1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu cụm di tích lịch sử ATK II, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang

122 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc và toàn diện hơn về sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng cũng như vai trò to lớn của nhân

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CỤM DI TÍCH LỊCH SỬ ATK II HIỆP HOÀ 1.1 Vài nét về huyện Hiệp Hoà 5

1.1.1 Quá trình hình thành huyện Hiệp Hoà 5

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 7

1.1.3 Điều kiện xã hội 11

1.2 Khái quát về cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa 24

1.2.1 Những điều kiện để Hiệp Hòa trở thành ATK II 26

1.2.2 Sự thành lập ATK II của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ 30

Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CỤM DI TÍCH LỊCH SỬ ATK II HIỆP HOÀ 2.1 Các di tích trong cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà 37

2.1.1 Địa điểm nhà cụ Ngô Văn Thấu 37

2.1.2 Soi Đền 40

2.1.3 Địa điểm nhà cụ Nguyễn Văn Chế 42

2.1.4 Đình Chợ Vân 44

2.1.5 Đình Xuân Biều 46

2.1.6 Đình Vân Xuyên 48

2.1.7 Địa điểm nhà cụ Ngô Văn Đông 49

2.2 Những giá trị cơ bản của cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà 50

2.2.1 Giá trị lịch sử 50

2.2.2 Giá trị văn hoá 60

Trang

Trang 3

Chương 3:

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỤM DI TÍCH LỊCH SỬ

ATK II HIỆP HOÀ

3.1 Thực trạng cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà 66 3.2 Thực trạng công tác bảo tồn cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa 73 3.3 Vấn đề tu bổ, tôn tạo cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa 83

3.3.1 Một số biện pháp tu bổ cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa 84 3.3.2 Tôn tạo di tích 87

3.4 Khai thác, phát huy giá trị của

cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà 88

3.4.1 Đối với nhà truyền thống Hoàng Vân: 88 3.4.2 Hình thành các tuyến tham quan 90 3.4.3 Tuyên truyền, giới thiệu về cụm di tích trên các phương tiện thông tin đại chúng 91

KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, gian khổ, từ khi ra đời, Đảng ta liên tục bị quân thù khủng bố ác liệt Các hoạt động khủng

bố của quân thù đã gây nhiều tổn thất to lớn cả về đội ngũ cán bộ đảng viên

và bộ máy tổ chức của Đảng Trong hoạt động cách mạng, nhiều đồng chí của Trung ương, của các Xứ ủy, tỉnh ủy…đã bị sa vào tay địch, nhiều đồng chí bị địch sát hại; bộ máy tổ chức bị chúng đánh phá nhiều lần Từ thực tế đó, đặt

ra vấn đề cấp bách là phải nhanh chóng phát triển lực lượng cách mạng vững mạnh, bảo vệ lực lượng an toàn để lãnh đạo cách mạng sớm đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công Vì vậy, từ năm 1941, Trung ương Đảng đã chủ trương xây dựng các căn cứ địa và an toàn khu Đây là một trong những nhân

tố góp phần quyết định đưa cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 giành thắng lợi nhanh chóng trong toàn quốc

An toàn khu II của Trung ương Đảng được xây dựng nằm trong chủ trương chung ấy An toàn khu II được xây dựng bao gồm một hệ thống cơ sở cách mạng nằm hai bên dòng sông Cầu, thuộc địa bàn giáp ranh giữa ba huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), Phổ Yên, Phú Bình (Thái Nguyên), trong đó chủ yếu nằm trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, cửa ngõ của căn cứ địa Việt Bắc đi xuống đồng bằng

An toàn khu II là một loại hình căn cứ đặc biệt, có vai trò trọng yếu trong việc đảm bảo an toàn cho cơ quan đầu não, cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Xứ ủy và Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ được liên tục, kịp thời, thông suốt

Ngay từ khi được xây dựng, An toàn khu II đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn Cơ sở cách mạng, lực lượng cách mạng trên địa bàn ATK II được

Trang 5

củng cố vững chắc và phát triển sâu rộng, là nơi đứng chân an toàn của nhiều

cớ quan lãnh đạo, cơ quan chuyên môn của Trung ương, của Xứ ủy Bắc Kỳ, sau đó là Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ; nơi tổ chức nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự, nhiều hội nghị quan trọng An toàn khu II còn là đầu mối giao thông liên lạc đi đến nhiều địa bàn cách mạng của cả nước góp phần lãnh đạo, chỉ đạo, đưa cuộc vận động Cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi vào tháng 8 năm 1945

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ, nhân dân vùng ATK II đã sớm nhận thức được trách nhiệm to lớn của mình, đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, phát huy cao độ truyền thống đấu tranh và những thế mạnh của địa phương, làm tròn vai trò cuuar một An toàn khu của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ

Tìm hiểu cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc và toàn diện hơn về sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng cũng như vai trò to lớn của nhân dân vùng ATK II Hiệp Hòa đối với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Là sinh viên khoa Bảo tàng, em thật sự hứng thú với các di tích lịch sử- văn hóa và muốn đi sâu tìm hiểu về chúng Viết khóa luận tốt nghiệp là một

cơ hội để em có thể nghiên cứu và tìm hiểu nhiều loại hình di tích, nhất là di tích lịch sử cách mạng, hiểu biết và tự hào hơn về truyền thống cách mạng của quê hương

Xuất phát từ những lý do trên, em quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu

cụm di tích lịch sử ATK II, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” làm khóa

luận tốt nghiệp

Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của TS Phạm Thu Hương, sự giúp đỡ của các cán bộ Ban Quản lý di tích tỉnh

Trang 6

Bác Giang, Phòng Văn hóa huyện Hiệp Hòa và các cán bộ trông coi di tích tại địa phương Mặc dù đã rất cố gắng, song do trình độ, năng lực và thời gian còn hạn chế, cũng như thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên đề tài của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

2 Mục đích nghiên cứu

- Trước hết, làm rõ vai trò, vị trí của ATK II Hiệp Hòa trong cuộc vận

động Cách mạng giải phóng dân tộc năm 1945

- Tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và thực trạng của cụm di tích ATK II Hiệp Hòa

- Tìm hiểu những giá trị của cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận chính là cụm di tích lịch sử ATK

II trên địa bàn huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang gồm các di tích: địa điểm nhà

cụ Ngô Văn Thấu, Soi Đền, nhà cụ Nguyễn Văn Chế, đình Chợ Vân, đình Xuân Biều, đình Vân Xuyên và nhà cụ Ngô Văn Đông

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian:

Nghiên cứu cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà từ khi cụm di tích được hình thành đến nay (từ năm 1943 đến nay)

Trang 7

- Về không gian:

Nghiên cứu cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà đặt trong không gian lịch sử - văn hóa của vùng đất Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

4 Phương pháp nghiên cứu

+ Khi nghiên cứu về cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa, tôi sử dụng phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin: chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng để tìm hiểu quá trình tồn tại và biến đổi của các di tích trong cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà từ khi xây dựng đến nay

+ Sử dụng các phương pháp khoa học để tiến hành nghiên cứu: Bảo tàng học, Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá, Khoa học lịch sử, Dân tộc học, Xã hội học,

+ Sử dụng các phương pháp khảo sát, thống kê, nghiên cứu tài liệu, đo

vẽ, chụp ảnh, và miêu tả di tích, thống kê, so sánh kết hợp với điều tra ghi chép lời kể của nhân dân, những người trông coi di tích để thu thập và xử lý thông tin

5 Bố cục bài khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, bố cục bài khoá luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà

Chương 2: Những giá trị cơ bản của cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà

Trang 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CỤM DI TÍCH LỊCH SỬ ATK II HIỆP HOÀ

1.1 Vài nét về huyện Hiệp Hoà

1.1.1 Quá trình hình thành huyện Hiệp Hoà

Các kết quả khảo cổ học đã chứng minh con người có mặt trên đất Hiệp Hoà ngay từ thời kỳ đồ đá, những xóm làng đầu tiên của Hiệp Hoà hình thành dọc hai bờ sông Cầu Khu di chỉ Đông Lâm thuộc xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hoà khai quật với diện tích 80 m2 và sâu 1,8 m đã phát hiện nhiều đồ đá,

đồ đồng, đồ gốm và cả khuôn đúc rìu đồng bằng đá có niên đại cách nay khoảng 3070 năm Điều đó chứng tỏ Hiệp Hoà đã có một trung tâm đúc đồng

từ rất sớm

Theo “Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hiệp

Hoà (1938 -1954)”, Ban Thường vụ Huyện uỷ xuất bản năm 1992, phần phụ

lục, thời Hùng Vương, Hiệp Hoà thuộc bộ lạc Tây Âu, nằm trong bộ lạc Vũ Ninh Thời thuộc Hán, Hiệp Hoà nằm trong huyện Long Biên, quận Giao Chỉ Thời Lý, Hiệp Hoà có tên gọi là Phật Thệ nằm trong phủ Bình Lỗ, thuộc lộ Bắc Giang Thời Trần có tên là Thiện Thệ, thời Lê mới có tên gọi chính thức

là Hiệp Hòa thuộc phủ Bắc Hà Đến năm 1831 Hiệp Hòa nằm trong phủ Thiên Phúc

Thời Bắc thuộc đơn vị hành chính cơ sở là hương Từ đầu thế kỷ thứ 10 đơn vị Giáp thay dần các Hương Thời Lê (1428-1789) đơn vị hành chính đi vào hoàn chỉnh, năm 1428 đơn vị cấp xã được xác định là cấp cơ sở Cuối thời Lê và trong cả thời Nguyễn (1802-1883) xuất hiện thêm hai cấp trung gian là Tổng và Phủ Tổng gồm nhiều xã, là cấp trung gian giữa xã và huyện Phủ là cấp trung gian giữa huyện và tỉnh (hoặc trấn)

Trang 9

Trấn Kinh Bắc thời Lê gồm 4 phủ: Thuận An, Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang Phủ Bắc Hà có 180 xã, gồm 4 huyện: Hiệp Hòa, Yên Việt (nay là Việt Yên), Kim Hoa (nay là Kim Anh), Tiên Phúc (nay là Đa Phúc) Vào thời Lê Hiệp Hòa là một huyện nhỏ, chỉ có 22 xã Năm 1485 đã có 54 xã Năm 1821 phủ Bắc Hà đổi thành phủ Thiên Phúc Năm 1832 hai huyện Yên Việt và Hiệp Hòa lập thành phân phủ Tiên Phúc, năm 1852 phân phủ này không còn

Thời nhà Nguyễn, Hiệp Hòa xê xích trong khoảng 50 - 51 xã đặt trong

9 tổng là: Đức Thắng, Hà Nhuyễn (hay Hà Châu), Cẩm Bào, Mai Đình, Hoàng Vân, Gia Định, Quế Trạo (hay Quế Sơn), Tiên Thù, Sơn Giao

Như vậy cho đến cuối thế kỷ 19 phạm vi của Hiệp Hòa tiến sang cả bên kia sông Cầu Đầu thế kỷ 20 tổng Hà Nhuyễn được chuyển về huyện Tư Nông của Thái Nguyên (nay là huyện Phú Bình) và tổng Tiên Thù cắt về huyện Phổ Yên Năm 1902 tổng Sơn Giao giải tán đưa vào tổng Đức Thắng và nhập hai

xã Quảng Lâm, Hòa Lâm thành xã Ngọc Thành Liền sau thời gian đó Hiệp Hòa nhận về hai tổng của Việt Yên: Đông Lỗ, Ngọ Xá Năm 1920 Hiệp Hòa lập thêm Tổng Ngọc Thành

Dưới thời Pháp thuộc số tổng vẫn như vậy nhưng bớt đi một số đất đai làng xã ở phía bắc, nhưng lại lấy thêm đất đai làng xóm ở phía đông thuộc Yên Thế và phía nam thuộc Việt Yên Vào khoảng năm 1900 huyện lỵ của Hiệp Hòa vẫn còn nằm ở xã Trung Trật (làng Giật bây giờ), đó là trung tâm của vùng đất cũ Nhưng sau này huyện lỵ Hiệp Hòa chuyển lên thị trấn Thắng

để thành trung tâm của vùng đất đã bớt và thêm

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng giải thể, tổ chức liên xã hoặc xã ra đời Hoà bình lập lại, đơn vị hành chính cấp cơ

sở ổn định là xã và thị trấn Thị trấn được xác định rõ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện, và là đơn vị hành chính cơ sở trực thuộc huyện

Trang 10

Thời kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa, các xã trong huyện luôn luôn xảy

ra sự tách gộp do dân số phát triển và đổi tên các xã, các làng

Trên chặng đường dài trong lịch sử thay đổi về tên gọi cấp huyện, tổng

và xã đó, ngày nay Hiệp Hoà có 25 xã và 1 thị trấn

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giang Huyện lỵ là thị trấn Thắng cách thành phố Bắc Giang 30km và cách thủ đô Hà Nội 50km theo đường bộ Phía Đông Bắc giáp huyện Tân Yên, phía Đông giáp huyện Việt Yên, phía Nam giáp vùng đồng bằng châu thổ Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh, phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn của Hà Nội, phía Tây Bắc giáp các huyện Phổ Yên và Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên

Huyện chia thành 26 đơn vị hành chính: thị trấn Thắng, xã Bắc Lý, xã Châu Minh, Đại Thành, Danh Thắng, Đoan Bái, Đông Lỗ, Đồng Tân, Đức Thắng, Hòa Sơn, Hoàng An, Hoàng Lương, Hoàng Thanh, Hoàng Vân, Hợp Thịnh, Hùng Sơn, Hương Lâm, Lương Phong, Mai Đình, Mai Trung, Ngọc Sơn, Quang Minh, Thái Sơn, Thanh Vân, Thường Thắng, xã Xuân Cẩm

Nếu lấy thị trấn Thắng làm tâm điểm xuất phát thì Hiệp Hoà cách thành phố Thái Nguyên 40 km, cách thủ đô Hà Nội 50 km và thành phố Bắc Giang 30 km

Như vậy Hiệp Hoà nằm trong tam giác và trên trục đường trung chuyển của cả 3 vùng: thành thị đông người- đồng bằng nhiều của cải và núi rừng hiểm trở, đất rộng người thưa Cho nên Hiệp Hoà có vị trí mang tầm chiến lược trên nhiều phương diện, nhất là về an ninh - quốc phòng Điều này được minh chứng qua suốt chiều dài lịch sử của đất nước Hiệp Hoà còn nằm trong

Trang 11

khu đệm, là cửa ngõ, phên giậu án ngữ hai vùng chiến lược trọng yếu giữa châu thổ sông Hồng với vùng rừng núi Việt Bắc rộng lớn

- Địa hình đồi thấp: Phân bổ rải rác ở tất cả các xã trong huyện, trong đó

phân bố tập trung ở 13 xã miền núi Địa hình này có độ chia cắt trung bình, địa hình lượn sóng, độ dốc bình quân khoảng 8 - 150 (cấp II), hướng độ dốc không

ổn định Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 120 - 150 m Loại địa hình này có diện tích khoảng 5.264 ha, chiếm 26,18% diện tích tự nhiên

- Địa hình bằng: Dạng địa hình này khá bằng phẳng, lượn sóng nhẹ

thường nằm ven các sông suối Độ dốc bình quân khoảng 0 - 80, độ cao trung bình từ 10 - 20 m so với mực nước biển Diện tích khoảng 14.834 ha, chiếm 73,82% diện tích tự nhiên Phần lớn diện tích đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, khu dân cư

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.110 ha (tức 201 km2), trong

đó đất nông nghiệp là 13.479 ha chiếm 67%, đất lâm nghiệp 190,3 ha chiếm 0,9%, đất chưa sử dụng 1.653,2 ha chiếm 8,2% Điều kiện thổ nhưỡng của Hiệp Hoà chủ yếu là đất phù sa cổ bạc màu, đất nâu vàng, xám gio, độ phì mỏng; bề mặt có hệ sinh thái phong phú Đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp

* Khí hậu và sông ngòi

Hiệp Hoà nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và miền núi Bắc Bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa Trên cơ sở số liệu khí tượng trạm Hiệp Hoà (toạ độ 1050 50’, 210 22’) có các chỉ số sau:

Trang 12

- Nhiệt độ trung bình năm là: 23,40C

- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng 7) là: 32,60C

- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng 1) là: 13,40C

- Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình 6,20C (cao nhất 7,30C, thấp nhất 4,10C)

- Bức xạ nhiệt: Vùng có bức xạ trung bình so với vùng khí hậu nhiệt đới

Số giờ nắng trong ngày đạt 4,6 giờ, tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 9 (197,7 giờ)

- Lượng mưa: Xét theo chế độ mưa, vùng có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tổng lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 8 (294,1 mm), tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất là tháng 12

- Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm khoảng 1081,2 mm chiếm 68,94% lượng mưa cả năm Lượng bốc hơi cao nhất xảy ra vào các tháng có nhiệt độ cao (từ tháng 5 đến tháng 7)

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình tương đối cao, khoảng 82%, độ ẩm trung bình thấp nhất 65%

- Gió bão: Về mùa đông vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam Tốc độ gió trung bình khoảng 2m/s Huyện ít bị chịu ảnh hưởng của bão

Khí hậu ở Hiệp Hoà mang đầy đủ tính đa dạng, phân hoá rõ rệt theo mùa Đây là điều kiện khí hậu thích hợp đối với cây trồng, vật nuôi, thuận lợi phát triển sản xuất và tạo cho con người ở đây tính cách ôn hoà và sức khoẻ dẻo dai, cùng với khí chất bền vững

Trang 13

Dòng sông Cầu với 52 km là một chiến hào thiên tạo và là 2/3 đường biên của Hiệp Hoà với 3 tỉnh, thành, ôm lấy 12 xã trong huyện, phình ra như một cánh cung và tạo thế như một dải lụa đẹp, đậm nét thi ca Hợp với sông Cầu là sông Công (thuộc xã Hợp Thịnh) và sông Cà Lồ ( thuộc xã Mai Đình), kết nối với ngòi Yên Ninh 1, Yên Ninh 2, Cầu hanh, Ngọ Khổng, Đại La…tạo

ra những bến bãi, âu thuyền đem lại giá trị kinh tế cao Với 650 ha ao hồ (tương đương 6 km2) cùng với 150 km kênh mương đủ để trữ nước, nuôi thả thuỷ hải sản và tưới tiêu điều hoà cho nông nghiệp toàn huyện Đây là mạng lưới sông suối quan trọng cung cấp nước tưới tiêu phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện Ngoài ra còn có nhiều hồ ao có khả năng điều tiết một phần nước mưa chống úng và trữ nước cho mùa khô

Nhìn chung, hệ thống sông Cầu có vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và hoạt động dân sinh của cả một khu vực rộng bao gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, trong đó có huyện Hiệp Hoà Tuy vậy trong những năm gần đây môi trường sông Cầu đang bị ô nhiễm nặng

do chất thải công nghiệp và khai thác quá mức; chế độ thuỷ văn thất thường do nạn phá rừng thượng nguồn, xói lở bờ sông và mất đất canh tác…

Về mùa mưa nước sông Cầu thường dâng cao gây úng lụt ngập các vùng đất ngoài đê, cản trở đến việc tiêu nước nội đồng gây úng ngập cục bộ Mùa khô, mực nước sông Cầu xuống thấp do giảm diện tích rừng ở thượng nguồn và nhu cầu khai thác ngày càng cao của một vùng ven sông, do vậy tình trạng thiếu nước phục vụ cho sản xuất nhất là đoạn cuối các kênh tưới ngày càng gia tăng

* Tài nguyên thiên nhiên

+ Tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng không phải là thế mạnh của Hiệp Hoà, theo kết quả thống

kê đất đai năm 2007 diện tích đất lâm nghiệp có 107,27 ha, chủ yếu là đất rừng

Trang 14

sản xuất, chiếm 0,53% tổng diện tích tự nhiên, đáp ứng một phần cho sản xuất, nhưng trữ lượng còn thấp, chỉ duy trì và tạo cảnh quan môi trường huyện Chính

vì thế mà hệ sinh thái động thực vật trong rừng hầu như là không có

+ Tài nguyên khoáng sản

Kết quả điều tra cho thấy trên địa bàn huyện không có khoáng sản quý hiếm, chỉ có một số nguyên vật liệu xây dựng như sét, sỏi, cuội, cát ở vùng ven sông Cầu Tuy nhiên, nguồn vật liệu xây dựng ở đây trữ lượng rất hạn chế, nguồn đất sét làm gạch ngói đang cạn kiệt dần, nguồn cát chủ yếu là bồi lắng rải rác trên 42 km bờ sông Cầu, không có mỏ tập trung Việc khai thác vật liệu xây dựng dọc sông Cầu đang dẫn đến tình trạng xói, lở sông, tiềm ẩn

vỡ đê vào mùa mưa, ảnh hưởng đến môi trường sông Cầu và an toàn sản xuất cho khu vực ven sông Hiệp Hoà có 1 mỏ sét gốm trữ lượng khoảng 135 nghìn m3 chất lượng chỉ để làm đồ sành sứ, ngoài ra còn phát hiện ra mỏ barit

có thể khai thác sử dụng cho các lĩnh vực công nghiệp khác nhau như: sản xuất thuỷ tinh, hoá chất, dung dịch khoan Đặc biệt còn phát hiện được một điểm mỏ fenspat, tuy nhiên chất lượng không được tốt, trữ lượng nhỏ, chỉ phục vụ công nghiệp địa phương Để tiếp tục phát triển lĩnh vực sản xuất và khai thác vật liệu xây dựng ở đây, cần phải quy hoạch các khu vực khai thác

và có biện pháp quản lý tốt thì mới đảm bảo an toàn cho môi trường

Đất sét chịu lửa ở Đức Thắng có chất lượng tốt, trắng mịn, có thể làm

đồ sứ Đất sét dùng làm gốm sành ở xã Châu Minh, xã Lương Phong có trữ lượng lớn Cát sỏi dọc sông Cầu Vùng đồi núi có đá ong làm vật liệu xây dựng Qua khảo sát địa chất có than và sắt nhưng chưa đến tuổi khai thác

1.1.3 Điều kiện xã hội

* Kinh tế

Biết bao thế kỷ đã qua, biết bao lớp người kế tiếp nhau vun tạo mảnh đất này, để có hôm nay thấm đượm trong người dân Hiệp Hoà những kinh

Trang 15

nghiệm làm ăn và trở thành nguyên lý sống “nhất nước – nhì phân”, “nhất

thì – nhì thục”…Từ bao đời người dân Hiệp Hoà đã coi “ Hạt thóc - Hạt

vàng” với nghề nông trồng lúa nước là chủ đạo, từ kỹ thuật giản đơn, thô sơ, canh tác để tiến lên nắm bắt được lịch thời vụ, phân ra đôi vụ chiêm mùa và nhiều kinh nghiệm về thâm canh, chống lụt, phòng hạn Dọc theo sông Cầu, một hệ thống đê điều sừng sững mọc lên vừa bảo vệ mùa màng, vừa giữ gìn thôn xóm

Bên cạnh nghề trồng lúa nước, cư dân Hiệp Hoà còn làm nghề đánh cá Nghề trồng vườn – kinh tế vườn cũng được chú trọng Nhiều làng đồi đã tạo nên những vườn cây trái xum xuê với đủ loại sản vật như mít, chanh, bưởi, vải, nhãn, trám…Suốt một dải ven sông Cầu từ Quang Minh, Đại Thành, Hợp Thịnh đến Xuân Cẩm, Mai Đình, Đông Lỗ là quê hương của những làng cổ truyền trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa và cây trầu không nổi tiếng được khách hàng ưa chuộng Không phải không có lý do khi nói đến thế mạnh cổ

truyền của những địa phương đã được đúc kết từ lâu trong lịch sử: “Rau cải

Tiếu nấu nước Điếu cũng ngon”, “Hành Nga Trại, cải Tiếu Mai”, “Trầu không chợ Chã”, “Rau Đồng Gạo, gạo Hương Ninh, khoai lang Đa Hội”…Ngoài ra còn có nghề đan lát ở Mai Trung, nghề đường mía ở Hoàng

Vân, Mai Đình, nghề rèn sắt ở Đức Thắng…khiến loại hình nông nghiệp ở Hiệp Hoà thêm đa dạng

Buôn bán được coi là nghề phụ, được tiến hành phần lớn vào những lúc nông nhàn hoặc chỉ là sự trao đổi những nông sản dư thừa chủ yếu thông qua

hệ thống chợ làng

Hiệp Hòa chủ yếu sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thủy sản Nhờ hệ thống mương máng người dân có thể trồng hai vụ lúa và một vụ hoa màu trong một năm Trong những năm gần đây Hiệp Hòa đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa,

Trang 16

xây dựng các cụm công nghiệp nhằm thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại

Hiện nay, huyện đã tiến hành quy hoạch chi tiết Khu đô thị mới phía

tây Thị trấn Thắng, gồm Trung tâm thương mại rộng 20 ha, trong đó có chợ,

nhà hàng, khu giải trí, thể thao và quy hoạch xây dựng siêu thị tại khu vực chợ huyện hiện nay Huyện đã tiến hành cắm mốc quy hoạch chung Thị trấn Thắng Giải phóng mặt bằng, di chuyển tái định cư 19 hộ trước cửa UBND huyện để năm 2011 đầu tư xây dựng khuôn viên trung tâm huyện Đã quy

hoạch lại khu vực hành chính huyện cạnh hồ Thống Nhất và mời gọi các

doanh nghiệp đầu tư

Ngày 14-12-2010, UBND huyện đã công bố quy hoạch chi tiết dự án xây dựng Khu công nghiệp Mai Đình- Châu Minh do tập đoàn Phú Mỹ làm chủ đầu tư Tập đoàn Phú Mỹ đã khảo sát diện tích 600 ha, trước mắt được cấp 207 ha

Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, do đó giá trị sản xuất bình quân/người có xu hướng tăng ngày càng nhanh, đời sống của nhân dân trong huyện ngày càng cải thiện

- Tỉnh lộ có 3 tuyến với tổng chiều dài 40 km, gồm:

+ Tuyến đường 295 từ ngã ba Dĩnh đến phà Đông Xuyên dài 22 km + Tuyến đường 296 từ Thắng – Vát dài 9 km

Trang 17

+ Tuyến đường 288 từ thị trấn Thắng – Hoàng Vân – Gia Tư dài 9 km

- Đường huyện có 7 tuyến chính gồm:

+ Tuyến từ phố Thắng đi Gầm (275 cũ), từ QL 37 đến bến Gầm dài 10,5

km

+ Tuyến Lý Viên đi Bầu, từ TL 295 đến Đình Xuân Biểu dài 3,6 km + Tuyến Tràng phố Hoa, từ phố Tràng QL37 đến phố Hoa xã Bắc Lý dài 9,25 km

+ Tuyến 30/4, từ tỉnh lộ 288 đến trung tâm y tế huyện dài 0,6 km

+ Tuyến 675, từ Ngã 3 Tràng Than phố Thắng (QL 37) đến Đức Thắng (TL 296) dài 1,2 km

+ Tuyến cầu Ca - Hà Châu, từ cầu Ca (QL37) đến cầu treo Hà Châu dài 3,3

km

+ Tuyến cụm công nghiệp, từ Trung Đồng đến Việt Hùng 1,2 km

- Đường liên xã có các tuyến chính là:

+ Tuyến liên xã Nga Trại - Chợ Đài dài 3,5 km, chiều rộng 6 m

+ Tuyến liên xã Đại Thành - Đại Mão dài 2 km, chiều rộng 6 m

+ Tuyến từ ngã tư An Hoà xã Đoan Bái (QL37) đi cầu Ngọc Thành xã Ngọc Sơn qua Lương Phong dài 9 km

+ Tuyến liên xã miền núi, từ Hoàng An đến Ngọc Vân, Thanh Vân dài 12,5

km

+ Tuyến Thái Sơn – Hoà Sơn – Hùng Sơn dài 7,3 km

+ Tuyến Bách Nhẫn đi Xuân Cẩm dài 5 km

+ Tuyến Chợ Ngọ đi Châu Minh dài 2,5 km

+ Tuyến TL 296 đi đê Quang Minh dài 2,8 km

+ Quốc lộ 37 đi Đoan Bái dài 3 km

+ Tuyến từ chợ Thường (đường tỉnh 296) - đi qua Thường Thắng đến Đống Vồng (đường tỉnh 295) dài 4 km

Trang 18

+ Tuyến chợ Ngọ - đê Ngọ Khổng dài 2,5 km

+ Tuyến đường liên xã Hoàng Vân dài 8 km

+ Tuyến Lương Phong – Sơn Quả - Cải tạo đất dài 6 km

Ngoài ra còn có nhiều tuyến đường liên thôn, đường dân sinh và nội đồng khoảng trên 410 km Điểm quan trọng là hầu hết các tuyến đường giao thông trục chính đều chạy qua trung tâm huyện lỵ, phân bổ khá đều và chạy qua phần lớn các xã

Ngoài giao thông đường bộ, huyện Hiệp Hoà còn có thể khai thác giao thông đường thuỷ trên sông Cầu dài trên 40 km, giáp thành phố Hà Nội với các hệ thống phà, tàu, thuyền… có thể chuyên chở người và hàng hoá phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội Đồng thời các tuyến đường sông này là một tuyến đường đê đi kèm tạo điều kiện phát triển cả giao thông đường thuỷ và giao thông đường bộ giữa các xã trong huyện Tuy vậy, các hoạt động kinh doanh đường thuỷ chủ yếu vẫn là nhân dân tự phát hoạt động và thu phí; sự quản lý của chính quyền địa phương đang còn rất lỏng lẻo và thiếu sự quan tâm một cách đồng bộ, chặt chẽ

Nhận thấy, hệ thống giao thông của huyện có xu hướng phát triển rất mạnh, vì huyện có lợi thế về vị trí địa lý cũng như mạng lưới giao thông hiện

có Các công trình giao thông hầu hết đều được làm mới trong những năm gần đây nên chất lượng tương đối tốt, giao thông đảm bảo thông thoáng, việc vận chuyển hành khách và hàng hóa cũng khá nhanh chóng, thuận tiện Tuy nhiên

ở một số xã, hệ thống giao thông đã xuống cấp, không được tu bổ hàng năm nên việc đi lại của người dân còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa Chính quyền địa phương cũng đang có những biện pháp thích hợp để đầu tư vào chất lượng hạ tầng giao thông sao cho đáp ứng tốt nhu cầu thông thương của nhân dân trong huyện và với cả các huyện, tỉnh lân cận

Trang 19

* Dân cư

Theo các kết quả điều tra cho thấy, tính đến năm 2007, toàn huyện Hiệp Hòa có 50.276 hộ với tổng số nhân khẩu là 219.229 người, tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của huyện là 1,2%, mật độ dân số bình quân 1.090 người/km2 và

có sự chênh lệch khá lớn giữa các xã, cao nhất là thị trấn Thắng 4.115 người/km2 và thấp nhất là xã Hùng Sơn 779 người/km2 Dân số nông thôn chiếm 97,66% và dân số thành thị chiếm 2,34% tổng dân số toàn huyện Tỷ lệ

hộ nghèo là 9.438 hộ, chiếm 18,77% tổng số hộ của toàn huyện Số người trong độ tuổi lao động là 108.749 người, chiếm 49,6% tổng dân số Lao động chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Tỷ lệ lao động trong

độ tuổi chiếm trên 50% tổng dân số, lao động có truyền thống cần cù và sáng tạo Huyện đã có một trung tâm dạy nghề và nhiều cơ sở dạy nghề khác, là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có thuận lợi lớn trong việc cung cấp nguồn nhân lực tại chỗ cho các cụm, điểm công nghiệp của huyện trong thời kỳ quy hoạch

Cho đến nay, đời sống của người dân Hiệp Hoà ngày càng được cải thiện và nâng cao

Về điện lưới: Hệ thống lưới điện trên địa bàn huyện phát triển mạnh, hiện nay 100% xã có điện lưới quốc gia Đặc biệt là hệ thống lưới điện trung, cao thế đã được cải tạo, đầu tư tốt Hệ thống lưới điện hạ thế đã được quản lý đến trạm biến áp 0,4KV, hệ thống này đã được xây dựng từ nhiều năm trước nên không được đầu tư cải tạo cộng thêm nhu cầu dùng điện tăng nhanh nên chất lượng điện của Hiệp Hoà còn kém Hiện tại hệ thống lưới điện do chi nhánh điện Hiệp Hoà quản lý có 160 trạm biến áp với 167 máy biến áp, tổng công suất là 28.875 kVA

Về thông tin: huyện có 1 hội trường lớn kiêm nhà văn hoá, phòng họp, nhà hội thảo cùng với trang thiết bị tăng âm, loa đài đáp ứng được các hoạt

Trang 20

động văn hoá thông tin phục vụ tại chỗ của huyện Công tác phát thanh truyền hình tiếp tục có sự đổi mới về nội dung và hình thức, phản ánh đầy đủ thông tin đến người dân, kịp thời đưa các chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống Toàn huyện có 26 xã và thị trấn thì có 26 trạm, đài truyền thanh đáp ứng cung cấp được đầy đủ lượng thông tin thiết yếu cho đời sống nhân dân

Đường dây điện thoại cố định đã tới tất cả các thôn xóm trong huyện, mỗi gia đình đều có vô tuyến Điện thoại di động được dùng rất phổ biến trong người dân

Về nước sinh hoạt: Hiện nay phần lớn dân cư trong huyện đang sử dụng nước giếng khơi, bởi vậy chưa đảm bảo vệ sinh và không đáp ứng được nhu cầu sản xuất Chỉ có một số xã và thị trấn đã được sử dụng nước sạch nhưng tỷ lệ còn thấp

Về y tế: Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã được các cấp uỷ Đảng, Chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; nhiều kế hoạch, đề án,

dự án được xây dựng và triển khai thực hiện có kết quả; công tác bảo hiểm y

tế được mở rộng Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; toàn huyện đạt 14,19 y bác sỹ/vạn dân; 100% trạm y tế có bác sỹ; 100% các thôn, khu phố có cán bộ y tế; bình quân mỗi năm có từ 3 - 5 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khám và chữa bệnh tiếp tục được tăng cường Bệnh viện huyện tiếp tục được đầu tư nâng cấp cả về cơ sở vật chất và trang thiết bị Tuy chất lượng còn thấp so với mặt bằng chung của cả tỉnh nhưng huyện đang phấn đấu từng bước để đạt chuẩn mức y tế theo định mức quy định của Nhà nước

* Văn hóa

Hiệp Hoà là mảnh đất có truyền thống văn hoá, hiếu học, đã đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài Dưới các triều đại phong kiến, qua 11 khoa thi huyện Hiệp Hòa có 13 người đỗ tiến sỹ:

Trang 21

Khoa thi năm Giáp tý 1384 dưới triều vua Trần Phế Đế, tổ chức tại chùa Vạn Phúc, núi Tiên Du, Bắc Ninh, ông Đoàn Xuân Lôi là người đầu tiên của Hiệp Hòa đỗ tiến sỹ - đạt Trạng nguyên Ông người xã Ba Lỗ, tổng Mai Đình, Hiệp Hòa (nay là làng Trâu Lỗ, hay làng Sổ)

Khoa thi năm Mậu Dần 1518 dưới triều vua Lê Chiêu Tông: Ngọ Doãn Thọ người xã Ngọ Xá đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân

Khoa thi năm Bính Tuất 1526 thời vua Lê Cung Hoàng: Khổng Tư Trực, người Đoan Bái đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân

Khoa thi năm Kỷ Sửu 1529 thời vua Mạc Đăng Dung có:

+ Nguyễn Hoàng (trong Văn Miếu ở Hà Nội ghi là Nguyễn Mao) người xã Đức Thắng đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân

+ Nguyễn Doãn Dịch, sinh 1490 người Hoàng Vân đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân

Khoa thi năm Mậu Tuất 1538 dưới triều Mạc Đăng Doanh có:

+ Hoàng Sầm, sinh năm 1512 tại Thù Sơn, sau chuyển sang Quế Trạo,

đỗ Thám Hoa làm đến thượng thư, tước Hoàng Phúc Bá, là con rể Nguyễn Doãn Dịch

+ Ngô Trang, người Ninh Định, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân Khoa thi năm Đinh Mùi 1548 thời vua Mạc Phúc Nguyên: Nguyễn Thúc Lương người Gia Định đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân

Khoa thi năm Kỷ Mão 1559 thời vua Mạc Phúc Nguyên: Nguyễn Kính, người Quế Trạo sinh 1522, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, làm đến

Hộ bộ thượng thư, tước Hương sơn hầu, đã từng đi sứ

Khoa thi năm Giáp Tuất 1574 thời vua Mạc Mậu Hợp: Nguyễn Như Tiếp người Phúc Mỹ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân

Khoa thi năm Nhâm Thìn 1592 thời Mạc Mậu Hợp: Nguyễn Hữu Đức người Vân Cẩm sinh năm 1569 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân

Trang 22

Khoa thi năm Tân Sửu 1721 thời vua Lê Dụ Tông: Ngô Dụng người làng Vân Trì sinh năm 1684 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân

Khoa thi năm Tân Sửu 1901 thời vua Thành Thái triều Nguyễn: Nguyễn Đình Tuân người làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, đỗ đầu trong 9 vị tiến sĩ khoa này (1)

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, người dân Hiệp Hoà nằm trong tình trạng chung của người dân cả nước, có rất ít người biết đọc biết viết

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, truyền thống học hành ở Hiệp Hoà mới được cải thiện Huyện Hiệp Hòa tiếp tục phát huy truyền thống về giáo dục với đội ngũ giáo viên có trình độ, có nhiều học sinh thi đạt thành tích cao trong các kỳ thi học sinh giỏi, cơ sở vật chất của các trường ngày càng được cải thiện Hệ thống quy mô trường lớp phát triển đồng bộ, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân Hầu hết tại các xã đều có trường mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở và hiện có 8 trường THPT (4 trường công lập, 2 trường dân lập, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trường tư thục đào tạo từ tiểu học đến THPT)

Không những nổi tiếng về khoa cử, Hiệp Hoà còn có nhiều danh thắng

và di tích kiến trúc - nghệ thuật và di tích lịch sử nổi tiếng đối với cả nước.1

Trong quá trình lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, nhân dân các dân tộc huỵên Hiệp Hoà đã để lại một kho tàng di sản văn hoá vật thể

vô cùng phong phú Nó là kết tinh trí tuệ, tâm hồn và tài hoa của các thế hệ cha ông và cũng là cầu nối giữa truyền thống với hiện đại Kho tàng di sản văn hoá đó đã và đang được nhân dân địa phương Hiệp Hoà gìn giữ, bảo vệ

(1) Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hiệp Hoà (1992), Lịch sử đấu tranh cách mạng của

Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà (1938 -1954), Ban Thường vụ Huyện uỷ xuất bản, Nhà

máy in Thống Nhất, Hà Nội, phần phụ lục

Trang 23

chu đáo Hiệp Hoà là huyện có số lượng di tích lớn nhất so với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Các di tích này đều được phân bố rải rác khắp trong 26 xã, thị trấn của huyện

● Di tích khảo cổ

Tại khu di chỉ Đông Lâm, xã Hương Lâm, cư dân thời Hùng Vương đã

để lại khá nhiều di vật đó là các công cụ sản xuất như rìu nạo, dùi đục, lưỡi câu bằng đồng và những đồ đựng có kích thước lớn, đã phần nào nói rõ nền kinh tế nông nghiệp lúc bấy giờ đã đóng vai trò chủ đạo Bên cạnh nghề nông

là chính còn có nghề săn bắn, đánh cá và thuần dưỡng súc vật Nghề thủ công cũng phát triển với một trình độ khá cao đặc biệt là nghề làm gốm, đan lát, mộc và rèn đúc kim loại Di chỉ Đông Lâm đã phần nào nói rõ kinh tế nông nghiệp lúc bấy giờ (cách ngày nay 3000 năm) đóng vai trò chủ đạo

Việc phát hiện trống đồng Bắc Lý là một di vật quý, lần đầu tiên được phát hiện ở Bắc Giang Qua xem xét kích thước, hình dáng hoa văn trang trí, các nhà nghiên cứu khảo cổ cho rằng trống đồng Bắc Lý cơ bản giống trống đồng Ngọc Lũ, trống Đông Sơn Chiếc trống có niên đại cách ngày nay hơn

2000 năm Ngoài ra còn phát hiện một số gốm Hán và nhiều vò lọ Lục Triều Với trống đồng Bắc Lý, người ta tìm thấy sự phát triển khá cao của nghề đúc đồng Mặt khác qua hoạ tiết trang trí nó còn phản ánh những ý niệm, tư tưởng, tỉnh cảm của người xưa Hình ảnh ngôi sao 12 cánh, 4 khối tượng cóc

ở xung quanh biểu thị ý niệm về mặt trời, về 12 tháng trong năm, tín ngưỡng thờ thần mặt trời trong tuần hoàn 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, 5 con chim mỏ dài biểu tượng vật tổ của cư dân Lạc - Việt

Trang 24

ông Ngô Văn Thấu, Ngô Văn Đông, Nguyễn Văn Chế, Soi Đền thuộc xã Hoàng Vân và đình Chợ Vân thuộc xã Hoàng An Những di tích này đều được Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử

Về di tích lưu niệm ở Hiệp Hoà không nhiều chỉ có một số ít như địa điểm Bác Hồ về thăm thôn Cẩm Xuyên ngày 8 tháng 2 năm 1955 Người đã

đi thăm từng hộ nông dân chia quả thực, thăm nơi ăn chốn ở của anh chị em cán bộ cải cách, làm việc với Ban cán sự Đoàn uỷ cải cách tại đình làng, tham gia nói chuyện với Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt II tại Soi Vải thôn Cẩm Xuyên

Ngoài số di tích tiêu biểu kể trên Hiệp Hoà còn có một số di tích lịch sử văn hoá như: chùa Đông Lâm thuộc xã Hương Lâm, đình, chùa Quế Sơn thuộc xã Thái Sơn, đình, chùa Ninh Tào thuộc xã Hợp Thịnh, chùa An Thất thuộc xã Hoàng An, chùa Y Sơn, chùa Tường Vân thuộc xã Hoà Sơn…

● Di tích kiến trúc - nghệ thuật

Hiệp Hoà là huyện có số lượng di tích lịch sử văn hoá tương đối lớn song số di tích có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật cũng không phải là ít Tiêu biểu phải kể đến ngôi đình cổ Lỗ Hạnh thuộc xã Đông Lỗ Đây là một

kỳ công văn hoá của cư dân Hiệp Hoà vào thế kỷ XVI Đình Lỗ Hạnh là một bức tranh hoàn mỹ, phản ánh tư duy nghệ thuật cao với các đường nét mềm mại, bay bổng, đặc biệt là hai bức tranh sơn mài hợp thành bộ Bát tiên có giá trị Đình Lỗ Hạnh được coi là “Đệ nhất Kinh Bắc” đã giúp ta hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn, toàn diện hơn về nền văn hiến xứ Bắc xưa Ở Mai Đình còn

có đình Trâu Lỗ cũng là một ngôi đình có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật được coi là tiêu biểu của huyện Hiệp Hoà Các đề tài rồng mây biến thể và cách điệu rất phong phú mang đậm nét phong cách nghệ thật dân gian cuối thế kỷ XVII Đình Hương Câu thuộc xã Hương Lâm cũng là một trong số các

Trang 25

di tích có giá trị thiên về mặt kiến trúc nghệ thuật Đó là đề tài chạm lộng, chạm kênh bong cảnh : “Tiên cưỡi rồng”, “Rồng ổ”, “Rồng mẹ rồng con”,

“Long vân dự hội”, “Tiên múa”… Đó là đề tài mang phong cách nghệ thuật thời Lê (XVII)

Một số di tích tiêu biểu khác như đình Đoan Bái, đình Thanh Vân, lăng

đá Bầu, lăng đá Dinh Hương, lăng đá họ Ngọ, chùa Diên Phúc, chùa Hưng Phúc … cũng là những di tích có giá trị thiên về mặt kiến trúc – nghệ thuật

● Danh lam thắng cảnh

Nói tới di tích thuộc loại hình danh lam thắng cảnh ở Hiệp Hoà tuy không nhiều song khi nhắc tới Hiệp Hoà ai ai cũng biết đến núi YA Sơn hùng

vĩ, được coi là một thắng cảnh đẹp lung linh của huyện

Các di tích của Hiệp Hoà phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, nhiều về số lượng Đây là một vốn di sản văn hoá vật thể lớn mà cha ông ta có được gìn giữ, lưu truyền cho thế hệ con cháu

Bên cạnh đó, các loại văn hoá phi vật thể lại càng phong phú và sâu sắc: thơ ca, hò vè, phương ngôn, truyền thuyết, phong tục tập quán…làng nào cũng có phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, con người địa phương, làm tăng thêm lòng yêu quê hương xứ sở cho những ai đã sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này Hiệp Hoà còn có nhiều lễ hội đặc sắc như lễ hội bơi chải, tung hoa té nước ở Mai Đình, hội “Cướp bò vua” ở Hoàng An,… Hàng năm cứ mỗi mùa xuân về, mỗi ngày hội đến, dưới mái đình làng cổ kính, trên dòng sông Cầu thơ mộng, trai thanh, nữ tú của đồng quê sau những ngày lao động hăng say, vất vả đã tụ họp ở đây đua tài, chen sắc Những làn dân ca quan họ, hát ví, hát trống quân…ngọt đậm tình quê hương, quyến rũ lòng nguời, làm dừng chân bao du khách, đồng thời nó cũng khích lệ truyền thống văn hoá và mang tính sâu sắc qua nhiều thế hệ

Trang 26

* Truyền thống chống giặc ngoại xâm

Ở vị trí phên giậu của kinh đôThăng Long và là tiền đồn phía tây của

xứ Bắc, con người Hiệp Hoà luôn nằm trong biến cố của lịch sử và có những đóng góp nhất định vào sự nghiệp đấu tranh chung của toàn dân tộc

Năm 40, nhân dân Hương Lâm và các xã ven sông Cầu tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, đánh tan quân Nam Hán, giải phóng 65 thành trì, dựng nền độc lập đầu tiên cho nước nhà

Năm 968, hai anh em Bạch Tương, Bạch Địa quê ở Mai Đình tập hợp thanh niên theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn, lập nên nước Đại Cồ Việt

Năm 981, nhân dân Hiệp Hoà anh dũng chiến đấu, giúp Lê Hoàn chiến thắng giặc Tống lần thứ nhất

Kẻ thù xâm lược càng hùng mạnh thì cuộc kháng chiến có quy mô càng lớn và nhân dân Hiệp Hoà tham gia càng đông, chiến thắng càng oanh liệt Cuối năm 1076, nhà Tống lần thứ hai đưa 30 vạn lính và dân phu xâm chiếm Đại Việt Ngày 18-01-1077, chúng kéo đến Tam Tầng và Mai Đình (thuộc Hiệp Hoà), nơi đây thành bãi chiến trường lớn Nhân dân các xã ven sông Như Nguyệt (sông Cầu) tham gia xây dựng phòng tuyến và trực tiếp chiến đấu cùng quân dân cả nước giành thắng lợi hoàn toàn Những địa danh, chứng tích của một thời đã qua gần 1000 năm vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay (đó

là những địa danh thuộc hai xã Hợp Thịnh và Mai Đình – là những nơi diễn ra các trận đánh ác liệt: địa danh Gò Pháo – nơi đặt trận địa pháo của giặc; Đống Xác – nơi có nhiều quân giặc chết; Gò Xác – nơi nhân dân ta quy tập và chon cất xác giặc; An Lạc Tự - nơi đặt miếu thờ - cầu đảo cho những linh hồn kẻ chết trận được siêu thoát trở về với cố quốc)

Ở thế kỷ XIX, khởi nghĩa Quận Tường (1866) và Đại Trận (1870) đánh cho quân Pháp và bọn tay sai nhiều trận ác liệt ở các xã Đông Lỗ, Đoan Bái…Nguyễn Thiện Thuật, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 – 1889)

Trang 27

khi rút lui được gia đình cụ đồ Ngô Văn Tác (làng Vân Xuyên, xã Hoàng Vân) cưu mang, giúp đỡ

Đặc biệt, trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884 – 1913), Hiệp Hoà trở thành địa bàn quan trọng và nhân dân Hiệp Hoà hăng hái đóng góp sức người, sức của Nhiều cơ sở và nghĩa sĩ qua thử thách, được cụ Đề tin tưởng và giao trọng trách Năm 1909, nghĩa quân Yên Thế đã đánh những trận lớn ở Đông

Lỗ, Đoan Bái, Lương Phong, Đức Thắng, Ngọc Sơn…làm cho kẻ thù phải thất bại và khiếp sợ Những địa danh như gò Cai Tranh, chuôm Yên Thế, nhà cầu Thai Mai gắn với những năm tháng cuối cùng của cuộc đời và sự nghiệp anh hùng Hoàng Hoa Thám Cuộc khởi nghĩa Yên Thế thất bại, bị kẻ thù đàn

áp dã man, nhiều con em Hiệp Hoà bị địch bắt, bị tù đày và bị giết hại Song, tinh thần cuộc khởi nghĩa của quân dân Hiệp Hoà vẫn sống mãi Cuộc vận động cách mạng Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học, Nguyễn

Khắc Nhu, đưa mảnh đất Hiệp Hoà đi vào lịch sử với cuộc bạo động “Không

thành công thì thành nhân” Truyền thống và thời gian càng khơi dậy lòng

yêu nước mãnh liệt của con người Hiệp Hoà, tiếp tục gan dạ đứng lên, bất chấp hy sinh gian khổ, cùng quân dân cả nước chiến đấu anh dũng chống lại

đế quốc phong kiến, làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Hiệp Hòa là huyện giành chính quyền đầu tiên trong hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, trước ngày Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 1945 là 79 ngày

1.2 Khái quát về cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà

Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, các An toàn khu (gọi tắt là ATK) đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong toàn bộ quá trình lãnh đạo, hoạt động tuyên truyền, tổ chức phong trào quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền trong phạm vi cả nước Đó là kinh

Trang 28

nghiệm thực tế mà Đảng ta đã nhận thức được rất sớm và thực hiện ngay trên địa bàn Bắc Giang trong quá trình lãnh chỉ đạo cách mạng nước ta giai đoạn

1939 – 1945 là: “Muốn đảm bảo sự ổn định và phát triển liên tục của phong trào cách mạng phải có những địa bàn hoạt động tương đối an toàn Địa bàn ấy chính là An toàn khu (gọi tắt là ATK) An toàn khu phải là những địa bàn thuận lợi để nắm bắt nhanh, nhạy, chính xác tình hình để Trung ương và Xứ uỷ có thể nhận định, phân tích và đề ra chủ trương đúng đắn, kịp thời ATK phải đảm bảo

có đường dây giao thông liên lạc thông suốt, an toàn, có mạng lưới cơ sở vững vàng, có tổ chức quần chúng và lực lượng tự vệ mạnh Hoạt động của ATK phải đảm bảo tuyệt đối bí mật, bất ngờ, cơ quan nào biết cơ quan ấy, hoạt động theo đơn tuyến, không để lộ lực lượng Trong hoàn cảnh cụ thể vẫn tổ chức đấu tranh

để giành quyền lợi thiết thực cho quần chúng, mở rộng phong trào ATK lại phải gồm được nhiều vùng của nhiều huyện, nhiều tỉnh, ranh giới là sông ngòi hoặc địa hình phức tạp, địch không ngờ tới”.(2)

Và “Hoạt động của an toàn theo nguyên tắc tuyệt đối bí mật, không được bộc lộ lượng, phải làm như phong trào ở đấy im lìm (đang ngủ), làm cho quân thù không ngờ tới…Thực hiện nguyên tắc tuyệt đối bí mật, nhưng trong những điều kiện cụ thể Trung ương vẫn cho phép các địa phương trong khu

an toàn được tổ chức các cuộc đấu tranh giành quyền lợi thiết thực cho quần chúng để mở rộng phong trào cách mạng…”.(3)

Với những điều kiện ấy, cuối năm 1941, Trung ương Đảng đã xác định các vùng xung quanh Hà Nội, trong đó có các địa phương thuộc phủ Gia Lâm, phủ Từ Sơn, phủ Thuận Thành, huyện Tiên Du, huyện Văn Giang của tỉnh Bắc Ninh là Khu an toàn I của Trung ương Đảng Năm 1943, Trung ương

(2) Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (1999), Bắc Giang những chặng đường lịch sử,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr88

(3) Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (1999), Bắc Giang những chặng đường lịch sử,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr89

Trang 29

Đảng xây dựng thêm Khu an toàn II ở các xã thuộc tổng Hoàng Vân, Hiệp Hoà, Bắc Giang là chủ yếu, và một phần các xã giáp danh bên kia sông Cầu thuộc hai huyện Phú Bình, Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 Khu an toàn II (ATK II) chủ yếu trên địa bàn tổng Hoàng Vân xưa, nay thuộc các xã: Hoàng Vân, Hoàng

An, Thanh Vân, Đồng Tân của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang

1.2.1 Những điều kiện để Hiệp Hòa trở thành ATK II

Đầu năm 1942, địch tiến hành liên tiếp các cuộc truy lùng, vây ráp khu phía tây Hà Nội nhằm triệt phá cơ sở của ta, phá vỡ các cơ quan lãnh đạo của Đảng Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương đã họp để bàn định biện pháp đối phó, quyết tâm ở lại đồng bằng, bám sát Hà Nội để nắm tình hình, lãnh đạo phong trào kịp thời và đã quyết định lập một Khu an toàn gọi

là An toàn khu I của Trung ương (viết tắt là ATK I) ở xung quanh Hà Nội và trên thực tế, ATK I đã có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ cán bộ và các cơ quan cấp cao của Đảng; đảm bảo cho các cán bộ, các cơ quan của Đảng hoạt động an toàn, thông suốt; đảm bảo cho lực lượng cách mang, phong trào cách mạng lớn mạnh, nhanh, vững chắc

Nhận thức được giá trị to lớn của An toàn khu của Trung ương Đảng và

từ các kinh nghiệm xây dựng và hoạt động của An toàn khu của Trung ương Đảng, Xứ uỷ Bắc kỳ, Uỷ ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, Thành uỷ Hà Nội

và một số ban cán sự Đảng của một số địa phương khác cũng tiến hành xây dựng An toàn khu của mình Các An toàn khu không ngừng mở rộng theo hướng liên hoàn, hoạt động đều có kết quả tốt

Năm 1943, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Quốc Việt, đồng chí Ngô Thế Sơn, Xứ uỷ viên và là thành viên Uỷ ban Quân sự Cách mạng Bắc

Kỳ, Trưởng Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang tiến hành xây dựng An toàn khu của Uỷ ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ trên địa bàn một số xã thuộc huyện

Trang 30

Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang), hai huyện Phú Bình, Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên), nơi có phong trào cách mạng vững và là nơi thuận tiện cho công tác liên lạc, chỉ đạo các hoạt động vũ trang

Trong phạm vi bài khoá luận tốt nghiệp, tôi chỉ đề cập đến khu an toàn trên địa bàn tổng Hoàng Vân cũ nay thuộc các xã: Hoàng Vân, Hoàng An, Thanh Vân, Đồng Tân của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, vẫn được gọi tắt

là khu Hoàng Vân Tổng Hoàng Vân có những điều kiện để thành lập ATK II của Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ:

* Vị thế, địa lý, cảnh quan:

Tổng Hoàng Vân trước Cách mạng tháng Tám gồm những làng xã toạ lạc ven sông Cầu, nơi có những khúc quanh, uốn thắt của dòng sông này trên đường đưa nước tới “Ngã Ba Xà” và dồn về Lục đầu giang Địa hình nơi đây thuở trước cách mạng là những đồi gò rải rác, xen lẫn với soi, bãi, ruộng bậc thang và những cánh đồng trũng thấp, ngoài sông Cầu còn có suối Cầu Hang len lỏi, ao đầm còn nhiều; đặc biệt là rừng cây, lau sậy còn khá rậm rạp: rừng Trám, rừng Sấu còn phủ khắp các đồi gò lan ra tận soi bãi ven sông Các xóm làng nằm rải rác ven đồi gò, đôi bờ sông suối cùng với luỹ tre dày đặc, ao hồ rải rác, làm cho nơi đây xưa thật hiểm trở, kín đáo, thuận lợi cho việc hoạt động bí mật và đặt các cơ quan chỉ đạo, tổ chức các hội nghị, các lớp huấn luyện… của Đảng

Hơn thế về vị trí, tổng Hoàng Vân xưa ở giáp với sông Cầu phía Tây Bắc, qua sông là lên Thái Nguyên - Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng của cả nước, hoặc theo quốc lộ 3 về Hà Nội, trung tâm của cả nước; đồng thời xuôi sông Cầu, vượt sang Yên Phong, Tiên Du, Từ Sơn, địa bàn của ATK I của Trung ương Rẽ sang phía bắc, là thông lên Yên Thế, Bắc Giang – quê hương của người anh hùng Hoàng Hoa Thám với cuộc khởi nghĩa Yên Thế nổi tiếng Thế là Hoàng Vân xưa cũng như nay là nơi giáp ranh với các huyện, tỉnh bạn,

Trang 31

tạo thế liên hoàn, giao thông thuận lợi, một vị trí nói như đồng chí Trường Chinh “nằm cưỡi trên địa bàn hai tỉnh, thường có địa thế con sông, để nếu bên kia động thì chạy sang bên này, nếu huyện này động thì chạy sang bên kia của tỉnh khác”.(4)

Với vị thế, cảnh quan như vậy, vào thời điểm năm 1943, hội nghị Thường vụ Trung ương nhận thấy cần phải có biện pháp thúc đẩy mau hơn nữa cách mạng cả nước đi tới cao trào và ATK II ra đời với địa bàn thuộc các

xã thuộc tổng Hoàng Vân (Hiệp Hoà) và các xã giáp ranh bên bờ sông Cầu thuộc Phú Bình, Phổ Yên (Thái Nguyên) với nhiệm vụ là nơi tổ chức các lớp huấn luyện, hội nghị, là nơi hoạt động của các cán bộ Trung ương, từ khu an toàn I lên chiến khu Việt Bắc và ngược lại Nơi đây không chỉ là An toàn khu của Trung ương mà còn là An toàn khu của Xứ uỷ Bắc Kỳ và của Uỷ ban Quân sự cách mạng của Đảng trong Cách mạng tháng Tám 1945, cũng là cơ

sở hoạt động và chỉ đạo của Ban cán sự tỉnh Bắc Giang

* Điều kiện lịch sử - xã hội và phong trào cách mạng ở Hiệp Hòa

Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mà đối tượng giải phóng trước hết là quần chúng lao khổ khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân phong kiến, thoát khỏi kiếp sống của người dân mất nước, thì nơi đặt ATK phải là nơi vừa có vị thế, địa lý, cảnh quan thuận lợi, vừa phải là đại bàn có cơ sở quần chúng đáng tin cậy, có phong trào cách mạng mạnh mẽ, sâu rộng, có cơ

sở Đảng làm hạt nhân tuyên truyền, xây dựng, lãnh đạo phong trào quần chúng nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ của Đảng, bảo vệ các hoạt động của Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ Hiệp Hoà đã có những điều kiện để đáp ứng yêu cầu

đó của việc đặt ATK vào thời điểm cao trào cách mạng 1939 – 1945

(4) Trường Chinh (1983), Về vấn đề ATK II, lời kể của đồng chí với một số đồng chí

Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Bắc (cũ) tại Văn phòng Trung ương Đảng, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà

Trang 32

Hiệp Hoà - một vùng quê của Kinh Bắc xưa cổ kính và văn hiến với những làng xã vốn là những làng xóm cổ, có lịch sử lâu đời Đó là nơi an cư lạc nghiệp cuả những người nông dân tới làm ăn sinh sống hàng chục thế kỷ Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của quê hương và đất nước,

đã hun đúc lên truyền thống của người Hiệp Hoà: tinh thần đoàn kết, lòng yêu quê hương đất nước, ý chí kiên cường quả cảm và cương trực trong đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, chống áp bức bóc lột Xong vùng quê Hiệp Hoà địa bàn phức tạp, đồi gò, ao đầm, ruộng bãi…Tuy màu mỡ, nhưng việc làm ăn thuận ít nghịch nhiều Vì vậy dưới chế độ phong kiến, thực dân, người dân Hiệp Hoà càng nghèo khổ, cơ cực bởi sự áp bức của bọn địa chủ Vì thế mà càng tôi luyện tinh thần đấu tranh của người Hiệp Hoà chống lại sự thống trị của bọn thực dân phong kiến Nơi đây đã là địa bàn của các lãnh tụ và phong trào khởi nghĩa nông dân mà điển hình là cuộc khởi nghiã Yên Thế Nhiều người trong vùng đã tham gia nghĩa quân Đề Thám như cụ Đỗ Nhuận, người Vân Xuyên là quân sư cho Đề Thám và nhiều gia đình là cơ sở hoạt động của nghĩa quân

Đó là nền tảng xã hội - lịch sử là cơ sở tinh thần truyền thống để Hiệp Hoà bước vào giai đoạn lịch sử cận hiện đại nhanh chóng là một miền quê gắn

bó và có vị trí, vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nổi bật là vai trò ATK của Trung ương và Xứ uỷ trong Cách mạng tháng Tám 1945

Hiệp Hoà là nơi sớm có phong trào quần chúng đấu tranh và cơ sở Đảng Ở đây nổi lên vai trò đặc biệt quan trọng của tầng lớp nho sĩ phong kiến giàu lòng yêu nước, kiến thức uyên thâm, sự thức thời của những người chức sắc của các làng xã và sự hăng hái của tầng lớp thanh niên có hiểu biết

và sớm giác ngộ cách mạng Những lớp người này đã tạo dựng những cơ sở

Trang 33

đầu tiên cho các đồng chí lãnh đạo của Trung ương và Xứ uỷ về hoạt động và xây dựng phong trào và cơ sở Đảng ở Hoàng Vân - Hiệp Hoà

Nói tóm lại, nằm ở vị trí chiến lược, với địa hình cảnh quan hiểm trở với nhiều đồi gò rậm rạp, sông suối quanh co, nơi có những xóm làng của những người dân giàu truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng, nhờ đó

mà Hiệp Hoà nói chung và tổng Hoàng Vân xưa là địa phương sớm có phong trào quần chúng, sớm có cơ sở Đảng Đó là những tiền đề, nhưng cơ sở để Hoàng Vân - Hiệp Hoà trở thành ATK của Trung ương và Xứ uỷ trong Cách mạng tháng Tám 1945 Và với những tiền đề, cơ sở đó Hoàng Vân - Hiệp Hoà

đã hoàn thành vai trò lịch sử của bộ phận chủ yếu của ẠTK II trong cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2.2 Sự thành lập ATK II của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ

Trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình trong nước và trên thế giới, tháng 5/1941, tại Pác Bó, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 Hội nghị tiếp tục hoàn thiện chủ trương thay đổi chiến lược cách mạng, đặc biệt chú trọng nhiệm vụ xúc tiến mọi mặt công tác để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang Bên cạnh nhiều công việc trọng đại là xây dựng khối đại đoàn kết đoàn kết toàn dân, tổ chức lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa chuẩn bị khởi nghĩa, một nhiệm vụ cấp bách đặt ra là công tác chống khủng bố, trong đó vấn đề đặc biệt quan trọng là xây dựng chỗ đứng chân an toàn cho cơ quan đầu não của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo kịp thời, thông suốt, thống nhất của Trung ương Xuất phát từ những bài học về hoạt động quân sự của cha ông về lập căn cứ địa và kinh nghiệm những năm trước đó của Đảng, thực hiện những ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, có tham khảo kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc, Trung ương Đảng đã tiến hành xây dựng các An toàn khu

Trang 34

Sang năm 1943, tình hình chính trị thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến mau lẹ, thuận lợi cho phong trào cách mạng phát triển, nhưng nguy cơ địch tiến hành khủng bố cũng tăng lên

Để đảm bảo cho lực lượng cách mạng phát triển mạnh và vững chắc, không để địch khủng bố, đầu năm 1943 Ban Thường vụ Trung ương tiến hành xây dựng An toàn khu thứ hai (ATK II) của Trung ương

Địa bàn xây dựng ATK II thuộc khu vực giáp ranh giữa ba huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang), Phổ Yên, Phú Bình (Thái Nguyên) trên cơ sở ban đầu của ATK của Uỷ ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ Do Hiệp Hoà có những điều kiện thuận lợi như đã trình bày trên mà đã được chọn để xây dựng An toàn khu II cùng với một số địa phương lân cận

Để xây dựng và đảm bảo được mọi hoạt động của An toàn khu, Ban Thường vụ Trung ương đã lập Đội công tác đặc biệt, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Trung ương Đội công tác của An toàn khu có nhiệm

vụ phát triển cơ sở quần chúng và giáo dục quần chúng tinh thần kiên cường trước các hành động khủng bố của địch, đề cao ý thức cảnh giác, bí mật; bố trí nơi ở, làm việc của cán bộ, các cơ quan Trung ương; tổ chức giao thông liên lạc giữa Trung ương với các địa phương đảm bảo thông suốt, an toàn; xây dựng các tổ chức tự vệ để bảo vệ cán bộ, cơ quan

Công tác xây dựng An toàn khu là sự kết hợp thành công giữa các công việc lựa chọn địa bàn, tổ chức hoạt động, giữ gìn bí mật, canh phòng bảo vệ…Trong đó yếu tố quyết định là thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức hoạt động

Trong Khu an toàn có nhiều cơ sở cách mạng vững chắc để bố trí nơi ở

và làm việc của các cơ quan Trung ương, Ban công tác Đội, của các đồng chí lãnh đạo và cán bộ, đặt đầu mối giao thông liên lạc, địa điểm cơ quan, cán bộ nằm chờ, địa điểm các cuộc họp, học hành, tập huấn…An toàn khu được xây

Trang 35

dựng theo nguyên tắc biệt lập Mỗi cơ quan chỉ thực hiện một việc Mỗi cơ quan có một chức năng riêng, thực hiện đúng chức năng, không thực hiện chức năng khác Nơi in ấn và phát hành, cất giấu tài liệu phải riêng biệt Khi có người cần gặp cán bộ lãnh đạo phải tới cơ quan liên lạc, người liên lạc vào báo cáo cán bộ đó tới gặp Không gặp gỡ tại nơi ở hoặc nơi làm việc, phải gián tiếp và rất thận trọng khi gặp gỡ, giao tiếp, bất kể là người quen hay người lạ Công tác liên lạc được tổ chức song hành, đơn tuyến, biệt lập và gián tiếp

Trong An toàn khu, Trung ương, Xứ uỷ, Uỷ ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ đặt ra các cơ quan khác nhau Cơ quan làm việc chỉ có đồng chí làm việc và đồng chí trong Ban công tác đội có trách nhiệm bố trí cơ quan đó biết Chỗ ở và làm việc của đồng chí nào chỉ đồng chí ấy biết Mỗi cơ quan có một chức năng riêng và chỉ làm một chức năng đó, không được tuỳ tiện làm lấn sang các chức năng khác Các cơ quan không ở lì lâu một chỗ Ngoài cơ quan

in ấn, cơ quan giao thông, cơ quan làm việc của các đồng chí cán bộ lãnh đạo,

An toàn khu còn tổ chức cơ quan nằm chờ, nơi cán bộ các nơi về chờ dự họp, chờ dự các lớp huấn luyện, chờ nhận tài liệu, chờ phân công công tác mới…

Các cơ quan trong An toàn khu không có liên hệ ngang, không có kiểu quy tụ về một mối theo hệ thống đơn giản, thông thường Mỗi đội viên trong Ban công tác đội phụ trách một địa bàn trong Khu an toàn Cơ quan nào thì chỉ có đồng chí làm việc và đồng chí trong Đội công tác có trách nhiệm bố trí

cơ quan đó biết Ai có nhiệm vụ biết cơ quan nào chỉ biết cơ quan ấy

Tổ chức Đảng trong An toàn khu được tách ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương và giao cho Đội công tác Mỗi đội viên của Đội công tác phụ trách một số xã; không họp đại hội thống nhất Vì vậy, đồng chí này có thể không biết người kia là đồng chí của mình, đã ở trong tổ chức, có khi lại tuyên truyền lẫn nhau

Trang 36

Tổ chức Đảng trong An toàn khu không được thống nhất như đảng bộ huyện mà mỗi đội viên Đội công tác về từng chi bộ sinh hoạt, phải chia nhau

đi khai hội, giao việc, giáo dục quần chúng, tuyên truyền từng quần chúng để vận động họ vào tổ chức cứu quốc và kết nạp họ vào Đảng nếu đủ điều kiện

Phong trào cách mạng trong An toàn khu được tách ra khỏi sự chỉ đạo của Đảng bộ địa phương nhằm đảm bảo nguyên tắc bí mật trong nội bộ và đánh lạc hướng kẻ thù Về nguyên tắc, ở đây nghiêm cấm những hình thức hoạt động bề nổi, rầm rộ như rải truyền đơn, treo cờ, khẩu lệnh, mít tinh, diễn thuyết…phải làm như phong trào ở đây “đang ngủ”, làm cho kẻ thù ít chú ý, nghi ngờ, hạn chế lùng sục

Trong Khu an toàn, mỗi cơ quan đều có cơ quan chính thức và cơ quan

dự bị, thậm chí có hai cơ quan dự bị, chủ động đối phó khi tình huống xấu xảy ra Công tác dự phòng, giữ gìn an toàn phải được đảm bảo ở mức độ cao

Với sự nỗ lực hoạt động của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Ban công tác đội đến đầu năm 1944, An toàn khu II của Trung ương đảng đã thành hình; đã trở thành chỗ đứng an toàn của Ban Thường vụ Trung ương và nhiều

cơ quan chuyên môn giúp việc

Dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Trường Chinh, các đồng chí trong Ban công tác đội đi sâu vào quần chúng, củng cố và mở rộng các cơ sở cách mạng ở vùng thượng huyện Hiệp Hoà và các địa bàn lân cận, tập trung phát triển mạnh các cơ sở và trong đường dây liên lạc của Trung ương Đảng ở vùng hạ huyện Hiệp Hoà Nhiệm vụ trọng tâm là tập trung đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng, nhưng không

tổ chức các hoạt động đấu tranh rầm rộ để tránh làm bộc lộ lực lượng gây sự chú ý của kẻ thù; tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng về công tác khủng bố, bảo vệ cơ sở, giữ bí mật cho cách mạng, trong đó nhiệm

Trang 37

vụ đảm bảo bí mật, an toàn cho các cơ quan của Đảng,cho các cuộc hội họp, cho các cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ cốt lõi

Đặc biệt, Đội công tác đã chú trọng tuyên truyền vận động các đối tượng là hào lý địa phương, thủ từ, sư sãi ở các đền, đình, chùa Do làm tốt công tác này, một số hào lý, thủ từ, sư sãi trong địa phương đã ngả về phía cách mạng, tham gia hoặc ủng hộ, giúp đỡ cán bộ cách mạng, tổ chức cách mạng; nhiều gia đình và một số đền, đình, chùa đã trở thành cơ sở bí mật an toàn của Đảng

Bên cạnh đó, Đội công tác còn tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của phong trào và nâng cao nhận thức chính trị, trình độ tác chiến của các đội tự vệ, làm tốt công tác bảo vệ cán bộ, cơ quan tại An toàn khu II Ban công tác đội của Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự ngắn ngày; giáo viên là các cán bộ cấp trên và cán bộ từ Chiến khu Việt Bắc về

Đội công tác đã lãnh đạo các chi bộ, các đoàn thể quần chúng tăng cường phát triển hội viên, mở rộng địa bàn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền

cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng trong quần chúng nhân dân

Ban công tác đội của An toàn khu II đã ra báo với các nội dung tuyên truyền giáo dục tư tưởng chính trị, chương trình và chính sách của Mặt trận Việt Minh, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động bí mật, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tinh thần yêu nước và cách mạng của du kích Bắc Sơn…

Ban công tác đội đã tập trung đẩy mạnh công tác gây dựng cơ sở quần chúng trên nhiều hướng, tạo ra những tuyến liên lạc mới vững chắc, nối thông giữa các trạm liên lạc của căn cứ địa Việt Bắc, An toàn khu I của Trung ương tới cấp uỷ Đảng và các địa bàn cách mạng rộng lớn trong vùng Ban công tác đội đã đặt các cơ quan làm việc, các cơ quan nằm chờ, ấn loát, cơ sở đi lại tại

Trang 38

các gia đình, đình chùa theo các nguyên tắc đảm bảo bí mật, sẵn sàng đối phó khi bị kẻ thù lùng sục

Đến đầu năm 1945, An toàn khu II đã phát triển trên một địa bàn khá rộng Sau ngày Nhật đảo chính giành toàn quyền cai trị Đông Dương (9-3-1945) và đặc biệt là sau ngày Xuân Biều giành chính quyền thắng lợi (12-3-1945), cơ sở và phong trào cách mạng ở huyện Hiệp Hoà càng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp An toàn khu II của Trung ưong Đảng được mở rộng gần như cả huyện Hiệp Hoà

Trong An toàn khu II, huyện Hiệp Hoà của tỉnh Bắc Gianng được coi là địa bàn trung tâm An toàn khu trên địa bàn huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang), huyện Phổ Yên, huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) lúc đầu được gọi

là An toàn khu “dự bị”, An toàn khu “sơ cua” Song trên thực tế An toàn khu này của Trung ưong Đảng đã được xây dựng và tổ chức chặt chẽ, hoạt động rất có hiệu quả theo đúng các nguyên tắc của một An toàn khu của Trung ương Đảng, có hệ thống cơ sở an toàn liên hoàn trải rộng trên địa bàn huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang) và một phần địa bàn huyện Phổ Yên, huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên), có khả năng cơ đông cao Do đó về sau, An toàn khu trên địa bàn huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang) và một phần địa bàn huyện Phổ Yên, huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) được Trung ương gọi đúng tên:

An toàn khu II (ATK II) của Trung ương Đảng

Xây dựng ATK II của Trung ương Đảng trải qua một quá trình đầy khó khăn, gian khổ, được tiến hành thận trọng, bí mật từ các hoạt động xác định địa bàn, gây dựng cơ sở, thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức, tuyen truyền giáo dục quần chúng nhằm chống lại các âm mưu khủng bố, tiêu diệt

cơ quan, các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng Hệ thống ATK II của Trung ương Đảng được xây dựng từng bước, vừa xây dựng vừa tìm tòi thể nghiệm,

từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh; từ các cơ sở lẻ tẻ, địa bàn nhỏ hẹp thành

Trang 39

hệ thống liên hoàn, trên một địa bàn không ngừng được mở rộng, vững chắc; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chính xác, kịp thời, thông suốt của Trung ương đối với phong trào cách mạng cả nước Để xây dựng thành công ATK II, Đảng ta phải chuẩn bị kỹ cả về lý luận, cơ sở thực tế, về tổ chức với quyết tâm cao.Những quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, của Đảng cùng những kinh nghiệm học tập, tích luỹ được từ cuộc cách mạng tháng Mười Nga, cách mạng Trung Quốc và thực tiễn chỉ đạo xây dựng ATK I là cơ sở quý báu để Đảng ta xây dựng thành công ATKII (5)

(5) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Giang (2009), Lịch sử ATK của Trung ương Đảng ở huyện

Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Nhà in Báo Bắc Giang

Trang 40

Chương 2 NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CỤM DI TÍCH LỊCH SỬ ATKII HIỆP HOÀ

2.1 Các di tích trong cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hoà

Cụm di tích lịch sử ATK II Hiệp Hòa gồm 7 di tích đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, bao gồm: địa điểm nhà cụ Ngô Văn Thấu, Đền Soi, địa điểm nhà cụ Nguyễn Văn Chế, đình Chợ Vân, đình Xuân Biều, đình Vân Xuyên và địa điểm nhà cụ Ngô Văn Đông

2.1.1 Địa điểm nhà cụ Ngô Văn Thấu

Hiệp Hòa là một địa bàn rất cơ động, thuận lợi cho việc đi lại hoạt động của các cán bộ cách mạng Vì thế, ngay từ những năm đầu thời kỳ vận động cách mạng, Đảng ta đã chọn nơi đây để xây dựng cơ sở phong trào cách mạng Hệ thống ATK II của Trung ương Đảng ở Hiệp Hoà tập trung ở các khu vực thuộc tổng Hoàng Vân

Gia đình cụ Ngô Văn Thấu (tức Đồ Ba) ở thôn Vân Truỳ, tổng Hoàng Vân cũ, nay là thôn Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, là một gia đình khá giả, được nhiều người kính nể, có uy tín rộng rãi trong vùng Cụ Đồ Ba là một nhà nho uyên thâm, có tâm huyết, nhiệt thành yêu nước Cụ Đồ Ba rất khâm phục tinh thần anh dũng của các nghĩa quân, lòng yêu nước của các văn thân, sĩ phu Cụ dồn tất cả tâm huyết của một nhà nho yêu nứôc cho ba người con trai và những học trò tin cẩn của mình Khi có phong trào quần chúng thì họ chính là những người hăng hái hơn cả Cụ Đồ Ba và những ngưòi con trai của mình thường đàm luận về thời cuộc và những nỗi niềm băn khoăn dằn vặt trong lòng cụ lại được ánh sáng cách mạng của Đảng tháo gỡ dần từng bước Cụ động viên các con quyết chí đi theo con đường mà mình đã chọn Đồng chí

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hiệp Hoà (1992), Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà (1938 -1954), Ban Thường vụ Huyện uỷ xuất bản, Nhà máy in Thống Nhất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà (1938 -1954)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hiệp Hoà
Năm: 1992
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (1999), Bắc Giang những chặng đường lịch sử, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Giang những chặng đường lịch sử
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
3. Ban Chỉ huy Quân sự huyện Hiệp Hòa (2007), Lịch sử Lực lượng vũ tranh nhân dân huyện Hiệp Hòa trong các cuộc kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc (1945-2005), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Lực lượng vũ tranh nhân dân huyện Hiệp Hòa trong các cuộc kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc (1945-2005)
Tác giả: Ban Chỉ huy Quân sự huyện Hiệp Hòa
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2007
4. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Giang (2009), Lịch sử ATK của Trung ương Đảng ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Nhà in Báo Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ATK của Trung ương Đảng ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Giang
Năm: 2009
5. Bộ Văn hóa – Thông tin (2003), Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hóa – Thông tin (2003)
Tác giả: Bộ Văn hóa – Thông tin
Năm: 2003
7. Khổng Đức Thiêm (1995), Vị trí địa lý, truyền thống lịch sử của Hiệp Hoà, tham luận Hội thảo khoa học thực tiễn: “An toàn khu II và Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ trong tiến trình cách mạng tháng Tám 1945”, tài liệu lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí địa lý, truyền thống lịch sử của Hiệp Hoà", tham luận Hội thảo khoa học thực tiễn: “An toàn khu II và Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ trong tiến trình cách mạng tháng Tám 1945
Tác giả: Khổng Đức Thiêm
Năm: 1995
8. Luật Di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành năm 2001, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành năm 2001
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
10. Lê Thanh Nghị, Ở chiến khu 2, tài liệu lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ở chiến khu 2
11. Lương Văn Đài (1963), Quá trình xây dựng lực lượng vũ trang của nhân dân Bắc Giang và Nam tỉnh Thái Nguyên, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình xây dựng lực lượng vũ trang của nhân dân Bắc Giang và Nam tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lương Văn Đài
Năm: 1963
12. Lương Văn Đài, Tình hình Hiệp Hoà, ATK II, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình Hiệp Hoà, ATK II
13. Ngô Duy Phương (1989), Lời kể về quá trình hoạt động và phong trào cách mạng Hiệp Hoà, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời kể về quá trình hoạt động và phong trào cách mạng Hiệp Hoà
Tác giả: Ngô Duy Phương
Năm: 1989
14. Ngô Thế Sơn, Tóm tắt ý kiến về phong trào Hiệp Hoà từ 1941 – 1945, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt ý kiến về phong trào Hiệp Hoà từ 1941 – 1945
15. Ngô Văn Đán (1974), Hồi ký, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký
Tác giả: Ngô Văn Đán
Năm: 1974
16. Nguyễn Trọng Tỉnh (1980), Một số ý kiến về các sự kiện lịch sử ở ATK II Bắc Giang, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về các sự kiện lịch sử ở ATK II Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Trọng Tỉnh
Năm: 1980
17. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), Lịch sử 12, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 12
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
19. Thành Quán, Ý kiến về phong trào ở Hiệp Hoà, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý kiến về phong trào ở Hiệp Hoà
21. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng Châu thổ sông Hồng, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng Châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2008
23. Trường Chinh (1983), Về vấn đề ATK II, lời kể của đồng chí với một số đồng chí Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Bắc (cũ) tại Văn phòng Trung ương Đảng, tài liệu viết tay, lưu tại Văn phòng Huyện uỷ Hiệp Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề ATK II
Tác giả: Trường Chinh
Năm: 1983
6. Các Hiến chương Quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích lịch sử văn hóa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w