Tuy nhiên, trên thực tế qua hồ sơ bệnh án và khảo sát phỏng vấn sơ bộ một số bệnh nhân THA đến điều trị tại đây, cho thấy rất nhiều BN trả lời là uống thuốc chưa đúng theo phác đồ của bá
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Các vấn đề về huyết áp và tăng huyết áp
1.1.1.1 Định nghĩa Định nghĩa huyết áp: Là áp lực ở trong lòng động mạch góp phần giúp cho máu được luân chuyển trong lòng động mạch tới các mô và cơ quan Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu) là do lực co bóp của tim tạo nên Huyết áp của chúng ta ở mức cao nhất khi tim co bóp Trái lại huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương) là do trương lực thành mạch tạo nên (và trong thời kỳ tim giãn - tâm trương) Huyết áp bị ảnh hưởng bởi tim (sức co bóp và nhịp đập); độ quánh của máu; thể tích máu lưu thông và bản thân thành mạch (sức đàn hồi)
Theo tổ chức Y tế Thế giới, HA bình thường đo ở cánh tay ≤ 120/80mmHg
HA có đặc điểm thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm lý và một số yếu tố khác [8] Định nghĩa tăng huyết áp: Là khi huyết áp của bạn thường xuyên cao hơn mức bình thường (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trương) Theo Tổ chức Y tế thế giới; Một người trưởng thành (≥ 18 tuổi) gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg Tăng huyết áp có thể là tăng cả huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, hoặc chỉ tăng một trong hai dạng đó [8] 1.1.1.2 Triệu chứng tăng huyết áp Đa số bệnh nhân tăng huyết áp không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh thì có thể có các triệu chứng sau:
- Đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương
- Ù tai, hoa mắt , chúng mặt, đi lại loạng choạng không vững
- Hay quên, trí nhớ giảm, tập trung chú ý giảm
- Rối loạn vận mạch: tê chân tay, mất cảm giác, run đầu chi
- Rối loạn thần kinh thực vật: hay có cơn bốc hỏa, đỏ mặt, nóng bừng người Các triệu chứng trên là các triệu chứng không đặc hiệu của người bệnh THA,
4 với những triệu chứng đó cũng là triệu chứng của nhiều bệnh khác
- Đo huyết áp: Là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định tăng huyết áp
1.1.1.3 Chẩn đoán tăng huyết áp
* Chẩn đoán xác định tăng huyết áp
Dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo HA đúng quy trình thì ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi theo từng cách đo huyết áp
Bảng 1 1 Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo
Nội dung Huyết áp tâm thu (HATT)
Huyết áp tâm trương (HATTr) Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình ≥140 mmHg ≥ 90 mmHg Đo bằng máy đo HA tự động 24 giờ ≥ 130 mmHg ≥ 80 mmHg
Tự đo tại nhà (đo nhiều lần) ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg
* Chẩn đoán phân độ THA
Có nhiều cách phân độ tăng huyết áp, dựa vào phúc trình số 7 của Ủy ban liên hợp quốc gia Hoa Kỳ nhằm phát hiện, lượng giá, phòng ngừa và điều trị THA ( JNC VII), phân độ THA chỉ còn 2 độ và giai đoạn tiền THA (Bảng1.2) Bộ Y tế cũng đưa ra cách phân độ THA dựa vào trị số HA do cán bộ y tế đo được (Bảng1.3) Bảng 1 2 Phân độ THA ở người ≥ 18 tuổi theo JNC VII [20]
Phân độ THA HATT(mmHg) HATr(mmHg)
1.1.1.5 Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp [8], [15]
- Tiền sử gia đình có người bị THA: nhiều nghiên cứu cho thấy THA có thể
5 có yếu tố di truyền
- Rối loạn lipid máu: nồng độ cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây tăng huyết áp
- Hút thuốc lá/lào: chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp
- Ăn mặn: lượng muối ăn hàng ngày quá cao cũng là nguyên nhân gây THA
- Thừa cân/ béo phì; béo bụng
- Tuổi cao (nam > 55 tuổi, nữ > 65 tuổi) tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều, do thành mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế gây nên THA
- Uống nhiều rượu/bia: có mối liên quan với tăng huyết áp
- Stress và căng thẳng tâm lý: căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim, dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, Noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến tăng huyết áp
- Ít hoạt động thể lực: lối sống tĩnh tại cũng được coi là nguy cơ của THA
1.1.1.6 Biến chứng của tăng huyết áp
Tăng huyết áp gây nên tổn thương ở nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt hay gặp là tổn thương ở tim, não, thận, mắt và mạch máu lớn Các biến chứng của THA nguy hiểm không chỉ bởi vì có thể gây chết người, mà còn để lại những di chứng nặng nề (liệt doTBMMN, suy tim, suy thận ) ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của BN và là gánh nặng của gia đình và xã hội [6] Các biến chứng thường gặp:
- Đột qụy, thiếu máu thoáng qua, sa sút trí tuệ, hẹp động mạch cảnh
- Phì đại thất trái (trên điện tâm đồ hay siêu âm tim), suy tim
- Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi
- Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị [2]
1.1.1.7 Dự phòng tăng huyết áp
- Đối với người chưa bị THA, cần lưu ý vấn đề sinh hoạt hàng ngày nhất là
6 các thói quen có hại cho sức khỏe, phải khám định kỳ để phát hiện THA hay các bệnh liên quan, cần chú ý những người có nguy cơ mắc bệnh cao
- Đối với bệnh nhân đã bị THA cần phải thực hiện tuân thủ chặt chẽ hơn nữa trong chế độ ăn uống như không hút thuốc lá/lào, hạn chế ăn mặn, hạn chế ăn uống các chất kích thích, nghỉ ngơi theo dõi HA thường xuyên, cần tuân thủ chế độ điều trị ngoại trú để theo dõi tiến triển, tác dụng phụ của thuốc [9]
1.1.2 Điều trị và tuân thủ điều trị tăng huyết áp
1.1.2.1 Những nét cơ bản trong điều trị tăng huyết áp
* Mục tiêu điều trị tăng huyết áp [2]
- Mục tiêu quan trọng nhất của điều trị THA là nhằm giảm tối đa và lâu dài nguy cơ bệnh tim mạch
- Đối với hầu hết các bệnh nhân, HA mục tiêu phải ở mức < 140/90 mmHg, thậm trí thấp hơn nếu bệnh nhân có thể dung nạp được
- Đối với BN đái tháo đường hoặc có nguy cơ cao rất cao, huyết áp mục tiêu cần phải đạt là < 130/80 mmHg
- Cần lưu ý là ngay cả khi điều trị phối hợp thuốc, HATT mục tiêu < 140 mmHg hay < 130 mmHg không phải lúc nào cũng đạt được và càng khó hơn nếu BN cao tuổi, có đái tháo đường hoặc có bệnh lý tim mạch kết hợp
- Khi điều trị đã đạt HA mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài cùng với việc theo dõi chặt chẽ định kỳ 2]
* Nguyên tắc chung điều trị THA
Tăng huyết áp là một bệnh mãn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa nguy cơ tim mạch, “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là