1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại khoa nội tổng hợp, bệnh viện đa khoa khu vực phúc yến năm 2020

55 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 608,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (12)
    • 1.2. Giáo dục sức khỏe cho người bệnh (16)
    • 1.3 Vai trò người điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh (17)
    • 1.4 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe đối với người bệnh (21)
    • 1.5 Cơ sở thực tiễn (21)
  • Chương 2 THỰC TRANG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG .16 (0)
    • 2.1 Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng trong nước và trên thế giới (24)
    • 2.2 Thực trạng công tác GDSK cho NB của ĐD tại khoa Nội tổng hợp Bệnh viện đa (25)
    • 2.3. Phân tích điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện công tác GDSK của điều dưỡng (29)
  • Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP (0)
  • KẾT LUẬN (33)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)

Nội dung

Năm 1984, Hội điều dưỡng Canada Canadia Nurses Asscociation đã nêu một định nghĩa về ngành Điều dưỡng: “Điều dưỡng nghĩa là phải chăm sóc người bệnh phù hợp với bệnh tật của họ bao gồm c

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về giáo dục sức khỏe:

Giáo dục sức khỏe: là một quá trình tác động có mục đích và có kế hoạch lên tình cảm và lý trí của con người nhằm tạo ra hành vi có lợi hoặc làm thay đổi hành vi sức khỏe (từ có hại thành có lợi) cho cá nhân và cộng đồng[1]

Mục đích chủ yếu của GDSK là giúp cho đối tƣợng tự nguyện tự giác thay đổi hành vi sức khỏe của chính mình

Hành vi sức khỏe là hành vi con người có liên quan tới việc tạo ra sức khỏe tốt, bảo vệ và phục hồi sức khỏe [1],[2],[15]

1.1.2 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe:

GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe Nó có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển

GDSK không thay thế được các công tác chăm sóc sức khỏe khác, nhưng GDSK rất cần thiết để thúc đẩy những người sử dụng các dịch vụ y tế, cũng như thúc đẩy phát triển các dịch vụ này

Trong thực tế đã thấy rõ, nếu không làm tốt GDSK thì nhiều chương trình y tế sẽ đạt kết quả thấp và không bền vững, thậm chí có nguy cơ thất bại

So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, GDSK là một công tác khó làm và khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, nhất là ở tuyến y tế cơ sở

GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ trung ƣơng đến cơ sở Nó là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của một cơ sở y tế [11],[15]

1.1.3 Các phương pháp giáo dục sức khỏe:

1.1.3.1 Phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp [1], [2]

Phương pháp GDSK trực tiếp là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp xúc với đối tượng GDSK Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng Người GDSK có thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh cao và có hiệu quả tốt trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành vi

Phương pháp này đòi hỏi nhân viên GDSK phải được huấn luyện tốt về các kỹ năng GDSK nhất là kỹ năng giao tiếp, tư vấn

Là một hình thức thường được sử dụng trong GDSK, đặc biệt đối với cá nhân và gia đình Trong tư vấn, người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng, động viên đối tượng suy nghĩ về vấn đề và chọn các hành động riêng để giải quyết vấn đề Tư vấn còn hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang mang, lo sợ về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ chúng

+) Nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức:

Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp mọi người trực tiếp được nghe những thông tin mới nhất về các vấn đề sức khỏe liên quan tới cá nhân, gia đình và cộng đồng nhằm giúp các đối tượng suy nghĩ và hướng tới việc thay đổi hành vi Tuy nhiên phương pháp này cần kết hợp các phương pháp và sự hỗ trợ khác

Khi tổ chức một buổi nói chuyện cần làm các việc sau:

Xác định rõ chủ đề nói chuyện và chỉ nên khu trú vào một chủ đề nhất định Xác định đối tượng tham dự, ngày giờ, địa điểm và thông báo trước để họ chuẩn bị tới dự (chọn thời gian và địa điểm thích hợp)

Xác định nội dung cốt lõi cần trình bày

Xác định thứ tự trình bày

Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ thích hợp với chủ đề và thực tế tại địa phương

Phải tôn trọng đối tượng

Xây dựng mối quan hệ với đối tượng trước khi nói chuyện

Nên sử dụng ngôn ngữ địa phương rõ ràng, mạch lạc

Cần kết hợp với tranh ảnh, mô hình và ví dụ minh họa

Cần bao quát, quan sát đối tượng để điều chỉnh, giải đáp thắc mắc đầy đủ khi đối tượng yêu cầu

Kết thúc buổi nói chuyện cần tóm tắt những vấn đề mấu chốt nhất cho đối tượng dễ nhớ

+) Tổ chức thảo luận nhóm:

Rất có hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như trong GDSK Thảo luận nhóm trong GDSK là ứng dụng nguyên lý "sự tham gia của cộng đồng" trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Một nhóm thảo luận tốt nhất là từ 6 - 10 người để tạo cơ hội cho tất cả các thành viên có thể trình bày và thảo luận làm sáng tỏ những vấn đề chưa hiểu biết và nêu ra các biện pháp giải quyết các vướng mắc của họ hay của cộng đồng trong đó có họ sinh sống

Các điểm cần thực hiện khi tổ chức thảo luận nhóm:

Xác định chủ đề, nội dung trọng tâm

Xác định mục tiêu của thảo luận nhóm

Xác định đối tượng mời vào thảo luận nhóm

Cần chuẩn bị trước câu hỏi trọng tâm cho chủ đề thảo luận dựa trên những thông tin phù hợp với tình hình thực tế

Trong một số trường hợp, tư vấn cần đáp ứng nhu cầu bí mật cho các đối tượng bị các bệnh xã hội có định kiến như bệnh lây qua đường tình dục

+) Đối thoại trực tiếp giữa người làm GDSK với từng cá nhân trong lúc tiến hành các dịch vụ y tế

Phương pháp giáo dục sức khỏe gián tiếp [1], [2]

GDSK gián tiếp là phương pháp giáo dục mà người giáo dục không trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng giáo dục, các nội dung giáo dục cần được chuyển tải qua các phương tiện thông tin đại chúng

Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dân một cách có hệ thống Đó là phương pháp hiện nay vẫn được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta

Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận hành sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng

Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp GDSK gián tiếp là: Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, video

Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi

Sách chuyên đề, sách hỏi đáp về sức khỏe bệnh tật

1.1.4 Phương tiện giáo dục sức khỏe [1], [2], [15]

Phương tiện GDSK là công cụ mà người GDSK sử dụng để thực hiện một phương pháp GDSK và qua đó truyền đạt nội dung GDSK cho đối tượng GDSK

Phân loại các phương tiện GDSK bao gồm:

Giáo dục sức khỏe cho người bệnh

- GDSK nhằm giúp người bệnh hiểu rõ về bản chất của bệnh, các yếu tố nguy cơ cho sự tiến triển của căn bệnh, vai trò của người bệnh trong việc đạt đến kết quả điều trị tối ưu

- GDSK giúp cải thiện tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị: dùng thuốc đều đặn, luyện tập vạn động đều đặn, duy trì tình trạng dinh dưỡng ổn định

- Loại hình GDSK: phân phát các tài liệu in ấn, tổ chức các buổi trình bày có minh họa bằng hình ảnh và tài liệu phát tay, thảo luận trong nhóm nhỏ giúp hiểu rõ nội dung thông tin, trao đổi kinh nghiệm

- Các nội dung GDSK: Sinh bệnh học bệnh, kỹ năng sử dụng thuốc, hướng dẫn về dinh dưỡng, nhận biết và xử trí các dấu hiệu cảnh báo dấu hiệu năng, cách vệ sinh

- Kỹ thuật sử dụng thuốc:

+ Có vai trò quan trọng trong tuân thủ điều trị

+ Ưu khuyết điểm của từng dạng thuốc

+ Hướng dẫn chi tiết, có hình ảnh minh họa, có thực hành

Các dấu hiệu cảnh báo tiến triển nặng:

+ Giúp người bệnh nhận biết sớm nhất khi có các triệu chứng khởi đầu

+ Có thái độ và cách xử trí thích hợp

+ Giảm bớt di chứng, tỷ lệ tử vong

+ Giảm bớt số lần nhập viện, thời gian nằm viện và chi phí y tế

+ Giúp người bệnh lựa chọn môi trường

+ Sống chung với di chứng bệnh với chất lượng cuộc sống tốt

+ Hướng dẫn chi tiết và chu đáo những vấn đề trong đời sống hàng ngày, bao gồm cả đời sống tinh thần [5]

Vai trò người điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh

Cách đây khoảng 100 năm, Florence Nightingale đã đưa ra một định nghĩa về ngành Điều dưỡng: “Điều dưỡng là một hành động thiết thực bảo vệ môi trường chung quanh người bệnh để giúp người bệnh bình phục” Florence Nightingale đã đề cao vài trò của công tác điều dưỡng, người điều dưỡng không những đươch huấn luyện để chăm sóc bệnh nhân ốm đau mà còn được huấn luyện như người nội trợ [15]

Thập liên 60, Virginia Henderson là một trong những người điều dưỡng đầu tiên nêu ra định nghĩa điều dưỡng: “Chức năng của điều dưỡng là giúp đỡ các cá thể, đau ốm hoặc khỏe mạnh, giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống và bình phục nhanh chóng Người điều dưỡng cần thiết phải có sức khỏe, thông minh, có kiến thức và có phong thái làm việc càng nhanh càng tốt” Henderson cho rằng, người điều dưỡng cần phải chăm sóc người bệnh không kể họ ốm đau hay khỏe mạnh Bà còn đề cập đến việc giáo dục và ủng hộ vai trì của người điều dưỡng [15]

Năm 1984, Hội điều dưỡng Canada (Canadia Nurses Asscociation) đã nêu một định nghĩa về ngành Điều dưỡng: “Điều dưỡng nghĩa là phải chăm sóc người bệnh phù hợp với bệnh tật của họ bao gồm cả việc luyện tập về tinh thần, chức năng và phục vụ người bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp, giúp cho người bệnh cải thiện sức khỏe, ngăn chặn ốm đau, hòa nhập vào cộng đồng và xã hội”

Bước sang thế kỷ XXI, ngành Điều dưỡng được xem như là một nghệ thuật một môn khoa học Điều dưỡng là một ngành, nghề chăm sóc người bệnh [15]

Chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi sức khỏe cũng như toàn bộ những vấn đề khác của người bệnh, chính vì vậy ngày từ những năm 1950 Virginia Henderson đã nêu: chăm sóc phải thỏa mãm các nhu cầu vật chất, tâm lý, văn hóa – xã hội và tinh thần của người bệnh Dựa trên cơ sở nền tảng này, năm 1988 Danielsson và cộng sự đã nhận định “Về mặt nào đó công tác chăm sóc trùng hợp với công tác điều trị đồng thời bổ xung cho công tác điều trị nhằm tập trung giải quyết những vấn đề thể chất, tâm lý, xã hội và văn hóa cho người bệnh” [15]

Từ những quan điểm trên cho thấy để công tác chăm sóc mang đúng nghĩa của nó và đảm bảo được chất lượng chăm sóc người bệnh góp phần nâng cao chất lượng điều trị, từ đó tạo dựng niềm tin với người bệnh, nâng cao uy tín của bệnh viện thì công tác chăm sóc người bệnh toàn diện như chỉ thị của Bộ Y tế nhằm đưa chất lượng công tác chăm sóc người bệnh ở nước ta đi dần vào nề nếp và đảm bảo hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới [15]

Virginia Henderson đưa ra định nghĩa về chức năng chăm sóc như sau: “Chức năng đặc trưng nhất của người điều dưỡng là giúp đỡ những cá nhân ốm yếu thực hiện những hoạt động của cơ thể mà họ không tự mình thực hiện để góp phần cho sự bảo vệ hoặc phục hồi sức khỏe hoặc nếu chết thì cũng được chết thanh thản Thực hiện nhiệm vụ này bằng một cách nào đó nhằm giúp người bệnh lấy lại sự độc lập của cơ thể càng nhanh càng tốt Khía cạnh công việc này, phần chức năng này là do người điều dưỡng chủ động thực hiện và tự điều khiển về lĩnh vực này người điều dưỡng là bậc thầy [15] Để thực hiện đầy đủ vai trò và chức năng nghề nghiệp của mình, trong công việc hàng ngày người điều dưỡng cần phải thực hiện các chức năng:

- Chức năng phụ thuộc: đây là chức năng mà người điều dưỡng phải thực hiện những y lệnh của bác sỹ như tiêm thuốc, phát thuốc, thay băng…

- Chức năng độc lập: đây là chức năng đặc trưng của người điều dưỡng Với chức năng này người điều dưỡng phải tự mình thăm khám, nhận định về người bệnh để đưa ra những chẩn đoán điều dưỡng rồi lập kế hoạch chăm sóc, thực hiện kế hoạch chăm sóc đã đề ra rồi tự đánh giá sự thực hiện kế hoạch đó để có kế hoạch chăm sóc bệnh tiếp theo

- Chức năng phối hợp: để hoàn thành được chức năng này, người điều dưỡng cần phải có sự liên hệ chặt chẽ với các nhân viên y tế khác như bác sỹ, kỹ thuật viên, nhà dinh dưỡng học, nhà tâm lý học, nhân viên y tế quản lý người bệnh ở tuyến cơ sở và cá nhân viên xã hội để thu nhập them hoặc cung cấp những thông tin về người bệnh hoặc yêu cầu sự giúp đỡ của những nhân viên đó để người bệnh được chăm sóc đầy đủ và toàn diện hơn [15] Đối với người bệnh, điều dưỡng phải đảm bảo những vai trò sau:

- Người chăm sóc: Đảm bảo những quy trình chăm sóc lâm sang hoàn hảo Mục tiêu cơ bản của người điều dưỡng là thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người bệnh bằng hành động, bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của người bệnh Mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thay thế được sự chăm sóc của người điều dưỡng vì các thiết bị này sẽ không tác động được tới cảm xúc và điều chỉnh hành động cho thích ứng với những nhu cầu đa dạng của mỗi người bệnh

- Người truyền đạt thông tin: Người điều dưỡng thông tin với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch chăm sóc và việc thực hiện kế hoạch chăm sóc cho mỗi người bệnh Mỗi khi thực hiện một sự can thiệp về chăm sóc, người điều dưỡng phải ghi chép vào hồ sơ những nhận xét và những thủ thuật đã thực hiện cũng như sự đáp ứng của người bệnh Người điều dưỡng thường xuyên giao tiếp cả bằng lời và bằng ngôn ngữ viết mỗi khi bàn giao ca, mỗi khi chuyển người bệnh tới một khoa khác hoặc khi người bệnh ra viện hay tới một cơ sở y tế khác

- Người tư vấn: Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh biết và đương đầu với những căng thẳng về tâm lý bệnh tật hoặc những vấn đề xã hội, có kiến thức nâng cao sức khỏe Người điều dưỡng tạp trung khuyến khích người bệnh có ý thức tự kiểm soát Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc một nhóm người và đòi hỏi người điều dưỡng phải có kỹ năng để phân tích tình hình, tổng hợp thông tin, đánh giá quá trình tiến triển của người bệnh sau khi đã được tư vấn Người bệnh cần có them kiến thức để tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằm viện

- Người biện hộ cho người bệnh: Người biện hộ nghĩa là thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, đảm bảo cho những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng Ngoài ra, người điều dưỡng còn có vai trò là người lãnh đạo, người quản lý, người làm công tác nghiên cứu điều dưỡng và là những chuyên gia giỏi về chăm sóc lâm sàng

Tại các nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada… cũng như các nước đang phát triển như Thái Lan, Philipines, Malaysia… điều dưỡng viên đã được nâng cao vai trò trong việc quản lý các cơ sở y tế ban đầu, bệnh viện, đội chăm sóc sức khỏe, tham gia khám và điều trị, chăm sóc các bệnh cấp và mãn tính theo chuyên ngành của điều dưỡng và có mặt trong hầu hết các lĩnh vực khác và là nghề đang được kính trọng hiện nay [15]

Trước năm 1990, ở Việt Nam người điều dưỡng có tên gọi là Y tá với chức năng phụ thuộc và vai trò phụ giúp, thực hiện y lệnh của thầy thuốc là chính Họ được đào tạo ngắn hạn dưới một năm, làm theo phương pháp cầm tay chỉ việc Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện nâng cao chương trình đào tạo điều dưỡng với đội ngũ điều dưỡng cao đẳng (3 năm), cử nhân điều dưỡng (4 năm) và thạc sĩ điều dưỡng (2 năm) Năm 2000, ngành Điều dưỡng Việt Nam đã hình thành được hệ thống quản lý điều dưỡng ở các cấp

Có 65% Sở Y tế các tỉnh đã bổ nhiệm điều dưỡng trưởng, 84,7% các bệnh viện có Phòng điều dưỡng, công tác điều dưỡng đã nâng lên trình độ cao đẳng và đại học Thực hành điều dưỡng đang có chuyển biến thông qua thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện, vị trí xã hội của người điều dưỡng đã được nhìn nhận [15]

Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe đối với người bệnh

- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe

- Góp phần tạo ra, bảo về và nâng cao sức khỏe con người

- Nếu GDSK đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong nhất là ở các nước đang phát triển

- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế.

Cơ sở thực tiễn

Phương pháp tiến hành Đánh giá kiến thức bằng các bộ câu hỏi test

Phỏng vấn trực tiếp Điều dưỡng về những thuận lợi, khó khan và các đề xuất về công tác GDSK

Quan sát trực tiếp về công tác GDSK của Điều dưỡng đối với NB

Thu thập thông tin tư vấn – GDSK trong hồ sơ bệnh án

Thu thập qua kênh thông tin phiếu khảo sát hài long người bệnh theo mẫu của Bộ

1.6 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

- Điều dưỡng làm việc tại khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện đa khoa Khu vực Phúc Yên

- Người bênh điều trị tại khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện đa khoa Khu vực Phúc Yên

Tiêu chuẩn loại trừ: NB không tỉnh táo hoặc từ chối tham gia trả lời

Chúng tôi chọn mẫu có chủ đích phỏng vấn sâu:

- 01 Điều dưỡng trưởng khoa khoa Nội tổng hợp

- 02 cán bộ Điều dưỡng viên trực tiếp làm công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh

- Đối với điều dưỡng: toàn bộ điều dưỡng của khoa Nội tổng hợp

- Đối với bệnh nhân: Toàn bộ bệnh nhân nằm viện từ tháng 15/10/2020 đến 15/11/2020

- Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2020

Tại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện đa khoa Khu vực Phúc Yên

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

+ Nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá lường tỷ lệ kiến thức của của điều dưỡng đối với công tác tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh Kiến thức về kỹ năng giáo dục sức khỏe gồm: Kiến thức về kỹ năng làm quen; Kiến thức về kỹ năng quan sát; Kiến thức về kỹ năng lắng nghe; Kiến thức về kỹ năng đặt câu hỏi; Kiến thức về kỹ năng giải thích: Kỹ năng sử dụng tài liệu giáo dục sức khỏe; Kỹ năng khuyến khích, động viên, khen ngợi Cách tính điểm theo bộ câu hỏi kiến thức tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng của Lê Thị Loan Tính tỷ lệ % điểm được chấm theo thanh đo 100%

+ Nghiên cứu định lượng đánh giá của người bệnh đối với công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng bao gồm: Tư vấn, GDSK trong thời gian nằm viện,; số lần được tư vấn; thời điểm tư vấn; được hướng dẫn nội quy khoa, bệnh viện; giải thích tình trạng bệnh, phương pháp chăm sóc; hướng dẫn dùng thuốc; hướng dẫn luyện tập phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn; hướng dẫn luyện tập vận động; hướng dẫn tự chăm sóc ra viện; cách tư vấn; nội dung cung cấp thông tin; mức độ hài lòng về buổi tư vấn Tính tỷ lệ % từng tiểu mục có và không

1.6.7 Cách thức thu thập số liệu:

+ Số liệu định lượng: Trực tiếp phát vấn bộ câu hỏi cho Điều dưỡng và bệnh nhân Hướng dẫn các đối tượng tự điền hoặc đọc trực tiếp để lựa chọn (trường hợp bệnh nhân cao tuổi)

+ Số liệu định tính: Nghiên cứu viên chính trực tiếp phỏng vấn người bệnh sau khi đã thực hiện các số liệu cho nghiên cứu định lượng; Các cuộc phỏng vấn được tiến hành tại Khoa Nội tổng hợp với hướng dẫn phỏng vấn sâu ở phụ lục 3 Các đối tượng tham gia phỏng vấn sâu được giới thiệu về nghiên cứu và được tiến hành phỏng vấn Thời gian trung bình một cuộc phỏng vấn 15 - 20 phút.

THỰC TRANG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG 16

Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng trong nước và trên thế giới

Thực tế cho thấy có rất ít nghiên cứu đánh giá trực tiếp và cụ thể về công tác GDSK của điều dưỡng Hoạt động này cơ bản chỉ dừng lại ở mức là một phần của hoạt động kiểm tra công tác chăm sóc, điều trị nói chung hoặc trong các đợt kiểm tra đánh giá chung chất lượng bệnh viện

Với sự nỗ lực tìm hiểu và tổng quan các tài liệu hiện có chúng tôi ghi nhận một số thực trạng về công tác GDSK của điều dưỡng cho người bệnh dưới đây:

Năm 2005, trong một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Bekele Chala ở 3 bệnh viện công gồm Tikur Anbessa, Saint Paul và Zewditu Memorial tại tỉnh Addis Ababa, Ethiopian nhằm đánh giá công tác chăm sóc của điều dưỡng thông qua mức độ hài long của 631

NB, kết quả cho thấy: Trong khi, tỷ lệ NB hài long với thông tin nhận được từ điều dưỡng về tình trạng bệnh tật, cách thức điều trị bệnh của họ chỉ đạt 40%

Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Bích Ngà năm 2011 về thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng thông qua nhận xét của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương cho thấy điều dưỡng viên làm tương đối tốt các chức năng cơ bản như: hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ đạt 84,2%; theo dõi, đánh giá NB đạt 80,5%; tiếp đón NB đạt 78,9%; Tuy nhiên, công tác tư vấn GDSK cho NB chỉ đạt 49,6%

Nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh tiến hành tại một số khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô năm 2012 nhằm mô tả thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng cho thất: về cơ bản ĐDV của bệnh viện đã hoàn thành tương đối tốt với 4 trong 5 nhiệm vụ được đánh giá đều đạt trên 90% như: Công tác tiến đón NB đạt 95,8%, tiếp theo là hoạt động chăm sóc hỗ trợ về tâm lý, tinh thần; theo dõi đánh giá NB lần lượt đạt 94,9% và công tác phối hợp thực hiện y lệnh của Bác sĩ đạt 90,3% Tuy nhiên, kết quả thực hiện công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK lại khá thấp chỉ đạt 66,2%

Nghiên cứu của Phạm Thị Loan và cộng sự năm 2006 khi lấy ý kiến của 213 người bệnh nằm điều trị nội trú tại các khoa Lâm sang – Bệnh viện C Thái Nguyên để đánh giá công tác CSNB của ĐD, kết quả cho thấy 97,18% người người bệnh đánh giá được điều dưỡng viên thông báo và hướng dẫn sử dụng thuốc; tỷ lệ điều dưỡng giải thích động viện người bệnh khi thực hiện tiêm truyền và thủ thuật cũng được người bệnh đánh giá khá cao đạt 87,3%; Có 86,86% người bệnh đánh giá được ĐD hướng dẫn về chế độ ăn uống

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Thị Thanh Điều năm 2007 về thực trạng và một số giải pháp về tăng cường công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh tại Viên Chấn thương – Chỉnh hình quân đội 108 (4/2006-6/2007) cho thấy: Trong khi, những chăm sóc cơ bản như lấy mạch, nhiệt độ, đo huyết áp được đánh giá ở mức độ cao đặt > 95%; công tác chuẩn bị cho bệnh nhân trước mổ đạt 97,5%; 96% người bệnh đánh giá được điều dưỡng đón tiếp vui vẻ, chăm sóc tận tình, động viên giải thích rõ ràng, song các vấn đề khác nhau như giao tiếp, giải thích cho người bệnh trước khi là các thủ thuật mới chỉ đạt ở 80,8%; công tác chăm sóc ống dẫn lưu sau mổ cũng như chăm sóc vết mổ từ 85,8%-86,7% Tuy nhiên, công tác hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc và phòng bệnh chỉ đạt 77,5%, công tác hướng dẫn người bệnh cách luyện tập phục hồi chức năng sau mổ mới chỉ đạt 78,3% [11]

Khảo sát thực trạng giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh

Hà Giang của Phạm Khánh Vân năm 2009 cho thấy còn những tồn tại như 10,58% điều dưỡng viên không hướng dẫn chế độ ăn cho người bệnh hoặc 6,88% không giải thích và hướng dẫn NB cách sử dụng thuốc…

Thực trạng công tác GDSK cho NB của ĐD tại khoa Nội tổng hợp Bệnh viện đa

Để đảm bảo tính khách quan khi đánh giá về công tác chăm sóc người bệnh, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ bộ các Điều dưỡng trực tiếp làm tại khoa Nội tổng hợp bệnh viện đa khoa Khu Vực Phúc Yên, là những điều dưỡng mà theo chức năng nhiệm vụ phải thực hiện sức khỏe cho người bệnh

Phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế về đánh giá chất lượng bệnh viện và được sử dụng để khảo sát tất cả các điều dưỡng (Phụ lục 1)

Thực tế có 30 điều dưỡng đã đồng ý tham gia và trả lời phiếu khảo sát, kết quả khảo sát được thể hiện trong các bảng dưới đây:

2.2.1 Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát

Các nghiêm cứu đã chỉ ra những yếu tố về nhân khẩu học của người điều dưỡng có thể ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng đối với người bệnh

Do vậy, một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng được phân tích và trình bày trong Bảng dưới đây:

Bảng 2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng (n= 30)

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ

Sau đại học Đại học, cao đẳng Trung cấp

Nhận xét: Tỷ lệ điều dưỡng dưới 30 tuổi và trên 30 tuổi là tương đối như nhau Đa số là Nữ giới (96.7%); Chưa có cán bộ sau đại học, trình độ Đại học, cao đẳng chiếm đa số (83.3%); Thâm niên công tác chủ yếu từ 5-10 năm (50.0%)

2.2.2 Thực trạng công tác GDSK của điều dưỡng

Do điều kiện hạn chế về thời gian và nguồn lực, trong khuôn khổ của một báo cáo chuyên đề, việc đánh giá chỉ mang tính bước đầu với một số tiêu chí có thể thực hiện được như kiến thức chung của điều dưỡng về công tác GDSK cho người bệnh theo quy định về chức năng nhiệm vụ tại Thông tư 07/2011 của Bộ Y tế

2.2.2.1 Kiến thức chung của điều dưỡng về giáo dục sức khỏe

Thống kê các câu trả lời đúng, tổng hợp điểm và phân loại mức độ theo hướng dẫn chấm điểm của Bộ Y tế về công tác GDSK, kết quả phân loại được trình bày trong bảng dưới đây

Bảng 2.2 Đánh giá chung kiến thức tư vấn – GDSK của điều dưỡng (n0)

Mức độ kiến thức Số lượng Tỷ lệ %

Nhận xét: Bảng 2.2 cho thấy kiến thức của điều dưỡng về tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh ở mức xuất sắc và kém là không (0%) Tỷ lên kiếm thức của điều dưỡng cao nhất là ở mức khá (66.6%) Loại giỏi và loại trung bình chiếm tỷ lệ như nhau (16.7%) 2.2.2.2 Đánh giá của người bệnh về công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng Chăm sóc người bệnh là lấy người bệnh làm trung tâm, để có đánh giá khách quan hơn, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến đánh giá của 200 người bệnh điều trị nội trú tại khoa Nội tổng hợp, kết quả được thể hiện trong bảng dưới đây

Bảng 2.3 Chất lượng công tác GDSK của điều dưỡng qua đánh giá của người bệnh

Nội dung đánh giá Ý kiến đánh giá của người bệnh

Có Tỷ lệ % Không Tỷ lệ %

Hướng dẫn nội quy bệnh viện 160 80.0 40 20.0

Giải thích bệnh, các phương Pháp chăm sóc và dự kiến rõ ràng, đầy đủ 172 89.0 28 11.0

Hướng dẫn sử dụng thuốc 180 90.0 20 10.0

Tư vấn chế độ ăn 101 50.5 99 49.5

Hướng dẫn ra viện, tự chăm sóc và theo dõi tại cộng đồng 178 89.0 22 11.0

Nhận xét: Đánh giá được kết quả tư vấn giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng qua phiếu khảo sát ý kiến người bệnh nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh đáp ứng sự hài lòng người bệnh Tuy nhiên, ở một số nội dung giáo dục sức khỏe còn tương đối thấp như tỷ lệ tư vấn chế độ ăn cho người bệnh (50,5%); 20% người bệnh chưa được hướng dẫn nội quy bệnh viện; còn 11% người bệnh chưa được giải thích bệnh, các phương pháp chăm sóc và dự kiến rõ ràng, đầy đủ; Còn 32.5% người bệnh chưa được hướng dẫn về phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn; Khoảng 1/3 người bệnh chưa được hướng dẫn hoạt động thể lực (29%); 11% người bệnh chưa được hướng dẫn ra viện, tự chăm sóc và theo dõi tại cộng đồng

Bảng 2.4 Thời điểm điều dưỡng thực hiện GDSK cho người bệnh (n 0)

Thời điểm Số lượng Số tư vấn Tuần suất/ngày Tỷ lệ %

NB mới vào viện 102 98 1 lần 96.1

NB đang điều trị 70 54 1 lần 77.1

Nhận xét: Qua khảo sát 102 người mới vào viện thì có 98 người bệnh (chiếm 96.1%) được điều dưỡng phòng tiếp đón tận tình và tư vấn cụ thể thủ tục hành chính, giới thiệu các dịch vụ của bệnh viện Người bệnh khi có chẩn đoán của Bác sĩ cần phải nằm viện, được điều dưỡng tư vấn hướng dẫn thủ tục vào viện Tuy nhiên, trong quá trình điều trị, tỷ lệ người bệnh được tư vấn – GDSK chỉ đạt 77,1% với tần suất với tần xuất 1 lần/ngày do công việc bận rộn, nhân lực điều dưỡng thiếu và một số điều dưỡng chưa ý thức hết tầm quan trọng của việc GDSK hàng ngày cho người bệnh Người bệnh ra viện đạt 80.9% cũng rất phù hợp, bởi tâm lý người bệnh ra viện thường rất phấn khởi và muốn được về nhà luôn, chính vì thế có tỷ lệ nhỏ được Bác sĩ thông báo ra viện là về luôn để người nhà đến thanh toán sau

Bảng 2.5 Địa điểm thực hiện GDSK cho người bệnh (n 0)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Nhận xét: bảng 2.5 cho kết quả phù hợp với công tác tư vấn sức khỏe mà Đảng ủy, Ban giám đốc tạo điều kiện cho các khoa lâm sàng có cơ sở vật chất phù hợp phục vụ công tác tư vấn giáo dục sức khỏe

Phòng tiếp đón đạt 80.4%; phòng bệnh đạt 88.1% cũng do một phần người bệnh đông, công việc của điều dưỡng quá tải, kèm thêm chủ quan điều dưỡng, người bệnh vào viện đã được tư vấn đầy đủ tại tiếp đón; Phòng tư vấn là địa điểm chính để thực hiện công tác GDSK cho người bệnh (đạt 86.5%) và đáp ứng một số tư vấn riêng tư của người bệnh cần giữ bí mật trong công tác điều trị

Bảng 2.6 Phương pháp GDSK điều dưỡng đã áp dụng (n 0)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ

Nhận xét: Quy định của bệnh viện yêu cầu điều dưỡng phải thực hiện công tác tư vấn cho người bệnh ngay khi đến bệnh viện GDSK trực tiếp là phương pháp chủ yếu thực hiện tại bệnh viện, tỷ lệ tư vấn trực tiếp đạt 96%; Tư vấn giám tiếp đạt 83.9% do phương pháp này thực hiện chủ yếu tại khoa Khám bệnh bằng hình thực sử dụng tờ rơi đối với một số bệnh thường gặp, như các bệnh nhân mãn tính và phụ thuộc vào người bệnh có quan tâm hay không Còn đối với điều trị nội trú thì bệnh nhân được truyền thông gián tiếp qua kênh truyền thông loa đài của bệnh viện

Một số yếu tố liên quan đến công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh

Qua phỏng vấn sâu cán bộ y tế về một số yếu tố liên quan đến công tác tư vấn, GDSK cho người bệnh, chúng tôi phát hiện một số yếu tố sau:

-Qua phỏng vấn Điều dưỡng trưởng và các điều dưỡng viên tham gia giáo dục sức khỏe Các buổi tư vấn, GDSK còn lồng ghép với các buổi họp hội đồng người bệnh Chưa có quy định riêng về việc tổ chức tư vấn, giáo dục sức khỏe riêng cho người bệnh

“Chúng tôi thường tổ chức tư vấn, giáo dục sức khỏe lồng ghép với cac buổi hợp hội đồng người bệnh chứ chưa tổ chức riêng lẻ cho từng nhóm bệnh được Nhiều khi bệnh nhân đông chúng tôi cũng không thực hiện được một tuần một buổi” (PVS – Điều dưỡng trưởng)

Phân tích điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện công tác GDSK của điều dưỡng

Trong những năm qua, công tác GDSK đã được coi trọng và được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chăm sóc người bệnh toàn diện

Tại Bệnh viện đa khoa Khu vực Phúc Yên, công tác GDSK đã được thực hiện nghiêm túc và là một nhiệm vụ thường quy của điều dưỡng, được làm thường xuyên từ lúc người bệnh nhập viện, được lồng ghép trong các buổi họp hội đồng người bệnh cấp khoa

Nguyên nhân của những điểm mạnh: Công tác chăm sóc của điều dưỡng nói chung cũng như công tác GDSK nói riêng đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban giám đốc và các phòng chức năng đặc biệt là

Phòng điều dưỡng, thể hiện qua việc triển khai các quy định của Bộ Y tế, sự đầu tư xứng đáng của Bệnh viện

Công tác đánh giá kiến thức của Điều dưỡng bệnh viện về GDSK cho người bệnh được thực hiện thường xuyên qua kênh phiếu khảo sát hài lòng người bệnh và tư vấn

GDSK lưu lại trong hồ sơ bệnh án

Hầu hết điều dưỡng khoa đã nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe cho người bệnh nhằm tăng cường nhận thức để từ đó thay đổi những thói quen không tốt hướng tới những hành vi có lợi cho sức khỏe của người bệnh, giúp người bệnh phục hồi sức khỏe sau điều trị, phòng mắc bệnh và phòng bệnh tái phát Điều dưỡng cơ bản đã được trang bị và có kiến thức khá tốt về GDSK, như thể hiện kết quả ở Bảng 2.3, 2.4, 2.5, 2.6

2.3.2 Những điểm hạn chế Điều dưỡng GDSK cho người bệnh chưa thường xuyên, chưa kiên trì

Tỷ lệ không nhỏ điều dưỡng chưa đánh giá kết quả GDSK, chưa giành nhiều thời gian để GDSK

Trước khi người bệnh ra viện thì ít hoặc không làm

Chưa xác định đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của điều dưỡng,đôi khi chỉ làm lấy lệ, hình thức

Kiến thức về bệnh và kỹ năng GDSK, kỹ năng giao tiếp ứng xử còn hạn chế Thông tin cần có chưa đầy đủ, chưa có tính thuyết phục: Điều dưỡng ít nhận định bệnh, ít lắng nghe người bệnh và động viên người bệnh Điều dưỡng chưa dành nhiều thời gian để GDSK cho người bệnh

Trước khi người bệnh ra viện điều dưỡng chỉ hướng dặn người bệnh: ông/bà ra viện uống thuốc theo đơn nhé và dặn khi có dấu hiệu người bệnh thì vào viện Việc dặn người bệnh trước khi ra viện cũng không được thường xuyên Đôi khi chỉ làm thủ tục thanh toán cho người bệnh và hướng dẫn người bệnh thanh toán, trả đồ quân tư trang là xong

+ Điều dưỡng ít được tập huấn về kỹ năng GDSK

+ Tài liệu và phương tiện GDSK về còn hạn chế

+ Không có tờ rơi, băng đĩa về các mặt bệnh trong bệnh viện, đầu đĩa, ti vi phục vụ cho công tác GDSK

+ Chưa có sự giám sát thường xuyên của Phòng điều dưỡng, của trưởng khoa và điều dưỡng trưởng khoa khoa

Nhiều khi quá tải người bệnh, chưa có góc GDSK tại khoa điều trị

Chưa có chính sách động viên kịp thời khen thưởng điều dưỡng GDSK tốt là xử phạt những trường hợp làm chưa tốt Đối với sử dụng thuốc chỉ hướng dẫn người bệnh cách sử dụng thuốc và công khai thuốc, chứ chưa nói đến việc chú ý tác dụng phụ của thuốc và ý nghĩa của sự tuân thủ dùng thuốc và tác hại của việc không tuân thủ dùng thuốc

Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 3.1 Đối với bệnh viện

- Xây dựng tài liệu GDSK cập nhật, đầy đủ, phù hợp, bổ sung tờ rơi băng đĩa về các mặt bệnh của khoa

- Đa dạng hóa hoạt động GDSK, lồng ghép họp Hội đồng người bệnh cấp khoa, cấp bệnh viện GDSK trực tiếp, gián tiếp có hệ thống loa đài, băng đĩa, tờ rơi

- Các khoa bố trí góc GDSK tại khoa có trang bị bàn ghế, tài liệu phương tiện GDSK phù hợp

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của phòng Điều dưỡng, lãnh đạo khoa, Điều dưỡng trưởng khoa

Bổ sung nhân lực điều dưỡng phù hợp, có điều kiện làm việc theo ca ở các khoa vì như vậy thời gian giành cho người bệnh trong chăm sóc và GDSK sẽ được nhiều hơn, giảm áp lực công việc cho điều dưỡng

Khoa Dinh dưỡng và các khoa lâm sàng phối hợp về GDSK cho người bệnh và người nhà người bệnh

Thành lập câu lạc bộ người bệnh (theo từng chuyên khoa) tại bệnh viện (để chia sẻ kinh nghiệm)

3.2 Đối với điều dưỡng Được tập huấn, cập nhật kiến thức về GDSK Tập trung đến công tác phòng bệnh Được tập huấn kỹ năng GDSK, Thông tư 07/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Kỹ năng giao tiếp ứng xử đổi mới phong cách, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng người bệnh gắn với cơ sở y tế Xanh, Sạch, Đẹp Điều dưỡng muốn GDSK cho người bệnh tốt trước hết phải có kiến thức về bệnh tốt và kiến thức, kỹ năng GDSK tốt cộng với sự nhiệt tình, hướng dẫn tỷ mỷ, ân cần chu đáo, thường xuyên thì người bệnh mới nhận thức và thay đổi hành vi được

Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chăm sóc điều dưỡng đối với người bệnh Từ việc đánh giá thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

1.Thực trạng công tác GDSK cho người bệnh của điều dưỡng:

- Công tác GDSK của điều dưỡng đã được thực hiện nghiêm túc theo quy định về chức năng nhiệm vụ tại Thông tư 07/2011 của Bộ Y tế và 83 tiêu chí chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế

- Các nội dung GDSK đúng theo quy định và được người bệnh đánh giá đạt với tỷ lệ tương đối cao, trong đó: Hướng dẫn sử dụng thuốc (90%); Hướng dẫn tự chăm sóc và dự phòng tại cộng đồng (89%)

Tuy nhiên, còn một số hạn chế như các tỷ lệ hướng dẫn thấp như: Hướng dẫn chế độ ăn (50.5%); Hướng dẫn phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn (67.5%); Một số điều dưỡng chưa nhận thức được tầm quan trọng về công tác GDSK, còn tỷ lệ không nhỏ người bệnh chưa nhận được GDSK trong lúc nằm viện, trước khi ra viện, còn tỷ lệ người bệnh chưa hài lòng về GDSK và chưa đánh giá được hiệu quả của GDSK trên người bệnh

Ngày đăng: 04/06/2021, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w