Phân tích thị trường gạo Chính sách can thiệp giá của Chính Phủ nhằm bình ổn giá gạo tại Việt NamNăm 2008, thế giới có 115 nước trồng lúa và sản xuất khoảng gần 700 triệu tấn thóc mỗi năm. Lúa gạo là thức ăn căn bản của 36 quốc gia và cung cấp từ 20 đến 70% nguồn năng lượng quan trọng mỗi ngày chon hơn phân nửa dân thế giới. Đặc biệt tại nhiều nước châu Á, cây lá là một loại cây lương thực đa năng, có thể sinh sống và chịu đựng nhiều điều kiện môi trường khắc nghiệt như nước ngập nhiều tháng, nước mặn, đất phèn và các loại đất có vấn đề nên; nên thường được dùng làm màu “tiền phong” trong các công trình khai khẩn đất mới và trở thành lương thực truyền thống của nhiều dân tộc.Nước ta vốn là một xứ nông nghiệp lấy lúa gạo làm căn bản của nền kinh tế. Hiện nay, nước ta có gần 33 triệu ha đất đai, trong đó có 9,6 triệu đất nông nghiệp mà cây lúa chiếm đến 4 triệu ha (FAO,2007 và Tổng Cục Thống Kê,2008). Trong 2008, nền nông nghiệp đã đóng góp vào GDP cả nước với 22,2% (Tổng Cục Thống Kê, 2008). Trong đó, ngành lúa gạo gần đây đã mang ngoại tệ cho đất nước hàng năm với hàng tỉ đô la Mỹ. Trong khoảng thời gian từ 1989 đến 2009, ngành xuất khẩu lúa gạo Việt Nam luôn chiếm vị thế thứ hai hoặc thứ ba trên thị trường thế giới, đã đem về đất nước tổng số ngoại tệ gần 20 tỉ đô la Mỹ.Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp có trữ lượng xuất khẩu gạo lớn trê thế giới. Thế nhưng “được mùa rớt giá mất mùa được giá” là một vấn đè kinh tế xã hội thường xuyên xảy ra, gây nhiều khó khăn cho những những người nông dân khắp cả nước. Trong tình hình thị trường lúa, gạo luôn có những biến động bất ổn về giá cả và đầu ra chính vì vậy chính phủ đã ra chính sách can thiệp giá nhằm bình ổn giá đối với lúa gạo.
Trang 1CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Năm 2008, thế giới có 115 nước trồng lúa và sản xuất khoảng gần 700 triệu tấn thóc mỗi năm Lúa gạo là thức ăn căn bản của 36 quốc gia và cung cấp từ
20 đến 70% nguồn năng lượng quan trọng mỗi ngày chon hơn phân nửa dân thếgiới Đặc biệt tại nhiều nước châu Á, cây lá là một loại cây lương thực đa năng,
có thể sinh sống và chịu đựng nhiều điều kiện môi trường khắc nghiệt như nước ngập nhiều tháng, nước mặn, đất phèn và các loại đất có vấn đề nên; nên thường được dùng làm màu “tiền phong” trong các công trình khai khẩn đất mới và trở thành lương thực truyền thống của nhiều dân tộc
Nước ta vốn là một xứ nông nghiệp lấy lúa gạo làm căn bản của nền kinh tế Hiện nay, nước ta có gần 33 triệu ha đất đai, trong đó có 9,6 triệu đất nông nghiệp mà cây lúa chiếm đến 4 triệu ha (FAO,2007 và Tổng Cục Thống
Kê,2008) Trong 2008, nền nông nghiệp đã đóng góp vào GDP cả nước với 22,2% (Tổng Cục Thống Kê, 2008) Trong đó, ngành lúa gạo gần đây đã mang ngoại tệ cho đất nước hàng năm với hàng tỉ đô la Mỹ Trong khoảng thời gian
từ 1989 đến 2009, ngành xuất khẩu lúa gạo Việt Nam luôn chiếm vị thế thứ haihoặc thứ ba trên thị trường thế giới, đã đem về đất nước tổng số ngoại tệ gần 20
Trang 21.1 TỔNG QUAN VỀ LÚA GẠO VÀ SỰ BÌNH ỔN GIÁ
1.1.1 Lúa gạo và vai trò của lúa gạo trong nền kinh tế
*Lúa gạo:
Lúa gạo là nguồn thức ăn căn bản của dân tộc Việt nam.Cây lúa có thể sinhsống và thích nghi trong nhiều điều kiện khác nhau: lúa rẩy,lúc nước trời,lúanước sâu,với nhiều điều kiện khác nhau như phèn,mặn,phù sa,thành phần cơgiới từ sét nặng đến cát pha,chịu được nóng,lạnh,khô,hạn ở các vĩ độ,cao độ vôcùng thay đổi mà không phải loài cây lương thực nào cũng có thể có nhữngtính trạng vô cùng đa dạng như vậy.Lúa gạo cung cấp dinh dưỡng chính: tinhbột,vi lượng trong gạo lứt có nhiều dạng protein cần thiết,chất béo,thiamin,cácloại hoạt chất dành cho bệnh nhân cao huyết áp,chống oxi hóa tế bào ung thư…
*Vai trò:
Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng lúa nước cổ xưanhất thế giới Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia,vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước Dân số nước ta đến nay hơn 96triệu người (2019) trong đó dân số ở nông thôn chiếm gần 65,6% và lực lượnglao động trong nghề trồng lúa chiếm 57% lực lượng lao động cả nước ( Tổngđiều tra dân số, 2019) Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa thu hútđại bộ phận lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tếquốc dân Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diệntích canh tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồngcây lương thực Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác trong khi đólúa giữ vị trí độc tôn, gần 85% diện tích lương thực (Tổng cục thốngkê,2018).Như vậy bên cạnh sự thu hút về nguồn lực con người thì sự thu hútnguồn lực đất đai cũng lại khẳng định rõ vị trí của lúa gạo trong nền kinh tếquốc dân.Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh vị trícủa lúa gạo Việt Nam: lúa gạo đóng vai trò quyết định vấn đề cung cấp lươngthực cho cả nước và chi phối sâu sắc sự phát triển kinh tế quốc dân Từ đó,Chính phủ đã đề ra các chính sách phát triển nông nghiệp nói chung và lúa gạonói riêng, như: chính sách đầu tư vật chất kỹ thuật thích đáng về thuỷ lợi, giống
Trang 3lúa, thâm canh, quảng canh lúa qua từng thời kỳ Lúa gạo đã được đưa vào 2trong 3 chương trình kinh tế lớn của quốc gia (như văn kiện Đại hội Đảng toànquốc tháng 12/1986 đã nêu) Nhờ đó, từ năm 1989 đến nay kim ngạch xuấtkhẩu gạo đã không ngừng tăng, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn góp phầnkhông nhỏ cho công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Cũng do thực hiệnthực hiện chương trình lương thực, Việt Nam đã biến từ nước nhập lương thựchàng năm khoảng 1 triệu tấn thành nước xuất khẩu 5-6 triệu tấn gạo hàng năm(Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản,2018)
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá gạo trong nước
-Nguyên nhân khiến giá gạo xuất khẩu sụt giảm là do bị tác động bởi yếu tố
sau: Đồng nội tệ của các nước xuất khẩu lớn giảm giá tạo cơ hội cho khách
hàng có lý do ép giá Riêng đối với Việt Nam, việc tiền đồng giảm giá ít hơn sovới tiền baht Thái và tiền rupee Ấn Độ là một trong những nguyên nhân khiếncho giá gạo Việt trở nên đắt hơn so với hai đối thủ cạnh tranh này
-Nguyên nhân chính khiến giá gạo giảm liên tiếp là do nguồn cung dồi dào,nhất là ở những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, trong khi đó nhu cầunhập khẩu lại thấp, hợp đồng thì nhỏ; khách hàng truyền thống lại nỗ lực theođuổi chính sách tự cung tự cấp, hạn chế nhập khẩu gạo.-Bên cạnh đó, do thờitiết diễn biến thất thường, tình trạng “được mùa mất giá, mất mùa được giá”;đồng thời, thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, chuyển sang thích tiêu thụ loạigạo dẻo thơm, gạo hạt dài… nhu cầu tiêu dùng gạo cao cấp có xu hướng tăng,trong khi nguồn cung chỉ tập trung vào loại gạo cấp thấp
-Bên cạnh đó, do thời tiết diễn biến thất thường, tình trạng “được mùa mất giá,mất mùa được giá”; đồng thời, thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, chuyểnsang thích tiêu thụ loại gạo dẻo thơm, gạo hạt dài… nhu cầu tiêu dùng gạo caocấp có xu hướng tăng, trong khi nguồn cung chỉ tập trung vào loại gạo cấpthấp
Trang 4-Việc quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu củaViệt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạn thấp, kém đadạng và đặc biệt đang tập trung rất nhanh vào thị trường Trung Quốc Khinhững thị trường xuất khẩu này gặp khó khăn, lập tức tạo sức ép giảm giá lêntoàn bộ thị trường nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sảnxuất lúa gạo trong nước, đặc biệt là người nông dân.
-Thương hiệu tạo nên giá trị, gạo Việt Nam chưa có thương hiệu thì khó cạnhtranh trên thế giới và không bán được giá cao Điều này đã được cảnh báo từnhiều năm trước đây Nhà nước đã khuyến khích xây dựng thương hiệu nhưngcác doanh nghiệp làm ăn ở thị trường chất lượng thấp, nên không chịu đầu tư
1.1.3 Bình ổn giá
1.1.3.1 Khái niệm về bình ổn giá
Căn cứ Điều 4 Luật Giá 2012 : Bình ổn giá là việc Nhà nước áp dụng biện phápthích hợp về điều hòa cung cầu, tài chính, tiền tệ và biện pháp kinh tế, hànhchính cần thiết khác để tác động vào sự hình thành và vận động của giá, không
để giá hàng hóa, dịch vụ tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý
1.1.3.2 Sự cần thiết về bình ổn giá
Giá cả không ổn định hiện vẫn là mối lo ngại lớn nhất đối với các tác nhântham gia kênh thị trường lúa gạo.Trong điều kiện thị trường lúa, gạo luôn cónhững biến động thì chính sách bình ổn giá lúa, gạo là cần thiết nhằm giúpngười nông dân yên tâm sản xuất, doanh nghiệp yên tâm thu mua Từ đó, nângcao giá trị hạt gạo Việt Nam và tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chủ lựcnày, bảo đảm nhiều mục tiêu, cả ngắn hạn và dài hạn.Đồng thời,không để xảy
ra tình trạng vượt cung, vượt cầu quá mức,đảm bảo nền kinh tế thị trường ởmức cân bằng “thuận tình kẻ mua người bán”
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẦM BÌNH ỔN GIÁ 2.1 QUAN NIỆM MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
Trang 52.1.1 Khái niệm chính sách tài chính.
Hoạt động tài chính diễn ra rất đa dạng và phức tạp Ảnh hưởng của tài chínhsâu rộng tới mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội cả ở tầm vi mô lẫn vĩ mô Chính vìvậy, tài chính được xem là nhân tố có tác động trực tiếp và ảnh hưởng mạnh mẽđối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia Vì lẽ đó, để đảm bảo cho hệthống tài chính của đất nước hoạt động hiệu quả, giảm thiểu những tác độngxấu tới sự phát triển của nền kinh tế, Chính phủ các nước phải có những chủtrương, chính sách, đường lối và biện pháp về tài chính trong từng thời kỳ nhất
định Tập hợp các mục tiêu, biện pháp được chính phủ mỗi quốc gia đề ra để tác động tới hệ thống tài chính của quốc gia, khiến cho hệ thống đó phục vụ hữu hiệu việc thực hiện các mục tiêu phát triển đã được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước được gọi là Chính sách tài chính quốc gia.
2.2 Mục tiêu của chính sách tài chính.
Với những nền kinh tế mà hệ thống tài chính đang trong giai đoạn phát triểnban đầu như nước ta, khi mà mọi khâu của tài chính còn đang ở giai đoạn pháttriển sơ khai, trình độ phát triển của thị trường tài chính và trung gian tài chínhcòn thấp, chính sách tài chính quốc gia không thể chỉ dừng ở các chính sách vĩ
mô như thuế và chi tiêu ngân sách mà còn phải bao gồm cả các lĩnh vực vi mô.Phạm vi chính sách tài chính quốc gia của Việt Nam vì vậy bao trùm cả lĩnhvực tài chính công, tài chính doanh nghiệp và tài chính hộ gia đình hay dân cư.Chính sách tài chính quốc gia phải đóng vai trò quyết định đến qui mô và tốc
độ phát triển kinh tế, đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư thông qua việc tác độngtới hoạt động phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính trong nước, baogồm cả những nguồn tài nguyên thiên nhiên và các tài sản xã hội khác
Chính sách tài chính quốc gia của Việt Nam theo đuổi những mục tiêu cơ bảnsau:
- Xây dựng chính sách tài chính quốc gia nhằm tăng cường tiềm lực tài chính đất nước
Trang 6Nội dung của mục tiêu bao gồm việc nâng cao tiềm lực tài chính cho nhà nước,doanh nghiệp, tối ưu hóa việc phân bổ các nguồn lực và nâng cao hiệu quả sửdụng chúng.
Để đạt được mục tiêu này, chính sách tài chính quốc gia phải đưa ra được cácchính sách nhằm khơi thông các nguồn vốn trong nền kinh tế, tạo điều kiện chonhà nước và doanh nghiệp có thể huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoàinước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế để tạo tích lũy cho nền kinh tế, ban hành cácvăn bản pháp luật, khuyến khích thành lập các tổ chức như các công ty cungcấp thông tin tài chính, định mức tín nhiệm nhằm làm minh bạch các thông tin
về tài chính để nâng cao khả năng giám sát hiệu quả sử dụng các nguồn tàichính
- Kiểm soát lạm phát
Lạm phát không chỉ là tác nhân làm xói mòn hiệu quả của tăng trưởng kinh tế
mà còn bóp méo các kết quả hoạt động tài chính, làm cho việc đánh giá và racác quyết định tài chính bị sai lệch Chính vì vậy, việc kiểm soát được lạmphát, ổn định được sức mua của đồng tiền sẽ tạo điều kiện cho kinh tế tăngtrưởng bền vững và môi trường tài chính lành mạnh
- Tạo công ăn việc làm
Cũng như mọi chính sách kinh tế vĩ mô khác, chính sách tài chính quốc giaphải hướng tới việc tạo công ăn việc làm cho người dân, giảm thất nghiệp, qua
đó nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân
Trang 7vốn, giải quyết nhu cầu về vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tếquốc dân
* Mục tiêu cụ thể: Hình thành một cơ chế, hệ thống tài chính; Hình thành và đảm bảo
các cân đối chủ yếu; Thúc đẩy sự phát triển của quan hệ sản xuất; Khai thác triệt đểmọi nguồn vốn, kỹ thuật, lao động, thị trường cho sự phát triển kinh tế – xã hội; Mởrộng quan hệ giao lưu kinh tế với nước ngoài, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế; Khaithác, nuôi dưỡng, tạo lập và phát triển các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước; Ổnđịnh thị trường, giá cả, ổn định giá trị đồng tiền làm cơ sở cho ổn định và phát triểnkinh tế; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng các quỹ tiền tệ và các hoạt độngsản xuất – kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, giữ vững trật tự, kỷ cương về kinh
tế, tài chính, xã hội; Thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước
2.3 Nội dung chính sách tài chính
2.3.1 Chính sách của chính phủ đối với ngành nông nghiệp
Một số định hướng chính sách chung đối với nông nghiệp
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện các các cam kết về cắt giảm thuế nhập khẩu đúng licghj trình đi đôi với triển khai các biện pháp giúp người SXNN phòng ngừa rủi ro Theo
đó, cần đưa ra các biện pháp phòng ngừa tác động xấu khi các mức thuế nhập khẩu mới được áp dụng theo cam kết
Thứ hai, chú trọng các biện pháp, chính sách mang mục tiêu dài hạn có tác động nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa, hình thành các chuỗi giá trị nông sản mạnh tại các vùng SXNN tập trung
Thứ ba, triển khai biện pháp thích hợp với điều kiện chủ quan của nông dân Việt Nam
để phats triển nguồn nhân lực nông nghiệp vừa có tri thức tốt về kiến thức nông học, vừa có năng lực tốt về hợp tác, liên kết cùng nhau trong sản xuất và trong phối hợp với doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trong chuỗi giá trị nông sản, khép kín quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản
Trang 8Thứ tư, thực hiện chiến lược nâng cao hiểu biết, năng lực và trách nhiệm của cán bộ quản lý nhà nước về nông nghiệp ở các cấp, nhất là ở cấp huyện và cấp xã để bảo đảmđúng chức năng cung cấp dịch vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hộ nôngdân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác trên địa bàn, bảo đảm cho việc thực hiện các cam kết WTO của Việt Nam và các chính sách của nhà nước đối với nông nghiệp được triển khai đầy đủ và đúng tới các đối tượng thuộc diện điều chỉnh và hướng lợi.
Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng các địa phương tập trung triển khai thực hiện một
số biện pháp sau:
+ Đề nghị các địa phương hạn chế và tiến tới chấm dứt không sử dụng đất lúa, nhất là đất lúa thuộc diện”bờ xôi, ruộng mật” để làm công nghiệp Theo tính toán các nhà quyhoạch, để giải quyết vấn đề lương thực cho đất nước trăm triệu dân thì phải giữ ổn định 4 triệu ha sản xuất lúa
+Thực hiện các biện pháp phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá trên lúa.+Đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ lai tạo giống sinh học, đảm bảo đủ giống lúa chất lượng, giống xác nhận phù hợp với điều kiện từng vùng
+ Tăng cường đầu tư hạ tầng như thủy lợi, kênh mương nội đồng, cho sản xuất lúa.+ Thường xuyên nắm sát diễn biến thị trường vật tư nông nghiệp trong và ngoài nước
để chủ đọng việc nhập khẩu đảm bảo nguồn cung vật tư cho sản xuất nông nghiệp.+ Tăng cường công tác dự báo thông tin, giá cả thị trường, khuyến nông đẻ hướng dẫn nông dân áp dụng các quy trình kĩ thuật, sử dụng tiết kiệm giống, phân bón, nước,thuốc trừ sâu, an toàn dịch bệnh giảm phí đầu vào;chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả
Chính phủ cũng đưa ra nhiều biện pháp bình ổn giá trong đó có biện pháp : Định giátrực tiếp khi giá thị trường có những biến động thất thường đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bình ổn giá Cụ thể , dự thảo đưa ra các hình thức định giá là: Quy định giá tối đa, giá tối thiểu, khung giá Bộ Tài chính phân tích, những cách thức quy định giá nêu trên là những biện pháp hành chính sẽ giúp giá cả nhanh chống ổn định; tuy nhiên, chỉ áp dụng khi cần thiết đối với hành hóa, dịch vụ cần thiết và trong điều kiện thực sự cần thiết; khi tình hình thị trường đã bình thường; phải dỡ bỏ ngay biện pháp này
Trang 92.3.2 Tác động các trực tiếp biện pháp trực tiếp của chính phủ đối với sản phẩm lúa gạo
* Chính sách giá trần
~ Khi nhận thấy rằng giá của sản phẩm lúa gạo cao hơn mức bình thường(tức giá cân bằng của lúa gạo rất cao) chính phủ ấn định giá trần(mức tối đa) thấp hơn giá cân bằng nhằm bình ổn lại giá cả, bảo vệ người tiêu dùng
Khi giá trần được áp đặt bởi chính phủ cao hơn mức giá cân bằng thị trường, giá trần không có tác động đến kinh tế Nó không hạn chế nguồn cung cấp cũng không khuyếnkhích nhu cầu Nó noisb rằng bạn không thể thanh toán(hoặc phải btrar) nhiều hơn so với một số tiền đã trả
Hình A cho thấy mức giá cân bằng 20.000đ cho một sản phẩm được xác định bởi giao điểm của việc cung cấp và đường cầu
Giá cân bằng là giá mà tại đó lượng cầu bằng lượng cung Thông thường, các lực lượng thị trường không di chuyển để thay đổi mức giá cân bằng
Nếu Chính phủ bắt buộc giá trần 22.000đ đã được áp đặt, không ai có thể nhận thấy kể từ khi giá trần áp đặt cao hơn mức giá thị trường Nếu giá trần là 20.000đ nó
sẽ không có hiệu lực ngay lập tức, nhưng các lực lượng thị trường lần đầu tiên thay đổi để tăng giá cân bằng, giá trần sẽ không còn được thấp hơn giá thi trường, và tác động sẽ bắt đầu được cảm nhận
Tác động của chính phủ áp đặt giá trần dưới mức giá cân bằng
Một mức giá trần có thể là trên hoặc dưới mức giá cân bằng, như thể hiện bởi các đường đứt nét và liền trong Hình B
Trang 10Một ảnh hưởng khác xảy ra khi Chính phủ áp đặt giá trần thấp hơn so với giá cả cân bằng thị trường, như hình B Những nhà cung cấp không thể tăng giá để đáp ứng nhu
cầu thị trường vì phải đáp ứng mức giá tối đa được quy định bởi giá trần của chính phủ
Một mức giá trần thấp có thể làm cho các nhà cung cấp rời bỏ thị trường(giảm nguồn cung), trong khi giá trần thấp làm tăng cầu tiêu dùng Khi cầu tăng vượt qua khả năng cung cấp, tình trạng thiếu hụt diễn ra
Tích cực:
Người dân mua lúa gạo với giá rẻ, làm tăng sức mua của người tiêu dùng đảm bảo được tính ổn định của giá lúa gao, tránh sự tăng cao quá mức của lúa gạo
Ngày 29/4/2009 tại TPHCM, giá gạo tiếp tục giảm thêm 2.000~3.000đ/kg so với ngày 28/4, nhưng so với những ngày trước khi xảy ra cơn sốt gạo, giá vẫn còn cao hơn 5.000-6000đ/kg
Tại chợ đầu mối Trần Chánh Chiếu quận 5, lượng gạo về chợ chỉ còn 150-160 tấn/ngày, giảm do ít người mua Tại các chợ nhỏ hoạt động mua bán gạo đã trở lại bình thường, có niêm yết Giá gạo thấp nhất 11.000thịđ/kg, gạo đặc sản 17.000đ/kg
Trang 11Trong ngày 29/4, nhười dân vẫn xếp hàng mua gạo ở siêu thị vì giá bán nơi đây rẻ hơn nhiều so với các điểm bán ở chợ Hệ thống siêu thị Co.op Mart không còn hạn chế số lượng mua, giá gạo vẫn như cũ 10.780đ/kh gạo trắng hạt dài Do nhu cầu mua lớn nên nhân viên của siêu thị đống gói gạo và các bao xốp với trọng lượng kg/bịch
Theo báo cáo nhanh của ban quản lý thị trường các quận, huyện, đến chiều 29/4 thị trường gạo đã trở lại bình thường
Niềm vui mua được gạo đúng giá
Tiêu Cực:
Người bán bị thiệt hại nhiều do phải bán lúa gạo với mức giá thấp hơn giá cân bằng, người thiệt hại nhiều nhất đó là nông dân Tình trạng thiếu hụt lương thực xuất nhập khẩu xuất hiện thị trường lúa gạo chợ đen bán với giá đắt
Trang 12Tác động của chính phủ đối với giá sàn:
Trang 13Năm 2009, sản xuất lúa gạo ở bốn vùng trọng điểm của Việt Nam đã có thặng
dư lúa gạo trừ hai vùng còn thiếu hụt đó là vùng đông Nam Bộ và Tây Nguyên DBSCL là nơi có lượng lúa gạo hàng hóa lớn nhất nước(7,74 triệu tấn), vừa bảo đảm lương thực và bình ổn giá lương thực quốc gia,dự trữ và tham gia xuất khẩu trên 90 Rất cần thiết để chính phủ đặt ra và áp dụng thuế xuất khẩu gạo có điều kiện nhằm cân bằng các lợi ích quốc gia về khai thác lợi thế sản xuất và xuất khẩu gạo, tăng kim gạch xuất khẩu(thay vì chỉ tăng số lượng xuất khẩu), đảm bảo sinh kế cho nông dân trồng lúa Tách bạch dữ trữ quốc gia và
dự trữ thương mại ở các công ty xuất khẩu gạo hiện nay nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và bình ổn giá cũng như cung cấp gạo xuất khẩu có phẩm chất cao, trái vụ và giá cao Việc thành lập quỹ bình ổn giá lúa gạo dựa trên việc thu 1USD trên 1 tấn gạo xuất khẩu là rất cần thiết và thực hiện càng sớm càng tốt.
Đây là một hình thức đầu tư cho ngành hàng lúa gạo ở khâu sản xuất với các phương án được đề nghị ngắn hạn và dài hạn
2.3.2 Thực trạng tác động của các chính sách lúa gạo lên thị trường
Có thể thấy hiện nay các biện pháp kích cung ví dụ như quy định giá sàn, nhà nước kích thích sự gia tăng sản xuất của nông dân đã gây nên lượng cung lớn
về lúa gạo của Việt Nam trong những năm gần đây
Song song với đó có thể thấy được những nỗ lực của chính phủ để giải quyết lượng lúa gạo dư thừa bằng việc đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới và lập thêm các quỹ bình ổn giá phần nà giúp ổn định được thị trường Nhưng điều đó có phải đã là hoàn hảo không?
Việc điều hành xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay chủ yếu qua chính phủ Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 quy định điịnh hướng điều hành xuất khẩu gạo “ Bộ Thương mại phối hợp với Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thông, UBND các tỉnh có sản lượng lúa gạo hàng hóa lớn và Giệp hội lương thực Việt Nam(VFA)điều hành việc xuất khẩu gạo hàng năm theo
nguyên tắc đảm bảo về an ninh lương thực;tiêu thụ hết lúa hàng hóa và đảm bảo giá lúa có lợi cho nông dân, đồng thời phù hợp với mặt bằng giá cả hàng hóa trong nước; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các giải pháp xử lýkhi các
Trang 14nguyên tắc này không được đảm bảo hài hòa Bộ Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm về dự báo và tính toán khối lượng gạo hàng hóa có thể xuất khẩu Sau khi trừ đi các nhu cầu tiêu dungfcas nhân trong nước, làm giống, chăn nuôi, tiêu dùng công nghiệp và dự trữ Tỷ trọng xuất khẩu gạo qua những hợp đồng chính phủ(G2G) là khá cao Dặc biệt trong năm 2008, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định về điều tiết sự biến động giá trong nước vad xuất khẩu ngành hàng lúa gạo
2.4 Đánh giá hiệu quả của các chính sách can thiệp của Nhà nước vào thị trường
Không để tình trạng vượt cầu, vượt cung quá mức
Đưa nước ta từ nhập khẩu trở thành nước xuất khẩu gạo và nông sản lớn trên thế giới
Mặt hàng nông sản được nhiều quốc gia trên thế giới chấp nhận
Có những chính sách phù hợp để người nông dân Việt nam không bị thua lỗ trong các mùa vụ
Vấn đề tình trạng các doanh nghiệp ép giá người nông dân
Việc sản xuất nông nghiệp không chú trọng tới chất lượng mà chạy theo số lượng là chủ yếu nên chất lượng nông sản thấp
3.1 Thị trường gạo thế giới
Trang 153.1.1.Nhu cầu tiêu thụ gạo quốc tế
USDA dự báo tiêu thụ gạo toàn cầu 2018 tăng 6 triệu tấn lên 488,5 triệu tấn,chủ yếu
do nhu cầu nhập khẩu từ Ấn Độ, Nhật Bản và Myanmar tăng
Trong khi đó FAO giữ nguyên dự báo lượng tiêu thụ gạo năm 2018 ở mức 509,2triệu tấn, giảm 1,1% so với năm trước
Theo FAO, nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước Châu Phi, Châu Mỹ La tinh vàCaribe sẽ giảm xuống trong năm 2018
Tuy nhiên, nhu cầu nhập khẩu của một số nước Châu Á như Indonesia vàPhilippines sẽ ở mức tốt do các nước này cần bù đắp lượng gạo dự trữ trong nước vàkiếm chế đà tăng giá gọa trên thị trường nội địa
Hình 3.1.1: Bảng thống kê nhu cầu tiêu thụ gạo thế giới
Nguồn: USAD
3.1.2 Nguồn cung cấp gạo thế giới
Báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) nâng dự
báo sản lượng sản xuất gạo thế giới 2018 từ 511,8 triệu tấn lên 513 triệu tấn, tương ứng tăng 1,3% so với năm trước Nguyên nhân chủ yếu do sản lượng sản xuất ở Bangladesh và Việt Nam tăng bên cạnh diện tích trồng lúa ở Sri Lanka và Mỹ tiếp tục được mở rộng
Hội đồng ngũ cốc quốc tế (IGC) dự báo sản lượng sản xuất gạo năm 2018 khoảng 490,8 triệu tấn, tăng 1 tấn so với năm 2017
Thái Lan: Dự báo xuất khẩu gạo Thái Lan năm 2018 của USDA được điều chỉnh
tăng lên 11 triệu tấn nhờ nhu cầu cao hơn dự báo trước đây tại Indonesia, Trung Quốc
và Philippines Xuất khẩu gạo của Thái Lan năm 2018 sẽ chủ yếu phục vụ cho hoạt động mua bán chính phủ, bao gồm 120.000 tấn gạo trắng loại 5% tấm cho chính phủ
Trang 16Trung Quốc và 330.000 tấn gạo trắng 25% tấm cho chính phủ Philippines Tuy nhiên,
dự báo xuất khẩu gạo Thái Lan năm 2018 vẫn thấp hơn 9% so với năm 2017 do chính phủ không còn nhiều gạo đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm trong kho để bán như những năm gần đây
Ấn Độ: Xuất khẩu gạo Ấn Độ - nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới được FAO dự
báo giảm từ tháng 10 vì chính phủ nâng giá thu mua lúa gạo trong nước khiến gạo vụ mới có thể đắt đỏ hơn so với các đối thủ
Mặt khác, do sản xuất gạo basmati giảm và triển vọng nhu cầu gạo của thị trường Nam Á cũng yếu đi, FAO dự báo xuất khẩu gạo năm 2018 của Ấn Độ giảm 8% so vớinăm 2017 xuống còn 10,8 triệu tấn
Hình 3.1.2:Biểu đồ xuất khẩu gạo thế giới
Nguồn:USDA
3.1.3 Giá gạo thế giới
Giá gạo xuất khẩu ở Bán cầu tây những tuần gần đây duy trì ở mức cao, gạo Mỹgiảm nhẹ về 505 USD/tấn nhưng gạo Uruguay tăng lên 528 USD/tấn Gạo của cácnước ở Bán cầu Tây tiế tục cao hơn so với gạo Châu Á Gạo Thái Lan duy trì ở mức
404 USD/tấn và tiếp tục cao hơn so với các nước Châu Á khác do đồng baht mạnhlên Gạo Ấn Độ vẫn ở mức thấp 375 USD/tấn, trong khi gạo Pakistan tăng lên 372USD/tấn, và gạo Việt Nam giảm xuống 337 USD/tấn do gạo vụ mới có chất lượngkhông cao và nguồn cung dồi dào
Trang 17Về thị trường xuất khẩu gạo của nước ta : không những được mở rộng mà quan
hệ bạn hàng cũng từng bước được cải thiện Trong năm 2014, gạo Việt Nam đã đượcxuất khẩu sang 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm cả những thịtrường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Xin-ga-po Trong
đó, thị trường Châu Á chiếm gần 77%, tăng trưởng gần 24 %, thị trường Châu Mỹchiếm trên 7,6%, tăng trưởng trên 4,6%, thị trường Châu Úc chiếm 0,88%, tăngtrưởng trên 12%, thị trường Trung Đông chiếm trên 1,2 %, tăng trưởng gần 33% vềlượng so với cùng kỳ năm 2014 Các thị trường xuất khẩu trọng điểm truyền thốngcủa Việt Nam cơ bản được giữ vững và có tăng trưởng đáng kể Theo thống kê củaHiệp hội Lương thực Việt Nam, thị trường Phi-líp-pin tăng trưởng trên 285%, thịtrường In-đô-nê-xia tăng trưởng gần 128%, thị trường Trung Đông tăng trưởng gần33% về lượng so với cùng kỳ năm 2013 Sáu tháng đầu năm 2014, xuất khẩu gạo củaViệt Nam đạt 3,3 triệu tấn, giảm 6% so với 3,5 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái Tổng sản
Trang 18lượng lúa năm 2014 của Việt Nam đạt kỷ lục 44,5 triệu tấn, cao hơn so với 43,859triệu tấn năm 2013.
Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, thị trường lúa gạo Việt Nam đang bị biến động Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), khối lượng gạo xuất khẩu gạo 9 tháng năm 2019 ước đạt 586 nghìn tấn với giá trị đạt 251 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 9 tháng đầu năm 2019 ước đạt 5,2 triệu tấn và 2,24 tỉ USD, tăng 5,9% về khối lượng nhưng giảm 9,8% về giátrị so với cùng kì năm 2018
Tính trong 8 tháng đầu năm, Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 36,1% thị phần, đạt 1,76 triệu tấn và 720,4 triệu USD, gấp2,9 lần về khối lượng và gấp 2,6 lần về giá trị so với cùng kì năm 2018
Ngoài ra, các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng nhanh là: Úc (75,2%), Bờ Biển Ngà (+57,1%), Iraq (34,8%), Hồng Kông (+34,7%), Tanzania (+34,1%) và Arab Saudi (+27%) Tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu binh quân 8 tháng đầu năm 2019 đạt 435 USD/tấn, giảm 13,8 % so với cùng kì năm 2018
3.2.2 Những khó khăn, bất cập
Áp lực cạnh tranh gia tăng: sản lượng lúa tăng nhưng không kèm theo sự cải thiện thunhập của người nông dân Việc quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượnggạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạnthấp, kém đa dạng, và đặc biệt đang tập trung rất nhanh vào thị trường Trung Quốc.Khi những thị trường xuất khẩu này gặp khó khăn, lập tức tạo sức ép giảm giá lên toàn
bộ thị trường nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sản xuất lúa gạotrong nước, đặc biệt là người nông dân
Cấu trúc thị trường chưa bền vững: Trong những năm gần đây, tỉ trọng các hợp đồngchính phủ (G2G) có xu hướng giảm dần Năm 2007, tỷ trọng hợp đồng G2G chiếm70% trọng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam Tỷ lệ này giảm xuống còn 42,7% năm
2009 và đến năm 2012, 2013 chỉ còn chưa đến 20% Điểm đáng chú ý, trên thị trườngxuất khẩu gạo hiện nay vẫn còn thiếu vắng các liên kết ngang giữa các công ty (ví dụnhư trong việc đàm phán giá lúa gạo xuất khẩu) và liên kết dọc với các công ty cungứng đầu vào cho sản xuất Xu hướng xây dựng vùng nguyên liệu hiện được thực hiện
Trang 19rất “gượng ép” do các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn cung sẵn có trên thịtrường, sản phẩm xuất khẩu không có sự khác biệt lớn, rủi ro về lợi nhuận cao do thịtrường đầu ra không ổn định.
-Những chính sách của Chính phủ can thiệp vào thị trường lúa gạo nhằm giúp bình
ổn thị trường chưa được chặt chẽ Cụ thể trong việc thực hiện các chương trình thumua tạm trữ: Khi nông dân trồng lúa bị thiệt thòi vì giá lúa xuống quá thấp, Chính phủcan thiệp trực tiếp vào thị trường thông qua các chương trình thu mua tạm trữ để tránhtình trạng giảm giá lúa quá sâu, nhất là trong những thời điểm được mùa thu hoạch.Theo đó, Chính phủ sẽ hỗ trợ 100% lãi suất cho doanh nghiệp mua tạm trữ từ khi muavào đến khi bán ra (khoảng 3 - 4 tháng) Doanh nghiệp cũng được hỗ trợ vay vốn ưuđãi với lãi suất tối đa 7%/năm Khối lượng thu mua mỗi đợt là khoảng 2 triệu tấn lúa(tương đương với 1 triệu tấn gạo), được thực hiện trong khoảng 1 tháng, để phục vụ
dự trữ quốc gia, tạm trữ lưu thông (ngoài lượng dự trữ lưu thông của doanh nghiệp),phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Mức giá mà doanh nghiệp thực hiện thu mua khôngđược thấp hơn giá thu mua lúa gạo tối thiểu Tuy nhiên, sau nhiều năm tiến hành cácchương trình thu mua tạm trữ, hiệu quả thực sự của chính sách này chưa rõ ràng.Chính sách này cũng sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình thực hiện do phải kiểmsoát chặt chẽ lượng thu mua vào của doanh nghiệp, và đảm bảo rằng đây là lượng thumua mới thực sự chứ không phải là lượng lúa mà doanh nghiệp đã dự trữ từ trước.Việc phân bổ chỉ tiêu thu mua tạm trữ do VFA và UBND các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương ở ĐBSCL thực hiện Cơ chế phân bổ như thế này vừa khiến choviệc quản lý hành chính phức tạp, vừa tạo điều kiện cho những “méo mó” có thể xảy
ra Chính sách thu mua tạm trữ cũng bất cập ở chỗ, doanh nghiệp mặc dù thực hiệnchính sách của Chính phủ, nhưng phải tự chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh củamình, bất kể lỗ, lãi Cuối cùng, mặc dù chính sách hướng đến hỗ trợ những ngườitrồng lúa, nhưng đối tượng được hưởng lợi trực tiếp lại là doanh nghiệp, tác động đếnngười sản xuất là gián tiếp, khó định lượng và không phải ai cũng được hưởng lợi.Phỏng vấn các nông dân ở huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ cho thấy, họ có nghe nói đếnchương trình thu mua tạm trữ của Chính phủ, nhưng khi họ thu hoạch xong và bán lúarồi mới thấy triển khai và không thấy có ai đến thu mua theo chương trình này cả phảichăng sự can thiệp sâu của Chính phủ trong buôn bán gạo hoặc đấu thầu, đôi khi như
Trang 20con dao hai lưỡi, phần hạn chế làm tiêu tính năng động của giám đốc doanh nghiệptrong việc bán thị trường từng thời điểm, tính toán hiệu quả?
Và đặc biệt là chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chưa cao nên khó cạnhtranh ,không có khả năng xâm nhập vào các thì trường “khó tính” để mở rộng thìtrường
Để bù đắp khó khăn đã qua, tránh rủi ro kinh tế, các nhà quản lý, các doanh nghiệpxuất khẩu gạo từ nay đến cuối năm trước tình hình thị trường và giá cả trong nước vàthế giới còn diễn biến rất phức tạp, cần có những biện pháp hợp lý để đẩy mạnh hoạtđộng xuất khẩu gạo của Việt Nam
3.2.3 Những ưu điểm nổi bật của chất lượng gạo Việt Nam ở thị trường trong nước.+ Đa dạng các giống gạo: Là đất nước của lúa gạo nên Việt Nam chẳng thiếu các loạigạo ngon: gạo hương lài, lài Miên, Bắc Hương, nàng xuân, Điện Biên, tám thơm…Mỗi loại gạo lại có một đặc tính riêng Tựu chung, chúng đều dẻo thơm, dễ ăn và phùhợp với mọi lúa tuổi Đi dọc từ Bắc tới Nam, hình ảnh những cánh đồng lúa mênhmông, bấn tận, đổ vàng màu lúa mới đã trở thành hình ảnh kinh điển của nông thônViệt Nam Ngày nay, với sự phát triển của các phương tiện vận chuyển, bạn có thểthưởng thức dễ dàng bất kì loại gạo mình mong muốn
+ Chất lượng gạo ngon: Là một trong những nước có sản lượng gạo đứng đầu thế giớihiện nay, rõ ràng chất lượng gạo Việt Nam là điều không thể phủ nhận Tỷ lệ dinhdưỡng có trong gạo Việt cũng rất cao Điển hình như giống gạo hương lài nổi tiếnggần xa Hạt gạo thon dài, trắng, nhìn tựa như hạt ngọc trời Khi nấu thành cơm, bạn sẽcảm nhận được độ mềm mịn của từng hạt, khi đem để dưới ánh điện hay ánh mặt trời,hạt cơm sóng sánh, nhìn rất thích mắt Ngoài ra, bạn cũng có thể ngửi thấy mùi thơmđặc trưng của hoa lài trong gạo
+ Kinh nghiệm trồng lúa đã có từ ngàn đời: Trồng và cấy lúa là nghề nghiệp đã có từrất lâu đời tại Việt Nam Hầu hết, nghề làm nông được truyền từ đời này sang đờikhác Do đó, người nông dân đã coi đất đai là máu thịt của mình Họ hiểu đất, hiểulúa Nhờ đó, gạo Việt Nam không hề thua kém bất cứ quốc gia nào trên thế giới
Trang 213.2.4 Nhược điểm của gạo Việt Nam ảnh hưởng tới thị trường trong và ngoài nước.Bên cạnh những ưu điểm nổi trội, thì gạo Việt Nam vẫn còn tồn đọng một số hạn chếnhư:
+ Chưa biết cách áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất: Có một sự thật không thểphủ nhận là nền nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn lạc hậu Người nông dân chưabiết cách áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất Mặc dù mỗi năm Việt Nam xuấtkhẩu một lượng gạo lớn ra thị trường thế giới, nhưng bù lại, diện tích canh tác củachúng ta không hề nhỏ Chúng ta chưa biết cách tận thu hết điều kiện thuận lợi màthiên nhiên đã ban tặng Hiện nay, người nông dân vẫn sử dụng trâu để cày cấy Một
số loại máy mà chúng ta đang áp dụng gồm có: máy cày, xe thồ, máy xát, Trong khi
đó, khi so sánh với nước Nhật thôi, chúng ta sẽ phải ngưỡng mộ sự hiện đại trongnông nghiệp của họ Người nông dân Nhật khá nhàn vì họ có tất cả các máy móc phùtrợ: máy kéo, máy đánh tơi đất, máy bừa, máy làm phẳng đất, máy be bờ, máy gieohạt, máy bay cỡ nhỏ để phun thuốc trừ sâu, máy gặt đập liên hợp Chỉ khi nào áp dụngđược những kĩ thuật tiên tiến kể trên, ngành nông nghiệp Việt Nam mới đạt được khởisắc mới
+ Chưa áp dụng đúng kĩ thuật trong canh tác: Hầu hết, nông dân Việt canh tác lúa chỉdựa trên kinh nghiệm truyền đời, chứ không áp dụng kiến thức về nông nghiệp Vìvậy, các công tác gieo cấy, chăm bón, thu hoạch còn bộc lộ nhiều yếu kém Lúa bị sâubệnh nhiều, chất lượng gạo cùng phần nào bị ảnh hưởng
+ Công tác bảo quản còn nhiều yếu kém: Rõ ràng, sau thu hoạch, chất lượng gạo Việt
Nam rất tốt, hạt trắng và đều, không hề thua kém chất lượng gạo Nhật, gạo Thái Thế
nhưng sau khi đưa sang nước bạn chất lượng lại suy giảm đáng kể Đó là do khâu bảoquản, kiểm định còn nhiều yếu kém Trong khi Nhật trước khi xuất khẩu thì mới đemxay xát để tránh mối mọt, giữ nguyên hương vị của gạo thì chúng ta lại xát luôn, khiến
bề mặt gạo bị tác động nhiều bởi yếu tố tự nhiên, vừa giảm thẩm mỹ vừa thay đổi giátrị dinh dưỡng Hơn nữa các kho chứa của Việt Nam cũng không đáp ứng được cáctiêu chuẩn cần có