1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu giá trị lịch sử văn hóa đình yên thôn, xã thạch xá, huyện thạch thất, TP hà nội

89 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nằm liền kề với vùng đất Sơn Tây nơi đến hiện nay vẫn còn hiện hữu các công trình di tích cổ vô cùng quý báu của quốc gia như: đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, đình Thuỵ Phiêu, chùa Mớa…cù

Trang 1

trường đại học văn hoá hμ nội

Trang 2

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4 

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đớch nghiờn cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu 6

4 Phương phỏp nghiờn cứu 6

5 Bố cục bài khoỏ luận 6

Chương 1 8 

Đình Thôn Yên trong lịch sử 8

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại 8 

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 8 

1.1.2 Địa danh hμnh chính xã Thạch Xá 9 

1.1.3 Truyền thống văn hoá vμ đời sống dân cư 11 

1.2 Qúa trình hình thμnh vμ tồn tại đình Yên thôn 16 

1.2.1 Quá trình hình thμnh đình Yên thôn 18 

1.2.2 Sự tích nhân vật được thờ 21 

Chương 2 26 

Giá trị kiến trúc - nghệ thuật, lễ hội đình Yên thôn 26 

2.1 Giá trị kiến trúc - nghệ thuật 26 

2.1.1 Không gian cảnh quan vμ bố cục mặt bằng 26 

2.1.2 Kết cấu kiến trúc vμ trang trí kiến trúc 28 

2.1.2.1 Nghi môn 28

2.1.2.2 Nhμ tả vu - hữu vu 30

2.1.2.3 Đại bái 30

2.2.2.4 Hậu cung 37

2.2 Di vật tiờu biểu đỡnh Yờn thụn 39 

2.2.1 Di vật bằng gỗ 39 

2.2.2 Di vật gốm sứ 43 

2.2.3 Di vật bằng vải 44 

2.2.4 Di vật bằng đồng 45 

2.3 Lễ hội đỡnh Yờn thụn 45 

2.3.1 Thời gian, không gian diễn ra lễ hội 45 

2.3.2 Việc tổ chức chuẩn bị 48 

Trang 3

2.3.3 Néi dung chÝnh cña lÔ héi 51 

2.3.3.1. Phần lễ   51 

2.3.3.2 Phần hội   55 

CHƯƠNG 3 58 

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH  ĐÌNH YÊN THÔN 58

3.1 Đánh giá hiện trạng di tích đình Yên thôn 58 

3.1.1 Cảnh quan và môi trường xung quanh di tích 58 

3.1.2 Nhà tả vu - hữu vu 60 

3.1.3 Đại bái 60 

3.1.4 Hậu cung 61 

3.1.5 Di vật trong di tích 61 

3.1.6 Lễ hội 62 

3.2 Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình Yên thôn 62 

3.2.1 Bảo vệ di tích bằng giải pháp kỹ thuật 62 

3.2.2 Phát huy giá trị di tích đình Yên thôn 64 

3.2.3 Phát huy vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình Yên thôn 67  KẾT LUẬN 70 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 

PHỤ LỤC Kho¸ luËn tèt nghiÖp 74 

Trang 4

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam lμ một trong những quốc gia Á Đông có nền văn hoá vô cùng đặc sắc, đa dạng, những nét văn hoá riêng biệt ấy chính lμ cái cốt lừi để người ta nhận ra Việt Nam giữa hμng trăm các quốc gia khác Các công trình di tích lịch sử văn hoỏ và danh lam thắng cảnh là một trong những bằng chứng phản ỏnh nét riêng biệt, độc đáo của đất nước ta

Đi dọc dải đất hình chữ S duyên dáng, chúng ta thấy hiện hữu hμng trămcác công trình di tích lịch sử, những đền đμi, miếu mạo, những đình chùa, cung điện, lăng tẩm chúng lμ những minh chứng lịch sử, những dấu vết không phai mờ của thời gian, lμ sự hội tụ vμ kết tinh của những giá trị văn hoá dân tộc suốt hμng nghìn thế kỷ Trải qua biết bao thăng trầm biến đổi của thời gian, sự phỏ hoại của tự nhiên, những công trình kiến trúc ấy vẫn tồn tại đến ngμy hôm nay vμ trở thμnh nguồn di sản vô cùng quý báu của văn hoá dân tộc

Bước vμo thế kỷ XXI đất nước ngμy một hội nhập sõu rộng hơn với thế giới trên nhiều lĩnh vực, chúng ta có nhiều cơ hội đề đưa đất nước tiến lên nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với không ít những thách thức Đặc biệt trên bỡnh diện văn hoá vốn rất dễ bị biến đổi vμ lμm mất đi những giá trị truyền thống Vấn đề đặt ra lμ lμm sao để vừa phát triển đựơc, đưa Việt Nam trở thμnh một nước tiên tiến nhưng vẫn phải giữ lại được những giỏ trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Giữ vững phương chõm “hoμ nhập nhưng không hoμ tan” Vì vậy trong kỳ họp của Trung ương V khoá VIII, Đảng đã đưa ra Nghị quyết về “Vấn đề xây dựng vμ phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đμ bản sắc dân tộc”

Lμ một sinh viên được học tại trường Đại học Văn hoá, chuyên ngμnh Bảo tồn - bảo tμng em cμng hiểu rõ hơn giá trị của những di sản văn hoá dân tộc trong thời đại mới Đó chính lμ cái nền tảng, lμ bệ đỡ, lμ cái gốc để

Trang 5

đưa đất nước ta phát triển Nhưng ngμy nay những di sản ấy đang ngμy cμng

bị mai một, đặc biệt lμ các công trình di tích vốn đã không còn nhiều thì cũng đang bị xuống cấp khá trầm trọng, nếu chúng ta không nhìn nhận cho

đúng những giá trị của những di tích ấy, không bảo tồn gìn giữ chúng thì nhứng di tích ấy sẽ vĩnh viễn mất đi vμ như thế nghĩa lμ chúng ta đang lμm mất đi những tμi sản vô giá nơi kết tinh trí tuệ, công sức của nhân dân trong suốt quá trình lịch sử

Vì vậy em đã chọn đề tμi “Tỡm hiểu giỏ trị lịch sử văn hoỏ di tớch đỡnh Yờn thụn - xó Thạch Xỏ - huyện Thạch Thất - thành phố Hà Nội” lμm đề tμi viết khoỏ luận tốt nghiệp của em Em mong có thể góp một phần nhỏ bé của mình để bước đầu tìm hiểu giá trị của ngôi đình vμ những đóng góp của

nó với cộng đồng dân cư trong đời sống văn hoá hiện nay Từ đú em bước đầu đề ra một số giải phỏp để bảo tồn và phỏt huy giỏ trị của ngụi đỡnh

2 Mục đớch nghiờn cứu

Đỡnh Yờn thụn là di tớch lịch sử văn hoỏ cú đầy đủ tớnh chất đớch thực cả nội dung và hỡnh thức,đó được cỏc cơ quan văn hoỏ khảo sỏt, tỡm hiểu về kiến trỳc và lễ hội để lập hồ sơ xếp hạng di tớch lịch sử văn hoỏ Năm 1988 đỡnh Yờn thụn đó được xếp hạng di tớch lịch sử văn hoỏ cấp quốc gia Tuy nhiờn cỏc thụng tin trong hồ sơ di tớch chỉ mang tớnh chất khỏi quỏt, chưa mang tớnh chuyờn sõu vào từng chi tiết kiến trỳc nghệ thuật, hiện trạng và giải phỏp bảo tồn di tớch

Khoỏ luận “Tỡm hiểu gớa trị lịch sử văn hoỏ di tớch đỡnh Yờn thụn” của

em là bài bỏo cỏo trước khi tốt nghiệp, đồng thời cũng là bài nghiờn cứu khoa học nhằm tỡm hiểu về cỏc giỏ trị văn hoỏ, lịch sử, mỹ thuật của ngụi đỡnh và đưa ra những giải phỏp của cỏ nhõn nhằm bảo tồn và phỏt huy giỏ trị của di tớch Là một sinh viờn được học chuyờn ngành bảo tồn - bảo tàng,

em đó cố gắng nghiờn cứu để cú được những hiểu biết chuyờn sõu về cỏc giỏ trị lịch sử, văn hoỏ của di tớch đỡnh Yờn thụn, bước đầu đưa ra những giải phỏp bảo tồn và đề xuất những ý kiến để phỏt huy vai trũ của di tớch

Trang 6

Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÞ Ph−îng

trong cuộc sống hiện đại Đặc biệt khi ngày nay di tích đã trở thành một phần văn hoá của Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến thì viÖc bảo vệ

và phát huy những nét giá trị quý của di tích càng trở thành một công việc cần thiết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đình Yên thôn, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khái quát toàn cảnh di tích đình Yên thôn trong không gian, thời gian, lịch sử văn hoá của vùng đất Thạch Xá, nơi di tích tồn tại

4 Phương pháp nghiên cứu

Bài khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điền dã dân tộc học

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp liên ngành lịch sử, khảo cổ học, văn hoá học

5 Bố cục bài khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phÇn néi dung cña bài khoá luận gồm ba chương:

- Chương 1: Đình Yên thôn trong lịch sử

- Chương 2: GÝa trị kiến trúc - nghệ thuật, lễ hội đình Yên thôn

- Chương 3: Bảo vệ và phát huy gía trị di tích đình Yên thôn

Đây là bài viết nghiên cứu báo cáo trước khi tốt nghiệp Do sự hạn chế

về thời gian cũng như hạn chế nhất định của bản thân, bài viết chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sơ sót, kính mong các thầy cô và bạn bè tham khảo đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn chỉnh hơn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Nguyến Quốc Hùng, thầy là người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đựơc bài khoá luận Trong quá trình tiến hành viết thầy đã hướng dẫn cho em cách

Trang 7

làm bài, cách tiếp cận tài liệu liên quan đến di tích Đồng thời em cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các thầy cô trong khoa Bảo tàng, các bạn bè trong lớp và Ban quản lý di tích xã Thạch Xá trong suốt thời gian làm bài

Trang 8

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Chương 1

Đình Thôn Yên trong lịch sử

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại

Tỉnh Hμ Tây (cũ) từ lâu đã được biết đến lμ một vùng đất cổ, lμ một

địa thế linh thiêng nằm trong cái nôi văn minh ở Châu thổ sông Hồng thuộc

đất Văn Lang của các vua Hùng buổi đầu dựng nước Chính vì vậy mμ trên mảnh đất Hμ Tây có rất nhiều các công trình di tích lịch sử văn hoá, vμ số các công trình di tích còn tồn tại đến ngμy nay cũng gần như nhiều nhất trên cả nước Năm 1995, tổng kiểm kê di tích lịch sử văn hoá tỉnh Hμ Tây

có 2.388 di tích vμ cụm di tích, trong đó có 820 đình, 890 chùa, 33 địa điểm

di tích cách mạng, còn lại lμ các loại hình đền, miếu vμ nhμ thờ danh nhân Trong số đó các công trình di tích nổi tiếng nhất đã được Bộ văn hoá - Thông tin xếp vμo loại đặc biệt quan trọng phải kể đến lμ: Chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Mía, chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian , chùa Đậu, đình Tây Đằng, đình Tường Phiêu , đình Chu Quyến.Cho đến nay Hμ Tây (cũ) đã có 400 di tích được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận cấp bằng di tích lịch sử văn hoá Số lượng di tích nμy có những giá trị lịch

sử văn hoá vμ kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu cho nhiều giai đoạn phát triển của văn hoá Hμ Tây

Năm 2008 Hμ Tây chính thức được sát nhập vμ trở thμnh một bộ phận của thủ đô Hμ Nội, điều đó đã thể hiện vai trò đặc biệt của Hμ Tây trong chiến lược phát triển thủ đụ núi riờng cũng như của đất nước núi chung trong giai đoạn mới Sự kiện quan trọng nμy sẽ tạo các điều kiện thuận lợi để các di tích lịch sử văn hoá được quan tâm gìn giữ, bảo tồn tốt hơn, đồng thời phát huy giá trị của di tích một cách toμn diện hơn

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Xã Thạch Xá lμ một xã thuộc huyện Thạch Thất, thμnh phố Hμ Nội

Từ xa xưa vùng đất Thạch Thất vẫn được coi lμ một vùng đất thiêng, nó

Trang 9

nằm liền kề với vùng đất Sơn Tây nơi đến hiện nay vẫn còn hiện hữu các công trình di tích cổ vô cùng quý báu của quốc gia như: đình Tây Đằng,

đình Chu Quyến, đình Thuỵ Phiêu, chùa Mớa…cùng trên cái trục địa lý ấy mảnh đất Thạch Thất , cũng như xã Thạch Xá cũng xuất hiện nhiều công trình di tích kiến trúc độc đáo, có một không hai, tiêu biểu lμ công trình kiến trúc chùa Tây Phương , đình thôn Yên, chùa Bảo Quang, đền Đỗng

Hoa, chùa Sơn Thể

Thạch Xá nằm cách huyện lỵ Thạch Thất 4km về phía đông nam, kề sát về phía bắc trên cùng một khoảnh đất lμ xã Chμng Sơn vốn lμ một tổng của Thạch Xá trứơc kia Phía Bắc giáp xã Hương Ngải, Canh Nậu, Dị Nậu, phía Tây giáp xã Cần Kiệm , phiá Nam giáp xã Bình Phú, phớa Đụng giỏp

Bé, Yên gọi lμ Kẻ Triền, Chμng gọi lμ Lμng Cả Chạ, Lμng lμ những đơn vị dân cư từ thời công xã nguyên thuỷ, trước thời Hùng Vương dựng nước (theo ngọc phả Hùng Vương do Vụ Bảo tồn bảo tμng Bộ văn hoá xuất bản năm 1971 có viết : Công xã Việt Nam ngμy xưa gọi lμ Chạ, lμ Lμng, chung chạ, ăn chung ở chạ Khi chưa dựng nước thì ăn ở với nhau trong họ ngoμi lμng)

Trên mảnh đất của cha ông ta sinh sống, xưa có tên gọi lμ Cổ Liêu Trang Ngμy nay trong đền Đỗng Hoa của Yên thôn còn lưu lại một bμi thơ, trong có câu:

Khai hoang Nguyễn Xá dân nhμ

Cổ Liêu còn đó vốn lμ hương căn

Trang 10

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Chữ cổ, dạng chữ Hán viết lμ chỉ một vùng đất có người ở vμo loại lâu đời nhất vùng Chữ liêu, các cụ xưa vẫn nói để chỉ về quê hương mình , dạng tự chữ Hán viết lμ , chỉ một vùng đất có đầm nước Vùng đất nμy xưa kia có 3 đầm nước: đầm Cầu Liêu, đầm Bùi, đầm Chμng Đầm Cầu Liêu

được đặt khi có một chiếc cầu bắc qua đầm nước ở đó Cổ Liêu Trang lμ một trang trại có đầm nước

Qua thời gian, ngμy nay những đặc điểm đó đã có nhiều biến đổi,

ông cha ta trong quá trình sinh sống đã không ngừng cải tạo tự nhiên để biến những vùng đầm nước mênh mông, những vùng đồi gò thμnh những mảnh đất trồng trọt tươi tốt

Con người trong thời kỳ sơ khai ấy phải dựa chủ yếu vμo thiên nhiên

để sinh sống, họ kính trọng vμ quy phục trước sức mạnh của tự nhiên Do

đó cũng theo tự nhiên con người sống ở vùng sông nước thì thờ cúng thần nước, sống ở vùng đồi núi thì thờ thần núi Vùng đất Thạch Xá cũng không nằm ngoμi quy luật đó, cùng nằm trong mạch địa lý của vùng đồi núi nên cả

ba lμng ở đây đều thờ thần Núi lμ Tản Viên Sơn

Đến đời Lê Hồng Đức (1496) lμng có ông Nguyễn Thiều đỗ đệ nhịgiáp Tiến sĩ vμ lμm quan đến chức ngự sử nên tên Cổ Liêu trang được đổi thμnh Nguyễn Xá trang Đến năm 1798 lμ năm đúc chuông chựa Tây Phương thì tên gọi Nguyễn Xá vẫn còn vì trong bμi minh trờn chuông có dòng chữ: “Tây Phương sơn tại Thạch Thất Nguyễn Xá chi triền thôn Mậu Ngọ 1798” tức lμ núi Tây Phương tại Thạch Thất, xã Nguyễn Xá thôn Triền Nhưng trong năm Cảnh Thịnh thứ 8 tức năm canh Thân 1800 lμ năm

đúc chuông chùa Chàng thì trong bμi minh trên chuông lại ghi tên xã lμ Thạch Xá “Quốc Oai phủ, Thạch Thất huyện, Thạch Xá xã, Chμng thôn Cảnh Thịnh bát niên tuế tại Canh Thân”.Như vậy tên gọi Thạch Xá chỉ xuất hiện trong khoảng hai năm từ năm 1798 đến 1800, tức lμ vμo cuối thời Nguyễn – Tây Sơn

Trong cuốn Sơn Tây địa chí của Phạm Xuân Độ, kiểm học Sơn Tây xuất bản năm 1941 có ghi “Năm Quang Thuận thứ mười 1469 khi vua Lê

Trang 11

Thánh Tôn đặt ra Sơn Tây thừa tuyên đã có huyện Thạch Thất Vì trong hạt

có núi đá nên triều đình lấy chữ “thạch” đặt tên huyện” Cái tên Thạch Xá cũng có cái gốc từ đấy mμ ra Tờn Thạch Thất dạng chữ Hỏn viết là………, tờn Thạch Xỏ dạng chữ Hỏn viết là……… Từ đấy có thể suy ra tên gọi của một địa phương nhiều khi thường được gắn với một đặc điểm nμo đó rất cụ thể

Xã Thạch Xá từ xưa vốn có ba thôn lμ Chμng, Thạch vμ Yên (nhất xã tam thôn), trong đó thôn Chμng đã có 42 năm đặt huyện lị

Thạch Xá lμ một vùng bán sơn địa nhưng không có nhiều đồi núi như một số xã khác trong huyện, chỉ có ngọn núi duy nhất cao 50 m, hình cong như lưỡi câu nên gọi lμ núi Câu Lậu, nằm ở thôn Tây Phương, ngoμi ra thôn Đồng Sống cũng lμ vùng đồi gò nhưng khá thấp không có núi, còn lại

đất đai tương đối bằng phẳng, đồng ruộng dễ lμm, dân cư sống tập trung

Xã Thạch Xá lμ một trong 23 xã, thị trấn của huyện Thạch Thất Trước năm 1945 nguyên lμ tổng Thạch Xá, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Qua mỗi lần thay đổi địa chỉ hμnh chính, Thạch Thất (trong đó có xã Thạch Xá) lại trực thuộc các tỉnh khác nhau: Năm 1965 xã Thạch Xá thuộc tỉnh Hμ Tây Năm 1975 thuộc tỉnh Hμ Sơn Bình Đến năm

1979 thuộc địa phận Hμ Nội Năm 1996 Thạch Xá trở về thuộc tỉnh Hμ Tây

Vμ năm 2008 Hμ Tây lại trở thμnh một bộ phận của thủ đô Hμ Nội, Thạch Xá hiện nay cũng lμ một vùng ven đô

1.1.3 Truyền thống văn hoá vμ đời sống dân cư

Thạch Xá từ xưa đến nay luôn lμ một đơn vị hμnh chính cấp xã của huyện Thạch Thất Thạch Thất lμ vùng đất chuyển tiếp giữa miền núi vμ

đồng bằng, thuộc triền phía tây Hμ Nội nên có lịch sử dân cư vμ tổ chức hμnh chính từ rất sớm Vμo thời kỳ Hùng Vương, địa phận phía tây huyện thuộc về bộ lạc Hùng Vương – nơi đóng đô của các vua Hùng “ Bộ lạc Hùng Vương lμ bộ lạc lớn, bao trùm cả một phần tỉnh Yên Bái, Vĩnh Phú, Tuyên Quang, Phúc Thọ, Sơn Tây ( Hμ Tây các huyện Bất Bạt, Tùng Thiện,

Trang 12

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Thạch Thất, Quốc Oai) lμ di dụê của những người Lạc Việt”(1) Trên địa bμn huyện Thạch Thất trong quá trình sản xuất nhân dân đã phát hiện ra nhiều cổ vật như rìu đá, đục đá(thuộc đồ đá mới) đã có niên đại cách đây trên dưới 4000 năm tại địa phận các xã Thạch Hoμ, Cần Kiệm.Chính vì có một lịch sử hình thμnh xa xưa như vậy nên khoảng đầu công nguyên trên

địa bμn các xã Bình Phú, Thạch Xá, Chμng Sơn, Hữu Bằng, Phùng Xá, Hương Ngải, Canh Nậu, Dị Nậu đã hỡnh thμnh những cộng động dân cư nhưng còn thưa thớt với những tên gọi như kẻ Nủa, kẻ Ngái, kẻ Núc.Riêng Thạch Xá xưa kia bao gồm 3 thôn lμ thôn Chμng, thôn Thạch vμ thôn Yên nên xưa còn gọi lμ dân tam thôn nhưng sau nμy Chμng thôn tách ra thμnh lập xã riêng nên Thạch Xá chỉ còn lại hai thôn lμ Thạch thôn vμ Yên thôn Dân cư hai lμng được chia thμnh 24 họ, lμng Thạch 10 họ, lμng Yên 14 họ Dân trong lμng tuy đời sống khó khăn nhưng cũng đã nuôi dưỡng nên nhiều người con ưu tú học rộng tμi cao, đỗ đạt ra giúp nước giúp dân

Trầm Đỗng Quý Vương lμ người con trên mảnh đất Cổ Liêu, lúc còn nhỏ tên gọi lμ Trương Chủng, khôi ngô tuấn tú, cμng lớn cμng thông minh, ham học hỏi, kiêm tμi văn võ Lớn lên trong cảnh đất nước bị giặc Lương cướp phá, ông đứng ra chiêu tập binh sĩ giúp Lý Bí khởi nghĩa đánh tan quân Lương Lý Bí lên ngôi phong cho ông chức Thái Uý Sau khi mất ông

được sắc phong của Hậu Lý Nam Đế Ông được nhân dân phong thánh vμ

được nhân dân trong xã thờ tại các đình trong lμng để bμy tỏ lòng kính trọng của mình đối với công đức vμ khí phách của người anh hùng chống xâm lược

Tiến sĩ Phùng Đốc đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ khoa kỷ mùi năm Lê Cảnh Thống thứ 29 (1499) vμ lμm quan đến chức giám sát ngự sử

Tiến sĩ Nguyễn Thiều đỗ đệ nhị giáp khoa Bính Thìn đời vua Lê Hồng Đức thứ 27 tức lμ năm 1496 Ông đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau đến năm Quang Thuận thứ 3 (1518) thăng đến chức Giám sát ngự sử

xứ Lạng Sơn

Trang 13

Tiến sĩ Nguyễn Côn, đỗ tiến sĩ năm Canh Thân 1680 Năm Giáp Tý

1648 ông thăng đến chức Hiến sát xứ - xứ Hưng Hoá vμ mất tại đó

Truyền thống hiếu học của địa phương được cỏc thế hệ nối tiếp nhau chăm lo khuyến khích Ngμy nay cứ vμo mùng 4 tết xã lại tổ chức họp mặt

vμ trao phần thưởng cho các em thi đỗ vμo các trường Cao đẳng, đại học Không những thế mỗi dòng họ còn có các quỹ khuyến học riêng, cứ đến dịp họp họ sẽ đưa các em đến vinh danh tại các nhμ thờ họ để các em cμng thêm hiểu về tinh thần hiếu học của cha ông, để cμng cố gắng vμ cũng lμ tấm gương để các thế hệ sau các em cố gắng noi theo Sự học ở quê hương Thạch Xá đã, đang vμ sẽ được coi trọng, lμ trách nhiệm của của mọi cá nhân lμng xã gúp phần lμm cho quê hương thêm giμu có, thêm tươi đẹp

Vùng quê Thạch Xá tuy diện tích không rộng nhưng trong quá trình tạo lập quê hương, sinh cơ lập nghiệp hμng nghìn năm đã tạo nên một cộng

đồng cư dân đầy sáng tạo với nhiều ngμnh nghề Năm 1935 có một tμi liệu của học giả ngưòi Pháp lμ Pi-e-rơ-gu-ru đã công bố rằng: Ơ đồng bằng Bắc

Bộ Việt Nam có 108 nghề thủ công thì riêng ở tổng Thạch Xá (lúc đó) đó

có nhiều nghề như : dệt, nhuộm, rèn, mộc, nề, đan vμ đã có tới 26% số dân lμm nghề

Theo một tμi liệu khác, trước thời điểm 1939 - 1940 tổng Thạch Xá

có hμng trăm nghề lớn nhỏ Chỉ nói riêng về những nghề truyền thống, nhiều tác giả cũng đã liệt kê quê hương Thạch Xỏ có tới trên 20 nghề Đến nay có nghề còn tồn tại cú nghề đã mai một đi nhưng nhiều nhμ nghiên cứu cũng cho rằng Thạch Xá lμ một trong những cái nôi ra đời của nền sản xuất tiểu thủ công vùng Châu thổ sông Hồng

Xưa kia cùng với các xã trong tổng, Thạch Xá cũng có tên gọi chung

lμ kẻ Nủa Câu nói của người xưa còn truyền lại đến nay:

Chớ cho kẻ Nủa coi, chớ cho kẻ Noi thấy

Hoặc:

Trang 14

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Nủa coi Nủa thấy, Noi thấy noi theo

Đọc những câu ca ấy cho ta thấy người xưa đã đúc kết người dân kẻNủa lμ những người rất thông minh, lanh lợi, nhanh nhạy, giỏi bắt chước, hễ thấy người ta lμm được nghề gì lμ ngưòi dân kẻ Nủa lại nhanh chóng nắm bắt vμ học được, do vậy mμ người dân nơi đây sống bằng rất nhiều nghề

Vẫn theo Sơn Tây địa chí của Phạm Xuân Độ: "Từ xưa đất Thạch Xá nổi tiếng có nhiều nghề phụ Dân hai lμng Yên thôn, Thạch thôn có nghề dệt vải truyền thống Bà con dệt theo lối cổ, có thứ vải rộng 40 phân” Đất Thạch Xá còn được dân xứ Đoμi biết đến bởi các sản phẩm có tiếng như kẹo, bánh rán, chè lam, bánh tẻ chỉ với những nguyên liệu đơn giản, mộc mạc nhưng từ đôi bμn tay khéo léo của người dân những thức bánh thơm ngon được lμm ra đã níu kéo tâm hồn bao người Ngμy nay người dân Thạch Xá vẫn còn giữ lại nghề lμm bánh kẹo thủ công, cùng với nền kinh tế thị trường, những sản phẩm ấy đã trở thμnh những sản phẩm đem lại thu nhập khá ổn định cho người dân Nếu có dịp đi về với quê hương "Các vị La Hán chùa Tây Phương" các vị khách thập phương hãy ngồi lại nơi quán n

ước ven đường, thử thưởng thức món quμ quê giản dị nhưng thấm đượm sự khéo léo, mộc mạc của người dân quê để khi đi rồi lại cμng nhớ cμng th

ương vμ sẽ có ngμy lại quay về thăm quê hương Thạch Xá

Thạch Xá còn nổi tiếng với môn nghệ thuật múa rối nước, một môn nghệ thuật cổ truyền do thiền sư Từ Đạo Hạnh tu hμnh ở chùa Thầy truyền dạy cho từ nhiều đời nay Gần 30 tiết mục như rồng phun nước, xay lúa giã gạo, leo cây đốt pháo tiết mục nμo cũng đậm đμ bản sắc dân tộc vμ đạt trình

độ nghệ thuật cao Đoμn rối nước Thạch Xá từ xưa đã được đi biểu diễn nhiều nơi đầu thế kỷ 19 vμo tận trong Huế Ngμy nay xã Thạch Xá đang tích cực phục hồi lại bộ môn nghệ thuật nμy sau một thời gian vắng bóng,

đoμn múa rối của địa phương đã đi dự nhiều liên hoan múa rối tại lễ hội

Đền Hùng, tại Bảo tμng Dân tộc học vμ được đông đảo công chúng đónnhận Khôi phục vμ phát huy sức sống của môn múa rối nước lμ việc lμm

Trang 15

hết sức ý nghĩa để bảo tồn những giá trị văn hoá đặc sắc của quê hương Thạch Xá

Với một bề dμy lịch sử vμ đời sống cư dân phong phú như vậy, mảnh

đất Thạch Xá còn lμ nơi tồn tại nhiều công trình kiến trúc vμ nghệ thuật từ lâu đời vμ được bảo tồn khá nguyên vẹn đến tận ngμy nay Đó lμ những

đình, chùa, quán, đền đã được khẳng định về giá trị, trong đó nhiều di tích

đã được Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch xếp hạng

Trước hết chúng ta phải nhắc đến đó lμ chùa Tây Phương, một công trình kiến trúc nghệ thuật đã "vượt qua ranh giới của một địa phương để sánh với tầm cao của nghệ thuật kiến trúc vμ điêu khắc Phương Đông" (Lịch sử cách mạng huyện Thạch Thất) Chùa Tây Phương nằm trên đỉnh nuí Câu Lậu, cao 50 thước, được xây dựng từ thế kỷ thứ III, đến năm Giáp Thân đời vua Lê Trang Tông (1551) chùa được xây dựng quy mô như ngμy nay nhưng chưa có tam quan Năm Chính Hoμ đời Lê Hi Tông (1676 - 1705) chúa Tây vương Trịnh Tạc đi qua đây vμ cho lμm tam quan Mỗi ngôi nhμ đều vươn lên tám mái đao cong, các góc mái đều gắn tứ linh bằng sμnh nung tinh sảo, thanh thoát Trong chùa các chân cột đều được kê bằng những phiến đá xanh trạm hoa sen Chùa có 62 pho tượng lμm bằng gỗ mít, ngoμi phủ sơn, pho nμo cũng tinh xảo, trang nghiêm sống động Ngôi chùa

lμ niềm tự hμo của nhân dân Thạch Xá, lμ di tích trọng điểm quốc gia hμng năm thu hỳt hμng triệu khách tham quan

Nằm cách chùa Tây Phương không xa lμ ngôi đình Yên thôn cổ kính Đỡnh cú niờn đại từ rất xa xưa, tương truyền được xõy dựng từ thời vua Lý Thánh Tông 1070, từ xưa đến nay đều được gọi lμ đình Yên thôn Đình nằm trên khu đất bằng phẳng, thoáng mát, địa thế đẹp Đình hiện còn nhiều hiện vật vμ dấu tích quý như bộ ngai, bộ kiệu, các bức cốn, con kìm đều có niên đại rất sớm Đình lμ một di tích kiến trúc nghệ thuật có đầy đủ những tính chất cả về nội dung vμ hình thức, có giá trị cao về lịch sử, văn hoá vμ nghệ thuật Đình thờ ba vị thánh Tản, lμ người có công với dân với nước,

được cả nhân dân tôn kính vμ tôn lμm thμnh hoμng bảo vệ cho lμng

Trang 16

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Ngoμi ra còn có nhiều di tích lịch sử văn hoá khác như đình trong thôn Thạch, đình ngoμi thôn Thạch, chùa Bảo Quang, chùa Sơn Thể thôn Thạch, đền Đỗng Hoa đều lμ các công trình di tích lịch sử văn hoá có giá trị, lμ chứng tích cho bề dμy lịch sử xã Thạch Xá

Ngμy nay cuộc sống ngμy cμng hối hả, nhộn nhịp, vùng đất Thạch Xá cũng thay da đổi thịt từng ngμy không còn lμ một vùng quê tĩnh lặng như xưa Nhưng những vẻ đẹp đặc trưng của một vùng đất cổ xứ Đoμi vẫn luôn hiện hữu, đó lμ vẻ đẹp chịu thương, chịu khó, sự khéo léo của người dân quê, một bề dμy lịch sử được tích đọng trong các công trình đền đμi miếu mạo cổ kính Những sự hoà quyện giữa hiện đại vμ lịch sử ấy cμng tạo nên một sắc thái mới độc đáo vμ hấp dẫn cho lμng quê

1.2 Qúa trình hình thμnh vμ tồn tại đình Yên thôn

Các công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng ra đời lμ kết quả từ tâm hồn, bμn tay, khối óc của quần chúng nhân dân Đó lμ sản phẩm từ sự ngưỡng vọng thiêng liêng của quần chúng về một lực lượng siêu nhiên mμ

họ tôn kính chính vì vậy mμ các công trình kiến trúc nμy được lμm một cách chau chuốt, tỉ mỉ vμ hμm chứa nhiều ý nghĩa văn hoá Trải qua hμng trăm năm tồn tại, đến ngμy nay các công trình tôn giáo tín ngưỡng ấy chính

lμ sự phản ỏnh rõ nét nhất về đời sống tâm linh cuả cha ông suốt bao thế hệ

Vμ chúng đã trở thμnh các di tích lịch sử văn hoá, lμ một bộ phận của di sản văn hoá dân tộc chứ không chỉ lμ những nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng

đơn thuần

Đình lμng lμ một công trình tôn giáo tín ngưỡng rất quan trọng trong

đời sống nhân dân, hầu như trên khắp đất nước ta lμng nμo cũng có một ngôi đình để thờ vị Thμnh hoμng lμng lμ người bảo hộ cho cuộc sống của

họ Từ khi ra đời đình lμng đã trải qua nhiều sự biến đổi cả về chức năng, kiến trúc vμ ở mỗi một vùng miền thì ngôi đình cũng hiện diện với những phong cách khỏ đa dạng

Chữ Đình theo Hán tự vốn có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa nhưng hoμn toμn không phải với nghĩa "đình lμng" thuần Việt như chúng ta

Trang 17

hiểu, mμ chỉ đơn thuần lμ ngôi nhμ nhỏ biệt lập, thông thoáng, giản dị dùng lμm chỗ dừng chân, trú mưa, nắng dọc đường hoặc dμnh cho mục đích thưởng ngoạn văn hoá ở những nơi có phong cảnh đẹp Theo ý nghĩa ấy trong một khu hμnh cung thời Lý (thế kỷ 12) có dựng Thưởng hoa đình (đình ngắm hoa), Thuỷ đình (đình rối nước)

Sau đó các vua triều Lý - Trần cho dựng gần đường cái quan những ngôi nhμ công cộng lμm nơi nghỉ chân gọi lμ đình trạm Những ngôi đình nμy được xây dựng tương đối rộng khắp Đến thời nhμ Trần trong đình có thờ Phật do Phật giáo lỳc nμy đang hưng thịnh trong xã hội nước ta Cũng

có ý kiến cho rằng thời kỳ nhà Trần các Thái thượng hoμng vμ vua Trần có quan hệ khá mật thiết với đời sống nhân dân, hay tuần du, vi hμnh về các

địa phương do đó đình trạm lμ nơi nhân dân vμ quan chức sở tại địa phương

đón tiếp nhμ vua Sau dần đình trở thμnh đình lμng với chức năng giải quyết công vụ, những chữ "Thánh thọ vô cương", "Thánh cung vạn tuế", "Hoμng

đế vạn tuế" trên các bức đại tự ở đình lμng có thể thể hiện cho nội dung trên Song cũng có thể những chữ ấy cũng thể hiện sự tham gia quản lý của nhμ nước quân chủ đã đến các lμng xã

Chẳng bao lâu trong các đình lμng chủ yếu lμ nơi thờ các vị Thμnh hoμng, đó lμ những vị thần, nhất lμ những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội cho lμng nước Trước hết đó lμ những vị anh hùng dân tộc có công đức lớn với nhân dân (Trần Hưng Đạo, Hai Bμ Trưng), có thể lμ những người dạy cho dân một nghề nμo

đó , ngoại lệ cũng có lμng thờ cả các vị thμnh hoμng vốn lμm những nghề không mấy vinh quang (ăn xin, trộm cắp, gắp phân) Những vị thμnh hoμng

ấy chính lμ những vị thần bảo trợ cho ngôi lμng của họ, đựoc cả nhân dân tôn kính vì vậy mà ngôi đình lμ nơi đựợc cả cộng đồng lμng xã đóng góp công sức xây dựng, lμ sản phẩm sáng tạo của cộng đồng do vậy công trình kiến trúc đình lμng mang đậm tính dân gian, độc đáo hơn tất cả các loại hình kiến trúc cổ khác

Trang 18

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Ph−ợng

1.2.1 Quá trình hình thμnh đình Yên thôn

Lịch sử hình thμnh vμ phát triển của đình Yên thôn cũng nằm trong dòng chảy của sự phỏt triển lịch sử, đến nay niên đại tuyệt đối của nó không thể xác định đ−ợc một cách chính xác do khụng cú một tài liệu chớnh thống nào ghi lại niờn đại xõy dựng đỡnh mμ chỉ có thể xác định niên đại của nó theo lời kể các bô lão trong lμng vμ qua việc xác định phong cách trang trí nghệ thuật trên kiến trúc Theo cỏc cụ trong lμng thì ngôi đình đ−ợc xây dựng từ thời vua Lý Thánh Tông 1070 nh−ng hiện nay các dấu vết còn lại không chứng minh cho luận điểm nμy Căn cứ vμo sắc phong thỡ đình vốn

có 16 đạo sắc phong nh−ng trong thời kỳ bị địch tạm chiếm các sắc phong

đã bị đốt hết, nay chỉ còn cuốn Ngọc phả bằng chữ Hán Nôm, soạn vμo triều Nguyễn, đời vua Thμnh Thái thứ 33 Cuối cuốn thần phả có ghi rõ chững tích các đạo sắc phong của các triều đại cũ phong tặng cho thần ghi

“Lịch triều phong tặng” cú ghi cỏc sắc phong như sau:

1 Niờn hiệu Thiệu Hưng năm thứ 4 gia phong Nghió vừ đại vương

2 Niờn hiệu Thỏi Bảo thứ nhất gia phong Anh triết minh tớn trợ thuận đại vương

3 Niờn hiệu Thỏi Hoà năm thứ nhất gia phong Phong cụng đại vương

4 Niờn hiệu Cảnh Thống năm thứ tư gia phong Khuụng quốc hựu thỏnh uy linh hoằng hoỏ đại vương

5 Niờn hiệu Thống Nguyờn năm thứ hai gia phong Xung tĩnh đại vương

6 Năm Kỷ Sửu lại phong thờm đạo Cao sơn chớ thỏnh đại vương

7 Trước năm Kỷ Sửu hai năm Tứ Đinh Hợi gia phong Uyờn mục huyền thụng duệ chớ cao thỏnh đại vương

8 Năm Quế Sửu lại phong Chớ linh chớ thỏnh thuận ứng đại vương

9 Đến năm Bớnh Thỡn lại phong Chiờu dung hiển ứng khuụng quốc tả thỏnh uy liệt hoằng tế nhõn đức nghĩa vừ anh triết minh tớn, trợ phỳc phong cụng, quảng bỏc tế thế chi thần, phự vận huệ linh, minh thỏn phu hựu hồng liệt, trương nghị xung tĩnh uyờn mục huyền thụng, duệ trớ khang hựu phu

Trang 19

dũng tuy khỏnh, phổ trạch diệu vy, tuyờn đề, trinh giỏn tương hựu trấn mỹ

dụ thuận đạt thụng phu nghĩa bảo an tập tộ hồng õn, đạt khỏnh tập thỏnh đại đức kớnh thiờn tỏc phỏp, hựng tài vĩ lược thuỳ hưu tớch khỏnh, anh hựng hào kiệt khỏnh trạch phu hựu, phự hộ an dõn, tề thiờn phổ huệ, chiờu thiện hoằng nghị, nhiệm trọng đạt đạo, phong cụng chớ tường, khải thỏnh hưng bỡnh khoỏt đạt khoan nhõn, tả tớch cỏi thế, chớ linh chớ thỏnh, hựu trị đại nguyệt hưng thịnh đại vương

10 Năm Nhõm Tuất gia phong Chớ thần phự vận đại vương

11 Năm Ất Sửu lại phong Hiển ứng đại vương

12 Niờn hiệu Hồng Đức thứ thứ tỏm phong Quảng tế đại thỏnh

13 Niờn hiệu Vĩnh Tộ năm thứ nhất lại phong Thượng đẳng tam vị quốc chủ đại vương

14 Năm thứ hai lại phong Thịnh đức đại vương

15 Năm thứ sỏu lại phong Diờn phỳc đại vương

16 Niờn hiệu Quang Hưng phong Phu dũng tuy khỏnh đại vương

17 Lại phong thờm sắc Phổ trạch diệu vy đại vương

Sắc phong cho thần ở đỡnh Yờn thụn tuy được ghi lại như vậy nhưng cũn tồn tại một số vấn đề chưa được làm rừ Ơ trờn cú ghi lại niờn hiệu cỏc đời vua phong tặng sắc cho thần nhưng qua tỡm hiểu và tra cứu niờn biểu Việt Nam thỡ trong cỏc triều đại nước ta khụng cú vị vua nào cú niờn hiệu Thiệu Hưng Do vậy cú thể thấy sự ghi chộp lại cỏc sắc phong trong cuốn ngọc phả đó cú sự sao chộp sai Tất cả cỏc bản sắc trong thời kỳ khỏng chiến đó bị mất hết nờn ngoài bản ghi chộp này khụng cú tài liệu chữ nào khỏc cú thể lấy làm căn cứ để xỏc định niờn đại cho ngụi đỡnh Như vậy chỳng ta chỉ cú thể xỏc định niờn đại xõy dựng cho đỡnh Yờn thụn thụng qua việc khảo sỏt cỏc dấu vết vật chất cũn lại tại ngụi đỡnh như phong cỏch nghệ thuật trờn cỏc chi tiết trang trớ, kiến trỳc, di vật…

Theo điều tra nghiên cứu phong cách kiến trúc nghệ thuật chúng ta thấy ngôi đình lμ sự hiện diện kiến trúc của hai thời Lê vμ Nguyễn đ−ợc kế

Trang 20

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

tiếp nhau, kết hợp hμi hoμ thμnh một tổng thể khu di tích Ngôi nhμ đại bái

vμ hậu cung đình được xây dựng vμo thời Lờ, lμ hạng mục công trình được xây dựng sớm nhất Thời Nguyễn lμm thêm ngôi nhμ tả vu - hữu vu, nằm song song nhau ở phớa đầu hồi ngôi đại bái Ngôi đình nằm trên một khoảng không gian thoáng đãng vμ gần trục đường chính của xã Xa xa lμ dãy núi Câu Lậu, có ngôi chùa Tây Phương cổ kính Theo tư liệu tôi được biết qua điều tra điền dã ngôi đình khi mới xây dựng nằm ở hướng chính Tây, lμ hướng của thần linh hội tụ nên đình rất linh thiêng, sau nμy quan sứ tỉnh Sơn Tây bắt nhân dân Yên thôn phải chuyển hướng đình nên ngôi đình

đã được chuyển theo hướng Tây Nam vμ đó chính lμ hướng đình tới tận ngμy nay Ngôi đình từ khi xây dựng đến nay vẫn giữ nguyên bố cục, diện tích với cấu trỳc mặt bằng theo kiểu chữ Đinh, với ngôi đại bái năm gian hai chỏi to rộng bề thế, tiếp theo là toà hậu cung được làm theo kiểu một hậu cung kộp Bờn ngoài là sõn đỡnh, hai bờn hai dóy nhà tả vu - hữu vu, trước mặt là nghi mụn cổ kớnh

Trong suốt quá trình tồn tại đình Yên thôn lμ trung tâm văn hoá, hμnh chính vμ tín ngưõng của dân lμng Lμ nơi họp bμn việc lμng, nơi nhân dân tiến hμnh các hoạt động thờ cúng Thμnh hoμng lμng vμ lμ nơi vui chơi, giải trí, nơi diễn ra các hoạt động văn hoá như hội hè, hát chèo, hát văn Đình Yên thôn trong sự tồn tại của mình đã có nhiều đóng góp cho đời sống văn hoá tâm linh của cộng đồng Hμng năm đình luôn mở tiệc lễ của toμn dân

để tưởng nhớ đức thμnh hoμng lμng Ngoμi ra còn mở hội với nhiều hoạt

động văn hoá phong phú tái hiện lại sự tích đức thánh Tản Viên sau khi

đánh thắng giặc trở về mở tiệc khao quân Nhưng những năm gần đây nhân dân không có điều kiện mở hội mμ chỉ duy trì việc tế lễ của dân Lμ một người con quê hương tôi rất mong muốn lμng quê mình sẽ khôi phục lại

được tất cả phần hội vμ tiệc lễ của dân tại đình vì đó lμ một hoạt động văn hoá tốt đẹp mang ý nghĩa dân tộc sâu sắc, củng cố ý thức cộng đồng, để mỗi khi đến ngμy lễ hội của lμng những người con xa xứ nô nức trở về hoμ mình trong bầu không khí lễ hội đông vui, náo nức của lμng quê

Trang 21

1.2.2 Sự tích nhân vật được thờ

Thạch Xá nằm trên địa bμn huyện Thạch Thất, lμ vùng đất cổ của các vua Hùng xưa Trên địa bμn huyện khảo cổ học đã phát hiện vμ khai quật thấy nhiều dấu vết cổ xưa như các loại rìu đá trên địa bμn xã Cần Kiệm, trống đồng Hêgơ II ở xã Đồng Trúc, mũi đao, tiền đồng, rìu ở xã Phú Kimđiều đó cho thấy từ rất xa xưa người Việt cổ đã hình thμnh nên các cộng

đồng dân cư sinh sống tại đây Môi trường tự nhiên của huyện Thạch Thất nói chung vμ của xã Thạch Xá nói riêng chủ yếu dựa vμo núi non, lại nằm sát ngay mảnh đất Ba Vì, quê hương đức thánh Tản Viên, nên không lạ gì khi ta thấy đình Yên thôn lại thờ thμnh hoμng lμ Tam vị thánh Tản

Về sự tích thánh Tản Viên có rất nhiều tμi liệu ghi chép Trong"Việt

điện U linh", "Lĩnh Nam chích quái" đều chép truyện "Thần núi Tản Viên" Đến triều Lê năm Hồng Đức thứ 10 nhμ sử học Ngô Sỹ Liên viết

"Đại Việt sử ký toμn thư" phần ngoại ký cũng viết truyện về Tản Viên Sơn thánh Nhiều đình, đền vùng xứ Đoμi ta cũng có ghi sự tích về thánh Tản Viên Sự tích ở đình Yên thôn cũng đựợc phỏng giống như cốt truyện mμ sử sách xưa vμ nay đã ghi Xin tóm tắt như sau :

Dưới thời Hùng Vương thứ 18 ở động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây có người đμn ông họ Nguyễn, tên Ban,

vợ lμ Tạ Thị Hoan vốn lμ nhμ tu nhân tích đức, đời đời giữ việc hương hoả

Ông có người anh lμ Nguyễn Cao Hạnh, vợ lμ Đinh Thị Điên Cả hai anh

em đều đã ngoại ngũ tuần mμ đều chưa có con cái, lấy lμm phiền muộn Hai anh em bèn phân tán hết tμi sản lμm việc thiện những mong cầu được chút thờ tự Đến mùa xuân khi hai anh em đến núi thiêng Tản Lĩnh thì gặp được tiên ông, tiên ông chỉ cho hai anh em một mảnh đất thiêng trên núi Thụ Tinh để ở ắt sẽ sinh một thánh hai thần Từ đó hai anh em dốc lòng lμm việc phúc, gắng lμm điều nhân Được 12 tháng, nhằm ngμy mùng 6 tháng giêng năm Đinh Hợi, vợ người anh lμ Đinh Thị Điên sinh được một cái bọc, có một đứa con trai Vợ người em lμ Hoan sinh được một cái bọc có hai đứa con trai, tất cả đều có phong thái thần tiên, khôi ngô tuấn tú, kỳ lạ khác

Trang 22

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

thường Đựoc 100 ngμy người con của anh cả đặt tên lμ Tuấn Công, con của người em đặt tên lμ Sùng Công vμ Hiển Công

Năm 17 tuổi cha mẹ hai nhμ đều trong một năm theo nhau mất cả Sau đó Tuấn Công lên núi lμm con nuôi của bμ Ma Thị Cao Sơn, lμ nữ thần trên núi Ngọc Tản Một hôm lên rừng đốn củi Tuấn Công gặp được Sơn Tinh đại thần, đựợc ngμi ban cho cây gậy thần có thể cứu tử cứu sinh, chỉ

đất đất nứt, chỉ nước nước cạn Tuấn Công được ban cho gậy vμ thần chú trở

về động Tản Viên, xưng lμ Thần sư

Được gậy thần Tuấn Công đi khắp nơi độ thế Một ngμy ở lμng Ma Xá ông cứu được con của Long vương Vua Thuỷ Tề cảm ơn, tặng Tuấn Công cuốn sách thần ước gì được lấy Khi trở về động Lăng Xương trở lại thăm núi Ngọc Tản, Tuấn Công được bμ Ma Thị Cao Sơn viết di chúc để lại cho một gia sản lớn:

Đông từ Thạch Thất huyện thμnh

Liên khu Ma Nghĩa ( Tùng Thiện ) nổi danh huyện Tùng

Huyện Phúc Lộc( Phúc Thọ ) mấy cùng huyện Mỹ (Chương Mỹ)

Lμ cận Nam nhị chí còn biên

Tây thời đến huyện Thanh Sơn

Bắc lμ Bất Bạt cố viên lập thờ

Trong tử chí chắc thư như thế

Lúc bấy giờ Hùng Vương thứ 18, hiệu lμ Hùng Duệ Vương có con gái út tên lμ Ngọc Hoa nhan sắc tuyệt vời nhμ vua bèn lập lầu kén rể ở Bạch Hạc , Sơn Tinh tμi giỏi có phép thần thông biến hoá thắng được Thuỷ Tinh, vua Hùng Duệ Vương chọn Sơn Tinh lμm con rể

Lại nói ở cạnh Văn Lang có bộ tộc Âu Việt Thục Phán thấy Vua Hùng giμ yếu bèn mang quân sang đánh Vua Hùng bèn gọi Sơn Tinh đến giao cho nhiệm vụ cầm quân Sơn Tinh thu thập đựơc nhiều tường giỏi như Cao Sơn, Quý Minh lại có phép thần thông biến hoá nên đánh tan được quân Thục, quân Thục phải cầu hoμ

Trang 23

Đức Thánh Tản được vua Hùng quý mến nên đã nhường ngôi lμm vua nước Văn Lang Thánh Tản lμm vua được 3 năm, bèn tâu vua cha nhường ngôi cho Thục Phán vì Thục Phán cũng thuộc dòng dõi vua Hùng Nghe lời Thánh Tản, vua Hùng truyền ngôi cho Thục Phán

Thục Phán về núi Nghĩa Lĩnh lập miếu cung, dựng cột thờ để tỏ lòng biết ơn Đóng đô ở Cổ Loa, đổi tên nước lμ Âu Lạc Vua Hùng cùng vợ chồng Thánh Tản trở về núi Ngọc Tản

Từ đó, Đức Thánh Tản giμnh thời gian đi khắp nước, tiếp tục lμm những việc trước đây, lμ dạy nghề lμm ăn cho trăm họ Nhân dân gọi Ngμi

lμ Thánh Sư, Tổ sư của trăm nghề

Ba anh em nhμ Thánh Tản Viên sau khi hoá cùng được thờ, một vị phong lμ Cao Sơn đại vương thượng đẳng thần (ở bên tả, huý Sùng), một vị phong lμ Quý Minh đại vương thượng đẳng thần (ở bên hữu, huý Hiển), một

vị phong lμ Tản Viên Sơn quốc chúa kiêm thượng đẳng thần (ở giữa, huý Tuấn)

Tóm lại: Đức Thánh Tản Viên lμ biểu tượng người anh hùng văn hoá của dân tộc Việt Nam Người có đức, có tμi anh dũng chống thiên tai giμnh lại cuộc sống ấm no, có tình yêu đẹp Người anh hùng chống bạo ngược xâm lăng lại khôn khéo thu phục đoμn kết để thống nhất quốc gia Khi đất nước thanh bình, người đi giáo dục rèn thuần phong mỹ tục, dạy dân lμm ra lửa, khai phá ruộng vườn trồng lúa vμ hoa mμu, dạy các nghề săn bắt, đánh cá, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, mở hội mùa để trai gái vui chơi nhảy múa

ăn uống, chúc tụng.Nên nhân dân tôn vinh lμ Thánh Sư, lμ bách nghệ tổ sư của nước ta

Do vậy, Đức Thánh Tản Viên được thờ cùng ở mọi nơi, đền thờ chính

ở núi Ba Vì Các vùng trên đất nước như lμng Yên thôn thờ Tản Viên, tôn lμm Thμnh hoμng lμ điều chính đáng, đúng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nhμ Lý đã phong Tản Viên lμ "Thượng đẳng tối thần" vμ "Đệ nhất phúc thần" Từ thời dựng nước đến ngμy nay, Đức Thánh Tản Viên luôn lμ biểu tượng người anh hùng văn hoá trong tâm thức của dân tộc Việt Nam

Trang 24

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Ngoμi ra sát tường nhỏ bên phải vμ bên trái gian đại bái lμ hai khám thờ nhỏ đặt trên gác lửng thờ hai vị thần Trên gác thờ bên trái lμ thờ Trầm

Đỗng Quý Vương Theo thần phả Trầm Đỗng do quan Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn niên hiệu Hồng Phúc triều Lê Anh Tông (1572-1573), lại do quan Quản giám bách thần Nguyễn Hiền sao lại năm Vĩnh Hựu đời

Lê Y Tông (1735-1740) vμ Bộ lễ triều Tự Đức nhμ Nguyễn sao lại vμo năm Tân Mùi 1871 Trầm Đỗng quý vương sinh ngμy 12 tháng 7 năm Canh Tý (521, SCN ), tên huý lμ Trương Chủng, hiệu Quý Lang, bố lμ Trương Nghị,

mẹ lμ Nguyễn Thị Ngoan Lúc còn nhỏ khôi ngô tuấn tú, cμng lớn cμng thông minh, ham học hỏi, kiêm tμi văn võ

Lớn lên trong cảnh nước mất nhμ tan, bè lũ đô hộ nhμ Lương tham lam tμn bạo, Trương Chủng đứng ra chiêu tập nghĩa quân, luyện tập võ nghệ, giúp Lý Bí đánh đuổi nhμ Lương Cuộc khởi nghĩa thắng lợi, sau khi lên ngôi, Trương Chủng được nhμ vua phong chức Thái Uý vμ cho hưởng lương thu thuế tại quê nhμ

Đầu năm sau nhμ Lương lại đem quân sang đánh, Lý Nam Đế chống

cự không nổi phải giao binh quyền cho Triệu Quang Phục Triệu Quang Phục chiến thắng vμ lên ngôi vua Trương Chủng chống laị họ Triệu vì cho rằng họ Triệu đã tiếm quyền Ngày mùng 4 tháng 4 năm Kỷ Tỵ (tức năm 550) ông tuẫn tiết tại núi Trầm, huyện Quốc Oai trong một trận bao vây của quân Triệu, năm đó ông vừa tròn 29 tuổi Dân lμng thờ để tưởng nhớ công lao vμ khí tiết của ông

Gác lửng bên phải đình thờ Đμo Đạo, tức Đμo Khang, lμ nghĩa tướng của Trưng Vương, có hai anh em, anh lμ Đμo Đạo, em lμ Đμo Đạt, đều giỏi

võ nghệ, có lòng yêu nước, có tinh thần cao thượng cứu khó, phù nguy, tận tâm yêu nước Quê ở lμng Kỳ Sơn, huyện Chí Linh, Hải Dương

Trước cuộc khởi nghĩa của Hai Bμ Trưng, hai anh em ông từng tập hợp nghĩa quân, đánh phá xâm lược vμ sau đó ủng hộ cuộc khởi nghĩa của toμn dân do Hai Bμ lãnh đạo Ông đã về vùng đất Thạch Xá chiêu mộ quân

Trang 25

sĩ, lương thảo vμ luyện tập quân mã, đội quân của ông ra mắt ngμy mùng 6 tháng 3 năm 40

Ngμy nay tướng Đμo Khang được thờ chính ở quán thôn Yên, được coi lμ Thμnh hoμng bản thổ của dân lμng và được thờ tại gỏc lửng tại đỡnh Yờn thụn cựng với Trầm Đỗng Quý Vương và Tam vị thỏnh Tản, cựng là phỳc thần chăm lo cho cuộc sống của nhõn dõn Hiện nay ở quán còn giữ

được bốn đạo sắc phong cho Thμnh hoμng vμo các đời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức vμ Khả Định

Như vậy có thể thấy đình Yên thôn lμ nơi thờ phụng của nhiều đối tượng, cả thiên thần vμ nhân thần, lμ những bậc anh hùng có công lao với dân với nước Do đó ta có thể thấy việc thờ phụng các vị trang trọng tại đình không chỉ lμ sự thờ phụng các vị như các vị thần bảo hộ cho toμn dân mμ đó còn lμ tấm lòng của toμn dân tri ân những con người đã hết lòng hết sức vì

sự no ấm của nhân dân Trải qua biết bao thế hệ, người dân Thạch Xá đã nối tiếp nhau gìn giữ, bảo vệ, xây dựng ngôi đình, cùng nhau ghi chép đầy

đủ sự tích các vị thần được thờ, giữ gìn các di vật, cổ vật từ xưa để lại, duy trì hương khói, tiết lễ để dân lμng luôn nhớ tới công lao của các vị Đó chính lμ ý thức bảo vệ các giá trị văn hoá lịch sử đồng thời thể hiện đạo lý “ uống nước, nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam nói chung vμ người dân Thạch Xá nói riêng

Trang 26

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Chương 2 Giá trị kiến trúc - nghệ thuật, lễ hội đình Yên thôn

2.1 Giá trị kiến trúc - nghệ thuật

2.1.1 Không gian cảnh quan vμ bố cục mặt bằng

Đối với người Phương Đông khi tiến hμnh xây dựng bất cứ công trìnhkiến trúc nμo người ta cũng rất chú ý đến luật phong thuỷ Chọn địa thế, chọn hướng thế nμo cho tốt, cho hμi hoμ nhất giữa thiên nhiên vμ con người sau đó mới bắt đầu lμm Với nhμ cửa đã vậy, khi xây dựng một công trình tôn giáo -tín ngưỡng của cả cộng đồng như đình, chùa, miếu mạo thì việc lựa chọn thế đất, phương hướng cho công trình lại cμng đòi hỏi sự cẩn thận

vμ chính xác hơn nữa Việc lựa chọn vị thế cho ngôi đình từ xưa đến nay

đều rất đựơc chú trọng vì đình lμ công trình quan trọng của cả cộng đồng lμng xã, có ý nghĩa vμ ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cả cộng đồng Khi lựa chọn hướng để xây dựng đình, người xưa quan niệm chọn đất phải lμ nơi "địa linh", tức lμ chọn vùng đất phải cao ráo, sáng sủa, đẹp đẽ, phía trứơc phải rộng rãi, phong quang, xung quanh tốt nhất phải có núi chầu về, sau lưng có thế tựa, hai bên có "tay ngai" vμ trước mặt bao giờ cũng phải có nguồn nước Mảnh đất địa linh ấy phải lμm sao cho "đầu gối sơn, chân đạp thuỷ" đó mới chính lμ đất tốt nhất được chọn để xây dựng hướng đình của cả lμng

Đình Yên thôn cũng nằm trên một vị thế đẹp như thế Đình vốn nằmtrên một vùng đất ở rìa lμng, cao ráo, thoáng đãng, xưa kia xung quanh đình

lμ một bãi trồng lúa quanh năm xanh tốt Ngμy nay dân cư ngμy một đông

đúc nên vị trí ngôi đình đã trở thμnh vị trí trung tâm của lμng Phía trước

đình có một giếng nước, từ xưa đã lμ giếng chung của cả dân lμng, giếng có nguồn nước dồi dμo, trong mát nên dân lμng vẫn dùng lμm nước sinh hoạt

đến tận ngμy nay Tiếp đến lμ một hồ nước Giếng vμ hồ nước chính lμ điểm

"Tụ phúc, tụ thuỷ" cho cả lμng Nó chính lμ yếu tố âm, đối với ngôi đình uy

Trang 27

nghi lμ yếu tố dương tạo nên thế cân bằng, âm dương đối đãi, lμ điềm lμnh

để muôn loμi vạn vật sinh sôi nảy nở vμ phát triển Xa xa phái trước đình lμ

đỉnh núi Câu Lậu quanh năm bao phủ mμu xanh của núi rừng Phía sau lμ núi Sμi Sơn hậu chẩm tạo thμnh một thế tựa vững chắc

Nằm trên một vị thế cao ráo đẹp đẽ tụ phúc, tụ thuỷ như vậy thật lμ lý tưởng, vị thế ấy chính lμ nơi thần linh ngự trị đem lại cuộc sông no đủ cho dân lμng

Bên cạnh thế đất lμ việc lμ việc lựa chọn hướng cho di tích Ngôi đình

lμ công trình kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng rất quan trọng với cả lμng do vậy hướng xây dựng phải lμ hướng tốt nhất để khí thiêng hội tụ, từ đó mới

đựợc thần ban lộc đem lại sự no ấm, thịnh vượng cho cả lμng Trong các hướng để xây dựng đình, chùa người Việt thường xây dựng theo hướng Tây,

đó lμ hướng cực lạc của thế giới, nơi Đức phật Thích Ca trụ trì, hướng tới thanh tịnh cõi lòng Vμ chọn xây dựng theo hướng Nam bởi đây lμ hướng về miền đất ôn hoμ, ấm áp, mọi vật sinh sôi phát triển Đình Yên thôn ban đầu nằm ở hướng chính Tây Theo các cụ trong lμng kể lại thì ngôi đình xưa rất linh thiêng, khí thiêng của nó mạnh đến nỗi mμ hễ voi, ngựa đi qua hướng của ngôi đình từ cánh đồng Cếp ( cách ngôi đình 5-6 km) thì voi bị cắm ngμ, ngựa ngã, người bệnh tật Vì vậy mμ quan sứ tỉnh Sơn Tây đã phải ra lệnh chuyển hướng đình, nhân dân Yên thôn phải chếch hướng đình sang hướng Tây Nam Vμ đây lμ hướng của ngôi đình cho đến ngμy nay

Xưa kia trước đình lμ một không gian rộng rãi thoáng đãng, xung quanh đều lμ đồng lúa xanh mát Ngμy nay xung quanh đình đã trở thμnh khu dân cư đông đúc sinh sống nhưng khuôn viên đình vẫn được giữ nguyên với ao, giếng nước vμ một sân đất rộng trồng ba cây đa rất lớn, toả bóng mát khắp cả không gian đình

Đình Yên thôn về bố cục cũng giống như nhiều ngôi đình khác Đình

có bố cục kiểu chữ đinh (.) với ngôi nhμ đại bái, hậu cung, nhμ tả vu - hữu

vu vμ cổng đình với tường xây bao quanh, hiện diện của kiến trúc hai thời Lê- Nguyễn được kế tiếp nhau, kết hợp hμi hoμ thμnh tổng thể khu di tích

Trang 28

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

Thời Lê xây dựng ngôi đại bái vμ hậu cung đình, đây lμ hai hạng mục công trình được xây dựng sớm nhất Thời Nguyễn lμm thêm nhμ Tả vu - hữu vu, nằm song song nhau ở phía trước đầu hồi của ngôi đại bái Khu di tích nằm trên một khoảng không gian thoáng đãng vμ gần trục đường chính của xã Trước mặt đình lμ một khoảng sân rộng, tiếp đến lμ giếng lμng vμ hồ nước

Bố cục mặt bằng nμy của đình Yên thôn vẫn được giữ nguyên vẹn từ xưa

đến nay Đình được lμm vμo thời Lê nên cho đến nay đã được tu sửa nhiều lần vμ để lại nhiều dấu vết, còn lại các hạng mục công trình vẫn còn lại khá nguyên vẹn

2.1.2 Kết cấu kiến trúc vμ trang trí kiến trúc

Đình Yên thôn có một lịch sử tồn tại từ rất lâu đời Nhân dân thôn Yên xưa nay vẫn cho rằng đình được xây dựng vμo đời vua Lý Thánh Tông (1070) Nhưng theo những dấu hiệu vật chất hiện còn thì các nhμ nghiên cứu khi khảo sát để lập hồ sơ xếp hạng cho di tích đã đưa ra kết luận: Ngôi

đình được xây dựng vμo thời Lê vμ hiện nay lμ sự hiện diện của kiến trúc hai thời Lê - Nguyễn kế tiếp nhau Kết cấu kiến trúc của ngôi đình hμi hoμ tạo nên sự cân bằng vững chắc cho kiến trúc, bên cạnh đó trang trí kiến trúc tinh xảo lμm cho công trình toát lên vẻ mềm mại, không chỉ vậy qua các mảng chạm ta còn có thể thấy những triết lý cuộc sống, ước vọng của con người

2.1.2.1 Nghi môn

Vμo đình Yên thôn ta bắt gặp cổng của ngôi đình (nghi môn) Cổng

đình được xây dựng theo kiểu tứ đại trụ, lμ kiểu cột trụ rất phổ biến trong kiến trúc thời Nguyễn Lối vμo chính được tạo bởi khoảng cách của hai trụ chính ở giữa Tiếp đến lμ đoạn tường dμi 7m nối từ hai cột chính đến hai cột phụ, chiều cao tường lμ 2m Các cột trụ có thức cột vuông, có bốn mặt, cột cao to đồ sộ, trên có đắp các hoa văn theo tích cổ Cửa giữa của đình rộng 5m được giới hạn bởi hai cột chính cao chừng 5m, mỗi cạnh ngang dμi 50cm Cột lớn nμy có kết cấu ba phần rõ rệt: đỉnh, thân vμ đế Phần đỉnh

đắp bốn chim phượng cách điệu hoa dμnh, tiếp đến lμ ô đèn lồng trang trí tứ

Trang 29

linh ( long, ly, quy, phượng ) vμ tứ quý ( tùng, trúc, thông, mai ) Thân trụ hình hộp 50 x 50 cm trong lòng viết nhiều câu đối ý nghĩa bằng chữ Hán có nội dung ca ngợi cảnh đẹp của lμng vμ công ơn của vị thμnh hoμng lμng

Câu đối thứ nhất:

Phiên âm:

Tản Lĩnh phong vân y cựu hộ

Câu sơn hoa thảo đắc xuân tiên

Dịch nghĩa:

Núi Tản gió mây nương cảnh cũ

Tây Phương hoa quả đón xuân tiên

Câu đối thứ hai:

Phiên âm:

Thần thư vân điểm tam phong tú

Tiên trượng phong phiêu vạn cổ linh

Dịch nghĩa:

Sách thần mây điểm ba ngọn núi cao

Gậy thần tiên gió cuốn tiếng ngμn thu

Câu đối thứ ba:

Giữa thân vμ chân cột được đắp theo lối dật cấp Cách khoảng tường

lμ đến hai cột phụ Hai cột phụ cũng được trang trí giống như trên cột chính, chỉ khác trên đỉnh có hình hai con nghê chầu vμo, hình tượng nghê đặt ở nghi môn để kiểm soát tâm hồn con người khi đi qua đây Cột phụ có chiều cao 4,5m, cạnh dμi 40cm Tiếp đến sát ngay cạnh hai cột phụ lμ đầu hồi của

Trang 30

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

hai nhμ tả vu - hữu vu, hai đầu hồi nμy được tạo thμnh hai cửa phụ vμo đình, khi có tế lễ thì hai cửa phụ nμy sẽ được mở để nhân dân vμo xem tế, cửa chính chỉ để đoμn tế lễ đi vμo tiến hμnh lễ hội

Nghi môn của đình thôn Yên được lμm rất công phu, đẹp mắt, ngoμi giá trị kiến trúc, nghi môn còn lμ một bộ phận quan trọng cấu thμnh nên di tích Nghi môn báo hiệu, khẳng định vị trí vμ vị thế của ngôi đình Đây lμ

điểm có thể quan sát vμ nhận thấy từ xa, thu hút mọi người về phía đình

Qua cổng vμo sân đình có chiều dμi 29m, chiều rộng 16cm, nền lát gạch vuông sạch sẽ Gian giữa sân có hai ông voi chiến đứng chầu, trước

đây hai ông voi được lμm bằng đá rất to, đẹp, chạm trổ công phu nhưng trong thời kỳ kháng chiến hai ông voi đã bị phá bỏ Ngμy nay hai ông voi

được lμm lại bằng xi măng tuy không có giá trị nghệ thuật cao như xưa kia nhưng ý nghĩa thể hiện cho vị thần võ trong ngôi đình vẫn còn Xung quanh sân có trồng các cây hoa cảnh đẹp

2.1.2.2 Nhμ tả vu - hữu vu

Lμ đơn vị kiến trúc gắn với các di tích tín ngưỡng như đình, đền.Đây

lμ hai toμ nhμ nằm song song với nhau, cùng quay mặt vμo một sân rộng phía trước đình Nhμ gồm năm gian hai mái chảy lợp ngói di, đầu hồi xây bít đốc Hai hμng chân cột Chiều dμi 13,7m, chiều rộng 5,25m, nền cao hơn sân 60cm Kiến trúc nhμ lμm theo kiểu vì quá giang trụ cột trốn Đây lμ công trình lμm vμo thời Nguyễn muộn, chức năng của ngôi nhμ lμm nơi nghỉ ngơi, sắm lễ trước khi vμo đình lễ Thánh

Ơ bờn hữu vu cú dành một gian ngoài cựng được xõy kớn làm nơi để đụi ngựa thần cựng giỏ chiờng (được người dõn gọi là chuồng ngựa), tiện cho việc cất giữ đồ tế lễ và phục vụ trong ngày lễ

2.1.2.3 Đại bái

Mỗi một công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng được hình thμnh

đều lμ sự kết hợp của nhiều đơn nguyên kiến trúc hợp lại, trong các đơn nguyên ấy sẽ có một đơn nguyên quan trọng nhất, lμ đơn vị nói lên tính

Trang 31

chất thực sự của công trình kiến trúc, mμ chỉ cần nhìn vμo nó người ta sẽ nhận ra ngay nó lμ loại hình kiến trúc của tôn giáo tín ngưỡng nμo Ví dụ khi đến chùa, đơn nguyên kiến trúc quan trọng nhất của chùa lμ gian phật

điện, với đền lμ hậu cung, vμ với ngôi đình đó lμ toμ đại bái (tiền tế, đại

đình) Ngôi đình lμng Việt từ xa xưa đã đi vμo tâm thức của người Việt như

lμ một công trình uy nghi, to lớn, đồ sộ nhất của cộng đồng lμng xã, những dấu ấn ấy có thể thấy trong ngôn ngữ như khi người ta muốn nói đến cái gì

to lớn đều đem ra so sánh với sự to lớn của ngôi đình như: to như cột đình, chuyện tμy đình, chuyện đình đám.Làm nờn sự to lớn của ngụi đỡnh làng chớnh là toà đại bỏi, do vậy dễ nhận thấy rằng toμ đại bái chính lμ đơn nguyên kiến trúc quan trọng nhất giúp ta xác định được vị trí ngôi đình

Ngôi đình lμng được xây dựng, đâu đâu ta cũng nhìn thấy sự hiện diện to lớn của toμ đại bái Đại bái phải được xây dựng rộng rãi to lớn nhất trong toμn bộ tổng thể kiến trúc của ngôi đình, vì ngoμi mục đích tín ngưỡng, thờ cúng thμnh hoμng, đình lμng ở bất cứ đâu trong thời kỳ quân chủ thì mọi việc họp bμn, lễ hội hay sinh hoạt văn hoá đều được diễn ra ở

đình nên toμ đại bái phải đủ rộng cho nhiều người cùng ngồi Ngôi đình do vậy phải được xây dựng sao cho phải phù hợp với cả mục đích sinh hoạt tín ngưỡng vμ sinh hoạt đời sống Từ thời Lê ngôi đại bái của đình lμng Việt núi chung đã được nới rộng ra thêm nhờ sự tăng thêm số lượng hμng cột, từ

4 lên 6 hμng chân cột

Ngôi đại bái đình Yên thôn lμ hạng mục công trình kiến trúc thời Lê,

có bình đồ kiến trúc nằm ngang hình chữ nhất ( - ) Đại bái gồm năm gian hai chái, sỏu hàng chõn cột Hệ thống cột cái vμ cột quân có 64 chiếc, từ cột hiờn ra cột quõn dài 1,6m, từ cột quõn ra cột cỏi dài 1,68m, khoảng cỏch giữa hai cột cỏi là 2,4m, từ hiờn đến đầu kẻ dài 96cm Chiều dμi toμ đại bái

lμ 19,70m, chiều rộng 10,85m Các gian trong lòng nhμ có kích thước cũng không đều nhau, trong đó gian lớn nhất có chiều dài 3,4m.Trong lòng gian giữa lμ nơi đặt nhang án, hạc, bát bửu vμ các đồ thờ cúng khác Hai gian hai bên có chiều dμi mỗi gian 4m, tiếp đến lμ hai chái có chiều dμi mỗi gian

Trang 32

Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng

1,6m, lμ nơi đặt hai khám trên gác lửng thờ hai vị Trầm Đỗng Quý Vương

vμ tướng Đμo Khang Ơ hai bên gian lòng thuyền trước đây lμ hệ thống ván sμn bằng gỗ lim, dật cấp 60cm, dày 3cm, ăn mộng vμo các cột Về công năng nó lμ nơi cho các chức sắc vμ bô lẫo trong lμng ngồi khi đình có việc Nhưng ngμy nay nền đại bái đình Yên thôn không còn như trước Toμn bộ nền đình đều được lát gạch vuông bằng phẳng không còn phân biệt gian lòng thuyền vμ hai bên ván sμn như xưa do trong thời kỳ kháng chiến (1946) hệ thống ván sμn được dỡ bỏ để giặc Pháp không ở được Ngμy nay trên các thân cột ở đình vẫn còn nguyên vẹn các lỗ ăn mộng của cột vμ hệ thống ván sμn xưa kia

Hệ thống cột tại gian đại bái gồm 64 cột to, chắc, khoẻ được lμm bằng các cây gỗ lim lớn theo kiểu thượng thu hạ thách (trên nhỏ dưới to dần) Cột cái ở đây rất lớn, cao 4,5m, chu vi 1,70m, đường kính 0,55m Cột quân cao 3,40m, chu vi 1,20m, đường kính 0,40m Hệ thống cột gỗ được bμo nhẵn, trên các thân cột cái được được sơn son hình rồng mây cuốn trên thân cột, nhưng nay mμu sơn đã bị phai mờ nhiều chỉ còn thấy lại những dấu vết mờ Trên các cột quân vμ cột hiên để mộc không sơn, bμo nhẵn Các cột đều đựơc lμm từ các thân gỗ lim to, đen bóng Theo các cụ kể lại thì

để lựa chọn gỗ lμm cột dân lμng phải tốn rất nhiều công sức

Kiến trúc cổ của người Việt xuất phát từ điều kiện tự nhiên để thích ứng với môi trường tự nhiên vμ xã hội nên thμnh phần chịu lực chính không phải lμ nền móng mμ sự vững chắc của công trình lμ nhờ vμo kết cấu khung

gỗ với những mối liên kết, các mộng cùng sức nặng của mái ép xuống để cho các mộng tránh được sự xô đẩy, trong đó sức nặng của hệ mái tạo sức bền cho kiến trúc Kiến trúc Việt thường thấy có mái úp chụp xuống, một phần lμ để phù hợp với môi trường khí hậu nắng lắm mưa nhiều, một phần cũng lμ cách để cho kết cấu kiến trúc được bền vững hơn nhờ sự truyền lực của bộ mái xuống hệ thống cột

Dưới các chân cột nguyên gốc đều được kê bằng các chân tảng đá mặt trên tròn phía dưới vuông lμ biểu tượng cho trời tròn đất vuông, cho âm

Trang 33

dương đối đãi, để trơn không có trang trí Nhưng hiện nay nền đình đã thay nền đất bằng nền gạch, lát bằng nền đình do vậy phần chân tảng bị che lấp mất hiện nay chỉ còn thấy sự hiện diện của các chân tảng kê cột tại dãy cột hiên

Trong kiến trúc cổ truyền, người ta quan tâm nhiều đến bộ vì, bởi bộ vì lμ kết cấu liên kết mộng nhiều nhất, nó liên kết hầu như toμn bộ các cấu kiện của bộ khung gỗ, từ đó cùng với khung gỗ tạo thμnh hệ thống chịu lực chính cho công trình nhằm đỡ bộ mái ở trên Kiến trúc vì của ngôi đại bái lμm kiểu giá chiêng, kẻ bẩy Cụ thể trờn cùng của bộ vì lμ chiếc xμ nóc (thượng lương), dưới thượng lương là một đấu khỏ dày Chiếc đấu được đặt vào chớnh giữa con rường thứ nhất, hệ thống con rường tại đỡnh Yờn thụn đều to, chắc chắn và để mộc khụng trang trớ, hai đầu con rường đua ra đỡ lấy đụi hoành thứ nhất Hoành khụng đựơc đặt trực tiếp lờn con rường mà được đặt thụng qua một dộp hoành

Con rường thứ nhất vươn ra đỡ lấy cõy hoành thứ nhất đặt trờn con rường thứ hai bằng hai đấu vuụng thút đỏy Con rường thứ hai lớn hơn đặt trờn hai đầu cột trốn, hai đầu rường vươn ra đỡ lấy đụi hoành thứ hai từ trờn xuống Con rường thứ nhất và con rường thứ hai cỏch nhau khoảng 5 - 6cm, điểm tiếp xỳc là hệ thống đấu vuụng thút đỏy khỏ dày và chắc chắn

Cột trốn là một cột hỡnh trụ, đặt đứng vuụng 90 độ so với cõu đầu Điều này cú tỏc dụng làm cho trọng lực của cõy hoành mỏi đố nặng trực tiếp lờn đấu vuụng thụng qua con rường Cột trốn kờ lờn cõu đầu, trờn và dưới đều được đặt hai đấu vuụng thút đỏy

Hai bờn trụ trốn là cỏc con rường chồng lờn nhau theo độ dốc của mỏi để đỡ hoành mỏi, cỏc con rường ở đõy được xếp một cỏch cõn đối để tạo mặt phẳng cho mỏi đỡnh

Cõu đầu là bộ phận đỡ toàn bộ cỏc con rường Nú được làm bằng một khối gỗ lớn, chắc, khoẻ ăn mộng rồi tỳ lực lờn hai cột cỏi Đầu cột cỏi được xẻ mộng cũn phần đầu của cõu đầu thỡ được cắt nấc hai bờn mỏ để ấn

Trang 34

Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÞ Ph−îng

lỗ mộng xuống đầu cột cái theo kiểu chốt mộng khá chắc chắn, vừa khít vừa đẹp mắt Sau đó trên đầu cột cái được đặt một đấu vuông thót đáy để

đỡ hoành mái, đồng thời che khuất đi lỗ mộng ở cột Dưới câu đầu là hai đầu dư lớn chạm rồng Đầu dư ăn mộng vào cột cái, hai đầu dư quay đầu vào gian lòng thuyền Trên bốn bộ vì chính chịu lực ở toà đại bái về cơ bản giống nhau về kết cấu, không thấy sự thay đổi nào từ bộ vì giữa (gian lòng thuyền) đến các bộ vì ở gian bên hoặc gian đầu hồi

Bốn bộ vì chính có tám đầu dư được chạm bong rất công phu Mỗi con rồng mang dấu ấn nét nghệ thuật của từng thời kỳ Cổ xưa nhất là con rồng trên bộ vì thứ tư, nét nghệ thuật gần phong cách thời Mạc được gặp rất

ít nguyên bản như ở đình Đồng Trúc (xã Trúc Động - Thạch Thất), chùa Cả (An Khánh, Hoài Đức) Rồng được chạm kiểu bong kênh, mắt tròn, môi dày, đầu rồng nhỏ lao về phía trứơc, đao mác trên lưng nhọn bay ra sau Còn lại phần lớn rồng được trạm mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 -

19, với đầu rồng tạo tác như hình qủa trứng, đầu lớn, môi dày, mắt tròn to kiểu giọt lệ, miệng há, râu xoắn phía dưới Các đầu dư còn hiện hữu nhiều lớp trang trí là do những lần tu sửa

Vì nách của toà đại bái được tạo bởi các con rường ăn mộng vào cột cái rồi đầu vươn ra đỡ lấy các hoành, con rường lớn cuối cùng đỡ hoành và

ăn mộng khít vào đầu cột quân Các con rường chồng khít lên nhau và có chạm trổ các loại hoa văn lá lật, hoa văn hình học, hoa văn sóng nước đơn giản

Tiếp theo từ cột quân ra đầu cột hiên không còn kiểu chồng rường nữa mà chỉ có một chiếc kẻ chạy thẳng ra ăn mộng én xuyên qua đầu cột hiên vươn đầu ra đỡ tàu mái Như vậy, ở đình Yên thôn không có bẩy hiên như ở nhiều di tích khác mà chỉ có kẻ, hay còn gọi là kiểu “kẻ liền bẩy” Đuôi của kẻ này là chiếc nghé đội bụng xà nách, còn thân kẻ hơi cong lên một chút để tạo nên kết cấu dồn lực vào hai đầu cột

Trang 35

Cấu kiện kiến trúc giằng ngang công trình, nối các cột cái của bộ vì gọi là xà thượng Xà thượng là một khối gỗ vuông, sắc cạnh chạy hết chiều ngang toà nhà, ăn mộng vào thân cột cái Xà trung nối các cột quân với nhau Xà hạ giằng ngang, ăn mộng vào cột hiên Hệ thống xà tạo thành một

bộ khung liên kết góp phần tạo nên sự cân bằng, vững chắc cho toà đại bái Tất cả đều được làm theo kiểu soi gờ kẻ chỉ, không trang trí

Xà ngưỡng là loại xà nối các chân cột hiên, xà thường được đặt cách sàn 30cm, mỗi khi ra vào di tích mọi người phải bước qua ngưỡng này Đây chính là ngưỡng cửa

Khi đến bất cứ một công trình di tích kiến trúc truyền thống nào ta thường bắt gặp hệ thống xà ngưỡng Bước vào xà ngưỡng là bước vào cõi thiêng của thần thánh, là vật ngăn cản mọi sự xấu xa, ô tạp của người đời trước khi bước vào cõi linh thiêng, thánh thiện Thực tế xà ngưỡng không

có ý nghĩa nhiều về mặt kiến trúc mà nó mang yếu tố tâm linh nhiều hơn

Cùng nói đến xà ngưỡng là nói đến cửa Toà đại bái đình Yên thôn chỉ có một cửa chính ở giữa gian đại bái Nó được coi là cửa đi lại cho thần thánh nên rất ít khi mở Cửa này rộng 1,44m, cao 2,1m, được làm theo kiểu thượng song hạ bản Đây cũng là kiểu cửa thường gặp trong kiến trúc di tích do bên trong khu vực thờ cúng luôn đòi hỏi ánh sáng được hài hoà, không sáng quá cũng không tối quá do vậy kiểu thượng song hạ bản cho cửa là giải pháp tối ưu nhất đáp ứng được yêu cầu trên Phía trên cửa là những chấn song con tiện đảm bảo cho ánh sáng lọt vào vừa đủ khu vực bên trong Phía dưới là bản gỗ rộng được bưng kín sẽ tạo nên sự thâm nghiêm cho khu vực của thần Kiểu cửa này tạo sự cân đối giữa thế giới thần linh và đời sống con người chứ không như kiểu cửa bên trong hậu cung được làm theo kiểu hoàn toàn bưng kín, là thế giới của thần linh

Tiếp đến nhìn từ phía ngoài vào đáng chú ý là hệ mái Mái đình Yên thôn cũng giống như kiểu mái truyền thống của ngôi đình làng Việt với mái

to rộng, xoè ra trùm kín lên hết kết cấu khung gỗ, bốn góc mái là bốn mái

Trang 36

Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÞ Ph−îng

đao cong vút Ngói lợp mái đình là loại ngói mũi, ngói có một đầu để vuông và một đầu có kiểu mũi nhọn hất lên khi nhìn vào sẽ tạo nên một vẻ đẹp duyên dáng cho bộ mái đình, nhất là khi nhìn từ dưới lên

Trên nóc mái của toà đại bái, ở khoảng giữa có đắp hình tượng

“lưỡng long chầu nhật” (rồng chầu mặt trời) rất đẹp Đôi rồng này mới được đắp lại theo dáng cũ trong lần trùng tu mái đình năm 2005 do đó nó không có ý nghĩa nhiều về mặt lịch sử mà chủ yếu là ý nghĩa về mặt tâm linh Đó là hình ảnh hai con rồng châu đầu vào một mặt trời ở giữa Rồng

có nhiều đao mác dài mềm mại bay ra, lông đuôi cuộn xoắn tít, rồng doãi hai khúc mềm mại, thân rồng gắn nhiều mảnh gốm sứ là hình ảnh đặc trưng cho phong cách rồng Nguyễn

Ơ hai đầu kìm của bờ nóc là hình ảnh hai con nghê Hai con nghê này là hai con nghê được giữ lại nguyên vẹn từ xưa, nghê được làm bằng sành nung mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 17 Hai con nghê có hình dáng dữ tợn, trong tư thế như chuẩn bị chạy vào phía giữa ngôi đình, lông mác trên đầu dựng ngược, đuôi cuốn thành vòng tròn to phía sau Từ bờ dải chạy xuống tại mỗi khúc khuỷnh đều có đắp hai con lân đang trong tư thế chạy lao xuống phía dưới, hai con lân cũng được làm bằng sành nung đen, sản phẩm của nghệ thuật thế kỷ 17 Lân có miệng há, lông mác ở đầu và đuôi dựng ngược, chân ba móng bám lấy bờ dải Chạy theo bờ guột, ở mỗi góc mái là các đầu đao cong gồm một đầu rồng, rồng miệng há, đao mác tung bay Tiếp đến là một cuốn thuỷ và sau là một dải vân mây và lá lật đỡ lấy một con nghê Con nghê cũng là sản phẩm của nghệ thuật thế kỷ 17, miệng nghê há, toàn thân trong tư thế lao lên phía trước, lông mác ở đầu, thân, đuôi nhọn, bay ngược ra phía sau Tất cả bờ nóc, bờ guột, bờ dải… đều được đắp bằng gạch, vôi, vữa trong đó có chia thành thành nhiều ô vuông trổ thủng hình hoa chanh vừa có tác dụng làm bờ mái, vừa làm tăng tính thẩm mỹ cho mái

Trang 37

Phần mái toà đại bái đình Yên thôn hiện nay còn rất tốt Năm 2005

xã Thạch Xá đã cho tiến hành kiểm tra, trùng tu và thay lại toàn bộ những phần ngói bị gãy vỡ, những phần ngói cũ vẫn còn tốt đều được giữ lại, hệ thống các con giống cổ trên mái cũng được bảo tồn Hiện nay những con kìm, con nghê bằng sành nung đen và các đầu rồng trên đao đều có niên đại

từ thế kỷ 17, là những di vật quý còn lại mà đình Yên thôn đang cố gắng gìn giữ, chỉ có đôi rồng chầu mặt trời trên nóc và một con nghê trên bờ guột bên phải đình là sản phẩm mới được đắp lại

Như vậy có thể thấy toà đại bái đình Yên thôn là một công trình đẹp

và chuẩn mực theo phong cách kiến trúc cổ còn lại đến ngày nay Mọi chi tiết kết cấu cùng các mảng trang trí đều được tính toán và sắp xếp rất chính xác, hài hoà tạo nên một chỉnh thể vững chãi, uy nghi cho bộ phận quan trọng nhất của ngôi đình Trải qua thời gian tồn tại hàng thế kỷ, ngôi đại bái

đã được nhiều thế hệ trùng tu, tôn tạo do vậy nó mang trong mình dấu vết phong cách kiến trúc nghệ thuật của nhiều thời kỳ, điều đó tạo nên sự phong phú và hấp dẫn hơn cho ngôi đình

2.2.2.4 Hậu cung

Ơ đình Yên thôn, toà hậu cung phía sau có dạng của một hậu cung kép, bao gồm hậu cung chính thờ thành hoàng làng ở trên gác lửng, còn toà sau cùng nối liền với gian đại bái chỉ mang tính chất một hậu cung phụ, để cất giữ đồ thờ và tạo thêm sự thâm nghiêm cho di tích

Hậu cung đình Yên thôn có kết cấu kiến trúc được tạo bởi hai bộ vì

Bộ vì thứ nhất nối liền với gian đại bái có kiểu kết cấu kiến trúc như sau: Trên nóc là thượng lương, dưới thượng lương là một đấu vuông thót đáy Đấu này tiếp tục đặt lên chiếc câu đầu lợn túi Hai đầu của câu đầu ăn mộng vào hai cột đội Hai cột đội là những khối trụ tròn đặt đứng vuông góc với quá giang thông qua đấu vuông thót đáy lớn, trên đỉnh lao ra đỡ xà Tiếp theo là đến hai chiếc kẻ ngồi ăn mộng từ cột đội xuống quá giang,

Trang 38

Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÞ Ph−îng

thân kÎ ngồi đỡ lấy các hoành Qúa giang tiếp tục ăn mộng vào hai cột cái, phía dưới là bức hoành phi có bốn chữ “Thượng đẳng tối linh” và đôi câu đối

Đi vào bên trong hậu cung đình có hai cửa vào Phía trên cửa hai bên

có hai bức cốn cổ kính Bức cốn thứ nhất ở ô cửa bên phải là bức hổ phù kiểu tai dơi to, mắt lồi, mũi to dẹt, miệng há rộng lộ hai hàm răng trắng, tay bồng ba móng nắm chặt vào vầng râu cong bên phải Con rồng nằm trong khuôn của bức cốn có thân, đuôi, bờm vầng mây được uốn cuộn vào nhau với các mác lửa xung quanh Với phương pháp đục chạm bong kênh tạo nên một tác phẩm đắc sắc, phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ 17

Bức cốn thứ hai ở phía cổng bên trái hậu cung còn đặc biệt hơn Nghệ nhân xưa đã đục chạm bong hai con rồng trong một bức cốn gọi là

mẹ con rồng “mẫu tử long” Rồng mẹ là khối chủ đạo chiếm 80% diện tích, rồng đầu nhỏ, thân nhỏ, tai dơi Bộ bờm mác lửa hai phía, nhìn thấy rồng như đang bay trong vầng mây cao lúc ẩn lúc hiện Rồng mẹ ở bức cốn này mang phong cách nghệ thuật giống đầu rồng ở chiếc đầu dư vì thứ tư Có thể nói đây là hai tác phẩm nghệ thuật chạm bong tinh tế nhất của đình mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 17

Dưới bức cốn là chiếc xà nách ăn mộng từ cột lớn ở giữa ra cột con thứ nhất, một chiếc bẩy xó ăn mộng từ cột con thứ nhất ra cột ngoài cùng

Bên trong hậu cung có gác lửng tạo thành chiếc khám thờ, khám được dựng trên sàn cao 2m, xung quanh bưng ván kín và hoàn toàn nằm lọt trong toà nhà hậu cung ở phía sau Phía trước có hệ thống cửa bức bàn với khung của nó được liên kết từ dưới bụng của câu đầu giữa hai cột cái Cửa bức bàn được bổ ô cân xứng với 12 ô bằng nhau, trước cửa bức bàn có sàn cao tương tự và bên trái sàn có đặt thang để các cụ lên thắp hương trên khám

Phía bên trong hậu cung phụ được làm theo kiểu chái đình hè Một

kẻ ngồi ăn mộng từ cột chính xuống cột phụ, toàn bộ kẻ đỡ hoành, phía dưới là một chiếc xà nách Bẩy cò ăn mộng từ cột phụ xuống cột xó

Trang 39

Hậu cung đình Yên thôn cũng có hai đầu đao cong, có các con xô, con kìm trên mái tạo nên vẻ mềm mại thanh thoát cho ngôi đình Kiểu kiến trúc này chỉ thấy ở các công trình có niên đại sớm, các công trình muộn về sau hậu cung thường được làm theo kiểu tường hồi bít đốc không đao

Như vậy về mặt kiến trúc đình Yên thôn là một thực thể chứng minh cho dạng kết cấu kiến trúc cổ ở nước ta với lối liên kết ăn mộng chặt chẽ,

bố cục hài hoà vừa tạo nên một không gian thiêng liêng, là nơi thờ cúng thành hoàng làng, vừa tạo nên một không gian thoáng đãng phù hợp cho các sinh hoạt cộng đồng Đồng thời kiến trúc ngôi đình còn cho thấy sự tài hoa của người dân xưa khi tính toán nên các chi tiết liên kết để tạo nên sự chắc chắn của ngôi đến ngày nay vẫn còn nguyên vẹn, vững chãi, sự tinh tế trong nghệ thuật khi kết hợp các chi tiết trang trí làm nên sự mềm mại cho tổng thể công trình

Tóm lại đình Yên thôn thực sự là một bảo tàng kiến trúc cổ thu nhỏ mang đầy đủ yếu tố khoa học, thẩm mỹ tiêu biểu Là minh chứng cho một dòng chảy lịch sử không ngừng nghỉ suốt trăm năm

2.2 Di vật tiêu biểu đình Yên thôn

Trong kiến trúc ngôi đình, một bộ phận quan trọng làm nên sự hoàn thiện của di tích là hệ thống các di vật, cổ vật mang tư cách là đồ thờ, đồ tế

lễ, lễ hội…đồng thời chúng còn là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị Tại đình Yên thôn ngày nay còn lưu giữ được rất nhiều di vật thuộc các chất liệu khác nhau, trong đó di vật thuộc chất liệu gỗ chiếm số lượng nhiều nhất và có niên đại sớm hơn cả

Trong phạm vi bài khoá luận này xin trình bày ra đây một số di vật tiêu biểu về di vật chất liệu gỗ, chất liệu gốm sứ, chất liệu đồng, chất liệu vải, chất liệu giấy còn hiện hữu trong di tích đình Yên thôn

2.2.1 Di vật bằng gỗ

- Nhang án: Nhang án thực chất là một loại bàn thờ dùng để đặt các

đồ thờ như bát hương, đèn thờ, chân nến và các đồ thờ khác…Trong nhận

Trang 40

Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn ThÞ Ph−îng

thức của người Việt, bàn thờ là cõi của thần linh nên hiểu theo một khía cạnh nào đó thì bàn thờ cũng đồng nhất với tầng trên Bàn thờ chính là nơi

mà con người tiến hành mọi hoạt động tế lễ để thông linh với thế giới các thần thánh, là khu vực uy nghiêm của ngôi đình

Ơ đình Yên thôn hiện nay có hai chiếc nhang án, một chiếc có niên đại mới, một chiếc bên trong đặt toàn bộ đồ thờ có niên đại Nguyễn, là chiếc nhang án có giá trị nhất trong di tích

Nhang án có dạng hình hộp chữ nhật, chiều cao 1,7m, chiều dài 1,75m và chiều rộng 93cm

Nhang án gồm ba phần: mặt, thân và chân

Bề mặt được làm bằng một khối gỗ phẳng, dài 1,75m, dày 3cm, hai góc ngoài rìa nhang án được trang trí hình rồng cưỡi mây, rồng thể hiện mang phong cách rồng thời Nguyễn

Phần thân của nhang án là một hình hộp chữ nhật, mặt trước và hai bên được chia thành các ô vuông và hình chữ nhật để trang trí

Ơ mặt trước, trên cùng là ô trang trí: Ơ giữa là hình ảnh lưỡng long chầu nhật, hai bên ngoài là hai mặt hổ phù cùng các chi tiết dây leo, vân mây mềm mại trang trí Tiếp theo phía dưới, ở giữa là ô trang trí hình mặt

hổ phù, hai ô hai bên là hình phượng đang bay lượn Các ô nhỏ bên cạnh trang trí hoa chanh và hoa văn hình học Ô lớn nhất ở mặt phía trước trang trí hình tứ linh: long, ly, quy, phượng sinh động, các con tứ linh đang chầu vào hình chữ vạn ở giữa, hai bên cạnh là trang trí phượng rồi đến ô trang trí

rồng Cuối cùng là các ô nhỏ trang trí hình lân Hai bên nhang án là các ô

trang trí linh vật như mặt chính

Tất cả nhang án đều được sơn son thiếp vàng lộng lẫy và trang trí hình linh vật dày đặc vừa mang tính thẩm mỹ cao vừa tạo nên một không gian văn hoá tâm linh thiêng liêng cho di tích

- Ngai thờ: Ngai là loại đồ thờ gắn liền với các di tích đình, đền để

thờ thần, thánh Trên thực tế, ngai chính là chiếc ghế dùng làm chỗ ngồi

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w