1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

GV lop 1 nghi gi ve 2 bai bao che SGK TV

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 268,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề hình thành kỹ năng đọc viết cho học sinh lớp 1 theo chương trình sách giáo khoa SGK Tiếng Việt lớp 1 hiện nay Thực tế phương pháp dạy tập đọc ở nhà trường hiện nay chưa chú[r]

Trang 1

Nhiều bất ổn trong sách tiếng Việt lớp 1

(Đăng trên Thanh niên Online ngày 22/08/2011 23:17)

Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến góp ý để ban hành tài liệu giảm tải nội dung sách giáo khoa (SGK) trong thời gian tới Bài viết sau đây phản ánh về những hạn chế trong SGK tiếng Việt lớp 1 hiện hành nhằm giúp Bộ có những điều chỉnh hợp lý.

Những trang sách thể hiện sự không thống nhất trong cách viết chữ hoa, chữ thường.

Hình và chữ so le nhau

Nhiều điểm trong quyển sách, tranh minh họa không làm nổi bật được nội dung cần truyền đạt (ở kênh chữ); ý nghĩa khá mơ hồ, đôi khi phải đọc nội dung mới biết được thông điệp đề cập trong tranh.

Chẳng hạn: SGK muốn học sinh nhận ra từ “hè” nhưng lại đưa ra một bức tranh đặc tả cận cảnh những người đang tắm ở hồ bơi Vì thế, không ít thầy cô, khi sử dụng tranh này

để hỏi học sinh, phần lớn các em đều trả lời: Nhìn vào tranh chỉ thấy những người đi tắm Đó là chưa kể những băn khoăn về tính phổ quát của nó, bởi ở miền Nam, miền Tây Nam Bộ, đâu phải người ta chỉ đi tắm hồ (sông) khi đến hè (bài 8, tập 1)

Phải có sự nhất quán kênh hình, kênh chữ

Để cho kênh hình và kênh chữ có sự gắn kết, ngoài việc khắc phục những khuyết điểm hiện có, thiết nghĩ những nhà biên soạn không ngừng “gia cố” mối quan hệ này theo hướng: Thiết kế hệ thống tranh ảnh gọn rõ, đơn giản, không rườm rà, đặc biệt phải gắn liền với nội dung kênh chữ nói riêng, phù hợp với các nội dung dạy học trong chương trình nói chung Tranh ảnh từng bài phải làm nổi bật yếu tố trung tâm Chẳng hạn: với tranh để dạy vần “ươi”, chỉ cần vẽ quả bưởi, với từ ứng dụng “quả bưởi” là được, không cần vẽ thêm múi bưởi nữa; bởi

lẽ ngay trong từ này đã có tiếng chứa vần cần học (ươi) rồi Phải có sự nhất quán trong hệ thống kênh hình, kênh chữ trong suốt nội dung chương trình, tránh tình trạng vênh lệch ngay trong nội bộ của hai phương diện này bởi nó sẽ

dễ gây ra sự phản cảm, cản trở sự lĩnh hội kiến thức về ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh và sự thiếu đồng thuận cả từ phía người dạy lẫn người học.

Ở các bài 14, 15, 18, 19, 20, 22, 23, 32, 36, một số tranh ở phần “Luyện nói” thiếu chi tiết, không tương hợp với nội dung kênh chữ theo quan hệ “một - một” như đa phần tranh khác, gây thiếu nhất quán trong toàn bộ hệ thống kênh hình - kênh chữ, gây trở ngại không nhỏ cho việc dạy - học của giáo viên và học sinh Chẳng hạn trong bài

“Vâng lời cha mẹ” (bài 53, tập 1, trang 109) - nhưng bức tranh chỉ có sự hiện diện của

mẹ “Ao, hồ, giếng” (bài 55, tập 1, trang 113) nhưng tranh chỉ có giếng và ao.

Một vài bức tranh chụp cảnh thực tuy có tính cụ thể, gần gũi với người học nhưng để đạt đến chất lượng của yêu cầu về tính sư phạm, giáo dục thì cần phải xem lại Chẳng hạn

Trang 2

chủ đề luyện nói “Xếp hàng vào lớp” (tập 2, bài 87, trang 11) nhưng bức tranh (cận cảnh) lại thể hiện cảnh học sinh đi vào lớp không thẳng lối ngay hàng, đã thế học sinh còn khoác tay, trêu ghẹo nhau thoải mái Nếu nhìn vào tranh để luyện nói thì chẳng biết thông điệp của bài học có được học sinh tiếp nhận theo chiều hướng tích cực được không?

Tiền hậu bất nhất : Cũng là một nhân vật nhưng trong bộ sách có cách viết (hoa và

thường) khác nhau giữa 27 bài đầu và những bài còn lại Dẫu biết rằng quan điểm của người biên soạn là giai đoạn đầu này học sinh chưa học về chữ hoa nhưng vẫn có rất nhiều sự vật cùng một hệ thống (nhất là hệ thống tên gọi chỉ loài chim, thú), cùng một dạng bài nhưng cách viết hoa dưới mỗi tranh hết sức tùy tiện, thậm chí hiện diện ngay trong cùng một trang sách.

Phần “Tập đọc” và “Luyện nói” (bài 32, tập 1, trang 67) là một minh chứng: Tập đọc:

“Chú Bói Cá nghĩ gì thế? Chú nghĩ về bữa trưa” Luyện nói: “Sẻ, ri, bói cá, le le” Nhìn ngữ liệu này, không ít trẻ sẽ nghĩ: có đến hai loại chim bói cá (viết hoa và không hoa) chăng, và có lẽ chúng khác nhau? Rồi thì hàng loạt các từ khác: Cừu (viết hoa) nhưng hươu, nai, voi, gấu, báo đều viết thường tất tần tật dù chúng đồng đẳng trên một đoạn ứng dụng, một bài, một trang in (bài 42, tập 1, trang 87) Tương tự là Sáo Sậu với châu chấu, cào cào, Sói và Cừu (bài 43, tập 1, trang 89); chuồn chuồn (bài 50, tập 1, trang 103); Mèo, Chuột (bài 74, tập 1, trang 151); Sóc Bông (bài 96, tập 2, trang 29) với lợn con (bài 48, tập 1, trang 99), dê (bài 61, tập 1; trang 125), cò (bài 63, tập 1, trang 129), chim chích (bài 82, tập 1, trang 167), ngỗng (bài 83, tập 1, trang 169), mè, chép, tép, cua, cá (bài 90, tập 2; trang 17), công (tập 2, trang 97) Bảo rằng chúng là danh từ riêng gọi tên nhân vật trong văn bản nên viết hoa thì cũng bất ổn bởi Gấu mẹ, Thỏ mẹ, Chuột nhà, Chuột đồng dẫu là danh từ chung cũng được viết hoa trân trọng (bài 44, 75 tập 1, trang 91, 153); trong khi đó không ít các từ chỉ một nhân vật cụ thể trong truyện (chim chích, ngỗng vàng, công ) vẫn viết thường vô tư!

TS Bùi Thanh Truyền

(Trường ĐH Sư phạm Huế)

Theo Thanh Niên

Phương pháp dạy HS lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt

Đăng trên báo Giáo dục & Thời đại ngày 11/01/2012, 16:27 (GMT+7)

1 Một số vấn đề hình thành kỹ năng đọc viết cho học sinh lớp 1 theo chương trình sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt lớp 1 hiện nay

Thực tế phương pháp dạy tập đọc ở nhà trường hiện nay chưa chú trọng đến cách dạy học sinh ghép âm vần theo hình thức xuôi - ngược, hầu như chỉ dạy học sinh cách ghép xuôi, cho nên để đọc được các vần có cấu trúc: Âm chính + âm cuối -> vần [ac, im ] theo phương pháp nhà trường thì các em phải có đủ một khoảng thời gian rất dài sau quá trình đọc và ghép xuôi thuần thục.Cụ thể: theo chương trình dạy môn Tiếng Việt lớp 1 hiện hành trong nhà trường Tiểu học, đến bài 29 (của phần học vần SGK Tiếng Việt 1) học sinh mới được học các vần có cấu trúc [ Âm chính + âm cuối -> vần ] tức là ở tuần thứ 7 của học kỳ I của học sinh lớp 1 mới bắt đầu học vần Như vậy, thời gian hình thành kỹ năng học vần và ghép các cấu trúc âm tiết có từ 3 âm trở lên của học sinh lớp 1 như hiện nay chưa tạo điều kiện đủ cho học sinh có thời gian luyện tập kỹ năng đọc, viết tiếng Việt thuần thục lên mức kỹ xảo, để học sinh có thể triển khai mức độ đọc chữ thuần thục trên tất cả ngữ âm tiếng Việt Cho nên

Trang 3

hiện nay ở các trường Tiểu học nông thôn, những học sinh ở các khối lớp 1, 2,

4, 5 ( đặc biệt là học sinh Khmer) vẫn chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt, đây

là thực tế rất phổ biến

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng: Những học sinh đọc được vần ngược theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì hầu như các em đọc được tất cả các âm tiết có cấu trúc Âm đầu + vần + dấu thanh trong tiếng Việt, chỉ khác nhau là mức độ đọc thuần thục ở mỗi em Ngược lại, nếu những học sinh nào chưa hình thành được thao tác ghép âm vần theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì các em không thể đọc được các vần theo cấu trúc đó và càng không thể đọc được các chữ trong tiếng Việt có từ 3

âm trở lên theo cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh ]

Từ đó chúng tôi có thể kết luận, trong quá trình dạy trẻ đọc nếu trẻ chưa nắm được phương pháp cấu trúc các âm tiết ở các dạng khái quát [Âm chính + âm đầu-> vần]; [Âm đệm + âm chính-> vần] thì các em sẽ không thể triển khai hành động đọc trên tất các âm tiết có cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh-> âm tiết ]

Như vậy, muốn trẻ em nhanh biết đọc người dạy cần xác định đúng tầm quan trọng của giai đoạn hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết, phải tổ chức cho các em làm việc trực tiếp với con chữ thông qua các hình thức cụ thể như hình thành thao tác đọc, thao tác ghép, phải lựa chọn phương pháp tối ưu nhất

để đẩy nhanh tốc độ hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết cho trẻ càng sớm càng tốt, thời gian còn lại trong năm học các em sẽ đủ điều kiện củng cố, tập luyện kỹ năng đọc lên mức kỹ xảo.

Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

2 Đề xuất phương pháp dạy học sinh lớp 1 nhanh biết đọc biết viết tiếng Việt

Để dạy học sinh học cách phát âm và cách ghép âm tiết đồng thời, chúng tôi

sử dụng một bảng chữ cái tổng hợp làm phương tiện trực quan, cũng đồng thời

là nội dung dạy học Bảng chữ cái tổng hợp được thiết kế theo một số nguyên tắc nhất định, và người dạy cần phải vận hành đúng tinh thần của những nguyên tắc đó Ưu điểm của cách dạy này là cùng một lúc, học sinh phát âm và ghép được rất nhiều âm tiết theo các cấu trúc khác nhau, từ dễ đến khó, hơn thế nữa, học sinh không chỉ dừng lại ở số lượng nắm được bao nhiêu âm, vần, tiếng, mà cái quan trọng là qua cách dạy theo phương pháp ngữ âm trực tiếp -tổng hợp này dựa cơ sở định hướng khái quát, học sinh sẽ nhanh chóng biết được cách phát âm, cách kết hợp các dạng khái quát theo các cấu trúc âm vần Chẳng hạn như các dạng cấu trúc đơn giản Âm chính + âm cuối -> vần [ a - m -> am], Âm đệm + âm chính -> vần [ o - a ® oa] và các âm vần khó: Âm đệm + âm chính + âm cuối -> vần Ngược lại nếu chúng ta dạy cho học sinh đọc chữ với mục đích là cung cấp từng âm vần một, để học sinh học -nhớ các âm vần đó, theo hình thức tăng dần về số lượng tích lũy được thì đó chưa phải là phương pháp tối ưu để giúp học sinh nhanh biết đọc tiếng Việt Vì

Trang 4

trong tiếng Việt có hơn 115 âm tiết được xếp theo vần, nhưng không tính thành phần âm đệm khi sắp xếp, ví dụ vần [oa] Như vậy trong một thời gian nhất định, chúng ta không thể cung cấp để học sinh nhớ hết số lượng các âm vần

đó để triển khai các thao tác cần thiết đọc chữ, quan trọng hơn là dạy học sinh nắm được phương pháp chung nhất về đọc và ghép âm tiết, sau đó biết cách

cụ thể hóa vào các tình huống riêng, cũng như biết triển khai đúng các thao tác của kỹ năng đọc chữ ở tất cả các ngữ âm tiếng Việt Học sinh đạt được mức

độ triển khai thuần thục như vậy thì mới cho là biết đọc chữ

3 Kết luận

Theo phương pháp đọc tiếng Việt hiện nay có nhiều điểm chưa đẩy nhanh tốc

độ đọc chữ thuần thục ở học sinh:

Thứ nhất: cách đọc chữ chủ yếu dạy học sinh ghép xuôi các âm tiết, ít chú ý đến ghép ngược Vì vậy, ở giai đoạn này học sinh chưa có kỹ năng đọc vần và phân tích cấu trúc các loại âm tiết Cụ thể: ngay từ bài đầu ( Bài 1 SGK Tiếng Việt 1) các em được giới thiệu lần lượt các âm, vần cụ thể e, b, … cho đến hết bài 26 thì học sinh mới nhận biết được hết 29 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt in ở trang đầu SGK Tiếng Việt lớp 1, qua bài 29 thì các em mới được học từng vần, cụ thể; Bài 29 học sinh học vần [ ia ] Như vậy, để phát âm được các âm vần có cấu trúc Âm chính + âm cuối -> vần [ac, am, at ] thì theo chương trình học tiếng Việt của học sinh lớp một phải đến tuần thứ 7, các em mới có thể cấu trúc các âm tiết Trong khi đó, ở tuần thứ nhất, theo phương pháp của chúng tôi đã bắt đầu thực hiện

Thứ hai: việc sử dùng nhiều tranh ảnh trong giai đoạn phát âm và ghép vần, ở SGK Tiếng Việt 1 như hiện nay, sẽ dẫn đến hiện tượng học sinh nhìn tranh -đọc chữ, đây là tính chất đặc trưng khi dạy trẻ mẫu giáo lớn, chính điểm này dẫn đến tình trạng học vẹt của học sinh Tiểu học ở đầu cấp Đây cũng là một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng phổ biến ở những học sinh đã học xong chương trình lớp một nhưng chậm biết đọc tiếng Việt

-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ GD & ĐT (2001), Chương trình tiểu học, Nxb Gíáo dục, Hà Nội.

[2] Bộ GD & ĐT (2006), Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[3] Cruchevki.V.A (1980), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[4] Hồ Ngọc Đại (1983) , Tâm lý học dạy học Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[5] Phan Trọng Ngọ (chủ biên) (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nxb Đại học Sư phạm, Hà

Nội

Th.S Trương Thị Thu Minh

(Tổ Bộ Môn chung, trường CĐSP Kiên Giang)

Lấy 2 bài báo trên làm điểm tựa để buộc GV phải nghiên cứu 2 quyển sách có ở thư viên nhiều năm nay nhưng chưa ai đọc : “Hỏi đáp về PP dạy học TV1” (Ts Trần Minh

Phương) và quyển “Trả lời 188 câu hỏi về dạy học TV cấp Tiểu học” (Ths Trần Mạnh Hưởng) Qua đó định hướng nhận thức GV (SGK L1 đúng chứ ko sai) và rèn kĩ năng nghiên cứu, tự chiếm lĩnh kiến thức cho GV (GV L1 miễn làm chuyên đề của GV L2-5)

Phòng GD&ĐT Duy Xuyên Chuyên đề số 1 – Dành cho GV dạy lớp 1

Trường TH Số 3 Nam Phước Năm học : 2012 - 2013

Chuyên đề : Phát biểu ý kiến về 2 bài báo mạng :

Trang 5

Nhiều bất ổn trong sách tiếng Việt lớp 1

(Đăng trên Thanh niên Online ngày 22/08/2011 23:17) (đính kèm)

& Phương pháp dạy HS lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt

Đăng trên báo Giáo dục & Thời đại ngày 11/01/2012, 16:27 (GMT+7)

Họ và tên : Chức vụ :  TTCM  Giáo viên

Sau khi nghiên cứu nội dung 2 bài viết trên, 2 sách nghiệp vụ và nhất là đối chiếu với thực tế dạy học, thực tế SGK, SGV Tiếng Việt lớp 1, tôi xin có một số ý kiến sau :

I Về bài : Nhiều bất ổn trong sách tiếng Việt lớp 1

(Đọc kĩ bài nêu trên, đến thư viện mượn “Hỏi đáp về PP dạy học TV1” (Ts Trần Minh Phương) và quyển “Trả lời 188 câu hỏi về dạy học TV cấp Tiểu học” (Ths Trần Mạnh Hưởng – Câu số 7, trang 22) về quan điểm của Bộ GDĐT liên quan đến vấn đề viết hoa trong SGK lớp 1 để nêu ý kiến của mình theo các gợi ý dưới đây)

1) Các nội dung tôi cho là tác giả nói đúng, SGK TV1 hiện hành bị sai

2) Các nội dung tác giả sai hoặc hiểu nhầm, tôi không đồng tình với tác giả, vì sao ?

3) Theo đ/c, khi nào thì viết “Tiếng Việt”, khi nào thì viết “tiếng Việt” Chỗ nào trong bài trên viết sai chính tả từ đó ? Việc dùng i/y trong bài đó có gì khác với SGK ?

3) Các vấn đề tôi còn chưa phân định được đúng/sai, cần thảo luận tổ (viết ở trang sau) I Về bài : Phương pháp dạy HS lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt 1) Phương pháp mà tác giả cho là “dạy HS lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt”cụ thể là gì?

Trang 6

2) Tác giả là người “nghiên cứu lí luận”, còn dưới góc độ “nghiên cứu ứng dụng”, đ/c sẽ ứng dụng PP dạy TV1 của Thu Minh ở điểm nào (biện pháp nào)? Hãy nêu ưu điểm, hạn chế của PP dạy học Thu Minh và của chuyên đề “Dạy TV L1 theo hướng thật sự xem tiết TV1 là sân chơi của học sinh TB & Yếu” hiện hành (có thể kẻ table để so sánh)

3) Tác giả Thu Minh cho rằng “ tiếng Việt có hơn 115 âm tiết được xếp theo vần ”

Đ/c hãy đoán thử tác giả muốn nói đến những âm tiết nào (hãy ví dụ 10 âm tiết đó)

4) Theo PP của Thu Minh, tuần thứ nhất mà đã dạy cho hs lớp 1 “ac, am, at ”, còn PPDH của chúng ta thì tuần 7 hs mới học Theo đ/c, điều đó đúng/sai thế nào ?

5) Hãy sửa câu “Theo phương pháp đọc tiếng Việt hiện nay có nhiều điểm chưa đẩy nhanh tốc độ đọc chữ thuần thục ở học sinh.” cho đúng ngữ pháp, bằng 2 cách .

Để định hướng GV, có một CBQL đã viết ý kiến sau đây, gửi vào mục

“Ý kiến của bạn” của các website hoặc báo có đăng bài trên:

Trang 7

Tôi tưởng tác giả là người ngoài ngành giáo dục

Sau khi đọc bài này, tôi thấy rằng n ếu tác giả giảm đi phần phê phán PPDH TV lớp 1 trong nhà trường hiện nay và minh họa cụ thể cách thức dạy theo PP mà tác giả cho là sẽ giúp “HS lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt” thì sẽ tốt hơn, vì tôi chẳng thấy một điều gì là mới Tác giả đưa ra nhiều khái niệm mới không có trong kiến thức “tiền

giả định” của nhiều người (hoặc là tác giả đã trộn lẫn các khái niệm để tạo thuật ngữ mới một cách tùy tiện mà không cho ví dụ nên người đọc không hiểu) như “ghép vần

theo hình thức xuôi ngược - ” ghép các cấu trúc âm tiết có từ 3 âm trở lên” – “đọc chữ

thuần thục trên tất cả ngữ âm tiếng Việt” – “đọc được vần ngược theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac]” - “chữ trong tiếng Việt có từ 3 âm trở lên theo cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh]” – “ít chú ý đến ghép ngược “ - “các em mới có thể cấu

trúc các âm tiết”…

Không rõ “âm tiết có từ 3 âm trở lên” và “chữ trong tiếng Việt có từ 3 âm trở lên theo cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh]” mà tác giả viết như trên là cái gì mà chưa thấy nói đến trong ngữ âm học hoặc ngữ pháp học hiện hành ?

Nhận định của tác giả về kênh hình trong giai đoạn học chữ cũng làm cho nhiều giáo viên dạy lớp 1 nhận thấy tác giả Thu Minh có nhiều điểm “lạ” so với các giáo viên sư phạm khác Quy luật của nhận thức là “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng…”, hình ảnh trực quan là vô cùng cần thiết đối với trẻ lớp 1 mới đi học chữ, sao tác giả lại bài xích ?

Nếu phân tích từng ý nhỏ trong đoạn đầu, từ “Thực tế phương pháp tập đọc… đây là thực tế phổ biến”, tôi thấy nhiều “vấn đề” đáng ngờ về kiến thức chuyên ngành của tác giả

Tác giả nói rằng “tiếng Việt có hơn 115 âm tiết được xếp theo vần”, không rõ tác giả muốn nói điều gì, chứ lâu nay giáo viên chúng tôi được biết rằng “tiếng Việt có khoảng 165 vần và 6100 âm tiết”…

6) Theo đ/c, ý kiến trên đúng/sai thế nào ? Hãy giải đáp các câu hỏi của người nêu ý kiến trên.

7) Đ/c có hiểu tác giả nói gì trong đoạn : “Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng : Những học sinh đọc được vần ngược … cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh ].?

7) Tác giả viết thiếu rất nhiều dấu phẩy Hãy vạch (/) vào các chỗ thiếu đó.

Ngày đăng: 04/06/2021, 11:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w