối tượng khách hàng này

Như vậy, khách hàng rất đáng được quan tâm, đối tượng khách hàng có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược marketing, quy mô hoạt động marketing, công tác tổ chức hoạt động marketing của các trường Các trường cần quan tâm xây dựng mối quan hệ thân thiết với khách hàng để tạo uy tín, thương hiệu, nâng cao vị thế cạnh tranh trong thị trường giáo dục hiện nay

b) Yếu tố vật chất kỹ thuật

Trong mọi tổ chức như trường học, đơn vị sản xuất thì điều kiện vật chất kỹ thuật đều có ảnh hưởng đến mọi hoạt động của tổ chức đó, và hoạt động marketing cũng vậy Một cơ sở đào tạo có điều kiện vật chất kỹ thuật tốt thì chính sách marketing của trường đó càng có hiệu quả Do đó, các trường muốn nâng cao khả năng cạnh tranh cần phải đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại để đáp ứng nhu cầu của người học cũng như nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế cạnh tranh, khẳng định thương hiệu để tồn tại và phát triển trong thị trường giáo dục hiện nay

c) Yếu tố tài chính của công ty

Tài chính của một cơ sở đào tạo sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện chính sách marketing của trường Thông qua nguồn tài chính có thể đầu tư trang cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện đồ dùng dạy học, các phương tiện thông tin, internet, sách, báo…phục vụ cho quá trình dạy và học Ngoài ra, nguồn tài chính lớn sẽ giúp cho việc tuyển dụng được nhiều nhân tài; đảm bảo cho việc bỏ nguồn kinh phí đào tạo

và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, nhân viên tạo tính chuyên nghiệp trong quá trình làm việc nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao khả năng cạnh tranh của trường

Trang 24

d) Con người

Con người chính là yếu tố quyết định sự thành công của một tổ chức Do đó, một cơ sở đào tạo muốn tồn tại và phát triển cần phải chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển chung của xã hội

1.2 Chính sách marketing trong lĩnh vực đào tạo

1.2.1 Khái niệm về chính sách marketing

Tùy theo từng lĩnh vực mà chính sách marketing được quan niệm khác nhau như Marketing dịch vụ đào tạo, mô hình Marketing 7P bao gồm giá (price), sản phẩm (product), phân phối (place), xúc tiến hỗn hợp (promotion), con người (people), tính hệ thống (professionalism), tư tưởng, triết lý văn hóa (philosophy)

Chính sách Marketing trong lĩnh vực giáo dục đào tạo có thể hiểu như sau:

- Theo James Anderson: Chính sách Marketing trong giáo dục là quá trình hành động có mục đích mà cá nhân hoặc nhóm theo đuổi 1 cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề Chính sách Marketing trong giáo dục có thể hiểu là hệ thống các quan điểm, giải pháp và nguồn lực để đạt mục tiêu chiến lược Marketing Các chính sách Marketing giáo dục bao gồm các nguyên tắc, tiêu chí đánh giá, hệ thống cơ sở lý luận , đáp ứng yêu cầu học tập thường xuyên, tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong đào tạo Chính sách Marketing trong giáo dục đào tạo là các yếu tố buộc các trường muốn tồn tại và phát triển phải vạch ra các chính sách marketing thích hợp, nhằm thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược đề ra

- Chính sách sản phẩm: Xác định cơ cấu ngành nghề, mục tiêu, nội dung chương trình, bài giảng, tài liệu, giáo trình…

- Chính sách giá: Quy định mức học phí cho người học…

- Chính sách phân phối sản phẩm: Chọn địa điểm, thời gian hợp lý để tổ chức quá trình đào tạo theo nhu cầu của những người học…

- Chính sách cổ động truyền thông (xúc tiến hổn hợp): Đưa thông tin về sản

phẩm và quảng bá hình ảnh của cơ sở đào tạo đến các người học Định dạng

công chúng mục tiêu, xác định mục tiêu truyền thông, thiết kế thông điệp, lựa chọn kênh truyền thông, xác định ngân sách cổ động, quyết định về hệ thống cổ động và đánh giá kết quả truyền thông

Trang 25

- Chính sách nhân lực và quản lý đào tạo: Thực hiện chính sách tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài Coi trọng đội ngũ giảng viên, lấy đội ngũ giảng viên làm nòng cốt

- Quy trình dịch vụ (quy trình công nghệ đào tạo): Là các yếu tố tác động tương hỗ giữa các yếu tố, tác động tuyến tính giữa các khâu các bước của hệ thống trong mối quan hệ mật thiết với những quy chế quy tắc, lịch trình thời gian và cơ chế hoạt động

- Chính sách cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ đào tạo: Yếu tố cơ sở

vật chất và phương tiện phục vụ đào tạo đảm bảo điều kiện tốt nhất phục vụ cho dạy và học

Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ như giáo dục đào tạo có 7 yếu tố cơ bản là: sản phẩm, giá, phân phối, truyền thông cổ động, con người, quy trình cung ứng dịch vụ đào tạo và cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

Nhà nước đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta Nền kinh tế này đã tác động rất lớn đến đào tạo Nhà nước chủ trương chuyển dần mô hình đào tạo hiện nay sang mô hình đào tạo

mở, mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học, xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng yêu cầu học tập thường xuyên, tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm

sự công bằng xã hội trong đào tạo Nhà nước mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp nói chung và đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo nói riêng

1.2.2 Các chính sách Marketing trong đào tạo

1.2.2.1 Chính sách sản phẩm đào tạo

Sản phẩm đào tạo trong nền kinh tế thị trường được coi là một loại dịch

vụ mà cơ sở đào tạo cung ứng cho người học, cho xã hội Nó là loại sản phẩm

vô hình, người học không thể thấy được trước khi chúng được mua, là những kiến thức, những kỹ năng nghề nghiệp của chuyên ngành đào tạo được thể hiện qua một quá trình đào tạo bao gồm: cơ cấu ngành nghề, mục tiêu, nội dung chương trình, bài giảng, tài liệu, giáo trình như vậy, chính sách về sản phẩm đào tạo là chính sách về các yếu tố cấu thành trong quá trình đào tạo Một cơ sở

Trang 26

đào tạo muốn sản phẩm của mình có chất lượng cao thì phải có chính sách phù hợp với từng yếu tố cấu thành trong quá trình tổ chức cung ứng dịch vụ đào tạo

Thiết kế sản phẩm giáo dục đào tạo xuất phát từ mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo quốc gia, đạt đến một mức độ chất lượng, hiệu quả truyền đạt các giá trị nhân cách và đem lại cho người học một trình độ học vấn, tri thức, kỹ năng chuyên môn nhất định

Sản phẩm của giáo dục đào tạo được cấu thành từ những chuẩn mực giá trị xã hội, mô hình nhân cách của chế độ xã hội và nhu cầu của thị trường sức lao động thông qua yêu cầu cụ thể của người học

Hoạch định sản phẩm giáo dục đào tạo bắt đầu từ việc phân tích nhu cầu người học hay người sử dụng lao động để đảm bảo rằng sản phẩm đạt được những đặc điểm và thuộc tính mà người học và người sử dụng lao động mong muốn

Cấu trúc của sản phẩm giáo dục đào tạo bao gồm năm lớp cơ bản là

- Lợi ích cốt lõi: Là lợi ích cơ bản thu được từ sản phẩm đào tạo như kiến thức, kỹ năng

- Sản phẩm chung: Dạng cơ bản của lợi ích cốt lõi về khía cạnh hữu hình,

vô hình của sản phẩm giáo dục đào tạo

- Sản phẩm mong đợi: Tập hợp thuộc tính và điều kiện được mong đợi, chấp thuận của người học

- Sản phẩm hoàn thiện: Dịch vụ và lợi ích thụ thêm khác với các cơ sở giáo dục đào tạo khác

Trang 27

- Sản phẩm tiềm ẩn: Sự hoàn thiện những biến đổi của sản phẩm giáo dục đào tạo cần có trong tương lai

Cơ cấu ngành nghề:

Nói đến cơ cấu ngành nghề đào tạo là đề cập đến ngành, chuyên ngành và

tỷ trọng của chúng chiếm trong toàn bộ danh mục ngành nghề đào tạo của một trường Việc đổi mới ngành nghề và cơ cấu ngành nghề của một trường được tiến hành trên cơ sở rà soát lại toàn bộ những chuyên ngành đang đào tạo, xem những chuyên ngành nào đang có nhu cầu cao, chiếm tỷ trọng lớn, có vị trí trọng yếu trong cơ cấu ngành nghề của trường, ngành nghề nào không được người học hưởng ứng và những nguyên nhân của tình hình để có sự điều chỉnh phù hợp Việc đổi mới ngành nghề có thể:

Giữ lại và hoàn thiện hơn về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo với những chuyên ngành có vị trí trọng yếu, đang phát huy tác dụng tốt

Phát triển đào tạo mới một số chuyên ngành mà xã hội đang có nhu cầu tăng và cơ sở đào tạo có khả năng đáp ứng

Đổi mới cơ bản, có khi phải thay đổi cả tên gọi (đề xuất cấp có thẩm quyền cho phép nếu chưa phân cấp) đối với những chuyên ngành không còn phù hợp, cả xã hội và người học cũng không hưởng ứng

Giảm bớt hoặc tạm dừng đào tạo những ngành nghề mà xã hội có nhu cầu thấp hay đã bão hòa để tập trung nguồn lực và đào tạo những ngành nghề khác có hiệu quả hơn

Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo:

Mục tiêu là xác định cái đích để quá trình đào tạo hướng tới và phải phấn đấu để đạt được Nó quyết định nội dung, chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy Mục tiêu đào tạo các chuyên ngành biến đổi theo chiều hướng ngày càng nâng cao và hoàn thiện hơn đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Mặt khác, mỗi chuyên ngành lại có những yêu cầu riêng và nhân lực đào tạo ra được

sử dụng trong những ngành, những công việc xác định, do đó mục tiêu phải đảm bảo đào tạo ra những sản phẩm vừa đáp ứng được yêu cầu chung vừa đáp ứng được yêu cầu riêng của từng ngành trên từng vùng, từng miền cụ thể Để xác định đúng mục tiêu, phải căn cứ sự biến đổi của môi trường, thường xuyên rà soát lại mục tiêu để điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của

Trang 28

người sử dụng Trên cơ sở xác định đúng mục tiêu đề ra xác định nội dung chương trình và phương pháp đào tạo thích hợp

Nội dung chương trình được thể hiện ở danh mục toàn bộ các môn học ghi trong kế hoạch đào tạo từng chuyên ngành, ở nội dung của từng môn học và

ở từng bài giảng cụ thể Theo mục tiêu đã xác định, nội dung chương trình đào tạo phải thường xuyên được chọn lọc, điều chỉnh, bổ sung nhằm làm phong phú thêm những nội dung đang phù hợp với mục tiêu và yêu cầu xã hội, loại bỏ những môn học, những nội dung đã lạc hậu kém thiết thực với cuộc sống thực

tế, bổ sung kịp thời những môn học mới, những vấn đề mới do cuộc sống thực tế đặt ra, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển cho tương lai

1.2.2.2 Chính sách về giá (học phí đào tạo)

Giá là số lượng tiền hay một cái gì đó có giá trị để trao đổi lấy sản phẩm Trong giáo dục đào tạo lợi ích của sản phẩm chính bằng giá trị của sản phẩm đối với người học và giá là yếu tố thay đổi, tác động trực tiếp đến sự lựa chọn của người học hay người sử dụng lao động và tác động gián tiếp đến chất lượng sản phẩm cảm nhận được

Khi định giá, các cơ sở đào tạo phải căn cứ vào mục tiêu marketing của đơn vị mình, quan hệ cung cầu về sản phẩm giáo dục đào tạo, chi phí đào tạo, chi phí đào tạo và sản phẩm của các cơ sở giáo dục đào tạo khác và những yếu

tố khác của môi trường như kinh tế, tâm lý… để đưa ra một mức giá phù hợp với khách hàng của mình

Có ba phương pháp định giá cơ bản là định giá dựa vào chi phí, định giá dựa vào người học và định giá dựa vào các cơ sở giáo dục đào tạo khác

- Định giá dựa vào chi phí có định giá cộng thêm vào chi phí một mức thu nhập ròng định trước với công thức:

P = Z ( 1 + I% ) Hay P = Z + m

Trang 29

P = ( Z + IC x DR)/ Q

Với IC: tổng vốn đầu tư

DR: tỷ lệ lợi nhuận / vốn đầu tư

- Định giá dựa vào người học: định giá theo giá trị nhận thức được căn cứ vào nhận thức của người học về giá trị dựa trên triết lý “tiền nào của ấy” và định giá dựa vào giá trị tức định giá thấp cho sản phẩm chất lượng cao dựa trên triết

lý “chất lượng cao hơn, nhưng giá vẫn như cũ” hoặc “chất lượng cao hơn, nhưng giá thấp hơn”

- Định giá dựa vào các cơ sở giáo dục đào tạo khác có định giá theo mức giá hiện hành của các cơ sở giáo dục đào tạo khác mà ít chú trọng đến nhu cầu

và chi phí và định giá theo đấu thầu dựa trên cân nhắc về giá của các cơ sở giáo dục đào tạo khác, cơ hội trúng thầu (giá thấp hơn đối thủ) và khả năng tăng thu nhập (giá cao)

Trong chiến lược định giá sản phẩm mới, cơ sở đào tạo có thể định giá chắt lọc thị trường tức giá cao hơn các cơ sở giáo dục đào tạo khác được sử dụng khi sản phẩm có những lợi thế và khi nhu cầu lớn hơn cung hoặc có thể sử dụng sự bảo vệ của luật pháp để định giá cao dựa trên định vị chất lượng cao và tạo ý tưởng tốt về sản phẩm Ngoài ra, cơ sở đào tạo cũng có thể định giá thâm nhập phạm vi phục vụ bằng việc định giá thấp hơn so với các cơ sở đào tạo khác

và sử dụng các công cụ để đạt được thị phần và quy mô

Khi định giá cho sản phẩm cải tiến, sản phẩm hiện có đưa vào phạm vi phục

vụ mới, các cơ sở đào tạo kết hợp các mức chất lượng và giá cả, các chiến lược mức giá tương đối theo ba mức độ cao, trung bình hoặc thấp hơn mức chất lượng

Chính sách học phí đào tạo đối với một trường là mức thu tài chính hợp

lý mà trường đó thu được từ hoạt động đào tạo Mức thu hợp lý là mức thu đủ cho trường tồn tại, phát triển và được người học chấp nhận Hiện nay, nguồn kinh phí thu được từ hoạt động đào tạo tại các trường công lập chiếm tỷ trọng còn thấp so với nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp, còn các cơ sở đào tạo bán công, tư thục nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu do người học đóng góp

Nguyên tắc cơ bản để xác định mức thu học phí đối với một người học, trong một khóa học, trước hết cơ sở đào tạo phải dự tính được tổng chi phí cần thiết cho một lớp học và “giá thành đơn vị” đào tạo và cũng không nên vượt quá giới hạn mà người học có thể chấp nhận được

Trang 30

Nhưng do đặc điểm của sản phẩm giáo dục vừa mang thuộc tính hình thái

ý thức xã hội vừa mang thuộc tính hàng hóa nên mức thu học phí của các cơ sở đào tạo còn phải căn cứ vào một số nhân tố ảnh hưởng đến mức thu là:

Chế độ thu học phí của nhà nước quy định, hệ đào tạo, bậc đào tạo, phương thức đào tạo, loại hình đào tạo, cơ sở đào tạo thuộc loại hình công lập, bán công hay tư thục, cơ sở đào tạo thuộc loại đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, hay loại đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, hay thuộc ngân sách nhà nước cấp toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, mục tiêu chủ yếu của chiến lược marketing (thị trường, lợi nhuận, lợi ích công), ưu thế các bằng chứng chất lượng

Việc xác định tổng chi phí cần thiết cho một lớp học và giá thành đơn vị đào tạo là những con số dự tính mang tính chất lượng tương đối nhằm phục vụ cho việc lập kế hoạch tài chính và các kế hoạch khác có liên quan

Nội dung của chính sách học phí phân biệt của một cơ sở đào tạo là: miễn, giảm học phí cho người học thuộc diện chính sách, giảm học phí cho người học thuộc diện con nhà nghèo học giỏi, cho những người theo học các ngành, chuyên ngành khác nhau, các hình thức đào tạo, bậc đào tạo khác nhau, các giờ trong ngày, các ngày trong tuần mà mức độ sử dụng các nguồn lực của cơ sở đào tạo còn thấp

1.2.2.3 Chính sách phân phối sản phẩm đào tạo

Phân phối bao gồm các hoạt động đưa sản phẩm giáo dục đào tạo đến đúng khách hàng, đúng địa điểm, đúng thời gian Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo, phân phối có nghĩa là chọn địa điểm, thời gian hợp lý để tổ chức quá trình đào tạo theo nhu cầu của những nhóm người khác nhau, nhằm kích thích và thu hút người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học và cho cơ sở giáo dục đào tạo phát triển Đồng thời kênh phân phối là tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho người học

Do đặc điểm của dịch vụ đào tạo và xét trên góc độ kinh tế không tổ chức cung cấp dịch vụ cho từng người học riêng lẻ mà phải tổ chức thành lớp, nghĩa

là phải tổ chức tuyển sinh và tổ chức đào tạo Để tổ chức tuyển sinh và đào tạo có hiệu quả, cơ sở đào tạo cần xác định đủ số kênh và các loại kênh, cơ sở đào tạo phải cân nhắc kỹ và cần xác định đủ số kênh và số cấp cần thiết mới tạo điều

Trang 31

kiện hoạt động của các kênh có hiệu quả Việc lựa chọn loại kênh, số lượng kênh tùy thuộc vào phạm vi không gian địa lý của thị trường đào tạo

Đặc biệt lợi nhuận nếu tìm được cơ sở đào tạo không đủ điều kiện đào tạo ngành nghề, bậc học của chủ thể marketing nhưng có đủ điều kiện và cơ sở vật chất kỹ thuật và khả năng tổ chức quản lý lớp học chấp nhận làm trung gian, coi đó là một trung tâm đào tạo của trường tại địa phương

Việc lựa chọn những trung gian marketing tham gia vào các kênh phụ thuộc vào đối tượng đào tạo chủ yếu, loại hình và những yêu cầu của một thị thị trường Khi đã xác định được các kênh, vấn đề còn lại là phải thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, đánh giá hoạt động của những con người tham gia kênh và áp dụng những biện pháp xử lý cần thiết nhằm đảm bảo cho kênh hoạt động tốt

Kênh tuyển sinh đào tạo dài hay ngắn phụ thuộc vào số cấp trung gian marketing tham gia vào kênh Nếu như số trung gian giữa cơ sở đào tạo và người học tăng lên, kênh được tăng lên về chiều dài

Kênh trực tiếp là loại kênh mà cơ sở đào tạo trực tiếp chiêu sinh và tổ chức đào tạo không có trung gian trong kênh Do không có trung gian trong kênh trực tiếp nên cơ sở đào tạo phải thực hiện tất cả các chức năng của kênh (trực tiếp chiêu sinh và tổ chức đào tạo)

Kênh gián tiếp là loại kênh có trung gian nằm giữa cơ sở đào tạo và người học để thực hiện chức năng của kênh Các trung gian thường là Trung tâm giáo dục thường xuyên, Sở Giáo dục – Đào tạo, trường liên kết Kênh có một trung gian nằm giữa cơ sở đào tạo và người học gọi là kênh một cấp, kênh có hai trung gian nằm giữa cơ sở đào tạo và người học gọi là kênh hai cấp

Trong chừng mực nhất định, chính sách phân phối sản phẩm đào tạo của một cơ sở đào tạo còn thể hiện ở việc quan tâm giải quyết đầu ra, tức là việc làm của người học sau khi tốt nghiệp ra trường Phần lớn hiện nay người học lựa chọn một chuyên ngành học nào đó họ đã tính đến khả năng tạo việc làm trong tương lai Nhưng thực tế khi ra trường nhiều người học không tìm được việc làm hoặc có việc làm nhưng không đúng ngành nghề được đào tạo Vì vậy, cơ sở đào tạo với khả năng có thể phải tích cực tham gia giải quyết vấn đề này, coi đó là nhân tố kích thích nhu cầu và thu hút người học

* Muốn thực hiện kênh phân phối sản phẩm đào cần phải giải quyết được hai vấn đề:

Trang 32

- Liên kết đào tạo:

Quá trình liên kết đào tạo sẽ tạo ra sự đa dạng phong phú của các sản phẩm đào tạo Là một mô hình trong giáo dục nhằm tạo cơ hội học tập cho toàn xã hội Nhờ cách làm này, nhiều người ở vùng sâu, vùng xa; nhiều người bận làm việc, không có thời gian cũng có cơ hội học tập lên cao Liên kết đào tạo không phải là một hình thức mới trong ngành giáo dục và nó đang ngày càng phát triển do nhu cầu học tập của các cá nhân đang ngày càng cao Không chỉ có liên kết đào tạo ở các lĩnh vực kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật thậm chí phát triển nhanh ở cả lĩnh vực dạy nghề

Theo Thông tư, các đối tượng được áp dụng là các trường trung cấp, trường cao đẳng, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục đại học có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình

độ cao đẳng, và các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi là đơn vị), cá nhân có nhu cầu liên kết đào tạo

Liên kết phối hợp đào tạo là việc đơn vị phối hợp liên kết đào tạo trực tiếp tham gia giảng dạy chương trình đào tạo, phối hợp quản lý quá trình đào tạo và đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện liên kết đào tạo

Nhà nước khuyến khích cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp liên kết để tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội; trong đó doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp hợp tác trong xác định chuẩn đầu ra, xây dựng chương trình, phát triển đội ngũ giảng viên doanh nghiệp, tổ chức tuyển sinh, tuyển dụng, tổ chức đào tạo tại doanh nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo với người học…; Khuyến khích các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hợp tác để tổ chức và công nhận kết quả đào tạo một số modun, môn học lý thuyết và thực hành (bao gồm cả đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn)

Thông tư cũng quy định yêu cầu chung để tổ chức liên kết đào tạo Theo đó, ngành, nghề đào tạo dự kiến liên kết phải phù hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương, của doanh nghiệp; Đảm bảo các yêu cầu về chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, chương trình, giáo trình phù hợp với mục tiêu của khóa học theo quy định của các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Giáo dục

Trang 33

1.2.2.4 Chính sách truyền thông cổ động (xúc tiến hỗn hợp)

Để phát triển một chiến lược truyền thông hiệu quả, người truyền thông phải thực hiện một tiến trình bao gồm các bước chủ yếu sau đây: Định dạng công chúng mục tiêu, xác định mục tiêu truyền thông, thiết kế thông điệp, lựa chọn kênh truyền thông, xác định ngân sách cổ động, quyết định về hệ thống cổ động và đánh giá kết quả truyền thông

- Định dạng công chúng mục tiêu: Muốn thực hiện công việc truyền thông thì trước hết phải xác định rõ đối tượng cần truyền thông tin là ai Công chúng có thể là những người học tiềm tàng đối với các sản phẩm của tổ chức, những người học hiện thời, những người quyết định hoặc những người gây ảnh hưởng Công chúng mục tiêu có thể là những cá nhân, những nhóm người nào đó sẽ ảnh hưởng quan trọng đến những quyết định của người truyền thông về: nói cái gì, nói như thế nào, nói khi nào, nói ở đâu và nói với ai

- Xác định mục tiêu truyền thông: Khi đã xác định được công chúng mục tiêu và những đặc điểm của nó thì người làm marketing phải quyết định về những phản ứng đáp lại mong muốn của công chúng Phản ứng đáp lại là làm cho người học hài lòng Hành vi chọn học ở cơ sở giáo dục đào tạo nào là kết quả cuối cùng của một quá trình rất dài để thông qua quyết định của người học Người truyền thông cần biết cách làm thế nào để đưa công chúng mục tiêu lên trạng thái sẵn sàng chọn học cao hơn

Người làm marketing có thể muốn khắc sâu vào tâm trí người học một điều gì đó nhằm thay đổi thái độ của họ hay thúc đẩy họ đến chỗ hành động Hành động chọn mua của khách hàng không diễn ra một cách tức thời mà đa số

là diễn ra theo sáu trạng thái của người học là biết -> hiểu -> thích -> chuộng -> tin chắc -> mua (chọn học)

Biết: Người truyền thông trước hết phải nắm được công chúng mục tiêu biết đến sản phẩm hay tổ chức mình như thế nào

Hiểu: Công chúng mục tiêu có thể biết đến sản phẩm hay tổ chức nhưng có thể chưa thực sự hiểu về chúng Làm cho công chúng hiểu được nhà trường

và sản phẩm của nó là mục tiêu tiếp theo của truyền thông

Thích: Nếu công chúng đã hiểu về sản phẩm, liệu họ có cảm nghĩ gì về sản phẩm ấy Nếu công chúng tỏ ra không có thiện cảm với sản phẩm thì tổ chức cần triển khai một chiến dịch truyền thông nhằm gây dựng mối thiện cảm Và

Trang 34

nếu điều này không đem lại kết quả do sản phẩm còn nhiều khiếm khuyết thì tổ chức trước hết phải tìm cách cải tiến sản phẩm

Chuộng: Công chúng mục tiêu có thể thích sản phẩm nhưng lại không ưa chuộng nó hơn những sản phẩm khác Trường hợp này cần khuyếch trương những đặc tính nổi bật của sản phẩm như giá cả, chất lượng và các đặc tính khác

để thuyết phục công chúng và làm tăng mức độ ưa chuộng sản phẩm của họ

Tin chắc: Công chúng mục tiêu có thể ưa chuộng sản phẩm nhưng không tin chắc rằng mình sẽ trả tiền để có nó Công việc của người truyền thông là thiết lập một niềm tin vững chắc rằng quyết định có sản phẩm đó là đúng

Mua: Một số công chúng mục tiêu có thể đã tin nhưng không hẳn tính ngay đến việc học Họ có thể chờ đợi có thêm thông tin, hoặc dự định để làm việc đó sau Người truyền thông phải dẫn những người học tiềm năng này đi đến bước cuối cùng là trả tiền để có được sản phẩm

Sáu trạng thái trên được tập hợp trong ba giai đoạn: Nhận thức (biết, hiểu), cảm thụ (thích, chuộng, tin chắc) và hành vi (mua) Người học có thể đang ở bất kỳ một trong sáu trạng thái sẵn sàng đó Công việc của người truyền thông là xác định xem đa số người học đang ở giai đoạn nào và triển khai một chiến lược truyền thông để đưa họ đến giai đoạn tiếp theo

- Thiết kế thông điệp: Sau khi đã xác định được đáp ứng mong muốn của người học, tiếp theo cần thiết kế một thông điệp có hiệu quả Một cách lý tưởng theo mô hình AIDA một thông điệp phải gây được sự chú ý, tạo được sự quan tâm, khơi dậy được mong muốn và thúc đẩy được hành động Trong thực tế, ít có thông điệp nào đưa người học đi trọn vẹn từ trạng thái biết đến hành vi chọn học, nhưng cấu trúc AIDA đưa ra được những tiêu chuẩn đáng mong muốn

Việc tạo thành một thông điệp sẽ đòi hỏi giải quyết bốn vấn đề: nói cái gì (nội dung thông điệp), nói thế nào cho hợp lý (cấu trúc thông điệp), nói thế nào cho diễn cảm hình thức thông điệp và ai nói cho có tính thuyết phục (nguồn thông điệp)

- Nội dung thông điệp: Người truyền thông phải hình dung được những điều sẽ nói với công chúng mục tiêu để tạo được sự đáp ứng mong muốn Quá trình này nêu lại một số lợi ích, động cơ, đặc điểm hay lý do tại sao công chúng cần nghĩ đến hay nghiên cứu sản phẩm Chủ đề lý tính liên hệ tới những lợi ích riêng của người học rằng sản phẩm sẽ đem lại những gì mà người học mong đợi

Trang 35

như chất lượng, giá trị hay các tính năng đặc biệt khác của sản phẩm Chủ đề tình cảm khơi dậy những mặt tích cực hay tiêu cực đúng mức để đưa đến việc chọn học như tình cảm yêu mến, tự hào… được học trong một trường có truyền thống lâu năm Chủ đề đạo đức hướng người ta đến sự ý thức về cái thiện, thúc dục sự ủng hộ các mục tiêu có tính chất xã hội như bảo vệ môi trường, an toàn giao thông…

- Cấu trúc thông điệp: Hiệu quả thông điệp phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc cũng như nội dung của nó Người truyền thông phải quyết định có nên đưa

ra quyết định rõ ràng hay để công chúng tự rút ra kết luận Thực tế cho thấy đưa

ra kết luận rõ ràng thì thường hiệu quả hơn hay phải quyết định nên đưa những luận chứng đanh thép vào đầu hay cuối thông điệp Việc giới thiệu những luận chứng đanh thép vào đầu thông điệp thì tạo sự chú ý mạnh nhưng có thể dẫn đến một kết thúc có tính chất giảm dần

- Hình thức thông điệp: Hình thức biểu đạt một thông điệp phải thật sinh động để cuốn hút sự chú ý, quan tâm và dễ thuyết phục người học Đối với một

ấn phẩm quảng cáo, người truyền thông phải quyết định về tiêu đề, lời lẽ, minh họa, màu sắc và thể hiện theo cách đề cao tính lạ thường và tương phản, hình ảnh và tiêu đề lôi cuốn, hình thức khác thường, kích cỡ và vị trí gây được sự chú

ý, hình ảnh sống động…

- Nguồn thông điệp: Sự tác động của thông điệp đối với người học còn chịu ảnh hưởng bởi việc họ cảm nhận về nhà trường như thế nào Các thông điệp được gởi đi từ những nguồn đáng tin cậy thì có tính thuyết phục cao

Có ba yếu tố thường được thừa nhận là làm tăng mức độ đáng tin cậy của nguồn thông điệp là tính chuyên môn, tính đáng tin và tính khả ái Tính chuyên môn biểu thị mức độ mà người truyền thông có được thẩm quyền để ủng hộ một luận điểm Tính đáng tin cậy liên quan tới việc nguồn được cảm nhận có mức độ khách quan và trung thực ra sao Tính khả ái thể hiện mức hấp dẫn của nguồn truyền tải thông điệp đối với công chúng Tính thật thà, hài hước và tự nhiên làm cho người truyền tải thông điệp trở nên khả ái hơn Vì vậy, nguồn thông điệp hiệu quả nhất là nguồn đạt mức độ cao trong cả ba yếu tố nêu trên

- Lựa chọn phương tiện truyền thông: Có hai loại kênh truyền thông mà người truyền thông có thể lựa chọn là kênh trực tiếp và kênh gián tiếp Kênh trực tiếp là loại kênh có hai hay nhiều người sẽ trực tiếp truyền thông với nhau

Trang 36

Họ có thể truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp nhân viên với đối tượng, qua điện thoại hoặc qua thư từ trên cơ sở giao tiếp cá nhân Các kênh trực tiếp tạo ra hiệu quả thông qua những cơ hội cá nhân hóa việc giới thiệu và thông tin phản hồi Các kênh truyền thông trực tiếp có thể chia nhỏ thành các kênh giới thiệu, chuyên viên và kênh xã hội Kênh giới thiệu gồm các nhân viên marketing của nhà trường tiếp xúc trực tiếp với người học trong phạm vi các đối tượng được chọn phục vụ Kênh chuyên viên gồm những chuyên viên độc lập phát biểu ý kiến của mình với người học Kênh xã hội gồm những người láng giềng, bạn bè, các thành viên trong gia đình và những người đồng sự nói chuyện với người học

Kênh truyền thông gián tiếp chuyển các thông điệp đi mà không cần có sự tiếp xúc trực tiếp Chúng bao gồm các phương tiện truyền thông đại chúng, bầu không khí và các sự kiện Các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm những phương tiện truyền thông dưới dạng ấn phẩm như thư trực tiếp, báo và tạp chí; những phương tiện truyền thông quảng bá như truyền thanh, truyền hình; những phương tiện truyền thông điện tử như băng ghi âm và ghi hình, đĩa ghi hình, internet và những phương tiện trưng bày như pano, bảng hiệu, áp phích Hầu hết các phương tiện gián tiếp đều được chuyển tải qua các phương tiện truyền thông có trả tiền

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các công cụ cổ động Mỗi công cụ cổ động lại có những điểm đặc thù riêng và chi phí của nó Có bốn công

cụ truyền thông cổ động mà các cơ sở đào tạo có thể lựa chọn là quảng cáo, khuyến mãi, marketing trực tiếp và quan hệ công chúng

- Quảng cáo có tính chất đại chúng thông qua tính chính thức của sản phẩm và tạo nên một tiêu chuẩn cho sản phẩm Bên cạnh đó quảng cáo cũng có tính sâu rộng cho phép cơ sở giáo dục đào tạo lặp lại một thông điệp nhiều lần Nó cũng cho phép người học nhận và so sánh thông điệp của các cơ sở giáo dục đào tạo khác Quảng cáo với quy mô lớn cũng nói lên một điều tốt về quy mô khả năng và sự thành đạt của cơ sở giáo dục đào tạo Quảng cáo cũng thể hiện tính biểu cảm bằng việc tạo ra những cơ hội để giới thiệu nhà trường và sản phẩm của trường bằng cách sử dụng khôn khéo hình ảnh, âm thanh và màu sắc Quảng cáo chỉ có thể thực hiện độc thoại, chứ không phải đối thoại với công chúng và công chúng không cảm thấy mình có bổn phận phải chú ý hay hưởng ứng Đây chính là tính không ép buộc của quảng cáo

Trang 37

Quảng cáo trước tiên là một hình thức truyền thông được trả tiền để thực hiện Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để cung cấp thông tin đến với người học về ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, loại hình đào tạo của một cơ sở đào tạo Hoạt động quảng cáo được thể hiện qua nội dung gồm: Xác định mục tiêu quảng cáo, lựa chọn thông tin- nội dung quảng cáo, lựa chọn phương tiện truyền tin, xác định thời gian thực hiện và đánh giá chương trình quảng cáo

Để có thể hiểu hiệu quả của quảng cáo chúng ta cần phải hiểu quy trình của quảng cáo từ mục tiêu, ý đồ cho đến chiến lược và sự tiếp nhận của người tiếp nhận quảng cáo

Những yếu tố ảnh hưởng mạnh lên hiệu quả quảng cáo là tần suất, nội dung của quảng cáo, phương tiện quảng cáo

Tần suất: Nếu số lần quảng cáo xuất hiện nhiều lần thì đương nhiên là nó được nhiều người biết tới và ghi nhớ

Nội dung quảng cáo: Mọi người không đếm số lần quảng cáo mà chỉ nhớ

ấn tượng mà nó tạo ra

Phương tiện quảng cáo: Quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, tạp chí sẽ tạo ra những hiệu ứng khác nhau với người nhận thông tin

- Khuyến mãi: Mặc dù các công cụ khuyến mãi như phiếu thưởng, cuộc thi, phần thưởng rất đa dạng, nhưng chúng đều có ba điểm chủ yếu là: Truyền thông nhằm thu hút sự chú ý và cung cấp thông tin để đưa người học đến với sản phẩm; khuyến khích hay khích lệ có giá trị đối với người học và mời chào Các công cụ khuyến mãi có thể tạo ra phản ứng đáp lại mạnh mẽ hơn và nhanh hơn, nhưng hiệu quả của nó thường mang tính chất ngắn hạn và không có tác dụng tạo dựng sự ưa chuộng lâu dài đối với sản phẩm

- Marketing trực tiếp: Marketing trực tiếp bao gồm một số hình thức như thư gửi trực tiếp, marketing qua điện thoại, marketing qua website… với một số đặc điểm khác biệt như:

Không công khai: thông điệp thường được chuyển đến một người cụ thể

và không đến với những người khác

Theo ý đối tượng người học: Thông điệp có thể soạn thảo theo ý đối tượng người học để hấp dẫn cá nhân người nhận

Cập nhật: Có thể soạn thảo và gửi thông điệp rất nhanh cho người nhận

Trang 38

- Quan hệ công chúng: Nhà trường không những phải có quan hệ tốt với người học, người cung ứng và người phân phối của mình mà còn phải có quan

hệ với đông đảo công chúng có quan tâm Công chúng là mọi nhóm người có quan tâm hoặc ảnh hưởng thực tế hay tiềm tàng đến khả năng của nhà trường trong việc đạt được những mục tiêu của mình Công chúng có thể tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho hoạt động giáo dục đào tạo của nhà trường Vì thế các trường cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết các quan hệ với công chúng mục tiêu Bộ phận quan hệ công chúng của nhà trường có trách nhiệm lập kế hoạch, theo dõi thái độ của công chúng thuộc các tổ chức, dàn xếp và xử lý dư luận, phân phối thông tin và giao tiếp để tạo dựng uy tín cho nhà trường Có năm hoạt động cơ bản mà bộ phận quan hệ với công chúng phải thực hiện là quan hệ với báo chí, tuyên truyền sản phẩm, truyền thông của nhà trường, vận động hành lang và tham mưu

1.2.2.5 Chính sách nhân lực và quản lý đào tạo

Giảng viên: Là tài sản trí tuệ lớn nhất, là nhân tố chi phối, quyết định đến chất lượng đào tạo Người giảng viên có chuyên môn giỏi, có tâm huyết với nghề, có phương pháp giảng dạy tốt, tất nhiên chất lượng dịch vụ cung cấp cho người học sẽ tốt Đó cũng là lý do để người học chọn thầy dạy Vì vậy, đòi hỏi

cơ sở đào tạo phải xây dựng được đội ngũ thầy, cô giáo có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có tâm huyết với nghề Có thể nói, để tạo được hình ảnh của một cơ sở đào tạo, trước hết phải chú trọng đến yếu tố con người, trong đó đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định nhất Do đó, khi thi tuyển, cơ sở đào tạo nên tuyển chọn người có đủ tiêu chuẩn, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi Để thực hiện được điều này, cơ sở đào tạo phải có chính sách thu hút nhân tài trong điều kiện thực tế của mình Trong quá trình sử dụng, một mặt cơ sở đào tạo phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, cập nhập kiến thức mới cho đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi nền kinh tế nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào thị trường và nền kinh tế thế giới Mặt khác, phải chú ý đến tính chất đặc thù lao động của người thầy để có phương pháp quản lý thích hợp, phải đề cao sự tôn kính người giáo viên, không làm điều gì xúc phạm nhân cách, danh dự nhà giáo Phải xây dựng đội ngũ giáo viên yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu chăm sóc người học, không ngừng học tập rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ

Trang 39

chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ thật sự là tấm gương sáng cho người học, thuyết phục người học bằng cả tri thức lẫn tâm hồn, tình cảm của mình

Cán bộ quản lý đào tạo: Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo là công việc hết sức phức tạp Để tổ chức và quản lý tốt phải tiếp cận trên quan điểm hệ thống về mối quan hệ của các yếu tố mục tiêu, nội dung đào tạo, giáo viên, cán

bộ quản lý phục vụ, cơ sở vật chất, tài chính, quan hệ giữa cơ sở đào tạo với các tổ chức và cộng đồng xã hội Nếu một trong các yếu tố này không được giải quyết tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đào tạo Vì vậy, khi tuyển dụng cán bộ quản lý, cơ sở đào tạo nhất thiết phải tuyển người có đủ tiêu chuẩn theo qui định, đồng thời phải căn cứ vào sở trường và khả năng của cán bộ mà

bố trí cho phù hợp với công việc Thực tế có những người là giáo viên giỏi, nhưng khi được bổ nhiệm làm cán bộ quản lý lại không có năng lực Cho nên trong bố trí công việc, cơ sở đào tạo phải hiểu rõ cán bộ của mình, nghĩa là người cán bộ quản lý phải có tố chất quản lý Quản lý ở đây không chỉ đơn thuần là dựa vào qui chế, điều lệ, để “cầm cân nảy mực” mà cần sử dụng tinh lọc, linh hoạt, thích hợp Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhà trường phải đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên người cán bộ quản lý để họ nắm vững phương pháp hành chính tổ chức, phương pháp sư phạm, phương pháp kinh tế giáo dục Khi lựa chọn, đề bạt cán bộ quản lý phải dựa vào thành tích công tác, không dựa vào yêu thích cá nhân Đề bạt đúng người sẽ có tác dụng tích cực, bồi dưỡng tinh thần phấn đấu vươn lên, không chỉ tốt với người được đề bạt mà còn khuyến khích tinh thần phấn đấu vươn lên của cả tập thể

1.2.2.6 Quy trình dịch vụ (quy trình công nghệ đào tạo)

Quy trình dịch vụ bao gồm tập hợp các hệ thống hoạt động với những tác động tương hỗ giữa các yếu tố, tác động tuyến tính giữa các khâu các bước của

hệ thống trong mối quan hệ mật thiết với những quy chế quy tắc, lịch trình thời gian và cơ chế hoạt động Ở đó một sản phẩm dịch vụ cụ thể hoặc tổng thể được tạo ra và chuyển tới khách hàng

Thiết kế quy trình dịch vụ bao gồm việc thiết kế môi trường vật chất, thiết

kế tập hợp quá trình tương hỗ

Thiết kế môi trường vật chất thì phải thỏa mãn yêu cầu của hoạt động điều hành và hoạt động marketing

Trang 40

Thiết kế tập hợp quá trình tương hỗ là thiết lập, hoàn thiện và triển khai một tập hợp hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ, hệ thống cấu trúc của quá trình dịch vụ Có hai phương pháp thiết kế quá trình tác động tương hỗ là: Phương pháp mô hình hóa và phương pháp mô tả nhận dạng tuần tự dịch vụ

1.2.5.7 Chính sách cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ đào tạo

Để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, yếu tố cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ đào tạo đóng vai trò rất quan trọng, vì vậy các cơ sở đào tạo phải có chính sách tăng cường cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ đào tạo đảm bảo điều kiện tốt nhất phục vụ cho dạy và học

Tập trung đầu tư xây dựng trường lớp, nghĩa là lớp học phải có đủ diện tích theo qui định, hệ thống âm thanh, ánh sáng đảm bảo, bố trí nơi thông thoáng không ồn ào gây ảnh hưởng đến quá trình dạy và học Phải có phòng đọc, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, thư viện, đảm bảo diện tích chỗ ở và sinh hoạt tối thiểu cho người học Đầu tư mua sắm, trang bị máy vi tính và các thiết bị ngoại

vi kèm theo, triển khai ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào hoạt động dạy

và học vì công nghệ thông tin giúp tăng cường hứng thú người học, tăng cường tính độc lập tự chủ, đồng thời phát huy triệt để năng lực học tập của người học, mang lại cho người học môi trường học tập sáng tạo hơn, tăng cường cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân Máy vi tính sẽ giúp người học trở thành những người sáng tạo, thích khám phá tạo cơ hội cho người học truy cập dễ dàng tới các nguồn thông tin trực tuyến Đối với giáo viên và cán bộ quản lý, máy vi tính được coi là phương tiện dạy học và quản lý Tuy nhiên, hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo không chỉ phụ thuộc vào việc trang bị máy tính, phần mềm và các thiết bị ngoại vi mà còn dựa vào kỹ năng cần thiết của người sử dụng

Ngoài việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang bị phương tiện phục vụ đào tạo, cơ sở đào tạo phải hết sức quan tâm đến môi trường học tập cho người học Môi trường học tập đủ tiện ích và thân thiện để người học họ được thoải mái, vui vẻ, hạnh phúc, tận hưởng được nhiều dịch vụ đem lại sự thỏa mãn cao khi được học tập tại cơ sở đào tạo họ đã chọn Đây là điều rất cần thiết đối với một cơ sở đào tạo nhằm nâng cao sự cạnh tranh trong qúa trình thu hút sinh viên vào nhập học

Ngày đăng: 04/06/2021, 19:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w