gia của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng cho các hoạt động bảo vệ và nâng cao sức khỏe, đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ là biện pháp quan trọng giúp người dân có kiến
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Các văn bản pháp lý hướng dẫn công tác TT – GDSK
- Ngày 07/06/2011, Bộ Y tế ra Quyết định số 1827/QĐ-BYT năm 2011 về việc phê duyệt “ hành động truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011- 2015” [1]
- Ngày 10/3/2014 Bộ Y tế ra văn bản 1018/BYT-TT-KT về việc hướng dẫn hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ năm 2014 [2]
- Điều 4 TT 07/2011/TT-BYT“ Hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” kí ngày 26/01/2011.[3]
Sức khỏe là vốn quý nhất trong mỗi con người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc [4] Sức khỏe cũng là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào [4]
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật [7] Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) và Phân loại quốc tế về Bệnh tật (ICD), thường được sử dụng để định nghĩa và để đo đạc các thành phần của sức khỏe Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chỉ ra rằng: các yếu tố chính quyết định đến sức khỏe đó là: môi trường kinh tế và xã hội, môi trường vật lý, và đặc điểm và ứng xử của mỗi cá nhân [8]
Tại Việt nam, mọi người cũng đều công nhận ra rằng những vấn đề sức khỏe có nhiều nguyên nhân đa dạng và chúng tương tác lẫn nhau Những nguyên nhân này có thể là những hành vi sức khỏe cá nhân, những điều kiện môi trường, những chính sách y tế không phù hợp, các chương trình y tế hoặc các dịch vụ y tế chưa đạt hiệu quả [9]
Việc giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có sự quan tâm đến những nguyên nhân này Can thiệp là một biện pháp, can thiệp tốt nó sẽ tác động đến một nguyên nhân, làm ảnh hưởng và thay đổi thói quen xấu, thói quen không có lợi cho sức khỏe
Từ các định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy rằng có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm : xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị, môi trường và sinh học Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp và kỹ thuật học thích hợp để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trình được sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe
1.1.3.1 Các khái niệm cơ bản
Chủ yếu là cung cấp thông tin một chiều từ nguồn phát đến người nhận tin, thường khó thu thập được thông tin phản hồi từ người nghe, người nhận đến nguồn phát tin
Là lập đi lập lại một loại thông tin 1 chiều nhưng nhiều lần, vào nhiều thời điểm khác nhau, nhiều dạng khác nhau mang tính hấp dẫn khiến cho đối tượng lúc đầu chưa tin nhưng rồi lâu dần cũng phải tin Một trong những dạng đó là quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng
1.1.3.2 Nâng cao sức khoẻ (Health Promotion)
Trước thập niên 80 người ta chỉ dùng thuật ngữ giáo dục sức khỏe (Health Education) Sau đó không lâu, Hội Giáo Dục Sức Khỏe Công Cộng được cải tiến nhiều hoạt động trong lĩnh vực này và gần đây các nhà giáo dục sức khỏe đã đưa ra khái niệm rộng hơn là nâng cao sức khoẻ: Nâng cao sức khoẻ (Health
Promotion) là một quá trình làm cho mọi người nâng cao sự kiểm soát các vấn đề sức khoẻ và cải thiện sức khoẻ của chính bản thân họ
Khi nói đến nâng cao sức khỏe, người ta không thể không đề cập tới y tế công cộng Bởi vì nâng cao sức khỏe và y tế công cộng san sẻ mục tiêu chung của việc cải thiện sức khỏe Lĩnh vực y tế công cộng rộng hơn nâng cao sức khỏe trong các kỹ thuật, chính sách, bảo vệ, kiểm tra, giám sát môi trường cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác Nâng cao sức khỏe chịu trách nhiệm làm thay đổi những quá trình thuộc hành vi sức khỏe xã hội, cải thiện hành vi sức khỏe cá nhân, thực hiện các biện pháp sức khỏe công cộng[5] Mọi người đều công nhận rằng những vấn đề sức khỏe có nhiều nguyên nhân đa dạng và chúng tương tác lẫn nhau Những nguyên nhân này có thể là những hành vi sức khỏe cá nhân, những điều kiện môi trường, những chính sách y tế không phù hợp , giảm các chương trình y tế hoặc các dịch vụ y tế Một ví dụ cụ thể về những nguyên nhân chết do ung thư phổi bao gồm: Hút thuốc : thuộc hành vi sức khỏe cá nhân, ô nhiễm không khí thuộc yếu tố môi trường, thiếu các chương trình y tế công cộng do đó các chương trình kiểm tra hút thuốc không được thực hiện, thị trường thuốc lá tự do vì thiếu chính sách công cộng, sàng lọc và chuyển đi điều trị không đầy đủ do thiếu các dịch vụ y tế Việc giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có sự quan tâm đến những nguyên nhân này Can thiệp chỉ là một biện pháp tác động đến một nguyên nhân, nếu muốn các chương trình y tế công cộng thành công cần phải tác động đến nhiều nguyên nhân 1.1.3.3 Định nghĩa giáo dục sức khỏe (Health Education)
Giáo dục sức khỏe cũng giống như giáo dục chung đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức , thái độ và thực hành của con người Phát triển những thực hành lành mạnh mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người [6]
Giáo dục sức khỏe cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân , gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là:
- Kiến thức của con người về sức khỏe
- Thái độ của con người về sức khỏe
- Thực hành của con người về sức khỏe
Cũng từ định nghĩa trên cho thấy giáo dục sức khỏe là một quá trình nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là xong Vì vậy, để thực hiện công tác giáo dục sức khỏe chúng ta phải có sự đầu tư thích đáng, hết sức kiên trì thì mới đem lại hiệu quả cao
Giáo dục sức khỏe chính là quá trình dạy học có mối quan hệ qua lại 2 chiều Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người giáo dục sức khỏe và đối tượng được giáo dục sức khỏe Ở đây vai trò của giáo dục sức khỏe là tạo những hoàn cảnh thuận lợi cho mọi người tự giáo dục mình Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua sự nổ lực của người học (đối tượng được giáo dục sức khỏe) với sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận lợi của người dạy Từ sơ đồ trên cho thấy mối quan hệ giữa người làm giáo dục sức khỏe và đối tượng được giáo dục sức khỏe Người làm công tác giáo dục sức khỏe không chỉ dạy cho học viên của mình mà còn học từ học viên của mình Thu nhận thông tin phản hồi là vấn đề hết sức quan trọng mà người làm công tác giáo dục sức khỏe cần phải hết sức coi trọng, để kịp thời điều chỉnh bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng
Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác , đầy đủ về sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe con người như là: nguồn lực hiện có, sự lãnh đạo của cộng đồng, hổ trợ xã hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Vì thế giáo dục sức khỏe sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các hành động tăng cường sức khỏe thích hợp 1.1.3.4 Mục tiêu giáo dục sức khỏe:
Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe là giúp cho mọi người:
- Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ
Cơ sở thực tiễn
Vấn đề sức khỏe được hiểu rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực chuyên môn trong ngành y tế Hiện nay thường có hai cách hiểu về “vấn đề sức khỏe”
Cách thứ nhất: “Vấn đề sức khỏe” được hiểu theo định nghĩa sức khỏe của
Tổ chức y tế thế giới, đó là tình trạng thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không bó hẹp ở tình trạng ốm đau, bệnh tật Với cách hiểu này, vấn đề sức khỏe công cộng đề cập đến những vấn đề sức khỏe của một quần thể, tình trạng sức khỏe của tập thể, những dịch vụ vệ sinh môi trường, những dịch vụ y tế tổng quát và quản lý dịch vụ chăm sóc v.v
Cách thứ hai: “Vấn đề sức khỏe” được hiểu là “Vấn đề tồn tại của sức khỏe cộng đồng” có nghĩa là tình trạng bệnh, tật, thiếu hụt về thể lực, dinh dưỡng, những tồn tại về vệ sinh môi trường hoặc những tồn tại trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của ngành y tế cũng như toàn xã hội
1.2.2 Xác định vấn đề sức khỏe công cộng
Xác định vấn đề sức khỏe là tìm ra được những vấn đề sức khỏe trong một cộng đồng cụ thể Khái niệm xác định vấn đề sức khỏe công cộng được mở rộng cả việc xác định những nguyên nhân, những giải pháp can thiệp một cách khoa học, thích hợp cho từng vấn đề sức khỏe công cộng cụ thể Tuỳ theo mục đích can thiệp mà người ta chú ý nhiều hơn đến xác định vấn đề sức khỏe công cộng theo cách hiểu thứ nhất hay thứ hai Tuy nhiên, trong khi xác định vấn đề sức khỏe của một cộng đồng khó tách riêng biệt vấn đề sức khỏe theo cách hiểu nào vì trong một vấn đề sức khỏe công cộng được đưa ra để can thiệp bao gồm cả giải quyết những tồn tại và những yếu tố nâng cao trình độ sức khỏe của cộng đồng đó
Trước đây, nhất là trong thời kỳ bao cấp, song song với cách quản lý theo phương thức chỉ đạo từ trên xuống (nhất nhất là mọi hoạt động y tế đều thực hiện theo “chỉ tiêu kế hoạch được giao”) việc xác định vấn đề sức khoẻ của một cộng đồng là từ những chỉ tiêu được đưa từ Bộ Y tế xuống Sở Y tế rồi xuống Phòng y tế huyện và cuối cùng là xuống Trạm y tế xã Như vậy Phòng y tế huyện thực hiện chỉ tiêu của Sở Y tế, Trạm y tế xã thực hiện chỉ tiêu của Phòng y tế huyện Cả một dây chuyền “Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch” tạo ra tâm lý thụ động, làm vì cấp trên nhiều hơn cho chính cộng đồng của mình Với cách giải quyết các vấn đề sức khỏe công cộng do từ trên đưa xuống đã dẫn đến những vấn đề sức khỏe không sát thực với các cộng đồng; việc giải quyết các vấn đề sức khỏe thụ động, không khoa học, không thích hợp, các cơ sở y tế tuyến dưới ít khi nghĩ tới việc cần phải xác định xem mình cần làm gì để giải quyết những vấn đề tồn tại mà cộng đồng của mình yêu cầu v.v Đặc biệt trong mỗi cộng đồng có rất nhiều vấn đề sức khỏe phải giải quyết, nếu không xác định được vấn đề sức khỏe thực sự cần thiết phải can thiệp và có khả năng giải quyết cũng như khả năng duy trì kết quả, thì sẽ có các quyết định sai, làm lãng phí nguồn lực và thời gian
1.2.3 Phân tích vấn đề sức khỏe
Phân tích vấn đề sức khỏe là sử dụng những thông tin đủ, có giá trị từ cộng đồng và các nguồn thông tin khác; sử dụng những phương pháp khoa học khác nhau để phân tích nhằm xác định được những vấn đề tồn tại, vấn đề sức khỏe, những vấn đề sức khoẻ ưu tiên trong cộng đồng, đồng thời phân tích những yếu tố, những nguyên nhân dẫn đến vấn đề sức khỏe đó Phân tích vấn đề sức khỏe công cộng còn được đề cập đến cả phân tích khả năng của các quyết định can thiệp đúng và hiệu quả cho các vấn đề sức khỏe đã được xác định
Mục đích của phân tích vấn đề sức khỏe: Trong giải quyết các vấn đề sức khỏe công cộng, không có một nước nào có đủ nguồn lực để giải quyết một lúc tất cả các vấn đề, ngay cả đối với các nước phát triển Trong hoàn cảnh nguồn lực không bao giờ đủ mà yêu cầu về chăm sóc sức khỏe lại cao Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn này? Người quản lý phải cân nhắc việc đầu tư vào đâu, đầu tư vào khâu nào có hiệu quả nhất Để giải quyết việc đầu tư vào đâu, để giải quyết vấn đề có hiệu quả trước hết chúng ta phải biết được nguồn gốc của vấn đề sức khỏe là ở đâu: do môi trường hay tập quán; hoặc do các yếu tố khác? Mục đích của phân tích vấn đề sức khỏe là để giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề sức khỏe đó Cụ thể khi phân tích vấn đề sức khỏe chúng ta cần phải làm các việc sau đây:
Xác định được các vấn đề sức khỏe và vấn đề sức khỏe ưu tiên trong cộng đồng
Phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng sức khỏe đó, xác định các nguyên nhân chính, các yếu tố góp phần dẫn đến vấn đề sức khỏe trên
Phân tích các giải pháp, các quyết định can thiệp cũng như khả năng về nguồn lực
Phân tích, theo dõi, đánh giá chương trình can thiệp
1.2.4 Truyền thông giáo dục sức khỏe
Truyền thông giáo dục sức khỏe có vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng vì thế đã được Tổ chức y tế Thế giới (TCYTTG) xếp là nội dung số một trong các nội dung về Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) [6], [40] Ớ nước ta nhận thức được vai trò quan trọng của truyền thông – giáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế rất quan tâm đến hoạt động truyền thông – giáo dục sức khỏe Nghị quyết số 46- NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe là một trong những nhiệm vụ quan trọng và giải pháp chủ yếu để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [1] Truyền thông giáo dục sức khỏe góp phần tích cực trong tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về y tế, trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại với sức khỏe, phòng chống dịch bệnh và tham gia hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng, góp phần tạo ra sự bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe[5]
Truyền thông giáo dục sức khỏe là hoạt động mang tính xã hội và áp dụng các phương pháp hợp lý để thông tin và gây tác động đến quyết định của mỗi cá nhân và cộng đồng nhằm nâng cao sức khỏe bao gồm quá trình giúp đỡ, động viên để mọi người hiểu được vấn đề sức khỏe của họ và từ đó lựa chọn được cách giải quyết vấn đề thích hợp Truyền thông giáo dục sức khỏe là một quá trình thường xuyên, liên tục và lâu dài, nó tác động đến ba lĩnh vực của đối tượng được Truyền thông giáo dục sức khỏe: kiến thức của đối tượng về vấn đề sức khỏe, thái độ của đối tượng đối với vấn đề sức khỏe và thực hành hay hành vi ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn đề sức khỏe, bệnh tật [12],
Tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh, tới người bệnh được lãnh đạo bệnh viện rất quan tâm và chú trọng Truyền thông giáo dục sức khỏe giúp người bệnh và người nhà người bệnh hiểu rõ được bệnh tình của mình, các phương pháp phẫu thuật, can thiệp, điều trị, Những điều cần biết trong theo dõi, luyện tập, điều trị trong quá trình điều trị tại bệnh viện cũng như khi trở về với gia đình và cộng đồng Tuy còn nhiều điểm hạn chế song công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh trước, trong và sau quá trình điều trị đã đem lại hiệu quả tốt hơn cho người bệnh Cụ thể đó là công tác tư vấn điều trị trước phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật chấn thương chỉnh hình, phẫu thuật tim mạch – lồng ngực, phẫu thuật ghép tạng nói chung và đặc biệt hơn đó là phẫu thuật ghép tim
Hình ảnh 1.2: Điều dưỡng trưởng tổ chức họp hội đồng người bệnh tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh sau mổ tim tại phòng giao ban Khoa Hồi sức tích cực Tim mạch – Lồng ngực, Bệnh viện Việt Đức 1.2.5 Tổ chức nói chuyện giáo dục sức khỏe
Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp cho đối tượng truyền thông - giáo dục sức khỏe trực tiếp được nghe những thông tin mới nhất về vấn đề sức khỏe có liên quan tới bản thân, gia đình và cộng đồng của đối tượng Các cuộc nói chuyện sức khỏe có tác dụng chủ yếu là có thể làm thay đổi nhận thức và giúp đối tượng suy nghĩ hướng tới việc thay đổi thái độ và hành vi.Tuy nhiên để đối tượng thật sự thay đổi được hành vi, cần phải kết hợp với nhiều biện pháp giáo dục và sự hổ trợ khác
Hình ảnh 1.3: Tư vấn – giáo dục sức khỏe người bệnh đến khám trước phẫu thuật Khi tổ chức một buổi nói chuyệngiáo dục sức khỏe, cần tiến hành những việc làm sau đây:
Xác định rõ chủ đề của cuộc nói chuyện và chỉ nên khu trú vào một chủ đề
Xác định đối tượng tham dự, thông báo trước ngày giờ, địa điểm để đối tượng chuẩn bị tới dự, nếu cần có thể thông báo một vài lần để tránh quên
Xác định nội dung cốt lõi cần trình bày
Xác định khoảng thời gian trình bày
Xác định trình tự trình bày
Ghép tim
Ghép tim là một quy trình phẫu thuật ghép bằng việc loại bỏ quả tim bị bệnh thay thế bằng một quả tim khỏe mạnh từ người cho đa tạng chết não Chỉ định ghép tim được thực hiện trên người bệnh có chẩn đoán bệnh suy tim giai đoạn cuối hoặc bệnh mạch vành nặng, bệnh tim bẩm sinh phức tạp khi các phương pháp điều trị y khoa hoặc phẫu thuật khác đã thất bại
Ghép tim có mã 37.51 trong phân loại Bệnh Quốc tế và các vấn đề liên quan sức khỏe ICD 9 – CM, có mã MeSH là D016027
Người cho đa tạng chết não là một người hiến tạng chết não hiến ít nhất từ 2 loại tạng khác nhau trở lên đã được phục hồi cho mục đích ghép tạng 1.3.2 Chỉ định ghép tim trên người
Suy tim sung huyết ảnh hưởng đến 23 triệu người trên toàn thế giới trong đó có 7,5 triệu người ở Bắc Mỹ Tỉ lệ mắc bệnh suy tim trong dân số Hoa kỳ từ
Tại Việt nam, tỉ lệ người bệnh suy tim giai đoạn cuối có chỉ định ghép ngày càng gia tăng trên nhiều lứa tuổi Ghép tim trên người (ghép đồng loài) từ người cho đa tạng chết não là phương pháp điều trị được lựa chọn cho nhiều người bệnh suy tim giai đoạn cuối vẫn có triệu chứng mặc dù điều trị nội khoa tối ưu Kết quả lâu dài sau ghép đã được cải thiện với những tiến bộ trong lựa chọn người bệnh là ứng viên cấy ghép Kỹ thuật, phẫu thuật, phương thức ức chế miễn dịch và chăm sóc, điều trị sau hậu phẫu giúp người bệnh phục hồi sức khỏe đóng góp vai trò tích cực Bên cạnh đó công tác giáo dục sức khỏe cũng giữ vị trí then chốt giúp người bệnh tuân thủ và cải thiện chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, trên thế giới cũng như hiện nay tại bệnh viện Việt Đức, Việt nam nói riêng và cơ sở Ngoại khoa thực hiện phẫu thuật ghép tim, số lượng người bệnh cần ghép sớm và số lượng bệnh nhân có danh sách chờ ghép nhiều hơn so với số lượng người chết não hiến tạng Do đó, việc lựa chọn, phân loại các nhóm suy tim giai đoạn cuối, người bệnh có chỉ định sớm hơn, phù hợp hơn để cấy ghép được đặt ra hàng đầu mang lại lợi ích cao nhất
Người bệnh suy tim tiến triển được phân thành 2 hệ thống dựa trên mức độ nghiêm trọng ; Phân loại theo Hiệp hội Tim mạch NewYork (NYHA) phân loại người bệnh theo tình trạng chức năng từ I (không giới hạn trong hoạt động) đến IV ( triệu chứng xảy ra khi nghỉ ngơi) NYHA III ( triệu chứng khi gắng sức tối thiểu) và NYHA II khó thở nhẹ làm hạn chế hoạt động bình thường Ghép tim ở người bệnh đáp ứng không đầy đủ với liệu pháp y tế đã được chứng minh giúp kéo dài sự sống và cải thiện chất lượng cuộc sống Tất cả các vấn đề nêu trên bên cạnh đó vai trò can thiệp công tác giáo dục sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng
1.3.3 Tổng quan về kết quả nghiên cứu chất lượng cuộc sống người mắc bệnh tim mạch
1.3.3.1 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân suy tim mạn
Trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ trong điều trị giúp kéo dài thời gian sống, tuy nhiên bệnh suy tim mạn vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao ở người bệnh tim mạch [74] Bệnh tật là gánh nặng đối với người bệnh và gia đình Người bệnh thường xuyên phải vào điều trị tại bệnh viện và mọi chăm sóc phải phụ thuộc vào nhân viên y tế và sự hỗ trợ của gia đình Chính vì lẽ đó, suy tim mạn còn ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống, bệnh tật, công việc, tài chính, gia đình và xã hội, do hạn chế các lĩnh vực hoạt động
1.3.3.2 Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống người bệnh sau ghép tim trên thế giới
* Quy trình giáo dục sức khỏe cho người bệnh ghép tim từ người cho đa tạng chết não tại trung tâm tim mạch - lồng ngực bệnh viện Hữu nghị Việt Đức:
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
2.1 Thực trạng của công tác giáo dục sức khỏe tại trung tâm tim mạch – lồng ngực
Tất cả bệnh nhân được ghép tim tại bệnh viện Viết đức tổi tờ 10 trở lên 2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân sau ghép đã mất
2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
TT tim mạch – lồng ngực – Bệnh viện Hữu nghị Việt đức
Thời gian nghiên cứu từ 1/3/2013 đến ngày 30/4/2020
- Mô tả hồi cứu, tiến cứu
- Lấy kết quả từ pháp vấn người bệnh trực tiếp trên giấy
Thời gian nghiên cứu từ 2021 đến 30/4/2020
Sơ đồ 2.1 Qui trình nghiên cứu
Bệnh nhân đến bệnh viện Việt Đức – khám, tư vấn về tình trạng sức khỏe
Tư vấn, giải thích tình trạng người bệnh trước khi ghép
Tư vấn điều trị thời gian nằm hồi sức sau ghép
Tư vấn tình trạng sức khỏe trong thời gian nằm điều trị tại hồi sức
Tư vấn, GDSK cho người bệnh khi ra viện và khi trở về nhà
Chương 3 BÀN LUẬN KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Có 23 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu trong tổng số 29 ca ghép tim tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, tính tới thời điểm 30 /4 /2020
3.1 Đặc điểm người bệnh trước ghép tim
- Đặc điểm dịch tễ học
Bảng 3.5: Phân bố tuổi bệnh nhân vào thời điểm ghép tim
Nhóm tuổi (năm) n Tỉ lệ %
- Phân bố giới tính:Nam giới có 18 ca (78,3%), nữ giới có 5 ca (21,7%)
- Phân bố bệnh nhân trước ghép theo nơi sinh sống: Ngoại thành 11 ca (47,8%); Thành thị 12 ca (52,2%)
- Phân bố bệnh nhân trước ghép theo trình độ học vấn: Tiểu học - Trung học cơ sở 2 ca (đang học - 8,6%); Phổ thông trung học 11 ca (47,8%); Cao đẳng, Đại học 10 ca (43,6%)
Bảng 3.6: Phân bố bệnh nhân trước ghép theo nghề nghiệp
- Phân bố bệnh nhân trước ghép theo tình trạng hôn nhân gia đình: 19/23 trường hợp có gia đình riêng (92,6%)
- Các đặc điểm cá nhân nhập viện trước ghép về lối sống: 14/23 trường hợp không hút thuốc lá (60,9%); 17/23 trường hợp không uống rượu (73,9%)
- Chỉ số BMI bình thường chiếm 78,3% (18 ca); thiếu cân 21,7% (5 ca); không có thừa cân
- Nhóm máu O chiếm 43,5% (10 ca); máu B chiếm 30,4% (7 ca); máu A chiếm 21,7% (5 ca); và máu AB chiếm 4,3% (1 ca)
3.2.Tình trạng kinh tế, chi phí điều trị
Bảng 3.7: Đặc điểm về phương thức chi trả của người bệnh khi ghép
Phương thức chi trả N Tỉ lệ %
Người chi trả cho người bệnh
Bản thân và gia đình 18 78,3
Tài trợ XH + gia đình 04 17,4
Nhận xét: : Tất cả người bệnh đều có Bảo hiểm y tế Các chi phí ngoài bảo hiểm y tế được chi trả bởi bệnh nhân và gia đình họ (18 ca – 78,3%); bởi họ hàng thân thích (1 ca – 4,3%); bởi trợ giúp xã hội và họ hàng (4 ca – 17,4%)
Phân bố bệnh nhân theo mức thu nhập gia đình thì hộ nghèo có 2 ca (8,7%); còn lại ở mức trung bình (52,2%) và khá giả (39,1%)
3.3 Một số đặc điểm bệnh lý:
Bảng 3.8: Phân bố theo bệnh tim chính dẫn đến suy tim
Nguyên nhân suy tim n Tỷ lệ %
Nhận xét: bệnh cơ tim giãn là nhóm bệnh chiếm phần lớn 91,3% (21) người bệnh được nhận tim trong nghiên cứu
Bảng 3.5: Phân bố theo thời gian phát hiện bệnh và số lần nằm viện
Thời gian phát hiện bệnh (tháng)
Phân bố theo các bệnh lý phối hợp: viêm (loét) dạ dày 2 ca (8,7%); suy thận 2 ca (8,7%); xơ gan tim 4 ca (17,4%); tiểu đường và Gout mỗi loại 1 ca (4,3%)
3.4 Tình hình người bệnh sau ghép
Bảng 3.6: Thời gian sống sau ghép cứu tính đến thời điểm nghiên cứu
Thời gian sống n Tỉ lệ % (n#)
Nhận xét: thời gian sống thêm trong nhóm nghiên cứu trên 5 năm là 17,4% và trên 3 năm là 39,1% và trên 1 năm là 79,3%
Bảng 3.7: Nghề nghiệp bệnh nhân quay lại làm việc sau xuất viện
Không tham gia lao động 3 13,0
Nhận xét: phần lớn người bệnh (87%) người bệnh quay trở lại làm việc mà trước khi mắc bệnh họ đã làm Cán bộ, viên chức làm công việc văn phòng đều đi làm việc lại bình thường sau 3 tuần xuất viện Người bệnh tham gia công việc kinh doanh và học sinh, làm nông nghiệp công việc mức độ nhẹ cũng quay lại công việc trong vòng 2-3 tháng sau ra viện Có 03 bệnh nhân không tham gia lao động do bệnh nhân và gia đình của họ không mong muốn tiếp tục đi làm
Bảng 3.8: Thời gian người bệnh ghép tim trở lại lao động làm việc
Thời gian ra viện N Tỉ lệ % (n )
Nhận xét: Lối sống của bệnh nhân sau ghép: có sự thay đổi nhiều, những bệnh nhân có hút thuốc và uống rượu bia trước ghép đã bỏ hẳn; và tình trạng khối cơ thể được kiểm soát: không béo phì và tình trạng cân nặng đều cải thiện sau ghép với BMI bình thường chiếm 87% (20 ca) và BMI hơi thấp 13% (3 ca) 3.5 Kết quả truyền thông giáo dục sức khoẻ
Hỗ trợ từ gia đình và nhân viên y tế :
100% người bệnh trả lời họ được sự hỗ trợ tốt từ gia đình và xã hội sau ghép 3.5.1 Hỗ trợ của nhân viên y tế ( bác sĩ và Điều dưỡng):
Bảng 3.9: Sự hỗ trợ từ nhân viên y tế sau ghép Những nội dung người bệnh trả lời được hỗ trợ
Tốt và rất tốt Trung bình n
% Liên lạc thường xuyên với người bệnh 22 95.6 1 4.4 Hướng dẫn sử dụng thuốc 21 91.3 2 8.7 Hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh( rửa tay đúng cách- đeo khẩu trang)
Hướng dẫn tuân thủ sống lành mạnh( không hút thuốc + rượu bia)
Phát hiện sớm thải ghép 23 100 0 0
Bảo vệ da và vệ sinh răng miệng 22 95.6 1 4.4 Ăn uống thực phẩm an toàn 20 87.0 3 13.0 Tập thể dục theo hướng dẫn 21 91.3 2 8.7 3.5.2 Người bệnh đánh giá hoạt động truyền thông - GDSK
Rất tốt Tốt Trung bình Chuẩn bị trước khi thực hiện
3 Chuẩn bị người thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe 20 2 1
Thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe
5 Chào hỏi, làm quen với đối tượng 21 1 1
6 Người nói chuyện giới thiệu về mình 22 1 0
7 Giới thiệu chủ đề nói chuyện, tạo sự chú ý của người nghe 21 2 0
8 Nêu rõ mục tiêu của buổi truyền thông giáo dục sức khỏe 20 1 2
9 Nói đủ to để mọi người nghe rõ 19 2 2
10 Trình bày nội dung chính thích hợp với chủ đề 20 1 2
11 Quan sát bao quát được đối tượng nghe 19 2 2
12 Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu 21 2 0
13 Sử dụng các tài liệu, phương tiện thích hợp 20 1 2
14 Nêu ví dụ minh hoạ cho người nghe dễ hiểu 20 1 2
15 Kết hợp sử dụng ngôn ngữ không lời 19 2 2
16 Tạo điều kiện để người nghe đặt câu hỏi 20 2 1
17 Trả lời các câu hỏi của người nghe ngắn gọn, đủ ý 18 2 3
18 Tóm tắt nội dung mấu chốt từng phần trình bày 18 2 3
19 Tạo cơ hội cho người nghe thực hành lại nếu có nội dung thực hành 17 2 4
Kết thúc nói chuyện sức khoẻ
20 Tóm tắt toàn bộ chủ đề thảo luận 19 2 2
21 Nhấn mạnh những điểm cần nhớ, cần làm 21 1 2
22 Cảm ơn người nghe và người tổ chức 20 2 1
23 Tạo điều kiện tiếp tục hỗ trợ đối tượng 17 5 1
3.5.2 Người bệnh đánh giá hoạt động tư vấn truyền thông – GDSK cho người bệnh ghép tim
Rất tốt Tốt Trung bình Chuẩn bị trước khi thực hiện
3 Chuẩn bị người thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe 20 2 1
Thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe
5 Chào hỏi, làm quen với đối tượng ( là bệnh nhân, người thân trong gia đình) 21 1 1
6 Người nói chuyện giới thiệu về mình ( Bác sĩ, điều dưỡng) 22 1 0
Giới thiệu chủ đề nói chuyện, tạo sự chú ý của người nghe (Chẩn đoán bệnh, chỉ định phẫu thuật ghép tim)
Nêu rõ mục tiêu của buổi truyền thông giáo dục sức khỏe ( tư vấn về quy trình phẫu thuật ghép tim từ lúc đến khám đăng kí đến khi được ghép, quá trình phẫu thuật và theo dõi chăm sóc người bệnh sau ghép, Tài chính cho ca ghép, đạo đức tâm linh…)
9 Nói đủ to để mọi người nghe rõ 19 2 2
10 Trình bày nội dung chính thích hợp với chủ đề 20 1 2
11 Quan sát bao quát được đối tượng nghe 19 2 2
12 Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu 21 2 0
Sử dụng các tài liệu, phương tiện thích hợp, văn bản pháp luật quy định trong phẫu thuật ghép tạng
14 Nêu ví dụ minh hoạ cho người nghe dễ hiểu ( các bệnh nhân đã được ghép…) 20 1 2
15 Kết hợp sử dụng ngôn ngữ không lời 19 2 2
16 Tạo điều kiện để người nghe đặt câu hỏi 20 2 1
17 Trả lời các câu hỏi của người nghe ngắn gọn, đủ ý 18 2 3
18 Tóm tắt nội dung mấu chốt từng phần trình bày 18 2 3
19 Tạo cơ hội cho người nghe thực hành lại nếu có nội dung thực hành 17 2 4
Kết thúc nói chuyện sức khoẻ
20 Tóm tắt toàn bộ chủ đề thảo luận 19 2 2
21 Nhấn mạnh những điểm cần nhớ, cần làm 21 1 2
22 Cảm ơn người nghe và người tổ chức 20 2 1
23 Tạo điều kiện tiếp tục hỗ trợ đối tượng 17 5 1
24 Hỗ trợ gia đình các thủ tục khi đến nhập viện và cả quá trình điều trị tại bệnh viện 22 1 0
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
1 Về mô hình tổ chức
Công tác truyền thông giáo dục tại đơn vị đã và đang tổ chức mang tính hệ thống thông qua khảo sát cho thấy hầu hết các lãnh đạo, nhân viên: bác sĩ , Điều dưỡng đã lồng nghép hoạt động giáo dục sức khỏe vào các quy trình: thăm khám ban đầu, trong quá trình điều trị chăm sóc và ngay sau ra viện theo dõi cộng đồng: hầu hết người bệnh trả lời được Thầy thuốc thường xuyên gọi điện thoại hỏi thăm và tư vấn tình trạng sức khỏe khi người bệnh liên lạc hoặc thông qua người thân
2 Về phương pháp giáo dục truyền thông
Tại cơ sở đã sử dụng nhiều phương thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp một cách hiệu quả thông qua các nội dung đã khảo sát cho thấy: đa đạng về phương thức tuy nhiên hiệu quả người bệnh đánh giá cao và đem lại giá trị nhất là truyền thông trực tiếp thông qua hoạt động tư vấn giáo dục trực tiếp qua các hoạt động chăm sóc và điều trị trực tiếp của người bệnh: của Bác sĩ và Điều dưỡng
3 Về nội dung giáo dục truyền thông
Thông qua kết quả đánh giá khảo sát hoạt động truyền thông người bệnh thông qua nhóm người bệnh ghép tim được theo dõi trước trong và sau khi ghép: kết quả cho thấy hoạt động giáo dục truyền thông tại cơ sở đã và đang tổ chức hiệu quả: người bệnh đã hiểu được bệnh tật, những nguy cơ và rủi do có thể mắc phải sau khi ghép, trở về với cộng đồng: các hoạt động như thay đổi lối sống theo hướng tích cực, thường xuyên tập luyện sức khỏe, ăn uống an toàn thực phẩm, giữ gìn vệ sinh tốt, phòng chống nguy cơ các bệnh lây nhiễm qua đường bàn tay, đường hô hấp và đã có các phương thức phù hợp như đeo khẩu trang, hạn chế tiếp xúc nơi đông người, không thăm người ốm…