CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CƠ SƠ LÝ LUẬN
1.1 Giải phẫu và sinh lý túi mật, đường mật [1],[5]
Hình 1.1: Hình thể ngoài túi mật [1]
Túi mật là một cơ quan hình quả lê, có chức năng lưu trữ mật trước khi chuyển vào tá tràng Nó nằm sát dưới gan phải, có chiều dài khoảng 8-10cm và chiều rộng từ 3-4cm Dung tích trung bình của túi mật là từ 30-40ml, và khi căng đầy, nó có thể chứa tới 50ml mật.
Túi mật gồm có ba phần: đáy, thân, và cổ túi mật
Đáy túi mật (fundus vesica fellea) nằm ở khuyết túi mật trên bờ trước của gan, tạo thành giao điểm với bờ ngoài cơ thẳng to và bờ sườn bên phải Bề mặt trong của túi mật không phẳng, với niêm mạc có nhiều nếp gấp giúp túi mật có khả năng căng và giãn Những nếp gấp này còn giới hạn nhiều hố con, nơi sỏi có thể hình thành hoặc tích tụ.
- Thân túi mật chạy chếch từ trên xuống dưới, ra sau và sang trái, có 2 mặt: mặt trên và mặt dưới
Cổ túi mật (collum vesica fellea) nằm cách gan khoảng 0,5 cm, với hình dạng phình to ở giữa và hai đầu thu nhỏ lại Đầu trên gấp vào thân túi mật, trong khi đầu dưới gấp vào ống túi mật Cổ túi mật được treo vào gan bởi mạc treo túi mật, nơi có động mạch túi mật cung cấp máu cho túi mật Hơn nữa, phía trên cổ túi mật có một hạch bạch huyết (hạch Mascagni), là một mốc quan trọng trong phẫu thuật.
Hình 1.2: Túi mật và đường mật ngoài gan [5]
Mặt trong của túi mật không phẳng mà có nhiều nếp niêm mạc giúp túi mật co giãn Các nếp niêm mạc này tạo thành các hốc gọi là túi Luschka ở hai đầu phễu túi mật Ngoài ra, tại đây còn có hai van được hình thành từ các nếp niêm mạc nổi gờ lên, do sự gấp khúc của thân túi mật vào cổ túi mật và cổ túi mật vào ống túi mật.
Ống cổ túi mật kết nối từ cổ túi mật tới ống mật chủ (OMC), có chiều dài khoảng 1 – 3cm và đường kính 2,5mm Ống này chạy chếch xuống dưới, sang trái và hơi ra sau, rất gần với ống gan Phần đầu trên của ống cổ túi mật phình ra thành phễu con, tạo thành một góc mở ra phía trước với thân ống.
Sự thay đổi về giải phẫu ống cổ túi mật gây khó khăn cho phẫu thuật viên và có thể dẫn đến tai biến trong phẫu thuật cắt túi mật Những dạng thay đổi chủ yếu của ống cổ túi mật cần được lưu ý.
Ống cổ túi mật đổ trực tiếp vào ống gan phải là một tình trạng nguy hiểm, chiếm khoảng 2% trường hợp Việc phát hiện nhanh chóng trong quá trình phẫu thuật là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
+ Ống cổ túi mật dài bắt chéo phía sau hoặc phía trước và đổ vào bờ trái ống mật chủ dạng thay đổi này gặp 7%
+ Ống cổ túi mật hợp cùng với một ống mật phụ từ gan phải cùng đổ vào ống mật chủ dạng thay đổi này gặp 2 - 9%
Động mạch túi mật, một nhánh của động mạch gan riêng, có vị trí và kích thước thay đổi, nằm trong tam giác Calot, được xác định bởi ống gan chung ở trong, ống cổ túi mật ở ngoài và động mạch túi mật Động mạch này đi từ dưới lên trên, sang phải và ra trước, chia nhánh cho ống cổ túi mật và túi mật Đặc biệt, có trường hợp động mạch túi mật xuất phát từ nhánh động mạch hạ phân thuỳ V hoặc VI và đi xuống trong mạc treo túi mật.
Chi phối túi mật được thực hiện bởi các nhánh thần kinh từ đám rối tạng, chạy dọc theo động mạch gan, bao gồm cả nhánh vận động từ dây thần kinh X.
1.1.2 Tam giác gan mật, tam giác Calot
Tam giác gan mật được hình thành bởi ống túi mật, ống gan chung và rãnh ngang của rốn gan, trong đó có động mạch túi mật chạy ngang qua.
Tam giác Calot, được mô tả bởi Calot vào năm 1891, là khu vực được giới hạn bởi ống gan chung ở trong, ống túi mật ở ngoài và động mạch túi mật ở trên Vị trí nguyên ủy của động mạch túi mật trong tam giác này chiếm khoảng 72%, tuy nhiên, tam giác Calot có thể thay đổi do những bất thường của động mạch túi mật Các biến đổi nội soi của động mạch túi mật được ghi nhận khoảng 22%, trong khi có khoảng 6% trường hợp động mạch túi mật chạy dưới ống túi mật.
Trong phẫu thuật nội soi cắt túi mật, tam giác gan mật giữ vai trò quan trọng và thường hằng định, giúp xác định chính xác vùng phẫu thuật Ngược lại, tam giác Calot có thể thay đổi do sự bất thường của động mạch túi mật, điều này cần được lưu ý trong quá trình phẫu thuật.
Trong tam giác Calot, các động mạch Calot là những nhánh nhỏ từ động mạch túi mật, đảm nhận vai trò cung cấp máu cho ống túi mật Mặc dù không quan trọng trong phẫu thuật cắt túi mật mở, nhưng những nhánh này có thể gây chảy máu, làm tăng độ khó trong quá trình phẫu tích nội soi vùng tam giác gan mật.
Hình 1.3: Tam giác gan mật - Tam giác Calot [5]
1.1.3 Những biến đổi về giải phẫu[10]
1.1.3.1 Biến đổi giải phẫu túi mật
- Những biến đổi bất thường về giải phẫu của túi mật thường liên quan đến số lƣợng, hình dạng và vị trí của túi mật
+ Các trường hợp không có túi mật bẩm sinh là rất hiếm, tỷ lệ này gặp trong phẫu thuật xác là khoảng 0,03%
+ Ngoài ra các trường hợp hiếm gặp khác như túi mật trong gan hay túi mật nằm ở bên trái dây chằng tròn
Túi mật đôi với hai buồng và hai ống riêng biệt là hiện tượng hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1/4000 trường hợp Túi mật phụ thường xuất hiện bên trái và ống túi mật của nó thường kết nối với ống gan trái.
Túi mật có thể xuất hiện ở những vị trí bất thường, điều này đặc biệt quan trọng trong cắt túi mật nội soi Một tình huống hiếm gặp là túi mật "lơ lửng" trong ổ bụng, hoàn toàn được bao bọc bởi phúc mạc mà không được treo vào gan Trong một số trường hợp, túi mật chỉ dính nhẹ vào gan, phúc mạc bao quanh tạo thành một mạc treo, kết nối cổ túi mật với gan, dẫn đến nguy cơ xoắn và hoại tử túi mật, xảy ra trong khoảng 5% trường hợp Ngoài ra, túi mật cũng có thể nằm một phần hoặc hoàn toàn trong gan, liên quan đến việc gia tăng tỷ lệ sỏi túi mật.
Hình 1.4: Các hình thái của 2 túi mật [5]
1.1.3.2 Biến đổi giải phẫu ống túi mật
- Các dạng hợp nhất của ống túi mật với ống gan chung có thể là tạo góc, song song hoặc xoắn
+ Dạng tạo góc thường gặp nhất chiếm khoảng 75% trường hợp
+ Ống túi mật có thể chạy song song với ống gan chung và dính vào ống gan chung khoảng 20% trường hợp
+ Ống túi mật xoắn trước hoặc sau rồi đổ vào đường mật chính bên trái gặp khoảng 5%
CƠ SƠ THỰC TIỄN
2.1 Quy trình chăm sóc NB sau cắt túi mật nội soi [9]
2.1.1 Nhận định tình trạng NB
- Nhận định toàn trạng, dấu hiệu sinh tồn
- Vết mổ có chảy máu không? Có dịch thấm băng không?
- Theo dõi tình trạng bụng: chướng, đau, nhu động ruột
- Theo dõi và xác định vùng đau trên bụng NB sau phẫu thuật
- Tình trạng da niêm, vàng da, so sánh với trước phẫu thuật, dấu hiệu mất nước, vàng da
- Theo dõi nước tiểu: so sánh màu vàng của nước tiểu, nhất là số lượng nước tiểu
- Tình trạng ống sonde dạ dày, ống dẫn lưu ổ bụng: màu sắc, số lượng, thời gian, tình trạng bụng Đánh giá vàng da, xét nghiệm, Creatinine, Bilirubin
- Dấu hiệu mất nước, rối loạn điện giải
- Nhận định tiền sử bệnh, hoàn cảnh kinh tế, tâm lý NB?
2.1.2 Chăm sóc tư thế nằm ngay sau phẫu thuật
- Khi NB chƣa tỉnh: cho nằm đầu ngửa tối đa
- Khi NB tỉnh cho nằm tư thế Fowler, nghiêng về phía có ống dẫn lưu
2.1.3 Chăm sóc dấu hiệu sinh tồn
- Hô hấp: NB phải thở tốt, nhịp thở đều, êm, không có biểu hiện tím tái, nếu
NB thở nhanh nông, tím tái phải cấp cứu hút đờm dãi cho thở oxy và báo bác sĩ ngay để cấp cứu suy hô hấp
- Tuần hoàn: Phải đo mạch, huyết áp 15- 30 phút/lần Nếu mạch nhanh, huyết áp tụt có thể sốc hoặc chảy máu sau phẫu thuật
- Nhiệt độ: Đôi khi sau phẫu thuật NB bị tụt nhiệt độ, phải cho ủ ấm, hoặc sưởi ấm cho NB, nếu sốt cao phải cho hạ nhiệt
- Cho vận động sớm: NB ổn định cho ngồi dậy sớm, vỗ lƣng, tập thở sâu, tập ho để phòng ngừa viêm phổi
2.1.5 Chăm sóc ống dẫn lưu, Sonde dạ dày
- Ống dẫn lưu dưới gan: Thường được rút sớm sau 2-3 ngày nếu ống khô Theo dõi số lƣợng dịch, màu sắc dịch
- Dẫn lưu túi mật (nếu có): ống dẫn lưu bằng ống Malecot hoặc ống Pezzer Theo dõi như ống dẫn lưu Kehr
Khi bệnh nhân còn đặt ống hút dạ dày, cần theo dõi tình trạng ổ bụng và ghi lại số lượng cũng như màu sắc dịch chảy qua ống sonde dạ dày để thông báo cho bác sĩ về việc bồi phụ nước và điện giải đầy đủ Ống sonde dạ dày sẽ được rút ra khi bệnh nhân có trung tiện.
- Vết mổ không nhiễm trùng thì 7 ngày sau cắt chỉ
- Vết mổ ƣớt thay băng, phù nề cắt chỉ thƣa
- Vết mổ chảy máu, băng ép cầm máu, không cầm máu đƣợc báo bác sĩ xử lý
+ Truyền dịch, đạm hoặc truyền máu khi NB chƣa có trung tiện
+ Cho ăn thức ăn nhẹ, dễ tiêu Hạn chế ăn mỡ nếu NB có kèm theo cắt túi mật
2.1.8 Theo dõi và phát hiện một số biến chứng sớm
Suy hô hấp là tình trạng nguy hiểm, biểu hiện qua khó thở, tím tái, khò khè, nhịp thở nhanh và nông, cùng với cánh mũi phập phồng Cần báo ngay cho bác sĩ khi phát hiện các triệu chứng này Điều dưỡng cần kiểm tra hiện tượng trào ngược và tình trạng tắc nghẽn đường thở do tụt lưỡi hoặc ứ đọng đờm dãi Các biện pháp xử lý bao gồm hút đờm, cung cấp oxy và sử dụng bóp bóng.
- Chảy máu sau phẫu thuật: NB nhợt nhạt, thở nhanh, mạch nhanh, huyết áp tụt báo bác sĩ ngay để có y lệnh xử trí kịp thời
Chảy máu đường mật là tình trạng nghiêm trọng, biểu hiện qua hội chứng mất máu với dấu hiệu chảy nước mật lẫn máu tươi Khi gặp phải triệu chứng này, cần báo ngay cho bác sĩ và chuẩn bị các phương tiện hồi sức tuần hoàn cùng dụng cụ bơm thông ống dẫn lưu Kehr để xử lý kịp thời.
- Rò mật vào ổ bụng: Biểu hiện hội chứng viêm phúc mạc mật
- Giữ vệ sinh ăn uống, tẩy giun định kỳ
- Giáo dục cho NB các triệu chứng phát hiện sớm, đi khám ngay khi có dấu hiệu sỏi tái phát
2.2 Các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Ở Việt nam Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sỏi túi mật, cắt túi mật nội soi tương đối nhiều, nhưng chưa có nghiên cứu nào về chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi
Năm 2010, nghiên cứu cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện quân Y 103 trên 71 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ thành công sau phẫu thuật đạt 95,8%, với tỷ lệ biến chứng sau mổ chỉ 3% Biến chứng chủ yếu xảy ra ở những bệnh nhân có bệnh lý nền hoặc viêm túi mật hoại tử, trong khi thời gian trung tiện trung bình là 44,7 ± 16,2 giờ.
Nghiên cứu của Lê Văn Duy năm 2017 tại Bệnh viện Bạch Mai về cắt túi mật nội soi ở người cao tuổi cho thấy tỷ lệ biến chứng chung là 8,03%, trong đó 16,67% là mổ cấp cứu và 2,94% là mổ phiên Đáng chú ý, 68,97% bệnh nhân có bệnh lý kèm theo như tiểu đường, tăng huyết áp và bệnh tim mạch Thời gian trung tiện trung bình của người bệnh là 1,84 ± 0,89 ngày, trong khi thời gian nằm viện trung bình là 5,51 ± 3,07 ngày, với thời gian ngắn nhất là 2 ngày và dài nhất là 16 ngày.
Năm 2017, nghiên cứu của Đặng Quốc Ái tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội về phẫu thuật cắt túi mật nội soi trên 80 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ tai biến là 8,8% Nghiên cứu khẳng định rằng phẫu thuật nội soi không chỉ có tính thẩm mỹ cao mà còn giúp rút ngắn thời gian nằm viện, với tỷ lệ thành công đạt 98,6%.
Năm 2018, nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi của Hoàng Việt dũng trên 40 người bệnh cho thấy tỷ lệ biến chứng 7,6%
- Năm 1890 Luwig Courvoisier là người đầu tiên phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi
Vào năm 1896, Kehr đã đề xuất lần đầu tiên việc đặt dẫn lưu vào đường mật sau khi mở đường mật để lấy sỏi, và ông cũng là người chế tạo ra ống dẫn lưu mang tên ông.
- Năm 1897 Quenu là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi có đặt dẫn lưu Kehr.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Đặc điểm bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội thành lập từ năm 2007
- Địa chỉ: Số 1 Tôn Thất Tùng, Phường Trung Tự, Quận Đống Đa, Hà Nội
Hình 2.1: Hình ảnh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Kể từ khi thành lập, Bệnh viện đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc thăm khám và chữa bệnh, hiện có hơn 1000 cán bộ nhân viên, trong đó có hơn 600 cán bộ cơ hữu.
+ Hơn 100 cán bộ kiêm nhiệm
+ Trên 300 cán bộ của trường Đại học Y Hà Nội tham gia công tác khám chữa bệnh
- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội có 9 phòng chức năng, 6 trung tâm, 14 khoa lâm sàng, 7 khoa cận lâm sàng
Bệnh viện tự hào sở hữu đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm, bao gồm các PGS.TS, TS, thạc sĩ, bác sĩ CKII và CKI, với trình độ chuyên môn cao và nhiều năm thực hành lâm sàng.
Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, thành lập năm 2007, thực hiện trung bình từ 5.000 đến 5.300 ca phẫu thuật tiêu hóa và gan mật mỗi năm Hiện tại, khoa có 13 bác sĩ và 14 điều dưỡng, phục vụ khoảng 75 đến 90 bệnh nhân mỗi ngày với 61 giường bệnh Với nguyên tắc chăm sóc bệnh nhân toàn diện, khoa cam kết đảm bảo sự hài lòng, chất lượng và an toàn cho người bệnh Công tác điều dưỡng được quản lý chặt chẽ bởi phòng Điều dưỡng Bệnh viện thông qua các hoạt động hàng ngày Theo khảo sát đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân, tỷ lệ hài lòng đạt trên 90%, cho thấy nhiều bệnh nhân sẵn sàng quay lại hoặc giới thiệu người thân đến khoa điều trị.
Tất cả người bệnh phẫu thuật cắt túi mật nội soi từ 24/10/2020 đến 15/11/2020
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Chọn mẫu: Toàn bộ quần thể gồm có 32 người bệnh phẫu thuật cắt túi mật nội soi từ 24/10/2020 đến 15/11/2020.
Thực trạng chăm sóc NB sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi
Qua khảo sát chăm sóc 32 bệnh nhân sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, chúng tôi đã thu được những kết quả đáng chú ý.
2.2.1 Chăm sóc tư thế nằm ngay sau phẫu thuật
Sau phẫu thuật, bệnh nhân thường cảm thấy đau ở vai phải và chướng bụng do khí CO2 được bơm vào ổ bụng Để giảm thiểu cảm giác khó chịu, điều dưỡng nên hướng dẫn bệnh nhân nằm ở tư thế Sim (nghiêng trái, gập gối) và khuyến khích họ thực hiện các bài thở sâu.
Hình: 2.2: Điều dưỡng hỗ trợ NB tư thế nằm sau phẫu thuật
- Kết quả chăm sóc tƣ thế nằm chúng tôi thu đƣợc cả 32 NB (chiếm 100%) đƣợc điều dưỡng hướng dẫn nằm đúng tư thế ngay sau khi phẫu thuật
3.2.2 Chăm sóc dấu hiệu sinh tồn
Dấu hiệu sinh tồn cần được theo dõi cẩn thận tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân, giai đoạn bệnh và loại phẫu thuật đã thực hiện Trong ngày đầu sau phẫu thuật, người điều dưỡng nên kiểm tra dấu hiệu sinh tồn mỗi 30-60 phút, và thời gian theo dõi có thể kéo dài từ 12 đến 24 giờ Nếu trong những ngày tiếp theo, dấu hiệu sinh tồn ổn định, việc theo dõi có thể giảm xuống còn 2 lần mỗi ngày.
Hình 2.3: Hình ảnh điều dưỡng chăm sóc DHST
Hình 2.4: Hình ảnh bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn
Trong chuyên đề này, chúng tôi nhận thấy rằng việc theo dõi dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân (NB) chưa được thực hiện đúng quy định Trong 12 giờ đầu, 100% bệnh nhân đã được theo dõi đầy đủ các chỉ số sinh tồn như huyết áp, mạch, nhịp thở và nhiệt độ Tuy nhiên, trong những ngày tiếp theo, chỉ có 24 trên 32 bệnh nhân (chiếm 75%) được theo dõi đầy đủ, trong khi 25% còn lại chỉ được theo dõi một lần trong ngày, chủ yếu tập trung vào huyết áp và nhiệt độ, mà không chú trọng đến mạch và nhịp thở.
Việc thực hiện các chỉ số sinh tồn của điều dưỡng chưa đúng quy trình, như thông báo và cho người bệnh nghỉ 15 phút trước khi đo, đã ảnh hưởng đến độ chính xác của các chỉ số này Đặc biệt, 100% người bệnh không được điều dưỡng hướng dẫn nghỉ ngơi trước khi đo dấu hiệu sinh tồn.
Chăm sóc vận động
- Vận động đúng sau phẫu thuật sẽ giúp cho NB tránh đƣợc nhiều biến chứng như: viêm phổi, viêm đường hô hấp
Sau phẫu thuật, quy trình điều dưỡng trong 6 giờ đầu rất quan trọng, bao gồm hỗ trợ người bệnh tập vận động tại giường, thay đổi tư thế và đi lại nhẹ nhàng trong phòng Những hoạt động này giúp kích thích quá trình trung tiện và thúc đẩy sự hồi phục sức khỏe nhanh chóng.
Hình 2.5 Hình ảnh điều dưỡng giúp NB tập vận động sau phẫu thuật
Trong chuyên đề này, kết quả cho thấy có 17/32 bệnh nhân (46,85%) thực hiện tập vận động chủ yếu do người nhà đảm nhiệm mà không có sự hỗ trợ trực tiếp từ điều dưỡng Điều dưỡng chỉ hướng dẫn người nhà bệnh nhân, dẫn đến việc vận động của bệnh nhân không được giám sát thường xuyên.
Chăm sóc ống dẫn ổ bụng, sonde dạ dày
Ống dẫn lưu dưới gan và ống dẫn lưu ổ bụng được kết nối với vỏ chai dịch vô khuẩn, được đặt thấp hơn ổ bụng để ngăn ngừa trào ngược và nhiễm khuẩn ngược dòng, đồng thời đảm bảo tính kín.
- Theo dõi số lượng, màu sắc dịch dạ dày Thường sonde dạ dày được rút trong vòng 24 - 48h đầu sau phẫu thuật khi NB có trung tiện
Theo dõi số lượng, màu sắc và tính chất dịch dẫn lưu là rất quan trọng Nếu dịch dẫn lưu có màu vàng, điều dưỡng cần theo dõi khả năng rò mật sau phẫu thuật, ghi chép vào hồ sơ và thông báo cho bác sĩ Dịch dẫn lưu này thường được sử dụng để phòng ngừa, và bác sĩ sẽ ra y lệnh rút sớm nếu lượng dịch dưới 50ml trong 24 giờ.
- Kết quả thu đƣợc của chúng tôi trong chuyên đề thấy tất cả NB đƣợc chăm sóc ống dẫn ổ bụng, sonde dạ dày đúng quy định
Hình 2.6 Hình ảnh người bệnh đặt dẫn lưu cắt túi mật nội soi.
Chăm sóc vết mổ
Sau phẫu thuật cắt túi mật bằng phương pháp nội soi, điều dưỡng cần theo dõi tình trạng chảy máu tại vết mổ và kiểm tra xem có dịch thấm băng hay không Nếu phát hiện dịch thấm băng, cần tiến hành thay băng và quan sát kỹ vết mổ Trong trường hợp có chảy máu, điều dưỡng phải báo ngay cho bác sĩ để có biện pháp xử trí kịp thời.
Hình 2.7: Bộ dụng cụ thay băng
Kết quả thu đƣợc của chúng tôi là:
Mỗi nhân viên y tế sử dụng một bộ dụng cụ thay băng riêng biệt, được đóng gói cẩn thận và cung cấp bởi khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, nhằm đảm bảo tiêu chuẩn vô khuẩn.
- Người điều dưỡng thực hiện đúng quy trình kỹ thuật thay băng đã được ban hành theo Bộ Y tế quy định
Chăm sóc vết mổ còn gặp một số hạn chế, đặc biệt là vấn đề vệ sinh tay của người điều dưỡng Chỉ có 32,92% nhân viên y tế tuân thủ đầy đủ 5 thời điểm vệ sinh tay, điều này có thể dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn chéo giữa các bệnh nhân.
Hình 2.8: Điều dưỡng thay băng vết mổ
Chăm sóc dinh dƣỡng
Đây là vấn đề rất quan trọng đối với NB sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi,
Bệnh nhân bị sỏi đường mật thường gặp khó khăn trong việc ăn uống, dẫn đến nguy cơ suy kiệt Do đó, chế độ ăn uống cần được chú trọng và cân đối giữa các thành phần dinh dưỡng, đồng thời cần có chế độ ăn riêng biệt cho từng loại bệnh Mặc dù bệnh viện cung cấp chế độ ăn bệnh lý trong thời gian nằm viện, nhưng việc chăm sóc dinh dưỡng vẫn chưa được thực hiện một cách sát sao Cần có sự tư vấn cụ thể hơn cho bệnh nhân về chế độ ăn và bổ sung thêm sữa, nước hoa quả để cải thiện thể trạng.
Chăm sóc dinh dưỡng sau phẫu thuật cho bệnh nhân (NB) gặp nhiều thách thức, đặc biệt khi NB chưa có nhu động ruột và phải nhịn ăn, chỉ được nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch với 1000ml dung dịch Glucose 5% và 500ml Aminoplasma 10% mỗi ngày Khi NB có nhu động ruột, việc ăn uống chủ yếu do người nhà đảm nhận, dẫn đến việc dinh dưỡng không được giám sát chặt chẽ Điều này ảnh hưởng đến quá trình phục hồi sau phẫu thuật, mặc dù khoa dinh dưỡng của bệnh viện đã triển khai suất ăn bệnh lý, nhưng chỉ có 48,78% NB thực hiện theo chế độ này.
NB tự phục vụ theo nhu cầu sở thích của cá nhân.
Chăm sóc vệ sinh
Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân được Bệnh viện cung cấp đầy đủ quần áo và chăn màn, đồng thời được thay đổi quần áo hàng ngày theo quy định Tuy nhiên, việc vệ sinh cá nhân chủ yếu do người nhà đảm nhiệm, với chỉ 28,05% bệnh nhân được hỗ trợ.
NB nặng đƣợc điều dƣỡng trực tiếp vệ sinh thân thể cho NB, điều này dễ dẫn đến
NB không đƣợc vệ sinh thân thể sạch sẽ.
Theo dõi và phát hiện một số biến chứng sớm
Sau khi thực hiện phẫu thuật cắt túi mật nội soi, bệnh nhân có thể gặp một số biến chứng Do đó, điều dưỡng cần theo dõi sát sao tình trạng của bệnh nhân để xây dựng kế hoạch chăm sóc phù hợp từng ngày, nhằm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các biến chứng.
- Chảy máu sau phẫu thuật
Để phòng ngừa các biến chứng trong viêm tụy cấp, điều dưỡng đã theo dõi sát sao bệnh nhân và hướng dẫn họ thực hiện các động tác đơn giản như ngồi dậy, xoay người nhẹ nhàng và đi lại quanh giường Việc này được thực hiện sau khi bệnh nhân nhận thuốc giảm đau nhằm thúc đẩy nhanh chóng nhu động ruột và quá trình liền vết mổ Trong nghiên cứu này, chỉ có 32 bệnh nhân được theo dõi.
01 NB xuất hiện biến chứng sau phẫu thuật là nhiễm trùng vết mổ chiếm 3,1% do
NB cao tuổi, túi mật viêm dính/ NB đái tháo đường tuýp II được phẫu thuật cấp cứu có đặt dẫn lưu ổ bụng
Hình 2.9 Hình ảnh truyền thông, giáo dục sức khỏe cho NB
Sỏi túi mật là bệnh có khả năng tái phát cao, do đó, việc tư vấn cho người bệnh về cách phát hiện bệnh, nhận thức đúng về chế độ ăn uống, sinh hoạt, sử dụng thuốc và lịch tái khám là vô cùng quan trọng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy người điều dưỡng đã thực hiện giáo dục sức khoẻ cho bệnh nhân, nhưng chưa chú trọng đầy đủ vào tâm tư và nguyện vọng của họ Điều này dẫn đến việc chưa đáp ứng hết các nhu cầu của bệnh nhân, đặc biệt trong bối cảnh số lượng bệnh nhân đông và giường bệnh hạn chế.
Tư vấn và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân chưa được thực hiện đầy đủ và thường xuyên, với chỉ 67,07% bệnh nhân được cung cấp thông tin về bệnh sỏi túi mật Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân vẫn thiếu kiến thức về bệnh và cách tự chăm sóc bản thân trong và sau khi ra viện, dẫn đến sự lúng túng và lo lắng về tình trạng sức khỏe của họ.
Giáo dục sức khoẻ
3.1.1 Kết quả chăm sóc NB cắt túi mật nội soi:
Trong 32 NB đƣợc phẫu thuật nội soi cắt túi mật Hầu hết NB đƣợc rút sonde dạ dày ngay ngày đầu sau phẫu thuật NB chủ yếu trung tiện vào ngày đầu sau phẫu thuật, chiếm 70,7% Ngắn nhất là 1 ngày, dài nhất là 4 ngày sau phẫu thuật Trung bình trung tiện sau 1,51 ± 0,69 ngày Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả thấp hơn nghiên cứu của Lê Văn Duy thời gian trung tiện trung bình của tác giả là 1,84± 0,89 ngày, chủ yếu là trong 2 ngày đầu (chiếm 79,31%), lâu nhất là 5 ngày [10] Đạt đƣợc kết quả nhƣ trên là do điều dƣỡng đã giúp NB vận động sớm, thay đổi tƣ thế, hướng dẫn tư thế nằm, vận động ngay những giờ đầu sau phẫu thuật, và 100% điều dưỡng đã lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện chăm sóc NB theo 05 bước của kế hoạch chăm sóc, đƣợc điều dƣỡng chăm sóc, theo dõi sát ngay từ những giờ đầu sau phẫu thuật
Sau phẫu thuật, hầu hết các bệnh nhân đều được theo dõi dấu hiệu sinh tồn theo quy định, tuy nhiên có 26,83% bệnh nhân chỉ được theo dõi một lần mỗi ngày, chủ yếu tập trung vào huyết áp và nhiệt độ, trong khi các chỉ số mạch và nhịp thở thường bị bỏ qua Đặc biệt, 100% bệnh nhân không được điều dưỡng hướng dẫn nghỉ ngơi trước khi đo dấu hiệu sinh tồn, dẫn đến khả năng kết quả bị sai lệch Những trường hợp này thường xảy ra ở bệnh nhân có sức khỏe ổn định sau phẫu thuật, trong bối cảnh nhân lực điều dưỡng mỏng và số lượng bệnh nhân đông.
Việc vệ sinh thân thể cho người bệnh thường được hỗ trợ bởi người nhà, với chỉ 28,5% bệnh nhân nặng và người cao tuổi được điều dưỡng trực tiếp chăm sóc răng miệng và vệ sinh cá nhân Nguyên nhân có thể do phân cấp chăm sóc và đặc điểm phục hồi của bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi cắt túi mật, khi họ thường trung tiện sớm và hồi phục sức khỏe nhanh chóng Ngay từ ngày đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân có khả năng vận động nhẹ nhàng và tự vệ sinh cá nhân.
NB lại có 01 người nhà hỗ trợ chăm sóc NB cũng mong muốn được người nhà ngồi
BÀN LUẬN
Giải pháp để giải quyết, khắc phục vấn đề
Để nâng cao hiệu quả vệ sinh tay trong bệnh viện, cần phát động và tổ chức thực hiện chương trình vệ sinh tay cho nhân viên y tế Việc trang bị đầy đủ thiết bị và vật tư cần thiết sẽ thúc đẩy sự tuân thủ quy định vệ sinh tay Đồng thời, cần tăng cường tuyên truyền và giám sát để nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của vệ sinh tay trong công tác chăm sóc bệnh nhân.
Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho điều dưỡng, đồng thời cập nhật kiến thức mới nhất trong lĩnh vực chăm sóc và tư vấn giáo dục sức khỏe.
- Mở rộng cơ sở hạ tầng, có thêm phòng bệnh, giường bệnh, phòng truyền thông giáo dục sức khỏe cho NB
Điều dưỡng trưởng cần giám sát chặt chẽ quy trình theo dõi dấu hiệu sinh tồn của điều dưỡng viên, đảm bảo việc ghi chép vào bảng phiếu theo dõi được thực hiện đầy đủ Ngoài ra, việc tổ chức họp rút kinh nghiệm thường xuyên cho các điều dưỡng viên cũng rất quan trọng để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
- Điều dưỡng trưởng phải tăng cường giám sát việc thực hiện quy trình của điều dƣỡng viên
Để nâng cao hiệu quả tư vấn giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, cần thường xuyên lồng ghép nội dung này vào các buổi họp Hội đồng bệnh nhân cấp khoa Đồng thời, giám sát điều dưỡng cũng cần thực hiện tư vấn giáo dục sức khỏe hàng ngày cho bệnh nhân để đảm bảo thông tin được truyền đạt đầy đủ và kịp thời.
- Có thể làm tờ rơi, poster để tuyên truyền giúp NB hiểu về bệnh và cách chăm sóc bản thân
3.2.3 Đối với điều dưỡng viên
Cần nâng cao ý thức tự giác và lòng yêu nghề trong việc chăm sóc người bệnh (NB) Điều dưỡng phải có tinh thần trách nhiệm, sát sao với NB và giải thích rõ ràng về chế độ ăn bệnh lý sau phẫu thuật Họ cần theo dõi bữa ăn hàng ngày, đồng thời chăm sóc vệ sinh răng miệng và thân thể cho NB mỗi ngày.
- Cần tuân thủ 5 thời điểm rửa tay và thực hiện thành thạo quy trình rửa tay, tạo thói quen vệ sinh bàn tay trong chăm sóc NB
Cần hỗ trợ trực tiếp trong việc vận động cho người bệnh, khuyến khích sự giúp đỡ từ người nhà nhưng phải đảm bảo hướng dẫn cẩn thận và có sự giám sát chặt chẽ.
Cần cung cấp hướng dẫn và hỗ trợ cho người nhà bệnh nhân, đồng thời giám sát quá trình chăm sóc vệ sinh để tránh các biến chứng do thiếu kiến thức về bệnh và khả năng tự chăm sóc của họ.
Điều dưỡng cần đầu tư thời gian để trò chuyện và tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người bệnh, từ đó tư vấn và giáo dục sức khỏe, giúp người bệnh yên tâm hơn trong quá trình điều trị.