Ngμy nay trong xu thế hội nhập toμn cầu, mỗi quốc gia đều phải vươn lên khẳng định mình, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội nhưng cũng vừa bảo vệ, gìn giữ bản sắc văn hoá của dân tộc
Trang 1Trường đại học văn hoá hμ nội
KHOA BẢO TÀNG
- -Vũ thị nhẫn
Tìm hiểu giá trị văn hoá nghệ thuật đền gin
(Xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định)
Khóa luận tốt nghiệp
Ngμnh bảo tồn - bảo tμng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
Hμ Nội – 2009
Trang 2Mục lục
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tμi
2 Mục đớch nghiờn cứu
3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Bố cục của khoá luận
Chương 1: Lịch sử hình thμnh vμ quá trình phát triển của Đền Gin 05
1.1 Mảnh đất vμ con người nơi di tích tồn tại 05
1.2 Lịch sử nhân vật 07
1.3 Niên đại khởi dựng vμ quá trình phát triển của Đền Gin 13
Chương 2: Giá trị văn hoá vật thể của Đền Gin 18
2.1 Giá trị kiến trúc 18
2.1.1 Không gian cảnh quan 18
2.1.2 Bố cục mặt bằng 21
2.1.3 Kết cấu kiến trúc 22
2.2 Giá trị nghệ thuật 29
2.2.1 Trang trí trên kiến trúc 30
2.2.2 Di vật tiêu biểu trong di tích 39
Chương 3: Giá trị văn hoá phi vật thể 44
3.1 Lễ hội Đền Gin 44
3.1.1 Không gian vμ thời gian diễn ra lễ hội 44
3.1.2 Lễ hội Đền Gin trước năm 1945 45
3.1.2.1 Các nghi thức tế lễ 46
3.1.2.2 Các lễ vật trong lễ hội 54
3.1.2.3 Các trò chơi diễn ra trong lễ hội 61
Trang
Trang 33.1.3 Lễ hội Đền Gin từ năm 1945 đến nay vμ thực trạng của lễ hội 65
3.2 Giá trị của lễ hội đối với đời sống 70
3.2.1 Giá trị cố kết cộng đồng 70
3.2.2 Cân bằng đời sống tâm linh 71
3.2.3 Giá trị sáng tạo vμ hưởng thụ văn hoá 72
3.2.4 ý nghĩa về bảo tồn vμ phát huy giá trị văn hoá 73
3.2.5 Giá trị hướng về cội nguồn dân tộc 74
Kết luận 76 Tμi liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tμi
Việt Nam lμ đất nước có bề dμy lịch sử, có nền văn hiến lâu đời với hệ thống di sản văn hoá đa dạng, phong phú, lμ tμi sản quý báu của toμn dân tộc, của mỗi người Việt Nam Ngμy nay trong xu thế hội nhập toμn cầu, mỗi quốc gia
đều phải vươn lên khẳng định mình, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội nhưng cũng vừa bảo vệ, gìn giữ bản sắc văn hoá của dân tộc mình, đó lμ hai vấn
Di tích vừa lμ những địa điểm lịch sử, các công trình xây dựng có giá trị kiến trúc - nghệ thuật, vừa lμ điểm danh thắng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng vμ cảnh quan văn hoá của mỗi vùng miền Ngoμi chức năng thờ Thμnh hoμng lμng, thờ Phật, thờ Thần vμ sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng dân gian, các di tích cũng lμ nơi
ẩn chứa tμi năng sáng tạo của con người vμ bản sắc dân tộc qua thời gian, năm tháng Đồng thời lμ sự khẳng định sức sống mãnh liệt của nền văn minh lúa nước
vμ nền văn hoá cộng đồng lμng xã trong suốt chiều dμi hμng nghìn năm lịch sử
Qua biết bao biến cố lịch sử, chúng ta may mắn vẫn còn lưu giữ được nhiều di sản văn hoá vật thể cũng như di sản văn hoá phi vật thể Dấu vết thời gian hằn in trên các di tích lμm cho chúng thêm phần biểu cảm sâu đậm về giá trị Nhưng đồng thời cũng lμm cho sự hiện hữu về mặt vật chất của chúng trở nên mong manh hơn bao giờ hết
Do đó việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị của các di tích trong cuộc sống đương đại, nhằm bảo tồn vμ phát huy các giá trị đó ngμy cμng trở nên
Trang 5cấp thiết, hướng tới mục tiêu đảm bảo tính hμi hoμ giữa bảo tồn vμ phát triển trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình trên con đường công nghiệp hoá hiện
đại hoá
Trong hệ thống các di tích lịch sử của đất nước, thì loại hình “đền thờ” lμ một trong những loại hình di tích tiêu biểu Đây lμ nơi tập trung tinh thần văn hoá cộng đồng, thể hiện niềm tin tín ngưỡng, lòng tôn kính của nhân dân với vị thần được thờ Đồng thời, đền thờ cho ta thấy được tμi năng vμ quan niệm của người xưa trong nghệ thuật tạo hình, cũng như các ý nghĩa sâu xa đằng sau các
di vật, các chi tiết trong tạo hình, trong kiến trúc cũng như trong lễ hội truyền thống của đền thờ
Đền Gin hay còn gọi lμ đền thờ Kiều Công Hãn (Kiều Tam Chế) ở xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định lμ một di tích lịch sử đã được nhμ nước xếp hạng Với nhiều mặt giá trị vμ ý nghĩa, Đền Gin có vai trò to lớn trong
đời sống văn hoá, tín ngưỡng không chỉ đối với nhân dân Nam Trực nói riêng mμ còn có ý nghĩa đối với nhiều địa phương trên đất nước ta Việc tìm hiểu, nghiên cứu giá trị văn hoá nghệ thuật của di tích nμy có ý nghĩa quan trọng góp phần vμo việc giữ gìn vμ phát huy giá trị của di sản văn hoá của tỉnh Nam Định nói riêng vμ cả nước ta nói chung
Từ cách nhận thức vấn đề như trên, được sự cho phép và giúp đỡ của khoa Bảo tàng – Trường Đại học Văn hoá Hμ Nội, được sự gợi mở của các thầy cô
giáo đặc biệt dưới sự hướng dẫn vμ chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS Đặng Văn
Bμi Tôi xin chọn đề tμi “Tìm hiểu giá trị văn hoá nghệ thuật của di tích Đền
Gin” ở xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, lμm đề tμi cho bμi khoá luận tốt nghiệp của mình Với sự mong muốn góp phần nhỏ bé vμo công tác bảo tồn nói chung, với vấn đề bảo vệ, giữ gìn vμ phát huy giá trị Đền Gin xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định nói riêng
2 MỤC ĐíCH NGHIÊN CứU
Tìm hiểu về vùng đất Nam Dương - Nam Trực, Nam Định, nơi di tích đã
được hình thμnh vμ phát triển
Trang 6Nghiên cứu, tìm hiểu thân thế, sự nghiệp của Kiều Công Hãn - Vị thần
3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Toμn cảnh khu di tích Đền Gin vμ lịch sử nhân vật được thờ trong di tích
+ Đối tượng cụ thể lμ đi sâu nghiên cứu giá trị văn hoá nghệ thuật của Đền Gin 3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Tìm hiểu khảo sát vùng đất nơi di tích hình thμnh vμ tồn tại
+ Những giá trị văn hoá vật thể vμ giá trị văn hoá phi vật thể ở Đền Gin
4 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hoá, giáo dục tức lμ đứng trên lập trường quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng vμ duy vật lịch sử để nhìn nhận các sự việc, hiện tượng vμ sự kiện lịch sử, đánh giá giá trị văn hoá vật thể vμ văn hoá phi vật thể của Đền Gin
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngμnh: Sử học, Dân tộc học, Khảo cổ học, Bảo tμng học, Mỹ thuật học, Văn hoá học, Xã hội học nhằm xác
định hiện trạng vμ giá trị của di tích
Trong quá trình nghiên cứu đề tμi còn sử dụng phương pháp khảo sát điền dã, mô tả, đo vẽ, chụp ảnh, thống kê, so sánh, tổng hợp để thu thập vμ xử lý thông tin
5 Bố cục của khoá luận
Ngoμi phần mở đầu vμ kết luận, phụ lục vμ danh mục tμi liệu tham khảo, bμi khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lịch sử hình thμnh vμ quá trình phát triển của Đền Gin
Chương 2: Giá trị văn hoá vật thể của Đền Gin
Trang 7Chương 3: Giá trị văn hóa phi vật thể của Đền Gin
Trong quá trình thực hiện đề tμi, em đã sử dụng tham khảo một số tμi liệu, sách báo, tạp chí chuyên ngμnh Song, phần lớn lμ quá trình khảo sát thực tế tại
di tích, đặc biệt dưới sự giúp đỡ vμ hướng dẫn của giáo viên chuyên ngμnh Qua
đây em xin bμy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đặng Văn Bμi, người
đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tμi Em cũng xin bμy tỏ lòng biết ơn chân thμnh tới các cô chú, anh chị trong Ban quản lý Di tích vμ Danh thắng tỉnh Nam Định, Phòng Văn hoá huyện Nam Trực vμ bạn bè
đồng môn giúp đỡ em hoμn thμnh khoá luận văn nμy
Do thời gian vμ trình độ còn hạn chế, nên bμi viết không tránh khỏi sự thiếu sót, hạn chế Kính mong được sự chỉ bảo của thầy giáo, cô giáo vμ các nhμ nghiên cứu Đồng thời mong nhận được sự góp ý của bạn bè đồng môn để bμi khoá luận hoμn thiện hơn
Trang 8CHƯƠNG 1
LịCH Sử HìNH THμNH Vμ QUá TRìNH PHáT TRIểN CủA
ĐềN gIN
1.1 mảnh đất vμ con người nơi di tích tồn tại
Nam Định lμ vùng đất có bề dμy lịch sử, lμ một trong số ít các tỉnh thμnh miền Bắc có số lượng di tích lịch sử, văn hoá lớn nhất Đến với quê hương Nam
Định, chúng ta được đắm mình trong phong cảnh hữu tình cùng với các di tích tiêu biểu như: Đền Trần, Chùa tháp Phổ Minh, Đền Bảo Lộc, Chùa Đại Bi, Khu
Di tích Phủ Giầy… kèm với các di tích lμ các lễ hội truyền thống dân gian phong phú
Trong số 10 huyện lỵ vμ thμnh phố của Nam Định, thì Nam Trực- một vùng đất địa linh nhân kiệt đã có từ khi dân tộc ta dựng nước, trong thời kỳ lịch
sử dựng nước vμ giữ nước Nam Trực luôn giữ một vị trí quan trọng Thời Bắc thuộc Nam Trực được coi lμ yết hầu của phủ Thiên Trường, thời Trần Nam Trực
lμ vọng gác Phía Nam, ngμy nay Nam Trực lμ cửa ngõ phía Nam của Nam Định
Nhìn từ góc độ địa lý thì Nam Trực lμ vùng đất “địa linh” với hai dòng chảy hợp lực của hai dòng sông: sông Hồng vμ Sông Đμo cuộn đỏ phù sa Phía Bắc giáp Thành phố Nam Định, phía đông giáp sông Hồng vμ huyện Trực Ninh, phía Tây giáp huyện Vụ Bản vμ ý Yên, phía nam giáp huyện Nghĩa Hưng vμ Hải Hậu Đồng hμnh với hai triền sông lμ hai quốc lộ 21B vμ 55 chạy suốt theo chiều dμi từ bắc chí nam, rồi những con đường huyện có tên: đường Vμng, đường Trắng vμ đường Đen một thời đã lμm nên lịch sử
Huyện Nam Trực ngμy nay lμ một phần của huyện Nam Chân, Thượng Nguyên vμ Giao Thuỷ đầu thế kỷ XIX Danh sách các tổng vμ các đơn vị hμnh chính cơ sở thuộc đất Nam Trực đương thời lμ gồm 12 tổng, trong đó tổng Bái Dương chính lμ đất huyện Nam Trực ngμy nay Huyện Nam Trực có diện tích tự nhiên 16.203,95 ha, dân số 201,921 người gồm 20 đơn vị hμnh chính trực thuộc Nam Trực có bề dμy văn hoá truyền thống vμ hiện đại, những giá trị văn hoá tinh thần vμ vật chất được hun đúc qua bao thế hệ được thể hiện ở tiềm năng
Trang 9văn hoá gồm nhiều lĩnh vực: trên 200 di tích đền thờ, miếu, nhμ thờ… trong đó
có 30 di tích đã được xếp hạng tiêu biểu như: Chùa Đại Bi (Nam Giang), Đền Gin (Nam Dương), Đền Xám (Hồng Quang)… nhiều lμng văn hoá dân gian cổ truyền, nhiều lμng nghề truyền thống: dệt, cơ khí, đúc đồng, sơn mμi… Truyền thống văn hoá Nam Trực không chỉ thể hiện ở văn hoá hữu hình vμ vô hình mμ còn thể hiện ở chính chủ nhân văn hoá đó lμ con người của đất Nam Trực Gồm 20 đơn vị hμnh chính xã với nhiều loại hình di tích tiêu biểu, đa dạng
vμ phong phú với lễ hội văn hoá cổ truyền thì Đền Gin lμ một cụ thể ở xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Đền Gin lμ ngôi đền chung của hai xã Nam Dương vμ Bình Minh (tức bốn xã trước đây lμ Bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật vμ Cổ Lũng) ngôi đền tọa lạc ở
đầu thôn Chiền xã Nam Dương trên một vùng đất bằng phẳng vμ thoáng đãng Nam Dương lμ một xã phía nam huyện Nam Trực, phía Bắc giáp thị trấn Nam Giang, phía Nam giáp xã Bình Minh vμ Đồng Sơn, phía Tây giáp sông Đμo vμ phía Đông giáp xã Nam Hùng
Nam Dương có địa hình tương đối bằng phẳng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc canh tác lúa vμ hoa mμu, đa dạng về cây trồng Dân số tính
đến năm 2007 có khoảng 11.700 người, trong đó giáo dân có 1000 người Xã Nam Dương có hệ thống đường liên xóm, liên thôn, liên xã được nối liền qua trục đường chính của huyện như đường 55, đường Vμng, đường Trắng, đường
Đen rất thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế vμ xã hội
Nhân dân Nam Dương vốn cần cù lao động vμ sáng tạo, có trình độ thâm canh lúa nước, hoa mμu vμ cây công nghiệp: cμ chua, dưa chuột, ngô khoai ở lμng Bái, lμng Vọc, lμng Đầm, lμng Phượng Đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân mỗi ngμy được cải thiện, bộ mặt nông thôn ngμy cμng đổi mới đang tiến dần
đến đô thị hoá Cùng với sự phát triển đa dạng phong phú về nông nghịêp, về giao lưu kinh tế - văn hóa, xã hội rất trú trọng giữ gìn bản sắc dân tộc của quê hương Những công trình văn hoá cha ông ta đã xây dựng cách đây hμng ngμn năm đã chịu sự tμn phá của hai cuộc chiến tranh, bị thiên nhiên phong hoá, hμng năm đều đựơc nhân dân tu bổ, bảo vệ vμ giữ gìn như Đền Gin, Chùa Đầm, Nhμ
Trang 10thờ họ Chiền… Xã có nhiều công trình có vẻ đẹp về nghệ thuật kiến trúc vμ lịch
sử văn hoá nổi tiếng như: Đền Gin, một công trình kiến trúc được xếp hạng lμ di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia Căn cứ vμo điều 46 của Hiến pháp nước Cộng hoμ xã hội chủ nghĩa Việt nam, căn cứ vμo Pháp lệnh “Bảo vệ vμ sử dụng di tích lịch sử văn hoá vμ danh lam thắng cảnh” số 14 LCT/ HĐNN ngμy 4/4/1984 của hội đồng nhμ nước Cộng hoμ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đền Gin được công nhận lμ di tích lịch sử vμ văn hoá theo quyết định công nhận số 29 VHQĐ ngμy 13/01/1964 được ghi vμo sổ danh mục di tích lịch sử văn hoá số 90
Từ thế kỷ X cho đến nay, hằng năm cứ vμo ngμy 10 tháng Chạp âm lịch, nhân dân Nam Dương vμ Bình Minh (thời pháp thuộc lμ xã Bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật, Cổ Lũng thuộc tổng Bái Dương cũ) nô nức mở hội truyền thống dâng hương tưởng niệm sứ quân Kiều Công Hãn, mất năm 967, người có công giúp Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi đất nước Người đã được triều
đình phong kiến nhμ Ngô phong chức Đề sát giám quốc
Đến với di tích Đền Gin ta có thể đi bằng hai con đường Một lμ, từ thμnh phố Nam Định đi qua cầu Đò Quan, rẽ phải theo đường 55, đi khoảng 11 km, sau đó rẽ trái theo đường lμng khoảng 200 m lμ đến di tích Hai lμ, từ thμnh phố Nam Định qua cầu Đò Quan đi theo quốc lộ 21 khoảng 11 km, sau đó rẽ phải theo đường Vμng khoảng 5 km, đến Ngã tư chợ Chùa rẽ trái theo đường 55 khoảng 2 km, rồi rẽ trái 200 m lμ đến di tích
Xã Nam Dương, Bình Minh nói riêng vμ huyện Nam Trực nói chung lμ một vùng đất đồng bằng mμu mỡ, một vùng đất có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế Cùng với dòng chảy của lịch sử, nhân dân nơi đây đã sáng tạo vμ vun
đắp cho mình nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống, đó lμ lòng yêu quê hương, đất nước, lμ đạo nghĩa uống nước nhớ nguồn, luôn hướng về tổ tông dòng giống Đó
lμ tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo, tiếp nối để xây dựng quê hương ngμy cμng giμu đẹp
1.2 Lịch sử nhân vật được thờ
Căn cứ vμo nguồn tư liệu Hán Nôm tại địa phương như: thần tích, sắc phong, bμi vị, câu đối… thì vị thần được thờ tại Đền Gin lμ sứ quân Kiều Công
Trang 11Hãn (còn gọi lμ Kiều Tam Chế) Kiều Công Hãn xuất thân từ dòng họ có thế lực lớn ở Phong Châu (Phú Thọ) Người đầu tiên trong gia tộc họ kiều được sử sách nhắc tới lμ Kiều Công Tiễn ông nội của Kiều Công Hãn, với lời phê phán gay gắt
vì hμnh động sát hại Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ (1) để đoạt quyền Ngay sau đó
do sợ Ngô Quyền lμ con rể của Dương Đình Nghệ đang trấn thủ ở ái Châu (Thanh Hoá) đem quân ra báo thù Kiều Công Tiễn đã sai sứ sang nước Nam Hán cầu viện Chớp lấy thời cơ vua Nam Hán lμ Lưu Cung lập tức giao cho con
lμ Lưu Hoằng Thao lμm Lĩnh Hải Tiết độ sứ chỉ huy một lực lượng binh thuyền lớn tiến đánh nước ta Việc lμm bạo ngược vμ trái phép với đạo lý của Kiều Công Tiễn đã gây nên niềm phẫn nộ sâu sắc đối với hμo trưởng ở các địa phương vμ trong nhân dân cả nước Ngay trong gia tộc họ Kiều cũng có sự phân tâm dẫn
đến những phản ứng đối lập nhau Kiều Công Hãn vμ cha ông lμ Kiều Công Chuẩn quyết không đi theo con đường của ông nội Kiều Công Tiễn đã chọn Khi Kiều Công Tiễn có ý sai người sang cầu cứu quân Nam Hán, Kiều Công Chuẩn
đã có những lời lẽ để can ngăn hμnh động của cha mình như sau: “Nhμ ta vốn lμ nhμ hμo trưởng ở Phong Châu, nếu cha lượng sức không đánh nổi quân Ái Châu thì nên trao chức Tiết độ sứ cho Ngô Quyền, rồi về Phong Châu an hưởng tuổi giμ, không nên rước quân Nam Hán vμo tμn sát dân mình, cái tội ấy không gì nặng bằng”
Những lời lẽ khuyên can của Kiều Công Chuẩn xuất phát từ lợi ích dân tộc, danh dự gia đình vμ dòng tộc họ Kiều, đã không lay chuyển được ý đồ xấu
xa của Kiều Công Tiễn mμ còn khiến ông suýt mất mạng Thực tế đau xót ấy đã tạo nên một bước ngoặt mới trong hμnh động của cha con Kiều Công Chuẩn vμ Kiều Công Hãn Ngay lập tức Kiều Công Chuẩn đã thảo một bức thư nói rõ tình hình quân Nam Hán sắp sang xâm lược nước ta vμ giục Ngô Quyền gấp rút tính
kế diệt giặc để cứu muôn dân Ông sai Kiều Công Hãn mang thư vμo ái châu
(1) Dương Đình Nghệ lμ tướng cũ của họ Khúc, quê ở lμng Giμng (Thanh hoá) Năm 931, ông tập hợp lực lượng đánh đuổi quân xâm lược Nam Hán ra khỏi bờ cõi đất nước, khôi phục quyền tự chủ của dân tộc tự xưng lμ Tiết Độ sứ
Trang 12trao tận tay Ngô Quyền, rồi tự mình đem hai con nhỏ lμ Kiều Thuận (2) vμ Kiều Công Đĩnh về ở ẩn tại Hồi Hồ (sông Thao- Phú Thọ)
Nhận được thư của Kiều Công Chuẩn, Ngô Quyền rất cảm kích, ông cho mời Kiều Công Hãn ở lại ái Châu (Thanh Hoá) cùng hợp sức chống giặc Tại
đây, Kiều Công Hãn đã bμy kế khuyên Ngô Quyền tập hợp lực lượng mạnh để tiêu diệt quân xâm lược Nam Hán khi chúng tiến vμo nước ta bằng đường biển Theo kế của Kiều Công Hãn, Ngô Quyền sai Phạm Bạch Hổ đánh úp ở thμnh Đại
La (Hμ Nội) Ngô Quyền trực tiếp chỉ huy đội thuỷ quân, cử Kiều Công Hãn lμm tướng tiên phong từ ái Châu vượt biển tiến ra đồn trú ở Lương Xâm (nay thuộc huyện Hải An- TP Hải Phòng) Tại Lương Xâm, Ngô Quyền, Kiều Công Hãn vμ các tướng sĩ được tin báo vua Nam Hán sai con lμ Vạn vương Hoằng Thao dẫn theo một đại quân đang trên đường tiến sang nước ta Cùng lúc đó, Phạm Bạch
Hổ đã chiếm được thμnh Đại La, kịp mang quân về Lương Xâm hợp sức chống giặc
Sau khi đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi nước ta, Ngô Quyền lên lμm vua, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hμ Nội) mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ dân tộc Kiều Công Hãn đã có nhiều công lao đóng góp nên được Ngô Quyền phong chức Đề sát, sau đó ông được cắt cử giữ chức Giám quốc
Chính sử cho biết, trong suốt những năm lμm quan, Kiều Công Hãn luôn tận trung với sự nghiệp của nhμ Ngô Ông lμ người có vai trò rất lớn trong việc giúp Ngô Xương Văn (con của Ngô Quyền) phế truất Dương Tam Kha khôi phục lại cơ nghiệp nhμ Ngô vμo năm 950
Mặc dù đã bước vμo thời kỳ độc lập tự chủ, nhưng chính quyền Trung
ương dưới sự điều hμnh của Ngô vương chưa đủ điều kiện để kiểm soát vμ quản
lý chặt chẽ các địa phương Vì vậy, mầm mống cát cứ địa phương của các thế lực phong kiến luôn tiềm ẩn, đe doạ trực tiếp đến sự sống còn của nhμ nước độc lập
(2) Kiều Thuận sau nμy trở thμnh 1 trong 12 sứ quân chiếm giữ vùng Hồi Hồ (Phú Thọ) tự xưng
lμ Kiều Lệnh Công
Trang 13Năm 944, Ngô vương mất, các con cháu của ông không đủ uy tín vμ tμi năng để duy trì chính trụ quyền quân chủ tập trung đang còn trong thời kỳ non yếu Dương Tam Kha lμ con của Dương Đình Nghệ, anh vợ của Ngô Quyền dần dần thâu tóm mọi quyền hμnh trong triều đình vμ tự xưng lμ Bình Vương, trị vì đất nước được 6 năm (944-950) Năm 950, Ngô Xương Văn lμ con thứ của Ngô Quyền, sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, kéo quân về truất bỏ Dương Tam Kha, khôi phục lại cơ nghiệp của nhμ Ngô, đón anh trai lμ Ngô Xương Ngập về cùng trông coi việc nước Nhưng chỉ sau đó ít lâu, trong anh em Ngô Xương Ngập vμ Ngô Xương Văn lại xảy ra mâu thuẫn vμ hiềm khích khiến quan lại bất bình, lòng dân không theo
Sau cái chết của Ngô Xương Ngập năm 954, triều Ngô suy tμn vμ nhất lμ sau cái chết của Ngô Xương Văn năm 956 thì triều Ngô thực tế không còn tồn
tại Sách Đại Việt sử ký toμn thư có chép: “các hùng trưởng đua nhau nổi dậy
chiếm cứ quân ấp để tự giữ… Bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh
Trong 12 sứ quân (4), Kiều Công Hãn xây dựng căn cứ tại vùng Phong Châu (Phú Thọ), ông tự xưng lμ Kiều Tam Chế Địa bμn hoạt động của sứ quân Kiều Công Hãn ngoμi Phong Châu còn mở rộng ra các xã lân cận thuộc khu vực Vĩnh Phúc, Sơn Tây vốn lμ vùng xứ Đoμi, quê hương của họ Kiều Mặc dù Kiều Công Hãn cũng như các sứ quân khác đều có mục đích chính lμ nhanh chóng giμnh được quyền kiểm soát đất nước về tay mình, chấm dứt tình trạng loạn ly,
cứ, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng 12 sứ quân gồm: Kiều Công Hãn ( Kiều Tam Chế) ở vùng Phong Châu ( Phú Thọ), Nguyền Khoan ( Nguyễn Thái Bình) ở Tam
Đái (Vĩnh Phúc), Ngô Nhật Khánh (Ngô Lãm Công) ở Đường Lâm ( Hμ Tây), Ngô Xương Xí chiếm giữ Bình Kiều ( Thanh Hoá), Lý Khuê (lý Lãm Công) ở Siêu Loại ( Ninh Bình), Nguyễn Thủ Tiệp (Nguyễn Lệnh Công) ở Tiên Du ( Bắc Ninh), Lã Đường ( Lã Tá Công) ở Tế Giang (Hưng Yên), Nguyễn Siêu (Nguyễn Hữu Công) ở vùng Tây Phù Liệt ( Hμ Nội), Kiều Thuận (Kiều Lệnh Công) ở Hồi Hồ (Phú Thọ),Phạm Bạch Hổ (Phạm Phòng át) ở Đằng Châu (Hưng Yên) , Trần Lãm ( Trần Minh Công) chiếm giữ Bố Hải Khẩu (Thái Bình), vμ Đỗ Cảnh Thạc ở
Đỗ Động (Thanh Oai Hμ Tây)
Trang 14chia cắt Nhưng các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa họ đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nền độc lập bị đe doạ Trước tình hình đó, Đinh Bộ Lĩnh
“người anh hùng tμi năng, sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời”(5)
đã xuất hiện vμ tự đảm nhận sứ mạng lịch sử của dân tộc, sự nghiệp thống nhất
đất nước của Đinh Bộ Lĩnh mau chóng được ủng hộ rộng rãi của các hμo kiệt bốn phương vμ nhân dân cả nước Nhiều hμo kiệt đã nhiệt tâm giúp đỡ Đinh Bộ Lĩnh ngay từ buổi đầu như: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lê Hoμn, Trần Lãm Cũng
có những hμo kiệt sớm quy phục khi ông dấy binh dẹp loạn như : Phạm Bạch Hổ, Nguyễn Xương Xí, Nguyễn Tấn, Ngô Nhật Khánh…
Kiều Công Hãn lμ một trong số những hμo trưởng không có may mắn
được giúp sức Đinh Bộ Lĩnh bởi nhiều lý do khác nhau Ông đã sớm hy sinh trong những cuộc chiến hỗn loạn giữa các thế lực cát cứ địa phương khi chưa kịp nhận biết được vai trò của Đinh Bộ Lĩnh Sử sách vμ truyền thuyết dân gian đã ghi lại sự hy sinh anh dũng của sứ quân Kiều Công Hãn tại vùng quê Nam Trực, Nam Định như sau: “Năm Đinh Mão (967) Đinh Bộ Lĩnh được Trần Lãm trao binh quyền ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình) vμ được Phạm Bạch Hổ chiếm giữ vùng
Đằng Châu (Hưng Yên) quy phục, với tiềm lực quân sự ngμy cμng lớn mạnh
Đinh Bộ Lĩnh liên tiếp đánh bại Lã Đường đúng giữ ở Tế Giang (Hưng Yên), Nguyễn Siêu đúng giữ ở Tây Phù Liệt, Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Trên đμ thắng lợi, Đinh Bộ Lĩnh tiến quân sang vùng Kinh Bắc, dẹp Lý Khê đóng giữ ở Siêu Loại, Nguyễn Thủ Thiệp đóng giữ ở Tiên Du, sau đó tiến sang vùng sứ Đoμi thu
phục lực lượng Ngô Nhật Khánh (6) ở Đường Lâm, tiêu diệt Nguyễn Khoan đóng giữ ở Tam Đái vμ bắt sống Kiều Thuận chiếm giữ vùng Hồi Hồ Lúc nμy Phong Châu nơi sứ quân Kiều Công Hãn chiếm giữ bị lực lượng Đinh Bộ Lĩnh vây hãm, Kiều Công Hãn đã đem 200 thân binh mở đường máu chạy về phía nam với hy vọng có thể phối hợp được với quân của Ngô Nhật Khánh ở Giao Thuỷ Trên
(5)
Đại Việt sử ký toμn thư, tập I Sđd, Tr 21
(6) Ngô Nhật Khánh : lμ hậu duệ của Ngô Quyền vμ lμ một thế lực mạnh chiếm giữ ở Đường Lâm Nhiều tμi liệu cho biết, sau khi thất bại ở Đường Lâm (Sơn Tây) Ngô Nhật Khánh chạy
về xây dựng lực lượng ở Giao Thuỷ, sau đó theo hμng Đinh Bộ Lĩnh vμ trở thμnh phò mã của vua Đinh
Trang 15đường rút chạy, Kiều Công Hãn nhận được tin Ngô Nhật Khánh đã hμng ông quyết định chạy vμo ái châu (Thanh Hoá) để hợp sức với Nguyễn Xương Xí ở Bình Kiều Sáng ngμy mùng 10 tháng Chạp năm Đinh Mão (697), Kiều Công
Hãn chạy đến vùng Thượng Hiền (7)
Tại đây Lê Khai vμ Nguyễn Tấn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Bặc đã
bố trí sẵn lực lượng đón đánh Kiều Công Hãn Vừa mới chạy đến thôn Vạn Diệp
đây
Tương truyền sau khi ông mất nhân dân bốn xã lμ Bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật vμ Cổ Lũng đã lập đền thờ ông ngay trên phần mộ cũ, nhân dân còn lập một miếu nhỏ phía ngoμi cổng đền thờ để thờ bμ Phạm Thị Giμ người có công dâng rượu vμ gỏi cá Trắm cho thần ăn trước khi hoá Mặc dù sứ quân Kiều Công Hãn hy sinh giữa trận tiền khi chưa thực hiện được chí hướng dựng nghiệp lớn, nhưng chiến công của ông vẫn sống trong ký ức dân gian, trong sự ngưỡng
mộ vμ sự khâm phục của người dân địa phương vμ trở thμnh thμnh hoμng của bốn lμng Sự hy sinh của Kiều Công Hãn tại Nam Dương còn nói lên vai trò vμ vị trí của vùng đất Nam Định trong sự nghiệp thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh
(7)
Đến đời vua nhμ Trần đổi thμnh huyện Thượng Nguyên do kiêng huý Trạng Nguyên Nguyễn Hiền thế kỷ XIII Thời Pháp thuộc tên huyện Thượng Nguyên bị xoá bỏ sát nhập hầu hết vμo huyện Mĩ Lộc
tập 1 Nxb Thanh niên, 2002 đều cho rằng Kiều Công Hãn đã chạy đến An Lá ( Xó Nghĩa
An, Nam Trực thì bị Nguyễn Tấn đón đánh )
Trang 16Trong sách Địa chí Nam Định viết về vùng đất Nam Định dưới thời Ngô- Tiền Lê (938-1009) PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc đã dẫn nguồn tư liệu chính sử,
Đinh-đặc biệt lμ tư liệu thần tích, ngọc phả để lý giải vμ khẳng định: “không chỉ có
Đinh Bộ Lĩnh mμ hầu như tất cả các bậc “hùng trưởng” đương thời đều trực tiếp hay gián tiếp chọn đất nμy lμm nơi thi thố tμi năng Vì thế Nam Định vừa lμ nơi hội tụ, vừa lμ nơi giμnh giật ảnh hưởng của hμo kiệt bốn phương, xuất phát từ Hoa Lư- Ninh Bình Đinh Bộ Lĩnh đã từng bước hoμn thμnh sự nghiệp vĩ đại
Tục thờ thμnh hoμng Kiều Công Hãn của nhân dân bốn lμng Bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật, Cổ Lũng xưa (nay lμ hai xã Bình Minh vμ Nam Dương)
mμ nơi thờ chính lμ Đền Gin (thôn Chiền) không chỉ xuất phát từ đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, biết ơn các anh hùng dân tộc có công với dân, với nước mμ
còn mang tính tín ngưỡng sâu sắc của cộng đồng dân cư lμng xã Mười đạo sắc
công đức của người đời, sự trân trọng của các triều đại phong kiến đối với sứ quân Kiều Công Hãn Điều đó có thể lý giải được về sự thiêng liêng, ứng nghiệm
“hộ quốc tý dân” của thần vμ cũng lμ một biến thể của niềm tin vμ kính phục, sự tôn sùng của dân gian đối với thế lực thần linh khi mμ khoa học chưa phát triển những thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh không dễ gì chế ngự
Có lẽ chính vì vậy mμ hơn 10 thế kỷ qua, việc thờ phụng Kiều Công Hãn trên mảnh đất quê hương vẫn không hề thay đổi Lớp lớp thế hệ người dân nơi
đây vẫn mãi một niềm tôn sùng vμ kính phục luôn tin tưởng rằng hôm nay vμ cả mai sau, dù thời cuộc có đổi thay thì thần vẫn luôn hiển linh bảo hộ vμ phù giúp
họ trong mỗi bước đường xây dựng quê hương, đất nước ngμy một ấm no, hạnh phúc
(9 ) Địa chí Nam Định Sđd, Tr.208
(10) Đạo sắc sớm nhất ghi niên đại ngμy 29 tháng 3năm Đức Long 4(1632) Đạo sắc muộn nhất có ghi niên đậi ng y 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924) Tất cả 10 đạo sắc nay đều ghi duệ hiệu Thμnh hoμng Kiều Công Hãn lμ Long Kiều linh Thánh đại vương
Trang 171.3 Niên đại khởi dựng vμ quá trình tồn tại của di tích
Ai đã từng đi qua vùng đất Nam Định thì không thể không biết đến chùa
tháp Phổ Minh, Khu di tích Đền Trần, hội Phủ Giầy vμ khi đến với mảnh đất con người huyện Nam Trực thì không thể bỏ qua công trình kiến trúc Đền Gin vμ
lễ hội truyền thống nơi đây
Có thể nói Đền Gin hiện nay lμ một trong những công trình cổ độc đáo vμ
đẹp nhất của tỉnh Nam Định Đền Gin toạ lạc trên địa hình bằng phẳng, trong một không gian thoáng đãng hoμ quyện cùng xóm lμng Đền Gin: trong lμ chính cung ngoμi lμ Tiền Các, sân lát gạch có tường bao quanh, có hμng cây cổ thụ quanh năm toả bóng mát tạo nên một quần thể kiến trúc độc đáo tại thôn Chiền xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đền vừa có vai trò lμ một công trình tôn giáo, nơi để tín đồ hμnh lễ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân Đồng thời, đền cũng có chức năng như một ngôi đình lμng, lμ nơi diễn ra các sinh hoạt văn hoá cộng đồng của nhân dân địa phương
Đền có tên gọi lμ Đền Gin như hiện nay lμ vì: tại đây có chợ Gin nằm ngay trước đền, ở vị trí trung gian giữa hai lμng Chiền vμ lμng Bái, vì thế nó lμ chợ trung gian của hai lμng Từ ngμy trước các cụ bô lão trong lμng đã gọi lái từ chợ “Gian” sang lμ “Gin” vμ cho đến nay cái tên nμy vẫn được giữ nguyên như
cũ không có sự thay đổi khác Cũng chính vì lý do nμy, mμ đền thờ Kiều Công Hãn có tên gọi Đền Gin Tên của di tích trong thời kỳ Pháp thuộc cũng được người Pháp công nhận tên gọi Đền Gin như bây giờ, vμ hiện nay Đền Gin còn lưu giữ bút tích của Thực dân Pháp để lại: “Temple of Gin Momment historene ” (Đền Gin cổ tích liệt hạng)
Hiện nay Đền Gin bao gồm các hạng mục: Giải vũ ngoại, Giải vũ nội, toμ Tiền Các vμ khu Chính Cung được xây dựng vμ tu bổ vμo nhiều thời gian khác nhau như: Về niên đại của công trình Tiền Các, Tiền Các lμ một công trình kiến trúc gỗ khá hoμn chỉnh, trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo trên long cốt hiện nay còn ghi dòng chữ Hán có nội dung cho biết công trình được trùng tu vμo năm Duy Tân (1911): “Hoμng Việt Duy tân tuế Tân Hợi trọng đông cát nhật thời kiến” vμ năm trùng tu gần đây nhất lμ 5/10/2008 Song, tại đây vẫn còn bảo lưu
Trang 18một số mảng chạm khắc mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu Lê thế kỷ XVII – XVIII Vμ đặc biệt lμ căn cứ vμo cách bố trí mặt bằng tổng thể của công trình đền thì chắc chắn di tích lịch sử xây dựng muộn nhất cũng vμo khoảng thế
kỷ thứ XVII – XVIII như: “mê cốn”, hoa văn “triện tμu lá dắt”, “lá lật” trên xμ
đinh, xμ nách
Khu Đền chính có thể xác định niên đại khởi dựng vμ các lần trùng tu thông qua dòng niên đại trên thượng lương toμ Tiền Đường: “Khải Định bát niên Quý Hợi chính nguyệt nhật trùng tu điện thμnh” vμ đôi câu đối khảm trai treo tại hiên toμ Tiền Đường:
“ Anh hùng sự nghiệp khai thiên địa
Hách trạc thanh linh đán cổ kim”
(Anh hùng sự nghiệp mở trời đất
Tiếng thiêng lừng lẫy vẫn còn đến xưa nay
Năm Minh Mệnh (1820-1840) được tao dựng)
Như vậy, khu Đền chính được tạo dựng năm Minh Mệnh (1820-1840) dưới triều vua nhμ Nguyễn vμ năm Quý Hợi niên hiệu Khải Định 8 (1923) tu sửa lại
đền, mọi công việc đã hoμn thμnh
Đối với hai dãy giải vũ ngoại, mặc dù chưa xác định được năm khởi dựng nhưng qua khảo sát kết cấu kiến trúc: kèo cầu trụ báng, quá giang đơn giản, bờ nóc, bờ chảy, bờ bảng theo phong cách nghệ thuật của thời Nguyễn hai dãy giải
vũ trong có kết cấu tượng tự như giải vũ ngoμi, tuy nhiên ở giải vũ nội trên quá giang thứ 6 vẫn bảo lưu được một số mảng kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê, đặc biệt lμ bộ cánh cửa tai gian thờ “quan chăn ngụă” đề tμi chạm khắc hoμn toμn lμ rồng, với đường chạm bong nhiều lớp Vμ những con rồng mập mạp đan xen hoa văn “lá hoả” tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thế
kỷ XVII
Tóm lại, có thể dự đoán rằng việc thờ tự sứ quân Kiều Công Hãn đã có từ trước kia vμ sau nμy vμo thời Hậu Lê vμ thời Nguyễn mới xây dựng các công trình có quy mô như ngμy nay Trải qua bao thời gian cùng với các triều đại, vμ
sự đóng góp cúng tiến của nhân dân thì ngôi đền có quy mô ngμy cμng lớn hơn
Trang 19Di tích đền Gin trong quá trình tồn tại, liên quan đến phong trμo cách mạng vμ kháng chiến ở địa phương :
Nam Dương lμ một vùng quê giμu truyền thống văn hoá vμ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp vμ đế quốc Mỹ xâm lựơc Đền Gin lμ địa
điểm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng ghi nhận những đóng góp của nhân dân địa phương vμo sự nghiệp đấu tranh giμnh độc lập dân tộc
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thμnh công, chính quyền về tay nhân dân lao động, khắp nơi trong cả nước bừng lên khí thế một nước độc lập tự
do, nguyện một lòng xây dựng chính quyền cánh mạng vμ cuộc sống mới ở huyện Nam Trực, từ cuối tháng Tám năm 1945 đến đầu năm 1946 chính quyền cánh mạng lâm thời trên địa bμn xã Lâm Hoμ (nay lμ xã Nam Dương) được thμnh lập do đồng chí Trần Văn Ruệ lμm chủ tịch Chính quyền các cấp đã vận động mọi tầng lớp nhân dân khắc phục nạn đói, ổn định đời sống Nhân dân trong xã đã cùng nhân dân toμn huyện hưởng ứng sôi nổi phong trμo tăng gia sản xuất “lập hũ gạo cứu đói”, ủng hộ “quỹ độc lập”, hưởng ứng “tuần lễ vμng”, vμ phong trμo thực hiện tiết kiệm do Trung ương Đảng, Chính phủ vμ Bác Hồ phát động
Đền Gin còn lμ nơi tổ chức các lớp bình dân học vụ tại địa phương Nhiều cán bộ, đảng viên, thμnh viên đã xung phong tự nguyện lμm giáo viên vμ tổ chức các hình thức đố chữ, hỏi chữ, lμm thơ ca, vẽ tranh tuyên truyền, phát thanh tại
đền để vận động nhân dân học chữ quốc ngữ Cũng trong thời gian nay, ngôi
đền lμ địa điểm hội họp, triển khai những nhiệm vụ cách mạng của các tổ chức
đoμn thể quần chúng như: Mặt trận, Phụ nữ, Thanh niên cứu quốc
Cuối năm 1946, thực dân Pháp chính thức quay trở lại xâm lược nước ta trên cả hai miền Nam Bắc, đặt cách mạng Việt Nam trước tình thế “ngμn cân treo sợi tóc” Ngμy 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh vμ Trung ương Đảng đã phát lờ kêu gọi toμn quốc kháng chiến, hiệu triệu đồng bμo cả nước đứng lên
đánh đuổi quân xâm lược Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, của Bác
Hồ, Uỷ ban kháng chiến vμ huyện uỷ lâm thời huyện Nam Trực đã phát động
Trang 20quần chúng tham gia mọi công tác cần kíp để phục vụ kháng chiến vμ động viên mọi người tham gia nhập ngũ, dân quân du kích
Phong trμo tòng quân giết giặc trong toμn huyện diễn ra sôi nổi, đền lμng
lμ nơi tiễn đưa con em địa phương lên đường tòng quân giết giặc bảo vệ quê hương Từ năm 1946- 1948, Đền Gin lμ trụ sở lμm việc của cơ quan Công an vμ
Uỷ ban kháng chiến hμnh chính huyện, nhiều cán bộ cánh mạng được cấp trên
cử về chỉ đạo cánh mạng tại địa phương đã lui tới Đền Gin để hoạt động, trong
đó có đồng chí Ngô Huy Tễ (Ngô Quốc Huy) nguyên lμ huyện đội trưởng huyện Nam Trực Tháng 5 năm 1950, thực hiện chỉ thị của tỉnh uỷ Nam Định vμ sự chỉ
đạo của huyện uỷ Nam Trực về đẩy mạnh phong trμo kháng chiến, khu “dân chủ cộng hoμ” vμ lμng kháng chiến Bắc Sơn (Nam Thanh) ra đời Khu “dân chủ cộng hoμ” nằm trên trục đường Trắng gồm năm xã Bắc Sơn (Nam Thanh), Đồng Lạc (Đồng Sơn), Lâm Hoμ (Nam Dương, Bình Minh), Minh Nông (Bình Minh), Nguyễn Huệ (Nam Hoa), vμ Minh Phú (Nam Hồng) Đây lμ những xã có phong trμo trừ gian rất mạnh, địa thế liên hoμn
Đền Gin lμ cơ sở hoạt động của lực lượng dân quân, du kích xã, nơi cất dấu
vμ bảo quản vũ khí, lương thực, tμi liệu bí mật phục vụ kháng chiến Những năm tháng miền Bắc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng vμ bảo vệ vững chắc thμnh quả Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa, vừa chi viện sức người sức của cho
sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1954- 1975) Đền Gin lμ địa
điểm tập kết lương thực, thực phẩm chi viện cho miền Nam Sau ngμy hoμ bình thống nhất đất nước (sau 1975) đền Gin lμ nơi diễn ra các kỳ bầu cử quốc hội vμ hội đồng nhân dân các cấp, nơi tuyên truyền các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhμ nước tai địa phương Tất cả những sự kiện lịch sử diễn ra tại Đền Gin đã ghi nhận quá trình đấu tranh anh dũng, quá trình xây dựng quê hương trong thời kỳ đổi mới rất đáng tự hμo của nhân dân Nam Dương Đó
lμ những chứng cứ lịch sử sống động khẳng định hơn nữa giá trị của Đền Gin,
góp phần giáo dục truyền thống văn hoá cách mạng
Trang 21
Chương 2 Giá TRị văn hoá vật thể của đền gin
đã giữ một vai trò hết sức quan trọng, nhiều khi chi phối tới cả bố cục mặt bằng, chiều cao vμ các mặt khác của di tích
Việc xây dựng công trình kiến trúc của người Việt từ nhμ ở đến đình, đền, chùa thì vấn đề không gian cảnh quan có ý nghĩa quan trọng Việc lựa chọn địa thế cho một công trình, đặc biệt lμ công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng có
ảnh hưởng tới sự linh thiêng của vị thần được thờ nên cũng ảnh hưởng đối với con người Đối với một di tích kiến trúc, thường được quan tâm tới không gian Vì vậy các công trình khi được xây dựng đều được khảo sát rất kỹ lưỡng về mặt bằng, địa thế, hướng đất, đường nước Di tích Đền Gin xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định lμ một công trình kiến trúc thuộc loại hình tôn giáo tín ngưỡng, do đó, khi khảo sát ta thấy rõ có những đặc điểm chung của một công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt
Thật vậy, nhìn toμn cảnh di tích Đền Gin, ta thấy toμn bộ di tích có sự kết hợp hμi hoμ giữa không gian kiến trúc vμ cảnh quan thiên nhiên
Di tích Đền Gin hiện nay nằm ở đầu thôn Chiền (tức xã Hiệp Luật), xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, địa phận xã Nam Dương ngμy nay gồm có xã Bái Dương, vμ một phần của xã Trang Trữ, Hiệp Luật vμ Cổ Lũng thuộc tổng Bái Dương, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định Đền Gin lμ di tích chung của bốn xã: Bái Dương (con cả), Trang Trữ (con thứ hai), Hiệp Luật (con thứ ba) vμ Cổ Lũng (con thứ tư)
Trang 22Nam Định nói chung vμ Nam Trực, Nam Dương nói riêng vốn lμ vùng đất
cổ, có cư dân sinh sống từ lâu đời gắn liền với các giai đoạn lịch sử, hình thμnh nên những nét riêng về sinh hoạt vật chất vμ tinh thần, cũng như hoạt động văn hoá của mỗi địa phương cũng mang những mμu sắc riêng, dáng vẻ riêng, tạo nên
sự khác biệt giữa vùng nμy với vùng khác Vμ có lẽ, sự khác biệt ấy thể hiện rõ nhất chính lμ ở những nét văn hoá dân gian Những nét văn hoá ấy không chỉ có trong cuộc sống sinh hoạt vật chất thường ngμy của con người, mμ nơi đây nó còn thể hiện trong đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng của họ vμ Đền Gin xã Nam Dương lμ một loại hình tiêu biểu thể hiện rõ nét văn hoá ấy Đền Gin nằm hoμ lẫn với xóm lμng, toạ lạc trên một vùng đất bằng phẳng, nằm liền kề với di tích Chùa Xã Chiền – một ngôi chùa có kiến trúc từ thời Nguyễn, đền có kiến trúc không cao mμ trải dμi, gần gũi với thiên nhiên vμ con người nơi đây Vì vậy khi chúng ta bước vμo di tích, không cảm thấy bị choáng ngợp mμ thấy hoμ mình vμo di tích cảnh quan xung quanh Có thể thấy đó lμ quan điểm của người Việt - với tư duy nông nghiệp thì các công trình không vươn theo chiều cao lμ tạo nên cảm giác vị thần được thờ rất gần gũi với con người, luôn lắng nghe những ước vọng, cầu mong của con người vμ phù trợ cho con người
Nói tới không gian của di tích lịch sử văn hoá cổ truyền ngoμi những vấn
đề trên thì một trọng điểm nữa của người xưa được đặt vμo lμ “cây cổ thụ” Trước hết cây cổ thụ được ví như bộ áo trang hoμng cho di tích tránh sự trơ trọi, lμm cho chúng hoμ quyện vμo môi trường vμ không cách biệt Mặt khác cây cổ thụ như nhấn mạnh một điểm cơ bản để xác nhận nơi mảnh đất có di tích lμ tốt tươi, thích ứng với đất thiêng, đất lμnh của muôn loμi Do đó, trong khuôn viên của di tích đều được trồng các loại cây to, có bóng mát, những cây lâu năm, vừa lμm tăng vẻ đẹp cho khu di tích vừa tạo bóng mát cho du khách thập phương, người dân đi lễ vμ chắn gió bão để bảo vệ công trình Tuy nhiên không phải di tích nμo cũng có số lượng cây cổ thụ như nhau mμ còn tuỳ vμo từng loại hình kiến trúc để trồng các loại cây cho phù hợp
Khác với các di tích đền thờ khác, Đền Gin có ít các loại cây xanh, nhưng không vì thế mμ cảnh quan di tích kém phần tráng lệ Đồng thời cây cổ thụ nơi
Trang 23đây cũng mang những ý nghĩa nhất định Ví dụ, cây Sanh, lμ loại cây um tùm, bóng mát, cây được trồng trước cổng đền, xoè rộng xung quanh lμ rễ cây sμ xuống mặt đất như truyền sinh khí của trời cha xuống lòng đất mẹ cho muôn loμi sinh sôi nẩy nở Theo tư duy tâm linh của người Việt, cây Sanh còn được coi lμ nơi thường ngự của các thần linh dân dã, cũng có khi lμ nơi nương dựa của các linh hồn bơ vơ, nhờ gần các đền miếu, các linh hồn được nương dựa vμo thần mμ hưởng ít chút lộc hương của chúng sinh Rồi dọc hai bên sân trước của đền lμ hai hμng cây Nhãn đang ra hoa kết trái, rồi cây Sung thể hiện ước vọng về sự sung sướng, no đủ, viên mãn Ngoμi ra, còn có cây hoa Ngọc Lan vμ một số loại cây
ăn quả khác Đặc biệt, có cây Gạo được trồng phía bên trái di tích, đằng sau dãy Giải vũ phía Tây, cây cao vμ to Người xưa thường cho rằng, với những chiếc gai mọc trên thân, cây Gạo cũng trở thμnh chiếc thang để lên trời, nó lμ gạch nối trong mối giao hoan thần thánh của trời cha đất mẹ Trên ngọn cây với những bông hoa rực lửa tượng trưng cho tinh tú, cho bầu trời để mỗi lần giữa xuân cây lại gọi nguồn vui Tất cả các loại cây nμy cμng lμm cho vẻ đẹp của di tích thêm hoμn hảo vμ uy linh
Đền Gin được xây dựng nằm trải dμi theo trục bắc nam, đây lμ hướng thường được chú ý nhiều hơn cả Đền hướng về phía Nam, lμ hướng gió mát mẻ
về mùa hè, tránh rét về mùa đông, “Lấy vợ hiền hoμ, lμm nhμ hướng nam” Theo
đạo Phật thì hướng Nam trong sáng, đồng nhất với trí tuệ, mμ đạo Phật lấy trí tuệ
để diệt ngu tối, tức mầm mống của tội ác Hướng Nam còn mang tính dương, cũng gắn với điều phúc, điều thiện Đây chính lμ hướng truyền thống trong việc lựa chọn cho các di tích của người Việt Kiến trúc theo hướng Nam khiến cho vị thần trở nên linh thiêng hơn, yên vị hơn vμ có thể nghe những lời cầu mong của con người, phù hộ độ trì cho con người
Đền thờ toạ lạc ở một vùng đất bằng phẳng ngay đầu thôn Chiền, đây lμ một khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng Phía trước mặt đền thờ lμ một ao nhỏ tạo nên yếu tố “tụ thuỷ” hay “tụ phúc” cho đền, cách đó không xa trước ngôi đền thờ
lμ chợ Gin to vμ rộng, nhộn nhịp vμ đông đúc Như vậy có thể nói, Đền Gin nằm trong một cảnh quan với bố cục không gian truyền thống, cùng với dòng chảy
Trang 24của lịch sử ngôi đền đã được hình thμnh vμ phát triển cùng với người dân nơi
đây, nơi chứa đựng những ước vọng của con người, cầu cho vị thần của mình
được linh thiêng, để phù trợ cho con người được ấm no, hạnh phúc, mở mang trí tuệ vμ tinh thần nhân đạo, nhân văn cao cả
2.1.2 Bố cục mặt bằng
Đền Gin lμ một công trình có kiến trúc quy mô bề thế, cùng nhiều hạng mục công trình Đền được xây dựng trên một khuôn viên rộng 3290 m2, nằm trải dμi theo trục Bắc Nam Trải qua bao thăng trầm của lịch sử với các lần trùng tu, tu
bổ, sửa chữa trên mặt bằng tổng thể đó lμ các thμnh phần kiến trúc lần lượt được
bố trí theo thứ tự từ ngoμi vμo trong như sau: Trước khi bước vμo cổng đền lμ giếng đền, bức bình phong, vμ một miếu nhỏ nơi thờ bμ Phạm Thị Giμ (người có công dâng rượu, gỏi cá trắm cho thần ăn trước khi hoá) Tiếp đó lμ Nghi môn hay còn gọi một cách thông thường đó lμ cổng đền Qua Nghi môn lμ đến Sân ngoại, lμ sân trước của đền được lát hoμn toμn bằng gạch đỏ có diện tích 634 m2 Nằm đối xứng trên cùng mặt sân lμ hai dãy Giải vũ ngoại, mỗi dãy Giải vũ có kích thước: rộng 3,90 m vμ dμi 13,4 m gồm 5 gian được xây dựng “tường hồi bít
đốc” Tiếp đến lμ toμ Tiền Các - khu vực chính để tiến hμnh các thể thức nghi lễ,
được xây dựng theo kiểu “Cổ đẳng hai tầng tám mái”, có mặt bằng hình hình chữ nhật có kích thước: 8,70m x 5,20m Toμ Tiền Các có chiều cao lμ 4,92m (gồm hai tầng), nằm sát hai bên toμ Tiền Các lμ hai cổng phụ, tạo thμnh một hệ thống khép kín bảo vệ công trình kiến trúc bên trong Sau Tiền Các lμ Sân trong, Giải
vũ nội vμ khu vực Đền chính Sân trong với diện tích 286,9 m2 ở phần giữa sân
từ ngoμi vμo trong lμ con đường chính đạo dμi 8,70 m, rộng 1,20 m, được lát bằng gạch vuông nung giμ có kích thước: 0,40 m x 0,40 m Nằm đối xứng nhau trên cùng một sân lμ hai dãy Giải vũ nội hình chữ nhật, mỗi dãy có kích thước: rộng 3,90 m vμ dμi 19,90 m, gồm 9 gian cũng được xây theo kiểu “tường hồi bít
đốc” Cuối cùng lμ bộ phận kiến trúc trung tâm: Đền chính, gồm 5 gian Tiền
Đường vμ hai gian Cung cấm Tiền Đường có kích thước dμi: 13,80 m, rộng 6,35
m, Cung cấm có kích thước: dμi 4,05 m vμ rộng 3,70m Diện tích được sử dụng
lμ 3290 m2
Trang 25Như vậy, trong mặt bằng tổng thể kiến trúc của đền thờ, bao quanh các hạng mục kiến trúc, Đền Gin được xây dựng ẩn hoμ trong một khung cảnh thiên nhiên có nhiều cây cối, tạo cho di tích một dáng vẻ uy nghiêm khiến cho con người đi đến đây sẽ giải toả được tâm lý, để tâm hồn trở nên thanh thoát, nhẹ nhμng ở đó con người sẽ được vị thần của mình che chở, phù trợ cho cuộc sống
lμ một khối cạnh hình vuông rộng 0,60 m Tuy không có hoa văn trang trí nhưng thân trụ cũng có các riềm tạo nên đường gờ chỉ tạo thμnh các đường viền, đựơc nhấn bằng đôi câu đối chữ Hán, khiến cho công trình không bị đơn điệu: “Tản sơn hạ vương tích cả yên, thiên nhiên cố quốc kiếm mã đĩnh tiên hμnh bất nhiên
ngô dĩ tiền hán quận đường đô đê mang mang thiên ngoại vong
Khúc giang thượng thần minh trạch thứ tứ cố bình khu phượng long giao thuỵ khí các tự đinh nhi hậu lý đμn lê miếu chí kim lịch đế ân sùng”
Dịch lμ: “Dưới núi Tản lμ nơi vương ở ngμn năm cố quốc tiếng gươm ngựa
đi đầu chẳng phải như đời Ngô về truớc bị Hán lâm quận huyện đường đặt đô mang mang nối đường ngoμi trời trông
Trên sông khúc lμ thần minh trạch bốn phía bình khu khí phượng rồng giao thuỵ thấy từ nhμ Đinh trở lại đời Lý lập đμn tôn lê dựng miếu thờ lịch lịch
đến nay để kính ơn”
Chân đế đồng trụ được xây dựng theo kiểu chân quỳ Nối liền với hai cột
đồng trụ còn có hệ thống tường hoa xây bằng gạch Bát Trμng, miết mạch tạo ống tơ cao trên 1 m, nhằm khép kín để bảo vệ công trình
Trang 26+ Sân ngoại và giải vũ ngoại :
Qua nghi môn là đến sân trước của Đền hay còn gọi là sân ngoại Sân có diện tích 634 m2 (25,8m x 24,6m), toàn bộ sân đều được lát bằng gạch đỏ Sân trước lμ không gian thiêng của đền thờ, lμ nơi diễn ra các nghi thức, nghi lễ Nằm
đối xứng trên cùng mặt sân lμ hai dãy Giải vũ ngoại (Hình 2) Sở dĩ có các dãy
Giải vũ lμ do sau khi Kiều Công Hãn mất nhân dân 4 xã: Bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật vμ Cổ Lũng đã lập đền thờ ông ngay trên phần mộ cũ Do đó, bốn dãy Giải vũ ngoμi vμ trong lμ để cho bốn xã đó sửa soạn cỗ, đồ nghi lễ để cúng thần khi đến dịp lễ hội của đền thờ Hai dãy Giải vũ ngoại, mỗi dãy có 5 gian được xây dựng theo kiểu ‘‘thu hồi bít đốc”, với kích thước: 3,90m x 13,4m Bộ khung
Giải vũ gồm 6 bộ vì thiết kế theo kiểu ‘‘kèo cầu trụ báng” (Hình 3), quá giang
đơn giản Tại đây đầu ngoμi của quá giang ăn mộng vμo cột hiên, đầu quá giang bên trong được gác trực tiếp vμo tường hậu, tạo thμnh bệ đỡ cho bộ vì quá giang Trên thượng lương của Giải vũ có ghi dòng chữ Hán: “Hoμng Nguyễn Duy Tân bát niên Giáp Dần thập nguyệt cát nhật tu tạo” (Ngμy tốt tháng mười năm Giáp Dần triều vua nhμ Nguyễn Duy Tân thứ 8 (1914) sửa chữa lại nhμ giải vũ” Trên quá giang của Giải vũ còn ghi “Đại tu: H T 4 Giáp Tuất 1994” Như vậy, dãy Giải vũ ngoại từ ngμy khởi dựng cho đến nay đã trải qua ba giai đoạn Từ năm khởi dựng đến đời vua Duy Tân thứ 8 (1914) thì sửa chữa tu tạo, đến năm Giáp Tuất tức năm 1994 lại tiến hμnh đại tu lần nữa Mặc dù hai dãy Giải vũ ngoại không ghi rõ niên đại khởi dựng nhưng những phong cách trang trí còn lại thì mang đậm phong cách thời Nguyễn Bộ mái Giải vũ hoμn toμn lợp bằng ngói vảy cá, trên mái xây bờ nóc, bờ chảy vμ bờ bảng cũng theo phong cách nghệ thuật của thời Nguyễn
Nền nhμ hai dãy Giải vũ cao hơn mặt sân gạch lμ 20 cm vμ được lát bằng
xi măng cát để chống ẩm thấp tạo sự khô thoáng, sạch sẽ cho dân lμng khi sửa soạn cỗ bμn, đồ tế lễ khi có lễ hội
+ Toμ Tiền Các :
Toμ Tiền Các lμ khu vực chính để “tín đồ” tiến hμnh việc hμnh lễ Do đó, Tiền các được xây dựng có quy mô khá đồ sộ, vμ cao hơn so với các đơn nguyên
Trang 27khác Đây lμ một ngôi nhμ nằm ngang, gồm 3 gian 2 chái, được xây dựng theo
kiểu “cổ đẳng hai tầng tám mái” (Hình 4) Tiền Các lμ một hạng mục quan trọng
của kiến trúc Đền Gin, nhμ nằm quay mặt về hướng nam Toμ Tiền Các có chiều cao lμ 4.95m được chia lμm hai tầng, bộ khung thiết kế kiểu một gian hai chái Tầng trên có chiều cao lμ 1,68m, tầng dưới lμ 3,37m Nâng đỡ bộ mái lμ hệ thống khung cột nhμ gồm 4 cột cái vμ 12 cột quân 4 cột cái, mỗi cột có đường kính 41cm, cao 4,2m được tạo tác hình trụ tròn đều, mỗi cột cái được đặt trên một tảng kê chân cột bằng chất liệu đá xanh với đường kính 0,40 m Các cột quân thì mỗi cột có đường kính lμ 32 cm vμ cao 2,20 m, cũng được tạo tác hình trụ tròn đều vμ đặt trên các tảng kê chân cột Việc sử dụng tảng kê chân cột vừa tạo ra độ cao cho cột, vừa tạo ra mặt bằng chịu tải từ các cột xuống, đồng thời có tác dụng cách ẩm cho các cột
Theo chiều dọc nhμ thì toμ Tiền Các được thiết kế theo kiểu “tứ hμng chân” (4 hμng chân cột) gồm 2 cột cái vμ 2 cột quân ở hai bên Theo chiều ngang nhμ thì nhμ có 4 bộ vì Hai vì ngoμi cùng (vì số 1 vμ vì số 4) chỉ gồm bốn cột quân mμ không có cột cái (vì đây lμ nhμ 4 mái) Hai vì giữa (vì số 2 vμ vì số 3)
có đủ 2 cột cái vμ 2 cột quân vμ có bộ vì nóc Tại gian hai bên tạo bởi bộ vì số
1-2 vμ bộ vì số 3-4, lại có hệ thống vì nằm ngang nhμ kết cấu theo kiểu “cốn chồng
rường” (Hình 5) Vì số 2 vμ vì số 3 có hai cột cái vμ hai cột quân, theo chiều
ngang nhμ thì hai vì nμy có quá giang nhưng không có trụ vμ không có bộ vì kèo nóc Bộ vì Tiền Các được gia công theo kiểu “chồng rường bẩy tiền mê cốn”, do toμ nhμ lμ hai tầng nên với kết cấu nμy đã đẩy bộ mái lên cao, tạo độ thoáng cho toμ nhμ Khoảng cách các cột theo chiều ngang nhμ lμ 2,2 m Theo chiều dọc nhμ thì khoảng cách giữa các cột cái lμ 1,95 m, giữa cột cái vμ cột quân lμ 1,2 m Để tạo nên bộ khung lim của toμ Tiền Các, các nghệ nhân đã tạo mộng én liên kết giưã các cột cái vμ các cột quân bởi hệ thống xμ thượng, xμ hạ, xμ ngang vμ xμ dọc tạo thμnh một lớp giằng chắc chắn
Trên cùng lμ xμ nóc hay còn gọi thượng lương với chất liệu gỗ hình chữ nhật chạy dμi với dòng chữ Hán ghi: “Hoμng Việt Duy Tân tuế Tân Hợi trọng
đông cát nhật thời kiến” (Giờ tốt, ngμy tốt, tháng mùa đông năm Tân Hợi triều
Trang 28vua nước Việt lμ Duy Tân (1911) sửa chữa toμ Tiền Các) Với phong cách kiến trúc hai tầng tám mái nên lớp mái phía dưới được cấu tạo bởi hệ thống xμ nách
ăn mộng từ thân cột cái ra thân cột quân, còn từ cột quân ra hiên lμ hệ thống bẩy cong đỡ tμu mái Nằm trên xμ nách lμ bộ vì mê cốn đỡ hoμnh, rui của công trình Kết cấu mái Tiền Các được cấu trúc theo hai tầng sẵn có của công trình Cấu trúc của mái hoμn toμn lμ cấu kiện hoμnh, rui, mè trong có ngói lót, bên trên lợp ngói mũi hμi
Bộ cửa Tiền Các được chia thμnh hai loại: Hệ thống cửa được gia công theo kiểu bức bμn khung khách chạy hết chiều dμi 3 gian Tiền Các Mỗi gian có
4 cánh cửa được đặt trong khung gỗ lắp ngưỡng gắn chân quay Toμn bộ ngưỡng
vμ bộ cửa hoμn toμn bằng gỗ lim, còn hệ thống cửa sau không lắp ngưỡng vμ khung bạo Để bảo vệ công trình, hiện nay địa phương đang sử dụng bộ “dại” bằng gỗ để che chắn mưa nắng tránh lμm hư hại đến công trình Căn cứ vμo công năng, ý nghĩa kiến trúc của toμ Tiền Các thì trước đây toμ nhμ nμy để trống vμ cũng không bμi trí đồ thờ Song, qua thời gian, chức năng của công trình đã dần thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu thờ cúng của nhân dân
Về phần nền móng toμ Tiền Các, phần nền được tôn cao hơn mặt sân khoảng 60 cm vμ có mặt hình chữ nhật với kích thước: 8,70m x 5,20m, hiện lát hoμn toμn bằng gạch vuông nung đỏ, xung quanh nền bó vỉa bằng gạch Bát Trμng Đây lμ loại gạch lát nền dễ hút ẩm nhưng cũng dễ thoát ẩm không đọng nước Nằm sát hai bên Tiền Các lμ hai cổng phụ được xây dựng bằng gạch vữa theo kiểu “cổ đẳng” hai tầng tám mái Sự liên kết giữa Tiền Các vμ hai cổng bên tạo thμnh hệ thống khép kín để bảo vệ công trình bên trong của khu đền
Tiền Các Đền Gin lμ một công trình kiến trúc gỗ khá hoμn chỉnh, trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo trên long cốt nay còn ghi dòng chữ Hán có nội dung cho biết công trình được trùng tu vμo năm Duy Tân Tân Hợi (1911) Song tại đây còn bảo lưu được một số mảng chạm khắc mang đậm phong cách kiến trúc của thời Hậu Lê thế kỷ XVII – XVIII, vμ đặc biệt lμ căn cứ vμo cách bố cục mặt bằng kiến trúc tổng thể của công trình Đền Gin thì chắc chắn Di tích lịch sử nμy xây dựng muộn nhất cũng vμo khoảng thế kỷ XVII- XVIII Qua thời gian, công
Trang 29trình cũng dần dần bị xuống cấp nên toμ Tiền Các lại được sửa chữa vμo 5/10/2008 Như vậy, tòa Tiền Các từ ngμy khởi dựng đến nay đã trải qua hai lần sửa chữa lớn
+ Sân trong vμ giải vũ nội:
Qua Tiền Các lμ vμo đến sân trong, sân trong có diện tích lμ 268,9m2 (21,2
m x 13,6 m) ở phần giữa sân theo chiều từ ngoμi vμo trong Đền chính có con
đường chính đạo dμi 8,70 m, rộng 1,20 m, được lát bằng gạch vuông nung giμ có kích thước 0,40 m x 0,40 m, hoa văn trên hiện vật khắc hoạ nổi bật hình hoa chanh mang phong cách thới Trần thế kỷ XIII- XIV Hai bên hμng gạch hoa
chanh (Hình 6) lμ sân lát bằng gạch nung đỏ có kích thước 0,20 m x 0,20 m Nằm đối xứng trên cùng mặt sân lμ hai dãy Giải vũ nội (Hình 7) Mỗi dãy Giải
chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê thế kỷ XVII- XVIII (Hình
8) Những mảng chạm khắc đó được thể hiện rõ trên quá giang của gian thứ 6
trong toμ Giải vũ nội phía Tây Cùng với đó, ở hai dãy Giải vũ nội có gian cuối thờ “quan chăn ngựa” Tại đó có bộ cánh cửa gian thờ với đề tμi chạm khắc hoμn
toμn lμ rồng (Hình 9), với các đường chạm bong nhiều lớp, nhiều tầng vμ những
con rông mập mạp, khoẻ khoắn, đan xen còn có những hoa văn đao mác lá hoả ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII
Nền nhμ của hai dãy nhμ cũng được lát bằng xi măng để tạo sự khô thoáng, sạch sẽ Dãy Giải vũ ngoμi lμ của con cả Bái Dương vμ con thứ hai Trang Trữ, còn hai dãy trong lμ của con thứ ba vμ con thứ tư lμ Hiệp Luật vμ Cổ Lũng Tại sân trong lμ nơi thiêng liêng, dân lμng không được vμo cúng bái nhất lμ khi
có lễ hội Nơi đây chỉ dμnh riêng để kiệu bát cống vμ cây cỗ, còn sân ngoμi để cúng tế vμ tiến hμnh việc hμnh lễ
+ Đền chính:
Trang 30Đền chính lμ kiến trúc trung tâm của Đền Gin Công trình có kết cấu hình
chữ đinh (T) gồm hai hạng mục: Tiền Đường vμ Cung Cấm (Hình 6)
* Tiền đường:
Tiền Đường có kích thước: dài lμ 13,80 m, rộng 6,35 m chạy gần hết chiều rộng của khuôn viên đền, với mặt bằng 5 gian 2 chái được tạo bởi 6 bộ vì Nền nhμ Tiền Đường cao hơn mặt sân lμ 40cm, phía trước có xây bậc lên xuống, nền nhμ được lát bằng gạch vuông nung đỏ có kích thước: 0,30 m x 0,30 m Xung quanh hiên được bó vỉa bằng gạch Bát Trμng Mặt bằng công trình được bố trí thμnh 5 gian 2 chái, có kích thước đăng đối nhau: gian giữa rộng 2,60 m, hai gian hai bên rộng 2,50 m, hai bên giáp đốc cũng rộng 2,50 m Phần lòng nhμ
rộng 3,70 m, hiên nhμ rộng 0,90 m
Khác với toμ Tiền Các, Đền chính được xây dựng theo kiểu một tầng bốn mái Kết cấu kiến trúc tại toμ Tiền Đường gồm 6 bộ vì, tạo thμnh 5 gian theo dạng vì “tứ hμng chân”, mỗi vì gồm bốn cột: hai cột cái mỗi cột cao 3,60 m,
đường kính 35 cm, hai cột quân mỗi cột cao 2,40 m, đường kính cột 30 cm Tất cả các cột được lμm bằng gỗ lim vμ đặt theo thế: “thượng thu hạ thách” Phần chân cột được đặt kê các chân tảng đá hình tròn, ngăn ẩm thấp vμ tạo ra mặt bằng chịu lực cho hệ thống cột Để tạo nên bộ khung của toμ Tiền Đường, người
ta dùng ba dạng liên kết chủ yếu: vì nóc gồm 3 gian giữa, vì đốc gồm 2 gian bên
vμ liên kết hiên
Vì nóc của toμ Tiền Đường chia thμnh hai loại: gồm 4 bộ vì của ba gian giữa vμ hai vì giáp đốc Bốn bộ vì của ba gian giữa gia công theo kiểu: “chồng rường giá chiêng câu đầu trụ non con cung” Cả bốn bộ vì đều đặt trên tám cây cột cái có chiều cao 3,60 m Nối giữa các cột cái của gian chính giữa lμ 4 câu
đầu có chiều dμi 2,45 m, chính giữa câu đầu lμ hai trụ non cao 80 cm, chân trụ non tỳ lực vμo câu đầu, đầu trên ghép mộng đỡ “xμ bụng lợn” (con cung) Giữa
“xμ bụng lợn” kê đấu vuông đỡ thượng lương, hai đầu của “xμ bụng lợn” đặt
“guốc hoμnh” đỡ hệ thống hoμnh mái trước vμ mái sau của công trình Nối vμo thân trụ non mỗi bên có 6 con rường ngắn, ba con rường bên phải đỡ ba cây hoμnh mái trước, ba con rường bên trái đỡ ba cây hoμnh mái sau Với cách kết
Trang 31cấu như vậy, toμn bộ sức nặng của bộ mái đều chia đều lực cho các bộ vì, tạo nên
sự bền chắc, hơn nữa lại góp phần mở rộng không gian cho nơi thờ tự
Vì giáp đốc có được một bộ khung công trình với bốn mái cong, thì từ cột cái của hai vì đốc có hai xμ đùi dμi 2,50 m nối ra hai cột quân ở hồi nhμ Trên các xμ đùi lμ bốn trụ lửng cao trên 1,20 m, nối giữa các cột trụ lửng lμ hệ thống câu đầu dμi 2,50 m, được liên kết chặt chẽ bởi kiểu “mộng luồn” Đặt trên các câu đầu lμ hai vì đốc lμm kiểu “mê cốn” Đặc biệt để tạo nên bộ mái với các đao góc uốn cong thì từ các trụ lửng ở hồi nhμ có các kẻ góc, một đầu của kẻ ăn mộng vμo thân trụ lửng, một đầu gối vμo cột quân phía dưới Do kết cấu như vậy
đã tạo nên bộ khung có hình dáng 5 gian 2 chái với bốn mái cong truyền thống
Vì hiên: Trong kiến trúc gỗ truyền thống của người Việt để tạo nên bộ mái rộng có thể vươn xa thì cấu kiện được sử dụng chủ yếu lμ hai cấu kiện: cột hiên
vμ bẩy hiên Đền Gin cũng lμ một trong những dạng kiến trúc được nghệ nhân áp dụng theo phong cách đó Vì hiên của đền được tạo thμnh bởi bốn vì có chung
đặc điểm lμ liên kết kiểu “chồng rường” Vì hiên của công trình được tạo dựng bởi bốn cột cái vμ bốn cột hiên, nối từ cột cái ra cột hiên lμ bốn cây “xμ nách” dμi 120 cm Trên “xμ nách” lμ liên kết bởi ba con rường, các con rường đặt lên nhau thông qua các đấu vuông thót đáy Hệ thống ba con rường tại đây lμ cấu kiện đỡ ba cây hoμnh của toμn bộ mái trước góp phần đưa bộ mái ngôi đền vươn rộng vμ phẳng hơn
Bẩy hiên Tiền Đường gồm 6 cây bẩy, thân bẩy ăn mộng vμo thân cột hiên, một đầu tì lực vμo dạ “xμ nách”, một đầu vươn ra xa để đỡ tμu mái cùng hệ thống ngói lót của mái hiên Lưng bẩy đặt “lá dong” khoét mộng đặt các cây hoμnh cùng rui của phần mái trước
Hệ thống cửa của Tiền Đường đều gia công kiểu “thượng song hạ bμn” chạy hết 5 gian Các cánh cửa có chiều cao 1,70 m, rộng 0,55 m, đặt trong khung khách lắp chân quay, thuận lợi cho việc đóng mở
Hai bên hồi toμ nhμ cũng được xây tường hồi nhằm bảo vệ kết cấu gỗ bên trong vμ đỡ một phần trọng tải của bộ mái xuống hệ thống cột Cũng để bảo vệ công trình dân lμng sử dụng bộ “dại” bằng gỗ ở ngoμi hiên không để cho nắng
Trang 32mưa lμm hại công trình Với hệ thống hoμnh hình vuông dưới lμ ngói lót, trên lμ ngói mũi hμi, các đao mác uốn cong rất đẹp mắt cho ta cảm giác như chiều cao của mái, của toμ nhμ được nâng lên
* Cung Cấm:
Cung Cấm hay còn gọi lμ Hậu cung, đây lμ toμ nhμ dọc với kiến trúc hai gian, được xây dựng nối với toμ Tiền Đường theo kiểu giao mái bắt vần Hai gian Cung Cấm được dựng quay dọc nối với Tiền Đường tạo thμnh toμ nhμ có mặt bằng hình chữ đinh (T), có kích thước: dμi 4,05 m, rộng 3,70 m Bộ khung công trình được gia công theo dạng vì “tứ hμng chân” Tại đây có ba vì kèo với 6 cột cái vμ 8 cột quân, vì số 1 vμ vì số 2 thiết kiểu vì “mê cốn”, còn vì số 3 lμ kiểu vì
“kèo cầu trụ báng”
Các cấu kiện gỗ của toμ Cung Cấm được liên kết chặt chẽ bởi hệ thống xμ ngang, xμ thượng vμ xμ hạ tạo thμnh một khám thờ khép kín, xung quanh bưng gỗ sơn son thếp vμng Gian thứ hai trong toμ Cung Cấm đặt tượng Thμnh hoμng Kiều Công Hãn, tượng bằng đồng nặng 1,7 tấn Bức tượng được đặt ngay phía trên mộ ngμi Mộ mới được tu sửa năm 2007, trước đây mộ lμm bằng xi măng, bây giờ
được ốp đá Gian bên ngoμi đặt nhang án thờ công đồng, bao quanh khám thờ còn
có 6 cột quân nằm cách tường 30 cm, các cột nμy có nhiệm vụ đỡ hệ thống “kẻ ngồi” ở vì nách nối giữa cột quân vμ cột cái Do vậy, toμn bộ sức nặng của bộ mái dồn xuống hệ thống cột quân, cột cái vμ tường xây bao xung quanh chỉ còn mang
tính chất che chắn, hoμn toμn không có tác dụng chịu lực
Nền nhμ toμ Cung Cấm được lát hoμn toμn bằng gạch hoa vuông có kích thước 0,20 m x 0,20 m, lμm cho không gian trong cung sạch sẽ, cμng trở nên tĩnh mịch, linh thiêng hơn Toμn bộ mái được lợp bằng ngói mũi hμi, có đao mác vươn cao vμ cong như gọi mây, gọi gió cầu mong mưa thuận gió hòa đem đến sự
ấm no, hạnh phúc cho con người
Nhìn chung, tổng thể kiến trúc Đền Gin, xã Nam Dương, huyện NamTrực, tỉnh Nam Định lμ một di tích lịch sử văn hoá rất có giá trị, cùng với hệ thống kiến trúc rất đẹp mắt vμ hiếm thấy
2.2 Giá trị nghệ thuật
Trang 332.2.1 Trang trí trên kiến trúc
+ Trang trí bên ngoμi kiến trúc:
Có thể nói rằng, bất kỳ một di tích nμo nếu thiếu đi những mảng chạm trang trí kiến trúc do bμn tay các nghệ nhân tạo nên thì giá trị của nó sẽ giảm đi rất nhiều Đền Gin cũng vậy, nhìn từ bên ngoμi, chúng ta có thể nhận ra ngay dáng vẻ độc đáo của ngôi đền
Trang trí kiến trúc, ngoμi tác dụng lμm đẹp di tích bằng những mảng chạm khắc, bên cạnh đó còn có chức năng tôn vẻ linh thiêng, huyền bí Đền Gin, tuy trang trí không nhiều như các di tích khác nhưng nó cũng góp phần lμm cho toμn
bộ kiến trúc nội thất cũng như ngoại thất toát lên vẻ đẹp huyền ảo
Bằng phương pháp quan sát, nhìn từ đằng trước ta thấy toμ Tiền Các có kết
cấu hai tầng tám mái kiểu “cổ đẳng” (Hình 4), với các đầu đao uốn cong Trên
nóc mái, đường bờ nóc được tạo bằng xi măng cát song không thô cứng, bởi các nghệ nhân đã tạo ra các đường gờ chỉ lớn nhỏ khác nhau Tại bờ nóc, được trang trí “lưỡng long chầu nguyệt” Đó lμ hai đầu rồng có các bờm tóc ngắn hất ngược
ra phía sau, mắt lồi dữ tợn, ôm lấy đường bờ nóc, cả hai đầu rồng đang hưóng mình vμo mặt nguyệt Mặt nguyệt ở đây như một cụm mây, xung quanh được tạo những tia mây lửa, theo tư duy nông nghiệp của người Việt thì mây lửa tượng trưng cho nước Trang trí kiến trúc như vậy, ta dễ nhận thấy phong cách nghệ thuật thời Nguyễn ở hai đầu hồi đắp kìm nóc, tiếp đó lμ bờ guột rồi đến các đầu
đao vươn cao vμ cong uốn rất sinh động Đầu đao được tạo tác bởi các vân mây uốn cong hướng vμo mái nhμ tạo cảm giác thanh thoát Tất cả các đề tμi trang trí trên được lμm bằng chất liệu xi măng song được nghệ nhân tạo dáng sinh động, mềm mại góp phần tăng thêm giá trị thẩm mĩ cho công trình
Phần lớn trang trí trên mái nμy ta lại gặp một lần nữa tại mái toμ Đền
chính (Hình 10), song kích thước lớn hơn đền chính có kết cấu hình chữ đinh
(T), một tầng bốn mái Tμu mái dọc vμ tμu mái ngang ăn mộng vμo nhau tạo thμnh ấu tμu Tại nóc, hai đầu hồi đắp kìm nóc nơi đó không có trang trí “lưỡng long chầu nguyệt” như toμ Tiền Các nhưng lại được trang trí ở ngay đoạn chính giữa bằng đường hồi văn rất mềm mại vμ cân đối Tại khúc khuỷnh có hai con
Trang 34nghê đang quay mình vμo trong mái nhμ, đuôi xoè ra, miệng há rộng ở hai đầu
bờ nóc lμ hai mái nhỏ kết cấu vuông góc với mái chính rất độc đáo, đáng chú ý
lμ hai bên mái nhỏ được trang trí đắp hoạ tiết hổ phù ẩn trong mây Đây lμ phong cách trang trí phổ biến trong kiến trúc có kết cấu kiểu “thu hồi bít đốc” Trên bờ guột, bờ dải đắp nghê chầu bằng vữa còn các đầu đao chỉ đắp rồng uốn cong bằng chất liệu bê tông
Nhìn chung, trang trí ngoμi kiến trúc ở Đền Gin hầu hết được tạo bằng chất liệu vôi vữa, xi măng nên còn khô khan vμ thô cứng chưa lột tả được những nét tinh xảo của con giống ở đây, song, nó vẫn thể hiện những nét tμi hoa của những nghệ nhân, đặc biệt lμ việc tạo tác những con nghê, lân trên bộ mái Mặc
dù các hạng mục công trình được xây dựng từ thế kỷ XVII – XVIII nhưng nó vẫn mang dáng dấp phong cách nghệ thuật thời Nguyễn
+ Trang trí bên trong kiến trúc:
Nếu như trang trí bên ngoμi kiến trúc bằng chất liệu vôi, vữa, xi măng thì ngược lại trang trí bên trong kiến trúc bằng những mảng chạm “gỗ” rất tinh xảo, thể hiện rõ trên bức mê cốn, các đầu bẩy, các bộ vì của toμ Tiền Các, Tiền
Đường vμ Cung Cấm
* Toμ Tiền Các:
Đồ án trang trí đầu tiên ta bắt gặp đó lμ trang trí ở gian giữa Tiền Các Gian giữa được tạo nên bởi hai bộ vì số 2 vμ vì số 3 khá hoμn chỉnh có kết cấu giống nhau Cụ thể trên vì nóc được trang trí rất tinh xảo, gia công theo kiểu
“chồng rường bẩy tiền mê cốn”, trên cùng lμ thượng lương được đặt trên một đấu hình thuyền, tiếp đến lμ đấu vuông thót đáy trang trí hình hoa sen Hoa sen gắn với ý nghĩa cầu phúc, được chạm khắc ở đền nó biểu hiện cho sự sang quý, tinh
tế vμ vi diệu Để tăng thêm vẻ đẹp thì dọc theo trụ nμy người ta đã tạo tác ra một con dơi, chân bám vμo thượng lương hai cánh dang rộng, miệng ngậm chữ thọ hình tròn tượng trưng cho ý niệm về “phúc thọ song toμn” Tiếp đến, hai đầu của con rường thứ nhất được tạo dáng hình bông hoa cúc, đề tμi hoa cúc được chạm rất mập vμ mềm mại, kết hợp với các mảng chạm như thế trên các con rưòng bên dưới Đỡ các con rường lμ đấu vuông thót đáy, bao quanh các con rường vμ trên
Trang 35quá giang lμ đề tμi chạm hoa văn lá lật Toμn bộ chi tiết trang trí được kết hợp bởi phong cách chạm nổi vμ chạm bong kênh
Khác với đồ án trang trí vμ kết cấu nμy, ta bắt gặp ở hai mảng trang trí giáp với bộ vì số 1 vμ vì số 4, có kết cấu mái vuông góc với mái chính, bộ vì của mái nμy không có trụ mμ lμ bộ vì ván mê, trang trí bằng mảng chạm hổ phù ngậm chữ thọ ẩn trong mây, mảng trang trí tạo tác theo kiểu chạm nổi vμ chạm bong kênh Mặt hổ trông dữ tợn, miệng ngậm chữ thọ hình tròn
Trên bộ vì số 2 vμ vì số 3, các chủ đề trang trí trên vì nách vμ bẩy hiên
được kết hợp nhuần nhuyễn bởi các chi tiết chạm nổi vμ chạm bong Trên vì nách phải vμ vì nách trái lμ bức cốn mê, các mảng chạm ở đây gắn liền với xμ nách tạo thμnh mảng trang trí dμy đặc Trên phần mê cốn lμ mảng chạm hoa văn
“triện tμu lá dắt” (Hình 11) vμ ôm lấy đầu xμ nách lμ mảng chạm hoa văn “lá lật”
trông rất mềm mại Đây lμ mô tuýp trang trí mμ chúng ta gặp nhiều trong trang trí nghệ thụât truyền thống của người Việt
Bẩy hiên cũng được trang trí rất đẹp mắt, cả bẩy tiền, bẩy hậu đều soi chỉ
Mảng trang trí trên bẩy hiên hoμn toμn bằng “lá lật” (Hình 12), đặc biệt bẩy tiền
có dáng cong như kẻ cổ ngỗng (Hình 13), phía trên bẩy có ván gỗ đỡ hoμnh, với
kết cấu nμy ta nhận thấy rõ ở cột quân của hai gian giáp với tường hồi
Tại hai gian (gian tạo bởi bộ vì 1-2 vμ 3-4) có hệ thống vì nằm ngang nhμ,
bộ vì ngang nμy có kết cấu theo lối “chồng rường cột trốn” (Hình 5), được tạo
tác rất tinh xảo với mảng trang trí hoa văn “lá lật” bao quanh các con rường vμ trên đầu xμ nách Đỡ cột trốn vμ đỡ các con rường lμ đấu vuông thót đáy
Một điều đặc biệt nữa lμ tại gian giữa gồm hai bộ vì số 2-3, theo chiều ngang có quá giang nhưng lại không có trụ vμ không có bộ vì kèo nóc, ở đây cũng chính lμ gian giữa của toμ nhμ được treo bức đại tự bằng gỗ có hai dòng chữ Hán :
“ Chiêu minh cao huấn
Duy Tân Mậu Thân niên tứ xã phụng sự
(Công lao của thần rực rỡ Năm Mậu Thân dưới triều vua Duy Tân (1908) bốn xã cùng thờ phụng)
Trang 36Tóm lại, tổng thể trang trí kiến trúc toμ Tiền Các đó tạo ra một thế giới thiên nhiên gần gũi với con người, với cuộc sống của họ Cụ thể, hình tượng rồng không chỉ đơn thuần để tạo ra dáng vẻ cho trang trí mμ theo quan niệm của người xưa, rồng lμ biểu tượng cho mây mưa, đao mác lμ sấm chớp, nó chính lμ biểu tượng cho quyền lực vμ sức mạnh của tầng trên Đặc biệt hình tượng mặt hổ phù ở toμ Tiền Các được thể hiện rất to lớn, nó nổi lên như lμ chủ đề trang trí chính vừa lμm đẹp cho kết cấu kiến trúc, đồng thời qua hình tượng hổ phù, người xưa muốn thể hiện ước vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, cầu cho mưa thuận gió hoμ Ngoμi ra trên kiến trúc còn nổi bật lμ mảng chạm khắc hoa văn hình “lá lật”, “triện tμu lá dắt”, “hoa cúc” tạo nên một thế giới cỏ cây sinh động mμ thực
tế gần gũi với cuộc sống của con người
* Trang trí ở toμ Tiền Đường;
Căn cứ vμo đôi câu đối khảm trai treo tại hiên Tiền Đường:
“Anh hùng sự nghiệp khai thiên địa
Hách trạc thanh linh đán cổ kim”
(Anh hùng sự nghiệp mở trời đất Tiếng thiêng lừng lẫy vẫn còn đến xưa nay, năm Minh Mệnh (1820 -1840) được tạo dựng) Thì khu Đền chính được khởi dựng năm Minh Mệnh (1820-1840) triều vua thời Nguyễn Vμ theo dòng chữ ghi trên thượng lương: “Khải Định bát niên Quý Hợi chính nguyệt nhật trùng tu điện thμnh” Thì ngμy tốt tháng Giêng năm Quý Hợi niên hiệu Khải
Định 8 (1923), tu sửa lại đền mọi công việc đã được hoμn thμnh Như vậy, căn cứ vμo niên đại xây dựng vμ năm trùng tu cùng với việc khảo sát thực tế, thì phong cách trang trí trên kiến trúc của toμ Tiền Đường thể hiện trên các phần chạm khắc đều mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn
Cụ thể, trên các bộ vì của Tiền Đường chúng ta bắt gặp các đồ án trang trí rất tinh xảo vμ đa dạng Trên xμ trung gian giữa được trang trí bằng đôi rồng
chầu vμo trung tâm mảng chạm lμ “hổ phù” cõng mặt trời (Hình 14) Mặt hổ
trông dữ tợn: “mắt quỷ’, mũi nhô cao, gãy khúc, đầu đội mặt trời với nhiều tia lửa đang toả ra, trong đó có một tia cao nhất giữ vị trí trung tâm, miệng hổ ngậm chữ thọ hình tròn Đối xứng qua mặt hổ phù lμ đôi rồng đang nằm trong tư thế
Trang 37với dáng đầu nhô cao, uốn lượn nhiều khúc, lẫn trong mây, đuôi xoắn ốc với nhiều đao mác, tạo ra xoáy ốc rất đẹp Đao mác một biểu tượng của “chớp” trong
ý thức cầu mưa của cư dân nông nghiệp lúa nước, đao mác thường gắn liền với các linh vật đặc biệt lμ rồng Tuy nhiên hai con rồng ở đây không hoμn toμn giống nhau khiến ta liên tưởng tới một con rồng trống vμ một con rồng mái Rồng bên trái nhìn dữ tợn, bờm rồng có 5 cụm tóc uốn lựơn xuôi về phía đuôi, các cụm bờm mảnh vμ nhọn Rồng bên trái mặt hiền hơn, bờm rồng hơi xoắn lại
vμ hướng về phía trước Trên lưng rồng tại khúc uốn cuối cùng được tạo tác một con kỳ lân nhỏ đang bám vμo đuôi rồng lμm cho bức chạm trở nên sinh động vμ vui mắt
Bên dưới đồ án trang trí nμy lμ hệ thống vách thuận Vách thuận lμ một bộ
cửa đục thông phong chạm khắc đề tμi tứ linh: long, ly, quy, phượng (Hình 15)
Bức ván được chia thμnh các ô lớn trang trí rất đẹp Xen kẽ với đề tμi tứ linh lμ những cụm mây lμm cho các con vật ở đây như đang nhảy múa, vui đùa quấn quýt với nhau, tạo cảm giác ấm cúng vμ gần gũi
Cụ thể, rồng được chạm khá sinh động, đầu rồng gần như không nhô ra ngoμi, mắt rồng dữ tợn, miệng hơi há ra, hai mắt tròn lồi, bờm tóc dμi hất ngược
về phía sau Thân rồng có vây nhưng rất mềm mại, quấn quýt với linh vật khác xen kẽ rồng lμ phượng, phượng hay còn gọi lμ chim thiêng, lμ một con vật không có thực nhưng hội tụ yếu tố sức mạnh của vũ trụ, hiện thân của thánh nhân Nó tượng trưng cho vẻ đẹp quý phái Đây lμ con vật vũ trụ, chủ của bầu trời mây vμ lμ tâm của vũ trụ rộng lớn Vμ về mặt nμo đó phượng mang ý nghĩa biểu hiện của tầng trên, biểu hiện cho hạnh phúc lứa đôi Phượng được chạm rõ nét, đầu phượng hướng ra ngoμi nhưng không nhô lên mμ đang ở trong tư thế bay, hai cánh xoè ra, đuôi thả tự nhiên Phượng được diễn tả gần gũi như với con công, con gμ chạm nổi cùng hoa lá Tiếp đến lμ trang trí lân vμ rùa Lân lμ con vật huyền thoại, trong hệ thống tứ linh Lân tượng trưng cho uy quyền, đại diện cho trí tuệ, có tâm hồn trong sáng Vì vậy, lân ở đình, đền, chùa lμ để kiểm soát tâm hồn của kẻ hμnh hương Tại mảng trang trí, cả thân con lân đang hướng ra ngoμi nhìn như đang chuyển động, lân có bờm tóc, mắt lồi, miệng rộng
Trang 38Một linh vật khác luôn lμ biểu tượng của sự bền vững đó lμ rùa Rùa được tạo tác nhỏ nhất nằm dưới cùng của mảng trang trí Rùa sống dưới nước hiền lμnh không gây tội ác Trong tư duy cổ truyền, rùa gắn với nguồn nước cũng như gắn với bầu trời Theo quy định dịch học, rùa lμ sự hợp thể của âm dương của trời đất, lμ biểu tượng của sự tồn tại vμ phát sinh, phát triển rùa được tạo tác nhỏ nhất nằm dưới cùng của mảng trang trí
Đồ án trang trí tiếp theo được thể hiện trên các bộ vì của toμ Tiền Đường Như phần kết cấu kiến trúc đã nêu ra, bốn bộ vì của ba gian giữa Tiền Đường
được gia công theo kiểu “chồng rường giá chiêng, câu đầu trụ non con cung”
(Hình 16) Cụ thể, hai bộ vì nóc ở gian giữa có kết cấu giống nhau, có lối trang trí
phong phú, tinh xảo: chân trụ non tì lực vμo “quá giang”, đầu trên của trụ ghép mộng đỡ “xμ bụng lợn” (con cung), cốn trụ được đặt trên một đấu vuông thót đáy trang trí hình hoa sen Giữa “xμ bụng lợn” cũng được kê một đấu vuông đỡ thượng lương, hai đầu của “xμ bụng lợn” đặt “guốc hoμnh” đỡ hệ thống mái của công trình Nối vμo thân trụ non, mỗi bên có 6 con rường ngắn, các con rường được tạo tác dáng “hoá long”, ta có thể nhận thấy mắt, mũi, tai vμ đao mác rất rõ rμng, kết hợp với các mảng trang trí bao quanh các con rường đó lμ đề tμi hoa cúc Trên quá giang cũng được tạo hình bằng những bông hoa cúc chạm rất mập vμ mềm mại Toμn bộ mảng trang trí trên được kết hợp nhuần nhuyễn bởi các chi tiết chạm thông phong, chạm nổi vμ chạm bong kênh rất tinh xảo
ở hai gian bên giáp gian giữa, hai bộ vì nóc cũng đựơc tạo tác theo kiểu
“chồng rường giá chiêng” (Hình 17), được chạm trổ rất đẹp với đề tμi hoa lá
Trên các con rường của bộ vì đều được trang trí bằng hoa văn: “lá lật” theo phong cách chạm nổi vμ chạm bong kênh, trên câu đầu cũng được trang trí như ở gian giữa chạm khắc những bông hoa cúc rất mập thể hiện tμi năng chạm trổ của các nghệ nhân Thông qua đó còn thấy được ước vọng của con người về một cuộc sống ấm cúng, hạnh phúc vμ cùng sinh sôi phát triển Tiếp đó lμ hai bộ vì
số 1 vμ vì số 6 của hai gian giáp với tường hồi Hai gian nμy có kết cấu mái vuông góc với mái chính, hai bộ vì không có trụ mμ lμ ván mê nằm dọc theo xμ
đại, trên ván mê lμ mảng trang trí “triện tμu lá dắt” (Hình 18)
Trang 39Tại hai gian được tạo bởi các bộ vì 1-2 vμ 5-6, có hệ thống vì nằm ngang
nhμ (Hình 19) Từ trụ trốn nối với cột cái có một bức ván mê Trên cốn mê vμ xμ
đều được trang trí bằng chủ đề hoa lá mμ chủ yếu lμ hoa cúc vμ lá cúc cách điệu
Do kết cấu như vậy đã tạo nên bộ khung nhμ với bốn mái cong truyền thống
Để tạo nên bộ mái rộng có thể vươn xa người thợ tμi hoa đã sử dụng hai cấu kiện chủ yếu lμ cột hiên vμ bẩy hiên Vì hiên được tạo dựng bởi bốn bộ vì có
chung đặc điểm lμ liên kết kiểu “chồng rường” (Hình 20) Nối từ cột cái ra cột
hiên lμ bốn cây “xμ nách” dμi 120 cm Trên “xμ nách” lμ một liên kết bởi ba con rường Các con rường được đặt lên nhau thông qua các đấu vuông thót đáy Trên các con rường được nghệ nhân chạm khắc đề tμi: “tứ linh” (long, ly, quy,
phượng) đan xen lẫn hoa văn “lá lật” mang phong cách thời Nguyễn (Hình 21)
Trong mỹ thuật thời Nguyễn, đặc biệt lμ trong các đồ án trang trí kiến trúc, rồng luôn được đề cao vμ nó cũng thường xuyên được nghệ nhân sử dụng trong các mảng trang trí mỹ thuật ở các di tích Nó có mặt ở mọi nơi của kiến trúc vμ được biến hoá nhiều kiểu cách Rồng lμ con vật có mặt trong tất cả mọi thời kỳ của nền mĩ thuật trung đại Tuy nhiên mỗi thời kỳ có một dáng vẻ khác nhau, nhưng trong ứng xử với người đời, nó lại phải phân thân để thích hợp với lòng người, rồng lμ biểu tượng dũng mãnh, tung hoμnh Chính vì vậy, mμ trong
bộ điêu khắc tứ linh, con rồng bao giờ cũng được xuất hiện như một biểu tượng không thể thiếu được
Cụ thể, trên xμ nách của vì hiên rồng được thể hiện với dáng đầu nhô cao, thân có nhiều khúc uốn mềm mại, được chạm nổi với nhiều đao mác toả ra, miệng hơi há to, rồng đang trong tư thế chuyển động Rồng còn được trang trí trên các “ván bưng thông gió”, “xμ thượng vμ xμ hạ” ở công trình hiên Ván bưng ở gian thứ hai vμ gian thứ tư đều chạm khắc hoa văn “cánh sen” bao quanh
đề tμi trọng tâm “long cuốn thuỷ” (Hình 22) rất tinh xảo Đặc biệt hơn lμ phần
gỗ bưng ở gian giữa (gian 3) chạm nổi bật hoạ tiết “lưỡng long chầu nguyệt”
(Hình 23) Đôi rồng nằm trong tư thế đối xứng nhau qua mặt nguyệt, thân uốn
lượn, đuôi xoắn ốc với nhiều đao mác Rồng còn thể hiện sự biến hóa Đôi khi chỉ vμi chiếc lá được cách điệu cũng trở thμnh một con rồng lá khá đẹp, cũng có
Trang 40khi lμ sự hoá thân của cây mai, cây trúc Dưới bμn tay của nghệ nhân chúng trở nên đẹp vμ đầm ấm, khoáng đạt vμ phản ánh việc linh thiêng hoá những cây cỏ mang nhiều ý nghĩa, biểu tượng gắn với con người
Đề tμi nμy được thể hiện rõ nét trên bẩy hiên một cách tinh xảo, tại cây
bẩy số 2 vμ số 5 được trang trí “lá lật hoá long” (Hình 24), còn tại cây bẩy số 3
vμ số 4 thì được tạo tác một con rồng, đề tμi trang trí bằng các đường chạm sâu, sắc nét đã tạo nên một dáng vóc những con rồng đầy đủ thân, đuôi, đầu thì nhô cao, mình uốn khúc mềm mại với bố cục gọn gμng trong chiều dμi của từng
chiếc bẩy (Hình 25) Rồng còn được biến hoá trên các “ván bưng thông gió”, lμ
hoa văn “mai hoá long”, được trang trí bao quanh mảng chạm “lưỡng long chầu nguyệt” lμm cho mảng chạm thêm nổi bật sinh động
Suy cho cùng rồng vẫn lμ linh vật được quý trọng trong các mảng trang trí, nổi lên sau rồng lμ lân Trên đầu bẩy lân được tạo tác khá tinh tế, đó lμ một con
kỳ lân với tư thế chân đang bước đi, đầu ngoảnh lại trông rất sinh động Lân còn
được thể hiện rõ trên nghé bẩy Nghé bẩy được tạo thμnh con kỳ lân đỡ xμ nách
vμ có mộng ăn với xμ nách Kỳ lân đang trong tư thế bước đi lên, có bờm tóc
được tạo thμnh các xoáy ốc tròn xung quanh đầu, nhưng không có sừng, mắt lồi, miệng rộng, một chân bước lên, một chân khuỵ xuống trong tư thế tạo đμ để di chuyển
Ngoμi đề tμi tứ linh, toμ Tiền Đường còn nổi bật lên lμ đề tμi hoa lá, chủ yếu lμ hoa văn “lá lật” được chạm trên các con rường ở vì hiên, rồi đến các đầu bẩy đặc biệt lμ bẩy số 1 vμ bẩy số 6 Bên cạnh đó, đề tμi nμy còn được trang trí bên dưới các ván bưng thông gió lμ hoa văn “hoa cúc” chạm nổi với bông hoa, lá hoa mập rất đẹp
Tất cả các phần chạm khắc trên đều mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX, song cách bố cục chặt chẽ của nghệ nhân xưa góp phần tôn vinh giá trị nghệ thuật cho công trình kiến trúc
Nhìn toμn bộ đồ án trang trí trên kiến trúc của toμ Tiền Đường, ta có thể nhận thấy rõ lối trang trí hết sức phong phú Tuy những mảng trang trí trên kiến