CƠ SỞ LÝ LUẬN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Các định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1.1 Định nghĩa tiêm an toàn
Tiêm an toàn là quy trình tiêm đảm bảo không gây hại cho người nhận, không làm phơi nhiễm cho người thực hiện, và không tạo ra chất thải nguy hại cho cộng đồng.
1.1.1.2 Định nghĩa về tiêm tĩnh mạch
Kỹ thuật tiêm tĩnh mạch sử dụng kim để đưa thuốc hoặc dịch vào tĩnh mạch với góc tiêm 30° so với bề mặt da Quan trọng là phải chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động và đảm bảo da vùng tiêm vẫn nguyên vẹn.
1.1.1.3.Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu * Bơm tiêm vô khuẩn:
Bơm tiêm cần đảm bảo đã được tiệt khuẩn, còn hạn sử dụng và được đựng trong túi nguyên vẹn Ngoài ra, kim tiêm phải không tiếp xúc với các bề mặt hay tay trước khi thực hiện tiêm.
Theo công văn số 7517/BYT-ĐT, cần thực hiện quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn Đặc biệt, có 05 thời điểm quan trọng để rửa tay nhằm đảm bảo vệ sinh và phòng ngừa lây nhiễm.
- Trước khi tiếp xúc với người bệnh;
- Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn;
- Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết;
- Sau khi tiếp xúc với người bệnh;
- Sau khi tiếp xúc với những vùng xung quanh bệnh nhân [3] * Chất sát khuẩn
Chất chống vi khuẩn là những hợp chất giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn trên mô sống hoặc da, khác với kháng sinh, vốn tiêu diệt hoặc kìm hãm vi khuẩn một cách đặc hiệu Ngoài ra, chúng cũng khác với chất khử khuẩn dùng cho dụng cụ Một số chất sát khuẩn có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hoàn toàn, trong khi những loại khác chỉ có tác dụng kìm hãm và ngăn chặn sự phát triển của chúng.
* Sát khuẩn và chuẩn bị vùng da tiêm
+ Sử dụng kẹp không mấu vô khuẩn để gắp bông gạc tẩm cồn: Khi sát khuẩn không được chạm kẹp vào da người bệnh
+ Sát khuẩn da vùng tiêm theo hình xoáy ốc từ trong ra ngoài với đường kính 10cm cho đến khi sạch
+ Thời gian sát khuẩn 30 giây, để da tự khô hoàn toàn rồi mới tiêm
+ Không chạm tay hoặc vật dụng không vô khuẩn vào vùng da đã được sát khuẩn
*Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn
Dịch pha chế có chứa cồn, dưới dạng lỏng, gel hoặc kem bọt, được sử dụng để xoa hoặc chà tay nhằm tiêu diệt và giảm sự phát triển của vi sinh vật Các dung dịch này thường chứa một hoặc nhiều loại cồn theo công thức được công nhận bởi các hãng dược phẩm.
* Dự phòng sau phơi nhiễm
Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh đường máu sau phơi nhiễm
Các kỹ thuật ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn trong quá trình thực hiện bao gồm: vệ sinh tay (VST), sử dụng trang phục phòng hộ cá nhân, áp dụng chất khử khuẩn da, mở các bao gói vô khuẩn đúng cách và sử dụng dụng cụ vô khuẩn.
* Mũi tiêm an toàn trong nghiên cứu
Mũi tiêm an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm đạt đủ 17 tiêu chuẩn thực hành trong bảng kiểm đánh giá thực hành TAT [4] Cụ thể:
1 Bơm kim tiêm vô khuẩn
2 Có sử dụng xe tiêm khi đi tiêm
3 Có sử dụng khay tiêm khi đi tiêm
4 Có hộp đựng vật sắc nhọn ở gần nơi tiêm
5 Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị thuốc
6 Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi đưa kim tiêm qua da
7 Mang găng khi tiêm tĩnh mạch, truyền dịch, truyền máu
8 Kim lấy thuốc đảm bảo vô khuẩn
9 Tiêm thuốc đúng chỉ định
10 Tiêm thuốc đúng thời gian
12 Tiêm đúng góc kim so với mặt da
14 Rút pittông kiểm tra trước khi bơm thuốc
15 Bơm thuốc đảm bảo hai nhanh một chậm
16 Không dùng hai tay đậy nắp kim
17 Cô lập ngay bơm kim tiêm đã nhiễm khuẩn trong hộp an toàn *Nguyên tắc thực hành tiêm:[1]
- Không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm:
+Chuẩn bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ thuốc tiêm
+Thực hiện 05 đúng bao gồm: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm, đúng đường tiêm
Trước khi tiêm, cần kiểm tra tiền sử dị ứng của bệnh nhân để phòng và chống sốc Luôn mang theo hộp chống sốc trong quá trình tiêm Khi thực hiện tiêm, bơm thuốc chậm rãi và đồng thời quan sát sắc mặt của bệnh nhân Sau khi tiêm, nên để bệnh nhân nằm hoặc ngồi tại chỗ từ 10-15 phút để đảm bảo an toàn.
+ Phòng tránh xơ hóa cơ hoặc đâm kim vào dây thần kinh: Xác định đúng vị trí tiêm, tiêm đúng góc độ và độ sâu
Để đảm bảo an toàn trong tiêm truyền, cần tuân thủ kỹ thuật vô khuẩn, hỏi bệnh nhân về tiền sử dùng thuốc nhằm tránh tương tác Sử dụng thuốc tiêm một liều và nếu cần tiêm nhiều liều, hãy sử dụng kim tiêm vô khuẩn, không để kim lưu trên lọ thuốc Tránh pha trộn nhiều loại thuốc vào một bơm kim tiêm và không sử dụng một kim tiêm cho nhiều loại thuốc khác nhau.
- Không gây nguy hại cho người tiêm:
+Nguy cơ bị phơi nhiễm do máu hoặc do kim tiêm/vật sắc nhọn đâm
Mang găng khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của người bệnh Dùng gạc bẻ ống thuốc
Không dùng tay đậy nắp kim
Bỏ BKT vào thùng kháng thủng ngay sau khi tiêm Không tháo rời kim tiêm ra khỏi bơm tiêm sau khi tiêm
Không để vật sắc nhọn (VSN) đầy quá 3/4 hộp kháng thủng Khi bị phơi nhiễm VSN, cần xử lý, khi báo ngay.
+ Nguy cơ bị đổ lỗi trách nhiệm cho người tiêm
Trước khi tiến hành tiêm, cần thông báo và giải thích rõ ràng cho người nhà hoặc bệnh nhân Đảm bảo kiểm tra y lệnh trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp cấp cứu Đồng thời, đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước, trong và sau khi tiêm để đảm bảo an toàn.
Pha thuốc trước sự chứng kiến của người nhà, người bệnh
Giữ lại lọ thuốc có ghi tên người bệnh đến hết ngày tiêm để làm vật chứng Ghi phiếu chăm sóc
+ Không gây nguy hại cho cộng đồng:
Chuẩn bị hộp kháng thủng để đựng VSN
Tạo thói quen cho người tiêm: bỏ ngay BKT vào hộp kháng thủng ngay sau khi tiêm
Thu gom và bảo quản BKT đã sử dụng theo đúng quy chế quản lý chất thải y tế
*Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu
Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu được xác định khi có ít nhất một tiêu chí thực hành không đạt, bao gồm việc sử dụng bơm tiêm và kim tiêm không vô khuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định, không thực hiện đúng quy trình tiêm, và không phân loại cũng như cô lập chất thải sắc nhọn sau khi tiêm theo quy định của Bộ Y tế.
Người điều dưỡng thực hành tiêm an toàn là những chuyên viên y tế có kỹ năng thực hiện tiêm đúng cách, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Họ cần phải đạt yêu cầu về cả hai mũi tiêm quan sát, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và giảm thiểu rủi ro trong quá trình tiêm chủng.
Phơi nhiễm nghề nghiệp xảy ra khi nhân viên tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết và chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh, điều này làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
*Phương tiện phòng hộ cá nhân
Phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) bao gồm găng tay, khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên và mặt nạ, nhằm bảo vệ nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nhân viên y tế khỏi nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế lây lan mầm bệnh ra môi trường Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) không khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt và quần áo bảo vệ trong quá trình tiêm, trừ khi người tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu, dịch tiết hoặc chất tiết khác (ngoại trừ mồ hôi).
* Thùng đựng chất thải sắc nhọn
Hộp đựng chất thải sác nhọn (CTSN), còn được gọi là "hộp kháng thủng" hay "hộp an toàn", được sản xuất từ chất liệu cứng, có khả năng chống thủng và rò rỉ Thiết kế của hộp này nhằm đảm bảo an toàn trong việc thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy CTSN Đặc biệt, việc thiết kế và quản lý hộp đựng CTSN phải tuân thủ đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế.
* Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng sử dụng thuốc tiêm và hiện tượng lạm dụng tiêm
Tiêm và truyền đang trở thành thủ thuật xâm lấn phổ biến trong việc chẩn đoán, phòng bệnh và chữa bệnh Nghiên cứu của Yan Y và cộng sự tại huyện Kinh Châu, Hồ Bắc, Trung Quốc cho thấy trong số 595 đối tượng, 192 người đã được tiêm ít nhất một lần trong 3 tháng, chiếm 32,3%, với trung bình 0,93 mũi tiêm/người.
Nghiên cứu của Hauri và cộng sự năm 2004 chỉ ra rằng tỷ lệ tiêm hàng năm cho mỗi người dao động từ 1,7 đến 11,3 Tại Việt Nam, một nghiên cứu năm 2005 của Đào Thành và cộng sự đã được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện kết quả sau 5 năm thực hiện cuộc vận động tiêm chủng TAT trên toàn quốc Kết quả từ quan sát ngẫu nhiên 776 mũi tiêm cho thấy tỷ lệ tiêm trung bình là 2,2 mũi/người/ngày.
[15] Nghiên cứu của Trần Thị Minh Phượng tại BV đa khoa Hà Đông năm 2012 cho thấy tỷ lệ NB nội trú có tiêm chiếm 64%, trung bình mỗi
NB nhận tới 3,1 mũi tiêm/ngày [16]
Lạm dụng tiêm truyền đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng tại nhiều quốc gia đang phát triển, dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn và tăng nguy cơ không an toàn trong quá trình tiêm Tại Indonesia và Tanzania, hơn 70% mũi tiêm được thực hiện được cho là không cần thiết hoặc có thể thay thế bằng thuốc uống an toàn và tiết kiệm hơn Nghiên cứu của Hauri và cộng sự năm 2004 chỉ ra rằng lạm dụng tiêm và thực hành không an toàn gây ra gánh nặng về tử vong và khuyết tật toàn cầu Tại Jingzhou, Trung Quốc, 52% đơn thuốc cho bệnh nhân ngoại trú có chỉ định tiêm, trong đó 57% là không cần thiết Ở Việt Nam, nghiên cứu của Đào Thành năm 2010 cho thấy trên 85% nhân viên y tế nhận định tình trạng lạm dụng thuốc tiêm là phổ biến, và quan điểm này không thay đổi qua các đánh giá trước và sau can thiệp.
Lạm dụng tiêm chủng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm sự thiếu thông tin về nguy hại của tiêm truyền, niềm tin sai lệch về hiệu quả của thuốc tiêm so với thuốc uống, và sự ưa thích của một số bệnh nhân đối với phương pháp tiêm Nhiều bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê thuốc tiêm mặc dù có thể sử dụng thuốc uống thay thế Đồng thời, bác sĩ cũng có thể kê đơn thuốc tiêm một cách lạm dụng để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân và vì lợi nhuận cao hơn từ thuốc tiêm so với thuốc uống.
1.2.2.Thực trạng cung cấp trang thiết bị, phương tiện phục vụ tiêm
Nhiều quốc gia vẫn chưa đầu tư đầy đủ vào trang thiết bị cần thiết cho công tác tiêm chủng an toàn, điều này ảnh hưởng đến sự an toàn của nhân viên y tế và cộng đồng Irina Mikheeva.
Nghiên cứu của Viện nghiên cứu dịch tễ học quốc gia liên bang Nga năm 2005 cho thấy, trong số 65.415 cơ sở y tế tại 50 vùng lãnh thổ, có tới 61,5% sử dụng chai nhựa để chứa bơm kim tiêm Đáng chú ý, chỉ 1,4% cơ sở y tế áp dụng máy cắt kim và 14% cơ sở y tế thực hiện tái sử dụng các vật dụng thải bỏ.
Thiếu phương tiện và dụng cụ tiêm phù hợp đang là vấn đề nghiêm trọng trong ngành y tế Nhiều cơ sở y tế sử dụng bơm kim tiêm (BKT) không đạt tiêu chuẩn về kích cỡ và chất lượng, dẫn đến nguy cơ lây nhiễm cao Theo báo cáo của WHO, 40% mũi tiêm được thực hiện bằng BKT đã qua sử dụng mà không được tiệt trùng Một nghiên cứu tại 80 cơ sở y tế ở Philippines năm 2007 cho thấy khoảng 16% bơm kim tiêm được tái sử dụng, trong khi 49% cơ sở không có hệ thống xử lý rác thải và chỉ 17% có thùng chứa vật sắc nhọn đạt tiêu chuẩn Tại Gujarat, 77% người cung cấp mũi tiêm thực hiện không an toàn, bao gồm việc luộc bơm kim tiêm để tái sử dụng và tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể.
Tại Việt Nam, việc thiếu các phương tiện vệ sinh tay như bồn rửa tay, nước, xà phòng và khăn lau tay sạch đã ảnh hưởng đến quy trình TAT của ĐDV Để cải thiện tình hình, cần trang bị đầy đủ các phương tiện vệ sinh tay, bao gồm lắp đặt bồn rửa tay tại các buồng bệnh và buồng thủ thuật, cung cấp nước, xà phòng và khăn lau tay sạch cho mỗi lần rửa tay, cũng như dung dịch SK tay nhanh có chứa cồn được đặt sẵn trên các xe tiêm, theo hướng dẫn TAT của Bộ Y tế.
Thiếu các phương tiện thu gom chất thải y tế sau tiêm theo quy định tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT đã dẫn đến nhiều cơ sở KBCB sử dụng hộp đựng CTSN không đạt yêu cầu, gây nguy hiểm cho người thực hành tiêm và người thu gom chất thải Nghiên cứu của Phạm Đức Mục cho thấy 63,1% và 62,6% người được hỏi cho rằng thiếu dụng cụ xử lý chất thải và hộp đựng CTSN chuẩn là nguyên nhân gây ra mũi tiêm không an toàn Bộ Y tế khuyến cáo các cơ sở KBCB đảm bảo phương tiện đựng CTSN phù hợp với tiêu chuẩn như thành và đáy cứng không bị xuyên thủng, khả năng chống thấm, kích thước phù hợp, và có nắp dễ mở Hộp đựng cần có dòng chữ “chỉ đựng chất thải sắc nhọn” và vạch báo hiệu, màu vàng, cùng với quai hoặc hệ thống cố định để đảm bảo an toàn trong quá trình di chuyển.
1.2.3.Thực trạng tiêm an toàn
Kiến thức và thực hành tiêm chủng an toàn (TAT) vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các nước đang phát triển, điều này đang thu hút sự quan tâm lớn từ nhiều tổ chức và cá nhân Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 50% mũi tiêm tại các nước này chưa đảm bảo an toàn, và WHO đã cảnh báo rằng việc tiêm không an toàn đã trở thành một thói quen phổ biến ở các quốc gia đang phát triển.
Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng có sự thiếu sót trong quy trình tiêm chủng, với chỉ 12,5% người thực hiện rửa tay bằng xà phòng và nước trước khi tiêm Hơn nữa, 23% người tham gia khảo sát cho biết họ thường xuyên đậy nắp kim và 32,8% thừa nhận thỉnh thoảng vẫn thực hiện hành động này sau khi tiêm.
Tại Việt Nam, việc tiêm truyền cho người bệnh chủ yếu do điều dưỡng viên thực hiện, với sự quan tâm của Bộ Y tế và Hội Điều dưỡng Việt Nam từ năm 2001 đã phát động phong trào TAT Các khảo sát thực trạng TAT được thực hiện vào các năm 2002, 2005 và 2008 cho thấy 55% nhân viên y tế chưa cập nhật thông tin về TAT liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn Hơn nữa, phần lớn nhân viên y tế không tuân thủ quy trình kỹ thuật và các thao tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong thực hành tiêm, như vệ sinh tay, mang găng, và xử lý vật sắc nhọn, với 87,7% không báo cáo và theo dõi rủi ro liên quan.
Hiện nay, thực hành tiêm của đội ngũ y tế tại các bệnh viện rất đa dạng và một số thực hành chưa đúng quy định Nhiều nhân viên thiếu kiến thức về phân loại chất thải sau tiêm, như việc tháo băng kim tiêm bằng tay, bẻ cong kim tiêm, và đậy nắp kim tiêm không đúng cách Ngoài ra, họ còn không rửa tay sau khi tiêm và không lường trước được các phản ứng bất ngờ của bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em, bệnh nhân có rối loạn tâm thần, hoặc những bệnh nhân không hợp tác.
Thực hành tiêm chủng an toàn tại Việt Nam đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng, với 50,1% nhân viên y tế không thực hiện sát khuẩn da nơi tiêm đúng quy định và 37,7% không rửa tay trước khi chuẩn bị dụng cụ tiêm Hơn nữa, 51% nhân viên y tế không sát khuẩn tay trước khi tiêm, và 38,3% sử dụng hai tay để đậy nắp kim tiêm Mặc dù chưa có nghiên cứu toàn diện nào đánh giá hậu quả của việc tiêm không an toàn, nhưng đã có nhiều tai biến xảy ra tại các cơ sở y tế, cho thấy hậu quả nghiêm trọng từ những sai sót này.
Việc thu gom BKT để tái sử dụng hoặc bán ra thị trường không an toàn đang gây ra những sai phạm nghiêm trọng, có thể đe dọa đến sức khỏe cộng đồng Hành vi thải bỏ BKT bừa bãi và tiêu hủy không đúng cách, như thiêu đốt, không chỉ gây ô nhiễm không khí mà còn sản sinh ra các chất độc hại Bên cạnh đó, việc chôn lấp BKT không đạt tiêu chuẩn độ sâu cũng tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho người dân.
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Một số thông tin về Bệnh viện Thanh Nhàn
Bệnh viện Thanh Nhàn, thuộc Sở Y tế Hà Nội, là một bệnh viện đa khoa hạng I, chuyên khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân theo quy định pháp luật Bệnh viện bao gồm 20 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng và 18 phòng chức năng, cung cấp dịch vụ y tế toàn diện cho cộng đồng.
Bệnh viện là tuyến đầu của Sở Y tế Hà Nội với 1000 cán bộ viên chức và 550 giường kế hoạch, tiếp nhận từ 200.000 đến 300.000 lượt bệnh nhân khám mỗi năm, cùng với 30.000 đến 40.000 lượt bệnh nhân điều trị nội trú Mặc dù cơ sở vật chất và trang thiết bị đã được trang bị đầy đủ, hiện tại bệnh viện đang trong quá trình mở rộng xây dựng, dẫn đến tình trạng thu hẹp diện tích các khoa phòng và quá tải bệnh nhân, ảnh hưởng đến công tác chăm sóc và điều trị Việc áp dụng hệ thống công nghệ thông tin toàn bệnh viện cũng làm tăng khối lượng công việc hành chính, khiến thời gian cho điều dưỡng viên thực hiện chuyên môn bị hạn chế, góp phần cản trở chất lượng thực hành chuyên môn.
Thực trạng kiến thức thực hành về quy trình tiêm an toàn của điều dưỡng các
Nghiên cứu đã tiến hành trên 163 đối tượng điều dưỡng thông qua việc phỏng vấn kiến thức và quan sát thực hành 2 mũi tiêm cho mỗi đối tượng Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo các nội dung chi tiết sau đây.
2.2.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
* Phân bố đối tượng nghiên cứu tại các khoa lâm sàng:
Bệnh chấn cấp trong hồi sức ngoại khoa bao gồm các tình trạng nghiêm trọng cần can thiệp khẩn cấp Ngành y tế chú trọng vào việc điều trị các bệnh lý nội tiết và thần kinh, cũng như các vấn đề tim mạch Đội ngũ y bác sĩ chuyên nghiệp trong lĩnh vực cấp cứu tích cực đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các ca bệnh phức tạp, bao gồm cả ung thư và các biến chứng liên quan đến hệ thống mạch máu Việc chỉnh hợp kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn là cần thiết để đảm bảo sự chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân.
Biểu đồ 2.1 Sự phân bố đối tượng nghiên cứu tại các khoa lâm sàng
Bảng 2.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Hạng chức danh nghề nghiệp ĐD hạng 3 39 23,9 ĐD hạng 4 124 76,1
Thâm niên công tác 5 - 10 năm 68 41,7
>5 năm 117 71,8 Đã được tập huấn về TAT Có 161 98,8
Không 2 1,2 Được tập huấn trong vòng 12 Có 154 94,5 tháng trở lại Không 9 5,5
Bảng 2.1 trình bày đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu, với độ tuổi trung bình của điều dưỡng viên (ĐDV) từ 25 đến 40, độ tuổi cao nhất là 55 và thấp nhất là 21 Nhóm ĐDV dưới 25 tuổi chiếm 18,4%, trong khi nhóm từ 25 đến 40 tuổi chiếm 69,3%, và nhóm trên 40 tuổi chiếm 12,3% Đặc biệt, tỷ lệ ĐDV nữ chiếm ưu thế với 82,8%, so với ĐDV nam chỉ 17,2% Về trình độ chuyên môn, 23,9% ĐDV có trình độ học vấn hạng 3, trong khi 76,1% có trình độ hạng 4 Thời gian công tác trung bình của ĐDV tham gia nghiên cứu là trên 5 năm, và có 154 ĐDV đã tham gia các lớp tập huấn về tiêm an toàn trong vòng 12 tháng qua, chiếm 94,5%.
2.2.2.1 Kiến thức chung về tiêm an toàn
Bảng 2.2 Kiến thức chung về tiêm an toàn đạt theo từng tiêu chí
Kiến thức n % Điều trị, chẩn đoán 13 7,98
Mục đích TAT Tiêm chủng& KHHGĐ 13 7,97
Cả hai đáp án trên 137 84,05
Không nguy hại cho người nhận 0 0 Không nguy hại cho người tiêm, người nhận, 163 100 Định nghĩa TAT cộng đồng
Không phơi nhiễm cho người thực hiện mũi 0 0 tiêm
Tai biến của tiêm Xơ hóa cơ 92 56,8 không an toàn Lây nhiễm các bệnh truyền qua đường máu 104 64,2
Khai thác tiền sử dị ứng là bước quan trọng, với tỷ lệ 93,2% Cần mang theo hộp chống sốc khi tiêm, đạt tỷ lệ 80,4% Trong quá trình tiêm, bơm chậm và quan sát sắc mặt của bệnh nhân cũng có tỷ lệ 80,4% Để phòng ngừa sốc phản vệ, nên tiêm cho bệnh nhân 1 ống Dimedrol 1ml trước khi tiêm kháng sinh, với tỷ lệ 3,1% Sau khi tiêm, khuyến nghị bệnh nhân nghỉ ngơi tại chỗ từ 10 - 15 phút, đạt tỷ lệ 74,2%.
Hành động đầu tiên Ngưng tiêm truyền ngay 163 100 khi có người bệnh Tiếp tục tiêm, truyền 0 0 shock phản vệ Tiêm Adrenalin 1mg x 01 ống 0 0
Theo nghiên cứu, có 137 ĐDV (chiếm 84,05%) hiểu rõ mục đích của việc tiêm an toàn trong điều trị và chăm sóc bệnh nhân Tỷ lệ ĐDV nắm vững định nghĩa về mũi tiêm an toàn theo WHO đạt 100% Đặc biệt, 79,6% ĐDV nhận thức được các tai biến nghiêm trọng như sốc phản vệ có thể xảy ra khi tiêm không an toàn, và 56,8% biết đến nguy cơ gây xơ hóa cơ Để phòng ngừa sốc phản vệ, 93,2% ĐDV cho rằng cần khai thác tiền sử dị ứng của bệnh nhân trước khi tiêm, trong khi 80,4% biết mang theo hộp chống sốc Khi xuất hiện dấu hiệu phản ứng sốc phản vệ, 100% ĐDV đều biết rằng hành động đầu tiên là dừng tiếp xúc với dị nguyên.
2.2.2.2 Kiến thức về chuẩn bị người bệnh của điều dưỡng viên
Bảng 2.3 Kiến thức chuẩn bị người bệnh của điều dưỡng viên đạt theo từng tiêu chí
Thời điểm vệ sinh 6 thời điểm 12 7,4 bàn tay 5 thời điểm 151 92,6
Khi nào thì rửa Khi trên tay có vết bẩn nhìn thấy được 41 25,2
Khi chạm vào các chế phẩm máu, chất thải 122 74,9 nước và xà phòng của NB Động tác cần làm Vệ sinh tay 156 95,7 trước khi tiêm Thăm hỏi người bệnh 7 4,3
NB, thuốc, liều, thời gian, giường 100 61,4 Thực hiện5 đúng NB, thuốc, liều, thời gian, đường dùng 3 1,8
NB, thuốc, nhãn, đơn thuốc, thời gian 60 36,8 Điều cần làm trước Mang hộp chống shock 2 1,2
Hỏi tiền sử dị ứng 26 15,95 khi tiêm kháng sinh
Trong lĩnh vực y tế, việc sử dụng găng tay là rất quan trọng để đảm bảo an toàn khi tiếp xúc với máu và dịch tiết Theo thống kê, 73,6% nhân viên y tế sử dụng găng tay trong các tình huống có nguy cơ Đặc biệt, trong các thủ thuật tiêm, tỷ lệ sử dụng găng tay đạt 26,4% Điều dưỡng cần tuân thủ quy trình tiêm cho người bệnh, với 92% trường hợp yêu cầu sử dụng găng tay để bảo vệ cả bệnh nhân và nhân viên y tế.
Chuyển sang phòng tiêm khác 13 8
Chỉ định mang Người bệnh mắc bệnh lây qua đường hô 112 68,7 khẩu trang trong hấp trường hợp nào Ngay sau khi tiếp xúc với BN 51 31,3
Kiến thức về 5 thời điểm rửa tay theo quy định của Bộ Y tế được 92,6% ĐDV nắm rõ Đặc biệt, 74,9% ĐDV cho rằng việc rửa tay bằng nước và xà phòng là cần thiết khi tiếp xúc với chế phẩm máu hoặc chất thải của người bệnh Trong bước chuẩn bị cho người bệnh, 61,4% ĐDV thực hiện đúng quy trình, bao gồm việc giải thích cho bệnh nhân về các thủ tục sắp thực hiện và hỗ trợ họ vào tư thế an toàn Hơn nữa, 82,8% ĐDV luôn hỏi kỹ về tiền sử dị ứng và mang theo hộp chống sốc khi tiêm Cũng có 73,6% ĐDV hiểu rõ quy định về việc mang găng tay khi có nguy cơ tiếp xúc với máu và dịch tiết, trong khi 68,7% ĐDV biết cần phải đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người mắc bệnh lây qua đường hô hấp.
2.2.2.3 Kiến thức của điều dưỡng về chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm Bảng 2.4 Kiến thức của ĐD về dụng cụ và thuốc tiêm đạt theo từng tiêu chí
Cơ số hộp Adrenalin 1mg x 01 ống 4 2,5
Solu-Medrol 40mg x 01 ống chống
Tiêu chuẩn Cùng kích cỡ duy nhất 23 14,1 thùng kháng Vạch báo đầy ở mức 2/3 106 65 thủng
Có nắp dễ đóng mở 106 65
Thời điểm Đầy ắ thựng 35 21,5 đậy nắp Đầy thùng 4 2,5 thùng Đầy 2/3 thùng 124 76,1
Hộp bông Bông cồn 70độ 160 98,2 cồn Bông cồn 90 độ 3 1,8
Khi không lưu kim lấy thuốc, cần lưu ý rằng 96,9% người dùng không lưu kim, trong khi 3,1% lưu giữ kim khi cùng lấy một loại thuốc Để bẻ ống thuốc, cần thực hiện sát khuẩn và sử dụng gạc, với 100% người thực hiện đúng quy trình này.
Kỹ thuật sát Sát khuẩn da vùng tiêm hình xoáy chôn ốc từ khuẩn da trong ra ngoài với đường kính khoảng 10cm cho 139 85,3 đến khi sạch
Kiến thức n % vùng tiêm Sát khuẩn da vùng tiêm hình xoáy chôn ốc từ đúng trong ra ngoài với đường kính khoảng 15-20cm 24 14,7 cho đến khi sạch
Xử lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định an toàn Sau khi tiêm, cần tháo kim và bỏ vào thùng kháng thủng 22, 13,5 Tất cả bơm kim tiêm phải được bỏ vào thùng kháng thủng 141, 86,5 ngay sau khi rút kim khỏi vị trí tiêm Đồng thời, cần hướng dẫn bệnh nhân nghỉ ngơi và giữ tư thế thoải mái.
Xử lý vật sắc Phân loại chất thải ngay tại nguồn 126 77,3 nhọn sau
Cô lập ngay các vật sắc nhọn vào thùng kháng 142 87,1 tiêm thủng theo tiêu chuẩn
Không đậy lại nắp kim 87 53,4
Không uốn cong hoặc bẻ kim 88 54
Bảng kiến thức về dụng cụ và thuốc tiêm cho thấy có 97,6% ĐDV thuộc cơ số hộp chống shock, và 95,1% ĐDV nắm rõ tiêu chuẩn về thùng kháng thủng, yêu cầu thành, đáy cứng, chống thấm, với thời điểm thay thùng là khi đầy 2/3 Tỷ lệ ĐDV biết tiêu chuẩn về bông cồn sát khuẩn đúng quy định đạt 98,2%, trong khi 85,3% ĐDV có kiến thức đúng về kỹ thuật sát khuẩn da vùng tiêm Ngoài ra, 57,7% ĐDV nắm vững kiến thức về góc độ tiêm tĩnh mạch Về xử lý chất thải sau tiêm, có 87,1% ĐDV biết phải cô lập ngay các vật sắc nhọn vào thùng kháng thủng theo tiêu chuẩn, và 53,4% không đậy lại nắp kim sau tiêm.
Biểu đồ 2.2 cho thấy kiến thức chung về tiêm an toàn của ĐDV, trong đó có 90 ĐDV được đánh giá Kết quả cho thấy 55,2% ĐDV đạt kiến thức đúng về tiêm an toàn (TAT), trong khi 44,8% ĐDV không đạt yêu cầu về kiến thức này.
Nghề Chấn Cấp cứu Hồi sức là lĩnh vực quan trọng trong y tế, bao gồm các chuyên ngành như Ngoại Ung bướu, Nội tiết, Thần kinh, và Tim mạch Các bác sĩ trong ngành này cần có kiến thức sâu rộng về chăm sóc tích cực, điều trị thương tích và các vấn đề liên quan đến chỉnh hình Sự kết hợp giữa các chuyên khoa giúp nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và cải thiện kết quả điều trị.
Biểu đồ 2.3 thể hiện tỷ lệ đạt kiến thức tiêm an toàn của các điều dưỡng viên (ĐDV) tại các khoa lâm sàng Kết quả cho thấy khoa Ngoại Thần kinh có tỷ lệ đạt 100%, trong khi khoa Cấp cứu đạt 70%, Bệnh nghề nghiệp 87,5%, và Nội tiết - các bệnh chuyển hóa 90% Tuy nhiên, các khoa như Hồi sức tích cực chỉ đạt 41,7%, Ung bướu 33,3%, Tim mạch 47,6%, Ngoại tổng hợp 54,6%, và Chấn thương chỉnh hình 25% Mặc dù bệnh viện đã tổ chức các chương trình tập huấn về tiêm an toàn, việc tự cập nhật kiến thức của các điều dưỡng vẫn còn hạn chế.
2.2.3.Thực hành của điều dưỡng viên về tiêm an toàn
Mỗi điều dưỡng viên được quan sát thông qua hai mũi tiêm tĩnh mạch, sử dụng bảng kiểm thực hành gồm 24 bước dựa trên 17 tiêu chí tiêm an toàn theo hướng dẫn của Bộ Y tế Tài liệu này được ban hành kèm theo quyết định 3671/QĐ-BYT ngày 26 tháng 7 năm 2012.
Bảng 2.5.Các bước thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng
Các bước thực hành Đạt n %
Giải thích cho NB về việc sắp làm và giúp BN ở tư thế 135 82,8 thoải mái
Sử dụng phương tiện phòng hộ 124 76,7
Hộp chống shock (đủ cơ số) 160 98,2
Thùng đựng chất thải đúng quy định 143 87,7
Bông gạc tẩm cồn đúng quy định 145 88,96
Kiểm tra thuốc,SK ống thuốc, dùng gạc vô khuẩn bẻ 128 78,5 ống thuốc, SK nút chai
Pha và lấy thuốc trước sự chứng kiến của NB hoặc 158 96,9 người nhà NB
Xé bỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc 150 92,02
Kim lấy thuốc và kim tiêm không chạm vào vùng 135 82,8 không vô khuẩn
Không lưu kim trên lọ thuốc 126 77,3
Kê gối dưới tay, buộc dây garo, sát khuẩn vùng tiêm 128 78,5 đúng quy định
Sát khuẩn tay nhanh hoặc mang găng tay đúng quy định 112 68,7
Căng da, đâm kim chếch 30 so với mặt da và đảm bảo 144 88,3 mũi vát của kim tiêm nằm trong lòng ven
Bơm thuốc chậm, vừa bơm vừa quan sát NB 134 82,2
Các bước thực hành Đạt n %
Hết thuốc, căng da rút kim nhanh, cho ngay BKT vào 122 74,9 hộp an toàn
Giao tiếp, quan sát sắc mặt NB trước, trong và sau khi 122 74,9 tiêm
Sát khuẩn lại vị trí tiêm, truyền, dùng bông khô đặt lên 130 vị trí vừa tiêm phòng chảy máu 79,8
Hướng dẫn NB những điều cần thiết, giúp NB trở lại tư 125 76,7 thế thích hợp, thuận tiện
Không dùng hai tay để đậy hoặc lắp lại nắp kim tiêm 135 82,8
Cho bơm kim tiêm vào hộp đựng sắc nhọn ngay sau 129 79,1 khi kết thúc mũi tiêm
Phân loại chất thải sau tiêm đúng quy định 112 68,7
Vệ sinh tay sau khi kết thúc mũi tiêm 131 80,4
Kết quả quan sát thực hành tiêm an toàn cho thấy điều dưỡng thường bỏ qua hoặc thực hiện sai một số tiêu chí trong quy trình TAT, đặc biệt là trong các thời điểm rửa tay Chỉ có 60,1% điều dưỡng viên rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh khi chuẩn bị tiêm, trong khi 96,3% thực hiện 5 đúng (nhận định, giải thích cho người bệnh, trợ giúp tư thế an toàn, thuận tiện) Tỷ lệ sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân đầy đủ đạt 76,7% Về kiểm tra thuốc và sát khuẩn ống thuốc, có 78,5% điều dưỡng viên thực hiện đúng quy định, bao gồm xác định vị trí tiêm và sát khuẩn vùng tiêm đúng cách Tỷ lệ đạt yêu cầu về sát khuẩn tay nhanh hoặc mang găng tay đúng quy định là 68,7%, trong khi 88,3% thực hành căng da đúng quy định Cuối cùng, 82,2% điều dưỡng viên thực hiện bơm thuốc chậm và quan sát sắc mặt bệnh nhân, và 74,9% đạt yêu cầu khi tiêm hết thuốc và rút kim nhanh chóng.
Sau khi thực hiện xong kỹ thuật tiêm tĩnh mạch có 68,7% ĐDV xử lý và phân loại chất thải đúng qui định Đạt