1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu giá trị kiến trúc nghệ thuật đình ngăm lương, xã lãng ngâm, huyện gia bình, tỉnh bắc ninh

131 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu giá trị kiến trúc – nghệ thuật đình ngăm lương (xã lãng ngâm, huyện gia bình, tỉnh bắc ninh)
Tác giả Nguyễn Việt Cường
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Tri Phương
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Tàng Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 7,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu đã được nêu rõ trong đề tài,đối tượng chủ yếu là di tích đình Ngăm Lương hiện có, với toàn bộ các đơn nguyên kiến trúc, các mảng trang trí trên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

*********

NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – NGHỆ

THUẬT ĐÌNH NGĂM LƯƠNG (XÃ LÃNG NGÂM, HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TH.S NGUYỄN TRI PHƯƠNG

Hà Nội, 2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ ĐÌNH LÀNG NGĂM LƯƠNG 8

1.1.Tổng quan về làng Ngăm Lương 8

1.1.1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 8

1.1.1.1.Vị trí địa lí 8

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 9

1.1.2 Lịch sử dân cư làng Ngăm Lương 11

1.1.3 Đời sống cư dân 14

1.1.4 Truyền thống văn hóa và cách mạng 16

1.2 Lịch sử ra đời và quá trình tồn tại đình Ngăm Lương 22

1.2.1 Lịch sử ra đời 22

1.2.2 Quá trình tồn tại đình Ngăm Lương 25

1.3.Lịch sử vị thần được thờ trong đình Ngăm Lương 26

1.3.1.Vài nét về tục thờ Thủy thần của người Việt, trường hợp tỉnh Bắc Ninh khu vực bờ nam sông Đuống 27

1.3.2.Nhân vật được thờ trong di tích đình làng Ngăm Lương 30

Chương 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH NGĂM LƯƠNG 33

2.1 Giá trị kiến trúc 33

2.1.1 Không gian cảnh quan 33

2.1.2 Bố cục mặt bằng 37

2.1.3 Kết cấu kiến trúc 38

2.1.3.2 Đại đình 39

2.1.3.3 Hậu cung 46

2.2.Giá trị điêu khắc – trang trí đình làng Ngăm Lương 47

2.2.1 Điêu khắc – trang trí trên kiến trúc 47

2.2.1.1.Nghi môn 47

2.2.1.2 Đại đình 48

Trang 3

2.2.2.Điêu khắc – trang trí trên di vật, đồ thờ đình Ngăm Lương 60

2.2.2.1 Chất liệu gỗ 61

2.2.2.2 Chất liệu giấy 66

2.2.2.3.Chất liệu đồng 69

2.3 Lễ hội đình làng Ngăm Lương 70

2.3.1.Vài nét về lễ hội cổ truyền Việt Nam 70

2.3.2.Những ngày tiết lệ của đình làng Ngăm Lương 72

2.3.3.Lễ hội chính của đình làng Ngăm Lương 73

Chương 3: THỰC TRẠNG DI TÍCH VÀ CÁC VẤN ĐỀ BẢO TỒN, TU SỬA, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH LÀNG NGĂM LƯƠNG 81

3.1.Thực trạng di tích đình Ngăm Lương 81

3.1.1.Hiện trạng cảnh quan, kiến trúc: 81

3.1.2.Hiện trạng các di vật đình Ngăm Lương 85

3.2.Vấn đề bảo tồn di tích 86

3.2.1.Cơ sở pháp lí cho việc bảo tồn di tích 86

3.2.2.Giải pháp bảo tồn, tu sửa di tích 89

3.2.2.1.Giải pháp bảo quản đối với di tích đình Ngăm lương 89

3.2.2.2 Giải pháp tu bổ di tích đình làng Ngăm Lương 93

3.3 Phát huy giá trị di tích đình Ngăm Lương 93

3.3.1.Những giá trị của di tích đình làng Ngăm Lương 93

3.3.2 Một số giải pháp phát huy giá trị di tích đình làng Ngăm Lương 94

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã để lại một khối lượng Di sản văn hóa đồ sộ và quý giá trên cả hai phương diện vật thể và phi vật thể Trong đó, các di tích lịch sử- văn hóa chiếm một tỉ lệ không hề nhỏ trong kho tàng Di sản của dân tộc, đó là nơi đang lưu giữ những di vật, cổ vật và bảo vật có giá trị về lịch sử, văn hóa và khoa học Đình làng với tư cách là một loại trong loại hình di tích kiến kiến trúc- nghệ thuật mang trên mình đầy đủ vai trò của một trung tâm tín ngưỡng, hành chính và văn hóa của

cả một làng qua nhiều thời kỳ lịch sử Mọi nguồn lực, trí tuệ và tinh hoa văn hóa của một làng xã cổ truyền được tích tụ trong ngôi đình làng mà ngày nay, chúng ta đều phải có trách nhiệm gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp này Đảng và Nhà nước luôn chủ trương xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tìm hiểu về đình làng là một trong những ngả đường tìm về cội nguồn, về bản sắc văn hóa dân tộc

Đình làng Ngăm Lương thuộc thôn Ngăm Lương, xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh là ngôi đình cổ, thờ 3 vị Thủy thần, có vai trò quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy đời sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước từ thuở sơ khai, khi người Việt tiến xuống khai phá vùng đồng bằng sông Hồng cách ngày nay hơn 2000 năm Đình được xây dựng vào thế kỉ XVIII và có quy mô khá bề thế, ẩn chứa nhiều giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa tín ngưỡng và kiến trúc- nghệ thuật Đặc biệt trên lĩnh vực kiến trúc-nghệ thuật, đây là một trong những đại diện cuối cùng, xuất sắc của nghệ thuật điêu khắc đình làng Bắc Bộ trong ba thế kỉ vàng của văn hóa dân gian Đình đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh xếp hạng là

di tích Lịch sử- Văn hóa theo Quyết định số 61/QĐ – UBND ngày 15/1/2009 Nằm trên vùng đất Kinh Bắc nghìn năm văn hiến, đình Ngăm Lương ẩn chứa nhiều dấu tích kiến trúc từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn Nhưng

Trang 5

việc nghiên cứu các giá trị đặc sắc này còn mới mẻ, chưa được nghiên cứu, tiếp cận một cách có hệ thống:

- Năm 1938, chính quyền thực dân Pháp đã tiến hành thống kê, kiểm kê

hệ thống thần linh, thần tích, thần sắc ở Việt Nam để phục vụ cho mục đích

đô hộ, cai trị của chúng Viện Viễn Đông bác cổ lưu giữ những tài tài liệu

này, nay được kế thừa trong cuốn : “ Thư mục thần tích thần sắc” của Viện

Thông tin Khoa học – Xã hội, đình Ngăm Lương thời đó được kê khai ngắn gọn

- Hàng năm, Ban Quản lí di tích tỉnh Bắc Ninh có các đợt thống kê, kiểm

kê di tích nhằm thu thập những thông tin về di tích, phát hiện ra những vấn đề mới mẻ, trong đó cũng giới thiệu khá đầy đủ trên 2 vấn đề chính là lịch sử làng xã, phong tục tập quán và giá trị của di tích

- Năm 2005, Lê Viết Nga biên soạn cuốn : “ Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh” trên cơ sở kết quả của các lần kiểm kê di tích này

- Hiện nay, có một bài viết ngắn của trường THCS Lãng Ngâm giới thiệu tổng quan về đình và truyền thống văn hóa của làng Ngăm Lương Bài này cũng được dùng để giới thiệu trong Cổng thông tin điện tử huyện Gia Bình, phần di tích lịch sử Bài viết đã giới thiệu khái quát những giá trị nổi bật của di tích, tuy nhiên còn khá tản mạn và chưa thật đầy đủ Còn nhiều vấn đề cần phải đi sâu nghiên cứu như nghệ thuật trang trí, kiến trúc, vấn đề lịch sử,

Trang 6

Đối với cá nhân, tôi thấy đình Ngăm Lương có một sự hứng thú đặc biệt bởi nó mang trên mình nhiều mảng chạm khắc đẹp, tiêu biểu ở nhiều giai đoạn lịch sử mỹ thuật Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XX Việc phân tích, bóc tách các lớp kiến trúc, đưa giả định kiến trúc nguyên thủy, rồi sự biến đổi, bổ sung sau này vô cùng thú vị Hơn nữa, đây là cơ hội để có thể vận dụng những kiến thức chuyên ngành đã được tích lũy ở trên giảng đường vào thực tiễn, tập dượt khả năng nghiên cứu, viết bài

Với tất cả những lí do khách quan và chủ quan như vậy, tôi quyết định chọn

đề tài : “Tìm hiểu giá trị kiến trúc nghệ thuật đình Ngăm Lương, xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại

học

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đã được nêu rõ trong đề tài,đối tượng chủ yếu là di tích đình Ngăm Lương hiện có, với toàn bộ các đơn nguyên kiến trúc, các mảng trang trí trên kiến trúc, di vật, đề tài trang trí đắp vôi vữa, cảnh quan, các hạng mục xung quanh đình, lễ hội và tín ngưỡng thờ thành hoàng

Vũ (Bắc Giang), đình Hàng Kênh (Hải Phòng) …

Về thời gian, tuy ngôi đình có từ lâu đời nhưng sẽ chỉ đề cập tới di tích từ thế kỉ XVIII tới nay vì chưa tìm thấy dấu vết vật chất nào ở đây có trước thời kì này

Trang 7

Về loại hình, dù có đối tượng chính là đình Ngăm Lương nhưng các ngôi chùa, đền thờ vẫn bảo lưu được nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, các di vật có giá trị nghệ thuật điêu khắc thế kỉ XVII, XVIII và XIX vẫn được dùng để so sánh

Hơn nữa, để có thêm tư liệu đối sánh về các trang trí điêu khắc, sẽ sử dụng các tư liệu mĩ thuật cổ ( điêu khắc và hội họa) trên các chất liệu khác

Đó là các đồ án trang trí trên đồ gốm sứ, bia đá, gạch trang trí kiến trúc có niên đại từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XX

Ngoài ra, để tìm hiểu các giá trị còn lại, sẽ kế thừa có sáng tạo các tư liệu

về tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, lễ hội truyền thống, sinh hoạt làng xã…

4 Mục đích nghiên cứu

Là nghiên cứu các giá trị về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, tín ngưỡng, sinh hoạt làng xã của đình Ngăm Lương

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp cơ bản nhất là điền dã thực địa như : đo vẽ, chụp ảnh, thống kê phân loại, phân tích và so sánh, giải mã biểu tượng, phỏng vấn…

- Phương pháp kết hợp liên ngành như : Hán Nôm, nghệ thuật học ( phong cách tạo hình, đặc trưng mĩ thuật từng thời kì), văn hóa học, sử học…

- Vận dụng triệt để phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

để xem xét, nhìn nhận các sự vật, hiện tượng và sự kiện lịch sử

6 Bố cục của Tiểu luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, bố cục bài viết gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Diễn trình lịch sử đình làng Ngăm Lương

Chương 2 : Giá trị kiến trúc – nghệ thuật và lễ hội đình Ngăm Lương

Chương 3 : Thực trạng di tích và các vấn đề bảo tồn, tu sửa, phát huy giá trị di tích đình làng Ngăm Lương

Trang 8

Chương1 DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ ĐÌNH LÀNG NGĂM LƯƠNG

1.1.Tổng quan về làng Ngăm Lương

1.1.1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

1.1.1.1.Vị trí địa lí

Đình Ngăm Lương tọa lạc ngay tại đầu làng Ngăm Lương, Xã Lãng

Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Làng có tên chữ là Ngâm Điền, tên

nôm là làng Ngăm hay Ngăm Lương, nằm ở bờ nam sông Đuống, là cực tây

bắc của huyện Gia Bình Phía đông giáp làng An Quang và dãy núi Thiên

Thai, nơi cư trú lâu đời của cư dân Đông Sơn với di chỉ Vườn Chiều, Mả

Vường Phía bắc là sông Đuống ( sông Thiên Đức) là tuyến đường thủy quan

trọng nối sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình Phía tây giáp làng Mão

Điền Phía nam giáp làng Ngọc Xuyên và quốc lộ 18B ( tuyến đường bộ thiên

lí Phả Lại - Hà Nội) và làng đúc đồng Đại Bái cổ truyền bên dòng sông Bái

Giang nổi tiếng chảy qua nhiều làng nghề thủ công Làng Ngăm Lương là một

vùng đất trũng, rìa tây dãy núi Thiên Thai (cao 260m so với mực nước biển),

nơi kết thúc của vùng núi Đông Bắc để mở xuống vùng đồng bằng rộng lớn

và trông ra hồ Lãng Bạc và biển Đông

Về mặt địa lí, Ngăm Lương là một thôn nằm trong nội địa, không giáp

biển nhưng cũng không lấy gì làm xa biển Tính theo đường chim bay, từ

Ngăm Lương ra vịnh Hạ Long khoảng hơn 50 km và tất nhiên, ảnh hưởng của

biển vào đây về nhiều mặt Địa phận Ngăm Lương nằm trong lưu vực sông

Đuống, do phù sa của con sông này bồi nên và trong vùng mà các nhà địa lí

gọi là thượng đồng bằng sông Hồng

Làng cách trung tâm huyện Gia Bình 5km về phía tây bắc, cách Hà Nội

36km về phía đông Từ Hà Nội qua cầu Vĩnh Tuy đi theo quốc lộ 5 đến ngã từ

Phú Thị rẽ trái vào đườngquốc lộ 18B, qua các địa danh Sủi, Keo, Dâu, Đông

Trang 9

Côi, đến ngã tư Cống Đoan-Đại Bái thì rẽ trái vào tỉnh lộ 281 khoảng 2km nữa là đến

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Làng Ngăm Lương được bồi tụ bởi dòng phù sa cổ của sông Đuống, nằm trong khu vực địa hình bồi tụ trên tàng sét biển với núi sót ít Sự xê dịch dòng chảy của sông Đuống, sông Nghi Tuyền, sông Nghi Khúc có tác dụng cấu tạo địa hình và bồi đắp phù sa cho nơi này Đây là nguyên nhân hình thành nên cánh đồng Ngăm chiêm trũng Trong khu vực này, sông Nghi Khúc và sông Nghi Tuyền là hai khúc sông chết nằm phía trong đê đã bị bồi lấp dần và được nhân dân cải tạo thành những cánh đồng sâu Vùng đất được phủ dày bởi một lớp phù sa mới Mặt khác, vào những năm đê vỡ, nước lũ tràn vào trong đê cũng tạo điều kiện cho sự lắng đọng của phù sa mới khá dày, đất đai màu mỡ hơn, trong đó, phù sa sông Đuống có độ phì nhiêu đáng kể Sự lắng đọng của tầng phù sa mới trên bề mặt của tầng sét biển đã tạo điều kiện thuận lợi làm tăng độ phì nhiêu của đất Thành phần của đất phù sa nơi đây bao gồm cát và sét hạt nhỏ mịn Thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây chất đất phù sa màu mỡ,

ẩm, lượng mưa trung bình năm từ 1400 – 1600 mm, rất thích hợp với canh tác cây lúa nước và nhiều loại cây màu Sông Đuống cung cấp cho làng một nguồn nước dồi dào, lòng sông rộng trung bình về mùa cạn 200-250m, về mùa lũ 600-800m, độ sâu trung bình từ 6-7 m, về mùa lũ 9-12m Hơn nữa, độ bùn cát đục trong sông rất lớn, sbq xấp xỉ 950g/m3, là nguồn tài nguyên cát đen lớn, chủ yếu đáp ứng cho ngành xây dựng

Từ xa xưa, bên cạnh nghề nông, cư dân còn biết trồng dâu, chăn tằm, dệt đũi mà ở bìa làng nay còn đền Ba thờ ông tổ và chùa làng phối thờ bà tổ nghề dệt Nằm ở vị trí gần chân đồi núi thấp, lại đất đai màu mỡ, nước có quanh năm nên từ lâu, người Việt cổ đã chọn nơi đây để sinh sống với hàng loạt hố khảo cổ do Bảo tàng Lịch sử khai quật thuộc nền văn hóa Đông Sơn khoảng thế kỉ III – II TCN nằm giữa làng An Quang và làng Ngăm Lương Trải qua hàng nghìn năm khai phá, dưới những đôi bàn tay cần cù và những kinh

Trang 10

nghiệm trong lao động sản xuất, người dân Ngăm Lương đã biến mảnh đất trũng xưa kia trở thành những bờ xôi ruộng mật Làng hiện có diện tích đất tự nhiên là 125 ha, trong đó đất canh tác nội đồng là 290 mẫu và 5 mẫu đất bãi ven sông Nơi đây đã hình thành nên các địa danh, xứ đồng cổ như: đồng Cầu Bền,đồng Khu Quan, đồng Xôi Mới, đồng Cầu Trắng, đồng Cầu Ngang, đồng Vườn Tho, đồng Cầu Vuông, Giếng Chua, đồng Đìa, đồng Cửa Đình…trong

đó, khu đồng Đìa là thấp nhất, hầu như ngập nước quanh năm, nhân dân gọi vui nhiều nước vậy cho nên xã mới tên là : “Lãng Ngâm” tức là vùng đất bị “ Ngâm”!

Hơn nữa, do vị thế của làng nằm ở nơi giao thoa của nhiều tuyến đường, bao gồm cả đường bộ lẫn đường thủy nên từ xa xưa, cư dân đã sớm tiếp nhận nhều ngành nghề, đem lại thu nhập không hề nhỏ Làng nằm ở giáp sông Đuống, giữa đường đê và đường cổ “ Thiên lý” Đây đều là những tuyến đường huyết mạch của xứ Bắc, Sông Thiên Đức nối sông Hồng với hệ thống sông Lục Đầu tức là nối liền Thăng Long-Hà Nội với các tỉnh phía đông như Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng Sông Bái Giang, sông Nghi Khúc, sông Nghi Tuyền ở phía nam của làng đi qua nhiều làng nghề như tre trúc Phúc Lai, đúc đồng Đại Bái, nấu rượu Gia Phú, thợ mộc Bình Ngô, sơn Định Cương, quạt giấy Kỳ Khúc, làm nón Tỉnh Ngô… mà cả con đường quốc lộ 18B mà nhà giới nghiên cứu mĩ thuật Phan Cẩm Thượng, trong công trình

“Văn minh vật chất của người Việt” cho là con đường bộ cổ nhất Việt Nam

Phía đông của làng, tức là núi Thiên Thai sơn thủy hữu tình, có núi cao và sông chảy vòng quanh, là một thắng cảnh, tụ khí thiêng nên từ lâu, các triều đại phong kiến đã chọn nơi đây làm hành cung, xây chùa chiền, miếu mạo như chùa Tĩnh Lự, Lệ Chi Viên, đền Thái sư Lê Văn Thịnh, một số mộ Hán Nên rất có thể nơi đây đã là nơi lui tới thường xuyên của giới quý tộc cai trị, rất có khả năng những di tích đó có đóng góp của của họ, hình thành một trung tâm đông đúc, nhộn nhịp

Trang 11

Tất cả những điều kiện thuận lợi đó đã đủ khiến cho nơi đây sớm hình thành nên một làng sản xuất nông nghiệp lúa nước, kết hợp với nghề thủ công

và cả buôn bán vào các thế kỉ sau này

1.1.2 Lịch sử dân cư làng Ngăm Lương

Ngăm Lương là một vùng đất cổ, đã có cư dân đến khai hoang, trồng trọt, sinh sống từ rất sớm Nguyên nhân chính là nơi đây hội tụ đầy đủ những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho người Việt định cư từ buổi đầu xuống khai phá vùng đồng bằng sông Hồng, là ven chân đồi núi thấp, đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào Thời Hùng Vương, nơi đây thuộc đất bộ Vũ Ninh, bộ lạc Dâu ( Luy Lâu) Bằng kết quả khai quật khảo cổ học mà quan trọng là những phát hiện về thời đại Đông Sơn trong cuộc thám sát năm 1972 của Bảo tàng Lịch sử, chúng ta chúng ta có thể biết chắc chắn rằng vùng đất này vào khoảng thế kỉ III – đầu thế kỉ II TCN đã có con người đến sinh sống Năm

1972, giữa lúc giặc Mĩ dùng máy bay B52 ném bom miền Bắc, một số cán bộ, công nhân nhà máy diêm Thống Nhất - Hà Nội về đây sơ tán Trong lúc cùng nhân dân địa phương đào hầm hố chống bom Mĩ, đã phát hiện một số hiện vật bằng đồng thau tại ven sườn núi Cả

Di chỉ khảo cổ học Lãng Ngâm ở vị trí 21o4’48’’ vĩ Bắc và 10608’36’’ kinh Đông, nằm theo chân phía Tây Nam núi Cả trong dãy Thiên Thai, bên hữu ngạn sông Đuống với diện tích tới hàng vạn mét vuông, cách Hà Nội khoảng 36km về phía Đông Đông Bắc, cách Bắc Ninh 15km về phía Đông Nam

Hiện vật thu được tại di chỉ Lãng Ngâm tổng cộng trên 5 hố A, B, C, D

và E :

Những hiện vật bằng đồng như: Rìu đồng (rìu lưỡi xéo cân xứng, rìu hình chữ nhật, rìu gót vuông, rìu xéo minh khí); giáo đồng (giáo có tiết diện hình trám dẹt); lao đồng; dao găm cán hình người; cái mổ; mảnh che ngực; dao gọt; đục đồng; nắp bình đồng, quả cân; mảnh quai trống hoặc quai thạp; trống đồng minh khí; mảnh đồng trang trí hình người, hình động vật

Trang 12

Hiện vật bằng đá: Có 1 chiếc vòng đá đã bị gãy nhưng gắn lại vẫn giữ được hình dáng cũ Chất liệu được làm bằng đá nê-frit, vòng có một khe hở cắt vuông góc với vòng tròn, hai bên khe hở có hai lỗ thủng có lẽ lỗ để buộc dây

Hiện vật bằng gốm như: Dọi se chỉ và những mảnh đồ gốm cho thấy đây

là đồ dùng và đồ đun nấu Miệng đồ gốm rất đa dạng, đặc điểm càng lên thành miệng càng dày Chân đế có 2 loại, chân đế thẳng và chân đế loe được trang trí bằng những đường chải dọc Nhìn chung đồ gốm có màu xám trắng, một ít có màu xám hồng và xám đen, có 2 loại chất liệu là mịn và thô, có độ nung cao nên mảnh gốm cứng

Sau khi thám sát ở các hố, dựa vào tầng văn hóa và các hiện vật trong hố thám sát đã có nhận xét ban đầu:

Di chỉ Lãng Ngâm là một di chỉ khảo cổ học lớn, kéo dài từ chân núi Cả cho đến suốt cánh đồng Mả Vường, Vườn Chiều, được chia làm 2 khu vực là khu mộ táng và khu cư trú Khu mộ táng nằm ven theo chân núi Cả, khu cư trú kéo dài từ chân núi Cả ra suốt cánh đồng Mả Vường Tuy phân bố thành 2 khu, nhưng hiện vật hoàn toàn giống nhau cả về chất liệu và trình độ chế tác

Vì vậy di chỉ Lãng Ngâm vừa là nơi cư trú đồng thời vừa là nơi mai táng Hiện vật phong phú và rất độc đáo như: Đồ đồng chủ yếu là công cụ sản xuất và dụng cụ sinh hoạt (rìu hình chữ nhật, rìu lưỡi xòe, rìu lưỡi xéo, nắp bình, dao gọt, các loại đục, giáo ,lao, dao găm cán hình người và hình củ hành, mổ đồng, trống minh khí…); đồ đá có trang sức bằng vòng đá; đồ gốm

có dọi se chỉ, các loại đồ đựng và đồ đun nấu Hiện vật ở Lãng Ngâm đều mang tính chất bản địa rất đặc sắc, đó là sản phẩm của dân cư nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, đồng thời cũng có sự trao đổi văn hóa giữa vùng này với vùng kia Cố GS Trần Quốc Vượng cho rằng di chỉ Lãng Ngâm chắc chắn thuộc văn hóa Đông Sơn, với một khu mộ địa đầy ắp đồ đồng ở chân núi Cả thuộc dãy Đông Cứu ( Thiên Thai), đan xen đầy mộ gạch cổ Đông Hán – Lục Triều, khoét sâu vào lòng núi, một khu cư trú Vườn Chiều trải rộng hàng vạn

Trang 13

mét vuông trong dải đất phù sa trên bãi trong đê sông Đuống ken dày đặc gốm

“ Đường Cồ”, “ Gò Mun muộn” và kha khá gốm lạ, có thể là Chiến Quốc… Thời Bắc thuộc, cùng với việc xuất hiện cấp độ hành chính huyện, Ngăm Lương thuộc huyện Nam Định ( bao gồm 2 huyện Gia Bình và Lương Tài hiện nay) Thời Lý, Trần thuộc phủ Siêu Loại, lộ Bắc Giang

Qua điều tra hồi cố các cụ cao tuổi, ta biết được trong nhân dân còn truyền cho nhau qua nhiều thế hệ là vào thời Lý, do nhu cầu xây dựng sơn lăng cấm địa mà có cuộc di dân lớn và có tổ chức từ phủ Thiên Đức về phía nam sông Thiên Đức này Trong đó có làng Ngăm, một bô phận cư dân chuyển tới đây và hội nhập vào làng, trở thành một đơn vị hành chính thống nhất Làng Chằm bên cạnh làng Ngăm có tên chữ là Mão Điền tương truyền cũng hình thành từ cuộc di dân phủ Thiên Đức thời đó Hẳn khi về đây sinh sống, người xưa nhận thấy đây không chỉ có mạch đất tốt, thuận lợi cho việc

trồng lúa nước, mà về mặt phong thủy, đây là thế đất “tụ linh tụ khí” sinh cơ

lập nghiệp đời đời con cháu sẽ được hưng thịnh Trong nhân dân còn lưu truyền câu ca:

“ Ngâm Điền có chín con dơi

Ai mà táng được đời đời quận công”

Vào thời Lê, làng Ngăm là một đơn vị cấp xã, gọi là Ngâm Điền xã Đến

cuối thời Nguyễn chính thức tên là xã Ngâm Điền, tổng Đông Cứu, huyện Gia Định, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc Làng Ngâm Điền cuối thời Nguyễn tách

ra thành thôn Tỉnh Cách, thôn Ngâm Điền Giáo và thôn Ngâm Điền Lương, đều thuộc xã Lãng Ngâm, tổng Đông Cứu, huyện Gia Bình, phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh Sau kháng chiến 1954, Ngâm Điền Giáo di cư vào Nam hết, thôn Tỉnh Cách đổi thành thôn Ngọc Tỉnh, thôn Ngâm Điền Lương đổi thành Ngăm Lương, xã Lãng Ngâm, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc Đến năm 1996, với Quyết định tái lập tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, làng Ngăm Lương lại thuộc về tỉnh Bắc Ninh Tại Nghị định số 68/1999/NĐ-CP ngày 9-8-1999, Chính phủ quyết định chia tách huyện Gia Lương tái lập thành 2 huyện Gia

Trang 14

Bình và Lương Tài, làng Ngăm Lương lúc này chính thức thuộc huyện Gia Bình và giữ nguyên tới nay Khi tìm hiểu sâu, ta còn biết một tên khác nữa là làng Ngăm Đũi vì làng xưa kia có nghề dệt đũi Ngăm Lương có 3 xóm : xóm Đình, xóm Chùa và xóm Bến Theo trưởng thôn Nguyễn Bá Tiến, làng Ngăm Lương hiện nay có 660 hộ gia đình với 2.432 nhân khẩu, trong đó có

14 hộ đồng bào Công giáo với 67 giáo dân

1.1.3 Đời sống cư dân

Làng Ngăm hiện nay có tới gần 40 dòng họ, trong đó có các dòng họ lớn

là họ Phạm, họ Nguyễn Bá, Họ Nguyễn Đăng…Theo các bậc cao niên thì dòng họ Phạm là một trong hững dòng họ đầu tiên về lập làng Trải qua nhiều đời liên tục cải tạo, một vùng đất trũng nay đã trở thành xóm làng trù mật Thuở xa xưa, những cư dân Đông Sơn đến định cư nơi đây đã biết trồng trọt, canh tác lúa màu và sau này có thêm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt đũi, thợ nề, buôn bán cùng tồn tại song song

Trong cuốn “Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí” ( quyển hạ) biên soạn năm

Thành Thái thứ 3 ( năm 1891), sao lại năm Bảo Đại thứ 8 ( năm 1913) khảo

về cổ tích, phong thổ , trong phần Kĩ nghệ có nhắc đến nghề thợ nề có xã Ngâm Điền, nghề dệt tơ lụa có xã Ngâm Điền, nón bồng ở Tỉnh Cách ( một thôn nhỏ tách ra khỏi Ngâm Điền) Nghề dệt ở đây có từ rất sớm và lưu truyền đến gần đây Người trong vùng tự hào với câu ca:

“Ngăm Đũi có gốc cây đề

Có sông tắm mát, có nghề cửi canh”

Đũi là loại tơ tằm loại hai, màu trắng và rất được tầng lớp trung lưu ưa chuộng vì hợp túi tiền và lại diện Do diện tích đất bãi ít nên gái làng Ngăm phải đi mua thêm lá dâu ở các làng xóm lân cận Hiện dân làng còn đền thờ ông tổ nghề dệt ở đền Ba, bà tổ nghề dệt ở trong chùa làng, việc tế tự bên cạnh Thành hoàng Đền Ba cũng là di tích có mặt sớm ở ngôi làng này Hiện nay do biến động của nền kinh tế thị trường, nghề dệt ở đây đã dần mai một Tuy nhiên, với sự nhạy bén vốn có, nhân dân địa phương đã nhanh chóng nắm

Trang 15

bắt thời cơ, chủ động chuyển dịch Hiện nay làng không còn dệt đũi nữa mà

chuyển sang nghề may gia công Vốn được coi như một nghề phụ nhằm kiếm

thêm thu nhập những ngày nông nhàn, nhưng giờ đây nghề may công nghiệp

ở Ngăm Lương tạo ra bước tiến kinh tế đáng kể, làm nên diện mạo mới, khang trang cho vùng quê này Toàn thôn Ngăm Lương có tới 80 % số hộ làm nghề may công nghiệp, tạo việc làm ổn định cho 400 lao động, số hộ nghèo giảm xuống dưới 5%

Hộ ít cũng có vài ba máy, những hộ nhiều có thể lên đến hai chục máy khâu, vắt sổ và máy thêu tự động Nghề may không quá khó nên thu hút được mọi lứa tuổi Một số công đoạn đòi hỏi kỹ thuật như cắt vải, vắt sổ, may những đường phức tạp, thêu các họa tiết khó… thì cần những thợ có tay nghề

và kinh nghiệm, còn những công đoạn cắt chỉ, gấp, đóng gói sản phẩm thì cả người già và trẻ em đều có thể làm được Chính vì vậy đã tận dụng tối đa lao động trong thôn, tạo công ăn việc làm và mức thu nhập ổn định từ 1,5 đến 5 triệu đồng/người/tháng Ngăm Lương trở thành trung tâm may mặc của huyện Gia Bình, mỗi tháng xuất ra thị trường hàng triệu sản phẩm may mặc, đa dạng

về chủng loại từ sản phẩm dệt kim tới các sản phẩm thêu cao cấp có giá trị cao

Nếu nghề nuôi tằm dệt vải dành cho phụ nữ cho thu nhập cao thì nghề nề của đàn ông đem lại danh tiếng cho dân làng Hiện bên góc chái trong đình còn có ban thờ ông tổ nghề nề Những người thợ giỏi của làng nổi tiếng trong vùng về nghề xây đắp Họ được mời đi làm những việc đòi hỏi tay nghề cao như đắp cột trụ, câu đối, trang trí ở đền miếu chùa chiền Tên tuổi của các thợ

cả giỏi những năm gần đây dù đã khuất bóng nhưng vẫn được dân làng ghi nhớ như các cụ: Nguyễn Huy Hách, Lê Tất Thiêm, Nguyễn Đăng Ư, Nguyễn Huy Cạch, Phạm Ích Chiến… thời kì đổi mới nghề nề vẫn được dân làng phát huy Trong khoảng 20 năm trở lại đây, đời sống của nhân dân được đổi mới và có những bước tiến đáng kể

Trang 16

1.1.4 Truyền thống văn hóa và cách mạng

- Các di tích lịch sử - văn hóa :

Là một làng quê lâu đời vùng Kinh Bắc văn hiến, làng Ngăm đã hình thành được ý thức tôn sùng mộ đạo, biết ơn những người có công với dân Niềm tin đó đúc kết thành các loại tín ngưỡng tồn tại từ lâu trong làng như thờ

tổ nghề, thờ Phật, và thờ Thành hoàng là thủy thần Các tín ngưỡng tốt đẹp đó thể hiện cụ thể là các di tích/thiết chế văn hóa truyền thống mà dân dân đã kiến tạo nên, tương ứng với sự phát triển kinh tế của làng Làng Ngăm xưa kia

có tới 5 di tích bao gồm 1 đền, 1 chùa, 2 đình và 1 nghè

Làng có đền Ba, thờ ông tổ nghề dệt đũi, dạy dân làng cách trồng dâu

nuôi tằm bên cạnh việc canh tác lúa màu Ở chùa làng ( Phổ Thành tự) còn có ban thờ bà Tổ nghề dệt Cả 2 vị đều không còn lưu lại sự tích Theo dân làng truyền lại, đền Ba vốn trước kia là đình làng (hoặc cũng có thể có chức năng như đình làng ) khi dân còn nghèo Sau này, khi dân có lực mới xây ngôi đình mới khang trang to đẹp hơn làm nơi sinh hoạt chung, hàng năm cầu phúc (có thể chưa kết hợp việc thờ Thành Hoàng) thì ngôi đền cũ cũ trở thành ngôi đền thờ tổ nghề dệt của làng Dựa vào những quan điểm thống nhất của các học giả về lịch sử hình thành và phát triển của đình làng Việt Nam như cố GS Hà Văn Tấn, GS Trần Lâm Biền, TS Nguyễn Hồng Kiên và đặc biệt dấu vết vật chất sớm nhất còn lại ở đình làng Ngăm hiện nay là sản phẩm tu tạo khoảng thế kỉ XVIII, chúng ta có thể đi đến giả thiết rằng ngôi đình được tách khỏi đền ít nhất là vào nửa cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII hoặc sớm nhất cũng

là cuối thế kỉ XV Đền Ba nay vẫn còn, cũng nằm ở bìa làng và cách đình khoảng 50 m Ngôi đền hiện nay có quy mô nhỏ, tiền nhất hậu đinh, gồm 5 gian tiền tế, 5 gian trung tế và 3 gian hậu cung, mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn muộn, đầu thế kỉ XX Hệ thống di vật trong đền nay thất lạc

nhiều, nay còn có bức hoành phi cổ “ Khởi thánh đường”, tuy đã mờ mất

dòng lạc khoản/niên đại, nhưng đã chứng minh rằng các cụ ngày xưa muốn khẳng định ngôi đền là di tích sớm có ở làng và có chức năng như một ngôi

Trang 17

đình làng trước khi có ngôi đình như hiện nay Đền còn có bức hành phi

“ Tối linh kì thịnh” và đôi câu đối:

Đại thần anh linh cư chính vị

Hiển thánh ứng giáng độ trì dân

Ngay trung tâm của làng còn có ngôi chùa Phổ Thành Chùa được khởi

dựng từ thời Trần, vào tháng 9, năm Đại Trị thứ 9 ( năm 1366) do ảnh hưởng của thiền phái Trúc Lâm do 3 vị sư tổ vua Trần Nhân Tông, nhị tổ Pháp Loa,

tam tổ Huyền Quang người bản huyện thuyết giáo Văn bia “ Phổ Thành tự bi” do Trạng nguyên Hồ Tông Thốc soạn năm 1366 , ghi chép về việc một

người họ Lê và một người họ Phạm hưng công cùng với thiện nam tín nữ thập phương xây dựng chùa Đến năm Vĩnh Tộ 3 ( năm 1621) tiếp tục dựng bia có

tên “Phổ Thành tự bi” ghi việc tu bổ chùa, tạc 12 tượng Phật Năm Cảnh

Thịnh thứ 6 (năm 1798) lại đúc chuông đồng, sửa sang nơi thờ tự và đến năm

Tự Đức thứ 7 (năm 1854) tiếp tục trùng tu tôn tạo lớn Chùa Phổ Thành hiện

nay cấu tạo hình chữ “đinh” với dấu tích hiện còn là gác chuông có nhiều

mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thế kỉ XVIII và quả chuông đồng đúc năm 1798 thời Tây Sơn Trong chùa có tổng cộng 21 pho tượng, nhiều hành phi, câu đối đều có niên đại thời Nguyễn do Hội Thiện của làng cung tiến Hội Thiện là những người có danh vọng, tài sản, có tâm đức, góp công góp tiền xây dựng công quán ở làng Hội Thiện ở làng Ngăm hoạt động rất tích cực Trên gác chuông của chùa hiện còn một chuông đồng đúc ngày

14 tháng 3 mùa xuân năm Cảnh Thịnh thứ 6 ( năm 1798) và 3 bia đá, bao gồm :

- Bia “Phổ Thành tự bi” soạn tháng 9 năm Đại Trị thứ 9 ( 1366)

- Bia “Phổ Thành tự bi” soạn năm Vĩnh Tộ 3 ( 1621)

- Bia thứ 3, không có tiêu đề , soạn năm Tự Đức 7 ( 1854), bia này có hoa văn thời Hậu Lê nhưng bị xóa hết chữ để khắc lại vào năm này

Ngoài đê của làng ngay tại bến đò Ngăm trước kia còn có một cái nghè,

gọi là Nghè Ngăm trông ra sông Đuống Nghè có đặt 3 bài vị của 3 vị thủy

Trang 18

thần Tam vị Đại vương, chính là 3 vị Thành hoàng trong đình làng, được thờ chính tại đây để trực tiếp quản lí nguồn nước, chống thủy tai, bảo vệ xóm làng

và đồng ruộng Trong lễ hội, dân làng rước Thánh từ đình ra nghè, ngự tại đó rồi bơi ra sông múc nước nghênh thủy về làm lễ mộc dục Trong những năm kháng chiến, giặc Pháp đóng đồn bốt tại đây, phá dỡ nghè lấy gỗ nên hiện nay nghè không còn nữa Nhân dân địa phương còn lưu truyền câu ca:

“ Ngâm Điền có bến rửa chân

Có nghè năm nóc, có sân đánh cờ

Ở giữa có miếu thờ thờ Vua Dưới dòng nước chảy thuyền đưa dập dềnh”

Qua câu ca dao xưa, có nhắc đến chi tiết “ nghè năm nóc”, cho phép dự đoán

công trình này có thể có ít nhất 5 đơn nguyên kiến trúc, từng diễn ra hoạt động đánh cờ người ở sân nghè vào dịp hội hè Qủa thật đây là một chi tiết khá thú vị giúp hậu thế hình dung một di tích đã từng tồn tại ở nơi này

Với chi tiết “Ở giữa có miếu thờ vua”, phải chăng trong không gian ngôi

nghè cổ kính có tồn tại một ngôi miếu, thờ phụng một vị vua nào đó trong lịch

sử đã từng để lại dấu tích trên bến đò Ngăm này ?

Trong làng, ngoài ngôi đình thờ Thành hoàng bây giờ xưa kia còn một

ngôi đình Chợ, nằm ngay giáp mương nước, dưới dốc đê Đình thờ Bách

nghệ Tiên sư, vì có chợ họp ngay tại sân nên gọi là đình Chợ Chợ Ngăm họp phiên các ngày 5 và ngày 7, nay đã mất Theo lời kể của các cụ, đình Chợ làm bằng gỗ xoan, trải qua năm tháng bị sụp đổ quãng những năm 1952, vì chưa

có điều kiện phục dựng lại được nữa, nay chỉ còn lại phế tích

Đặc biệt, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng nơi đây được quan tầm hàng đầu Thuần phong mỹ tục được thể hiện từ tục thờ Thành hoàng làng sẽ phân tích ở phần sau

- Phong tục diễn xướng dân gian đặc sắc, tốt đẹp được thể hiện qua nghệ thuật hát chèo làng Ngăm

Trang 19

Ngăm Lương còn có nghệ thuật sân khấu truyền thống tích cực Hình thức diễn xướng dân gian này có từ lâu đời, xưa kia diễn hát cửa đình, hát Tuồng và Chèo ở lòng đình, trước mặt Thành hoàng, các vị chức sắc, kì mục trong các kì làng vào đám, thanh niên thì đứng xem ở ngoài cửa Thời kháng chiến chống Pháp và Mĩ, với yêu cầu mới của thời đại, làng có tận 3 đội Tuồng, Chèo và Cải lương biểu diễn phục vụ các dịp tiết lệ, trong xã, trong làng và ngoài huyện, tạo không khí hứng khởi, cổ vũ nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất Lớp nghệ sĩ ngày ấy hiện còn cụ Lê Văn Chính 92 tuổi ( diễn Tuồng), cụ Phạm Ích Phi 89 tuổi ( diễn cả Tuồng và Chèo) Vào những năm

60, làng đầu tư máy nổ, sân khấu gỗ, phông màn, cảnh trí, đạo cụ, trang phục dàn dựng vở Cô gái sông Lam, Quai nón hồng có thể coi là đội chèo nghiệp

dư số 2 của huyện Gia Lương Năm 2004, thời ông Nguyễn Đăng Dẫn làm

trưởng thôn đã tổ chức Câu lạc bộ Chèo, tham dự “ Liên hoan tiếng hát các làng chèo tỉnh Bắc Ninh lần thứ nhất tháng 12/2011” đoạt Huy chương

Bạc

- Tổ chức làng xóm :

Như đã trình bày ở trên, làng Ngăm có tới gần 40 dòng họ, phân đều làm

3 xóm: xóm Đình, xóm Chùa và xóm Bến Những đơn vị tổ chức này gắn kết các hộ dân-dòng họ bằng tình làng nghĩa xóm Người dân Ngăm Lương có quan niệm “ Bán anh em xa, mua láng giềng gần” nhưng “ Một giọt máu đào hơn ao nước lã” Vì thế nên gia đình và dòng họ luôn tồn tại và tác động đến đời sống con người bằng mối quan hệ huyết thống, đặc biệt mối quan hệ giữa

họ nội và họ ngoại rất chặt chẽ Trong gia đình, ông bà cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cháu ngoan ngoãn lễ phép, biết kính trên nhường dưới Các gia đình trong một dòng họ không nhất thiết cư trú gần nhau nhưng mối quan hệ luôn được xác định rõ ràng, nghiêm cấm các thành viên trong họ không được kết hôn với nhau Trải qua năm tháng chiến tranh và sự xâm thực của thời gian, nhưng các nhà thờ họ vẫn được bảo tồn, việc duy trì sinh hoạt dòng họ tuy phần nào mai một nhưng vẫn được các thành viên hưởng ứng Gần đây có

Trang 20

xu hướng trở lại cội nguồn, mối quan hệ dòng họ ngày càng được củng cố Người có vị trí cao trong dòng họ là trưởng họ, dưới có các cụ cao niên giúp trưởng họ trong việc đóng góp ý kiến chung Ngày nay, các hủ tục lạc hậu đã không còn, song mỗi họ đề ra những quy tắc riêng, đảm bảo sự đoàn kết có tôn ti trật tự trong dòng họ, phù hợp với nhịp sống hiện đại Người trưởng họ tham gia vào các công việc của thôn, sau đó đến thông báo cho từng hộ gia đình

Ngoài tổ chức dòng họ, Ngăm Lương xưa còn tổ chức theo hàng Giáp Giáp là một tổ chức được tập hợp theo những người cùng giới tính nam, không phân biệt giàu nghèo, già hay trẻ Bất cứ một đứa trẻ nào khi mới sinh

ra đều phải làm lễ trình làng, trình thánh để có tên tuổi được mua nhiêu sứa.;đến năm 18 tuổi lại làm một lễ để làng công nhận trở thành trai đinh.;năm 25 tuổi làm lễ mua tư văn, tham gia vào hội tư văn của làng; năm

50 tuổi trình làng lên lão; năm 70 tuổi trình làng lên thượng thượng thọ miễn

đi phu phen tạp dịch Tổ chức hàng giáp của Ngăm Lương ( Ngâm Điền ) hồi

đó chia làm 3 giáp: giáp Bắc, giáp Nam và giáp Đông, nay chính là 3 xóm : xóm Bến, xóm Chùa và xóm Đình Đứng đầu mỗi giáp là trưởng giáp do giáp

cử, trên dưới có các cụ cao tuổi và cai đám đốc thúc chỉ đạo công việc của giáp , của làng Cũng như nhiều làng quê khác, Ngăm Lương xưa có tổ chức hành chính từ trên xuống dưới thống nhất, đó là hội đồng kỳ mục và hội đồng

lý dịch Đây là các bộ máy quản lí, điều hành các công việc trong làng, đứng đầu là lý trưởng, phó lý, thư kí, hộ lại, trương tuần giúp việc cho lý trưởng Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp cải cách bộ máy hành chính ở cấp cơ sở bằng việc xóa bỏ hội đồng kỳ mục thay vào đó hội đồng tộc biểu hương chính bao gồm các chức danh: chánh hương hội, phó hương hội, thư kí, hộ lại, trưởng

bạ đứng đầu làng là tộc biểu đại diện cho 3 giáp có thể đại diện cho làng đi họp bàn các công việc của làng xã Người tộc biểu do đại diện giáp cử và dân bầu ra, họ là những người có uy tín với làng, có năng lực và trình độ hiểu biết sâu rộng

Trang 21

- Những phong tục trong chu kỳ vòng đời người ở làng Ngăm Lương:

Tục cưới hỏi: việc dựng vợ gả chồng là một trong những vấn đề quan

trọng của một đời người Lệ làng xưa quy định còn trai đến 16, con gái đến tuổi 13 “ Nữ thập tam, nam thập lục” thì gia đình mới phải lo việc cưới xin Gia đình nhà trai thường chọn cho con trai mình người con gái có đủ công-dung-ngôn-hạnh và gia đình nhà gái phải “ môn đăng hộ đối” Từ khi tìm hiểu cho đến ngày cưới phải qua các bước đi sêu, mối lái, vấn danh, dạm ngõ,

ăn hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt Trong lễ xin cưới nhà gái có quyền thách cưới rất cao vì thế có trường hợp nhà trai quá nghèo không lo đủ tiền thách cưới nên không lấy vợ được cho con Làng còn có tục chăng dây, đóng cổng mới được đi qua Khi đón dâu về đến nhà trai, đôi vợ chồng trẻ sau khi làm lễ thắp hương tổ tiên còn phải làm lễ tế tơ hồng cầu bách niên giai lão, vợ chồng hưởng trọn hạnh phúc trăm năm

Về tang ma : trước Cách mạng tháng 8/1945, khi trong gia đình có

người qua đời phải báo với giáp trưởng để giáp trưởng báo cho chính quyền Giáp trưởng cắt cử các trai đinh trong làng giúp tang chủ lo ma chu tất Nhà

có điều kiện, thường tổ chức lễ từ 2 – 3 ngày gọi là đám ma đại cố Nhà không có điều kiện tổ chức lễ 1 ngày có ăn uống nhưng chỉ có quan viên giáp

sở tại đến tế thành phục từ chiều hôm trước; sáng hôm sau hàng giáp đi đưa

ma gọi là đám ma tiểu cố Sau tang lễ gia đình cúng tam tiêu, tuần đầu, tứ cửu, bách nhật Trong thời gian 100 ngày kể từ ngày mất, gia đình cúng cơm, ngày 3 bữa ăn gì cúng nấy Sau 100 ngày đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên Qua 3 năm tiến hành lệ cải táng đưa người quá cố về nơi cứ trú mới nơi chín suối

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: trong mỗi gia đình đều có ban thờ gồm

một bát hương đặt chính giữa, sau đặt mâm bồng, 2 bên có cây đèn-nến, ống hương, lọ hoa…Ban thờ tổ tiên được đặt ở nới trang trọng nhất, chính giữa ngôi nhà Người dân Ngăm Lương tin rằng các bậc tổ tiên khi hóa về một thế

Trang 22

giới khác, trần sao âm vậy nên việc thờ cúng phải thành kính, trang nghiêm, được duy trì thường xuyên trong các ngày mồng một, ngày rằm, ngày giỗ, lễ tết Có như vậy tổ tiên sẽ phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, nhân khang vật thịnh

Lễ khao vọng: Ngăm Lương xưa có lệ những ngườ đỗ đạt, người được

bổ làm quan, làm lý trưởng, phó lý hay lý dịch, người lên hàng lão….đều phải khao làng Dù cho người đó có ở hoàn cảnh nào, giàu hay nghèo vẫn phải làm

cỗ khao Trước khi khao làng, người khao đem thủ lợn, gà, xôi, rượu, trầu cau

ra đình làm lễ Thành Hoàng Sau đó sửa soạn rượu tại nhà để mời các vị chức sắc, hương lý, quan viên hương lão, anh em họ hàng và dân làng Đàn ông 50 tuổi không khao lão vẫn phải đi phu phen tạp dịch, khi làng có đám vẫn phải ngồi cùng trai đinh, phải phục dịch và chịu sự sai bảo của các cụ Chỉ sau khi làm lễ khao vọng mới được tham dự các cuộc hội họp của làng

Mỹ tục khả phong là truyền thống của làng, trong làng đã sản sinh ra nhiều tài danh có nhiều công xây dựng đất nước như Thiếu tướng Lê Văn Trung, Viện phó Viện vật lí địa cầu Lê Huy Minh,Viện phó Viện vệ sinh dịch

tễ Nguyễn Đăng Hiền, Vụ phó Vụ điều trị Bộ y tế Lê Văn Khảm…

1.2 Lịch sử ra đời và quá trình tồn tại đình Ngăm Lương

1.2.1 Lịch sử ra đời

Đình Ngăm Lương được khởi dựng từ rất lâu đời, qua các lần trùng tu đình hiện mang nhiều phong cách mỹ thuật khác nhau, thể hiện dấu ấn văn hóa của từng thời đại Nghiên cứu về đình Ngăm Lương, bắt buộc chúng ta phải tìm hiểu thời gian khởi dựng, đó là việc rất quan trọng, nhằm nắm được diễn biến kiến trúc và trang trí mỹ thuật của di tích phức tạp này

Đình làng là một kiến trúc to lớn nhất trong hệ thống kiến trúc nông thôn, chùa làng có thể có cấu trúc rất phức tạp nhưng vẫn không thể to hơn

đình Danh từ “ đình” trong tiếng việt hiện nay có nguồn gốc từ một chữ Hán

Nôm ( 亭) Từ điển Văn hóa cổ truyền Việt Nam địch nghĩa: “ một kiến trúc thuộc dạng quán nghỉ, đình hình thành từ khi người Việt khai thác đồng bằng

Trang 23

Bắc Bộ Nhưng dáng dấp khởi nguyên đã mất, chỉ còn để lại hiện thân là những ngôi nhà 3 gian nằm giữa ngã ba đường, ngoài cánh đồng ( quán)” Theo thư tịch cổ và thực tế ở Việt Nam, ta biết được ít nhất 3 loại kiến trúc có công dụng khác nhau nhưng đều có tên gọi là đình:

- trạm đình: dựng ở ven đường giao thông, làm nơi trú của người đi đường

- Quán đình: ở giữa cánh đồng, nơi nghỉ ngơi, tránh nắng trốn mữa của nông dân

- Dịch đình: nơi tiếp sứ thần ngoại quốc hay quan lại địa phương đến đợi vào chầu vua như đình Gia Quất, đình làng Trạm ( quán Hoài Viễn) đều thuộc quận Long Biên

Gần đây, một số nhà nghiên cứu dân tộc học, đồng thời cũng chú ý đến kiến trúc, tiêu biểu là cố GS.Từ Chi đã đưa ra giả thiết công trình kiến trúc

“đình làng” là sản phẩm của lịch sử, manh nha xuất hiện vào nửa cuối thế kỉ

XV, khởi nguyên là nơi ban bố chính lệnh của triều đình đồng thời cũng có thể là trụ sở của chính quyền địa phương, là một kiến trúc nảy sinh từ sự áp đặt từ triều đình xuống xã thôn Người ta đã tìm được những bia đá cuối thế

kỉ XV ghi việc xây dựng đình ở các xã Cùng với sự dân chủ làng xã, người ta

đã dần hội nhập vào trong đình những tính chất vượt ra ngoài chức năng khởi nguyên, trong đó, đình là một ngôi nhà công cộng gắn với nam giới và là nơi giải quyết việc làng và các công dụng khác vào sau này Những dấu vết kiến kiến trúc sớm nhất còn để lại là 6 ngôi đình thế kỉ XVI Vì vậy nên thậm chí

GS Hà Văn Tấn còn cho rằng đình làng sớm nhất ra đời vào thời gian này Vào thế kỉ XVI, đình làng chủ yếu là nơi tụ hội, sinh hoạt cộng đồng của cả làng, hát cửa đình, ả đào trước đình Theo TS Nguyễn Xuân Diện: “hát cửa đình đã có từ trước năm 1500”, dân đến đình làng là để được vui chơi, đình là cái nhà hát của làng Bia chùa Viên Giác ( Yên Mỹ, Hưng Yên) khắc năm

1582 ghi: “Bên trái có đền thờ thánh linh ứng, bên phải có cửa đình đông

Trang 24

vui” Việc thờ cúng ở đình có lẽ chỉ là việc cầu phúc hàng năm Nguồn gốc của đình làng có lẽ vẫn là vấn đề chưa có hồi kết

Lịch sử đã cho thấy trong thời quân chủ chuyên chế Phật giáo ở thời Lý

và thời Trần, nhà nước quản lí làng xã dựa theo cơ cấu quản lí truyền thống Thời đó, nhà sư là trí thức của làng xóm và ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa làng xã, công việc được giải quyết ở trong không gian ngôi chùa.Nhưng ở Ngăm Lương/ Ngâm Điền thời Lê lại khác, trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa lại thuộc về đền Ba-ngôi đền có trước đình làng Theo lời

kể của các cụ cao tuổi trong thôn, đền Ba vốn trước kia là đình làng khi dân còn nghèo, sau này dân làng có lực mới xây ngôi đình mới, to đẹp như bây giờ Chỉ qua vài lời kể mang tính truyền miệng, chúng ta khó có thể xác định được độ tin cậy của thông tin Nhưng tại đền Ba hiện còn một bức hoành phi

đề 3 chữ: “Khởi thánh đường” Hiện dòng lạc khoản tô niên đại đã mờ hết,

nhưng dựa vào hoa văn quyển vân dạng kỉ hà, tương tự như những đường diềm đắp trên các cổng gạch cùng thời, được chạm nổi khối thấp làm viền cho bức hoành phi, ta có thể tạm kết luận là làm thời Nguyễn Như vậy, là đã từ lâu, người dân vẫn truyền cho nhau biết là ngôi đền có trước đình làng Nhưng đình làng hiện tại được tách ra từ khi nào và vị thành hoàng trong đình lúc này lại là Thủy Thần, khác với vị tổ nghề dệt trong đền thì là một vấn đề cần một cách tiếp cận toàn diện, cần phải có căn cứ thuyết phục Có thể trước kia, đền Ba có thể có chức năng như một ngôi đình làng Đến một thời điểm, cùng với sự xuất hiện nhiều hơn của các ngôi đình vào thế kỉ XVI, nhân dân dựng một công trình ở vị trí đình Ngăm Lương hiện nay và làm nơi sinh hoạt chung, và đương nhiên công trình đó có thể chưa có chức năng thờ Thành hoàng làng mà sau này người ta đã quyết định đưa 3 vị Thủy Thần ở nghè Ngăm vào trong đình, thành hoàng làng xuất hiện Để rồi trước năm 1764 đã

có một công trình đình làng ở đây, dựa vào 2 chữ “Tu tạo” trên dòng niên đại

khắc trong lòng câu đầu đại đình Đây là một trong những cơ sở quan trọng

Trang 25

để đình làng mang tính đa năng, đủ cả 3 chức năng làm trung tâm hành chính, văn hóa và tâm linh

Tại đình Ngăm Lương hiện chỉ có mỗi một dòng niên đại trùng tu, sửa

chữa lại đình khắc trên lòng câu đầu bên phải : “Lê triều giáp thân niên mạnh

hạ cốc đán tu tạo” Vậy nên có thể khoanh vùng rơi vào những năm như

1764, năm 1704, năm 1644 Ta chỉ có cách dựa vào những dấu vết vật chất sớm nhất trong di tích để suy đoán niên đại khởi dựng Bằng quan sát, ta thấy công trình đình làng hiện nay có nhiều mảng chạm mang phong cách mỹ thuật khoảng thế kỉ XVIII (có lẽ vào năm 1764) mà dưới đây chúng ta sẽ phân tích

kĩ ở chương sau là dấu vết sớm nhất hiện còn Có thể đưa ra kết luận chắc chắn rằng công trình đình Ngăm Lương hiện nay ra đời vào trước năm 1764, đến năm này nhân dân tu sửa lớn, tạo nên công trình đình làng hiện nay và đục niên đại vào lòng câu đầu Thời điểm ra đời này là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh lịch sử và thỏa mãn về những nghi ngờ về trang trí mỹ thuật trong đình Hơn nữa, sắc phong cổ nhất của đình Ngăm Lương hiện còn tồn tại là sắc phong năm 1767 ghi lại là vào năm này, 3 vị Thành hoàng mỗi vị đã có 10 cặp mĩ tự, khẳng định thêm lịch sử tồn tại lâu đời của di tích

1.2.2 Quá trình tồn tại đình Ngăm Lương

Nghiên cứu về một ngôi đình làng, chúng ta đều phải theo dõi sự thay đổi của ngôi đình đó từ khi khởi dựng đến nay Điều đó là vô cùng quan trọng, nó sẽ giúp chúng ta nắm rõ diễn biến phát triển của ngôi đình, thấy được những đặc trưng văn hóa được kết tụ trong kiến trúc, di vật và những giá trị phi vật thể của ngôi đình, ngôi làng mà suy rộng ra là của thời đại đó Phần này sẽ không phân tích những thay đổi, đặc trưng mỹ thuật, kiến trúc của từng giai đoạn mà chỉ thống kê những thời điểm tu sửa đình Ngăm Lương Phần phân tích đặc trưng sẽ nằm ở chương II và chương III Như trước đã nêu, việc khảo sát ngôi đình sẽ dựa trên những dấu tích vật chất hiện còn thông qua đặc trưng mỹ thuật và diễn biến kiến trúc, có tham khảo truyền thuyết, lời kể của các bô lão thông qua điều tra hồi cố:

Trang 26

- Trước năm 1764: đã có một công trình đình làng có mặt ở đây, độ

chính xác dựa trên 2 chữ “tu tạo” trên dòng niên đại khắc tại lòng câu đầu đại

đình

- Năm 1764 : trùng tu lớn, dấu tích còn là công trình đang tồn tại hiện

nay với dòng niên đại trong lòng câu đầu bên phải của gian giữa “Lê triều Giáp Thân niên mạnh hạ cốc đán tu tạo” ( Ảnh số 9) và các mảng chạm khắc

trang trí rồng ổ, rồng thú, tiên cưỡi rồng, 1 hương án thế kỉ XVIII Độ chính xác dựa vào dòng niên đại trùng tu trên câu đầu, các mảng chạm khắc trang trí còn nguyên, hương án còn nguyên

- Đầu thế kỉ 20: trùng tu lớn, xây hậu cung, thay mới một số cấu kiện, xây 4 bức tường góc đỡ đầu đao, tu sửa phần mái… Độ chính xác dựa trên phong cách mỹ thuật, các hiện vật hiện còn đến nay, tượng và ban thờ cụ tổ nghề nề hiện vẫn còn

- Năm 1962 : Dỡ sàn nhà 2 gian bên đóng bàn ghế, tháo bỏ chấn song 2 bên hồi và hậu để xây tường kín bảo vệ kho thóc, phá bỏ nghi môn gỗ-ngói….dựa trên lời kể của các bô lão đã trực tiếp chứng kiến sự kiện này

- Năm 1971: Loại bỏ một số đồ thờ, tế khí để chống mê tín dị đoan theo

xu hướng thời kì đó

- Năm1993:Sửa chữa lại hậu cung, hiện còn dòng niên đại trên thượng lương hậucung,

-Năm 1997: Xây lại nghi môn bằng gạch, xây thêm cổng ngách

- Năm 2005: Thay mới các ván lá gió cột quân, lát nền đá hoa gian giữa

và hậu cung, sơn son thếp vàng lại các đồ thờ và toàn bộ gian giữa, xây tường bao quanh di tích

- Năm 2014: dân làng góp sức tu sửa nhỏ, thay thế hệ thống cửa bức bàn gian giữa đại đình và một số chấn song bị gãy

1.3 Lịch sử vị thần được thờ trong đình Ngăm Lương

Thành hoàng làng là nhân vật tối thượng trong mỗi ngôi đình và có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt, là những ông

Trang 27

vua tinh thần của mỗi một làng quê Tìm hiểu về đình làng đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu về vị Thành hoàng được thờ trong ngôi đình đó Đình làng Ngăm Lương thờ 3 vị Thành hoàng mà dân làng truyền tụng rõ rệt từ đời này

qua đời khác là 3 vị Thủy thần:

Đệ nhất Ngũ lục hiển ứng biên linh tôn thần

Đệ nhị Trung thiên anh nghị hùng lược tôn thần

Đệ tam Chàng nhị thông duệ mẫn đạt tôn thần

Cả 3 vị đều được các vị bô lão khẳng định từ xưa nay dân làng đều lưu truyền là Thủy thần rõ rệt, rất linh thiêng phù hộ cho dân cho nước, bảo vệ xóm làng khỏi nạn thủy tai Từ trước tới nay, 3 vị Thành hoàng tồn tại với nguyên dạng là thần tự nhiên, chưa được lịch sử hóa Đây là một trong số ít những trường hợp tiêu biểu, góp một phần quan trọng vào việc nghiên cứu về

hệ thống thần linh sơ khai của người Việt

1.3.1.Vài nét về tục thờ Thủy thần của người Việt, trường hợp tỉnh Bắc Ninh, khu vực bờ nam sông Đuống

Trong số các tín ngưỡng thờ thần linh ở xứ Bắc, nổi bật nhất là tục thờ thần Nước, hay còn gọi là Thủy thần, một trong những dạng thức của thần Nông nghiệp Các tín ngưỡng này có cơ sở ban đầu là sùng bái tự nhiên, những hiên tượng tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân nông nghiệp lúa

nước “Dân cư ở Đông Nam Á thời xưa sống gần gũi với thiên nhiên, lòng đầy

ưu ái, kính trọng và cả hãi hùng trước thiên nhiên quanh họ” [ 35,tr.101] Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên trong chuyên luận “Bản đồ phân bố các vị Thành hoành tỉnh Bắc Ninh” đã thống kê được 25 vị Thủy thần: huyện Gia

Bình có 11 vị, huyện Từ Sơn có 3 vị, huyện Thuận Thành có 3 vị, huyện Lương Tài có 3 vị, huyện Yên Phong có 3 vị, huyện Quế Võ có 1 vị, huyện Tiên Du có

1 vị

Trong cuốn Thư mục Thần tích thần sắc ( Viện TTKH – XH, 1996) của

Viện Viễn Đông bác cổ điều tra, thống kê năm 1938, đã thống kê được 27 vị Thủy Thần được thờ ở Bắc Ninh, nhiều hơn con số thống kê củaNguyễn Văn

Trang 28

Huyên là 2 vị Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Bỉnh ( Bảo tàng Nhân học) dẫn đầu một đội điền dã ở khu vực có những biểu hiện rõ nhất về tục thờ thần nước vùng bờ Nam sông Đuống Kết quả cho thấy số lượng Thủy thần được thờ trên thực tế lớn hơn rất nhiều so với sự thống kê của Nguyễn Văn Huyên

và Viện Viễn Đông bác cổ

Tục thờ thủy thần ở bờ Nam sông Đuống được thể hiện rất đa dạng, thường có các thần mang dạng nước, rắn, cá, rồng, baba, giao long, cá sấu, rái

cá, thuồng luồng… hiện hiện thành các Thần Long Vương, thần sông hồ, đầm lầy, Thần Linh Lang… Các truyền thuyết về thần rắn, ông Cộc, ông Dài với các nghi lễ thờ cúng và trò diễn dân gian được diễn ra ở nhiều địa phương Làng Ngọc Lâm, huyện Thuận Thành có truyền thuyết và tục thờ thần rắn, thợ mộc, thợ ngói, đến các đồ thần khí đều được sơn then, kiêng không có hình rồng, rắn trong các đồ chạm khắc Làng Liễu Ngạn, cũng ở Thuận Thành thờ thần rắn, không có tên, có trò thanh niên Kéo rắn được tổ chức trong ngày hội…

Bên cạnh đó, Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên của dân ta đã được thực hoá và thiêng hoá ở một dải ven sông vùng nam Đuống Trung tâm là cụm di tích đền - lăng Kinh Dương Vương ở Á Lữ Theo thần phả đền Á Lữ, vua Kinh Dương Vương tự Lộc Tục, thú Động Đình tiên nữ, sinh ra Lạc Long Quân tự Sùng Lãm, ngài thú đức Âu Cơ sinh 100 con, sau 50 người theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống biển khai phá, giữ gìn mở mang bờ cõi Ngài truyền cho con cả nối ngôi, tức vua Hùng Vương thứ nhất, húy Lân Bang, lên ngôi năm Nhâm Dần, tức năm 2359 TCN Tiếp đến là đền Lạc Long quân - Âu Cơ ở Bình Ngô Rồi một dải các làng thờ Lạc thị đại vương, tức các con Lạc Long Quân - Âu Cơ làm thành hoàng: Ngọ Xá, Thuận An, Ngọc Khám, Thượng Trì, Đại Mão, Nghi Khúc, Đại Bái, Phú Dư

Tín ngưỡng thờ thần Bách Noãn ở các làng cổ vùng bờ nam sông Đuống rất phát triển Xung quanh làng Ngăm Lương có rất nhiều làng thờ thần Bách Noãn và các dạng Thủy thần khác

Trang 29

Xã Hoài Thượng có các thôn: Thụy Mão ( thờ Lạc thị Linh ứng đệ nhất đại vương), thôn Đại Mão ( thờ Lạc thị linh ứng đệ nhị đại vương ), thôn Đông Miếu ( thờ Lạc thị Linh ứng đệ tam đại vương), làng Thượng Trì ( thờ Lạc thị linh ứng, Hương Mát hùng tài, Qúy lang diên hưu, 3 ngài báo mộng cho Lý Bí đánh giặc Lương) Làng Trà Lâm thờ Khai sáng thiên hạ hộ quốc đại vương ( con thứ 2 của Lạc Long Quân, giúp dân đắp đê) Làng Phú Mỹ (

xã Đình Tổ) thờ Quảng hóa đại vương ( con thứ 37 của Lạc Long Quân, có công khai hoang lập làng) Làng Ngọ Xá, xã Hoài Thượng thờ 3 vị Lạc thị là Thiên quan Cửu chử Hiển ứng, Nghĩa chiêm Minh bảo, Cảm thiên Bảo quốc,

3 vị có công khai hoang lập làng, sau này phù Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán Làng Ngọ Xá còn có tục lúc vào hội, mua 3 niêu đất mới, bỏ 3 quả trứng thả trôi sông Thiên Đức, người làng không ai hiểu ý nghĩa của tục lệ này… Làng Ngọc Xuyên ( giáp làng Ngăm Lương ) thờ vua Lạc Long Quân, hội có trò múa lốt rồng, tất cả thanh niên trai tráng cởi trần đóng khố, đứng xếp hình nối đuôi nhau chạy vòng quanh sân đình uốn lượn theo hình con rồng…

Thần phả các làng thờ Bách Noãn có phần mở đầu giống nhau vì chung một gốc tổ và trùng với nội dung được sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào sách Đại Việt sử ký toàn thư Thần phả đền Bình Ngô do Huệ Trai Nguyễn Tá Chính

đỗ Tiến sĩ thời Thiệu Trị soạn, liệt kê đủ 18 đời Hùng Vương và đủ tên 99 người con Lạc Long Quân bên dưới Hùng Vương Tuy nhiên thần phả thôn Nghi Khúc có sự khác biệt khi cho rằng con Lạc Long quân vẫn là rồng thật, đầu có chữ Lạc thị (họ nhà rồng) và có nhiều phép thần thông Về phần lễ nghi các làng thờ hệ Bách Noãn có một điểm chung là tục rước nước tắm thần Nước phải múc ở giữa sông hoặc hồ Tắm thần còn thì đem tưới cây ở gần đình tượng trưng thánh đã phù hộ tiêu trừ sâu bệnh và mưa gió thuận hoà Năm nào nước không được sạch là điềm báo úng hạn, sâu bệnh nhiều, khó khăn trong sản xuất Gạt bỏ các yếu tố thiêng hoá, truyền thuyết đẻ trứng nở trăm con và hệ thờ Bách Noãn vùng nam Đuống thực chất chỉ giải thích hình thức xã hội và tục thờ thần nước/thủy thần cổ xưa của dân ta Hình thức xã

Trang 30

hội mang tính tiên đề là vua (Hùng Vương) - quan (lang) - dân Trời ở đây là nhân vật Lạc Long Quân huyền hoặc Nhưng tại sao phải là nhân vật Lạc Long Quân thì gắn với tục thờ thần nước của cư dân nông nghiệp Rồng là biểu tượng của sông Sự biến đổi nước của sông liên quan trực tiếp đến đời sống người dân vì thế cầu khẩn rồng là cầu khẩn thần nước Dân ta cũng quan niệm mỗi con sông có một vị thần nước (rồng) riêng do đó cả nước có đến hàng trăm rồng là thế Lang là biểu hiện về mặt xã hội của rồng Các vị đứng đầu địa phương này có thể quyết định chiến tranh, có thể điều hành dân trong mọi công việc hàng ngày Chuyện sống chết, no đói đều ở một tay họ cả Vua, quan đều thuộc họ nhà rồng tôn quý Như vậy người dân luôn luôn phải tôn thờ hai thế lực rồng: nước và vua quan Vùng nam Đuống có vinh dự được thờ hệ Bách Noãn Đây là vùng nông nghiệp phát triển sớm vì điều kiện tự nhiên thuận lợi Thời trước các kinh đô cổ đều tập trung lâu dài ở vùng này, tiêu biểu là Dâu trải gần hết thời Bắc thuộc Dâu có hệ thờ Tứ Pháp (mây, mưa, sấm, chớp), một dạng khác của tục thờ thần nước, nhưng không gắn với sông - rồng

1.3.2.Nhân vật được thờ trong di tích đình làng Ngăm Lương

Điểm qua các làng cổ có thờ Thủy Thần lân cận, cúng ta lại quay lại vấn

đề Thành hoàng làng Ngăm Từ trước tới nay, dân làng chỉ có duy nhất 3 cái tên của 3 vị Thành hoàng, được sử dụng cả trong văn tế lẫn các văn bản khác:

Đệ nhất Ngũ lục hiển ứng biên linh tôn thần

Đệ nhị Trung thiên anh nghị hùng lược tôn thần

Đệ tam Chàng nhị thông duệ mẫn đạt tôn thần

Hiện nay tìm hiểu về Thành hoàng trong đình Ngăm là rất khó khăn, sự tích của 3 vị không rõ ràng , người dân cũng không ai biết sự tích về các ngài, hệ thống văn tự chỉ còn lại 7 đạo sắc, văn bia không có, các hoành phi, câu đối

ca ngợi sự anh linh chứ không nhắc đến công lao của thần Cả thời Hậu Lê, thời Tây Sơn và thời Nguyễn, 3 vị đều không có thần tích

Trang 31

Sắc phong là tư liệu Hán Nôm lâu đời nhất của di tích, nhưng chỉ có các cụm mỹ tự và lời tán dương của vua Lê, không một chữ nào nói về sự tích các

ngài Các vua triều Nguyễn chỉ phong làm “Dực bảo Trung hưng chi thần”, tức là phong là “Thần”, mà không phải “ Thượng đẳng” hay “Trung Đẳng”

theo quy định của triều đại đương thời vì không có thần tích, tên tuổi cụ thể Cho nên có thể suy luận, phải chăng vốn dĩ 3 vị Thành Hoàng xưa kia đều không có sự tích cụ thể, không được lịch sử hóa, khoác lên mình chiếc áo thần tích như nhiều di tích khác, mà là Thủy Thần nguyên sơ, rõ ràng, có quyết định, ảnh hưởng rất lớn đến tư duy nước, vừa cấp nước, vừa chống lũ của cư

dân nơi đây Vai trò “Nước” và nguồn lợi từ nước của Thần hẳn là rất lớn, có

tác động mạnh mẽ đến niềm tin của mọi người, khó chấp nhận vỏ bọc thần tích của thời đại Ý thức dân tộc đã vượt qua cái vỏ bọc của triều đại một cách đầy tự hào, tạo thành sợi chỉ đỏ tâm linh xuyên suốt lịch sử xây dựng và phát triển của làng Ngăm Lương

Trong Thư mục Thần tích Thần sắc ghi chép kết quả thống kê của Thực

dân Pháp vào năm 1938 có ghi chép về đình Ngăm Lương như sau:

“ Ngăm Đũi ( làng: tên Nôm), làng Ngâm Điền Lương, tổng Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh – Bắc Ninh, 1938 – 4tr

Trang 32

quay mặt về hướng Bắc Đó lànơi xung yếu, để răn đe thuỷ quái, giữ yên lành cho ruộng đồng, làng xóm Từ đó, chúng ta ngờ rằng, phải chăng nghè Ngăm quay hướng ra sông để đáp ứng yêu cầu tâm linh đương thời, nhằm mong sự hỗ trợ của các Thành Hoàng làng cho dân khang, vật thịnh, thuỷ quái không dám quấy nhiều Hiện tượng này đã ít nhiều gắn với tính thực dụng nông dân, đồng thời nổi bật lên là ý thức: thần linh phải vì con người mà tồn tại Các đấng siêu nhiên còn rất gần gũi, luôn tham gia trực tiếp vào thực tế cuộc sống đời thường…nhờ đó mà tồn tại Để trấn áp nỗi sợ hãi đồng thời cầu mong nguồn nước sinh sống, cư dân thờ phụng 3 vị nhằm cầu mong sông nước hiền hòa, mùa màng tươi tốt, đánh bắt được nhiều sản vật dưới sông, hồ, muôn vật và con người sinh sống và đi lại thuận lợi

Tóm lại, việc nghiên cứu về thành hoàng làng Ngăm lương có rất nhiều vấn đề, cần phải được tiếp cận một cách toàn diện và khoa học

Trang 33

Chương 2

GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT ĐÌNH NGĂM LƯƠNG

2.1 Giá trị kiến trúc

2.1.1 Không gian cảnh quan

Đình Ngăm Lương nằm trên một khoảng đất rộng ở bìa phía đông nam thôn

Ngăm Lương, xã Lãng Ngâm Toàn bộ kiến trúc chính của đình quay về

hướng đông nam, một hướng truyền thống của người Việt Quay về hướng

đó, mùa đông sẽ tránh được gió đông bắc lạnh lẽo, mùa hè đón gió đông nam

mát mẻ từ biển vào, làm cho con người ta cảm thấy sảng khoái, cây cối, muôn

loài mới tươi tốt, phát triển Đó mới chính là hướng của gió lành, mang tính

dân gian với quan niệm truyền thống “ Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng

nam” Để rồi sau này khi Nho giáo ảnh hưởng sâu rộng thì lại khoác thêm

quan niệm “ Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” Cửa đình quay về

hướng đông nam, nếu xét trên “Bát quái Thái cực đồ” tức là quái Đoài, thuộc

tượng “Thái dương”, có quái hình là 2 hào dương ở dưới và 1 hào âm ở trên

“Đoài khuyết trên” Quái Đoài có quái tượng là Đầm, tức đầm lầy, ao hồ

Còn nếu xét về mặt quái Đức, Đoài có nghĩa là vui, là đầm, có hơi nước mù

mịt và tính chất vui vẻ Như vậy đình Ngăm Lương quay về đầm nước rộng

lớn, hơi nước mù mịt để lúc nào Thành hoàng cũng trông ra cánh đồng nước

mà phù hộ cho dân Cũng giống như các ngôi đình làng khác của người Việt,

việc chọn thế đất để dựng đình bị chi phối bởi quan niệm phong thủy Theo

đó, vị trí chỗ ở, thế đất có một vị trí quan trọng đối với con người Hơn nữa

đây lại là đình làng, là hướng Thần quay ra nên càng phải được cân nhắc kĩ

càng Theo cố GS Hà Văn Tấn, đình không nhất thiết phải dựng trên đồi gò,

nhưng phía sau hoặc hai bên thường cần có những chỗ đất cao để làm “tay

ngai”, và mặt trước đình cần có nước Đó là thế đất tụ thủy, nước tụ hội, mà

Trang 34

tụ thủy thì cũng có nghĩa là “tụ linh, tụ phúc”, hội tụ tất cả những điều may

mắn

Không gian xa : đình Ngăm Lương nằm bên bờ nam đê sông Đuống, ngay chỗ lượn dòng của con sông mà dưới con mắt của các nhà phong thủy học thì đó là nơi tụ thủy, nơi đất lành Trạng nguyên Hồ Tông Thốc là một nhà Nho đồng thời là thiên tài văn học cuối thế kỉ XIV, đích thân soạn bia

“Phổ Thành tự bi” – chùa làng Ngăm Lương vào năm Đại Trị thứ 9 ( năm

1366) Trong bia, ông có miêu tả địa thế, cảnh vật của làng Ngăm Lương qua bài minh như sau:

“Núi đứng phía đông Sông quanh phía bắc Đất bằng màu mỡ Vun trồng phúc lành

Lê, Phạm tốt đẹp Dựng xây quyết thành”……

Phía bắc làng là đê sông Đuống, phía đông có dãy núi Thiên Thai ( hình con rồng đất nhô lên 9 ngọn), làng ở vào địa thế rồng chầu hổ phục Địa thế hội tụ đầy đủ những điểm tốt “ Nhất cận thị, Nhị cận tân, Tam cận giang, Tứ cận lộ, Ngũ cận điền” Đây là vùng cư dân sinh sống đông đúc, làng có chợ Ngăm họp trước sân đình Chợ một tháng 6 phiên vào các ngày 5 và ngày 7 ( nay đã mất) Ngoài bãi bên bờ sông Đuống còn có bến đò Ngăm trung chuyển hàng hóa giữa vùng kinh đô Thăng Long đi ra hệ thống sông Lục Đầu- Phả Lại, bến đò nay vẫn còn, nối giao thông Gia Bình sang Quế Võ, Tiên Du Làng giáp hai con sông là sông Đuống và sông Bái, sông Đuống là tuyến đường thủy huyết mạch trong vùng đồng bằng Trong lịch sử đấu tranh chống giặc phương Bắc những năm đầu Công nguyên, vùng đất này nằm sát nơi diễn ra những trận chiến ác liệt Mùa xuân năm 40 SCN, cả dân tộc dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã đánh tan quân Tô Định, thu lại 65 thành trì, làm nên một chiến thắng Trưng Vương huy hoàng trong lịch sử

Trang 35

Sông Đuống ( Thiên Đức) đổ ra Lục Đầu Giang ở vào địa bàn nơi trung tâm vùng Lãng Bạc, địa điểm đã diễn ra trận quyết chiến của nghĩa quân Hai Bà Trưng với quân Mã Viện trong lần chúng trở lại xâm lược nước ta năm 43 Nhân dân khắp miền Gia Bình, Bắc Ninh đứng lên đấu tranh quật khởi, vừa là lực lượng tại chỗ, vừa trực tiếp bổ sung cho đại quân của Hai Bà Trưng thêm hùng mạnh

Đây là cầu nối giữa Thăng Long - Lục Đầu Giang và biển khơi vùng Đông Bắc, do vậy vùng đất này liên tục chứng kiến những cuộc giao tranh ác liệt của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Tống thế kỉ XI và 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỉ XIII Trong bản anh hùng ca bất diệt và tự hào đó, chắc chắn có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân Ngăm Lương và nhân dân cả nước Sông Bái là dòng sông chết trong đê, chủ yếu là do nước ruộng đổ vào và có tác dụng trữ nước mùa khô, đảm bảo nguồn nước dồi dào đến cho nơi này Thứ tư, do làng nằm ở vị trí giữa hai con đường bộ cổ là đê sông Đuống và đường quốc lộ 18B ( con đường bộ cổ nhất Việt Nam – Phan Cẩm Thượng) nên từ xa xưa nơi đây đã là nơi lui đến thường xuyên của dân buôn bán, thậm chí cả nhiều vua chúa, hoàng tộc, quan lại, cung phi… đi qua khi đến với chùa Tĩnh Lự - hành cung Phúc Long thế

kỉ XVII trên dãy Thiên Thai, cách đình khoảng 1,5 km về phía đông Hơn nữa, đình Ngăm Lương quay hướng đông nam, hướng ra cánh đồng rộng lớn, màu mỡ nên đã tích hợp rất đầy đủ những điều kiện thuận lợi cho sự sống của con người, vì vậy nó giống như một gợi ý cho thần linh mà con người gửi gắm ước vọng sinh sôi, nảy nở

Trong bố cục một không gian gần cụ thể, đình Ngăm mang đậm tính dương đối đãi Phía trước nghi môn là một hồ nước trong xanh, mang tính âm Ngôi đình là một kiến trúc cao lớn, mang tính dương, vậy âm dương giao hòa,

âm-sự sống luôn luôn được tuần hoàn và phát triển, biến đổi không ngừng Nước

tụ phía trước là tụ phúc tụ thủy Ngày trước, thời Hợp tác xã, người ta đào một con mương trải dài, thông thủy với hồ Đến mùa gặt nhân dân chở lúa bằng

Trang 36

thuyền bơi trên mương về ao đình xong chuyển lúa lên sân đình, từng tốp chỗ đập chỗ phơi rộn ràng không khí lao động, đóng góp lương thực cho tiền tuyến miền Nam

Cây cối cũng là một thành tố không thể thiếu cấu tạo nên cảnh quan của

di tích Đình vốn không trồng cây sát cạnh mà để một khoảng cách nhất định Đình Ngăm cũng vậy, phía trước nghi môn có một cây gạo cổ thụ, thân thẳng đứng, là cầu nối giữa trời với đất mà gai trên thân là những bậc thang, cành tán tỏa ra bốn hướng, đầu cành những bông hoa sáng đỏ như bầu trời sao, cũng từng tầng từng lớp,nở bung những bông hoa đỏ rực vào mùa xuân như một sự vẫy gọi nguồn sinh lực của vũ trụ từ bốn phương tám hướng hội tụ lại, theo thân mà truyền xuống nơi này Trên những cành cao, dường như rất thu hút quạ về làm tổ Người xưa giải thích quạ là kim ô, là thiên sứ báo trước điềm trời Cây gạo lá thưa, nhiều chim đậu hót, nhưng không kín đáo nên chỉ

có quạ làm tổ, và như thế cây gạo mang tư cách là cây vũ trụ Cũng chính vì thế mà trong lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên, khi dựng đàn lễ, người ta chôn chắc bốn cột liên kết với nhau thành hình vuông, trong mỗi cột lồng một cây tua, ở giữa chôn cây nêu và bao giờ cũng phải trồng một cành gạo thẳng to bằng cổ tay, sau đó buộc trâu vào cây nêu và tiến hành các nghi lễ đâm trâu; một thầy cúng đọc lầm rầm những lời cầu giàng phù hộ, và người ta tin rằng những lời thiêng đó sẽ theo hồn trâu leo qua cây gạo là trục vũ trụ lên tầng trên Người dân làng Ngăm Lương xưa nay truyền tụng nhau câu ca:

“Đầu làng cây gạo Cuối làng cây đa Con gái làng ta Như hoa thiên lý….”

Ngoài cây gạo, trước sân đình còn có 2 cây xà cừ lớn, tỏa bóng mát rộng, làm nơi trú chân, nghỉ lại của người qua đường, dân đi làm đồng ngồi nghỉ Ngoài ra còn có nhãn, chuối và sau vườn có lá lốt Nhãn là loài cây đặc biệt rất được quan tâm trồng trong di tích Theo quan niệm dân gian, hàng năm có

Trang 37

một dịp duy nhất là vào đêm ngày 14 và ngày 15 tháng giêng âm lịch, có một

loại khí, gọi là ”Nguyên khí” từ trên trời tràn xuống mặt đất mang theo những

điềm tốt lành Loại khí thiêng này tràn xuống đâu nhiều nhất thì người ta xây dựng đình, chùa ở đó nhằm đem những điều cầu khẩn nhanh chóng lên được với đấng tối thượng Ngày đó người ta đi chơi, du xuân, lễ bái sẽ linh nghiệm

hơn nên quan niệm: “Lễ cả năm không bằng ngày rằm tháng giêng” Trong

đó, 2 loài cây nhãn và cây vải thiều là hút được cái sinh lực vũ trụ này mạnh nhất, cho nên người ta luôn quan tâm trồng nhãn trong di tích, tích tụ khí thiêng mà gửi lời cầu nguyện lên đấng siêu nhiên Ngày xưa các vị quan trong triều, những bậc túc nho đều có một vườn vải, vườn nhãn trong nhà, để đêm ngày 14, rạng sáng ngày 15 đem võng (dệt bằng vải ) ra mắc dưới vườn nhãn, vải để ngủ, càm nhận những điều tốt đẹp, hấp thụ nguyên khí đất trời, đầu óc minh mẫn, sáng láng Nguyễn Trãi xưa cũng có một vườn vải thiều mà cuộc đời, án oan của ông gắn với Lệ Chi Viên Nhãn được trồng trong đình Ngăm Lương cũng được trồng với mục đích đó Từ đây mà nguồn sinh lực vô biên của trời đất, hội tụ tại nơi này để thấm vào đất, vào nước Ngăm Lương, cây trồng, vạn vật sinh sôi nảy nở, cuộc sống vô cùng phồn thịnh Mặt khác nó vừa có ý nghĩa thực dụng, cung cấp một loại quả ngọt ngào, thơm mát sản sinh từ trong chất đất, nguồn nước Ngăm Lương

Rõ ràng trên vùng đất mà đình Ngăm Lương được chọn xây dựng, cảnh trí thiên nhiên ở đây cho chúng ta thấy được rằng, một mặt nó phản ánh sự kế thừa truyền thống chọn đất của các giai đoạn trước, mặt khác thể hiện ước vọng cầu mong sự sinh sôi phát triển, nhân khang vật thịnh

Trang 38

trước đình là một hồ nước lớn hình bầu dục, đón gió mát từ cánh đồng đưa đến Từ hồ nước đi vào là nghi môn trụ biểu lớn dẫn vào một lối đi, hai bên lối đi là vườn cây Thẳng tiếp đến là vào sân đình, sân rộng 12m, dài 24,6m lát gạch vồ đen kích thước 27x27x4cm Hai bên sân trước kia có tả vu, hữu vu nhưng đã bị phá bỏ trong khoảng những năm 1962, nay chỉ còn lại móng nhà Đình Ngăm Lương hiện còn hai công trình chính là đại đình và hậu cung.Trung tâm của di tích là nhà đại đình 3 gian 2 chái, nối liền gian giữa là

hậu cung với kết cấu chuôi vồ, tạo cho ngôi đình bố cục kiểu chữ “ đinh”

Bên trái hậu cung là nhà bếp Các đơn nguyên kiến trúc của đình Ngăm Lương còn để lại đến ngày nay là có sự thay đổi qua từng thời kì, có kiến trúc

bị phá bỏ, có cái được bổ sung vào cho phù hợp với chức năng của đình Đó

là việc mà trong khóa luận này sẽ phân tích cụ thể, làm nổi bật giá trị của đình Ngăm Lương

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

2.1.3.1.Nghi môn

Nghi môn đình Ngăm Lương (Ảnh số 1) là một đơn nguyên kiến trúc được đặt đầu tiên khi chân vào di tích Chiếc cổng này hiện vừa có tác dụng làm lối ra vào chính thức, bảo vệ, góp phần cấu tạo nên di tích, vừa bổ sung lớp ý nghĩa sâu xa, tạo giá trị thẩm mỹ cho ngôi đình Theo lời kể của các cụ

bô lão, trước kia đình có một nghi môn bằng gỗ lợp ngói theo lối cổ truyền, bao gồm 3 gian, nằm ở mé ngoài sân đình hiện nay Năm 1962, do hoàn cảnh đương thời mà nghi môn đó đã bị phá bỏ Nghi môn nay được làm theo kiểu trụ biểu Loại nghi môn này bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỉ 18 theo như ảnh

vẽ của người phương Tây ( trước khi xâm lược nước ta), song tất cả những nghi môn đó đều không còn mà kiểu thức này chủ yếu chỉ còn lại ở nước ta vào khoảng cuối thế kỉ XIX trở về sau Bởi vào thời Nguyễn, nước ta mới dần phổ biến kĩ thuật xây gạch vôi vữa, chứ trước đó chỉ dùng gạch, gỗ, đá, ngói

Ta có thể bắt gặp những nghi môn tương tự đình Ngăm Lương ở các di tích : đình Hoàng Xá ( Ứng Hòa), đình thôn Vàng ( Gia Lâm), đình Mông Phụ

Trang 39

( Sơn Tây), đình Trà Cổ( Móng Cái) Nghi môn đình Ngăm Lương cấu tạo bởi 4 cột trụ lớn tạo thành 3 lối đi Hai cột chính lớn ở giữa xác định nơi ra vào của thần và kiệu hội, rất rộng, đi thẳng vào sân đình Hai cột phụ nằm đối xứng hai bên hai cột chính tạo thành 2 cổng phụ Về cơ bản, bốn trụ biểu này

có kết cấu và tạo hình tương tự nhau, chỉ khác ở kích thước ( hai cột chính lớn hơn hai cột phụ) và linh vật trên đỉnh cột Bố cục các cột đều chia làm 4 phần: đỉnh trụ, lồng trụ, thân trụ và đế trụ Đỉnh trụ là cao nhất, cấu tạo bằng một cái đấu vuông đặt lên trên phần mui luyện thông qua một cái “đôn” phình tròn, trên đỉnh của đấu đắp linh vật nghê Dưới đỉnh trụ là lồng trụ được đắp theo kiểu giả lồng đèn, lồng hình hộp chữ nhật đặc, xây thụt vào từng cấp cả 4 mặt

để đắp tứ linh Thân trụ thẳng, chiếm tỉ lệ dài nhất, với yêu cầu tạo khoảng trống để viết câu đối Phần này không trang trí gì, chỉ tạo nét mềm những chỗ góc cạnh cốt làm nền cho phần câu đối Các cột đều xây bằng gạch trát vữa Hai cổng phụ xây bịt kín, tạo thành 2 cổng giả có mái Cổng phụ không tạo cửa ra vào vì nay toàn bộ đi qua cổng giữa Trên cổng phụ kết cấu chồng diêm (2 tầng 8 mái) Trên cổng phụ cong “ tò vò” này là một ô đại tự Tuy nghi môn hiện nay là được bổ sung thêm vào năm 1997 nhưng lại đem lại hiệu quả thiết thực cho di tích Nó không chỉ tạo lối ra vào, làm bộ phận bảo

vệ mà còn mang tính thẩm mĩ sâu sắc, thể hiện đầy đủ quan niệm kiến trúc dân gian cho đình Ngăm Lương

2.1.3.2 Đại đình

- Nền móng:

Đình Ngăm Lương (Ảnh số 2) nằm trên một vuông đất khá cao, nền đất chắc chắn Móng của đình hiện đươc bó vỉa bằng gạch vồ cỡ lớn, kích thước 30x30x7 cm Riêng phần móng gian giữa được bó bỉa bằng 4 bậc đá lớn tạo thành lối lên xuống vững chắc, nhằm phân biệt với các gian bên.Người xưa quan niệm đá mang sức linh nhất định Thông thường các di tích cổ đều được

bó vỉa bằng đá, như chùa Dâu (Bắc Ninh), đình Hoàng Xá ( Ứng Hòa), chùa Thày ( Thạch Thất)… Trong trường hợp này, chúng có tác dụng đánh dấu lối

Trang 40

đi của thần linh, con người đi ra vào qua các gian bên móng gạch Đó là sự phân lối có chủ định nhằm đề cao luật lệ và sự tôn trọng thần linh Nhà đại đình có diện tích mặt nền 21m x 11 m, kết cấu theo lối lòng thuyền, nền có độ cao 31 cm so với mặt sân và chỉ có duy nhất 1 cấp nền, đó là ứng với chữ

“sinh” Trước năm 1962, đình Ngăm Lương có hệ thống ván sàn 2 gian bên

và 2 gian chái, gian giữa để thấp, lát gạch, do quan niệm của người Việt xưa

là để thông tam giới, con người đi lại, tế lễ trên sàn gỗ-nền đất mới linh, sẽ dễ ứng nghiệm hơn, vạn vật sinh sôi, dài dòng lớn họ Năm 1962, do được trưng dụng làm kho thóc Hợp tác xã và hội trường làng nên sàn 2 gian bên bị dỡ ra đóng bàn ghế, nay bàn ghế vẫn còn, chỉ còn để lại duy nhất sàn của một gian chái bên trái Hiện nay trên chân các cột vẫn còn dấu vết của lỗ mộng lắp dầm sàn, kích thước 14x21cm Gian giữa của đại đình hiện được lát gạch đá hoa vào thời điểm năm 2005, hai gian bên lát gạch bát vuông đỏ kích thước 27x27x4 cm Đình chỉ còn lại sàn của gian chái, cao 60 cm so với mặt nền Dưới mặt sàn là nền đất nện, không lát gạch, vẫn bảo lưu được kiểu thức nguyên sơ từ khi xây dựng Sàn nhà là kết cấu cổ truyền của người Việt, có tác dụng là để tránh rắn rết, con trùng, thú dữ Thiên nhiên và khí hậu bắt buộc chúng ta phải làm như vậy Nay nền đại đình được lát gạch, có ưu điểm

về độ bền, tạo độ phẳng, sạch sẽ và dễ quét dọn Trên mặt nền được bố trí cá tảng đá kê chân cột bằng đá xanh to và dày Các chân tảng này chịu toàn bộ trọng lực của kiến trúc do các cột dồn xuống và còn tránh hơi ẩm, mối mọt cho các cột, tạo độ bền cho công trình

Nền đình là mặt bằng sinh hoạt chung, nơi diễn ra các hoạt động trong nhà đại đình Chái bên phải đình Ngăm Lương hiện vẫn sử dụng làm hội trường, nơi bàn bạc, hội họp của người dân, chái bên phải còn sàn gỗ, làm sân khấu có mắc phông để tổ chức hát chèo, văn nghệ quần chúng và trải chiếu dành cho các cụ cao tuổi ngồi Đại đình làng Ngăm vẫn là nơi sinh hoạt văn hóa công cộng, cố kết tình làng nghĩa xóm

- Khung kết cấu

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lâm Biền (2012), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Nxb .Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb .Văn hóa Thông tin
Năm: 2012
2. Trần Lâm Biền ( 2011), Trang trí trong mĩ thuật truyền thống của người Việt, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mĩ thuật truyền thống của người Việt
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
3. Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (2003), Góp phần nhận thức thế giới đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức thế giới đương đại
Tác giả: Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
4. Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Bảo tồn Bảo tàng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (2003), Cổ vật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ vật Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Bảo tồn Bảo tàng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Năm: 2003
5. Nguyễn Đình Bưu, Nguyễn Xuân Cần, Linh Chi ( 1982 ), Địa chí Hà Bắc, Thư viện tỉnh Hà Bắc, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Hà Bắc
6. Lê Ngọc Canh ( 2009), Phương pháp nghiên cứu khoa học Văn hóa Nghệ thuật, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học Văn hóa Nghệ thuật
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
7. Lâm Văn Cách, Đặng Tài Tính, Nguyễn Thế Doanh (2001), Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo / Sưu tập và hệ thống hoá văn bản, Nxb.Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo / Sưu tập và hệ thống hoá văn bản
Tác giả: Lâm Văn Cách, Đặng Tài Tính, Nguyễn Thế Doanh
Nhà XB: Nxb.Tôn giáo
Năm: 2001
8. Nguyễn Du Chi (2000), Bản rập hoạ tiết mỹ thuật cổ Việt Nam, Nxb.Mĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản rập hoạ tiết mỹ thuật cổ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb.Mĩ thuật
Năm: 2000
9. Nguyễn Du Chi ( 2003), Hoa văn Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
10. Nguyễn Du Chi ( 2011), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
11. Phạm Thị Chỉnh ( 2013), Lịch sử mĩ thuật Việt Nam, Nxb .Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
Nhà XB: Nxb .Đại học Sư phạm
12. Uông Chính Chương, Nguyễn Văn Nam ( dịch ) ( 2011), Mĩ học kiến trúc, Nxb. Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học kiến trúc
Nhà XB: Nxb. Xây dựng
13. Nguyễn Văn Cương (2002), Mĩ thuật đình làng ở đồng bằng Băc Bộ - Một di sản văn hóa dân tộc đặc sắc, Nxb .Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ thuật đình làng ở đồng bằng Băc Bộ - Một di sản văn hóa dân tộc đặc sắc
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Nhà XB: Nxb .Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
14. Nguyễn Mạnh Cường (2000), Chùa Dâu – Tứ Pháp và hệ thống các chùa Tứ Pháp, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Dâu – Tứ Pháp và hệ thống các chùa Tứ Pháp
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 2000
15. Nguyễn Xuân Diện, (2007), Lịch sử nghệ thuật ca trù : Khảo sát nguồn tư liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb.Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nghệ thuật ca trù : Khảo sát nguồn tư liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Nhà XB: Nxb.Thế giới
Năm: 2007
16. Phạm Văn Đấu, Phạm Võ Thanh Hà (2005), Những nền văn hoá khảo cổ tiêu biểu ở Việt Nam, Nxb.Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn hoá" khảo cổ "tiêu biểu ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Đấu, Phạm Võ Thanh Hà
Nhà XB: Nxb.Văn hóa thông tin
Năm: 2005
17. Trịnh Thị Minh Đức (Ch.b), Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá : Giáo trình dành cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành Bảo tàng,Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá : Giáo trình dành cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành Bảo tàng
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức (Ch.b), Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
18. Hoàng Giá, Phan Cẩm Thượng (2004), Huyền tích chùa Bút Tháp, Nxb.Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Huyền tích chùa Bút Tháp
Tác giả: Hoàng Giá, Phan Cẩm Thượng
Nhà XB: Nxb.Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
19. Trang Thanh Hiền, (2007), Cửu phầm liên hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam, Nxb.Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cửu phầm liên hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam
Tác giả: Trang Thanh Hiền
Nhà XB: Nxb.Thế giới
Năm: 2007
20. Trang Thanh Hiền, Trần Hậu Yên Thế, Bùi Thị Thanh Mai (2007), Giới có phải là vấn đề? = Does gender matter? , Nxb.Mĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới có phải là vấn đề? = Does gender matter
Tác giả: Trang Thanh Hiền, Trần Hậu Yên Thế, Bùi Thị Thanh Mai
Nhà XB: Nxb.Mĩ thuật
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w