1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu giá trị di tích đình làng đức hậu (xã đức hòa, huyện sóc sơn, thành phố hà nội)

123 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua nhiều biến động của lịch sử, đình làng Đức Hậu vẫn còn lưu giữ được những giá trị văn hoá nghệ thuật, những giá trị này được thể hiện thông qua kiến trúc, điêu khắc và một số cổ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

NGUYỄN VĂN BA

TÌM HIỂU DI TÍCH ĐÌNH LÀNG ĐỨC HẬU

(XÃ ĐỨC HÒA, HUYỆN SÓC SƠN, TP.HÀ NỘI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

Mã số: 52 32 03 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH THỊ MINH ĐỨC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Di sản văn hóa, em đã hoàn

thiện bài khóa luận này

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo đã

tận tình giảng dạy, động viên và giúp đỡ em hoàn thiện bài khóa luận này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức - Người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ và chỉ bảo cho em từ khi xác định đề tài, xây dựng đề cương cho tới khi hoàn thiện

bài khóa luận

Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn Phòng Văn hóa huyện Sóc Sơn, chính quyền xã Đức Hòa, lãnh đạo thôn Đức Hậu cùng các cụ cao niên trong làng đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi để em tiếp cận, khảo

sát di tích đình làng Đức Hậu

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn

thiện bài khóa luận này

Là một sinh viên năm thứ tư, chưa có thời gian được tiếp xúc nhiều với thực tế, kiến thức còn hạn chế, do vậy khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo kiến thức của các thầy cô

giáo và bạn bè để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn nữa

Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2014

Tác giả khóa luận

Nguyễn Văn Ba

Trang 3

MỤC LỤC Trang

LỜI CẢM ƠN 1 MỤC LỤC 2

Chương 1 LÀNG ĐỨC HẬU VÀ ĐÌNH LÀNG ĐỨC HẬU 9

1.1 Tổng quan về làng Đức Hậu 9

1.1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển làng

Đức Hậu

10

1.1.4 Đặc điểm kinh tế 13

1.1.5 Văn hóa truyền thống thôn Đức Hậu 15

1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại của di tích đình làng

Đức Hậu và nhân vật được phụng thờ

2.1 Kiến trúc đình làng Đức Hậu 28

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 31

2.2 Các di vật tiêu biểu trong di tích đình làng Đức Hậu 56

Trang 4

ĐỨC HẬU TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

66

3.1 Thực trạng di tích, di vật và lễ hội 66

3.1.1 Thực trạng di tích, di vật 66

3.1.2 Thực trạng lễ hội 69

3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Đức Hậu 72

3.2.1 Giải pháp bảo tồn di tích đình làng Đức Hậu 72

3.2.2 Giải pháp phát huy di tích và lễ hội đình làng Đức Hậu 81

KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 93

Trang 5

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trong sự nghiệp chấn hưng đất nước, văn hoá được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực vừa là mục tiêu của phát triển bền vững Văn hoá là một khái niệm rộng và nhiều nghĩa nhưng suy cho cùng văn hoá là sự ứng xử của con người với tự nhiên với xã hội và với chính con người Vì vậy, văn hoá là một dòng chảy liên tục kết nối thời gian và không gian tạo ra sức sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, một tộc người, một quốc gia dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước

Đối với dân tộc Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh hình thành và phát triển Với một nền văn minh nông nghiệp lúa nước rất tiêu biểu, với chế độ làng xã rất đặc trưng đã tạo nên những giá trị văn hoá đầy tính bản sắc trong đó có văn hoá đình làng Đình làng đã trở thành một bộ phận của văn hoá Việt Vì vậy, đình làng cũng là một trong những đối tượng nghiên cứu của văn hoá học

Đình làng Đức Hậu thuộc xã Đức Hòa, Huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, thờ Đức thánh Tam Giang cùng vợ và con gái Tương truyền Thánh Tam Giang chính là Trương Hống – Người có công giúp Triệu Việt Vương chống lại quân xâm lược nhà Lương, sau khi mất lại hiển linh giúp Lê Đại Hành và Thái úy Lý Thường Kiệt chống quân xâm lược nhà Tống và giúp cho đất nước yên bình

Trải qua nhiều biến động của lịch sử, đình làng Đức Hậu vẫn còn lưu giữ được những giá trị văn hoá nghệ thuật, những giá trị này được thể hiện thông qua kiến trúc, điêu khắc và một số cổ vật, hiện vật, di vật (07 đạo sắc phong do các vị vua nhà Nguyễn ban cho) cùng những giá trị văn hoá phi vật thể như lễ hội đình làng với nét đặc sắc riêng thông qua những hoạt động văn hoá, phong tục tập quán của cộng đồng cư dân địa phương

Trang 6

Cho đến nay, di tích đình làng Đức Hậu vẫn bảo tồn đầy đủ những nét đẹp truyền thống của trong số 05 ngôi đình cổ thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Đây cũng là một công trình có giá trị văn hóa nghệ thuật tiêu biểu Việc nghiên cứu tìm hiểu một cách toàn diện từ góc độ di sản văn hóa góp phần bảo tồn và phát huy được giá trị của di tích trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay là việc làm cần thiết

Với những lý do nêu trên, em đã chọn đề tài: “Tìm hiểu giá trị di tích

đình làng Đức Hậu (Xã Đức Hòa, Huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội)"

làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Bảo tàng học, tại Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

2 Lịch sử nghiên cứu

Việc nghiên cứu về đình làng nói chung và đình làng Đức Hậu nói riêng cùng với những giá trị kiến trúc tiêu biểu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, những kết quả nghiên cứu đã được xuất bản thành sách hoặc đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu Dưới đây là một số các công trình nghiên cứu

đã viết về ngôi đình này, cụ thể như sau:

+ Cuốn “Đình và Đền Hà Nội’’ [20] của tác giả Nguyễn Thế Long, nội

dung cuốn sách đã giới thiệu về 173 ngôi đình làng, trong đó đình làng Đức Hậu đã được tác giả đề cập đến một cách khái quát với một số nét tiêu biểu như: Niên đại xây dựng và những lần trùng tu, lịch sử nhân vật được phụng thờ, giá trị kiến trúc và nghệ thuật cùng các di vật cổ lưu giữ trong đình

+ Cuốn “Đình Việt Nam’’ [23] do tác giả Hà Văn Tấn (Chủ biên) Nội

dung cuốn sách giới thiệu về đình Việt Nam Trong đó có giới thiệu một số đình làng tiêu biểu ở nước ta, ngôi đình làng Đức Hậu cũng được nêu ra trong phần giới thiệu danh mục các di tích đã được xếp hạng của thủ đô Hà Nội vào những thập niên 90 của thế kỷ XX

+ Cuốn “Di tích lịch sử văn hoá Hà Nội’’ [28] do tác giả Nguyễn Doãn

Tuân (Chủ biên) Nội dung cuốn sách này đã tập trung giới thiệu các di tích ở

Trang 7

Thủ đô Hà Nội, và di tích đình làng Đức Hậu chỉ được ghi trong danh mục các di tích lịch sử văn hóa của thành phố Hà Nội đã được xếp hạng

+ Cuốn “Lịch sử Cách mạng xã Đức Hòa" [6] do Ban Chấp Hành Đảng

bộ xã Đức Hòa (Chủ biên) Nội dung cuốn sách đã giới thiệu tóm tắt về: Nguồn gốc hình thành làng Đức Hậu, cơ cấu kinh tế, văn hóa - xã hội và những chặng đường cách mạng do Đảng lãnh đạo Tại phần văn hóa – xã hội, cuốn sách có giới thiệu về các di tích lịch sử văn hóa của làng Đức Hậu, trong

đó có một vài dòng viết về ngôi đình cổ của làng tại trang 15 của cuốn sách

+ Cuốn "Hồ sơ Khoa học di tích đình làng Đức Hậu" [7] do Ban Quản

lý Di tích và Danh thắng Hà Nội lập Nội dung hồ sơ đề cập đến các nội dung như: Tên gọi của di tích, đường đi tới di tích, lịch sử vùng đất, đặc điểm kiến trúc, di vật cổ vật, giá trị tiêu biểu, hiện trạng di tích, giải pháp Cũng do đặc điểm của hồ sơ quy định, nên những giá trị văn hoá phi vật thể, cụ thể là lễ hội diễn ra tại ngôi đình này cùng những phong tục tập quán của làng cũng không được nêu ra trong nội dung của hồ sơ khoa học

Những tư liệu trên đây cho thấy, tới nay đình làng Đức Hậu vẫn chưa

có một chuyên khảo nào giới thiệu đầy đủ, toàn diện về các giá trị văn hoá nghệ thuật, mặc dù di tích đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia

Tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, tác giả khóa luận tiếp tục nghiên cứu để làm nổi bật giá trị kiến trúc nghệ thuật của di tích đình làng Đức Hậu từ khi xây dựng cho đến nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu giá trị kiến trúc nghệ thuật của

đình làng Đức Hậu, đồng thời nghiên cứu không gian văn hóa – Nơi di tích tồn tại Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của ngôi đình này trong giai đoạn hiện nay

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Tập hợp và phân tích những công trình nghiên cứu đi trước viết về di tích đình làng Đức Hậu

+ Nghiên cứu về không gian văn hóa - Nơi di tích tồn tại, đó là làng Đức Hậu (Xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội)

+ Khảo sát, nghiên cứu những giá trị văn hoá vật thể bao gồm: kiến trúc, điêu khắc, các di vật, cổ vật; những giá trị văn hoá phi vật thể bao gồm: các phong tục tập quán, lễ hội và sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn tại ngôi đình này

+ Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng di tích, di vật, khóa luận đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình Đức Hậu trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính khóa luận là

giá trị kiến trúc, nghệ thuật của đình làng Đức Hậu, xã Đức Hòa, huyện Sóc

Sơn, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu các mặt kiến trúc, di vật,

lễ hội của đình làng Đức Hậu, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn

và phát huy giá trị di tích trong giai đoạn hiện nay

4.2.2 Phạm vi không gian nghiên cứu: Không gian văn hóa làng Đức

Hậu (Xã Đức Hòa, Huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội) – Nơi di tích tồn tại

4.2.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu

- Đối với các giá trị kiến trúc, di vật, cổ vật, nghiên cứu lịch sử hình thành, quá tình tồn tại cùng các giá trị kiến trúc, nghệ thuật của đình làng Đức Hậu được khởi dựng cho tới nay

- Đối với các giá trị văn hoá phi vật thể, nghiên cứu lễ hội đình làng Đức Hậu

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên quan điểm Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử để nghiên cứu, xem xét đánh giá các nội dung của đề tài khóa luận đặt ra

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hoá như: Bảo tàng học, Dân tộc học, Văn hoá học, Sử học, Mỹ thuật học, Văn hoá dân gian,

Xã hội học

- Sử dụng phương pháp khảo sát, điền dã: Quan sát, tham dự, mô tả, đo

vẽ, chụp ảnh, điều tra, phỏng vấn, phân tích, tổng hợp

6 Những đóng góp của khóa luận

- Là công trình đầu tiên nghiên cứu về giá trị kiến trúc, nghệ thuật đình làng Đức Hậu

- Là nguồn tư liệu giúp cho cán bộ quản lý văn hóa tại địa phương có thể tham khảo trong quá trình công tác tại cơ sở Đồng thời, khóa luận cũng góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu viết về một số ngôi đình cổ trên địa bàn huyện Sóc Sơn

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu (05 trang), Kết luận (02 trang), Danh mục tài liệu tham khảo (02 trang) và Phụ lục (30 trang), nội dung của Khóa luận gồm 03 chương:

Chương 1: Làng Đức Hậu và đình làng Đức Hậu (19 trang)

Chương 2: Giá trị kiến trúc, di vật, cổ vật và lễ hội đình làng Đức Hậu (38 trang) Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích đình làng Đức Hậu trong

giai đoạn hiện nay (23 trang)

Trang 10

Chương 1 LÀNG ĐỨC HẬU VÀ DI TÍCH ĐÌNH LÀNG ĐỨC HẬU

Xã Đức Hòa nằm ở phía Đông Nam của huyện Sóc Sơn, ngoại thành

Hà Nội Phía Bắc giáp xã Xuân Giang và Xã Tân Minh, ranh giới tự nhiên là kênh Bến Tre Phía Tây giáp xã Đông Xuân và xã Tiên Dược Phía Nam giáp

xã Kim Lũ Phía Đông giáp huyện Yên Phong (tỉnh Bắc Ninh), đường ranh giới tự nhiên là con sông Cà Lồ

Làng Đức Hậu là một trong 07 của xã Đức Hòa Về vị trí địa lý, phía Bắc giáp xã Xuân Giang; phía Nam giáp Thôn Thượng và Thôn Chùa; phía Đông giáp Thôn Trung và Thôn Bến; phía Tây giáp Thanh Thủy Trại, Thanh Huệ Trại, Thanh Huệ Đình

Là địa phương có địa hình đa dạng, làng Đức Hậu, xã Đức Hòa có nhiều loại hình giao thông, thuận lợi cho việc đi lại cũng như giao lưu buôn bán Đường giao thông chính là đường liên xã từ Thá (Xuân Giang) qua trung tâm xã đến Đông Xuân gặp đường Quốc lộ 16 (Phù Lỗ - Bắc Ninh) Đặc biệt, tuyến đê sông Cà Lồ ở phía Đông của xã được nối với nhiều đường giao thông nên việc đi lại trong vùng cũng như qua các vùng lân cận rất thuân tiện Tuyến đường sắt Đông Anh - ga Đa Phúc - Thái Nguyên cũng chạy qua địa

Trang 11

bàn xã Trong tương lai khi kinh tế phát triển, có thể mở giao thông đường thủy kết nối Đức Hòa với nhiều nơi trong vùng

* Đặc điểm tự nhiên

+ Đất đai, địa hình: Vấn đề cơ cấu cây trồng và công tác thủy lợi luôn

là mối quan tâm hàng đầu của xã Diện tích tự nhiên của xã là 716,59 ha, trong đó 461,01 ha là đất nông nghiệp, đất canh tác là 442,51 ha, đất chuyên dùng 141,76 ha, đất thổ cư 69,22 ha, còn lại 1,49 ha là đất đồi trồng cây Giống như nhiều xã khác trong huyện, Đức Hòa thuộc vùng đất trung du, địa hình đa dạng, có độ nghiêng Tây - Đông rất lớn, hình thành ba vùng rõ rệt Vùng cao ở phía Tây có độ cao phổ biến ở cốt từ 10 - 11m, điểm cao nhất ở cốt là 13,2m Vùng trũng ở phía Đông phổ biến ở cốt từ 5 - 6m, điểm thấp nhất là cống đê Cầu Dâu, điểm cốt là 3,8m Vùng đất giữa là vùng xen kẽ giữa địa hình trũng với các đồi bát úp, đất đai chủ yếu là đất cát pha bồi nên rất thuận tiện cho việc chuyên trồng cây hoa màu Do địa hình có cấu tạo đa dạng, đất đai phần lớn là đất cát pha, bạc màu, việc canh tác lại phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên năng suất cây trồng thấp, đời sống nhân dân còn nhiều bấp bênh

+ Sông, nước: Phía Đông giáp sông Cà Lồ chảy ra sông Cầu ở ngã ba

Xà Trước đây, sông còn được người dân sử dụng dùng để vận chuyển vật liệu xây dựng Đến mùa mưa cư dân cắm bè đánh cá và nhiều gia đình sống ở trên sông, chủ yếu là người thôn Bến (giáp sông), còn cư dân trong các làng thưa thớt, trong đó có làng Đức Hậu

1.1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển làng Đức Hậu

1.1.2.1 Lịch sử hình thành làng

Theo truyền thuyết, đời vua Hùng thứ 6, giặc Ân đem quân xâm lược nước ta, nhà vua hạ chiếu chỉ cầu người tài đánh giặc Người anh hùng Gióng (người làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm) đã phò vua đánh giặc cứu nước,

Trang 12

người xưa tôn là Thánh Gióng Thánh Gióng chỉ huy quân sĩ, thế mạnh như

vũ bão, đánh đến đâu, giặc bại trận đến đó Thánh Gióng đuổi giặc đến vùng

Đa Phúc, khi qua làng Thanh Thủy đã được trẻ mục đồng (người làng Đức Hậu) lấy lá cây khoai sọ vào làng Thanh Thủy múc nước cho uống Từ đó, để ghi nhớ công ơn của người dân nơi đây, Thánh Gióng đã đặt tên cho làng có nước là Thanh Thủy, làng có công múc nước là Đức Hậu Tên làng Đức Hậu

và Thanh Thủy có từ đó và được giữ nguyên cho đến ngày nay

Theo bản hương ước của làng Phổ Lộng còn giữ lại được cho biết thông tin: Thời kì phong kiến, tổng Phổ Lộng được thành lập thay cho làng Phổ Lộng Tổng Phổ Lộng bao gồm hai vách: vách trên gồm xóm Xuân Dục Đoài (Xã Phù Linh) và xóm Xuân Dục Đông (Xã Tân Minh); vách dưới có bốn xóm: xóm Phổ Lộng, xóm Đức Hậu, xóm Thanh Thủy Huệ và xóm Thanh Thủy Đông Từ xưa cho đến những năm 60 của thế kỷ XX, Đức Hòa

đã có nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa gới hành chính cấp xã Tháng 04 năm 1946, sau bầu cử Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân huyện quyết định thành lập xã Phổ Đức Thanh và tên xã được lấy từ tên đầu của ba làng: Phổ Lộng, Đức Hậu, Thanh Thủy

Ngày 18 tháng 04 năm 1949, do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, huyện Đa Phúc quyết định hợp nhất hai xã Phổ Đức Thanh và Xuân Thủy lại với nhau và lấy tên mới là xã Việt Tiến

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại trên miền Bắc, để phù hợp với tình hình cách mạng mới, tháng 05 năm 1955, huyện Đa Phúc quyết định tách xã Việt Tiến thành ba xã: Đức Hòa, Việt Tiến và Xuân Thu Riêng Đức Hòa, thôn Thanh Thủy Đông được nhập vào xã Đông Xuân (Huyện Kim Anh cũ) Xã Đức Hòa gồm 07 thôn: Thanh Huệ Đình, Thanh Huệ Trại, thôn Thượng, thôn Chùa, thôn Bến, thôn Trung, thôn Đức Hậu và xóm Phú Hào Địa giới và tên xã Đức Hòa được giữ nguyên cho đến hiện nay

Trang 13

1.1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của làng

Làng Đức Hậu có lịch sử từ lâu đời, là mảnh đất địa linh nhân kiệt với truyền thống yêu nước nồng nàn và những con người nguyện đem hết mình bảo vệ từng tấc đất của quê hương Thời kì phong kiến cho đến những năm đấu của thế kỷ XX, tên làng Đức Hậu hầu như vẫn giữ nguyên, về sau mới gọi chung là tổng Phổ Lộng Khi giặc Pháp tràn vào, chúng cướp phá, thực hiện các chính sách ngu dân khiến cư dân Đức Hậu và nhân dân xã Đức Hòa trăm bề cơ cực Bọn chức dịch làm tay sai, nối giáo cho giặc hành hạ những con người thuần nông chất phác, và rồi cư dân Đức Hậu đã đi theo tiếng gọi của Đảng, đổi mới các quan niệm cổ hủ, các tập tục không còn phù hợp Năm

1937, thôn Đức Hậu mở trường tiểu học tại đình Đức Hậu (Học lực Séc - ti -

vi - ca, tương đương với lớp 4 bây giờ) Tuy là trường quốc lập nhưng cũng chỉ có ít học sinh đến học, chủ yếu là con nhà giàu trong làng và trong huyện đến học Năm 1939, trường được xây mới với ba lớp học ở khu văn chỉ trước cửa đình thôn Đức Hậu

Về mặt văn hóa nghệ thuật, giai đoạn 1961 - 1965, ở thôn Đức Hậu đã thành lập một đội cải lương, chuyên phục vụ các ngày lễ tết ở làng và các vùng khác với quy mô lớn Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đức Hậu được coi là "Hộp thư bí mật" của vùng và chính thôn Đức Hậu cũng

bị thiệt hại nặng nề bởi bom Mỹ tàn phá Song những người con Đức Hậu quyết tâm giữ vững quê hương, hết lòng vì miền Nam ruột thịt Hòa bình lập lại, Đức Hậu lại vươn mình đi lên trong công cuộc thi đua sản xuất, kiến thiết cho quê hương Ngày nay, thôn Đức Hậu đã được nhận danh hiệu "Làng văn hóa tiêu biểu" của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

1.1.3 Đặc điểm dân cư

Có thể nói, đặc điểm cư dân nơi đây gắn liền với quá trình hình thành làng Đức Hậu Như trên đã trình bày, cư dân ở làng Đức Hậu đã có mặt ở

Trang 14

vùng đất này từ rất sớm, theo truyền thuyết thời Hùng Vương thứ 6, đó là việc Thánh Gióng đánh giặc qua làng được người dân giúp đỡ và sau đó đặt cho làng tên gọi "Đức Hậu" Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, đến nay, Đức Hậu là một làng có số người đông nhất xã Đức Hòa, chiếm 40% dân số của cả

xã Bởi vì thôn Đức Hậu gồm 840 hộ và 3.500 khẩu, trong khi đó cả xã Đức Hòa gồm hơn 8.000 khẩu (theo thông tin của ông Đỗ Văn Nguyên, 60 tuổi, là Phó thôn Đức Hậu cho biết) Có thể thấy, Đức Hậu là thôn đông dân sống lâu đời, nên tình cảm đoàn kết giữa những người dân được đề cao

Theo thông tin do cụ thủ từ ( cụ Đặng Đình Dũng ) và ông Phó thôn Đức Hậu cho biết, làng Đức Hậu có tổng số trên 10 dòng họ đó là: Nguyễn Văn, Nguyễn Bá, Nguyễn Hữu, Đặng Đình, Đặng Đức, Trần, Hoàng, Phùng,

Đỗ, Nguyễn (họ Nguyễn là từ nơi khác về và không phải gốc gác của làng) Trong làng có 06 dòng họ lâu đời nhất: Nguyễn Văn, Nguyễn Hữu, Nguyễn

Bá, Đặng Đình, Đặng Đức, Trần, trong đó có 03 dòng họ có nhà thờ là: Họ Nguyễn Văn, Nguyễn Bá, Nguyễn Hữu Trải qua quá trình lịch sử, dù các dòng họ đến sinh sống vào những thời điểm khác nhau, nhưng các thế hệ cư

dân làng Đức Hậu có truyền thống đoàn kết, thương yêu nhau “Lá lành đùm

lá rách” để sinh sống và tồn tại Họ cùng nhau làm ăn, cùng uống chung

nguồn nước, cùng thờ thành hoàng làng và cùng nhau chung vui hội hè đình đám Những nét đẹp văn hóa đó đã góp phần làm nên thuần phong mỹ tục độc đáo của cư dân Đức Hậu

1.1.4 Đặc điểm kinh tế

1.1.4.1 Kinh tế nông nghiệp

Từ xưa đến nay làng Đức Hậu chủ yếu làm nghề nông nghiệp Trước

và sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, người dân nơi đây chỉ có trông chờ vào nghề nông là chủ yếu Đặc biệt, sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, đời sống nhân dân xã Đức Hòa gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân là do chiến tranh

Trang 15

chống Nhật và chống Pháp, nông nghiệp mất mùa, đói kém (cả nước lúc này

có khoảng 2 triệu người chết đói) Cả nước phải dồn sức người, lương thực cho chiến tranh nên cuộc sống của người dân cũng thiếu thốn nhiều

Hiện nay, đời sống nhân dân thôn Đức Hậu vẫn dựa vào nông nghiệp là chính Số hộ đông vì vậy ruộng chia theo đầu người ít (bình quân 1 sào rưỡi/ người, còn các thôn khác là 2 sào/người), đất chật, người đông tưởng như cư dân sẽ rất vất vả, thiếu thốn nhưng đồng ruộng Đức Hậu đã cưu mang, nuôi sống họ Vì là đất màu nên họ canh tác một năm được 03 vụ (nơi khác là 02 vụ) gồm 02 vụ lúa và 01 vụ màu Nhờ có thủy lợi, đồng ruộng của làng hiện

đã cấy trồng 2 vụ lúa và một vụ màu tương đối ổn định Trong hơn chục năm gần đây, Đức Hậu thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Các giống lúa mới như Bắc thơm, Khang Dân, Tạp Giao… được gieo cấy, đưa năng xuất lúa lên cao Ngoài lúa, dân làng còn chủ động thâm canh, luân canh nhiều cây thực phẩm như: Đậu, lạc, các loại rau xanh (cà chua, đỗ quả, su hào, cải bắp…)

1.1.4.2 Kinh tế thủ công nghiệp

Hiện nay, tại làng Đức Hậu đã phát triển nghề mộc hiện có khoảng 10 xưởng làm mộc chuyên làm đồ thờ và đồ gỗ mỹ nghệ, bên cạnh đó nghề hàn

xì cũng phát triển, các ngành nghề mới này đem lại thu nhập khá cao cho người làm Cho tới thời điểm này, tình hình kinh tế xã hội ở Đức Hậu đã ổn định trên tất cả các lĩnh vực, đời sống nhân dân được đẩy mạnh và nâng cao Nhiều gia đình trong thôn đã thoát khỏi hộ nghèo, mua sắm được các trang thiết bị cần thiết trong gia đình như tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy vi tính, thậm chí có những

hộ đã có ô tô riêng… Cơ sở hạ tầng, nhà ở đã ngày càng được nâng cấp, những ngôi nhà tầng được xây mới, khép kín bên trong có những trang thiết bị hiện đại thay thế những ngôi nhà ngói ba gian chật chội hay bị hỏng vào mùa mưa

1.1.4.3 Một số loại hình kinh tế khác

Trang 16

Ở làng Đức Hậu hiện nay, tình hình xuất khẩu lao động diễn ra rất phổ biến với hàng trăm người đi lao động ở các nước như: Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản Do đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, nên nhiều gia đình ở thôn Đức Hậu đã chuyển sang kinh doanh bán hàng tạp hóa, vật liệu xây dựng và đầu tư kiến thiết cơ sở hạ tầng cho quê hương như: đổ đường bê tông, xây trường mầm non, nhà văn hóa

1.1.5 Văn hóa truyền thống thôn Đức Hậu

1.1.5.1 Phong tục tập quán

* Cưới xin

Ở làng Đức Hậu cũng như mọi nơi khác, hôn nhân và cưới xin là việc không chỉ của riêng cá nhân mà là của cả gia đình và dòng họ Người con trai đến tuổi lấy vợ, không chỉ nhằm duy trì nòi giống, thờ phụng tổ tiên, nuôi dưỡng cha mẹ khi già yếu, mà nhiều khi còn là tăng sức lao động để phát triển kinh tế và uy thế về sự lớn mạnh của dòng họ mình trong mối quan hệ với các dòng họ khác Hôn nhân bắt buộc không còn nữa, thanh niên trong làng tự do lựa chọn tìm hiểu người bạn đời của mình Khi sự tìm hiểu đã chín muồi, người con trai thưa chuyện với cha mẹ mình để chuẩn bị lễ vật sang nhà gái xin cưới Tục lệ thách cưới, nộp cheo ngày nay không còn tồn tại và lễ cưới được tổ chức đơn giản hơn Ngày xưa, muốn cưới được vợ, chú rể phải nộp treo 500 viên gạch để xây đường làng theo như quy định của làng Theo câu chuyện kể lại của cụ thủ từ Đặng Đình Dũng, 78 tuổi cho biết, năm 10 tuổi ông lấy vợ, khi đi rước dâu ở huyện Yên Phong (Bắc Ninh) nhà gái căng dây trước cổng vào, nhà trai phải đưa tiền thì nhà gái mới thu dây lại Khi vào cổng, nhà gái lại đóng cổng, lúc này nhà trai lại phải đưa tiền thì họ mới mở cổng Khi vào trong nhà, nhà trai đưa tiền thì nhà gái mới trải chiếu ra cho ngồi Nếu nhà gái còn ông bà thì phải chấp tay để lễ (vái), ông bà mất thì chấp tay lễ bố mẹ vợ Khi rước dâu về, cô dâu chú rể ra ngoài sân, tại đây có bàn

Trang 17

làm lễ và có người đọc văn ( gần giống như người dẫn chương trình đám cưới hiện nay) cho hai người chính thức là vợ chồng Ngoài ra, vào dịp tết Thường Tân (cúng cơm mới), con rể phải mang đôi chim ngói, gạo tám thơm xuống tết bố mẹ vợ Đến nay, mặc dù những thủ tục này đã bị xóa bỏ, nhưng lễ cưới ở đây vẫn có những quy định theo phong tục truyền thống xưa như: lễ chạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt Người dân nơi đây quan niệm, sau lễ cưới của đôi nam nữ, hai gia đình từ chỗ là quan hệ xã hội đã trở nên gắn bó mật thiết với nhau

* Tang ma

Nếu cưới xin là việc vui đánh dấu sự trưởng thành của đời người, thì tang ma lại là việc buồn kết thúc chu trình của một đời người Việc tổ chức đám tang với sự chứng kiến của cộng đồng, dân làng Đám tang được tổ chức

có mặt đông đủ nội ngoại, xóm làng, khu phố, bằng các nghi thức và sự phân công chặt chẽ theo tục lệ cổ truyền của làng Tổ chức đám tang thường có các nghi thức sau: Khi người thân sắp qua đời, gia chủ gọi con cháu ruột thịt đến nhìn mặt lần cuối và nghe những lời dặn dò sau cùng (nếu có thể) của người sắp qua đời Sau đó người nhà cử một số người chăm sóc, đun nước lá thơm tắm rửa, gội đầu, chải tóc, chờ đến lúc tắt thở rồi thay quần áo mới Một số anh

em ruột thịt túc trực bên người quá cố suốt đêm Sau đó chờ con cháu, người thân ở xa về đông đủ mới tiếp tục liệm, nhập quan, phát tang Con cháu, anh

em đội khăn tang theo thứ bậc và tỏ lòng thương tiếc người chết Đồng thời, đặt

di ảnh, hương đèn, hoa quả để con cháu, họ tộc gần xa, thân bằng cố hữu phúng viếng Con trai trưởng, con dâu trưởng cùng một số anh em trong nhà đứng đáp

lễ, ghi chép phúng viếng

Đám ma ở Đức Hậu có những điểm đặc biệt hiếm thấy tại các nơi khác, nếu người mất là cụ bà thì vào đêm trước khi đưa ma, ông trưởng đoàn kèn trống ( hiện nay chính là cụ thủ từ của đình Đức Hậu) sẽ lên sân khấu (tại trước

Trang 18

ban thờ ở sân nhà người mất) diễn tích ‘‘Mục Liên Thanh Đề" để tả lại sự tích

Đức Mục Hiền Liên khi đã tu thành Phật đi xuống địa ngục, vượt biển lửa cứu

mẹ Theo tích Phật mẹ của ngài đã mắc tội phỉ báng và có việc làm tội lỗi đối với những sư tăng (cho thịt chó vào bánh bao mời nhà sư ăn) Sau khi cứu được

mẹ, cụ thủ từ lại hóa thân vào vai một ông già chèo đò và một người nữ trong đoàn đóng vai Ngọc nữ đưa mẹ về Tây Thiên theo Phật Còn nếu người mất là

cụ ông, thì phải có ba người trên sân khấu để diễn tích "Người con trung hiếu"

Tích này diễn ra như sau: Ở một gia đình nọ, người chồng tên là Tuấn Anh, người vợ là Mai Hương cùng ở với cha già Sau đó, Tuấn Anh lên kinh để ôn thi chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới, ở nhà Mai Hương mò cua bắt ốc để nuôi cha, nuôi chồng Trời không phụ lòng người hiếu học, kỳ thi năm đó Tuấn Anh đỗ

và được vinh quy bái tổ Nhưng thật đau đớn thay khi đúng lúc chàng về thì cha lại mất, chưa kịp để mình báo hiếu cho cha Thương cha nên hai con làm lễ

và đưa cha về cõi Tây phương Với tích này, cụ thủ từ đã đóng vai người cha, đồng thời sau đó lại đóng luôn cả vai người chèo đò đưa người đã khuất về quy

y cửa Phật

Lễ phúng viếng tuỳ theo mối quan hệ giữa người đi phúng viếng với người quá cố Trường hợp gia đình thông gia thường có thẻ nhang, tiền viếng; đoàn thể có vòng hoa, bức chướng, tiền viếng Đội trống kèn thờ liên tục phát

ra những âm thanh tiếc thương người quá cố đến lúc hết người phúng viếng thì nghỉ Việc đưa tang ở làng Đức Hậu gọi là đưa ra đồng, mọi việc đều được tổ chức phân công chu đáo, thứ bậc rõ ràng Đưa tang bằng hình thức đi bộ, linh cữu người chết được để trong xe đẩy (trước đây phải khiêng linh cữu), trên đường đưa tang có rắc vàng thoi bằng giấy, tiền âm từ nhà gia chủ ra đến huyệt để người chết nhớ đường về nhà mình Khi hạ huyệt thường có thầy cúng hoặc vị sư làm phép trì huyệt, các cụ bà đọc kinh trước mộ Động thái này cho rằng, cúng trị huyệt mới xua đuổi được tà ma cũ để cho vong linh người mất được yên ổn

Trang 19

Qua nghi lễ của đám tang ở làng Đức Hậu cho thấy, đây là vùng đất có truyền thống lịch sử văn hóa, người dân nơi đây vẫn giữ gìn được những nét văn hóa đặc sắc, đó là những nghi thức, tập tục cổ truyền, những câu chuyện được diễn thành các tích trò với nội dung tư tưởng nhân văn cao cả để người sống hướng mình tưởng niệm người đã khuất đồng thời tự mình tu thân tích đức

* Lệ làng

Trước Cách mạng tháng 8, làng Đức Hậu còn giữ được hương ước của làng nhưng sau đó làng đã bị thất lạc Hiện nay, không còn tư liệu nào nhắc đến các điều khoản trước đây, chủ yếu là dựa vào tư liệu hồi cố của một số cụ cao niên trong làng kể lại

Vào ngày 15 tháng Một âm lịch tức ngày Rằm tháng Giêng, cả thôn Đức Hậu tổ chức ăn rất to, đây còn gọi là tục "ăn tết lại" với câu nói "Tết quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng" Bởi vì vào ngày này, tất cả con cháu, dâu rể ở các nơi đều phải về gia đình để gặp mặt, gói bánh chưng, làm cỗ để cúng tổ tiên Vì ngày tết, nhiều thành viên trong gia đình có thể là không về nhà được vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên đây là dịp để tất cả mọi người quay quần thay cho sự thiếu vắng của họ vào dịp tết Nguyên Đán Trước đó, ngày mồng 07 tháng Giêng hay còn gọi là ngày lễ hạ cây Nêu, mọi người tổ chức làm cỗ ăn mừng Nhưng sau năm 1943 đến ngày này chuyển sang ngày 15 tháng Giêng Trên địa bàn xã Đức Hòa chỉ có làng Đức Hậu tổ chức lễ này vào ngày 15 tháng Giêng, còn 06 xã khác tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng

Ngày nay, các phong tục tập quán của thôn Đức Hậu cũng được lãnh đạo và nhân dân thống nhất đặt quy định mới cho phù hợp với tình hình thực

tế của địa phương: ma chay, cưới hỏi chỉ tổ chức trong một ngày, không được mời quá 300 khách, sử dụng loa đài sau 10 giờ đêm phải tắt…

1.1.5.2 Di tích lịch sử văn hóa

Trang 20

Ở làng Đức Hậu hiện nay còn một sỗ di tích lịch sử văn hóa:

* Chùa Đức Hậu

Công trình kiến trúc này nằm sát phía bên trái đình Đức Hậu, cả hai di tích chùa và đình có chung khuôn viên Những tư liệu về thời điểm khởi dựng của ngôi chùa không được ghi rõ Chùa có mặt bằng kiến trúc hình chữ

“Đinh”, gồm: Tiền đường xây bít đốc tay ngai và Thượng điện, phía trước là sân gạch và cổng chùa Tiền đường gồm 7 gian 2 dĩ với 12 cột gỗ ở gian giữa vuông, 4 cột sát tường tròn Các cột hiên xây bằng gạch Phía trước 5 gian làm cửa bức bàn, gian đầu hồi có cửa sổ chữ nhật trổ hình chữ thọ dạng chữ triện Các vì kèo kết cấu kiểu “chồng giường” Thượng điện nối liền tiền đường bằng nóc Đơn nguyên này gồm 5 gian với 4 vì kèo gồm 8 cột gỗ vuông, ở đầu hồi không có vì kèo Các vì kèo này làm theo kiểu quá giang đỡ trụ trốn Chỉ có vì giáp tiền đường làm kiểu “Giá chiêng” gánh thượng lương Hai bên thượng điện có hành lang rộng, dọc hành lang có trụ đỡ bộ mãi

Phần trang trí nghệ thuật của chùa Đức Hậu chủ yếu ở nhà Tiền đường

và tập trung vào 2 bộ vì gian giữa Ở phần chính giữa nối với thượng điện có bức cửa võng được chạm cầu kì với đặc điểm phía trên là hình hổ phù và triện cúc dây, hai diềm cửa chạm hình lân ký cầu Các vì khác không thể hiện các họa tiết trang trí

Ngoài ra, trong khuôn viên của chùa còn có ban tổ, ban mẫu được đặt trong một đơn nguyên kiến trúc phụ Đơn nguyên này gồm 5 gian, xây bít đốc trụ biểu, kiến trúc đơn giản kiểu “Tiền kẻ, hậu bẩy”… Ngôi chùa này đã được

Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật vào ngày mồng

10 tháng Ba năm 1994

* Nhà thờ họ

Dòng họ là tập hợp những gia đình có chung nguồn gốc về huyết thống, là một trong những yếu tố quan trọng để cấu thành một ngôi làng Thông thường ở

Trang 21

một ngôi làng được cấu thành bởi nhiều dòng họ khác nhau Như đã trình bày ở phần trên, làng Đức Hậu có tổng số trên 10 dòng họ, trong đó có 03 nhà thờ của dòng họ Nguyễn Văn, Nguyễn Bá, Nguyễn Hữu Hiện nay, những nhà thờ này đã được tu bổ, tôn tạo khang trang để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt văn hóa dòng họ của các gia đình cùng chung huyết thống

1.1.5.3 Lễ hội và các ngày lễ khác

* Lễ hội đình làng Đức Hậu: Lễ hội này diễn ra vào ngày 06 tháng

Chín âm lịch hàng năm, cứ 5 năm tổ chức lễ hội lớn Bên cạnh đó, có ngày giỗ Thánh là ngày 10 tháng Tư âm lịch, nếu như hầu hết các ngôi đình cổ của Việt chủ yếu chọn ngày sinh hoặc ngày hóa của vị thành hoàng được thờ trong đình làm ngày lễ hội thì đình Đức Hậu lại có chút khác biệt Đó là người dân không chọn ngày hóa của thần làm lễ hội mà lại chọn ngày thánh Tam Giang cùng vợ, con đến vùng đất này sinh sống làm ngày tổ chức lễ hội Lễ hội đình làng Đức Hậu diễn ra trong 03 ngày: 04, 05, 06 tháng Tư, trong đó ngày mùng 05 là ngày chính của lễ hội Trong lễ hội có lễ tế thành hoàng làng được chú trọng nhất, ngoài ra trong lễ hội còn có các hình thức diễn xướng dân gian khác: hát quan họ, múa song quạt, múa kiếm và các trò chơi dân gian như: chọi gà, đu quay, ném cổ chai ( Chi tiết sẽ giới thiệu ở mục 2.3 của chương 2 )

* Giỗ Thánh

Là việc kỷ niệm ngày hóa của thánh Tam Giang Trương Hống và vợ con tự vẫn tại ngã ba Xà vào ngày mùng 10/04 âm lịch (Thực chất là ngày mùng 09 tháng Tư, nhưng hiện này đền Xà tổ chức vào ngày mùng 09/04, nên

lễ giỗ thánh ở đình làng Đức Hậu phải lui lại đến mùng 10/04 mới tổ chức Bởi vì đền Xà được coi như người anh cả, còn các đình khác như Đức Hậu được xem như em thứ nên phải tổ chức sau Ngày giỗ Thánh được tổ chức tại sân đình và có liên hoan cỗ mặn (khoảng 30 mâm), thành phần dự tiệc gồm các cụ và nhân dân trong làng đến dự hội ( mục 2.3 ở chương 2)

Trang 22

1.1.5.4 Truyền thống học hành

Người dân thôn Đức Hậu từ lâu đã có truyền thống hiếu học và truyền thống ấy vẫn luôn được tiếp bước đến ngày nay Trong lịch sử, tuy đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nhưng đã có một số người học hành thành đạt đem lại niềm tự hào cho vùng đất này và trở thành những tấm gương sáng về tri thức cho các thế hệ trẻ noi theo Như họ Đặng Đình xưa có người học hành đỗ đạt, làm tới chức Tri phủ tỉnh Cao Bằng Ngày nay, trong làng có 02

vị tiến sĩ ở dòng họ Nguyễn Văn và Đặng Đức Do có truyền thống hiếu học nên các thế hệ con cháu hiện nay vẫn luôn ý thức gìn giữ và phát huy tinh thần truyền thống đó Bởi lẽ việc học hành đối với mỗi người dân Đức Hậu không chỉ là trách nhiệm với bản thân mà còn là bổn phận làm rạng danh cho gia đình, dòng họ và cả xóm giềng Các dòng họ, lãnh đạo thôn Đức Hậu đã thành lập quỹ hiếu học, hàng năm thường tổ chức gặp mặt vinh danh

và trao phần thưởng cho các con em quê hương học hành đỗ đạt

1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, QUÁ TRÌNH TỒN TẠI CỦA DI TÍCH ĐÌNH LÀNG ĐỨC HẬU VÀ NHÂN VẬT ĐƯỢC PHỤNG THỜ

1.2.1 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại của di tích đình làng Đức Hậu

1.2.1.1 Lịch sử hình thành

Đối với lịch sử hình thành ngôi đình làng nói chung: Đình làng có từ bao giờ cũng chưa có tài liệu nào ghi chép lại một cách cụ thể Đình được đề cập đến trong lịch sử bắt đầu từ thời Trần khi các vua Trần cho xây đình làm nơi dừng chân khi đi tuần thú Khi đó ngôi đình mang chức năng như một công quán - dịch đình Sau này, ngôi đình còn đưa tượng Phật vào thờ và thêm chức năng tín ngưỡng Nhưng từ bao giờ đình làm nơi thờ thành hoàng làng chưa có nguồn sử liệu nào ghi chép cụ thể Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, chúng ta còn lại những ngôi đình có niên đại thế kỉ XVI, XVII, XVIII, XIX Qua nghiên cứu thực thể các kiến trúc đình làng người Việt có thể cho phép

Trang 23

nhận định về chức năng của đình làng Đình làng là ngôi nhà công cộng của làng xã Việt Nam

Về chức năng hành chính, đình là chỗ để họp bàn các “việc làng”, để xử kiện, phạt vạ, ăn khao… theo những quy ước của làng, từ những cuộc họp của

bô lão trong làng, trong họ tộc, chuyện làm lễ lên lão cho nhà này, phạt vạ nhà kia có con gái không chồng mà chửa… cho đến những việc đại sự như đón sắc phong của vua ban, hội đình, tất tật đều được diễn ra ở sân đình và theo lệ làng Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ thần của làng, được gọi là “Thần Thành hoàng làng” Về chức năng văn hóa, đình là nơi biểu diễn các kịch hát, như chèo hay hát cửa đình, nơi tiến hành các lễ hội, các trò chơi… Các chức năng trên không bao giờ tách bạch mà luôn đan xen hòa quyện với nhau Có thể coi đình là một tòa thị chính, một nhà thờ và một nhà văn hóa cộng lại của làng xã Việt Nam Ngôi đình là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam,

là một yếu tố hữu hình của văn hóa làng Việt Nam Ở các làng xã trong xã

hội cũ, việc tôn thờ thành hoàng làng là việc tối quan trọng của cả làng xã Chính vì vậy, ban đầu thần được thờ ở những ngôi đình nhỏ, ít được người dân chú trọng, trải qua thời gian, việc thờ thần đã được nhân dân coi trọng và chính người dân đã tạo ra một hệ thống kiến trúc, trang trí phù hợp với chức năng, đặc trưng của các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo này

Đối với trường hợp đình làng Đức Hậu, đây là công trình kiến trúc tín ngưỡng và nằm trong dòng chảy lịch sử phát triển của đình làng Việt Nam Song cho tới nay, chưa có tài liệu nào khẳng định về niên đại khởi dựng chính xác của đình Đức Hậu Nhưng dựa vào những chứng cứ thông qua quá trình khảo sát tại di tích cho thấy, đặc điểm kiến trúc và trang trí trên kiến trúc của toà Đại đình có thể cho phép xác định niên đại tương đối của di tích đình làng Đức Hậu được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Với đặc điểm kiến trúc, điêu khắc mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê,

Trang 24

trong đó các đầu dư, các đề tài chạm khắc trên các bức cốn, xà nách với hình ảnh rồng thú, tiên cưỡi rồng, người hát Ả đào, người uống rượu Nhìn chung, các đề tài này được chạm khắc trên kiến trúc gỗ ở đình Đức Hậu khá phổ biến trong các đề tài trang trí trên kiến trúc của các ngôi đình Việt Nam ở thế kỷ XVII, XXIII nổi tiếng như: Đình Hùng Lô, đình Lâu Thượng (huyện Lâm Thao, Phú Thọ), Tam đình của thị trấn Hương Canh (Vĩnh Phúc), đình Thổ Tang (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc); đình Yên Nội (Việt Yên, Bắc Giang), đình Chu Quyến, Liên Hiệp (Hà Nội), đình Hoàng Xá, đình Phượng Cách (Quốc Oai, Hà Nội), đình Bạch Trữ (Mê Linh, Hà Nội), đình Ninh Giang (Gia Lâm,

Hà Nội)

Đặc biệt, hiện nay ở các cột gỗ chịu lực trong toà Đại đình còn có dấu vết của các lỗ mộng đỡ ván sàn Điều này chứng minh rằng, trước đây tòa Đại đình đã từng tồn tại ván sàn gỗ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau, nay lớp sàn ván gỗ này đã bị tháo dỡ Khi nói về sàn đình, tác giả Hà Văn Tấn cho

rằng, “Sàn đình là một kết cấu vốn có của những ngôi đình cổ còn bảo lưu lại

ở đình làng thời Mạc” [23, tr.22]

Mặt khác, tại đình làng Đức Hậu còn lưu giữ được 07 sắc phong (gồm bản gốc và bản sao) do triều đình nhà Nguyễn phong tặng cho vị thần được thờ tại đây có niên đại từ năm 1809 đến 1924 Đây cũng là một căn cứ quan trọng trong việc xác định niên đại tương đối của ngôi đình này

Như vậy, căn cứ vào phong cách kiến trúc và mĩ thuật trên các bức chạm khắc, dấu vết lỗ mộng sàn đình trên kiến trúc cùng các văn bản sắc phong được lưu giữ tại đình làng Đức Hậu như đã trình bày ở trên là căn cứ

để xác định, kiến trúc của đình làng Đức Hậu hiện nay được xây dựng vào thời Hậu Lê Trung Hưng (khoảng từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII)

1.2.1.2 Quá trình tồn tại và phát triển

Tồn tại cho đến ngày nay, ngôi đình này đã trải qua nhiều biến động của lịch sử như chiến tranh, sự tác động vô thức của người dân và sự khắc

Trang 25

nghiệt của thời tiết, tự nhiên Trong quá trình tồn tại đó, đình Đức Hậu đã được trùng tu, sửa chữa mở rộng về mặt quy mô Theo tư liệu hồi cố của các

cụ cao niên trong làng cung cấp và căn cứ vào các dấu vết kiến trúc tại đình

có thể nhận thấy đình được trùng tu lớn ở thế kỷ XIX và thế kỷ XX

Dấu vết của việc trùng tu sửa chữa đình là việc xây thêm tòa Tiền tế ở trước Đại đình, tuy không có tư liệu và niên đại ghi trên đó, nhưng qua đặc điểm kiến trúc cho thấy tòa Tiền tế được xây thêm vào thời Nguyễn, các hoa văn trang trí trên các bộ vì và các bẩy hiên là hoa văn lá lật mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn Qua khảo sát một số ngôi đình có niên đại cùng thời với ngôi đình này ở trên địa bàn huyện Sóc Sơn nói riêng và ở châu thổ Bắc

Bộ nước ta nói chung cho thấy, các tòa Tiền tế của những ngôi đình này đều được xây dựng vào thời Nguyễn, duy nhất chỉ có tòa Tiền tế của đình làng Hùng Lô (huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ có dòng niên đại ghi rõ năm khởi dựng vào thời Hậu Lê Trung Hưng (niên hiệu Bảo Thái năm thứ 06 - 1710)

Mặt khác, trong tòa Đại đình có nhiều cột quân được thay thế và nhiều cột cái được sơn son Lúc đầu toà nhà này không có tường bao, sau đó người dân đã trùng tu, tôn tạo và xây thêm hệ thống tường bao quanh toàn bộ tòa nhà bằng các nguyên vật liệu mới như gạch, xi măng và cho lát toàn bộ nền đình bằng gạch màu sẫm Hậu cung được mở rộng và đẩy lùi về phía sau vào thời Nguyễn thế kỷ XX với kiểu dáng tường hồi bít đốc được xây dựng bằng gạch bìa, gạch vồ có kích thức lớn Năm 1943, dân làng đã cho xây thêm tường bao và hai cột trụ ở hai bên cầu ao trước cửa đình Từ năm 1990 đến nay, việc tu sửa nhỏ trong di tích được chính quyền và nhân dân địa phương tiến hành khi xảy ra dấu hiệu xuống cấp Toàn bộ ao đình đã được kè đá lại trong vài năm gần đây Năm 2013, dân làng đã cho xây lại cổng đình mới nằm cạnh cổng chùa Đức Hậu Đầu năm 2014, địa phương đã sửa chữa lại hệ thống ván sàn ở gác lửng trong hậu cung do đã bị xuống cấp nghiêm trọng

Trang 26

Như vậy, đình làng Đức Hậu là một trong những ngôi đình còn lưu giữ được khá nhiều giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật của thế kỷ XVII - XVIII và những lần tu sửa từ thế kỷ XIX, XX cho tới tận ngày nay Trong suốt quá trình tồn tại, đình Đức Hậu luôn là một trung tâm văn hoá, hành chính, tín ngưỡng của cả làng, là nơi người dân hội họp bàn việc làng, việc nước, đồng thời là nơi diễn ra sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người dân với các hoạt động văn hóa như múa, hát, tổ chức các buổi giao lưu văn hoá văn nghệ giữa các đơn vị trong và ngoài thôn/xã với nhau Đồng thời, ngôi đình còn là nơi thờ cúng thành hoàng, nơi diễn ra các lễ hội (với nghi thức, nghi lễ nhằm tưởng nhớ tới công lao to lớn của các vị thần) đối với dân làng Đức Hậu

1.2.2 Nhân vật được phụng thờ trong đình làng Đức Hậu

Căn cứ vào sắc phong, thần phả lưu giữ tại đình làng và câu chuyện truyền thuyết lưu truyền trong dân gian cho biết, đình Đức Hậu thờ gia đình thánh Tam Giang Trương Hống (Thánh Tam Giang, vợ và con gái)

* Về thánh Tam Giang: Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã thống kê

được trên 343 làng nằm dọc ven sông Cầu (Từ thượng Đu Đuổm đến hạ Lục Đầu giang) đều thờ thánh Tam Giang Qua nguồn tư liệu thần phả, sắc phong (bản chữ Hán và bản dịch) trong đình làng cho biết, sự tích về thánh Tam Giang có thể tóm tắt như sau:

Thánh Tam Giang có tên húy là Trương Hống và Trương Hát là hai anh em ruột, sinh ra ở làng Vân Mẫu (huyện Quế Võ, Bắc Ninh) Vào thế kỷ thứ VI, Lý Nam Đế (tức Lý Bí) đã phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương và sau đó lập nên Nhà nước Vạn Xuân Triệu Quang Phục và Trương Hống, Trương Hát đều là các tướng tài giỏi Sau này nhà Lương quay lại xâm lược nước ta, Lý Nam Đế đã không chống lại được nên phải rút quân về vùng núi Vĩnh Phúc để phòng ngự và một thời

Trang 27

gian sau ông mất ở đó Cuộc kháng chiến chống quân Lương được Triệu Quang Phục tiếp tục lãnh đạo, lấy đầm Dạ Trạch làm căn cứ chống lại quân giặc Sau đó Triệu Quang Phục đã phản công đánh đuổi quân Lương ra khỏi bờ cõi nước ta và ông đã lên ngôi báu Một thời gian sau, Lý Phật Tử là em họ của Lý Bí đã dùng mưu lật đổ Triệu Quang Phục lập nên nhà Hậu Lý Nam Đế

Lý Phật Tử biết Trương Hống, Trương Hát là những tướng tài giỏi đã nhiều lần mời các ông ra làm quan, nhưng hai ông một lòng trung nghĩa với vua cũ (tôi trung không thờ hai vua), sau nhiều lần bị ép bức, các ông đã đem cả gia đình lên vùng ngã ba sông Cầu rút đõ nước (chốt đáy) thuyền tự vẫn để tỏ lòng trung với vua Các ông sống là anh hùng đánh giặc, chết là bề tôi trung nghĩa với vua, đã hiển linh thành thần, được 343 làng dọc ven sông Cầu thờ phụng [24]

Về bản chất của việc phụng thờ thánh Tam Giang ở vùng đất này, cho đến nay đã có một số nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đề cập đến và cho rằng,

đó là tín ngưỡng thờ “Nước” của cư dân nông nghiệp ven sông Cầu, sông Cà

Lồ Tiêu biểu là cuốn sách “Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa” của tác giả Trần

Quốc Vượng viết về đôi bờ sông Cầu (Thượng Chỉ Đu Đuổm - Hạ Lục Đầu Giang) biểu tượng của miền này là rắn (Ông Cộc, Ông Dài); dọc cả sông Cầu

và sông Cà Lồ, sông Thương đều thờ thánh Tam Giang với trung tâm là ngôi đền ở ngã ba Xà, đó vốn là đền thờ thần Rắn - Ông Cộc, Ông Dài, sau được lịch sử hóa, thần thánh hóa thành thánh Trương Hống, Trương Hát [30,

tr.119,142] Tác giả Chu Quang Trứ trong cuốn sách “Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam” cho rằng: Đây là hiện tượng thờ

thần sông nước (thần Rắn) [26, tr.71-72] Nhìn chung, hiện tượng thờ thánh Tam Giang của các làng dọc sông Cầu và các sông phụ khác gắn liền với lớp

Trang 28

tín ngưỡng thờ nhân vật đã được lịch sử hóa là có công với dân với nước, bởi vùng đất này trong lịch sử đã từng là nơi diễn ra nhiều trận chiến quyết liệt của dân tộc ta chống lại kẻ thù xâm lược phương Bắc Chính vì lẽ đó có những danh thần tuy không được sử sách ghi chép lại vì lý do này hay lý do khác, song họ lại sống mãi trong tâm thức, tín ngưỡng dân gian

Đức Hậu là một ngôi làng cổ được hình thành từ rất sớm, tên gọi Đức Hậu gắn liền với truyền thuyết của người anh hùng Thánh Gióng đánh giặc qua làng Trong quá trình lịch sử, Đức Hậu có sự biến đổi về mặt hành chính

và diện mạo làng xã, song trong quá trình sinh sống người dân nơi đây đã sáng tạo ra các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống, mà đặc trưng nhất đó chính là ngôi đình của làng Đức Hậu gắn liền với vị thành hoàng thánh Tam Giang cùng vợ và con gái Ngôi đình và vị thành hoàng làng đã cố kết cộng đồng của cư dân nơi đây thành một đơn vị “làng’’ trong xã hội Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay

Trang 29

Chương 2 KIẾN TRÚC, DI VẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG ĐỨC HẬU

2.1 KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG ĐỨC HẬU

2.1.1 Không gian cảnh quan

Thực tiễn cho thấy, các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng được coi là nơi bảo tồn giá trị văn hoá ở mỗi làng xã Đình làng là nơi gửi gắm niềm tin, niềm tự hào của cả cộng đồng làng xã Vì vậy, trước khi xây dựng công trình, người ta rất chú trọng tới việc chọn đất và hướng Các bậc tiền nhân rất coi trọng việc chọn lựa thế đất và cảnh quan để xây cất công trình: Với thế đất phải là nơi cao ráo, sáng sủa, phía trước rộng rãi, thoáng đãng, xa

xa có núi làm tiền án, phía sau phải có thế tựa, hai bên tả hữu có tay ngai thế vịn, phía trước cửa đình thường có hồ nước rộng - đó là yếu tố tụ thuỷ có nghĩa là tụ phúc cho cả cộng đồng và cho từng thành viên trong cộng đồng

Đặc biệt là yếu tố “thiêng”, đó là điểm hội tụ sinh khí của bốn phương tám

hướng trong trời đất Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự hưng thịnh, phát đạt hay nghèo khó của cộng đồng làng xã nơi di tích tồn tại

Đình làng không chỉ là một công trình kiến trúc công cộng có quy mô

to lớn nhất của làng, mà dần dần nó còn là một công trình kiến trúc mang trong mình các chức năng như: Hành chính, tôn giáo và văn hóa Những chức năng này trải qua các thời kỳ lịch sử đã có biến đổi rõ rệt và ngày nay đình làng không còn chức năng là trụ sở của hành chính làng xã như xưa mà thay vào đó là chức năng mới phụ vụ cho du lịch văn hóa

Về không gian cảnh quan của đình Đức Hậu: đây là công trình kiến trúc được làm với quy mô to lớn và trang trọng, ngôi đình tọa lạc ở vị trí trung tâm của làng trên một khu đất cao, rộng và bằng phẳng, không gian thoáng đãng

với thế đất: “Minh đường thủy tụ, Tả Thanh Long - Hữu Bạch Hổ ”, nghĩa là

Trang 30

phía trước di tích có hồ nước lớn tựa như minh đường, biểu tượng cho sự tụ phúc; bên trái giáp với chùa Đức Hậu, thế đất cao lại uốn lượn, tựa như

“Thanh Long” biểu tượng của yếu tố dương, phản ánh thế đi lên và hưng thịnh của đình; bên phải đình là mảnh đất cao và rộng, tựa như “Bạch Hổ",

biểu tượng của yếu tố âm Vì vậy, yếu tố âm dương có hòa hợp thì muôn vật mới nảy sinh, đó cũng chính là quy luật của đất trời Ngay trước cửa đình có

hồ nước hình chữ nhật lớn, diện tích khá rộng Theo quan niệm xưa, bất cứ di tích nào cũng cần phải có yếu tố nước và thường ở phía trước các công trình tôn giáo tín ngưỡng và hồ nước được coi là yếu tố quan trọng, là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của các di tích Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng loại di tích mà hồ nước là hình tròn, hình tự nhiên hoặc hình bán nguyệt…)

Ngày nay, do quá trình đổi mới nông thôn của làng, cho nên không gian cảnh quan của di tích cũng có ít nhiều đổi thay Để tiện cho việc đi lại của các khu dân cư, dân làng đã làm một con đường bê tông mới chạy ngang làng qua phía trước ao nước và cửa đình Quanh hồ nước được kè đá và xây bờ chắc chắn Phía trước cửa đình, lối đi xuống hồ nước có xây các bậc thang Với sự biến đổi trên, phần nào đã làm cho không gian cảnh quan trước đây của di tích đình Đức Hậu có sự thay đổi Song, nhìn vào mặt bằng tổng thể của ngôi đình hiện nay, các yếu tố về địa thế, không gian và cảnh quan của di tích vẫn được đảm bảo

Về hướng của di tích, đây là vấn đề được cộng đồng cư dân coi trọng, bởi lẽ hướng của đình làng sẽ quyết định đến sự may mắn hay rủi ro cho cộng đồng cư dân sống tại nơi đó “Toét mắt là tại hướng đình/Cả làng toét mắt chứ mình em đâu”

Tuân theo quan niệm đó, đình Đức Hậu ngoảnh theo hướng Tây Nam Theo quan điểm của tác giả/nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền cho rằng:

Hướng Tây là hướng khá phù hợp với nhận thức của cư dân đương thời, bởi vì đây là những hướng thích hợp với tâm linh:

Trang 31

thần nhìn về hướng Tây là hướng âm, mặt thần là hướng dương, nên đã tạo cho thần và phương hướng vũ trụ thành một cặp âm dương đối đãi; lưng thần là dương nhìn về hướng Đông tạo thành một cặp âm dương đối đãi khác; tay trái thần là âm đặt về hướng Nam - dương, tay phải là dương đặt về hướng Bắc - âm Như vậy, nó thích hợp với thế của vị thần và thiên nhiên vũ trụ trong

tư duy của người dân nông nghiệp cổ truyền Thần đã được đồng nhất với vũ trụ và thiên nhiên, đó là tư tưởng hoà nhập vào thế giới thần linh của người Việt được thể rất rõ rệt, bởi có như vậy thì thần mới yên vị và mới đem lại sinh lực vô biên của tầng trên với thế gian, tạo cho muôn loài sinh sôi Đối với nhận thức thường nhật thì sự yên vị của thần đã đảm bảo cho vị thần luôn luôn có mặt ở đình để bảo vệ cho dân làng Hướng Nam là hướng của trí tuệ (theo Phật giáo đó là hướng của Bát Nhã) nhờ

có trí tuệ mới diệt được vô minh tức và ngu tối, mà ngu tối là mầm mống của tội ác Do đó, với hướng Nam thì người xưa mong muốn rằng, tuy làng được lập bởi những người dân nghèo nhưng phải lấy thiện tâm trên nền tảng trí tuệ làm trọng để xây dựng làng xã Đồng thời, hướng Nam là hướng của màu đỏ, hướng của nguồn sinh lực vô biên Cho nên, điều đó cũng phản ánh ước vọng của người xưa là cầu mong cho sự sinh sôi, phát triển Vì thế trong tín ngưỡng cổ của người Việt có khá nhiều các công trình kiến trúc được xây dựng theo hướng Nam [14, tr.37]

Do vậy, hướng và kết cấu của đình Đức Hậu đã như chứa một ý nghĩa sâu xa về tâm linh gắn với bản sắc lịch sử, văn hóa của cộng đồng cư dân vùng đất núi Sóc xưa

Ngoài việc quan tâm đến thế đất và hướng, người xưa còn rất cẩn trọng trong việc bài trí và sắp đặt thiên nhiên cây cỏ với ý nghĩa thanh bình,

Trang 32

thanh tịnh làm đẹp cho di tích và cũng tạo ra sự gắn bó hòa quyện khó có thể tách rời với thiên nhiên cây cỏ Hơn thế nữa, cây cối còn là nơi trú ngụ của các thần linh, nơi neo đậu của những linh hồn tìm đến sự chở che của các vị đức thánh Khi đề cập đến vấn đề này, tác giả Trần Lâm Biền cho rằng:

“Những cây thiêng, cây thế… với vẻ nguyên khai trên con đường mòn tâm tưởng đã như dẫn hồn ai về miền thượng trụ” [14, tr.53] Đối với trương hợp đình làng Đức Hậu, phía trước cửa di tích có một cây gạo cổ thụ đã ghi dấu biết bao thăng trầm lịch sử của địa phương, tiêu biểu là sự kiện vào lúc 23 giờ đêm ngày 26 tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ đã dùng máy bay B52 cho thả hàng chục quả bom có sức công phá lớn xuống thôn Đức Hậu, xã Đức Hòa, huyện Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội) làm 19 người thiệt mạng, phá hủy nhiều ngôi nhà và tài sản của dân làng Đức Hậu Về mặt văn hóa tâm linh, cây gạo cũng được coi là cây thiên mệnh với cành, nhánh vươn xa, hoa nở màu đỏ được ví như bàn tay của các

vị thần linh đang che chở cho các linh hồn trú ngụ Ngoài ra trong khu di tích còn có một số các cây khác như cây đa, xà cừ và một số cây ăn quả khác Các loại cây này được trồng nhiều trong di tích lại càng làm tăng thêm vẻ đẹp cho không gian của di tích

Như vậy, các thế hệ người xưa đã lựa chọn được thế đất đẹp cho đình làng Đức Hậu, đó là sự hội tụ các yếu tố vừa hợp địa thế phong thuỷ, vừa hợp với quy luật âm dương ngũ hành Với thế đất này, ngôi đình - trung tâm văn hóa của cộng đồng làng Đức Hậu đã được các thế hệ con cháu nối tiếp giữ gìn, phát huy để tạo nên một không gian văn hoá đặc sắc vừa mang tinh thần truyền thống lại vừa mang tính đương đại

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể

Đối với vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung, những ngôi đình sớm nhất hiện còn thường tập trung ở Hà Tây (cũ), Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú

Trang 33

Thọ, Vĩnh Phúc và nhiều tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng Các di tích này có niên đại vào khoảng thế kỷ XVI, XVII, như: Đình Tây Đằng, đình Thuỵ Phiêu, đình Thanh Lũng, đình Lỗ Hạnh, đình Thổ Hà, đình Đức Hậu đó là những ngôi đình được biết đến hiện nay có niên đại sớm nhất vào thế kỷ XVI, XVII Bố cục mặt bằng của các ngôi đình đó là hình chữ “Nhất” đơn giản, nghĩa là chỉ có một toà đại đình Sang đến thế kỷ XVII, đình làng đã có sự thay đổi về kiến trúc, vào cuối thế kỷ này xuất hiện những ngôi đình có hậu cung nối liền với toà đại đình, tạo thành hình “Chuôi vồ” hay còn gọi là hình chữ “Đinh”, tiêu biểu là đình Thổ Tang, đình Hoàng Xá, đình Yên Nội, đình Phượng Cách, đình Hàng Kênh Nhưng sang đến thế kỷ XVIII, về mặt kiến trúc thì đình làng đã đa dạng hơn, mặt bằng có nhiều đơn nguyên kiến trúc phức tạp hơn Toà hậu cung là chốn thâm nghiêm, phát triển thêm từ hình chữ

“Đinh” có khi là một toà nhà phía sau và song song với đại đình, như vậy đã tạo thành bố cục mặt bằng hình chữ “Nhị” Cũng có khi đằng trước toà đại đình dựng thêm một toà nhà “Tiền tế” đã làm cho mặt bằng công trình kiến trúc thành hình chữ “Tam”, tiêu biểu là đình Bạch Trữ (Mê Linh, Hà Nội), Tam đình thuộc thị trấn Hương Canh (Vĩnh Phúc) Bên cạnh đó, cũng phổ

biến loại bố cục mặt bằng hình chữ “Công”, do làm thêm gian nối đại đình và

hậu cung, tiêu biểu là đình Hùng Lô, đình Lâu Thượng, đình Ngọc Than, đình So Sang thế kỷ XVIII, ở một số đình, nhà tiền tế có xu hướng chuyển đổi thành phương đình, tiêu biểu như: Đình Ninh Giang, đình Trúc Động Trên bình diện mặt bằng kiến trúc, cho thấy: những đơn nguyên kiến trúc được cấu tạo nên ở trong đình, thường có niên đại khác nhau, đơn cử như toà đại đình thường có niên đại sớm nhất, nhà tiền tế hoặc phần chuôi vồ làm hậu cung thường có niên đại muộn khoảng thế kỷ XIX - XX

Đối với di tích đình Đức Hậu về cơ bản cũng nằm trong xu thế đó, với

sự chuyển tiếp từ ngôi đình có bố cục chữ “Nhất” sang kiểu bố cục chữ

Trang 34

“Đinh” rồi sang chữ “Công” Hiện nay, tổng diện tích đất của di tích là: 5300m2, đình có bố cục kiểu “Tiền chữ Nhất, hậu chữ Công" bao gồm: Tiền

tế, Đại đình, Ống muống, Hậu cung, ngoài ra còn có các đơn nguyên khác như: Sân, bình phong, cổng đình và hồ nước lớn hình chữ nhật tạo nên bố cục hoàn chỉnh cho công trình kiến trúc Khu kiến trúc chính được đặt ở vị trí trung tâm, bên trái và phía sau đã xây dựng tường bao, bên phải để thông với chùa Đức Hậu

Căn cứ vào mặt bằng tổng thể của đình Đức Hậu có thể nhận thấy rằng: Đình là một thể thống nhất thể hiện ước vọng cầu được mùa và điều này đã được một số nhà nghiên cứu dân tộc học kiến trúc và nghệ thuật cho rằng: với bố cục này đã biểu hiện ước vọng truyền đời của người Việt

Nhìn chung, về bố cục mặt bằng tổng thể đình Đức Hậu cũng như các ngôi đình làng khác của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đều không có xu hướng vươn lên cao mà lại trải rộng theo mặt bằng Vì vậy, người Việt luôn có

ý thức đưa các công trình kiến trúc hoà hợp với không gian cảnh quan tự nhiên của đất trời

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

* Tòa tiền tế

Đây là tòa nhà có hình chữ nhất, đặt trước và tách biệt với tòa Đại đình bởi lõng nước với chức năng thu ánh sáng và tránh ẩm cho công trình kiến trúc Mặt trước và mặt sau tiền tế không có hệ thống cửa, phối hợp với không gian rộng mở là sân đình giúp cho toà tiền tế luôn có thoáng mát

+ Kết cấu nền: Toà Tiền tế được xây dựng trên một nền cao 40cm so với

mặt sân, từ sân đình bước qua hai bậc thềm cao 20cm là vào tới Tiền tế Bậc thềm này được xây bằng gạch và trát vữa chạy dọc theo dải hiên và hai đầu hồi của toà tiền tế Nền của tòa tiền tế được lát gạch đỏ kích thước 20cm x 20cm Ở hai gian bên gian chái, nền được tôn cao hơn nền của ba gian giữa

là 40cm

Trang 35

+ Kết cấu khung: Đối với toà Tiền tế, đỡ lấy hệ thống cột là các chân

tảng được làm bằng đá xanh, hình trụ tròn, mặt trên được đặt khít với hệ thống chân cột Các chân tảng kê cột có chức năng tôn cao kiến trúc, tránh được lún nền và không cho gỗ tiếp xúc trực tiếp xuống đất, chống mối mọt và

ẩm thấp của khí hậu nhằm bảo quản tốt cho kết cấu gỗ được bền vững trong một thời gian nhất định

Tiền tế có 04 hàng cột gồm 02 cột cái và 02 cột quân Các cột cái của nhà Tiền tế có độ cao 5.26m, đường kính 0.38m, cột con có độ cao 2.96m, đường kính 0.33m, khoảng cách giữa cột cái với cột cái là 2.8m, giữa cột cái với cột con là 1.55m Hai cột cái được nối với nhau bằng câu đầu, câu đầu đặt thẳng lên đầu hai cột cái thông qua hai mộng én nông, ngoài cùng là bẩy hiên

có chức năng đỡ hệ mái trước và sau, trên các bảy này có trang trí hoa văn lá lật Khoảng hiên đua ra 80cm nhằm mở rộng diện tích bên trong nhà Tiền tế

+ Kết cấu bộ vì: Thực tế đã chứng minh, kiến trúc cổ của Việt Nam đa

phần là sử dụng kết cấu khung gỗ, không có sự phân biệt rạch ròi về kết cấu của từng thể loại công trình khác nhau, vì thế nước ta không tồn tại các công trình có kích thước lớn như các quốc gia khác Hệ thống kết cấu khung cột, vì kèo, xà đều tương quan về tỉ lệ, được quy định bởi thước tầm

Tiền tế của đình Đức Hậu có kết cấu kiến trúc là 5 gian 2 chái, các bộ

vì được làm theo kiểu “Thượng giá chiêng, hạ chồng rường bẩy hiên” Các hàng chân cột được liên kết với nhau bởi các bộ phận khác nhau như: Thượng lương, cột chốn, câu đầu Trên cùng bộ vì nóc là thượng lương được đỡ bởi đấu kê, phía dưới là một đấu hình thuyền, đấu này được đặt trên giá chiêng được đỡ bởi hai cột chốn ngắn phía dưới có đấu vuông kê Đỡ lấy giá chiêng

là một câu đầu/quá giang chắc khỏe Các bộ vì kèo cũng được các thanh xà thượng và xà trung liên kết với nhau thông qua các gian, điều này khiến cho các bộ vì tăng thêm khả năng chịu lực để đỡ toàn bộ hệ mái Phía trên

Trang 36

các bộ vì là những con hoành gỗ dài hình chữ nhật và các thanh rui, mè

đỡ ngói Hai vì hồi dùng cột góc và kẻ góc Hệ thống bẩy được gối lên tường tường gạch Sức nặng của toàn bộ nhà Tiền tế được tỳ lực lên hệ thống cột và chân tảng kê Hai đầu hồi được xây bằng tường gạch để bao che cho công trình

+ Kết cấu mái: Mái của nhà Tiền tế được lợp bằng hai lớp ngói, ngói

lót và ngói lợp Ngói lót hình chữ nhật có tác dụng tạo mặt phẳng cho mái trước khi lợp ngói lên trên, tạo độ dày và tránh thời tiết nắng, mưa thất thường cho công trình Ngói lợp của công trình này là ngói vảy cá Bốn góc đao cong vút, đầu đao tạo hình dải mây hình mác, hình xoắn ốc Bờ nóc được xây gạch, trát vữa tạo thành đường thẳng Ở hai đầu kìm đắp hình lá lật cách điệu thành hình dải mây cuộn lại Nhìn tổng thể mái của Tền tế giống như một con thuyền thoi có mũi lái cong đang bập bềnh trên sông nước Nếu như ở các công trình kiến trúc có niên đại sớm (từ thế kỷ XVI trở về trước), bộ mái đình như đè nặng xuống cả công trình, thì ở thế kỷ sau này (từ thế kỷ XVII đến nay) nhờ có hiện tượng góc đao cong thuộc lĩnh vực kiến trúc đã như giải toả

sự nặng nề của mái đình, làm cho công trình kiến trúc như đang bay lên, khiến cho ngôi đình nhẹ nhàng hơn, uyển chuyển và gần gũi với đời sống thường nhật hơn

* Toà đại đình

Về toà Đại đình: đây là tòa nhà có diện tích và không gian lớn, tạo ra sự

bề thế cho công trình Mặt sau của toà Đại đình vào thời Nguyễn xây gắn với hậu cung, tạo nên sự linh thiêng khép kín cho công trình kiến trúc Đại đình là ngôi nhà rộng dàn ngang, kéo dài sang hai bên, bao giờ cũng là số gian lẻ: 1,

3, 5, 7, 9 và thêm hai chái ở hai đầu hồi [27] Tòa Đại đình này gồm 03 gian

02 chái và là phần trung tâm trang trọng nhất của di tích

+ Kết cấu nền

Đại đình được xây dựng trên một nền cao 35cm so với mặt sân, từ sân đình bước qua gian tiền tế, qua ba bậc thềm cao 21cm là vào tới Đại đình Bậc

Trang 37

thềm này được bó vỉa bằng đá xanh dạng tấm lớn có kích thước 80cm x 40cm chạy dọc theo dải hiên của toà Đại đình, vốn dĩ đây được bó vỉa nền, đường bao của đá vỉa ôm hết phần nền phía trước và phía sau, bao gồm có cả phần Ống muống, Hậu cung Dù nền Ống muống và Hậu cung vẫn được tôn cao hơn, điều

đó cho thấy hai đơn nguyên kiến trúc này là sản phẩm muộn hơn Đại đình

Trước đây, Đại đình còn có hệ thống ván sàn gỗ, ngày nay dấu tích của lớp sàn vẫn còn, đó là các lỗ mộng ván sàn trên thân hệ thống cột cái và cột quân Hiện nay, nền nhà của hai gian chái được lát lại bằng gạch vuông đỏ sẫm màu, kích thước 20cm x 20cm

+ Kết cấu khung

Đối với toà Đại đình, hệ thống đỡ cột là chân tảng được làm bằng đá xanh, hiện còn sót lại một vài chân tảng kê nằm rải rác ở các bộ vì kèo, các chân tảng khác đã được thay thế bằng chân tảng mới Qua những lỗ mộng của ván sàn trên thân cột có thể thấy: Trước đây, đình có hệ thống ván sàn gỗ đó

là một đặc trưng kiến trúc gỗ của những ngôi đình làng có niên đại từ thế kỷ XVIII trở về trước Do vậy, khi nghiên cứu về vấn đề này, có thể nhận thấy được sự phân chia tầng lớp trong xã hội làng xã Việt Nam xưa kia

để tìm hiểu thứ bậc trong xã hội của làng xã Việt Nam, tốt nhất

là tìm hiểu vị trí chỗ ngồi hay các chiếu trải ở đình Tuy có khác nhau chút ít, các tầng lớp của cộng đồng làng xã thường được phân ra như sau: Một tầng lớp quan viên hay kỳ mục, chức dịch gồm những người giữ chức vụ trong bộ máy hành chính làng xã Một tầng lớp gọi là tư văn, gồm những người có học vị trong hệ thống giáo dục xưa hay những giáo chức Một tầng lớp gọi là lão hạng, gồm những người già được chia các loại Một tầng lớp khá đông, nằm trong độ tuổi phu phen tạp dịch - tầng lớp này bao giờ cũng là tầng lớp thấp nhất trong trật tự xã hội làng Nhưng

Trang 38

các tầng lớp khác thì vị trí cao hay thấp tuỳ theo truyền thống của từng làng Trong làng có truyền thống trọng tước, tức là tôn trọng người cao tuổi thì các hạng lão được coi trọng nhất, trong đình họ thường được ngồi chiếu trên trong làng có truyền thống trọng lão và trọng học thức, tức tôn trọng người đỗ đạt hay

có chức tước thì các hạng quan viên hay tư văn lại được xếp lên trên [23, tr.60]

Đến thế kỷ XVII về sau, phần lớn các ngôi đình đều được mở rộng Đình thế kỷ XVI có 04 hàng chân cột, nhưng sang đình thế

kỷ XVII trở về sau có 06 hàng chân cột, thêm hai cột hiên ở ngoài hàng cột quân để đỡ mái [15, tr.39-42.]

Trong tòa Đại đình của đình Đức Hậu gồm 02 hàng cột cái, 02 hàng cột quân, 02 hàng cột hiên được nối bằng hệ thống xà ngang và kẻ chuyền nối từ cột quân sang Hai gian chái gồm 06 hàng chân cột, được liên kết với nhau bằng xà ngang, 02 kẻ góc ở hai chái là dạng kẻ chuyền, ăn xuyên qua các cột

và tiếp xúc với nhau thông qua câu đầu đặt trên 02 cột cái Độ cao và khoảng cách các cột không đều nhau, cột cái cao 4,5m, chu vi 2,1m Cột quân có chiều cao 3,2m, chu vi 1,63m Khoảng cách của cùng một gian giữa từ cột cái đến cột quân là 1,61m và khoảng cách hai cột cái là 3,37m Hai cột cái được nối với nhau bằng câu đầu, câu đầu đặt thẳng lên đầu hai cột cái thông qua hai mộng én nông

Những tảng khối kê chân cột cùng được làm từ một loại chất liệu đá xanh xám, bình đồ hình vuông, mặt trên tiếp xúc với chân cột có hình tròn, cao hơn mặt nền 3,5cm Do đã trùng tu và sửa chữa nhiều lần nên các tảng kê chân cột đã bị thay thế nhiều, tuy nhiên chất liệu vẫn được giữ nguyên Các tảng kê chân cột nhằm mục đích tôn cao hệ thống kiến trúc, tránh bị lún nền

và không cho chân các cột gỗ tiếp xúc trực tiếp xuống mặt đất Đồng thời,

Trang 39

phòng ngừa mối mọt và ẩm thấp của khí hậu nhằm bảo quản tốt cho kết cấu

gỗ cũng như toàn bộ kết cấu ngôi đình được bền vững Khoảng hiên đua mái rộng 1,2m, chúng được nối liền thông qua các kẻ tỳ lực lên hệ thống cột quân

và hệ thống cửa Trước đây, cửa ra vào là hệ thống cửa “bức bàn” nhưng hiện nay cửa ra vào đại đình được thay bằng cửa “Thượng song hạ bản” với mục đích vừa là thẩm mỹ lại vừa thu ánh sáng tự nhiên vào bên trong công trình

+ Kết cấu bộ vì

Kết cấu vì kèo của đơn nguyên này được làm theo kiểu “Chồng rường giá chiêng” Trên cùng bộ vì nóc là thượng lương được đỡ bởi đấu kê, phía dưới là đấu hình thuyền đỡ thượng lương, đỡ phía dưới đấu hình thuyền là một thân rường được đặt lên hai cột giá chiêng nằm dọc, hay còn được gọi là cột chốn Hai cột chốn được đỡ bởi hai chân đấu kê vuông Phía ngoài của giá chiêng là những con rường cụt được chạm hình hoa văn vân mây, giữa hai con rường được đặt trên một đấu kê ngăn cách, tác dụng chính của những con rường này nhằm mục đích đỡ hoành mái Toàn bộ các chi tiết gỗ trên đều được đỡ bởi câu đầu, phía dưới của câu đầu có gắn các đầu dư, chạm hình rồng mục đích tạo sự kiên cố cho bộ vì nóc và tăng tính thẩm mỹ, uy nghiêm cho di tích Ngoài ra, các cột cái, cột quân và cột hiên được liên kết với nhau bởi các xà thượng, xà trung và xà hạ Hai vì kèo đầu hồi có dùng cột góc và kẻ góc Các đầu kẻ ở hai phía đầu hồi được gối lên tường gạch Bên cạnh đó, các đầu dư gắn dưới bụng câu đầu và đầu cột cái đều được chạm khắc hình rồng mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê

Về phương diện trang trí và bố cục trang trí có thể nhận thấy, các con rường và kẻ không có nhiều họa tiết, tuy chỉ được soi gờ kẻ chỉ, hoạ tiết hoa văn chỉ điểm các hoa lá một cách thưa thớt Đầu dư là một đầu rồng chạm nổi tinh tế, trên thân các rường cụt và đầu kẻ có trang trí các hoa văn lá lật dạng hình rồng cách điệu Phần trang trí kiến trúc tập trung chính vào các bức cốn,

xà nách trên các bộ bì kiến trúc

Trang 40

* Kết cấu mái

Đứng từ hai phía đầu hồi nhìn lên, mái đình hiện rõ với hình dáng rộng, thấp, đua ra bao phủ và chiếm đến 2/3 diện tích chiều cao của toàn bộ kiến trúc công trình, đồng thời đây chính là một trong những bộ phận chính trong hệ kết cấu của toà nhà Các đường bờ nóc, bờ dải được đắp cao chắc chắn làm cho hệ mái bền vững, bờ dải được đắp xi măng, soi gờ để trơn và chạy thẳng xuống phía dưới rồi uốn cong tại các đầu đao

Mái đại đình được lợp bằng một loại ngói ta, dưới cùng có một lớp ngói lót Bờ guột soi gờ kẻ chỉ, bốn mái đình buông thấp như sắp muốn đổ mình xuống mặt đất, khi gặp các trụ vuông ở bốn góc như đang nâng đỡ toàn

bộ hệ mái rồi uốn cong theo chiều hướng vút lên tạo thành các đao đình, tàu mái Về mặt mỹ thuật học và biểu tượng học, theo tác giả Trần Lâm Biền cho rằng: Mái đình mang ý nghĩa biểu trưng cho một con thuyền úp ngược, trong đó những điểm xô, điểm kìm trên hệ mái trong không gian thiêng này

đã được hình tượng hóa như sự tác động của những cơn sóng trong dòng nước mẹ đang vỗ vào mạn thuyền, vừa xô đẩy lại vừa kìm chặt trong tư thế chuyển mình trên dòng nước lớn Ý nghĩa biểu tượng đó minh chứng rằng, cộng đồng cư dân vẫn không nguôi nhớ về cuội nguồn của dân tộc ta

Như vậy, hệ mái và trang trí trên hệ mái chính là một tác phẩm nghệ thuật đương thời mà những nghệ nhân dân gian cố gắng truyền tải những nội dung tư tưởng, tình cảm cùng những ước vọng của cộng đồng cư dân nơi đây muốn gửi lại cho các thế hệ sau này

* Tòa Ống muống

Đây là gian nối tòa Đại đình với Hậu cung, là sản phẩm của quá trình

mở rộng Hậu cung về phía sau của đình làng Đức Hậu Đơn nguyên Ống muống còn có chức năng tạo ra mặt bằng tổng thể kiến trúc điển hình của một thời kỳ lịch sử phát triển đình làng của người Việt

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w