Cơ sở lý luận
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) của cộng đồng được xác định qua gánh nặng bệnh tật và các nguy cơ tới sức khỏe
Gánh nặng bệnh tật được đánh giá thông qua các chỉ số mắc bệnh và tử vong, cũng như các chỉ số tổng hợp như số năm sống mất đi do bệnh tật, tàn phế và chết non (Dalys).
Việc đo lường nhu cầu chăm sóc sức khỏe, bao gồm khám chữa bệnh khi ốm đau, phòng bệnh khi chưa bị ốm và truyền thông tư vấn sức khỏe, là một thách thức lớn.
Để thu thập dữ liệu y tế chính xác, thường cần dựa vào nhiều nguồn thông tin như điều tra y tế hộ gia đình, khám sàng lọc và kiểm tra sức khỏe cộng đồng Mặc dù những phương pháp này có giá trị khoa học cao, nhưng chúng cũng rất tốn kém và gặp nhiều vấn đề về phương pháp Số liệu từ các báo cáo bệnh viện về bệnh tật theo phân loại ICD10, đã được sử dụng thống nhất trong hệ thống báo cáo trong nhiều năm, cùng với việc nâng cao khả năng chẩn đoán tại các bệnh viện, cho phép phân tích chính xác cơ cấu bệnh tật trong cộng đồng.
Y học gia đình
Sự ra đời của chuyên khoa y học gia đình vào những năm 1960 đã phản ánh sự thay đổi trong mô hình bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, đồng thời là một phản ứng kịp thời của hệ thống y tế toàn cầu Y học gia đình kết hợp giữa y học lâm sàng, y học dự phòng, tâm lý học và khoa học hành vi, nhờ đó mô hình này đã phát triển và được nhân rộng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Vào những năm 1960, Anh, Hoa Kỳ và Canada đã bắt đầu triển khai chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa thực hành Năm 1972, Hội Bác sỹ gia đình toàn cầu (WONCA) được thành lập với mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân thông qua nguyên lý chăm sóc liên tục, toàn diện và phối hợp trong bối cảnh gia đình và cộng đồng.
Theo định nghĩa của WONCA (1991), bác sĩ gia đình (BSGĐ) là những thầy thuốc chịu trách nhiệm chính trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện và liên tục cho tất cả các cá nhân BSGĐ đóng vai trò như thầy thuốc đa khoa, phục vụ mọi người trong cộng đồng mà không phân biệt độ tuổi, giới tính, chủng tộc, văn hóa hay tình trạng bệnh tật.
Tại Hoa Kỳ, Học viện Bác sĩ gia đình Hoa Kỳ (AAFP) mô tả y học gia đình là một chuyên ngành y khoa cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe liên tục và toàn diện cho cá nhân và gia đình Chuyên ngành này bao gồm các khía cạnh sinh học, lâm sàng và hành vi, phục vụ mọi đối tượng ở mọi lứa tuổi, cả nam và nữ, cùng với tất cả các hệ cơ quan và loại bệnh tật.
Chăm sóc sức khỏe hộ gia đình, hay chăm sóc sức khỏe tại nhà, đã xuất hiện tại Việt Nam hơn 10 năm nhưng vẫn chưa phát triển và hoạt động hiệu quả.
Năm 2000, chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án phát triển BSGĐ, với sự tham gia của ba trường đại học: Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Mục tiêu chính của dự án là đào tạo bác sĩ chuyên khoa I về Y học gia đình và xây dựng các phòng khám ngoại trú hoạt động theo nguyên lý của y học gia đình.
Vào tháng 03/2002, Bộ Y tế đã cho phép đào tạo bác sĩ chuyên khoa Y học gia đình, mở ra cơ hội cho 547 bác sĩ chuyên khoa I và nhiều bác sĩ khác tham gia vào lớp đào tạo định hướng Y học gia đình Đến năm 2005, Việt Nam đã thành lập Hội Bác sĩ Gia đình theo quyết định số 43/2005/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ký ngày 26/04/2005.
Năm 2010, Trường Đại học Y Hà Nội đã triển khai chương trình đào tạo Thạc sỹ Y học gia đình, đồng thời Phòng khám BSGĐ hoạt động như một phòng khám nội tổng hợp, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh tại nhà cho bệnh nhân.
Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà bao gồm tư vấn, giáo dục sức khỏe và chăm sóc điều dưỡng Có ba loại thăm khám bệnh của bác sĩ cho bệnh nhân tại nhà: thăm khám để đánh giá tình trạng sức khỏe, thăm khám để tiếp tục chăm sóc và thăm khám bệnh cấp tính.
Đối tượng và phương pháp khảo sát
Đối tượng: Người bệnh đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 4/2020 đến tháng 11/2020, đồng ý trả lời phỏng vấn
Phương pháp khảo sát: Phỏng vấn người bệnh bằng phiếu thiết kế sẵn.
Cỡ mẫu: Dựa vào công thức tính cỡ mẫu cho ước tính theo một tỷ lệ. p(1- p) n = Z 2 (1 – α/2)
- n: Là cỡ mẫu cần thiết
- α: Mức ý nghĩa thống kê (chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%)
- p = 0,35: Tỷ lệ người đang điều trị có nhu cầu CSSK tại nhà qua điều tra thử - ε = 0,15: Sai số mong muốn giữa mẫu nghiên cứu và quần thể
Thay các tham số được n = 320 Thực tế trong khoảng gian từ tháng 4/2020 đến tháng 11/2020 đã có 321 người bệnh tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Lập danh sách tất cả bệnh nhân đang điều trị tại từng khoa phòng trong bệnh viện, sau đó dựa vào cỡ mẫu và số lượng bệnh nhân hiện tại để tính toán khoảng mẫu k cho từng khoa phòng.
Tại từng khoa phòng chọn ngẫu nhiên số i trong khoảng từ 1 đến K, các bệnh nhân được chọn có số thứ tự lần lượt là i; i+1k; i+2k; … cho đến đủ số lượng.
Xử lý và phân tích số liệu:
Số liệu được làm sạch, nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và được phân tích bằng phần mềm STATA 10.0
2.2 Nhu cầu CSSK tại nhà của người bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương 2.2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm của người bệnh (n21) Đặc điểm đối tượng Số lượng Tỷ lệ %
Quê quán Thị xã/thị trấn 64 18,55
Thời gian đi từ nhà Dưới 1h 242 75,44 đến nơi đang điều Trên 1h 79 24,56 trị bằng ô tô/xe máy
Trong số 321 đối tượng tham gia nghiên cứu có 215 là nam giới (61,68%) và 103 nữ giới (38,32%)
Phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu sống ở nông thôn với 48,99% và 32,17% người điều trị nội trú sống ở thành phố
Thời gian từ nhà tới BV bằng ô tô/xe máy phần lớn mất dưới 1h (75,44%) Loại bệnh theo mức độ nhẹ, vừa và nặng lần lượt là 22,43%; 46,11% và
2.2.2 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh
Bảng 2: : Điểm mức độ ưu tiên triển khai các dịch vụ CSSK tại nhà
Loại dịch vụ n Điểm Trung vị SD
CSSK tại nhà 345 3,02 3 1,09 Đăng ký CSSK qua điện thoại 345 3,39 4 1,20 Đăng ký CSSK qua internet 345 2,57 3 1,29
Trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK), dịch vụ đăng ký qua điện thoại được đánh giá là ưu tiên nhất với điểm trung bình 3,39 Tiếp theo, dịch vụ CSSK tại nhà đạt 3,02 điểm Trong khi đó, dịch vụ đăng ký CSSK qua internet có mức độ ưu tiên thấp nhất với chỉ 2,57 điểm.
Trong số 321 người bệnh được khảo sát, 101 (31,46%) người trả lời muốn được chăm sóc tại nhà sau khi ra viện
CSSK tại nhà Đăng ký CSSK qua điện Đăng ký CSSK qua Không nên Nên nhưng khó khả thithoại Không rõ Nên Rất nên internet
Biểu đồ 1: Phân bố mức độ ưu tiên của NB cho rằng bệnh viện nên cung cấp dịch vụ CSSK tại nhà
Biểu đồ cho thấy một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân nội trú ủng hộ việc triển khai dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, đặc biệt là dịch vụ đăng ký khám qua điện thoại với 46,09% ý kiến Trong đó, 14,20% cho rằng rất nên triển khai dịch vụ này Mặc dù dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà nhận được sự ủng hộ với 34,49%, nhưng có tới 28,99% cho rằng triển khai khó khăn và 22,61% không rõ ràng Ngược lại, 29,28% bệnh nhân không ủng hộ việc triển khai dịch vụ đăng ký chăm sóc sức khỏe qua internet, trong khi chỉ có 24,35% cho rằng nên thực hiện.
Trong số 101 bệnh nhân tham gia khảo sát về nhu cầu chăm sóc tại nhà, một số người có nhu cầu sử dụng nhiều hơn một dịch vụ chăm sóc khác nhau.
Bảng 3: Phân bố nhu cầu chăm sóc tại nhà theo dịch vụ (na8) Dịch vụ chăm sóc tại nhà Số lượng Tỷ lệ %
Chăm sóc sau điều trị 117 18,93
Bảng 2 chỉ ra rằng, mặc dù đang điều trị nội trú tại bệnh viện, người bệnh vẫn có nhu cầu cao về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, với tỷ lệ 26,54% mong muốn được tư vấn sức khỏe và 23% cần khám chuyên khoa Trong khi đó, nhu cầu chăm sóc sau điều trị và chăm sóc tại nhà chỉ đạt 18,93% và 15,53% Các dịch vụ như lấy máu xét nghiệm và phục hồi chức năng có tỷ lệ nhu cầu thấp nhất.
CSSK tại nhà: tăng 30% + chi phí đi lại Xét nghiệm tại nhà tăng 20% + phí đi lại
Biểu đồ 2 cho thấy khả năng chi trả của người bệnh điều trị nội trú cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà đã tăng 30%, trong khi chi phí đi lại chỉ chiếm 33,71% Đồng thời, nhu cầu về dịch vụ xét nghiệm tại nhà cũng tăng 20%, nhưng phí đi lại của người cung cấp dịch vụ lại chiếm tỷ lệ cao hơn, lên đến 44,43%.
Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Bông (2012), 66% bệnh nhân bày tỏ nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc tại nhà Trong số đó, 33,71% có khả năng chi trả cho dịch vụ này với mức chi phí tăng thêm 30% cùng với chi phí đi lại.
Kết quả khảo sát của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Đoàn Thị Bông, có thể do đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện Phổi Trung ương chủ yếu là bệnh nhân lao và bệnh phổi mạn tính, nhiều người trong số họ gặp khó khăn tài chính Đối tượng này đến từ nhiều tỉnh thành và khoảng cách từ nhà đến bệnh viện khá xa, dẫn đến lo lắng về khả năng hồi phục khi rời bệnh viện Họ cũng e ngại việc nhân viên bệnh viện đến thăm tại nhà là khó khăn và chi phí di chuyển sẽ rất cao.
Kết quả khảo sát 321 bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Phổi Trung ương cho thấy có 31,59% bệnh nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà Dựa trên kết quả sơ bộ này, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.
Khảo sát ban đầu cho thấy người bệnh có nhu cầu cao về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà Phòng điều dưỡng cần tư vấn cho Ban giám đốc triển khai các gói dịch vụ này nhằm giảm tải cho bệnh viện và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân.
Xây dựng kế hoạch/gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh đang điều trị nội trú tại bệnh viện Phổi Trung ương:
1 Khảo sát sâu nhu cầu của người sử dụng:
- Bộ công cụ khảo sát
- Người bệnh, người nhà người bệnh đang điều trị tại bệnh viện
- Thu thập, phân tích, đánh giá nhu cầu => lên kế hoạch triển khai thực hiện
2 Xây dựng các gói dịch vụ: chi tiết giá để người sử dụng lựa chọn: Bác sỹ khám bệnh tại nhà:
- Khám nội khoa: Cảm lạnh, sốt, cúm, đau cổ họng, phát ban, đau dạ dày, đau đầu, buồn nôn
- Khám các bệnh mạn tính: các bệnh về phổi (Hen phế quản, COPD, lao…) Hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường, bệnh tim, gan thận
Gói chăm sóc ban ngày
Gói chăm sóc ban đêm
Gói chăm sóc toàn thời gian theo tháng Mỗi ngày 24 giờ
Trong mỗi ca/ngày, nhân viên chăm sóc sẽ thực hiện các công việc sau:
Làm công việc như một người nhà trong chăm sóc, trông NB tại nhà.
Theo dõi các chỉ số sức khỏe như mạch, nhiệt độ, huyết áp và dịch truyền là rất quan trọng, đồng thời cần thông báo tình hình bệnh nhân cho gia đình và bác sĩ, gọi cấp cứu khi cần Ngoài ra, việc mua sắm và chuẩn bị thức ăn cho bệnh nhân, như bón cơm, cháo và cho uống sữa, cũng là nhiệm vụ cần thiết để đảm bảo dinh dưỡng cho họ.
Xoa bóp vùng đau nhức, vỗ rung lưu thông khí huyết cho bệnh nhân.
Giám sát lịch uống thuốc là rất quan trọng, đảm bảo người bệnh tuân thủ đúng y lệnh của bác sĩ Ngoài ra, đội ngũ bác sĩ cố vấn và bộ phận theo dõi sẵn sàng hỗ trợ khi cần thiết, giúp nâng cao hiệu quả điều trị.
Dịch vụ chăm sóc bệnh nhân tại nhà:
Lấy máu xét nghiệm và trả kết quả tại nhà
Chăm sóc bệnh nhân mạn tính, ung thư và những người bệnh nặng ở giai đoạn cuối đời tại nhà là một dịch vụ thiết yếu Chúng tôi cung cấp dịch vụ đưa bệnh nhân đi khám bệnh và tổ chức những buổi dạo chơi thư giãn ngoài trời Ngoài ra, chúng tôi cũng đáp ứng các yêu cầu dịch vụ khác theo nhu cầu của Quý vị.
- Trực tiếp: khi người bệnh đang nằm nội trú và người nhà người bệnh
- Qua phương tiện thông tin đại chúng: Trang website bệnh viện
4 Chuẩn bị cơ sở vật chất, hạ tầng:
- Văn phòng làm việc (tiếp nhận, trả lời thông tin): Phòng làm việc, số điện thoại đường dây nóng
- Thuốc, vật tư tiêu hao, máy móc trang thiết bị y tế phục vụ CSNB
- Phương tiện vận chuyển, đi lại: Xe cứu thương, xe máy
- Nhân viên chuyên trách truyển thông, tư vấn, hỗ trợ chăm sóc
6 Thời gian thực hiện: sau khi công tác chuẩn bị hoàn tất, sẵn sàng cho triển khai thực hiện
- Người bệnh sau điều trị nội trú xuất viện cần tiếp tục theo dõi, chăm sóc tại nhà
- Đối tượng mới: nhân dân
- Ngắn hạn: Nội thành Hà Nội
- Trung, dài hạn: mở rộng toàn bộ địa bàn Hà Nội
Cần tiến hành nghiên cứu toàn diện, bao gồm cả phương pháp định tính và định lượng, để khảo sát tất cả các đối tượng như khách hàng, nhân viên bệnh viện và các nguồn lực của bệnh viện Việc này giúp xác định chính xác và dự đoán nhu cầu thực sự của khách hàng cũng như khả năng đáp ứng của bệnh viện.
Để triển khai thành công các gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, cần xác định rõ các rào cản từ cả hai phía: người sử dụng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ Đồng thời, cần đề xuất các biện pháp khắc phục hiệu quả nhằm tối ưu hóa quá trình cung cấp dịch vụ, đảm bảo sự hài lòng và an toàn cho người dùng.
Kết quả khảo sát 321 người bệnh cho thấy có 31,59 % người bệnh trả lời có nhu cầu CSSK tại nhà
Thời gian từ nhà đến nơi đang điều trị của đối tượng chủ yếu là dưới 1 giờ với 75,44%
Khả năng chi trả của các đối tượng cho chi phí gia tăng khoảng 30% của các dịch vụ là thấp (33,71%)