CHƯƠNG I: ẢNH HƯỞNG CỦA HÓA CHẤT I. Tác hại của hóa chất đối với sức khỏe con người Trong những năm gần đây, vấn đề được quan tâm ngày càng nhiều là ảnh hưởng của hóa chất đến sức khỏe con người, đặc biệt là người lao động. Nhiều hóa chất đã từng được coi là an toàn nhưng nay đã được xác định là có liên quan đến bệnh tật, từ mẩn ngứa nhẹ đến suy yếu sức khỏe lâu dài và ung thư. Do vậy cần thiết phải quan tâm tới tất cả các hóa chất. I.1. Sự độc hại của hóa chất Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của hóa chất, bao gồm độc tính, đặc tính vật lý của hóa chất, trạng thái tiếp xúc, đường xâm nhập vào cơ thể và tính mẫn cảm của cá nhân và tác hại tổng hợp của các yếu tố này. • Đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể con người Hóa chất có thể đi vào cơ thể con người theo 3 đường: Đường hô hấp: Khi hít thở các hóa chất dưới dạng khí, hơi hay bụi. Hấp thụ qua da: Khi hóa chất dây dính vào da. Đường tiêu hóa: Do ăn, uống, phơi thức ăn hoặc sử dụng những dụng cụ ăn đã bị nhiễm hóa chất. a. Qua đường hô hấp Hệ thống hô hấp bao gồm đường hô hấp trên (mũi, mồm, họng); đường thở (khí quản, phế quản, cuống phổi) và vùng trao đổi khí (phế nang), nơi ôxy từ không khí vào máu và đioxit cacbon từ máu khuyếch tán vào không khí (hình 1). Hình 1: Mô tả con đường hóa chất đi vào cơ thể qua đường hô hấp Đối với người lao động trong công nghiệp, hít thở là đường vào thông thường và nguy hiểm nhất. Với diện tích bề mặt phổi 90m2 ở một người lớn khỏe mạnh; trong đó có 70 m2 là diện tích tiếp xúc của phế nang; ngoài ra còn có một mạng lưới mao mạch với diện tích 140 m2, dòng máu qua phổi nhanh và nhiều tạo điều kiện dễ dàng cho sự hấp thu qua phế nang vào mao mạch của các chất có trong không khí; và bình thường một người lao động hít khoảng 8,5m3 không khí trong một ca làm việc 8 giờ. Vì vậy, hệ thống hô hấp thực sự là đường vào thuận tiện cho hóa chất. Trong khi thở, không khí có lẫn hóa chất vào mũi hoặc mồm, qua họng, khí quản và cuối cùng tới vùng trao đổi khí, tại đó hóa chất lắng đọng lại hoặc khuếch tán qua thành mạch vào máu. Một hóa chất khi lọt vào đường hô hấp sẽ kích thích màng nhầy của đường hô hấp trên và phế quản đây là dấu hiệu cho biết sự hiện diện của hóa chất. Sau đó, chúng sẽ xâm nhập sâu vào phổi gây tổn thương phổi hoặc lưu hành trong máu. Mức độ thâm nhập của các hạt bụi vào cơ thể phụ thuộc vào kích thước hạt và tính tan của chúng. Chỉ những hạt nhỏ (đường kính nhỏ hơn 17000 mm) mới tới được vùng trao đổi khí. Những hạt bụi này sẽ lắng đọng ở đó hoặc khuếch tán vào máu tùy theo độ tan của hóa chất. Những hạt bụi không hòa tan gần như được loại trừ bởi bộ phận làm sạch của phổi. Những hạt bụi lớn hơn sẽ được lông mũi giữ lại hoặc lắng đọng dọc theo khí, phế quản, cuối cùng chúng sẽ được chuyển tới họng và nuốt, ho, hay khạc ra ngoài. b) Hấp thụ hóa chất qua da Một trong những đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể là qua da. Độ dày của da cùng với sự đổ mồ hôi và tổ chức mỡ ở lớp dưới da có tác dụng như một hàng rào bảo vệ chống lại việc hóa chất xâm nhập vào cơ thể và gây các tổn thương cho da. Hóa chất dây dính trên da có thể có các phản ứng sau: Phản ứng với bề mặt của da gây viêm da. Xâm nhập qua da, kết hợp với tổ chức protein gây cảm ứng da. Xâm nhập qua da vào máu. Những hóa chất có dung môi thấm qua da hoặc chất dễ tan trong mỡ (1) (như các dung môi hữu cơ và phê nol) dễ dàng thâm nhập vào cơ thể qua da. Những hóa chất này có thể thấm vào quần áo làm việc mà người lao động không biết. Điều kiện làm việc nóng làm các lỗ chân lông ở da mở rộng hơn cũng tạo điều kiện cho các hóa chất thâm nhập qua da nhanh hơn. Khi da bị tổn thương do các vết xước hoặc các bệnh về da thì nguy cơ bị hóa chất thâm nhập vào cơ thể qua da sẽ tăng lên. c) Qua đường tiêu hóa Do bất cẩn để chất độc dính trên môi, miệng rồi vô tình nuốt phải; ăn, uống, hút thuốc trong khi bàn tay dính hóa chất hoặc dùng thức ăn và đồ uống bị nhiễm hóa chất là những nguyên nhân chủ yếu để hóa chất xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa. Ngoài ra, có một số hạt bụi từ đường thở lọt vào họng và sau đó theo nước bọt vào đường tiêu hóa. Hệ tiêu hóa bao gồm thực quản, dạ dày, ruột non và ruột già. Sự hấp thụ thức ăn và các chất khác (gồm cả hóa chất nguy hiểm) ban đầu xảy ra ở ruột non. Thông thường hóa chất hấp thụ qua đường tiêu hóa ít hơn so với 2 đường trên, hơn nữa tính độc sẽ giảm Khi qua đường tiêu hóa do tác động của dịch dạ dày và dịch tụy. I.2 Loại hóa chất tiếp xúc Đặc tính lý, hóa của hóa chất quyết định khả năng xâm nhập của nó vào cơ thểcon người, chẳng hạn: các hóa chất dễ bay hơi sẽ có khả năng tạo ra trong không khí tại nơi làm việc một nồng độ cao; các chất càng dễ hòa tan trong dịch thể, mỡ và nước thì càng độc... Do các phản ứng lý hóa của chất độc với các hệ thống cơ quan tưng ứng mà có sự phân bố đặc biệt cho từng chất: • Hóa chất có tính điện ly như chì, bary, tập trung trong xương; bạc, vàng tập trung ở da hoặc lắng đọng trong gan, thận dưới dạng phức chất. • Các chất không điện ly loại dung môi hữu cơ tan trong mỡ tập trung trong các tổ chức giầu mỡ như hệ thần kinh. • Các chất không điện ly và không hòa tan trong các chất béo khả năng thấm vào các tổ chức của cơ thể kém hơn và phụ thuộc vào kích thước phân tử và nồng độ chất độc. Thông thường khi hóa chất vào cơ thể tham gia các phản ứng sinh hóa hay là quá trình biến đổi sinh học: ôxy hóa, khử ôxy, thủy phân, liên hợp. Quá trình này có thể xảy ra ở nhiều bộ phận và mô, trong đó gan có vai trò đặc biệt quan trọng. Quá trình này thường được hiểu là quá trình phá vỡ cấu trúc hóa học và giải độc, song có thể sẽ tạo ra sản phẩm phụ hay các chất mới có hại hơn các chất ban đầu. Tùy thuộc vào tính chất lý, hóa, sinh mà một số hóa chất nguy hiểm sẽ được đào thải ra ngoài: • Qua ruột: chủ yếu là các kim loại nặng. • Qua mật: Một số chất độc được chuyển hóa rồi liên hợp sunfo hoặc glucuronic rồi đào thải qua mật. • Qua hơi thở có thể đào thải một số lớn chất độc dưới dạng khí hơi. • Chất độc có thể còn được đào thải qua da, sữa mẹ. Đường đào thải chất độc rất quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị nhiễm độc nghề nghiệp. Một số hơi, khí độc có mùi làm cho ta phát hiện thấy có chúng ngay cả khi nồng độ nằm dưới mức cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh. Nhưng sau một thời gian ngắn, một số sẽ mất mùi khiến ta không cảm nhận được nữa và dễ dàng bị nhiễm độc (ví dụ H2S). Một số hơi, khí độc không có mùi và lại không gây tác động kích thích với đường hô hấp. Đây là loại rất nguy hiểm, bởi lẽ ta không thể phát hiện được bằng trực giác ngay cả khi chúng vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. I.3 Nồng độ và thời gian tiếp xúc Về nguyên tắc, tác hại của hóa chất đối với cơ thể phụ thuộc vào lượng hóa chất đã hấp thu. Trong trường hợp hấp thu qua đường hô hấp, lượng hấp thu phụ thuộc chính vào nồng độ của hóa chất trong không khí và thời gian tiếp xúc. Thông thường, khi tiếp xúc trong thời gian ngắn nhưng với nồng độ hóa chất cao có thể gây ra những ảnh hưởng cấp tính (nhiễm độc cấp), trong khi đó tiếp xúc trong thời gian dài nhưng với nồng độ thấp sẽ xảy ra hai xu hướng: hoặc là cơ thể chịu đựng được, hoặc là hóa chất được tích lũy với khối lượng lớn hơn, để lại ảnh hưởng mãn tính. I.4 Ảnh hưởng kết hợp của các hóa chất Hoạt động nghề nghiệp thường không chỉ tiếp xúc với một loại hóa chất. Hầu như cùng một lúc, người lao động phải tiếp xúc với hai hoặc nhiều hóa chất khác nhau. Ảnh hưởng kết hợp khi tiếp xúc với nhiều hóa chất thường thiếu thông tin. Mặt khác, khi xâm nhập vào cơ thể giữa hai hay nhiều hóa chất có thể kết hợp với nhau tạo ra một chất mới với những đặc tính khác hẳn và sẽ có hại tới sức khỏe hơn tác hại của từng hóa chất thành phần (cũng có thể là tác hại sẽ giảm)(2). Chẳng hạn như khi hít phải Tetraclorua cacbon (CCl4) trong một thời gian ngắn sẽ không bị nhiễm độc nhưng khi đã uống dù chỉ một lượng nhỏ rượu etylic (C2H5OH) thì sẽ bị ngộ độc mạnh có thể sẽ dẫn tới tử vong. Dù thế nào đi nữa cũng nên tránh hoặc giảm tới mức thấp nhất việc tiếp xúc với nhiều loại hóa chất tại nơi làm việc. I.5 Tính mẫn cảm của người tiếp xúc Có sự khác nhau lớn trong phản ứng của mỗi người khi tiếp xúc với hóa chất. Tiếp xúc với cùng một lượng trong cùng một thời gian một vài người bị ảnh hưởng trầm trọng, một vài người bị ảnh hưởng nhẹ, có thể có một số người nhìn bên ngoài không thấy có biểu hiện gì. Phản ứng của từng cá thể phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe... Ví dụ: trẻ em nhạy cảm hơn người lớn; bào thai thường rất nhạy cảm với hóa chất... Do đó với mỗi nguy cơ tiềm ẩn, cần xác định các biện pháp cẩn trọng khác nhau với các đối tượng cụ thể. I.6 Các yếu tố làm tăng nguy cơ người lao động bị nhiễm độc Vi khí hậu: + Nhiệt độ cao: làm tăng khả năng bay hơi của chất độc, tăng tuần hoàn, hô hấp do đó làm tăng khả năng hấp thu chất độc. + Độ ẩm không khí tăng: làm tăng sự phân giải của một số hóa chất với nước, tăng khả năng tích khí lại ở niêm mạc, làm giảm hơi độc bằng mồ hôi, do đó cũng làm tăng nguy cơ bị nhiễm độc. Lao động thể lực quá sức làm tăng tuần hoàn, hô hấp và tăng mức độ nhiễm độc. Chế độ dinh dưỡng không đủ hoặc không cân đối làm giảm sức đề kháng của cơ thể... II. Tác hại của hóa chất đối với cơ thể con người Như đã giải thích ở trên, những ảnh hưởng của hóa chất có thể là cấp tính hoặc mãn tính tùy thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc. Hóa chất cũng gây ra những phản ứng khác nhau do kiểu và dạng tiếp xúc khác nhau. Theo tính chất tác động của hóa chất trên cơ thể con người có thể phân loại theo các nhóm sau đây: Kích thích gây khó chịu. Gây dị ứng. Gây ngạt. Gây mê và gây tê. Tác động đến hệ thống các cơ quan chức năng. Gây ung thư. Hư bào thai. Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai (đột biến gien). Bệnh bụi phổi. II.1 Kích thích Tác động kích thích của hóa chất ở đây có nghĩa là làm cho tình trạng phần cơ thể tiếp xúc với hóa chất bị xấu đi. Các phần của cơ thể thường bị tác động này là da, mắt và đường hô hấp. a) Kích thích đối với da Khi một hóa chất tiếp xúc với da, có thể chúng sẽ làm biến đổi các lớp bảo vệ khiến cho da bị khô, xù xì và xót. Tình trạng này được gọi là viêm da (hình 5). Có rất nhiều hóa chất gây viêm da. Hình2: Nhiễm hóa chất gây viêm da b) Kích thích đối với mắt Hóa chất nhiễm vào mắt có thể gây tác động từ khó chịu nhẹ, tạm thời tới thương tật lâu dài. Mức độ thương tật phụ thuộc vào lượng, độc tính của hóa chất và cả các biện pháp cấp cứu. Các chất gây kích thích đối với mắt thường là: axít, kiềm và các dung môi (hình 3). Hình 3: Nhiều hóa chất có thể gây kích thích đối với mắt c) Kích thích đối với đường hô hấp Các chất hòa tan như: amoniac, fomandehơit, sunfur, axít và kiềm ở dạng mù sương, khí hoặc hơi khi tiếp xúc với đường hô hấp trên (mũi và họng) sẽ gây ra cảm giác bỏng rát; chúng được hấp thu vì sự ẩm ướt của đường mũi họng. Cố gắng tránh hít phải hơi hóa chất khi làm việc, đặc biệt khi dùng các dụng cụ như bình phun, xịt (hình 4). Một vài chất kích thích như sunfua đioxít, clo và bụi than... tác động dọc theo đường thở gây ra viêm phế quản, đôi khi gây tổn thương trầm trọng đường thở và mô phổi. Các hóa chất ít tan trong nước sẽ xâm nhập vào vùng trao đổi khí. Các chất này ít xuất hiện ở nơi làm việc song những tổn thương mà chúng gây ra đối với người lao động thì rất nghiêm trọng. Phản ứng của hóa chất với mô phải gây ra phù phổi (dịch trong phổi) và có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc sau vài giờ. Triệu chứng bắt đầu với việc rất khó chịu trong phổi, tiếp theo là ho, khó thở, xanh tím và khạc nhiều đờm. Các hóa chất này thường là: đioxít nitơ, ozon, photgen... Hình 4: Khi phun xì cần chú ý tránh hít phải hơi độc II.2 Dị ứng Dị ứng có thể xảy ra khi cơ thể tiếp xúc trực tiếp với hóa chất. Người lao động khi mới tiếp xúc có thể không bị dị ứng, nhưng nếu tiếp xúc thường xuyên, ngay cả với lượng nhỏ thì có thể thường sẽ phản ứng và da hoặc đường hô hấp sẽ bị dị ứng.
Trang 1CHƯƠNG I: ẢNH HƯỞNG CỦA HÓA CHẤT
I Tác hại của hóa chất đối với sức khỏe con người
Trong những năm gần đây, vấn đề được quan tâm ngày càng nhiều là ảnh hưởng của hóa chất đến sức khỏe con người, đặc biệt là người lao động
Nhiều hóa chất đã từng được coi là an toàn nhưng nay đã được xác định là có liên quan đến bệnh tật, từ mẩn ngứa nhẹ đến suy yếu sức khỏe lâu dài và ung thư Do vậy cần thiết phải quan tâm tới tất cả các hóa chất
I.1 Sự độc hại của hóa chất
Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của hóa chất, bao gồm độc tính, đặc tính vật lý của hóa chất, trạng thái tiếp xúc, đường xâm nhập vào cơ thể và tính mẫn cảm của cá nhân và táchại tổng hợp của các yếu tố này
Đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể con người
Hóa chất có thể đi vào cơ thể con người theo 3 đường:
- Đường hô hấp: Khi hít thở các hóa chất dưới dạng khí, hơi hay bụi
- Hấp thụ qua da: Khi hóa chất dây dính vào da
- Đường tiêu hóa: Do ăn, uống, phơi thức ăn hoặc sử dụng những dụng cụ ăn đã bị nhiễm hóa chất
a Qua đường hô hấp
Hệ thống hô hấp bao gồm đường hô hấp trên (mũi, mồm, họng); đường thở (khí quản, phế quản, cuống phổi) và vùng trao đổi khí (phế nang), nơi ôxy từ không khí vào máu và đioxitcacbon từ máu khuyếch tán vào không khí (hình 1)
Trang 2Hình 1: Mô tả con đường hóa chất đi vào cơ thể qua đường hô hấp
Đối với người lao động trong công nghiệp, hít thở là đường vào thông thường và nguy hiểm nhất Với diện tích bề mặt phổi 90m2 ở một người lớn khỏe mạnh; trong đó có 70 m2 là diện tích tiếp xúc của phế nang; ngoài ra còn có một mạng lưới mao mạch với diện tích 140
m2, dòng máu qua phổi nhanh và nhiều tạo điều kiện dễ dàng cho sự hấp thu qua phế nang vào mao mạch của các chất có trong không khí; và bình thường một người lao động hít khoảng 8,5m3 không khí trong một ca làm việc 8 giờ Vì vậy, hệ thống hô hấp thực sự là đường vào thuận tiện cho hóa chất
Trong khi thở, không khí có lẫn hóa chất vào mũi hoặc mồm, qua họng, khí quản và cuối cùng tới vùng trao đổi khí, tại đó hóa chất lắng đọng lại hoặc khuếch tán qua thành mạch vào máu
Một hóa chất khi lọt vào đường hô hấp sẽ kích thích màng nhầy của đường hô hấp trên
và phế quản - đây là dấu hiệu cho biết sự hiện diện của hóa chất Sau đó, chúng sẽ xâm nhậpsâu vào phổi gây tổn thương phổi hoặc lưu hành trong máu
Mức độ thâm nhập của các hạt bụi vào cơ thể phụ thuộc vào kích thước hạt và tính tan của chúng Chỉ những hạt nhỏ (đường kính nhỏ hơn 1/7000 mm) mới tới được vùng trao đổi khí Những hạt bụi này sẽ lắng đọng ở đó hoặc khuếch tán vào máu tùy theo độ tan của hóa chất Những hạt bụi không hòa tan gần như được loại trừ bởi bộ phận làm sạch của phổi Những hạt bụi lớn hơn sẽ được lông mũi giữ lại hoặc lắng đọng dọc theo khí, phế quản, cuối cùng chúng sẽ được chuyển tới họng và nuốt, ho, hay khạc ra ngoài
b) Hấp thụ hóa chất qua da
Một trong những đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể là qua da Độ dày của da cùng với sự đổ mồ hôi và tổ chức mỡ ở lớp dưới da có tác dụng như một hàng rào bảo vệ chống lại việc hóa chất xâm nhập vào cơ thể và gây các tổn thương cho da
Hóa chất dây dính trên da có thể có các phản ứng sau:
- Phản ứng với bề mặt của da gây viêm da
- Xâm nhập qua da, kết hợp với tổ chức protein gây cảm ứng da
- Xâm nhập qua da vào máu
Những hóa chất có dung môi thấm qua da hoặc chất dễ tan trong mỡ (1) (như các dung môi hữu cơ và phê nol) dễ dàng thâm nhập vào cơ thể qua da Những hóa chất này có thể thấm vào quần áo làm việc mà người lao động không biết Điều kiện làm việc nóng làm các lỗ chân lông ở da mở rộng hơn cũng tạo điều kiện cho các hóa chất thâm nhập qua da nhanh hơn Khi da bị tổn thương do các vết xước hoặc các bệnh về da thì nguy cơ bị hóa chất thâm nhập vào cơ thể qua da sẽ tăng lên
c) Qua đường tiêu hóa
Trang 3Do bất cẩn để chất độc dính trên môi, miệng rồi vô tình nuốt phải; ăn, uống, hút thuốc trong khi bàn tay dính hóa chất hoặc dùng thức ăn và đồ uống bị nhiễm hóa chất là những nguyên nhân chủ yếu để hóa chất xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa
Ngoài ra, có một số hạt bụi từ đường thở lọt vào họng và sau đó theo nước bọt vào đường tiêu hóa
Hệ tiêu hóa bao gồm thực quản, dạ dày, ruột non và ruột già Sự hấp thụ thức ăn và các chất khác (gồm cả hóa chất nguy hiểm) ban đầu xảy ra ở ruột non
Thông thường hóa chất hấp thụ qua đường tiêu hóa ít hơn so với 2 đường trên, hơn nữa tính độc sẽ giảm Khi qua đường tiêu hóa do tác động của dịch dạ dày và dịch tụy
I.2- Loại hóa chất tiếp xúc
Đặc tính lý, hóa của hóa chất quyết định khả năng xâm nhập của nó vào cơ thểcon
người, chẳng hạn: các hóa chất dễ bay hơi sẽ có khả năng tạo ra trong không khí tại nơi làm việc một nồng độ cao; các chất càng dễ hòa tan trong dịch thể, mỡ và nước thì càng độc
Do các phản ứng lý hóa của chất độc với các hệ thống cơ quan tưng ứng mà có sự phân
bố đặc biệt cho từng chất:
Hóa chất có tính điện ly như chì, bary, tập trung trong xương; bạc, vàng tập trung ở
da hoặc lắng đọng trong gan, thận dưới dạng phức chất
Các chất không điện ly loại dung môi hữu cơ tan trong mỡ tập trung trong các tổ chức giầu mỡ như hệ thần kinh
Các chất không điện ly và không hòa tan trong các chất béo khả năng thấm vào các tổ chức của cơ thể kém hơn và phụ thuộc vào kích thước phân tử và nồng độ chất độc
Thông thường khi hóa chất vào cơ thể tham gia các phản ứng sinh hóa hay là quá trình biến đổi sinh học: ôxy hóa, khử ôxy, thủy phân, liên hợp Quá trình này có thể xảy ra ở nhiều
bộ phận và mô, trong đó gan có vai trò đặc biệt quan trọng Quá trình này thường được hiểu
là quá trình phá vỡ cấu trúc hóa học và giải độc, song có thể sẽ tạo ra sản phẩm phụ hay các chất mới có hại hơn các chất ban đầu
Tùy thuộc vào tính chất lý, hóa, sinh mà một số hóa chất nguy hiểm sẽ được đào thải ra ngoài:
Qua ruột: chủ yếu là các kim loại nặng
Qua mật: Một số chất độc được chuyển hóa rồi liên hợp sunfo hoặc glucuronic rồi đào thải qua mật
Qua hơi thở có thể đào thải một số lớn chất độc dưới dạng khí hơi
Chất độc có thể còn được đào thải qua da, sữa mẹ
Trang 4Đường đào thải chất độc rất quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị nhiễm độc nghề nghiệp
Một số hơi, khí độc có mùi làm cho ta phát hiện thấy có chúng ngay cả khi nồng độ nằm dưới mức cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh Nhưng sau một thời gian ngắn, một số sẽ mất mùikhiến ta không cảm nhận được nữa và dễ dàng bị nhiễm độc (ví dụ H2S) Một số hơi, khí độc không có mùi và lại không gây tác động kích thích với đường hô hấp Đây là loại rất nguy hiểm, bởi lẽ ta không thể phát hiện được bằng trực giác ngay cả khi chúng vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
I.3- Nồng độ và thời gian tiếp xúc
Về nguyên tắc, tác hại của hóa chất đối với cơ thể phụ thuộc vào lượng hóa chất đã hấp thu Trong trường hợp hấp thu qua đường hô hấp, lượng hấp thu phụ thuộc chính vào nồng độ của hóa chất trong không khí và thời gian tiếp xúc Thông thường, khi tiếp xúc trong thời gian ngắn nhưng với nồng độ hóa chất cao có thể gây ra những ảnh hưởng cấp tính (nhiễm độc cấp), trong khi đó tiếp xúc trong thời gian dài nhưng với nồng độ thấp sẽ xảy ra hai
xu hướng: hoặc là cơ thể chịu đựng được, hoặc là hóa chất được tích lũy với khối lượng lớn hơn, để lại ảnh hưởng mãn tính
I.4- Ảnh hưởng kết hợp của các hóa chất
Hoạt động nghề nghiệp thường không chỉ tiếp xúc với một loại hóa chất Hầu như cùng một lúc, người lao động phải tiếp xúc với hai hoặc nhiều hóa chất khác nhau Ảnh hưởng kết hợp khi tiếp xúc với nhiều hóa chất thường thiếu thông tin Mặt khác, khi xâm nhập vào cơ thểgiữa hai hay nhiều hóa chất có thể kết hợp với nhau tạo ra một chất mới với những đặc tính khác hẳn và sẽ có hại tới sức khỏe hơn tác hại của từng hóa chất thành phần (cũng có thể là tác hại sẽ giảm)(2) Chẳng hạn như khi hít phải Tetraclorua cacbon (CCl4) trong một thời gian ngắn sẽ không bị nhiễm độc nhưng khi đã uống dù chỉ một lượng nhỏ rượu etylic (C2H5OH) thì
sẽ bị ngộ độc mạnh có thể sẽ dẫn tới tử vong
Dù thế nào đi nữa cũng nên tránh hoặc giảm tới mức thấp nhất việc tiếp xúc với nhiều loại hóa chất tại nơi làm việc
I.5- Tính mẫn cảm của người tiếp xúc
Có sự khác nhau lớn trong phản ứng của mỗi người khi tiếp xúc với hóa chất Tiếp xúc với cùng một lượng trong cùng một thời gian một vài người bị ảnh hưởng trầm trọng, một vài người bị ảnh hưởng nhẹ, có thể có một số người nhìn bên ngoài không thấy có biểu hiện gì
Phản ứng của từng cá thể phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe Ví dụ:trẻ em nhạy cảm hơn người lớn; bào thai thường rất nhạy cảm với hóa chất Do đó với mỗi nguy cơ tiềm ẩn, cần xác định các biện pháp cẩn trọng khác nhau với các đối tượng cụ thể
I.6- Các yếu tố làm tăng nguy cơ người lao động bị nhiễm độc
Vi khí hậu:
Trang 5+ Nhiệt độ cao: làm tăng khả năng bay hơi của chất độc, tăng tuần hoàn, hô hấp do đólàm tăng khả năng hấp thu chất độc
+ Độ ẩm không khí tăng: làm tăng sự phân giải của một số hóa chất với nước, tăng khả năng tích khí lại ở niêm mạc, làm giảm hơi độc bằng mồ hôi, do đó cũng làm tăng nguy cơ bị nhiễm độc
Lao động thể lực quá sức làm tăng tuần hoàn, hô hấp và tăng mức độ nhiễm độc Chế độ dinh dưỡng không đủ hoặc không cân đối làm giảm sức đề kháng của cơ thể
II Tác hại của hóa chất đối với cơ thể con người
Như đã giải thích ở trên, những ảnh hưởng của hóa chất có thể là cấp tính hoặc mãn tínhtùy thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc Hóa chất cũng gây ra những phản ứng khác nhau
do kiểu và dạng tiếp xúc khác nhau Theo tính chất tác động của hóa chất trên cơ thể con người có thể phân loại theo các nhóm sau đây:
- Kích thích gây khó chịu
- Gây dị ứng
- Gây ngạt
- Gây mê và gây tê
- Tác động đến hệ thống các cơ quan chức năng
- Gây ung thư
- Hư bào thai
- Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai (đột biến gien)
Khi một hóa chất tiếp xúc với da, có thể chúng sẽ làm biến đổi các lớp bảo vệ khiến cho
da bị khô, xù xì và xót Tình trạng này được gọi là viêm da (hình 5) Có rất nhiều hóa chất gây viêm da
Hình2: Nhiễm hóa chất gây viêm da
Trang 6b) Kích thích đối với mắt
Hóa chất nhiễm vào mắt có thể gây tác động từ khó chịu nhẹ, tạm thời tới thương tật lâu dài Mức độ thương tật phụ thuộc vào lượng, độc tính của hóa chất và cả các biện pháp cấp cứu Các chất gây kích thích đối với mắt thường là: axít, kiềm và các dung môi (hình 3)
Hình 3: Nhiều hóa chất có thể gây kích thích đối với mắt
c) Kích thích đối với đường hô hấp
Các chất hòa tan như: amoniac, fomandehơit, sunfur, axít và kiềm ở dạng mù sương, khí hoặc hơi khi tiếp xúc với đường hô hấp trên (mũi và họng) sẽ gây ra cảm giác bỏng rát; chúng được hấp thu vì sự ẩm ướt của đường mũi họng Cố gắng tránh hít phải hơi hóa chất khi làm việc, đặc biệt khi dùng các dụng cụ như bình phun, xịt (hình 4) Một vài chất kích thích như sunfua đioxít, clo và bụi than tác động dọc theo đường thở gây ra viêm phế quản, đôi khi gây tổn thương trầm trọng đường thở và mô phổi
Các hóa chất ít tan trong nước sẽ xâm nhập vào vùng trao đổi khí Các chất này ít xuất hiện ở nơi làm việc song những tổn thương mà chúng gây ra đối với người lao động thì rất nghiêm trọng Phản ứng của hóa chất với mô phải gây ra phù phổi (dịch trong phổi) và có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc sau vài giờ Triệu chứng bắt đầu với việc rất khó chịu trong phổi, tiếp theo là ho, khó thở, xanh tím và khạc nhiều đờm Các hóa chất này thường là: đioxít nitơ, ozon, photgen
Hình 4: Khi phun xì cần chú ý tránh hít phải hơi độc
Trang 7b) Dị ứng đường hô hấp
Đường hô hấp nhạy cảm là căn nguyên của bệnh hen nghề nghiệp Những triệu chứng của căn bệnh này là ho nhiều về đêm, khó thở, thở khò khè và ngắn Các hóa chất gây tác hại này là: Toluen đisoxianat, fomaldehơit
II.3 Gây ngạt
Sự ngạt thở là biểu hiện của việc đưa không đủ ôxy vào các tổ chức của cơ thể Có hai dạng: ngạt thở đơn thuần và ngạt thở hóa học
a) Ngạt thở đơn thuần
Chất gây ngạt đơn thuần thường ở dạng khí như: CO2, CH4 (mê tan), N2, C2H6 (Ê tan),
H2 ; Khi lượng các khí này tăng sẽ làm giảm tỷ lệ ôxy trong không khí và gây ngạt thở; nếu không được cấp cứu kịp thời có thể sẽ dẫn đến tử vong Bình thường không khí chứa khoảng 21% ôxy, nếu nồng độ ôxy hạ xuống dưới 17% thì không đủ để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức cơ thể và xuất hiện các triệu chứng hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và rối loạn hành vi Tình trạng này có thể xảy ra ở nơi làm việc chật hẹp, ở dưới các giếng và trong các hầm lò (hình 5)
Hình 5: Môi trường làm việc chật hẹp, thiếu ô xy có thể dẫn tới tử vong
Trang 8b) Ngạt thở hóa học
Chất gây ngạt hóa học ngăn cản máu vận chuyển ôxy tới các tổ chức của cơ thể Một trong những chất này là ôxít cácbon (gây cacboxyhemoglobin) Chỉ cần 0,05% ôxít cácbon trong không khí là đã có thể giảm đáng kể khả năng mang ôxy của máu tới các mô của cơ thể.Các chất khác như hydro xianua, hoặc hyđro sunfua cản trở khả năng tiếp nhận ôxy của tế bào, ngay cả khi máu giàu ôxy
II.4- Gây mê và gây tê
Tiếp xúc với nồng độ cao một trong các hóa chất như: etanol, propanol (ancol béo), axeton và metyl-etyxeton (xeton béo), axetylen, hyđrocacbon, etyl và isopropyl ete có thể làm suy yếu hệ thần kinh trung ương, gây ngất thậm chí dẫn đến tử vong Những chất này gâyảnh hưởng tương tự như say rượu Khi tiếp xúc thường xuyên với các hóa chất này ở nồng
độ thấp một số người bị nghiện chúng
II.5- Gây tác hại tới hệ thống các cơ quan của cơ thể
Cơ thể con người được tạo nên bởi nhiều hệ cơ quan Nhiễm độc hệ thống liên quan tới tác động của hóa chất tới một hoặc nhiều cơ quan trong cơ thể, làm ảnh hưởng tới toàn bộ cơthể Ảnh hưởng này không tập trung ở một điểm nào hoặc vùng nào của cơ thể
Một trong những chức năng của gan là làm sạch chất độc có trong máu bằng cách biến đổi chúng thành chất không độc và những chất có thể hòa tan trong nước trước khi bài tiết ra ngoài (hình 6) Tuy nhiên, một số hóa chất lại gây tổn thương cho gan Tùy thuộc vào loại, liềulượng và thời gian tiếp xúc mà có thể dẫn tới hủy hoại mô gan, để lại hậu quả xơ gan và giảm chức năng gan Các dung môi: alcol, cacbon tetraclorua, tricloetylen, clorofom có thể gây tổn thương gan, dẫn đến viêm gan với các triệu chứng vàng da, vàng mắt
Hình 6: Gan có thể bị tổn thương bởi hóa chất
Trang 9Thận là một phần của hệ tiết niệu, chức năng của hệ tiết niệu là bài tiết (đào thải) các chấtcặn do cơ thể sinh ra, duy trì sự cân bằng của nước và muối, kiểm soát và duy trì nồng độ axíttrong máu (hình 7) Các hóa chất cản trở thận đào thải chất độc gồm etylen glycol, cacbon đisunphua, cacbon tetraclorua, cacbon đisulphua Các hợp chất khác như cađimi, chì, nhựa thông, etanol, toluen, xylen sẽ làm hỏng dần chức năng của thận.
Hệ thần kinh (hình 8) có thể bị tổn thương do tác động của các hóa chất nguy hiểm, ví dụ như:
Tiếp xúc lâu dài với các dung môi sẽ dẫn tới các triệu chứng mệt mỏi, khó ngủ, đau đầu
và buồn nôn; nặng hơn sẽ là rối loạn vận động, liệt và suy tri giác
Tiếp xúc với hecxan, mangan và chì sẽ làm tổn thương hệ thần kinh ngoại vi, để lạihậu quả liệt rủ cổ tay
Tiếp xúc với các hợp chất có photphat hữu cơ như parathơion có thể gây suy giảm
hệ thần kinh; còn với cacbon đisunphua có thể dẫn đến rối loạn tâm thần
Một số hóa chất nguy hiểm có thể tác động tới hệ sinh dục, làm mất khả năng sinh đẻ ở đàn ông và sẩy thai ở phụ nữ đang mang thai Các chất như: etylen đibromua, khí gây mê, cacbon đisunphua, clopren, benzen, chì, các dung môi hữu cơ có thể làm giảm khả năng sinh sn ở nam giới Tiếp xúc với thuốc gây mê thể khí, glutaranđehơit, clopren, chì, các dung môi hữu cơ, cacbon đisunphua và vinyl clorua có thể sẩy thai
Hình 7: Một vài loại hóa chất có thể gây cản trở các chức năng của thận
Hình 8: Hệ thần kinh bao gồm não, cột sống và dây thần kinh có thể bị ảnh hưởng bởi hóa chất
Trang 10II.6- Ung thư
Khi tiếp xúc lâu dài với một số hóa chất có thể tạo sự phát triển tự do của tế bào, dẫn đến khối u - ung thư Những khối u này có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc với hóa chất Giai đoạn này có phạm vi từ 4 - 40 năm Vị trí ung thư nghề nghiệp trong cơ thể cũng rất khác nhau và thường không chỉ giới hạn ở vùng tiếp xúc Các chất như asen, amiăng, crom, niken, bis-clometyl ete (BCME) có thể gây ung thư phổi Bụi gỗ và bụi da, niken crom, dầu
isopropyl có thể gây ung thư mũi và xoang Ung thư bàng quang do tiếp xúc với benziđin, naphtylamin và bụi da Ung thư da do tiếp xúc với asen, sản phẩm dầu mỏ và nhựa than Ung thư gan có thể do tiếp xúc vinyl clorua đơn thể, trong khi ung thư tủy xương là do benzen
2-II.7- Hư thai (quái thai)
Dị tật bẩm sinh có thể là hậu quả của việc tiếp xúc với các hóa chất gây cản trở quá trình phát triển bình thường của bào thai Trong thời gian 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai, thai nhi dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các tổ chức cơ quan trọng của não, tim, tay và chân đang hình thành Các nghiên cứu nối tiếp nhau đã chỉ ra rằng sự có mặt của hóa chất như thủy ngân, khí gây mê, các dung môi hữu cơ có thể cản trở quá trình bình thường của việc phân chia tế bào, gây biến dạng bào thai
II.8- Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai
Một số hóa chất tác động đến cơ thể người gây đột biến gen tạo những biến đổi không mong muốn trong các thế hệ tương lai Thông tin về vấn đề này rất hiếm Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm cho thấy 80 - 85% các chất gây ung thư có thể tác động đến gen
II.9- Bệnh bụi phổi
Bệnh bụi phổi hay bệnh ho dị ứng do hít nhiều bụi, là tình trạng lắng đọng các hạt bụi nhỏ ở vùng trao đổi khí của phổi và phản ứng của các mô trước sự hiện diện của bụi Phát hiện những thay đổi của phổi ở giai đoạn sớm là vô cùng khó khăn Với bệnh bụi phổi thì khả năng hấp thụ ôxy sẽ giảm và bệnh nhân sẽ có hiện tượng thở ngắn, gấp trong các hoạt động phơi dùng đến nhiều sức lực Bệnh này cho tới nay chưa thể chữa khỏi hoàn toàn Các chất gây bệnh bụi phổi thường là: silic tinh thể, amiang, và berili
Trang 11III Những nguy cơ cháy nổ
Đa số hóa chất đều tiềm ẩn các nguy cơ gây cháy nổ Việc sắp xếp, bảo quản, vận chuyển, sử dụng hóa chất không đúng cách đều có thể dẫn đến tai nạn từ một đám cháy nhỏ tới thảm họa thiệt hại lớn về người và tài sản
III.1 Cháy
Cháy cần 3 yếu tố: Nhiên liệu (chất cháy), ôxy và một nguồn nhiệt Những yếu tố này phải ở trong một tỷ lệ, hoàn cảnh thích hợp trước khi bắt lửa và gây cháy Nhiên liệu bắt đầu cháy ở một nhiệt độ xác định là điểm chớp cháy Phải đủ nhiệt để đưa nhiên liệu tới điểm chớp cháy song cũng cần phải có đủ ôxy để sự cháy xảy ra và duy trì nó Bình thường để bắt lửa và bốc cháy môi trường không khí cần có nồng độ ôxy từ 15 - 21%
III.1.1- Nhiên liệu
Để kiểm soát các nguy cơ cháy nổ do hóa chất, việc đầu tiên là xác định rõ hóa chất đang
sử dụng và những đặc tính riêng của nó Hầu hết hóa chất đều là nguồn nhiên liệu - một trong
3 yếu tố gây cháy nổ (hình 9)
Hình 9: Nhiên liệu là yếu tố số một của bộ ba gây cháy nổ
a) Nhiên liệu lỏng
* Điểm chớp cháy của chất lỏng
Điểm chớp cháy (nhiệt độ bùng cháy) của chất lỏng là nhiệt độ thấp nhất mà tại nhiệt độ
đó chất lỏng hóa hơi tạo thành hỗn hợp cháy với không khí và bốc cháy khi có nguồn lửa
Bảng 1: Nhiệt độ bùng cháy của một số chất lỏng thông thường
Hóa chất Nhiệt độ bùng cháy (oC)
Trang 12Dầu hỏa KO-20 40
Ghi nhớ: Hóa chất có điểm chớp cháy thấp hơn thì nguy hiểm hơn
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt tới điểm chớp cháy của chất lỏng, chẳng hạn như dầu lửa khi được phun nó sẽ bùng cháy ngay cả khi nhiệt độ xung quanh thấp hơn điểm chớp cháy của nó; một chất lỏng có thể bị nóng lên tới điểm chớp cháy của nó do một chất khác (có điểm chớp cháy thấp hơn) đang cháy ở gần nó Cần đặc biệt lưu ý vấn đề này khi tiến hành các công việc có liên quan tới các chất dễ cháy nổ
Nếu nhiệt độ chất lỏng đạt tới nhiệt độ bốc lửa (bình thường chỉ một vài độ trên điểm chớp cháy) hơi cháy sẽ tiếp tục được sinh ra và tiếp tục cháy mặc dù đã tách bỏ nguồn lửa nhiệt độ bùng cháy thường có trong các tài liệu an toàn hóa chất
* Khối lượng riêng
Một yếu tố nữa cần xem xét là khối lượng riêng của hơi nhiên liệu Các hơi, khí có khối lượng riêng lớn hơn không khí như: xăng, dầu hỏa, cacbon đisunfua, axetylen và cacbon monooxit có thể phát tán đi xa và tập trung ở nơi có vị trí thấp chẳng hạn như hầm chứa
Ghi nhớ: Hơi nhiên liệu có khối lượng riêng lớn hơn không khí có thể phát tán xa và tích
sự ma sát, ngọn lửa trần, nhiệt bức xạ và tia lửa điện
Trang 13Vấn đề then chốt để phòng cháy nổ các hóa chất nguy hiểm là kiểm tra các nguồn nhiệt Nội dung kiểm tra sẽ được thảo luận ở Chương 2.
Hình 10: Nhiệt là yếu tố thứ 2 của bộ ba gây cháy nổ
a) Dòng điện
Nhiệt sinh từ dòng điện theo 3 cách:
Khi dòng điện đi qua một sợi dây có tiết diện không đủ lớn để tải điện hoặc các mốinối, các điểm tiếp xúc không chặt,kết quả hoặc là tóe lửa, đoản mạch hoặc dây điện nóng lên Nhiệt độ của dây điện có thể đạt tới điểm đủ để kích thích hơi cháy
có trong không khí hoặc gây cháy các vật liệu dễ bắt lửa hay nâng nhiệt độ của cáchóa chất ở gần đó tới điểm chớp cháy và cháy
Hồ quang điện thường được tạo ra khi chập trong công tắc hoặc trong hộp nối do dây điện bị đứt hoặc mất vỏ bọc giữa dây dương và dây âm Hậu quả là phát sinh nhiệt, kích thích hơi dễ cháy gây cháy Thép nóng chảy bởi hồ quang điện có thể cũng kích thích các vật liệu dễ cháy, và làm nóng các hóa chất dễ cháy
Tia lửa điện là một trong các nguồn nhiệt thường gặp nhất trong công nghiệp, nhiệt
độ của tia lửa thường cao hơn rất nhiều so với nhiệt độ bùng cháy của nhiên liệu
b) Tĩnh điện
Điện tích của tĩnh điện có thế hiệu cao và có thể phát ra tia lửa rất nguy hiểm Tĩnh điện
có thể tập trung trên bề mặt các vật rắn, trên mặt các chất lỏng, ở các mặt trong của các máy chế biến nhào trộn, thùng chứa Tĩnh điện có thể tạo ra khi 2 bề mặt khác nhau đến gần nhau, sau đó tách ra Thí dụ: trong các máy sản xuất phim và sản xuất tấm vật liệu, vật liệu cách điện trở thành vật được nạp điện sau khi qua máy Nếu những vật liệu như vậy liên tục được sản xuất ra trong môi trường có khí dễ cháy thì cần có biện pháp trung hòa điện tích, tránh để phát tia lửa điện Sự tích điện cũng có thể xẩy ra khi các chất lỏng dễ cháy chuyển từthùng chứa này tới thùng chứa khác mà không có dây nối đất (hình 11)
Hình 11: Khi hai bề mặt khác nhau đến gần nhau và bị tách ra, dẫn đến sự tích điện
Trang 14Hình 12 : Pha trộn hai hoặc nhiều hóa chất với nhau có thể sinh ra nhiệt
c) Nhiệt sinh khi pha trộn 2 hóa chất
Như đã giới thiệu ở chương I, khi hai hay nhiều hóa chất pha trộn, ảnh hưởng kết hợp có thể nguy hiểm hơn tổng những ảnh hưởng riêng rẽ, tức là cũng có thể dẫn tới một nguy cơ cháy nổ cao hơn Chẳng hạn:
- Việc pha trộn tạo ra hợp chất có điểm cháy và điểm sôi thấp hơn, khi đó sẽ dễ dàng kích thích hơi hợp chất đó cháy
- Khi hai hóa chất phản ứng có thể sinh nhiệt, làm cho các hóa chất bị nóng đến nhiệt độ nguy hiểm và phản ứng cháy dây chuyền xảy ra có thể để lại những hậu quả thảm khốc
d) Nhiệt sinh do ma sát
Khi hai bề mặt cọ sát vào nhau có thể sinh ra nhiệt Đó là nhiệt sinh do sự ma sát Sự cọ sát của dây cua roa với vật che đỡ hoặc giữa hai mặt kim loại có thể phát sinh một lượng nhiệt
đủ để kích thích hơi cháy bùng cháy Nguyên nhân sự cọ sát thường là do thiếu sự bảo
dưỡng cần thiết dẫn đến mất vật che chắn hoặc không đủ dầu mỡ bôi trơn bề mặt kim loại tiếpxúc với nhau Tia lửa cũng có thể xuất hiện khi một hòn đá găm vào đế giầy cọ sát với bề mặt
bê tông
e) Bức xạ nhiệt
Nhiệt từ lò nung, bếp lò và các bề mặt nóng khác có thể đốt cháy hơi cháy Quá trình sản xuất bình thường của nhà máy cũng có thể tạo ra lượng nhiệt đưa các hóa chất cất giữ ở gần
Trang 15đó tới điểm cháy và đốt cháy hơi cháy Những tia nắng trực tiếp hoặc tự nó hoặc được phóng đại bởi nhựa hoặc thủy tinh có thể cũng có ảnh hưởng này.
f) Ngọn lửa trần
Ngọn lửa không được che chắn, bảo vệ sinh ra bởi thuốc lá, diêm, lửa hàn và động cơ đốt trong là nguồn nhiệt rất quan trọng Khi kết hợp đủ nhiên liệu và ôxy, chúng có thể gây ra cháy nổ (hình 13)
Hình 13: Ngọn lửa phát ra từ đèn cắt hàn có thể gây cháy hơi, khí nhiên liệu
III 1.3- Ôxy
Ôxy là yếu tố thứ 3 của bộ ba gây cháy nổ (hình 14) Hầu hết nhiên liệu cần ít nhất 15% ôxy để cháy, vượt quá 21% ôxy có thể tự cháy và dẫn tới nổ Nguồn ôxy, ngoài lượng có trongmôi trường không khí còn gồm cả bình chứa ôxy dùng trong các hoạt động cắt hàn, ôxy được cung cấp bởi một ống dẫn dùng cho quá trình hoạt động và Ôxy tạo ra trong các phản ứng hóa học Ôxy có thể thoát ra khi một hóa chất (thường là chất ôxy hóa) bị đốt nóng
Bảng 2: Một vài hóa chất có thể thoát ra ôxy khi bị đốt nóng
Trang 16* Lưu ý:
Không phải trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải có đủ 3 yếu tố trên thì mới xảy ra cháy, ví dụ: phot pho, bụi nhôm có thể tự cháy khi tiếp xúc với không khí mà không cần có mồi lửa, hoặc hyđro có thể cháy trong clo mà không cần có ôxy
Một số chất có thể tự cháy ngoài không khí mà không cần có mồi lửa Nguyên nhân của sự tự bốc cháy là do các chất hữu cơ bị ôxy hóa tỏa nhiệt gây ra cháy Hiện tượng giẻ lau dầu tự bốc cháy khi phơi ngoài nắng là một ví dụ về sự tự cháy (trong nông nghiệp, tình trạng tương tự đã xuất hiện bởi nhiệt sinh ra trong quá trình lên men khi cỏ
ẩm được đóng gói và cất giữ trong kho) Biện pháp đơn giản để giảm các nguy cơ này
là cất giữ các mảnh giẻ lau dầu trong các thùng chứa có nắp đậy (do đó sẽ giảm lượng ôxy)
Bảng 3: Nhiệt độ tự bốc cháy của một số chất
Tên hóa chất Nhiệt độ tự bốc cháy oC
Trang 17Hình 15: Nổ chỉ xảy ra khi nhiên liệu và ôxy ở trong một tỷ lệ tương xứng.
Bảng 4: Giới hạn nổ của một số nhiên liệu lỏng xác định ở 200oC, áp suất 1atm, tính nồng độ so với không khí
Loại nhiên liệu Tính chất nổ
Trang 18Ghi nhớ: Hóa chất có khoảng cách giữa giới hạn nổ dưới và trên càng lớn thì càng nguy
hiểm.
Trang 19CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA
Những nguyên tắc cơ bản của việc phòng ngừa
Mục đích chung của việc kiểm soát hóa chất là loại trừ hoặc làm giảm tới mức thấp nhất mọi rủi ro bởi các hóa chất nguy hiểm, các sản phẩm từ hóa chất gây ra cho con người và môitrường Để đạt được điều này chiến lược 4 điểm trong việc kiểm soát được áp dụng để loại trừ hoặc làm giảm khả năng tiếp xúc với hóa chất được đặt ra
Bốn nguyên tắc cơ bản của hoạt động kiểm soát
1 Thay thế: Loại bỏ các chất hoặc các quá trình độc hại, nguy hiểm hoặc thay thế chúng bằng thứ khác ít nguy hiểm hơn hoặc không còn nguy hiểm nữa
2 Quy định khoảng cách an toàn hoặc che chắn: giữa người lao động và hóa chất nhằm ngăn cách mọi nguy cơ liên quan tới hóa chất đối với người lao động
3 Thông gió: sử dụng hệ thống thông gió thích hợp để di chuyển hoặc làm giảm nồng độ độc hại trong không khí chẳng hạn như khói, khí, bụi, mù
4 Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động nhằm ngăn ngừa việc tiếp xúc trực tiếp với hóa chất
Biện pháp tốt nhất trong việc ngăn chặn các rủi ro phát sinh từ việc sử dụng các hóa chất nguy hiểm là loại trừ khỏi môi trường làm việc những hóa chất đó Tuy nhiên, điều này không phải luôn thực hiện được Vì vậy, điều quan trọng tiếp theo là cách ly nguồn phát sinh các hóachất nguy hiểm, hoặc tăng thêm các thiết bị thông gió và dùng phương tiện bảo vệ cá nhân Đầu tiên, cần xác định được các hóa chất nguy hiểm và đánh giá đúng mức độ độc hại, nguy hiểm của chúng, kiểm soát chặt chẽ việc thống kê, các quá trình vận chuyển, chuyển rót và cất giữ hóa chất, các hóa chất thực tế đang sử dụng và các chất thải của chúng Với mỗi loại hóa chất nguy hiểm, ta đều phải quan tâm đến các nguyên tắc trên với những nội dung cụ thể như sau:
II.1 Nguyên tắc thay thế
Cách tốt nhất để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác hại của hóa chất đến con người và môi trường là tránh sử dụng các hóa chất nếu có sẵn nhiều chất thay thế ít độc hại, ít nguy hiểm hơn Việc lựa chọn các hóa chất phải được tiến hành ngay từ giai đoạn thiết kế hoặc lập kế hoạch sản xuất, thường tiến hành qua các bước sau:
Bước 1: Đánh giá hóa chất sử dụng
Tiến hành thu thập thông tin, đánh giá về các hóa chất đang sử dụng hoặc dự định sử dụng, cụ thể là:
- Cách thức sử dụng hoặc dự định sử dụng hóa chất đó như thế nào?
- Hóa chất hoặc sản phẩm có chứa hóa chất đó có thể gây những rủi ro gì cho con người và môi trường?
- Nó có thể ảnh hưởng tới con người và môi trường ở đâu, bằng cách nào: ở nơi làm việc; thông qua sự phát tán vào không khí hoặc nước; thông qua sản phẩm chứa hóa chất; hay thông qua chất thải từ quá trình vận chuyển, chôn hoặc tiêu hủy, tái chế sản phẩm?
- Nên làm gì để giảm thiểu các rủi ro?
Trang 20Bước 2: Xác định các giải pháp thay thế
- Có thể thay đổi quy trình hoặc phương pháp sản xuất nhằm thay thế hóa chất đó bằng một loại khác ít độc hại nguy hiểm hơn, hay giảm hóa chất đó và các sản phẩm chứa nó không? Nếu có, gồm những giải pháp nào?
- Các giải pháp thay thế có thực tế không? Việc áp dụng các giải pháp thay thế sẽ làm tăng hay giảm chi phí? Sự tăng, giảm đó có kéo dài không, hay chỉ trong một thời gian ngắn?
Bước 3: Đánh giá những rủi ro mới khi áp dụng các giải pháp thay thế
- Xác định những rủi ro đối với sức khỏe con người và môi trường khi áp dụng các giải pháp thay thế ?
- So sánh rủi ro giữa các giải pháp thay thế Điều này thường không dễ dàng Có thể sẽ
có rất ít thông tin về sản phẩm hoặc phương pháp thay thế Có thể phi so sánh giữa hai chất: một chất gây ra những rủi ro cho môi trường và một chất gây những rủi ro cho con người
Bước 4: Lựa chọn giải pháp thay thế - Tiến hành thay thế
- Sau khi đã đánh giá ưu, nhược điểm của từng giải pháp thay thế, tiến hành lựa chọn giảipháp phù hợp nhất Thông thường, sự lựa chọn các hóa chất thay thế có thể bị hạn chế, đặc biệt ở những nơi có sử dụng các hóa chất đặc thù: khi đó thường không tránh khỏi phải cân nhắc giữa giải pháp kỹ thuật với các lợi ích kinh tế Nên học hỏi kinh nghiệm từ những người đã từng sử dụng hóa chất đó
- Lập kế hoạch thay thế: khi nào tiến hành, ai tiến hành và tiến hành như thế nào, chẳng hạn như sản phẩm mới có cần được thử nghiệm trên quy mô nhỏ trước không? Đã có các trang thiết bị phòng hộ cần thiết chưa?
Bước 5: Dự kiến những thay đổi trong tương lai
Hóa chất mới có thể sẽ cần được thay thế bằng một loại khác an toàn hơn trong tương lai Do đó, cần tiếp tục xem xét: Liệu có biện pháp nào để giảm được hơn nữa những rủi ro cho sức khỏe và môi trường hay không?
Ví dụ của việc thay thế các hóa chất nguy hiểm:
- Sử dụng sản phẩm hoặc keo tan trong nước thay thế cho sản phẩm hoặc keo tan trong dung môi hữu cơ;
Hình 16: Mọi lúc, mọi nơi có thể, nên thay những hóa chất nguy hiểm bằng một hóa chất
ít độc hơn
Trang 21- Dùng triclometan làm tác nhân tẩy nhờn thay cho triclo-etylen và dùng những hóa chất
có điểm bốc cháy cao thay thế những hóa chất có điểm bốc cháy thấp
* Ví dụ về thay thế quy trình:
- Thay thế việc phun sản bằng phương pháp sản tĩnh điện hoặc sản nhúng;
- Áp dụng phương pháp nạp nguyên liệu bằng máy thay cho việc nạp nguyên liệu thủ công
II 2 Bao che hoặc cách ly nguồn phát sinh hóa chất nguy hiểm
Một quá trình sản xuất lý tưởng là ở đó người lao động được hạn chế tới mức thấp nhất mọi cơ hội tiếp xúc với hóa chất; có thể bằng cách bao che toàn bộ máy móc, những điểm phát sinh bụi của băng chuyền hoặc bao che quá trình sản xuất các chất ăn mòn để hạn chế
sự lan tỏa hơi, khí độc hại, nguy hiểm tới môi trường làm việc Cũng có thể giảm sự tiếp xúc với các hóa chất độc hại bằng việc di chuyển các qui trình và công đoạn sản xuất các hóa chấtnày tới vị trí an toàn, cách xa người lao động trong nhà máy hoặc xây tường để cách ly chúng
ra khỏi quá trình sản xuất có điều kiện làm việc bình thường khác (hình 17), chẳng hạn như cách ly quá trình phun sản với các quá trình sản xuất khác trong nhà máy bằng các bức tườnghoặc rào chắn
Bên cạnh đó, cần phải cách ly hóa chất dễ cháy nổ với các nguồn nhiệt, chẳng hạn như đặt thuốc nổ ở xa các máy mài, máy cưa
Hình 17: Sử dụng hệ thống điều khiển từ xa có thể ngăn chặn được các mối nguy hiểm từhóa chất đối với người lao động
Trang 22Hiệu qủa tương tự có thể nhận được khi sử dụng những kho hóa chất an toàn và hạn chế
số lượng những hóa chất nguy hiểm cần sử dụng tại nơi làm việc trong từng ngày, từng ca Điều này thực sự rất có ích nếu quá trình sản xuất thực hiện bởi một số lượng rất ít người lao động và trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân
II 3 Thông gió
Trong trường hợp hóa chất dễ bay hơi, việc thông gió được xem như là một hình thức kiểm soát tốt nhất sau việc thay thế hoặc bao che Nhờ các thiết bị thông gió thích hợp, người
ta có thể ngăn không cho bụi, hơi, khí độc thoát ra từ quá trình sản xuất tiến vào khu vực hít thở của người lao động và chuyển chúng bằng các ống dẫn tới bộ phận xử lý (xyclo, thiết bị lắng, thiết bị lọc tĩnh điện ) để khử độc trước khi thải ra ngoài môi trường
Tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà người ta có thể bố trí hệ thống thông gió cục bộ ngaytại nơi phát sinh hơi, khí độc, hay hệ thống thông gió chung cho toàn nhà máy hoặc áp dụng kết hợp cả 2 hệ thống
Hệ thống thổi cục bộ, còn được gọi là hoa sen không khí, thường được bố trí để thổi không khí sạch và mát vào những vị trí thao tác cố định của công nhân mà tại đó thường tỏa nhiều khí hi có hại và nhiều nhiệt
Hình 18: Phương pháp thổi cục bộ tại các cửa lò nung
Đối với hệ thống hút cục bộ, miệng hút của hệ thống phi đặt sát, gần đến mức có thể với nguồn phát sinh bụi, hơi, khí độc để ngăn ngừa tác hại của nó đối với những người lao động
Trang 23làm việc gần đó Đã có những hệ thống thông gió cục bộ hoạt động rất hiệu qủa trong việc kiểm soát các chất độc như: chì, amiăng, dung môi hữu cơ.
Hệ thống thông gió chung còn được hiểu là hệ thống làm loãng nồng độ hóa chất Nó hoạt động dựa trên nguyên tắc làm loãng không khí có bụi hoặc hơi hóa chất thông qua việc mang không khí sạch từ ngoài vào và lấy không khí bẩn từ nơi sản xuất ra Có thể thực hiện điều này bằng các thiết bị vận chuyển khí (máy bơm, quạt ) hoặc đơn giản chỉ là nhờ việc mở cửa
sổ, cửa ra vào tạo sự luân chuyển tự nhiên của không khí Việc bố trí những luồng khí này phải được thực hiện ngay từ khâu thiết kế toà nhà (hình 19) Phương pháp thông gió cưỡng bức bằng máy có ưu điểm hơn thông gió tự nhiên là có thể kiểm soát được nồng độ các hóa chất nguy hiểm có trong không khí bơm vào và thải ra Bởi chỉ làm loãng độc chất thay cho việc loại bỏ chúng trong môi trường làm việc, nên hệ thống này chỉ khuyến nghị dùng cho những chất ít độc, không ăn mòn và với số lượng nhỏ
Để đảm bảo hiệu qủa, trước khi thi công các thiết kế cơ bản hệ thống thông gió đã được các chuyên gia hoặc những người đã qua đào tạo chuyên môn về vấn đề này kiểm tra Hệ thống thông gió phải được bảo dưỡng thường xuyên để đảm bảo luôn hoạt động có hiệu qủa
Hình 19: Việc thiết kế nhà xưởng hợp lý có thể làm tăng lượng không khí lưu thông và làm giảm nồng độ các hóa chất độc hại
II.4 Phương tiện bảo vệ cá nhân
Phần lớn các nguy cơ từ sử dụng hóa chất có thể kiểm soát được bằng các biện pháp kỹ thuật kể trên Nhưng khi các biện pháp đó chưa loại trừ hết được các mối nguy, hay nói cách khác khi nồng độ hóa chất trong môi trường chưa đạt tiêu chuẩn cho phép thì người lao động phải được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân Phương tiện này chỉ làm sạch không khí bị nhiễm hóa chất trước khi vào cơ thể chứ nó không làm giảm hoặc khử chất độc có trong môi trường xung quanh Do đó khi sử dụng các phương tiện bảo vệ đã hư hỏng hoặc không đúng chủng loại có nghĩa là ta đã tiếp xúc trực tiếp với hóa chất nguy hiểm Vì vậy, không được coi phương tiện bảo vệ cá nhân là biện pháp đầu tiên để kiểm soát rủi ro mà chỉ được coi là biện pháp hỗ trợ thêm cho các biện pháp kiểm soát kỹ thuật Với các nguy cơ cháy, nổ thì thực sự chưa có trang thiết bị nào đảm bảo an toàn cho người lao động
a) Mặt nạ phòng độc
Trang 24Mặt nạ phòng độc để che mũi và mồm người lao động, ngăn chặn sự thâm nhập của hóa chất vào cơ thể qua đường hô hấp Dùng mặt nạ phòng độc khi phải tiếp xúc với hóa chất trong các tình huống sau:
- Nơi phải tiến hành kiểm soát tạm thời trước khi tiến hành các biện pháp kiểm soát kỹ thuật
- Nơi không thực hiện được những kiểm tra về kỹ thuật
- Để bổ sung vào những biện pháp kiểm soát kỹ thuật
- Trong trường hợp khẩn cấp
Việc lựa chọn loại mặt nạ phòng độc sẽ tùy thuộc theo các yếu tố:
- Đặc tính của một hoặc của nhiều chất độc hại phải tiếp xúc;
- Nồng độ tối đa của các hóa chất tại nơi làm việc;
- Thuận tiện và hợp với khuôn mặt của người sử dụng để ngăn chặn chất độc lọt qua
và hàm lượng ôxy không dưới 15% Những mặt nạ lọc độc này được thiết kế theo hình thức một nửa mặt (che mồm, mũi và cả cằm) hoặc là che kín cả mặt Có rất nhiều kiểu mặt nạ lọc độc khác nhau tùy theo loại hóa chất phải xử lý song không có thiết bị lọc, hoặc mặt nạ lọc độcnào có thể loại bỏ hoàn toàn hóa chất nguy hiểm Vì vậy, để chọn được loại mặt nạ thích hợp nhất thiết phải tuân theo chỉ dẫn của người sản xuất hoặc người cung cấp mặt nạ phòng độc
Mặt nạ cung cấp không khí: là loại cung cấp liên tục không khí không độc và là mặt nạ bảo vệ người sử dụng ở mức cao nhất Không khí có thể bơm vào từ một nguồn ở xa (được nối với một vòi áp suất cao), hoặc từ một dụng cụ cấp khí xách tay (như máy nén hoặc bình chứa không khí hay ôxy lỏng dưới áp suất cao) Loại xách tay này được minh họa ở hình 22
và được gọi là bình dưỡng khí Mặt nạ có bình dưỡng khí được thiết kế bao phủ toàn bộ khuôn mặt
Trang 25Hình 22: Mặt nạ phòng độc có bình dưỡng khí để thở riêng
Để đảm bảo sử dụng có hiệu qủa, người lao động phải được huấn luyện, đào tạo cách sửdụng, sửa chữa và bảo dưỡng mặt nạ phòng độc (hình 22) Đeo mặt nạ phòng độc kém phẩmchất có thể còn nguy hiểm hơn không đeo gì, vì khi đó người lao động nghĩ rằng họ được bảo
Để ngăn ngừa các tai nạn và bệnh về mắt có thể sử dụng các loại kính an toàn, các loại mặt
nạ cầm tay và mặt nạ hoặc mũ mặt nạ liền với đầu tùy từng trường hợp cụ thể, chẳng hạn dùng tấm chắn bảo vệ bao phủ cả trán và mặt tới điểm dưới quai hàm nhằm chống lại việc bắn toé bất ngờ các chất lỏng nguy hiểm; kính trắng kháng được hóa chất khi xử lý các hóa chất dạng hạt nhỏ, bụi
Hình 24: Kính bảo vệ mắt
Hình 25: Trang bị che chắn mắt, mặt
Trang 26c) Quần áo, găng tay, giày ủng
Quần áo bảo vệ, găng tay, tạp dề, ủng được dùng để bảo vệ cơ thể ngăn không cho hóa chất thâm nhập qua da Các loại này phải được làm bằng những chất liệu không thấm nước hoặc không bị tác động phá hoại bởi hóa chất tiếp xúc khi làm các công việc tương ứng Sử dụng găng tay là một yêu cầu bắt buộc khi làm việc với hóa chất đậm đặc, có tính ăn mòn cao.Những hóa chất này thường thấm xuyên qua da và gây tổn thương cho da qua việc làm bỏng hoặc cháy da Găng tay phải dầy ít nhất 0,4mm và đủ mềm để làm những công việc đơn giản bằng tay Tùy thuộc vào loại hóa chất và thời gian tiếp xúc mà sẽ dùng loại găng tay cụ thể Ví
dụ găng tay làm bằng nơi lon hoặc bằng da là thích hợp cho việc bảo vệ tay từ bụi, trong khi
đó găng tay làm bằng cao su là thích hợp cho việc chống lại các chất ăn mòn và việc pha chế hóa chất với dung môi hữu cơ chẳng hạn như xy-len đòi hỏi phải được trang bị găng tay với chất lượng cao hơn (hình 26)
Quan trọng nhất là vật liệu làm những trang thiết bị này phải có khả năng chống được các hóachất tương ứng
Người cung cấp phương tiện bảo vệ cá nhân phải cung cấp chỉ dẫn về cách sử dụng, bảo quản chúng
Hình 26: Găng tay bảo vệ
Kem bảo vệ và thuốc rửa cũng có tác dụng tốt trong việc bảo vệ da Kem có nhiều tác dụng, nếu được lựa chọn và sử dụng chính xác thì chúng rất hữu ích Tuy nhiên, không có một loại kem nào dùng cho tất cả các mục đích, một vài loại dùng để chống lại các dung môi hữu cơ, trong khi đó các loại kem khác được sản xuất để dùng khi tiếp xúc với những chất hòa tan trong nước
Quần áo bảo vệ phải được giặt ngay sau khi dùng không mặc quần áo đã bị nhiễm hóa chất
Nhìn chung, quần áo nên:
- Vừa vặn, thoải mái để cơ thể có thể cử động một cách dễ dàng;
- Trang bị riêng cho từng cá nhân để sử dụng hàng ngày;
- Bảo quản chu đáo, được khâu vá, sửa chữa khi cần thiết;
- Được làm sạch, không để dính hóa chất
Trang 27Ghi nhớ: Phương tiện bảo vệ cá nhân phải phù hợp với từng loại hóa chất nguy hiểm (có
quy định trong Phiếu dữ liệu ATHC).
* Vệ sinh cá nhân
Vệ sinh cá nhân nhằm mục đích giữ cho cơ thể sạch sẽ, vì nếu để bất kỳ chất độc hại nàolưu lại trên cơ thể đều có thể dẫn đến việc nhiễm độc qua da, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa
Những nguyên tắc cơ bản của vệ sinh cá nhân trong sử dụng hóa chất là:
- Tắm và rửa sạch các bộ phận của cơ thể đã tiếp xúc với hóa chất sau khi làm việc, trước khi ăn, uống, hút thuốc (hình 27);
- Kiểm tra sức khỏe và cơ thể thường xuyên để đảm bảo rằng da luôn sạch sẽ và khỏe mạnh;
- Băng bảo vệ bất cứ bộ phận nào của cơ thể bị trầy xước hoặc bị lở loét;
Hình 27: Rửa sạch toàn bộ các phần của cơ thể đã tiếp xúc với hóa chất
- Luôn tránh tự gây nhiễm cho bản thân, đặc biệt là khi khử trùng và cởi bỏ quần áo bảo vệ;
- Đừng bao giờ mang các vật bị nhiễm bẩn như giẻ lau bẩn, hoặc những dụng cụ trong túiquần áo bảo vệ cá nhân;
- Hàng ngày, loại bỏ và giặt sạch riêng rẽ bất cứ chỗ nhiễm bẩn nào của quần áo bảo vệ
cá nhân (hình 28);
- Giữ móng tay sạch và ngắn;
- Tránh tiếp xúc trực tiếp với các sản phẩm gây dị ứng như mẩn mụn, nổi mề đay ở da;
Hình 28: Quần áo bảo vệ cá nhân phải rửa sạch sau khi sử dụng
Trang 28Ngoài các nguyên tắc trên còn phải tuân theo các biện pháp sau:
- Cho dù trên nhãn sản phẩm không yêu cầu mặc quần áo bảo vệ cá nhân, thì cũng nên che kín cơ thể càng nhiều càng tốt, ví dụ như dùng: áo dài tay; mũ và khăn che đầu, quầnvải dài (vật liệu không nên là nhựa hoặc các loại có thể gây ra sự bất tiện);
- Phương tiện bảo vệ cá nhân thường tạo cảm giác không thoải mái khi làm việc, nên tìm lời khuyên về việc sử dụng các loại hóa chất không đòi hỏi trang bị phương tiện bảo vệ cánhân
CHƯƠNG III: KIỂM SOÁT HỆ THỐNG
Kiểm soát hệ thống là một bộ phận của chương trình kiểm soát sự tiếp xúc với hóa chất
để xem xét, đánh giá những hiệu qủa của những biện pháp kiểm soát khác trên cơ sở tập trung vào những biện pháp và những quy trình quản lý
Nội dung kiểm soát tập trung vào những nội dung sau:
- Nhận diện tất cả các hóa chất nguy hiểm đang sử dụng;
- Dán nhãn;
- Cung cấp và sử dụng các tài liệu an toàn hóa chất;
- An toàn của kho;
- Thủ tục vận chuyển an toàn;
- An toàn trong quản lý và sử dụng;
- Biện pháp quản lý công việc;
- Thủ tục loại bỏ;
- Điều khiển sự tiếp xúc;
- Kiểm tra sức khỏe;
- Lưu giữ hồ sơ;
- Huấn luyện và giáo dục;
Chi tiết của chương trình kiểm soát an toàn hóa chất sẽ đưa ở Phụ lục II
I Nhận diện hóa chất
Nguyên tắc cơ bản của việc nhận diện hóa chất nguy hiểm là để biết những hóa chất gì đang được sử dụng hoặc sản xuất; chúng xâm nhập vào cơ thể bằng cách nào, gây tổn thương và bệnh tật gì cho con người; chúng gây hại như thế nào đối với môi trường
Trang 29Thông tin này có thể thu thập qua nhãn, các tài liệu về sản phẩm Những thông tin chủ yếu gồm:
Hướng dẫn cách sử dụng hóa chất như liều lượng, sự tương tác với các hóa chất khác;
Ngày hết hạn sử dụng của hóa chất;
Những chỉ dẫn an toàn cần thiết như mặc quần áo bảo vệ, những điều cần phải làm khi xảy ra sự cố
Những chỉ dẫn cơ bản về điều kiện lưu giữ thích hợp, việc xử lý các chất dư thừa
Trong thực tế, không nên sử dụng bất cứ một hóa chất nào chưa được nhận diện hoặc không có nhãn Trong trường hợp không có thông tin thì phải hủy bỏ nó một cách an toàn như
mô tả ở phần 2.3.9 của cuốn sách này
II Nhãn dán
Mục đích của nhãn là để truyền đạt thông tin về các nguy cơ của hóa chất, những chỉ dẫn
an toàn và các biện pháp khẩn cấp (Hình 29)
Nhãn thường gồm những thông tin sau:
- Đặc điểm nhận dạng của hóa chất;
- Biểu tượng các nguy cơ;
- Tên chung và tên thương mại hóa chất;
- Tên và lượng của các hoạt chất;
- Công dụng của sản phẩm;
- Số đăng ký của sản phẩm nếu như nó là sản phẩm cần phải được đăng ký theo quy định của pháp luật;
- Tên và địa chỉ của người sản xuất, người phân phối hoặc các đại lý;
- Các biện pháp làm việc an toàn;
- Bất cứ vấn đề gì do pháp luật quốc gia yêu cầu chẳng hạn như phải có sự chứng nhận của cơ quan thẩm quyền theo quy định của các điều luật đặc biệt
(Hình 29) Mọi hóa chất có ở nơi làm việc phải được dãn nhãn và đủ các thông tin cơ bản
về an toàn khi sử dụng chúng
Trang 30Những vật chứa quá nhỏ mà nhãn dán lên không thể bao gồm đầy đủ thông tin theo yêu cầu phải có tờ chỉ dẫn được đính chắc vào vật chứa.
Muốn sử dụng hóa chất một cách an toàn thì trước hết người sử dụng phải đọc, hiểu và tuân thủ những chỉ dẫn ghi trên nhãn Nếu không hiểu những chỉ dẫn thì phải hỏi người có kinh nghiệm Nếu nhãn quá nhỏ và không thể đọc được thì phải dùng kính phóng to hoặc nhờ người nào tinh mắt đọc giúp Nếu như nhãn bị rách hoặc bị nhầu nát phải yêu cầu người cungcấp đổi vật chứa khác có nhãn hợp pháp
Hóa chất có thể được rót từ vật chứa có dán nhãn sang vật chứa hoặc thiết bị khác
Khi đó, những người có trách nhiệm trong việc chuyển rót hóa chất phải dán nhãn chính xác tất cả các vật chứa Bất kỳ một hóa chất nào mà không có nhãn thì sẽ không được
chuyển rót Nhãn mới ít nhất phải có các nội dung sau:
- Công dụng, thành phần và các nguy cơ;
- Cách sử dụng sản phẩm an toàn;
- Các biện pháp khẩn cấp
III Bản dữ liệu an toàn hóa chất
Với mỗi hóa chất nguy hiểm được sử dụng trong doanh nghiệp phải luôn có sẵn những bản dữ liệu về an toàn hóa chất Trong đó, tối thiểu phải có những thông tin cơ bản hướng dẫn cách sử dụng hóa chất an toàn, đạt hiệu qủa; thông tin về các biện pháp phòng ngừa thích hợp (gồm cả hạng mục trang thiết bị bảo vệ cá nhân) và các biện pháp khẩn cấp
Bản dữ liệu an toàn hóa chất thường bao gồm các thông tin sau:
- Tên của hóa chất (kèm theo tên thương mại và tên thường gọi nếu có);
- Thành phần của hóa chất;
- Tên và địa chỉ của người cung cấp hoặc nơi sản xuất;
- Các nguy cơ đã được xác định;
- Những biện pháp sơ cứu, những biện pháp phòng chống cháy, những biện pháp xử lý khí độc;
- Cách sử dụng và lưu giữ hóa chất;
- Kiểm soát sự tiếp xúc và bảo vệ cá nhân;
- Tính chất vật lý và tính chất hóa học;
- Thông tin về độc học;
- Thông tin về sinh thái học;
- Thông tin về mua bán, vận chuyển;
- Thông tin về các quy định của pháp luật (các quy đinh về nhãn, dấu ) ;
- Những thông tin khác (gồm có tài liệu tham khảo)
Trang 31Ghi nhớ Nếu thiếu bản dữ liệu an toàn hóa chất, thì phải yêu cầu người cung cấp hóa
chất đáp ứng ngay lập tức.
Căn cứ vào quá trình sản xuất và các thông tin thu thập từ bản dữ liệu an toàn hóa chất
để xác định những thủ tục bảo quản, vận chuyển, quản lý, sử dụng và xử lý chất thải Những thông tin như: tính chất vật lý, hóa học, độ bền và phản ứng, thông tin về độc học là cơ sở choviệc phân tích, lập kế hoạch và chiến lược kiểm soát hóa chất tại doanh nghiệp Toàn bộ dữ liệu an toàn hóa chất phải được lưu giữ trong hồ sơ tại cơ quan an toàn, dịch vụ an toàn nghề nghiệp, đội cứu hỏa Khi có một ca cấp cứu về nhiễm độc hóa chất, phải mang dữ liệu an toàn
về hóa chất tới bác sĩ hoặc bệnh viện cùng với người bệnh để giúp cho việc chẩn đoán và cứuchữa kịp thời
bản dữ liệu an toàn hóa chất phải có những thông tin chỉ dẫn, huấn luyện cho người lao động, cho các cán bộ giám sát về an toàn Nội dung huấn luyện phải có những chỉ dẫn giúp cho người lao động biết cách thu thập và sử dụng thông tin có trong dữ liệu an toàn hóa chất
I.V Bảo quản hóa chất
Đối với các hóa chất nguy hiểm, thì chỉ nên để tại nơi làm việc số lượng vừa đủ cho yêu cầu sử dụng trong ca Số còn lại sẽ được bảo quản trong kho Kho hóa chất phải đảm bảo được yêu cầu an toàn cho thủ kho, cho những người làm việc ở gần và không gây ô nhiễm môi trường
Nhìn chung, một nhà kho an toàn và an ninh cần phải có vị trí thích hợp với các lối đi thuận tiện Nếu nhà kho ở trong một tổng kho, nó cần phải được tách rời khỏi các kho khác Vịtrí của nhà kho phải tính toán đến khả năng gây ô nhiễm từ việc rò rỉ hoặc tràn đổ hóa chất Nhà kho phải được đặt xa khu nhà ở và nguồn nước bề mặt như sông, suối và chỗ chứa nước cung cấp cho nhu cầu dân sinh hoặc nước tưới ruộng
Nhà kho không nên đặt trong khu vực:
- Dễ bị lụt, hoặc có khả năng gây ô nhiễm nguồn cung cấp nước ngầm, chẳng hạn như giếng đào, giếng khoan;
- Đầu nguồn sông, suối;
- Nhạy cảm về môi trường
Một nhà kho đạt yêu cầu dùng để cất giữ hóa chất là:
Phải chịu được lửa, nhiệt độ cao, không phản ứng hóa học và không thấm chất lỏng Sàn nhà phải thiết kế chỗ chứa hóa chất rò rỉ hoặc tràn đổ và bề mặt không
gồ ghề để dễ dọn sạch Tường bên ngoài phải chịu được lửa ít nhất là 30 phút; tất
cả các bức tường đều không thấm nước; bề mặt bên trong của tường trn nhẵn, có thể rửa một cách dễ dàng và không bắt bụi Nếu kho được xây dựng đơn lẻ thì máiphải làm bằng một vật liệu khó cháy và thông hơi dễ dàng khi cháy;
Có lối ra, vào phù hợp với những cửa chịu lửa được mở hướng ra ngoài Cửa phải
có kích cỡ tương xứng để cho phép vận chuyển một cách an toàn (lối đi chính phải
Trang 32đóng tự động Ở những nơi mà những kho chứa được xây dựng trong một nhà khochung (kho tổng), thì các cửa thoát nạn nên thiết kế mở hướng thẳng ra bên ngoài tòa nhà;
Có chỗ chứa hóa chất tràn đổ hoặc rò rỉ để bảo vệ môi trường bên ngoài Trong trường hợp môi trường đặc biệt nhậy cảm, phải xây dựng một hệ thống thoát nướcbên trong nối liền với các hố quây nước hoặc với các công trình xử lý chất thải;
Được giữ khô và tránh được sự gia tăng nhiệt độ Trong điều kiện quá nóng hoặc quá lạnh, hầu hết các hóa chất nông nghiệp bị phân hủy và thậm chí có thùng chứa cũng có thể bị hỏng Tương tự như vậy, sự ẩm ướt cũng làm cho các bao, gói giấy bị hư hại, và có thể dẫn đến việc rò rỉ hóa chất;
Có ánh sáng nhân tạo hoặc tự nhiên thích hợp nhờ các cửa sổ hoặc hệ thống đèn.Cửa sổ không được phép để ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào hóa chất bởi tia cực tím có thể hủy hoại thùng chứa và hóa chất bên trong Đèn điện và những công tắc cần phải được đặt ở vị trí thích hợp để tránh hư hỏng và cần có khoảng cách nhất định giữa các đèn và chỗ chứa hóa chất nhằm tránh việc truyền nhiệt;
Có hệ thống thông gió phù hợp để làm loãng hoặc hút sạch lượng khí độc sinh ra Những nơi việc thông gió tự nhiên không đủ thì phải lắp quạt thông gió;
Được đánh dấu với ký hiệu cảnh báo thích hợp Bất cứ ký hiệu cảnh báo nào cũng cần phải tuân thủ những yêu cầu của Quốc gia về các khía cạnh màu sắc, hình tượng và dạng hình học An ninh nhà kho là quan trọng nhằm ngăn chặn kẻ trộm hoặc những người không có thẩm quyền lạm dụng hóa chất Cần tăng cường an ninh trong các tình huống có thể dự đoán được Bên cạnh đó, tại kho phải có bảng hướng dẫn cụ thể tính chất của từng hóa chất những điều cần phải triệt để tuân theo khi sắp xếp, vận chuyển, san rót, đóng gói
Được tổ chức tốt để hóa chất giao nhận được lưu giữ vào kho đúng lúc, được xếp lên giá và xếp đống đúng quy cách, đảm bảo an toàn, ngăn nắp và có thể dễ dàng nhìn thấy nhãn Thông thường, xếp không cao quá 2m, không sát trần nhà kho, cách tường ít nhất 0,5 m, cách mặt đất từ 0,2 - 0,3m Những sản phẩm dễ cháy phải được sắp xếp riêng biệt ở vị trí chống lửa đặc thù của nhà kho Nên chứa chấtlỏng dễ cháy, dễ bay hơi trong các thùng kim loại không rò rỉ, để trong hang, hầm, nơi thoáng mát Không được xếp trong cùng một kho các hóa chất có tính đối nhauhoặc phương pháp chữa cháy hoàn toàn khác nhau Đối với các hóa chất kỵ ẩm phải xếp cao tối thiểu 0,3 m Thêm vào đó, những sản phẩm dễ ôxy hóa cần cất giữ trong điều kiện hoàn toàn khô, không tồn chứa nhiều chất ôxy hóa trong một kho Để đề phòng sự cố rò rỉ hay tràn đổ, không nên sắp xếp gần nhau những hóa chất mà khi phản ứng tạo ra các hóa chất nguy hiểm (ví dụ: bình chứa axít gần hợp chất cyanua thì có nguy cơ tạo khí Hyđrô cyanua độc gây chết người), ngay
cả khi các hóa chất này ở các kho riêng biệt trong cùng một tổng kho thì cũng tránhđặt các kho đó sát nhau Tương tự như vậy, không đặt kho hóa chất gần quá trình sản xuất không tưng hợp, dễ xảy ra các phản ứng nguy hiểm Bất cứ sự sắp xếp nào trong nhà kho cũng phải cẩn thận, tránh việc quá tải trên các giá hoặc nén quáchặt các thùng chứa ở dưới đáy của chồng hàng(4)
Trang 33Hình 30: Những hóa chất dễ bắt lửa phải được bảo quản ở khu vực mát, thông gió tốt, cách
xa nguồn gây lửa
Sơ cứu: Những phương tiện sơ cứu phải luôn có sẵn để sử dụng khi bị nhiễm độc vào mắt, vào da hay bị thương nhẹ;
Phòng rửa: Các phòng rửa phải được đặt ở gần nhà kho để mọi người sử dụng hóa chất
ở trong kho dùng thuận lợi Phòng rửa cần được trang bị bể rửa, xà phòng và khăn lau (tốt nhất là các khăn lau chỉ dùng một lần);
Nơi cất giữ quần áo bảo vệ: Cần có nơi thông thoáng và riêng biệt để cất giữ phương tiện bảo vệ và các quần áo cá nhân nơi cất giữ này thường được đặt trong các tủ có khóa và không đặt ở trong kho hóa chất;
Nhà kho để chứa các vật chứa rỗng hoặc các chất thải hóa chất dạng rắn: Những vật chứa rỗng (trừ những cái đã chứa loại hóa chất khi phản ứng với nước tạo ra khí độc) cần phải được rửa sạch ít nhất 3 lần và được cất giữ ở nơi khô ráo, an toàn cùng với chất thải hóa chất Không được dùng chúng để chứa thực phẩm, nước hoặc các chất được dùng cho người hoặc vật nuôi Phải nhớ rằng chỉ một lượng rất nhỏ của hóa chất còn sót lại trong vật chứa cũng có thể gây ra những bệnh hiểm nghèo hoặc tử vong;
Khu vực chuẩn bị: Việc chuyển rót, đóng gói hóa chất độc không được làm ở trong kho phải làm ở trong phòng riêng, có hệ thống hút hơi khí độc tốt Những nơi đó thường phải
có mặt nền cứng, bằng phẳng và thiết kế hướng dốc vào trong khu vực dùng cho việc chứa hóa chất để tránh ô nhiễm môi trường xung quanh;
Những cẩn trọng về cháy:
+ Cấm hút thuốc hoặc sử dụng lửa trần trong phạm vi nhà kho
+ Cần có đủ những bình chống cháy phù hợp và hoạt động tốt đề phòng trường hợp khẩn cấp; Hệ thống phòng cháy tự động phải luôn sẵn sàng hoạt động;
+ Nên kết hợp tự động việc đóng các cửa phát sinh lửa, hệ thống báo động và vành đai
Trang 34+ Phải có lối vào dễ dàng cho xe cứu hỏa;
+ Mạch điện phải đặt thiết bị thích hợp để ngăn chặn sự quá tải;
+ Hệ thống dây điện, công tắc, các thiết bị điện đặt cố định phải được bảo vệ để tránh bị
hư hỏng do va chạm khi di chuyển các thùng chứa và khi xe nâng đi qua;
+ Để tránh cháy bởi tĩnh điện, khi sắp đặt và dịch chuyển các thùng chứa hóa chất đều phải được nối đất và chằng buộc cẩn thận;
+ Không được dùng xe cần trục chạy bằng động cơ đốt trong ở khu vực kho chứa hóa chất dễ cháy nổ;
V Các nguyên tắc vận chuyển hóa chất an toàn
Hóa chất có thể vận chuyển đến hoặc đi thông qua ống dẫn, băng tải hoặc sử dụng xe tải,
xe cần cẩu, xe đẩy hai bánh, xe cút kít Những người có liên quan đến việc vận chuyển hóa chất (5) cần phải tuân thủ các quy định về an toàn trong vận chuyển
Để đảm bảo an toàn khi vận chuyển:
Nhất thiết phải có nhân viên áp tải của bên có hàng Nhân viên đó phải biết rõ tính chất hóa lý của hóa chất, biện pháp đề phòng và cách giải quyết các sự cố cháy, nổ, tỏa hơi khí độc Khi áp tải hàng nhân viên áp tải và vận chuyển phải mang theo đầy đủ phươngtiện bảo vệ cá nhân
Các vật chứa phải có chất lượng tốt, từ chối vận chuyển những vật chứa bị rò rỉ hoặc bị
Phải vận chuyển hóa chất nguy hiểm trên xe có mui hoặc bạt che mưa để đề phòng trờimưa hoặc thời tiết xấu, không được vận chuyển chung với người, gia súc và các loại hàng hóa khác
Trang 35 Nếu hóa chất được vận chuyển qua ống dẫn, phải đảm bảo các van, đường ống, khóa hãm đủ độ bền cơ học, bền hóa học và độ kín để không bị nứt, không bị rò rỉ Các ống dẫn khí, hơi, bụi dễ cháy nổ phải khác nhau và các van phải sơn màu khác nhau theo quy định, trên thân van phải kẻ hoặc dập mũi tên chỉ chiều đóng mở Những ống dẫn khí, hơi, bụi dễ cháy nổ phải có van một chiều, có bộ phận dập lửa, có mũi tên chỉ đường khí trên thân ống Khi vận chuyển bằng băng tải, để tránh sự lan tỏa của bụi độcnên bao che băng tải và các vị trí chuyển rót Nếu hóa chất được vận chuyển với tốc độcao và nén qua hệ thống ống dẫn phải tránh sự tích tụ nhiệt, dẫn đến cháy, nổ
Nếu hóa chất được vận chuyển bằng xe nâng thì đường vận chuyển phải được đánh dấu rõ ràng, và phải có chiều rộng tưng xứng để giảm khả năng va đập, tràn đổ
Nếu bốc dỡ hàng xuống dọc đường thì phần còn lại phải buộc chèn cẩn thận trước khi tiếp tục vận chuyển
Trước khi tiến hành xếp dỡ, nhân viên áp tải và người xếp dỡ phải kiểm tra lại bao bì, nhãn hiệu Người trực tiếp xếp dỡ phải mang đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân
Khi xảy ra sự cố phải báo ngay với cơ quan lao động, y tế, công an và tiến hành các bước cần thiết (sẽ được đề cập cụ thể hơn ở chương sau)(6)
Hình 31: Một thiết bị chứa được thiết kế đặc biệt nhằm vận chuyển lượng nhỏ những chấtlỏng dễ cháy