1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA DI SẢN VĂN HÓA TÌM HIỂU GIÁ TRỊ CÁC DI VẬT TIÊU BIỂU TẠI DI TÍCH CHÙA NGỌC HỒ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP... Chùa Ngọc Hồ thuộc phường Văn Miếu, quận Đốn
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA DI SẢN VĂN HÓA
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ CÁC DI VẬT TIÊU BIỂU TẠI DI TÍCH CHÙA NGỌC HỒ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 22
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài: 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6
4 Phương pháp nghiên cứu: 6
5 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 1 Khái quát về di tích chùa Ngọc Hồ và vấn đề nghiên cứu, bảo tồn di vật ở nước ta hiện nay 7
1.1 Khái quát về chùa 7
1.1.1 Niên đại khởi dựng 7
1.1.2 Quá trình tồn tại của di tích 12
1.2 Vấn đề bảo tồn các di vật, cổ vật tại di tích hiện nay 15
1.2.1 Một số khái niệm về di vật, cổ vật 15
1.2.2 Vấn đề bảo tồn di vật, cổ vật tại các di tích lịch sử văn hóa ở nước ta hiện nay 16
CHƯƠNG 2 Giá trị các di vật tiêu biểu trong di tích chùa Ngọc Hồ 27
2.1 Tổng quan về hệ thống di vật tại di tích chùa Ngọc Hồ 27
2.1.1 Hệ thống tượng thờ 28
Trang 33
2.1.2 Bia đá 47
2.1.3 Các di vật khác 52
2.2 Giá trị của hệ thống di vật 57
2.2.1 Giá trị lịch sử 57
2.2.2 Giá trị nghệ thuật 59
2.2.3 Giá trị văn hóa 63
CHƯƠNG 3 : Bảo tồn và phát huy giá trị các di vật trong di tích chùa Ngọc Hồ 65
3.1 Thực trạng các di vật trong di tích 65
3.2 Bảo tồn các di vật trong di tích 66
3.2.1 Cơ sở pháp lý để bảo tồn di vật 66
3.2.2 Các hoạt động bảo tồn 70
3.3 Tổ chức khai thác, phát huy giá trị của các di vật 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4có các ngôi chùa lớn với phong cảnh đẹp thì chùa còn là trung tâm lễ hội của làng, thậm chí của cả một vùng
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên, các nhà sư Ấn Độ đã đến đây theo những con đường của thương nhân (gồm cả đường bộ và đường thuỷ) Trung tâm Phật giáo sớm nhất ở nước ta là Luy Lâu (vùng Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh) Truyền thuyết về Tứ Pháp ở vùng Dâu cho thấy đã có sự kết hợp giữa Phật giáo trong buổi đầu du nhập với các tín ngưỡng dân gian cổ truyền Từ thời điểm đó, văn hóa Phật giáo đã tạo thành dòng mạch chủ đạo trong suốt dòng chảy lịch sử của dân tộc Trong vườn văn hóa Phật giáo muôn màu ấy, ngôi chùa đã trở thành biểu tượng văn hóa thiêng liêng và gần gũi nhất Dần dần, cùng với thời gian, khi mà Phật giáo ngày càng phát triển và có thời kỳ được coi là Quốc giáo (thời Lý - Trần), thì các ngôi chùa được xây dựng ngày một nhiều để đáp ứng nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân Lúc đó, các nhà sư sẽ là những người truyền bá văn hoá, dạy học cho cư dân làng xã Dù trải qua những thăng trầm của năm tháng, có lúc thịnh, có lúc suy nhưng cho đến nay, ngôi chùa vẫn có một vị trí quan trọng trong hoạt động văn hoá của nguời Việt Nam
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, hơn 2 tháng sau khi nước nhà độc lập, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác Cổ Học viện” – Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Nhận thức được quan điểm, vai trò quan trọng của di sản văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển
Trang 55
đất nước nên Nhà nước, xã hội và mỗi công dân đã luôn quan tâm đến việc bảo tồn các di sản văn hóa có giá trị Từ đó, Nhà nước đã quyết định xếp hạng cho các di tích có giá trị trong cả nước, nhằm tạo mọi điều kiện có thể để bảo
vệ các giá trị của di tích Chùa Ngọc Hồ thuộc phường Văn Miếu, quận Đống
Đa với các giá trị tiêu biểu mà nó mang trong mình, đặc biệt là hệ thống di vật phong phú và đặc sắc cũng đã được Nhà nước xếp hạng vì lý do như vậy Các
di vật đã là một phần lịch sử của ngôi chùa, chứng kiến biết bao thăng trầm, biến đổi của chùa Nếu như hiện vật gốc là xương sống cho toàn bộ hoạt động của bảo tàng thì có thể khẳng định hệ thống di vật trong chùa cũng vậy, chúng chính là xương sống cho toàn bộ hoạt động của ngôi chùa Dù chịu sự phá huỷ của thời gian, hay những lần tu bổ, làm mới nhưng chùa Ngọc Hồ vẫn giữ đuợc ít nhiều giá trị cổ xưa của nó Trong chùa hiện còn lưu giữ được một số
di vật có giá trị đặc sắc như: Bộ tượng Tam Thế, tượng A Di Đà, tượng Bà Ngô Bên cạnh đó còn có hệ thống văn bia và hoành phi rất phong phú., đặc biệt trong số đó có những văn bia đã trải qua trên 100 năm tuổi Mặc dù có những giá trị tiêu biểu như vậy, lại nằm cạnh rất nhiều di tích nổi tiếng như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Bích Câu đạo quán nhưng chùa Ngọc Hồ đuợc rất ít người biết đến Chỉ có vài công trình đã giới thiệu bằng hình ảnh, bài báo… về chùa Ngọc Hồ Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống về các di vật tiêu biểu mà chùa Ngọc Hồ nắm giữ cũng như thực trạng của việc bảo vệ, phát huy giá trị của chúng Điều đó, khiến chúng ta không thể đánh giá được đúng mức giá trị của hệ thống di vật trong chùa Ngọc Hồ Xuất phát từ những điểm trên và được sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu giá trị các di vật tiểu biểu tại di tích chùa Ngọc Hồ” làm đối tượng nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp với mong muốn sẽ có những đóng góp nhất định cho công việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hệ thống di vật chùa Ngọc Hồ (Chùa Bà Ngô)
Trang 66
2 Mục đích nghiên cứu
- Quá trình hình thành di tích chùa Ngọc Hồ
- Đối tượng phân loại các di vật (các loại hình: Đặc điểm, )
- Giá trị của các di vật trong di tích
- Từ thực trạng bảo tồn các di vật tại di tích, đưa ra được giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của chúng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là
hệ thống di vật trong di tích và thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di vật trong di tích chùa Ngọc Hồ
- Phạm vi nghiên cứu: giá trị của các di vật tại chùa Ngọc Hồ trong
không gian văn hóa phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong Văn hoá học: Sử học, Khảo
cổ học, Bảo tàng học, Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Mỹ thuật học
- Sử dụng phương pháp khảo sát điền dã và vận dụng các kỹ năng như quan sát, miêu tả, ghi âm, ghi chép, phỏng vấn, đo vẽ, chụp ảnh
- Tập hợp, hệ thống hoá tư liệu liên quan đến di tích để phân tích, đánh giá, đối chiếu, so sánh
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, bố cục bài khóa luận chia làm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về di tích chùa Ngọc Hồ và vấn đề nghiên cứu, bảo
tồn di vật ở nước ta hiện nay
Chương 2 Giá trị các di vật tiêu biểu trong di tích chùa Ngọc Hồ
Chương 3 Bảo tồn và phát huy giá trị các di vật trong di tích chùa Ngọc Hồ
Trang 77
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ DI TÍCH CHÙA NGỌC HỒ
VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, BẢO TỒN DI VẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Khái quát về chùa
1.1.1 Niên đại khởi dựng
Chùa Ngọc Hồ (玉壺寺) có tên nôm là chùa Bà Ngô hiện nay nằm ở
số 128 phố Nguyễn Khuyến, Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội Chùa Ngọc Hồ có niên đại khởi dựng từ bao giờ thì đến nay chưa có sự khẳng định nào chắc chắn Có rất nhiều ý kiến khác nhau đã được đưa ra, nhưng chung quy vẫn chưa thể tìm được sự thống nhất Mặc dù những di vật, dấu tích còn lại trong chùa đều có niên đại khá muộn , khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, song hầu hết các sách viết về chùa đều cho rằng chùa Ngọc Hồ vốn được khởi dựng từ thời Lý
Theo cuốn Thăng Long cổ tích khảo 1 thì chùa được xây dựng vào thời
vua Lý Nhân Tông (khoảng năm 1127 - 1128) Trong “Tuyển tập văn bia Hà
Nội” viết theo sách La thành cổ tích vịnh có ghi: “chùa xây từ năm 1218 đời
Lý Giữa gò, trước Tam quan chùa có mô đất hình hồ rượu, dưới gò có giếng nước thiên nhiên trong mát cho nên lấy tên là Ngọc Hồ2”
Theo bài minh trên chuông chùa hiện còn lưu giữ thì: “Năm Kiến Gia thứ 8 (1218) Lý Huệ Tông – vị vua rất sùng đạo Phật cuối triều Lý đã cho dựng trên gò một ngôi chùa Ngọc Hồ ”
Trong các tài liệu gần đây nhất nghiên cứu về lịch sử Thủ đô Hà Nội của các nhà sử học Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Uẩn, nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc cũng đều cho rằng chùa được khởi dựng từ thời Lý
1 Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội - Tuyển tập địa chí Tập 2 - H.: Hà Nội, 2010
2 Tuyển tập văn bia Hà Nội H: Khoa học xã hội 1978, tr122, Q1
Trang 88
“Gần Thái Hồ tức gần Văn Miếu có chùa Ngọc Hồ dựng lên từ năm
1218 thời Lý Huệ Tông, trên một cái gò, giữa gò trước cửa Tam quan chùa có một mô đất phía dưới hình bầu, phía trên cao nhọn vút lên trông tựa như một
hồ rượu Do cái mô đất hình hồ rượu có sẵn nước thiên nhiên như thế người xưa đặt tên chùa là chùa Ngọc Hồ”1 Nếu theo tài liệu trên thì chùa được xây dựng từ thời Lý Huệ Tông (1218) – thời đại mà Phật giáo phát triển mạnh, chùa chiền được xây dựng ở khắp nơi (Hiện nay Chùa còn có giếng nước dưới nền Tam quan phải chăng là giếng nước đã được các tài liệu nhắc đến?) Nhưng cũng về nguồn gốc giếng nước dưới nền Tam quan theo mô tả của giáo sư Nguyễn Văn Huyên lại cho ta một hướng nghĩ khác: “ ở phía dưới cái chòi, có đào một cái giếng sâu 2,53m Người ta nói rằng đó là cái giếng để thay cho cái hồ đã mất vốn ngày xưa làm tấm gương soi cho ngôi đền Phải chăng cái giếng đó cũng giải thích cái tên Ngọc Hồ đặt cho ngôi chùa”.2
Một ý kiến khác lại cho rằng chùa được xây dựng từ thời Lê: “chùa được xây dựng tại giáp Thanh Ngô, tổng An Hòa, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội, đặt tên là chùa Ngọc Hồ, nay thuộc thôn Thanh Ngô, phố Sinh Từ Chùa này bắt đầu xây dựng từ thời Thánh Tông Thuần Hoàng Đế (1460 – 1497) triều Lê” (bia “Ngọc Hồ tự công đức bi” – Bảo Đại thứ 10 năm 1935)
Theo công trình nghiên cứu về Hà Nội của nhà sử học Nguyễn Văn Uẩn có viết rằng: “Chùa Ngọc Hồ tục gọi là chùa Bà Ngô vì về đời Mạc (thế
kỷ XVI) chùa bị nát, có một vợ một khách trú bỏ tiền ra xây lại”
Để ghi công đức người đã tu sửa, chùa đã mang tên Bà Ngô và hiện nay
Bà còn tượng thờ trong chùa Vào thế kỷ XVI, chùa đã bị hư hỏng và phải xây lại Như vậy rất nhiều khả năng là chùa đã tồn tại từ trước đó khá lâu
1 Trần Huy Liệu (1960), Lịch sử thủ đô Hà Nội, H: Sử học, tr.398
2 Nguyễn Văn Huyên, Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Tập 2, tr.36
Trang 99
Xúc cảm mãnh liệt trước cảnh – tình của chùa Bà Ngô, Đồ chế khoa năm
1787 Trần Bá Lâm đã đưa ta về truyền thuyết vua Lê gặp tiên qua bài thơ:
“Dẫu không bồng đảo có tiên sa
Tiếng ngọc rung rinh núp dưới hoa
Ngoài cửa Đại Hưng mờ mịt bóng
Nguồn đào ngăn lối rẽ duyên ta”
Về chuyện vua Lê gặp tiên, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau được ghi chép trong các tài liệu: Bài minh khắc trên chiếc chuông đặt trong chùa, sách “Bích Câu kỳ ngộ” của Đoàn Thị Điểm, sách “Thăng Long cổ tích khảo’
Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) một hôm tới vãn cảnh chùa Ngọc Hồ, chợt thấy thiếu nữ xinh tươi tay cầm cành mẫu đơn ngâm mấy câu thơ:
“Gió thông đưa kệ tan niềm tục,
Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời.”
Vua cùng người đẹp xướng họa, cảm mến vì tài sắc, Vua mời cô lên xe loan về cung Đến cửa Đại Hưng cô biến mất Vua cho đó là dịp may đã gặp tiên bèn sai xây một lầu Vọng Tiên ngay chỗ đó rồi thường ra đó ngự để chờ tiên Sách “Thăng Long cổ tích khảo” có chép “Lầu Vọng Tiên ở trước cửa Đại Hưng khoảng hơn 100 trượng, lầu nổi lên ở trên đường Vào thời Lê Hồng Đức xây dựng lầu này” Để ghi dấu truyền thuyết ấy, ngày nay lầu Vọng Tiên thuộc số 120B phố Hàng Bông và tượng đức vua Lê được trân trọng tạc thờ trong chùa Ngọc Hồ với ý nghĩa “kỷ niệm’ của “vị vua Nho đi chùa gặp tiên’ và là người “có công mở cơ ngôi khu chùa”1 (Sau này, tượng đức vua Lê được rước sang thờ tại đền Ngày nay đền nằm trong chùa và được gọi là điện Mẫu)
Cũng liên quan đến truyền thuyết vua Lê gặp tiên, còn có sự tích khác
Sự tích kể rằng: Có một lần Lê Thánh Tông thăm chùa, thấy trên gác chuông
có bóng người đẹp ngâm 2 câu thơ:
1 Nguyễn Văn Uẩn, Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX H: Hà Nội, tr 958
Trang 1010
Ở đây mến cảnh mến thầy
Tuy vui đạo Phật chưa khuây lòng người
Cũng có thuyết nói rằng nhà vua thấy một thiếu nữ xinh tươi cầm một cành mẫu đơn ngâm mấy câu như sau:
Bà Ngô phong cảnh xinh thay
Đố ai cắt mối sầu này cho xong
Bao giờ về tới ngự cung
Thì ta sẽ dải tấm lòng cho hay
Vua bèn gặp hỏi chuyện và muốn cùng nàng xướng họa Nàng nhường vua làm trước, lấy đề bằng 2 câu thơ nàng vừa ngâm Vua làm bài thơ Đường luật như sau:
Ngẫm sự trần chuyện khéo nực cười
Tuy vui đạo phật chửa khuây người
Chày kình mấy khắc tan niềm tục
Hồn bướm năm canh lẫn sự đời
Bể thẳm muôn tầm mong tát cạn
Sóng ân ngàn trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây chín rõ mười
Nàng xin phép sửa lại hai câu thực và luận là:
Gió xuân đưa kệ tan niềm tục
Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời
Bể khổ muôn tầm mong tát cạn
Nguồn ân ngàn trượng dễ khơi vơi…
Vua rất phục, mời nàng lên kiệu về cung, nhưng đến cửa Đại Hưng thì nàng biến mất Vua cho là tiên giáng trần, dựng lầu Vọng Tiên ở đó để tưởng nhớ Một đêm nhà vua làm mơ thấy Tiên hiện tới tự tình và nói ở nơi kinh
Trang 1111
thành lâu nay thường xảy ra tai dịch là bởi có con Thạch tinh ở dưới cái ao ngay trước quán, đã hóa ra một con gà bay đi tác quái khắp Kinh thành, phải kịp trừ ngay mới khỏi sinh ra hậu họa lớn Khi tỉnh dậy, nhà vua cho đào ngay
ở giữa ao trước quán sâu tới 3 thước, đất đỏ như máu, thấy một một hòn đá, bèn đập vỡ tan, vứt ra ngoài sông rồi lấp phẳng ao đi Từ đó kinh thành rất yên ổn
Liên quan đến chùa Ngọc Hồ còn có truyền thuyết về Bích Câu đạo quán rằng: Vào triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497) có nho sinh học rộng tài cao tên là Trần Tú Uyên đến dựng lều tranh cạnh gò Kim Quy bên hồ Tảo Liên để dùi mài kinh sử Sau khi dư hội ở chùa Ngọc Hồ về, mê mẩn trước một bóng hồng tài sắc đang sánh bước bên chàng bỗng biến mất trong làn hương thơm phảng phất Tú Uyên quyết định đi cầu thần linh giúp đỡ, chàng đến đền Bạch Mã để xin quẻ bói Đêm về Bụt hiện lên trong giấc mộng bảo chàng rằng: “Con cứ đến chùa Cầu Đông bên dòng Tô Lịch sẽ gặp” Ngay sáng hôm sau chàng đã chờ sẵn ở chùa Cầu Đông, đến tận chiều tối mới có cụ già bán tranh đi tới Tú Uyên sững sờ khi nhận ra thiếu nữ tài sắc mình đã từng gặp đang ở trong tranh Mối nhân duyên hòa hợp bởi họ có duyên nợ từ kiếp trước sau đó họ tu đắc đạo thành tiên và cùng con trai cưỡi hạc bay về trời
Dấu tích ấy còn lại cho đến ngày nay để tin vào truyền thuyết ấy là Quán Bích Câu (số 14 – Cát Linh) nơi họ đã hóa về trời, chùa Ngọc Hồ nơi gặp gỡ, đền Bạch Mã (số 3 phố Hàng Buồm), chùa Cầu Đông (số 38B phố Hàng Đường), vẫn còn mãi di tích của thiên tình sử Tú Uyên – Giáng Kiều Ngày nay chùa Ngọc Hồ có hai khu nhà tách biệt là chùa Ngọc Hồ và Điện Mẫu tương đối hoàn chỉnh ở bên trái chùa
Giáo sư Nguyễn Văn Huyên khi khảo sát chùa Ngọc Hồ có viết: “Trong nhóm Ngọc Hồ, tại chùa dành để thờ Phật tại phủ để thờ Tiên các nhà dọc theo chùa dành vào việc thờ các “hậu” những ngôi nhà đằng sau phủ dành
Trang 1212
cho những người được giao trông coi việc thờ cúng các vị tiên” Nhưng đến nay thì tượng về thần tiên chỉ còn lại duy nhất là Đức Văn Xương được đặt trong phòng khách của nhà Tổ Trải qua thời gian tồn tại lâu dài, “phủ Ngọc
Hồ cũng được cung hiến cho Thánh mẫu, có số lượng tượng nhiều hơn” Như vậy có nghĩa rằng trước kia, Ngọc Hồ rất rộng và là một quần thể di tích gồm
có chùa thờ Phật và quán phủ thờ thần tiên Sau này, đạo Mẫu phát triển mạnh
mẽ nên phủ Ngọc Hồ đã biến thành Đền và ngày nay Đền nằm trong khuôn viên chùa và được gọi là điện Mẫu
1.1.2 Quá trình tồn tại của di tích
Chùa Ngọc Hồ có tên chữ là Ngọc Hồ tự, Ngọc Hồ có nghĩa là bình rượu bằng ngọc Sở dĩ có tên gọi như vậy là gọi theo địa thế ngôi chùa nằm trên mô đất hình hồ rượu có sẵn nước thiên nhiên Tuy nhiên dân gian người
ta quen gọi là chùa Bà Ngô vì tục truyền vào đời Mạc (khoảng thế kỹ XVI) có người đàn bà Việt lấy một nhà buôn Hoa kiều giàu có bỏ tiền của ra sửa chữa chùa nên nhân dân gọi là chùa Bà Ngô để ghi nhớ công ơn của người đã có công tu sửa chùa
Đất Thăng Long ngàn năm văn vật, kể từ khi nhà Lý định đô có rất nhiều biến đổi, thăng trầm Thêm vào đó là điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nắng mưa thất thường có ảnh hưởng lớn đến các công trình kiến trúc cổ, đặc biệt là kiến trúc gỗ Với thời gian, các di tích khó có thể giữ được dáng vẻ nguyên sơn vốn có Bởi vậy, không rõ chùa Ngọc Hồ trước đây có hình dáng như thế nào Theo “Bích Câu kỳ ngộ”1 do Vũ Quốc Trân dịch có miêu tả về chùa Ngọc Hồ như sau:
Trang 1313
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngổn ngang mã tích xa trần thiếu ai
Thưởng Xuân Sinh cũng dạo chơi,
Thơ lưng lưng túi, rượu vơi vơi bầu
Mảng xem cây phạm thú mầu,
Vầng kim ô đã gác đầu non tê”
Theo áng thơ văn cổ trên, có thể đoán được rằng xưa kia chùa Ngọc Hồ cũng được liệt vào hàng thắng cảnh đất Hà Thành ngàn năm văn hiến
Qua hàng trăm năm vật đổi sao dời, chùa Ngọc Hồ không thể tránh khỏi sự phá hủy của thiên nhiên và thời gian Tuy nhiên, chùa cũng được sự quan tâm của chính quyền và nhân dân địa phương nên những chỗ hư hỏng đều được sửa chữa kịp thời Hiện nay chùa Ngọc Hồ còn giữ được 16 bia đá, nhưng hầu hết toàn có niên đại muộn, ít có giá trị về lịch sử cũng như văn hóa Tuy nhiên, ta có thể dựa vào nội dung khắc trên bia mà biết được phần nào về quá trình tồn tại của di tích
Bia “Ngọc Hồ tự thánh tích công đức bi ký” dựng năm Quý Sửu niên hiệu Duy Tân (năm 1913) hiện lưu giữ tại chùa có ghi rõ:
“ Chùa Ngọc Hồ ở giáp Thanh Ngô, thôn Thanh Phúc, tổng An Hòa, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội Cảnh chùa mục nát, tượng Phật đã mục hư vào năm Tân Dậu (năm 1861) làm mới một ngôi nhà Tổ 5 gian
Đến năm Quý Hợi (năm 1863) làm mới các tòa tượng Phật
Năm Ất Sửu (năm 1884) đúc 1 quả chuông đồng, đúc xong ngày 01/03 Canh Dần – Thành Thái thứ hai (năm 1887)
Bia “Ngọc Hồ tự công đức bi” Bảo Đại thứ 10 (năm 1935) có ghi: Năm Tự Đức thứ 26, năm Quý Dậu (1873) sư ni Đàm An phát tâm sửa sang đắp tượng Cửu Long, đúc chuông
Trang 14Chùa Ngọc Hồ đến nay đã trải qua mấy trăm năm, kiến trúc cũ không còn, đây là một ngôi chùa được trùng tu lớn vào thời Bảo Đại (1935) mà nay còn lưu lại câu đối:
Bất ký Ngô Bà tu lý nguyệt
Đản tri Bảo Đại khánh thành niên
Tạm dịch:
Không nhớ tháng ngày Bà Ngô sửa chữa
Chỉ biết năm Bảo Đại khánh thành
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, chùa Ngọc Hồ là cơ sở nuôi giấu cán bộ Việt minh hoạt động bí mật Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12/1946), chùa cùng với nhân dân cả quận đứng lên làm thành lũy góp phần để Thủ đô kháng chiến thắng lợi
Sau khi Thủ đô được giải phóng, chùa bị dột nát nhiều nên được lợp lại ngói Năm 1960, nhà chùa đã dỡ máng trên mái để thoát nước Năm 1992, chùa lại thay ngói và đến nay cứ 3 năm thì đảo ngói 1 lần
Chùa đã trải qua nhiều đời sư trụ trì: Sư cụ Đàm Am, Đàm Thọ, Đàm Thư Năm 1968, ni sư Thích Đàm Uyển về trụ trì, trông nom chùa Ngọc Hồ Những năm sau khi đất nước thống nhất (1975), ni sư Thích Đàm Uyển vì thương người cơ nhỡ, không có nhà cửa, chùa lại rộng, hiu quạnh, nên đã cho
4 hộ ở nhờ đất đằng sau chùa Mãi cho đến những năm gần đây mới di dời
Trang 1515
được 4 hộ đó ra khỏi khuôn viên đất của chùa Với các giá trị về kiến trúc nghệ thuật và đặc biệt là hệ thống di vật mà chùa Ngọc Hồ đang lưu giữ nên năm 1993, chùa đã được Bộ Văn hóa ra quyết định số 57 QĐ/BT công nhận là
di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
Năm 2002, được sự ủng hộ của Nhà nước cùng với tiền quyên góp của khách thập phương và tiền công đức của chùa, sư ni Thích Đàm Viên đã cho xây dựng xong khu điện Mẫu với 3 gian nhà khá khang trang cạnh bên trái của chùa Tóm lại, trong quá trình tồn tại từ khi khởi dựng đến nay, chùa Ngọc
Hồ có nhiều thay đổi Ngôi chùa mà ta thấy ngày hôm nay, mặc dù đã mất đi
ít nhiều nét cổ xưa qua những lần sửa chữa, tu bổ nhưng nó vẫn giữ nguyên ở
vị trí ban đầu Chùa Ngọc Hồ với vẻ đẹp mang tính truyền thống, nằm giữa phố phường đô hội, bên cạnh những di tích nổi tiếng khác như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Bích Câu đạo quán nên thu hút được rất đông người dân quanh vùng và khách thập phương đến vãn cảnh chùa và công đức cho chùa
1.2 Vấn đề bảo tồn các di vật, cổ vật tại di tích hiện nay
Luật Ả rập Xê út qui định: “Thuật ngữ cổ vật dùng để chỉ các tài sản
động sản hay bất động sản do con người xây dựng, làm ra, sản xuất, tu chỉnh hoặc suy nghĩ ra đã được trên 200 năm1
1 Luật số M 26 ngày 3/8/1972 của nhà vua Ả rập Xê út về quản lý các di tích lịch sử
Trang 1616
“Cổ vật là những di vật cổ, đẹp, quý hiếm có giá trị kỹ thuật, giá trị mỹ
thuật, giá trị lịch sử, giá trị kinh tế”1
Cổ vật là những đồ vật, tài liệu, tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật hoặc giá trị văn hóa khác có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa dân tộc, văn minh nhân loại.2
Đại Từ điển tiếng Việt: Di tích lịch sử văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại
Đề thống nhất, tôi xin trích dẫn các khái niệm được ghi trong Luật Di sản Văn hóa được ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 của Việt Nam
Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Di vật: là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
Cổ vật: là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
Bảo tồn di tích: là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó
1.2.2 Vấn đề bảo tồn di vật, cổ vật tại các di tích lịch sử văn hóa ở nước ta hiện nay
Như chúng ta đã biết, Việt Nam có lịch sử lâu đời, nền văn hóa phong phú, điều đó hình thành nên rất nhiều tín ngưỡng khác nhau Các di tích lịch
sử văn hóa dần dần được xây dựng ngày một nhiều do nhu cầu tâm linh của người dân và sự dung hợp của tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo được du
Trang 1717
nhập vào nước ta Các di tích như đình, chùa, đền thường giống nhau ở các yếu tố như kiến trúc và cảnh quan, còn tùy mỗi di tích mà sẽ có các di vật khác nhau, điều đó tạo nên nét đặc sắc cho từng di tích Hình ảnh ngôi chùa hay “cây đa, giếng nước, sân đình” đã trở nên quen thuộc đối với người dân Việt Nam Do các di tích có vai trò quan trọng nên việc chọn hướng đất để xây dựng, tạo cảnh quan xung quanh như thế nào cho phù hợp rất được người dân chú tâm Điểm chung giữa các di tích như đình, chùa, đền là chúng đều được xây dựng trên các nơi có thế đất đẹp, được dùng những nguyên liệu tốt
để dựng lên Dựa vào di vật trong các di tích, ta sẽ thấy được điểm khác nhau giữa chúng và phân biệt được đâu là chùa, đâu là đình Giá trị của di tích không chỉ nằm ở yếu tố tâm linh, cảnh quan hay kiến trúc của di tích mà còn nằm ở hệ thống di vật mà nó chứa đựng Các di vật là một phần lịch sử của di tích, mang giá trị về nhiều mặt như văn hóa, nghệ thuật, Mặc dù các di vật trong di tích là những tài sản vô giá của di tích hay vùng đất nơi di tích tồn tại, có vai trò quan trọng nhưng việc bảo tồn các di vật lại không nhận được
sự quan tâm đúng mức Trên thực tế, ngay từ các thế kỷ trước đã có những văn bản pháp luật quy định xử lý đối với nhứng kẻ có xâm phạm hoặc lấy trộm những di vật, tài sản của đình, chùa Có thể kể đến là Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê) đã quy định một số điều như sau:
“432 (Điều 22) – Kẻ lấy trộm những đồ cúng thần phật trong đền chùa, thì phải tội như tội ăn trộm thường”
“433 (Điều 23) – Kẻ lấy trộm và phá những tượng thần Thiên tôn đều phải tội như tội ăn trộm tượng phật và phải đền gấp ba số tổn hại nộp vào kho của đền chùa ấy Nếu chính những người đạo sỹ, nữ quan, sư ni mà ăn trộm, phá tượng, thì xử nặng thêm một bậc Nếu ăn trộm để mà cúng vào đền chùa, thì xử biếm ba mươi tư”
“631 (Điều 79) – Quân dân ai phá hoại chùa quán, cầu cống, đập vỡ bia kệ, đẵn chặt cây cối, tiêu hủy mất cổ tích, thì xử tội 60 trượng, biếm hai tư
Trang 18là một nhu cầu cần thiết
Về mặt quan niệm, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đã nêu rõ di sản văn hóa là gì và khẳng định nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trong bối cảnh mới ở nước ta: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”
Các chỉ thị liên tục được Nhà nước ta ban hành, thể hiện sự quan tâm với di sản văn hóa và các di vật, cổ vật trong di tích như Chỉ thị về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới, trục vớt trái phép cổ vật trong di chỉ khảo cổ học (18/2/2002), Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 Điều đó khẳng định tầm nhìn đúng đắn và chiến lược của Đảng
và Nhà nước, thể hiện vai trò quan trọng của giá trị văn hóa trong việc phát triển đất nước
Trang 1919
Nhiều nhà khoa học xã hội, những người làm công tác quản lý văn hóa cũng đã quan tâm tới vấn đề di sản văn hóa ở những góc độ khác nhau, và ở một mức độ nhất định, thống nhất rằng: Di sản văn hóa là sản phẩm sáng tạo trong quá trình hoạt động của con người nhằm vươn tới đỉnh cao giá trị chân - thiện - mỹ Di sản văn hóa Việt Nam là sự kết tinh của mối quan hệ tổng hòa
và tương tác giữa môi trường - con người - văn hóa, là sự vươn lên những thách đố khốc liệt bằng sự kiên trì, lòng dũng cảm, trí thông minh và khát vọng vươn tới tầm cao của nhân loại, là tấm lòng bao dung, sự dung hợp giữa việc bảo tồn bản sắc riêng của mình với sự thích ứng và tiếp thu những giá trị của các văn hóa khác”
Đến nay thì có Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001 và được sửa đổi bổ sung năm 2009 cũng có quy định về việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích, trong đó bao gồm cả các di vật Việt Nam có truyền thống lịch sử lâu đời, các di sản văn hóa của dân tộc có rất nhiều Trong gần 1000 năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã vơ vét hết các tài sản quý giá của dân tộc, bao gồm cả các di vật, cổ vật có giá trị Đến khi bị thực dân Pháp đô hộ, chúng cũng phá hủy nhiều di tích lịch sử văn hóa của nước
ta, kéo theo rất nhiều di vật trong đó biến mất Vì vậy, việc bảo tồn các di vật,
cổ vật trong các di tích còn lại đến ngày nay là rất quan trọng, chúng không chỉ mang trong mình các giá trị văn hóa, nghệ thuật mà còn phản ánh chân thực về lịch sử của dân tộc
Hiện nay, công tác quản lý di vật, cổ vật ở Việt Nam ngày càng khó khăn phức tạp nhất là từ khi có chính sách mở cửa, thị trường đồ cổ ở nước ta thực tế rất đa dạng, nhiều hình, nhiều vẻ Nạn buốn bán, tra đổi chảy máu cổ vật diễn ra Các luật lệ của Nhà nước ban hành các Nghị định, thông tư kèm theo vẫn không ngăn chặn được việc sưu tầm, khai thác, trộm cắp buôn bán
cổ vật một cách liều lĩnh Các cửa hàng buôn bán cổ vật dưới nhiều hình thức,
Trang 2020
từ những hiệu bán đồ lưu niệm do Nhà nước tổ chức đến các quầy tư nhân đều lén lút, thậm chí công khai buôn bán cổ vật dù Nhà nước không cho phép Người môi giới để mua cổ vật cho người nước ngoài gồm nhiều thành phần: cán bộ hướng dẫn du lịch, lái xe, nhân viên khách sạn Khách mua nhằm mục tiêu xuất lậu cổ vật gồm: nhà ngoại giao, người nước ngoài vào làm việc hoặc du lịch, Việt kiều về thăm đất nước, cán bộ nhân dân ra nước ngoài công tác, học tập, tham quan, du lịch, thăm người thân
Mức độ vi phạm ngày càng trầm trọng, hình thành một số băng nhóm, đường dây ngầm hoặc có thể gọi là “thị trường đen về cổ vật” Việc mất cắp
cổ vật tại các di tích thường xuyên xảy ra Có những di tích kẻ gian đột nhập lấy cắp cổ vật liên tục Có huyện hầu như di tích nào cũng bị kẻ gian “hỏi thăm” Có thể nêu ra một số dẫn chứng về sự thất thoát cổ vật, di vật:
Có thể nói tình trạng cổ vật bị đánh cắp hoặc buôn bán trái phép đưa ra nước ngoài diễn ra thường xuyên ở nước ta, không chỉ ở Hà Nội mà còn ở nhiều tỉnh thành khác Báo Tuổi trẻ ra ngày thứ hai: 22/9/2003 đăng bài
“Dịch trộm tượng Phật” cho biết vào rạng sáng ngày 24/7/2003, bảo vệ và các sư trong chùa Đức La phát hiện 6 pho tượng đã “không cánh mà bay”, tất
cả đều là tượng gỗ có niên đại hơn 300 năm
Nạn lấy cắp cổ vật tại các chùa đền ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cũng xảy ra tương tự Ví dụ: ba pho tượng đồng của vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông cung Hiền từ Hoàng Thái Hậu tại đền Thái Vi thuộc Trường Yên (Hoa Lư, Ninh Bình), bị kẻ gian lấy thân tượng mang đi vì nghi trong đó
có đồng đen Năm 1985 tại đền Đinh Lê (Hoa Lư) pho tượng Đinh Tiên Hoàng bằng gỗ cũng bị trường hợp như vậy
Những năm 1991-1993 ở tỉnh Hà Tây cũ có tới gần trăm ngôi đình, chùa, miếu, quán bị mất cổ vật Ở chùa Dương Nội (Hoài Đức) bị mất tượng phật Thích ca Ở đình Mộc Xá (Thanh Oai) bị bọn trộm vào đình trói cụ Từ
Trang 2121
để lục tìm cổ vật Hầu như tất cả các chùa lớn ở thị xã Hà Đông đều bị mất trộm Như chùa Đa Sĩ (Hà Đông) chúng đã lấy đi 57 pho tượng, còn lại một pho do bắt ốc vít vào bệ nên còn sót lại”
Một số vụ ở các địa phương khác như: Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh
Hà Nam đã xảy ra hàng chục vụ trộm cắp cổ vật, đặc biệt là những pho tượng
cổ tại các đình chùa Tại chùa Cao Đà, một di tích lịch sử - văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng (thuộc xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân), trong năm 2000 đã hai lần bị mất cắp 18 pho tượng đồng, hai chóe sứ và một độc bình cổ Đầu tháng 3 - 2001, kẻ trộm lại đào tường vào chùa trộm tiếp 6 pho tượng đồng đúc từ thế kỷ 13, một bát hương đá và 3 bình độc cổ, cùng thời gian này tại chùa Hoa Văn (Quốc Oai, Hà Tây) cũng đã xảy ra một vụ trộm lớn mất 10 pho tượng quý
Đêm 11-3-2010, tại chùa Phúc Sơn (Bắc Giang), kẻ trộm đã đục thủng tường, vào lấy đi 3 pho tượng Tam Thân Tam Thế Đây là những pho tượng
cổ quý hiếm được làm bằng gỗ có niên đại từ thế kỷ 18 Tượng ở tư thế ngồi Mỗi pho tượng cao 80 cm, vai rộng 28 cm, độ mở của gối là 40 cm
Ngoài ra, ở các di tích người dân còn tiến hành sơn mới các tượng, sử dụng các loại sơn hiện đại, màu mè lòe loẹt, điều đó làm mất đi nét cổ xưa, trầm mặc của tượng và giá trị của chúng cũng bị giảm đi rất nhiều Nhiều người chỉ nghĩ là sơn son tượng thì sẽ tăng vẻ thẩm mỹ, làm đẹp cho tượng
mà không biết chính hành động đó làm tượng không còn các giá trị cũ nữa mà trông chúng như là được làm mới vậy Chưa dừng lại ở đó, nhiều di tích còn xảy ra tình trạng các tượng cũ có giá trị bị thay thế bởi các tượng mới hoàn toàn không có giá trị do các Phật tử tiến cúng Những tượng mới này có thể
to, đẹp nhưng chúng không có giá trị gì trong việc nghiên cứu về lịch sử di tích cũng như nghệ thuật tạo hình tượng của cha ông ta ở các thời kỳ trước Vì vậy, việc nhiều di tích đặt các tượng mới thay thế các tượng cũ ở trong nơi
Trang 2222
thờ tự là việc làm sai lầm, thể hiện sự thiếu hiểu biết cũng như không thấy được giá trị của các di vật xưa cũ
Sở dĩ có tình trạng trên là do những nguyên nhân:
- Sự sôi động của thị trường đồ cổ thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng đã ảnh hưởng mạnh đến “thị trường ngầm” về cổ vật ở nước ta Giá cả
cổ vật ở nước ta so với thế giới chênh lệch rất lớn gây sự chú ý của bọn buôn bán cổ vật Quốc tế
- Sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương, thể hiện ở các mặt sau đây:
Không hình thành tổ chức và tiến hành kiểm tra các cửa hàng bán đồ
cổ, thậm chí không xử lý người vi phạm khi đã có bằng chứng chắc chắn Việc quản lý di tích động sản ở các di tích không chặt chẽ Ở nhiều di tích không có sổ đăng ký và theo dõi tài liệu cổ vật, không có những quy định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý và người trông coi di tích Việc tổ chức bảo
vệ của các di tích chưa được chú ý đúng mức
- Pháp luật chưa nghiêm
Nhiều vụ mất cắp đồ cổ không được thành lập ban chuyên án, thậm chí
có nơi còn coi như là mất tài sản bình thường, có vụ không đưa ra xét xử hoặc
xử lý không đúng mức độ vi phạm, thậm chí tha bổng Ở một số địa phương, chính quyền đứng ra tổ chức khai quật, vi phạm những qui định của pháp lệnh, gây xôn xao dư luận, kiện cáo mất đoàn kết nội bộ kích thích kẻ xấu đào bới tìm cổ vật
Ngành văn hóa chưa kịp phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp có liên quan để xử lý kịp thời những hiện tượng mua bán cổ vật trong các cửa hàng nhà nước và tư nhân
- Những quy định về cổ vật trong pháp lệnh và các văn bản pháp qui khác còn chung chung và các cơ quan chức năng lúng túng trong công việc xử
Trang 2323
lý Phạm vi đối tượng điều chỉnh của pháp lệnh chỉ đặt ra vấn đề bảo vệ di sản văn hóa vật thể, còn bỏ trống một mảng di sản văn hóa quan trọng là di sản văn hóa phi vật thể
- Việc phân cấp quản lý chưa quy định thật cụ thể trách nhiệm và quyền hạn cho từng cấp chính quyền ở Trung ương, Tỉnh, Thành phố, Quận huyện
xã phường Thiếu sót trên đây dẫn đến tình trạng nhân dân ỷ vào nhà nước, địa phương trông chờ ở trung ương mà không phát huy tính chủ động của mình trong các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
- Đất nước đổi mới, người nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài ngày một nhiều, nhu cầu mua bán xuất nhập cổ vật cũng tăng theo Các văn bản pháp quy chưa thể hiện được việc quản lý thực tế này
- Các ngành văn hóa cả Trung ương và địa phương chưa có kế hoạch và nhiều hình thức tuyên truyền, giới thiệu những quy định liên quan đến cổ vật Trong nhiều trường hợp là do không hiểu biết pháp lệnh Ở một số địa phương sau khi tổ chức kiểm kê di tích, xác định rõ giá trị của các loại cổ vật trong di tích thì đồng thời kết quả thậm định đó lại bị lợi dụng vào mục đích buôn bán cổ vật cho kẻ gian
Những nguyên nhân trên lý giải cho sự thất thoát di vật, cổ vật ở các di tích Thị trường tiêu thụ rộng nên làm nhiều tên trộm lóa mắt vì đồng tiền dễ kiếm, cộng với việc quản lý lơi là của những người trông coi di tích do họ không hiểu được hết giá trị của các di vật
Còn một nguyên nhân quan trọng khác khiến các di tích và di vật bên trong chúng dần dần bị hủy hoại, đó là do việc tuyên truyền của nhà nước đối với người dân về giá trị của các di tích lịch sử và di vật, cổ vật chưa được thực hiện tốt và quan tâm đúng mức Ngày nay, nhiều văn bản, nghị định đã được Nhà nước ban hành về công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa nhưng không phải ai cũng được tiếp xúc hay tìm hiểu về các nghị
Trang 2424
định đó Những văn bản như Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001 và sửa đổi bổ sung năm 2009 hay quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ban hành ngày 06/02/2003 quy định về việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hóa là những văn bản có tính pháp lý cao, rất cần thiết cho việc bảo vệ di sản văn hóa Để người dân có thể hiểu biết về các văn bản trên, qua đó biết được giá trị của di tích lịch sử cũng như các di vật bên trong di tích, Nhà nước, chính quyền địa phương phải làm tốt được công tác tuyên truyền, giảng giải cho người dân hiểu rõ hơn về các văn bản đó Vì chỉ có làm tốt việc tuyên truyền mới giúp người dân thấy được giá trị của di tích, qua đó họ sẽ biết cách bảo tồn di tích cũng như di vật một cách đúng đắn Hiện nay, do người dân không hiểu về luật nên nhiều hành động của họ lại vô tình dẫn đến việc phá hủy các di tích, di vật Nhiều di tích sau những đợt trùng tu, tu bổ đã mất đi các kiến trúc nguyên gốc của mình, hoặc mặc dù vẫn giữ được các nét ban đầu nhưng bị cơi nới, xây thêm nhà phụ, các công trình phụ khác Con người chính là tác nhân phá hủy các di tích nhanh nhất do sự thiếu hiểu biết của mình, không ít những công trình có giá trị nghệ thuật và lịch sử to lớn đã bị mất đi do năng lực chuyên môn kém về tu bổ di tích của những người trong cuộc Bên cạnh đó, việc lấn chiếm trái phép đất bên trong các di tích làm nhà
ở như chiếm đất chùa, đền cũng góp phần phá hủy các di tích và di vật mà chúng lưu giữ Việc tuyên truyền nâng cao hiểu biết của người dân còn giúp cho họ có ý thức hơn trong việc bảo vệ di tích, di vật tránh khỏi tình trạng mất cắp hoặc bị làm mất đi giá trị Bởi vì, ở một số di tích người ta công đức bằng việc cúng tiến tượng mới, thay thế các tượng cũ bằng tượng mới hoặc sơn son thếp vàng tượng cũ Điều này thể hiện sự thiếu hiểu biết của người dân trong việc bảo vệ di tích Họ không biết rằng chính những hành động mà họ nghĩ là công đức, góp ích cho di tích lại là phá các di vật, cổ vật Bởi vì di vật, cổ vật trong di tích chứa đựng rất nhiều giá trị, việc bảo quản và phát huy giá trị của
Trang 2525
chúng cũng nên được tuyên truyền để cho người dân nắm rõ được Bên cạnh
đó, chúng ta còn thấy được giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và thủ pháp tạo hình tinh tế của các nghệ nhân xưa thông qua các di vật còn lại trong di tích Với mỗi thời kỳ, phong cách nghệ thuật sẽ không giống nhau, vì thế dựa vào cách tạo hình của di vật, ta có thể đoán định được niên đại của chúng Nhất là những pho tượng Phật, là đại diện cho các vị Phật, một trong tam bảo của ngôi chùa, nên càng phải được bảo tồn cẩn thận Nước Việt Nam ta đã có lịch
sử lâu đời, trải qua hàng nghìn năm, nhưng những di vật, cổ vật còn sót lại là rất ít Do những cuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc, chúng vơ vét hết
di sản văn hóa có giá trị của chúng ta và đập phá những gì quan trọng liên quan đến bản sắc văn hóa của dân tộc Nguyên nhân nữa là giá trị của di vật quá lớn, đánh động đến lòng tham của bọn trộm cắp Chúng sẵn sàng ăn trộm các di vật quý giá trong các di tích đem bán Di vật chính là lịch sử, là nguồn
sử liệu gốc, khẳng định nền văn hóa của dân tộc nhưng càng ngày chúng càng
bị mất đi do không được đánh giá đúng mức giá trị của mình Giá trị của di vật là rất lớn, đặc biệt là về lịch sử Trên thế giới, đã có những dân tộc, những quốc gia bị xóa Lịch sử thành văn không có, ngày nay chỉ dựa vào di vật cồ vật còn sót lại mà dựng lại lịch sử nước đó Ví dụ như nước Đại Nguyệt Thị (Trung Quốc) ngày nay chỉ dựa vào tư liệu tiền cổ để dựng lại lịch sử
Nhà Mạc bị coi là ngụy triều, do vậy sử cũ ghi chép rất sơ sài Ngày nay nhờ có những đồ sứ có niên hiệu nhà Mạc mà ta có thể hiểu được trình độ của nền sản xuất xã hội thời đó, riêng đồ sứ Bát Tràng phát triển tới trình độ khá cao
Giá trị kỹ thuật cũng được thể hiện qua di vật, cổ vật Qua di vật, cổ vật
có thể xét đoán trình độ sản xuất đương thời mà lịch sử chép không rõ ràng hoặc không chép Ví dụ như trống đồng mách bảo kỹ thuật đúc rất cao của người Lạc Việt từ mấy ngàn năm trước mà người thời nay khó hình dung nổi
Trang 2626
Viện Bảo tàng Lịch sử đã tổ chức đúc lại trống đồng Ngọc Lũ Sau bốn lần thất bại, lần đúc thứ năm năm 1975 hợp tác xã Ngũ Xã nổi tiếng mới đúc thành công (tương đối) bằng phương pháp cổ truyền Thế mới thấy nếu không
có cổ vật còn tồn tại lại là trống đồng thì người thời nay sẽ không hiểu được
kỹ thuật đúc đồng đã phát triển như thế nào nữa
Giá trị mỹ thuật cũng quan trọng, qua trang trí trên di vật cổ vật như đồ gốm sứ, tượng ta có thể biết về mỹ thuật Việt Nam như thế nào
Chính vì những lý do quan trọng trên, nên việc bảo tồn di vật, cổ vật là việc làm cấp thiết Chúng ta phải nhìn nhận một thực tế là Nhà nước và đúng hơn là những người trông coi các di vật, cổ vật trong di tích không hiểu hết được giá trị mà mình đang có nên dẫn đến tình trạng lơ là, trông coi không cẩn thận Chính điều này mà nạn chảy máu di vật, cổ vật tại các di tích đang ngày càng diễn ra nghiêm trọng Việc làm thiết thực nhất là tuyên truyền giá trị các di sản văn hóa, các di vật, cổ vật đến với người dân để họ có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ và giữ gìn di sản văn hóa quý giá của dân tộc Bên cạnh đó cần đào tạo những người có chuyên môn cao trong việc bảo tồn
và phát huy giá trị của các di vật, cổ vật Điều đó thể hiện định hướng đúng đắn và sự quan tâm của Nhà nước với di sản văn hóa của dân tộc, trong đó có
di vật, cổ vật Nên tổ chức các hội thảo khoa học bàn về vấn đề bảo tồn di vật trong di tích và phải lập đội ngũ chuyên môn nghiên cứu sâu về giá trị của di vật, di tích lịch sử, từ đó tuyên truyền cho dân hiểu được giá trị các di tích trên địa phương mình
Trang 2727
CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ CÁC DI VẬT TIÊU BIỂU TRONG DI TÍCH CHÙA NGỌC HỒ
2.1 Tổng quan về hệ thống di vật tại di tích chùa Ngọc Hồ
Chùa Ngọc Hồ là một công trình kiến trúc gồm có hệ thống phức hợp các đơn nguyên kiến trúc phong phú và đa dạng nằm trên một mặt bằng chung Kết cấu kiến trúc chính của chùa theo kiểu chữ đinh (丁), ngoài ra còn
có các đơn nguyên kiến trúc khác như nhà tổ, điện thờ mẫu Các đơn nguyên kiến trúc này không đồ sộ mà có tính liên hệ, tiếp nối nhau
Các công trình bộ phận trong tổng thể ngôi chùa được sắp đặt, bố trí một cách đăng đối Tam quan cùng với tòa tiền đường và thượng điện của chùa đều nằm trên đường nhất chính đạo Các công trình phụ nằm đối xứng hai bên đường nhất chính đạo này Bên trái là điện thờ mẫu, bên phải là nhà
tổ Ở chùa Ngọc Hồ, nhà tổ vừa là nơi thờ các vị tổ sư đã viên tịch vừa là nơi tiếp khách Góc bên trái nhà tổ là ban ký hậu, đối diện đó là nơi sửa soạn lễ vật vào chùa Sau nhà tổ là bếp ăn của nhà chùa
Chùa Ngọc Hồ tọa lạc tại vị trí trung tâm, có cảnh quan thiên nhiên đẹp, thế đất cũng phù hợp với quy luật phong thủy Khoảng sân phía sau tam quan rộng rãi, thoáng mát được kết hợp với rất nhiều loại cây thiêng tạo cho các Phật
tử khi vào đây một trạng thái tinh thần thoải mái, loại bỏ hết phiền muộn
Trang trí trong kiến trúc và chạm khắc ở chùa cũng rất độc đáo Hiên trong tòa tiền đường dạng vòm cuốn mở rộng bằng một vì vỏ cua, là kiểu kiến trúc ít thấy ở miền bắc, thường thấy ở Hội An – Huế Bên cạnh đó là hệ thống
vì phong phú, các bộ vì ở gian trung tâm tiền đường được làm theo kiểu giá chiêng, hai vì ở đầu đốc thì lại là kiểu vì chồng rường Thượng điện là đơn nguyên kiến trúc 4 gian có nhiều cửa võng Cửa võng nằm dưới bức đại tự với trang trí rồng chầu mặt nguyệt, hoa quả thiêng, sách bút Các cửa võng khác
Trang 2828
trang trí trung tâm là bông cúc mãn khai, xung quanh là giàn hoa dây với các quả thiêng, chim công, chim trĩ Nhà tổ chùa Ngọc Hồ có kết cấu 3 hàng chân cột gồm hai hàng cột cái và một hàng cột hiên Cột hiên được nối với nhau bằng hệ thống cửa bao che, các gian nhà tổ có diện tích bằng nhau Đơn nguyên kiến trúc này gồm 9 bộ vì, vì nóc 3 gian giữa là vì ván mê Bộ vì này được kết cấu bởi những ván dày và liên kết bởi các mộng ẩn Các vì này được
để rỗng một lỗ hìh chữ nhật ở giữa và dưới cùng chiếm khoảng ¼ quá giang Trên đây là những nét khái quát về cảnh quan cũng như kiến trúc của chùa Ngọc Hồ Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phần chính là hệ thống di vật tại chùa Chùa Ngọc Hồ hiện có hệ thống di vật khá là phong phú, với hơn 35 pho tượng các loại, hơn 16 bia đá còn giữ được cho đến ngày nay, 3 quả chuông đồng cùng với đồ thờ và di sản Hán Nôm đặc sắc Tượng ở đây chia
ra làm hai loại: Tượng thế kỷ XIX, hầu hết là các tượng ở Tam Bảo và tượng thế kỷ XX, gồm các tượng Mẫu và ông Hoàng Bia đá của chùa Ngọc Hồ gồm toàn những bia được khắc vào thời nhà Nguyễn Do số lượng di vật trong chùa là khá nhiều, tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài khóa luận, tôi chỉ xin giới thiệu về một số di vật tiêu biểu, có giá trị về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật cùng với cách tạo hình đặc sắc và có tuổi vào khoảng gần 100 năm Có thể kể đến ở đây là hệ thống tượng trong nhà Tam Bảo, hầu hết đều có niên đại thế
kỷ XIX, XX và một số bia đá có niên đại sớm cùng với quả chuông được đúc năm Thành Thái – hiện được treo trên gác chuông ở Tam Quan chùa
2.1.1 Hệ thống tượng thờ
2.1.1.1 Tượng Tam Thế
Bộ tượng này được đặt ở trên cao và sâu nhất trong tòa Thượng điện
Tên đầy đủ của bộ tượng này là Tam thế thường trụ diệu pháp thân, hoặc Tam Thế Tam thiên Phật Tam thế là ba thời, tương ứng với ba đại kiếp, gồm: Quá
khứ thế đồng nhất với Trang nghiêm kiếp; Hiện tại thế đồng nhất với Hiền
Trang 2929
kiếp, Vị lai thế đồng nhất với Tinh tú kiếp, mỗi kiếp lấy tròn số tương ứng với 1.344.000.000 năm Đó là con số được lấy tròn, chứ thực ra, nhiều người nghiên cứu Phật học nghĩ rằng, số đó phải là bội số của chín hoặc bảy
Cái tên Tam Thế thường trụ diệu pháp thân có thể hiểu như sau:
Thường trụ: là tồn tại vĩnh viễn không sinh, không diệt, không lệ thuộc vào hình, danh, sắc, tướng, mà tự nhiên, tự tại
Diệu: là đẹp đẽ, linh thiêng, nhiệm màu
Pháp thân: tức thân pháp đó là một “thể uyên nguyên mang tính chân như” không sinh, không diệt, không biến đổi, là thân trí tuệ tuyệt đối đồng nhất với Phật thân Trong trường hợp này, Phật thân đồng nhất với Pháp thân,
nó cũng là chất tinh túy nhất, vĩnh hằng có trong mọi chúng sinh, vì thế nhà Phật đã từng nói: hãy vén đám mây mù ngu tối che đậy thân tâm, thì tự nhiên ánh sáng trí tuệ sẽ rọi tới
Bộ tượng này cũng có tên là “Tam Thế Tam thiên Phật”: là ba nghìn vị Phật (con số tượng trưng) đại diện cho chân lý của đạo, nối nhau giáo hóa chúng sinh ở ba đại kiếp, mỗi kiếp ứng với nghìn vị Trong đó, đức A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc chỉ là ba vị ở cuối thời Hiền kiếp mà thôi Như vậy, cả ba pho tượng Tam Thế không đại diện riêng cho bất kể một vị Phật nào, bởi các
vị cụ thể chỉ được coi như hóa thân nhân dạng của Phật pháp vô biên và vĩnh cửu, thích ứng với chức năng riêng để dẫn dắt chúng sinh vượt qua bến đời bến mê, mà về miền bỉ ngạn (miền giác ngộ)
Bộ tượng Tam thế chùa Ngọc Hồ được tạc trong tư thế tọa thiền trên đài sen, về cơ bản thì ba pho tượng Phật này thống nhất với nhau trong phong cách tạo tác và có kích thước tương đương, được tạo tác công phu, chau chuốt tới từng đường nét và tuân thủ nghiêm ngặt những quy chuẩn tạc tượng Phật
được ghi trong sách Tạo tượng lượng đạc kinh diễn âm 1– là cuốn sách ghi về cách đúc tượng, với sự cân đối trong tỷ lệ giữa đầu và thân là 1/3.5
1 Tạo tượng lượng đạc kinh, in tại chùa Xiển Pháp, thôn An Thạch, Hà Nội, dày 138 trang, khổ 31cm x 22cm,
có diễn Nôm và 12 hình vẽ
Trang 3030
Tuy tạo tượng Phật phải tuân theo một quy chuẩn chung nhưng những pho tượng Phật trong các ngôi chùa của người Việt là do bàn tay tài hoa của những nghệ nhân dân gian sáng tạo nên mà họ đều là những người nông dân bởi vậy mỗi pho tượng vẫn có sự đan xen một cách hài hòa giữa tạo hình Phật giáo và tạo hình dân gian Phần đầu tượng là phần được tạo tác công phu nhất, tạo nên thần thái cho tượng, chú trọng tạo hình thể hiện những quý tướng của nhà Phật Sọ tượng khá nở, mang ý nghĩa đề cao trí tuệ nhà Phật Trên sọ được phủ những cụm tóc nhỏ lồi xoắn ốc tóc, vừa là sự nhấn mạnh trí tuệ Phật, đồng thời là biểu hiện cho quá trình dung hội tín ngưỡng dân gian cổ truyền của nhiều cư dân trên thế giới với Phật giáo (vân xoắn này được coi như một dạng nghệ thuật hóa của chớp, mang tư cách biểu tượng) Đó là sức mạnh của hạnh phúc được nảy sinh từ tâm thức nông nghiệp, cũng phù hợp với tính chất trầm mặc, sâu lắng, trang nghiêm của Phật và các kiếp tu Chúng
ta có thể hiểu được màu đen của tóc, màu nâu sẫm trên toàn thân tượng là biểu hiện của bầu trời hạnh phúc, của nguồn nước no đủ, còn tóc xoắn ốc là biểu tượng cho chữ Vạn, của lửa, của sấm chớp Các cụm tóc xoắn ốc được nhà Phật quy vào đó là biểu tượng cho các chữ thánh như Đức tự, Cát tường
tự, Vạn tự Nói đến Đức tự là nói đến xây dựng tứ đại vô lượng tâm: Đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả trên nền tảng của trí tuệ Kiết/Cát tường tự với ý nghĩa nói về sự tốt đẹp, minh bạch rõ ràng của nhà Phật Vạn tự là một biểu tượng
vô cùng quan trọng đối với nhà Phật, nó là ánh sáng của Phật pháp vô biên, là sức mạng của lửa Tam muội, huyền diệu, linh thiêng ẩn chứa một siêu lực vũ trụ vô bờ bến Nhiều nhà nghiên cứu Phật học đã từng cho rằng, lửa tam muội bắt nguồn từ sức mạnh vô cùng tận lửa mặt trời, bởi chính nguồn ánh sáng này đã tạo nên sự sống của muôn loài trên thế gian Trên đỉnh đầu tượng để lộ nhục kháo gồ cao hình ụ tròn hay còn gọi là Nhục kế (Unisa), tướng này nổi lên khi đạt được trí tuệ Phật viên mãn, nó cũng là một tướng đại quý trong 32
Trang 3131
tướng quý của Đức Phật Điểm đáng quan tâm là trên đỉnh của Unisa có một mặt tròn bẹt, mà đứng ở phía dưới không ai có thể nhìn thấy được Đó là tướng vô kiến đỉnh (Sahasrâra), tướng này chỉ có thể thấy được bằng tuệ nhãn
và thần nhãn Tướng này được coi như cực thiêng nên mang tính chất ẩn Nhưng nhiều khi ý niệm này có phần bị suy lạc, hay đôi khi theo cách thức
“Thế gian trụ trì thì Phật pháp” mà làm cho tướng này nổi hẳn lên dưới dạng quả cầu nhỏ như nhấn tới một trung tâm của nguồn sinh lực Phong cách thể hiện khuôn mặt tượng mang một vẻ đẹp gần gũi đời thực Khuôn mặt tượng trái xoan với lông mày hình cong, dạng vành trăng lưỡi liềm phủ rộng hơn mắt, gốc lông mày chạy vào sống mũi tạo nên vẻ đẹp thánh thiện đầy đủ, một biểu hiện cho mọi sự hanh thông Mắt tượng khép hờ nhìn xuống đỉnh mũi như soi rọi nội tâm trầm mặc, sâu lắng, phần đuôi mắt hơi vểnh cao Mắt tượng khép hờ cũng biểu thị về nội ngoại viên thông Một ý nghĩa khác, đôi mắt nhìn xuống này cũng xuất phát từ triết học Phật giáo, vì đạo Phật chú trọng đến nội quan, nên mắt tượng Phật nhìn xuống để chú ý đến nội tâm Ấn đường (vùng sơn căn) đầy đặn để chỉ về sự quán tưởng tới Phật đạo bằng thần nhãn vô tận, diệt trừ nguồn gốc của mọi dục vọng Hai gò má căng tròn tạo nên những đường hằn sâu quanh miệng, biểu hiện về phúc đức viên mãn, gờ cằm nổi khối tròn Mũi tượng cân phân đầy đặn, sống mũi thẳng ấm áp không hếch, không cụp, mang đặc tính chính nhân quân tử Nhân trung dài, môi vừa phải, cân đối cả trên lẫn dưới nhằm biểu hiện về sự cần bằng của cả âm dương của các mặt đối đãi trong muôn mặt cuộc sống Miệng tượng thu nhỏ lại, phảng phất nụ cười hàm tiếu như nhấn mạnh về ý nghĩa của đức Phật là cảm thông và cứu độ Tai tượng to với đỉnh tai cao trên lông mày, thùy tai dài chảy hình giọt mật, hơi vểnh ra đằng trước
Tượng ngồi trong tư thế “Kiết già hàng ma” để lộ bàn chân phải lên đùi trái với ý nghĩa diệt trừ ma quỷ trong đó có cả ma tâm khiến tâm mình được
Trang 3232
yên ổn Áo tượng chạm theo lối bong kênh, khoác choàng qua vai theo kiểu
cà sa hai lớp, phía dưới ngực thắt dây bao lưng, kết nút hình con do ở trước bụng, phía dưới tạo thành hai vạt áo với những nếp gấp mềm mại chảy xuống phía dưới phủ qua gối tràn xuống bệ
Cả 3 pho tượng đều tọa trên đài sen được tạo tác dạng đài sen hai lớp cánh ngửa gồm một lớp cánh đơn và một lớp cánh kép Cánh sen to mập và nổi khối, xung quanh là các đường chỉ trang trí được thếp vàng, ở giữa là hình hoa văn cách điệu, với những đao mác chạy xuống dưới Hoa sen là một trong
“bát bảo của Đạo Phật”, bông sen biểu tượng sự trong sáng đồng thời thể hiện triết lý nhân quả, của chân lý, chân tri, âm và dương, phàm và thánh cùng một thể, một cội nguồn Hoa sen trong Phật giáo là biểu tượng của sự thuần khiết
và sinh hóa hồn nhiên Lấy sen làm biểu tượng tinh thần vì 5 điều cơ bản: Sen mọc lên từ chốn tối tăm bùn lầy hôi tanh mà sen không bị vương bẩn; khi cây sen mọc ở đâu thì sẽ làm cho dòng nước nơi đó trở nên trong mát; hương sen toả lên một mùi thơm thanh khiết; cây sen từ lúc sinh ra lớn lên xoè lá, trổ hoa
là cả một quá trình sinh trưởng kiên nhẫn lớn lao; đặc biệt trong đóa sen có bao gồm cả “nhân” và “quả” Đời sống của sen còn thể hiện lên 3 tầng sống riêng biệt, là trong bùn tối và vươn lên khoảng trong sạch là dòng nước rồi cuối cùng vươn lên khoảng hư không, lên với bầu khí quyển và vầng mặt trời Quan niệm nhà Phật xem đó như biểu trưng cho 3 tầng sống là cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới Cây sen trải qua 3 tầng sống đó đến khi nở hoa xem như sự đạt ngộ, giải thoát Như vậy, bông sen cũng tượng trưng cho vẻ đẹp thánh thiện vốn sẵn tàng ẩn trong tâm tưởng chúng sinh chỉ khi nào vén được đám mây ngu tối thì chân lý tự nhiên sẽ hé mở
Ba pho tượng đều kết ấn Tam muội, bàn tay phải trái đặt trên bắp chân đặt ngửa, tay phải đặt ngửa lên tay trái, lòng bàn tay hướng lên trên, đầu của hai ngón tay cái tiếp xúc nhau, thành hình dạng của bình bát Ấn này nhằm
Trang 33Bộ tượng Tam thế chùa Ngọc Hồ là bộ tượng muộn, mang phong cách của tượng thế kỷ XIX Tượng có kích thước ngang tai là 0,2m, ngang vai là 0,3m, chu vi đài sen là 0,5m
2.1.1.2 Tượng A Di Đà
Tượng A Di Đà là tượng được đặt ở hàng thứ 2 trong thượng điện, nằm trong bộ tượng Di Đà Tam Tôn, ở giữa là tượng Phật A Di Đà, hai bên là tượng Bồ tát Bộ tượng này đã nói lên ý nghĩa quan trọng của tông phái Tịnh
Độ trong Phật giáo Theo tông phái này, người ta tin có một cõi Tịnh độ hay Tây Phương cực lạc, nơi đây có Phật A Di Đà ngự trị, các Bồ tát Quán Thế
Âm và Đại Thế Chí đã tiếp dẫn linh hồn chúng sinh về nơi đó Người ta chỉ cần niệm tên Phật A Di Đà nhiều lần là có thể vãng sinh ở cõi Tây Phương cực lạc Tên A Di Đà Phật đã trở thành lời chào nhau của các tín đồ Phật giáo Việt Nam
A Di Đà Phật là chủ của Tây Phương cực lạc, được thờ trong chùa có ý nghĩa là một vị chúa tể cứu tinh để giải thoát cho tâm hồn, tránh khỏi những đau khổ, phiền não về tinh thần và đem đến cho người ta sự bình yên, thoải mái Phật A Di Đà như một thế lực siêu linh, vượt lên trên để cứu vớt, nương tựa để lòng an tĩnh Phật A Di Đà có 13 hồng danh, trong đó nổi lên là Vô
Trang 3434
Lượng Quang Phật và Vô Lượng Thọ Phật có nghĩa là ánh sáng Phật pháp từ Ngài tỏa ra muôn nơi không gì che đậy nổi nhằm cứu độ chúng sinh và là vị Phật thọ ngang cùng trời đất để giáo hóa mọi kiếp đời Sức mạnh và ánh sáng của đạo pháp tồn tại vĩnh hằng và chiếu ra khắp mọi nơi không có gì có thể che cản nổi Đồng thời pháp thân của Ngài tồn tại vĩnh viễn cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, không lệ thuộc vào không gian, thời gian Đức độ của Ngài rất lớn và là hiện thân của đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, đại hùng, đại lực, đại trí, đại tuệ
Quan niệm về Phật A Di Đà là của Phật giáo Đại Thừa, xuất hiện từ thế
kỷ XII Phật giáo Việt Nam chủ yếu theo giáo lý Đại Thừa tông phái Tịnh Độ nên hầu hết các chùa ở Việt Nam (đặc biệt là các chùa ở miền Bắc) đều thờ tượng A Di Đà
Tượng A Di Đà trong chùa Ngọc Hồ được chế tác bằng gỗ với kỹ thuật thủ công, tượng cao 1,18m, đường kính đầu 0,21m, đường kính vai 0,4m, đường kính thân 0,32m, đường kính đùi 0,63m Tượng A Di Đà có niên đại khoảng thế kỷ XX Toàn thân tượng A Di Đà được phủ sơn son thiếp vàng Ở
Ấn Độ, vào thời kỳ cổ đại, màu vàng thường là màu áo của kẻ bị tội chết Cho nên những nhà tu hành thường mặc áo màu vàng, Phật giáo lấy áo màu vàng
để biểu hiện cho kiếp tu, với mọi dục vọng đều đã được diệt trừ Vì thế, trong các ngôi chùa tượng màu vàng đều là hiện thân của vị Thánh đã ở cõi Niết bàn Tượng được tạc trong tư thế ngồi kiết già toàn phần trên tòa sen có để lộ bàn chân phải Tượng mang đặc điểm: tóc xoắn ốc, khuôn mặt trái xoan, nguyệt my cong, mắt và miệng khép hờ, tai dài và dái tai chảy hình giọt mật,
cổ cao ba ngấn Tượng A Di Đà trong bộ Di Đà Tam Tôn có kiểu dáng và phong cách tương đồng với pho ở giữa của bộ tượng Tam Thế Tượng mặc áo
Cà sa uốn những nếp gấp rất đều tạo ra các làn sóng mỏng trải dài cân đối hai bên thân mình, hai bên cánh tay và ống tay rộng phủ xuống tận đài sen Thân
Trang 3535
tượng khoác áo để lộ chữ Vạn trên ngực, hai tay kết ấn thiền định Đài sen là các cánh sen ốp sát lại, ít trang trí, là kiểu phong cách thế kỷ XIX, bị tiết giảm nhiều Chu vi đài sen là 0,62m
Về ý nghĩa biểu tượng: Chữ Vạn là một biểu tượng đạo Phật, theo các nhà nghiên cứu niên đại sớm nhất ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện biểu tượng này có lẽ vào thế kỷ XVI Về hình thức là hai chữ Z đặt giao nhau vuông góc Biểu tượng này đơn giản nhưng lại mang ý nghĩa sâu xa Thường thấy biểu tượng chữ Vạn ở trên ngực tượng Phật, trên vòng tròn mặt trời trên nóc chùa, hoặc giữa vòng tròn chuyển pháp luân, cũng có khi dùng để làm trang trí là chính hoặc làm nền cho các trang trí liên quan đến Phật giáo Theo các nhà nghiên cứu, chữ Vạn khởi thuỷ không phải của nhà Phật, từ rất xưa nó là biểu tượng của người Ariăng thuộc hệ tộc Ấn Âu - Bắc Ấn để tượng trưng cho thần lửa Và nó được kết thành hình chữ Vạn như ngày nay, biểu hiện cho sự
uy lực, vận động và phát triển của lửa Theo cố GS Từ Chi, thì với tám đầu lửa nó đã được nhiều nhà bác học trên thế giới nhìn nhận như một biểu tượng của mặt trời Trong đạo Phật, chữ Vạn biểu tượng cho sức mạnh của trí tuệ Chữ Vạn ở trên ngực Phật tượng trưng cho ngọn lửa thiêng nhằm phát triển thiện căn Với đạo Phật, chữ Vạn đã tỏ rõ việc nâng cao uy lực của đức Phật Chữ Vạn với 4 cánh mở ra 4 hướng thể hiện Phật lực lan tỏa ra bốn phương soi rọi tới chúng sinh Chữ Vạn trên ngực ứng với luân xa Anahata khai mở,
kẻ hành giả đạt được phép Tha tâm thông, không cần hành động mà vẫn hiểu
tư tưởng chúng sinh dùng pháp lực vô lượng mà cứu vớt Biểu tượng này còn thể hiện của sự từ tâm được khởi phát mạnh mẽ
2.1.1.3 Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát
Nằm trong bộ Di Đà Tam Tôn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát được đặt ở hàng thứ hai, đặt bên cạnh tượng A Di Đà Quan Thế Âm đại diện cho sự đại
từ, đại bi, đại hỉ, đại xả Quan Thế Âm có nghĩa là ngài đã đạt đến trình độ có
Trang 36má đầy đặn, hai vành tai lớn, dái tai chảy dài hình giọt mật, cổ cao ba ngấn Tất
cả những đặc điểm trên tạo nên một khuôn mặt thánh thiện của Quan Thế Âm Đầu tượng đội mũ thiên quan với vành mũ hơi loe ra khỏi búi tóc, trên đó chạm nổi hoa cúc dây, ở phần chính giữa phía trước vành mũ là hình ảnh của ngọn lửa Tam muội Tiếp giáp giữa phần mũ và phần tóc là một đường hạt châu bao quanh 1/2 vành mũ phía trước Thân tượng khoác áo chùm kín thân Tay trái cầm dải lụa đỡ bình nước cam lồ, tay phải nắm dải lụa và kết ấn
Tượng Quan Âm được đặt ở hai bên của tượng A Di Đà Đây là điểm hơi khác biệt so với các ngôi chùa khác, vì theo cách sắp đặt tượng thông thường thì ở bộ Di Đà Tam Tôn, đứng ở hai bên sẽ là Quan Thế Âm Bồ Tát
và Đại Thế Chí Bồ Tát (Quan Âm hiện thân là Từ Bi phải được đặt bên trái và Thế Chí hiện thân của Đại Tuệ phải được đặt bên phải của tượng Đức Phật A
Di Dà) Quan Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả còn Đại Thế Chí Bồ Tát tượng trưng cho đại hùng, đại lực, đại trí, đại tuệ Trong bộ Di Đà Tam Tôn, người đời thường cho rằng Quan Thế Âm Bồ Tát
và Đại Thế Chí Bồ Tát là Thị Giả của Đức Phật A Di Đà Thực ra cả hai vị Bồ tát này là sự “chẻ đôi” đặc tính phật triết của Đức Phật A Di Đà Có thể vì lý
Trang 3737
do nào đó mà người ta lại đặt hai pho tượng Quan Thế Âm Bồ tát ở hai bên của tượng A Di Đà Chúng ta đều biết mặc dù các ngài đã tu luyện để đạt được quả Phật nhưng không về cõi Niết bàn mà lăn lộn với cuộc đời để cứu vớt chúng sinh Vì thế cho nên có khả năng là khi đúc tượng đang là thời kỳ chiến tranh, đói khổ nên người ta mới đặt hai pho tượng Quan Thế Âm những mong ngài có thể phù hộ và cứu độ mọi chúng sinh
Hai pho tượng Quan Thế Âm ở chùa Ngọc Hồ được làm bằng gỗ theo
kỹ thuật thủ công, mang dáng dấp của tượng cuối thế kỷ XIX Tượng Quan Thế Âm có kích thước cao 1,18m, ngang tai là 0,18m, ngang vai là 0,2m
2.1.1.4 Tượng Quan Âm chuẩn đề
Quan Âm chuẩn đề là một trong những biến tướng của Quan Thế Âm
Bồ tát, mang ý nghĩa vạn năng cứu giúp chúng sinh thông qua pháp “chuẩn đề” đứng đầu vạn pháp Tượng Quan Âm chuẩn đề ở chùa Ngọc Hồ ngồi gần như bất động trong tư thế "tham thiền nhập định" nhưng lại luôn toát ra một
vẻ động của nội tâm sôi nổi và có 22 cánh tay lớn vung ra xung quanh theo những động tác khác nhau Hai tay chính kết ấn Chuẩn đề, đặt trước ngực, đôi tay dưới cùng đặt vòng về phía trước kết ấn Tam muội, có hai tay để lên đùi giữ ngọc, những cánh tay còn lại vung đều ra hai bên cầm những vật báu khác nhau Ấn Chuẩn đề của tượng: ngón út, ngón vô danh của hai tay đan nhau đặt trong lòng bàn tay, hai ngón giữa dựng thẳng, đầu ngón tay dựa vào nhau
Ấn Chuẩn đề chỉ được Bồ Tát kết khi cần một sức mạnh vô biên để cứu độ chúng sinh Khuôn mặt thiên về nữ tính nhiều hơn do đặc điểm của lối tư duy của người Việt thiên về nông nghiệp, Phật bà Quan Âm trong tâm thức dân tộc trở thành người mẹ hiền che chở, cứu vớt Đầu tượng phủ khăn rồi lại đội
mũ “Thiên Quan”, mang hình thức như kiểu mũ Tì Lư (mũ Pháp sư) Thiên Quan bao gồm hai phần, phần ngoài là một vành bao chạy từ đỉnh tai nọ tới đỉnh tai kia qua mặt trước, tiếp giáp giữa phần mũ và phần tóc là một đường
Trang 3838
hạt châu bao quanh 1/2 vành mũ phía trước Trên vành Thiên Quan có trang trí hoa cúc mãn khai là loại hoa biểu trưng cho ánh sáng và trí tuệ, được đặt cân xứng ở hai bên, các hoa này thường nổi khối mang tư cách chạm tròn riêng rẽ rồi gắn vào, mặc dù cùng khối với đầu tượng Mặt tượng đầy đặn, dung hội nhiều quý tướng Đôi mắt khép hờ, sống mũi thẳng, nguyệt my cong Má tượng đầy hơn mang vẻ quyền uy, môi thu lại và đầy lên, cổ cao ba ngấn Áo choàng của tượng để hở ngực, dưới ngực kết nút hình con Do Gấu
áo không buông lửng như các tượng có niên đại sớm mà chảy dài ốp sát thân Nếp áo của tượng rõ ràng biểu hiện sự chắc tay hơn với các nếp hằn sâu rành mạch Vạt áo phủ kín lòng đùi, chỉ để lộ bàn chân phải và chảy tràn xuống bệ Đường nét bao phủ trên tượng chặt chẽ, mang một vẻ đẹp áp đặt, dường như không có sự liên tưởng tản mạn vốn có của tư duy nông nghiệp Người ta cũng tạo trên thân Quan Âm “Dải lụa” dưới dạng bong kênh chảy dài qua cánh tay từ trên ngực xuống tận bệ sen Chỉ một chút lượn cong sang hai bên
đã tạo nên nét bay mềm mại, góp phần phá đi sự cứng nhắc của các nếp áo chảy xuôi Tay tượng thon tròn, ngón búp măng, cổ tay đeo vòng tạo vẻ đẹp vừa thánh thiện, vừa trần gian Dáng cánh tay uyển chuyển như múa, xòe ra
mà không tay nào bị che khuất, các cánh tay cứ mở rộng dần như muốn mở rộng vòng tay cứu vớt chúng sinh
Về mặt tạo hình, trong mối tương quan với nội dung, đầu tượng còn giữ truyền thống của các tượng phật phương Nam ở chỗ trí tuệ được thể hiện qua
sọ trên to và hàm thon.Có rất nhiều tượng phật ở nước ta nhưng ra đời muộn
đã ít nhiều bị cách thức tạc tượng của Trung Hoa chi phối nên phô ra bộ mặt bầu bĩnh, đôi má đầy, căng tròn
Tượng Quan Âm chuẩn đề được đặt ở chính giữa hàng thứ 3 trên Thượng điện, tượng được làm từ chất liệu là gỗ theo lối thủ công Tượng có niên đại vào cuối thế kỷ XIX Tượng có chiều cao là 1,2m, ngang vai là 0,2m, ngang tai là 0,37m, chiều cao đài sen là 0,25m, chu vi đài sen là 0,42m
Trang 3939
2.1.1.5 Tượng Tuyết Sơn
Cũng gọi là Tuyết Sơn Đại Sĩ (Đức Bồ tát ở núi tuyết) để chỉ về danh xưng Đức Thích Ca khi còn tu ở Hi Mã Lạp Sơn dưới dạng khổ hạnh Chính
vì thế mà ngài cực kỳ gầy gò, chỉ có đôi mắt là đang trong trạng thái như nhìn
ra phía trước mà chẳng tập trung vào một đích nào cụ thể, đó là cách nhìn vào tâm để tìm đạo Phật tích truyền lại rằng: khởi đầu Đức Thích Ca theo các vị
tu sĩ ngồi khổ hạnh 6 năm ở núi Tuyết, mỗi ngày chỉ ăn một hạt vừng, một hạt gạo (có tính tượng trưng), nhằm càng tránh xa sự dày vò của dục vọng để càng gần về với lẽ đạo Nhưng càng tu, Ngài càng thấy mờ mịt, nên một buổi
đã bỏ xuống núi, Ngài gặp cô gái chăn bò dâng cho Ngài bát sữa, Ngài đã uống hết và cảm thấy tỉnh táo, Ngài xuống suối tắm, thấy sự thanh thản Sau
đó, Ngài ngồi dưới gốc bồ đề suy ngẫm lại về lẽ đạo, lẽ đời, được 49 ngày thì tìm được chân lý cứu đời và trở thành Phật Lúc đó, Ngài còn bị ma vương quấy rầy bằng cách cho ma nữ vô cùng xinh đẹp đến quyến rũ và tạo cơn mưa độc để hãm hại Nhưng ngay lập tức, có rắn bảy đầu vươn lên tạo ra chiếc tán che dòng nước độc của ma vương Đồng thời, để chứng minh sự phát hiện ra chân lý, Ngài đã chỉ xuống đất, lấy thổ địa là nguời chứng giám Từ đó, bà thổ địa hiện ra xõa suối tóc dài chảy xuống một dòng nước thiêng làm bọn ma quỷ bị chìm đắm, buộc chúng phải quy y Phật pháp Từ tích truyện này, chúng ta mới hiểu được về pho tượng Phật có một tay úp trên đầu gối chỉ xuống đất, mà định danh là tượng “đất chứng giám” Đồng thời, khi ngài bỏ núi Tuyết thì nhóm Kiều Trần Như cũng bỏ Ngài, với ý chê trách Ngài không chịu nổi được sự khổ hạnh Nhưng tới khi quay lại, được Đức Phật giảng đạo
lý, bọn họ sớm hiểu được chính Đức Thích Ca đã tìm được chân lý tuyệt đối
để cứu đời, nên đã tự chặt áo ở vai phải để tỏ lòng kính trọng
Tượng Tuyết Sơn ở chùa Ngọc Hồ được đặt ở hàng thứ ba, bên trái của tượng Quan Âm chuẩn đề Tượng khá nhỏ, tạc trong tư thế ngồi chống nghỉ
Trang 40Tượng Tuyết Sơn có chất liệu gỗ, niên đại khá muộn vào cuối thế kỷ XIX Tượng cao 0,78m, chiều cao đài sen là 0,2m, chu vi đài sen là 0,5m, kích thước ngang vai tượng là 0,3m, ngang tai là 0,18m
2.1.1.6 Tượng Di Lặc
Phật Di Lặc cũng có tên tiếng Phạn là Â Ji Ta (A Dật Đa), có nghĩa là ô năng thắng Ngài là Đức Phật kế tục Đức Thích Ca Mầu Ni, được tín đồ tôn sùng và gọi Ngài là đấng Từ Tôn (A Di Đà là đấng Từ Phụ) Trong sự tích, Ngài là chủ của Hội Long Hoa (cũng gọi là Long Hoa Hải Hội – Pháp Hội của Phật Di Lặc nhóm họp dưới cây hình rồng nở hoa vàng nên gọi là Long Hoa Hội, theo kinh Di Lặc hạ Sanh thì Bồ tát Di Lặc dời cung Đâu Xuất xuống cõi trần ngồi ở gốc cây có tên là Long Hoa mà thành Phật) Bản thân
Di Lặc được người Việt xây dựng thành một Đức Phật có nhiều chức năng Dưới thời Lý, Ngài như hiện thân của hạnh phúc, của sự bền vững lâu dài cho
cả hiện tại và mai sau, có nghĩa gắn với sự no đủ và trường tồn Nhưng càng
về sau, thì một chức năng khác nổi lên của Ngài là “Di Lặc xuất thế thiên hạ thái bình” (Di Lặc xuống đời muôn nơi yên ổn)
Tượng Phật Di Lặc ở chùa Ngọc Hồ đặt ở hàng thứ ba, bên phải của tượng Quan Âm chuẩn đề, được tạc trong tư thế ngồi nghỉ, với dáng vẻ thư thái, thanh nhàn, lưng hơi ngả về phía sau Tượng khoác áo dài trùm kín thân
và để lộ ngực và bụng, thể hiện sự căng tròn viên mãn Khuôn mặt hoan hỷ với nụ cười từ bi hỷ xả, tay phải cầm tràng hạt đặt úp trên đầu gối phải, tay