TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA DI SẢN VĂN HÓA TÌM HIỂU SƯU TẬP CỔ VẬT GỐM THẾ KỶ XI – XVI ĐANG ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA DI SẢN VĂN HÓA
TÌM HIỂU SƯU TẬP CỔ VẬT GỐM THẾ KỶ XI – XVI ĐANG ĐƯỢC LƯU GIỮ
TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH BẢO TÀNG HỌC
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN SỸ TOẢN
Sinh viên thực hiện: PHẠM HƯƠNG QUỲNH
HÀ NỘI - 2013
Trang 21
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Tìm hiểu sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI
– XVI đang được lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội”, em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Sỹ Toản – Trưởng Khoa Di
sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, người trực tiếp hướng dẫn em thực hiện khóa luận tốt nghiệp Thầy đã có những ý kiến quý báu và tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội – đã tận tâm truyền đạt những kiến thức bổ ích giúp em
có cơ sở để thực thiện đề tài
Bài khóa luận chắc chắn còn nhiều sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô!
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 32
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Bố cục bài khóa luận 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHOA DI SẢN VĂN HÓA - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM 8
1.1 Khái quát về Khoa Di sản văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội 8 1.1.1 Khái quát về Trường Đại học Văn hóa Hà Nội 8
1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 8
1.1.1.2 Các khoa đào tạo 14
1.1.2 Khái quát về Khoa Di sản văn hóa 15
1.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 16
1.1.2.2 Công tác nghiên cứu khoa học 17
1.1.2.3 Một số công việc khác khoa đã thực hiện 17
1.2 Một số khái niệm 18
1.2.1 Khái niệm đồ gốm 18
1.2.2 Khái niệm cổ vật, di vật, bảo vật quốc gia 21
1.2.3 Khái niệm sưu tập, sưu tập hiện vật bảo tàng, sưu tập tư nhân 23
CHƯƠNG 2: SƯU TẬP CỔ VẬT GỐM THẾ KỶ XI – XVI ĐANG ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA 27
2.1 Sự xuất hiện và phát triển của đồ gốm ở Việt Nam 27
2.1.1 Sự xuất hiện đồ gốm và những bước phát triển 27
2.1.2 Lịch sử gốm Việt Nam 32
2.1.2.1 Gốm Việt Nam thời tiền sơ sử 33
2.1.2.2 Gốm Việt Nam 10 thế kỷ đầu Công nguyên 34
2.1.2.3 Gốm Việt Nam thời Lý - Trần 36
2.1.2.4 Gốm Việt Nam thời Lê – Nguyễn 39
Trang 43
2.2 Quá trình hình thành sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI đang lưu
giữ tại khoa Di sản văn hóa 43
2.2.1 Hoạt động xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng nói chung 43
2.2.1.1 Tiêu chí xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng 43
2.2.1.2 Nguyên tắc xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng 45
2.2.1.3 Các bước tiến hành xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng 46
2.2.2 Quá trình hình thành sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI của Khoa Di sản văn hóa 48
2.3 Đặc điểm của hiện vật trong sưu tập 50
2.4 Giá trị của sưu tập 74
2.4.1 Giá trị lịch sử 74
2.4.2 Giá trị văn hóa 77
2.4.3 Giá trị mỹ thuật 77
2.4.4 Giá trị kỹ thuật 81
CHƯƠNG 3: BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SƯU TẬP CỔ VẬT GỐM THẾ KỶ XI – XVI ĐANG ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA 87
3.1 Thực trạng bảo quản và phát huy giá trị sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI của Khoa Di sản văn hóa 88
3.2 Đề xuất một số giải pháp để bảo quản và phát huy giá trị của cổ vật gốm đang lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa 90
3.2.1 Hoạt động kiểm kê, bảo quản 90
3.2.1.1 Hoạt động kiểm kê 90
3.2.1.2 Hoạt động bảo quản 91
3.2.2 Sưu tầm bổ sung hiện vật cho sưu tập 95
3.2.3 Khai thác, phát huy giá trị của sưu tập 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 103
Trang 54
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoa học đã chứng minh con người tìm ra lửa vào cuối thời kỳ đồ đá
cũ (cách ngày nay khoảng 790.000 năm) và sử dụng lửa cho tới ngày nay Đây được coi là phát hiện quan trọng nhất đưa con người đến với văn minh
Có thể khẳng định rằng vai trò của lửa gắn liền với lịch sử phát triển loài người và lịch sử phát triển đồ gốm Khi chưa tìm ra lửa, xã hội loài người duy trì sự tồn tại ở mức độ động vật nhiều hơn vì tất cả nguồn thức ăn đều là đồ sống Nhưng khi con người phát hiện ra lửa, lịch sử loài người đã có một bước ngoặt vô cùng quan trọng Con người biết sử dụng lửa để nấu chín thức
ăn, nước uống tạo ra sự biến đối về chất trong thức ăn, làm tiền đề để phát triển hệ thần kinh, bộ não Bộ não càng phát triển, con người càng muốn chinh phục thiên nhiên vì vậy từ việc chỉ biết sử dụng lửa tự nhiên, con người
đã sáng tạo ra những vật liệu tạo ra lửa và phát minh ra các biện pháp giữ lửa nhưng quan trọng hơn, con người đã phát minh ra cách làm tăng nhiệt độ của lửa, từ đó lửa được sử dụng để tạo ra những vật chất mới từ những vật chất sẵn có nhằm phục vụ cho đời sống của con người, trong đó có đồ gốm Đồ gốm chỉ ra đời khi con người phát minh ra biện pháp để tăng nhiệt độ của lửa bởi đồ gốm là đất được nung ở nhiệt độ cao Từ đó, lịch sử phát triển đồ gốm luôn gắn liền với lịch sử phát triển loài người, chúng liên quan trực tiếp đến lao động và sáng tạo của con người Mục đích đầu tiên mà loài người phát minh đồ gốm là muốn tạo ra một đồ vật để đựng mà không thấm nước (giá trị
sử dụng) Chỉ khi có các điều kiện đầy đủ thì đồ gốm không chỉ mang giá trị
sử dụng mà chúng còn là vật dụng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người (giá trị văn hóa) Có thể nói, việc phát minh ra đồ gốm là bước
đầu tiên trong quá trình chinh phục thiên nhiên của loài người: “Văn minh
của loài người bắt đầu từ sự phát sinh ra đồ gốm – sự liên kết giữa đất và lửa
Trang 6đã là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, làm mê đắm bao con người yêu cổ ngoạn Với ý nghĩa như thế, cổ vật gốm được lưu giữ trong các bảo tàng của nhà nước, bảo tàng tư nhân, các tổ chức, hội cổ vật hay đơn giản là trong tư gia của những người yêu cổ vật
Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đào tạo những
cử nhân ngành Bảo tàng – Bảo tồn di sản văn hóa Việc nghiên cứu, tìm hiểu
về cổ vật là một phần chuyên ngành học quan trọng trong chương trình đào tạo của khoa Đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, “học đi đôi với hành” của sinh viên, Khoa Di sản văn hóa đã vun đắp ý tưởng xây dựng phòng thực hành cho sinh viên được tiếp cận trực tiếp với cổ vật Tuy phòng thực hành của Khoa chưa được áp dụng vào thực tiễn song bước đầu đã có sự chuẩn bị Một trong những khâu chuẩn bị đó là việc sưu tầm, thu thập hiện vật phục vụ cho sinh viên học tập, trong đó có cổ vật gốm
Là sinh viên năm thứ 4 của Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, trong thời gian học tại trường, em đã có cơ hội được tiếp cận, tìm hiểu những di sản văn hóa của dân tộc và mang trong mình ý thức
1 Trần Khánh Chương (2004), Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ, NXB Mỹ thuật, Hà Nội,
tr.265
Trang 76
trách nhiệm bảo tồn chúng Đồng thời, em muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình cho nơi em đã học trong suốt 4 năm qua
Hơn nữa, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về những cổ
vật gốm đang được lưu giữ tại Khoa Vì vậy, em chọn đề tài “Tìm hiểu sưu
tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI đang được lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Cổ vật luôn là mối quan tâm của nhiều người, cả Nhà nước, cán bộ văn hóa và người dân Vấn đề quản lý cổ vật hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn chưa được giải quyết Nạn mất cắp, buôn bán cổ vật ra ngoài biên giới quốc gia vẫn tiếp tục với những diễn biến phức tạp Vì vậy, việc nghiên cứu cổ vật luôn cần thiết nhằm giữ gìn, phát huy di sản quý báu của đất nước
Mục đích nghiên cứu của bài khóa luận bao gồm:
Giới thiệu tới người đọc về sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI đang được lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội thông qua khảo tả, nghiên cứu những hiện vật trong sưu tập để từ đó đưa ra được giá trị về văn hóa, lịch sử, khoa học, mỹ thuật của chúng
Để có thể nghiên cứu, đánh giá về sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI đang lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa, người trình bày phải tìm hiểu, nghiên cứu về cổ vật gốm Việt Nam nói chung vì vậy bài khóa luận này hệ thống hóa lịch sử của đồ gốm và phần nào giúp người đọc hình dung được cổ vật gốm Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo quản, phát huy giá trị sưu tập
cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI của Khoa, phục vụ cho sinh viên Khoa Di sản văn hóa học tập và nghiên cứu
Trang 87
Từ những mục đích trên, người viết mong muốn người đọc hiểu hơn về giá trị của cổ vật gốm và có ý thức hơn nữa trong việc gìn giữ, bảo vệ di sản văn hóa của dân tộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: sưu tập cổ vật gốm đang lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: 23 cổ vật gốm Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin
Đó là Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử
Ngoài ra, bài khóa luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp liên ngành, phương pháp bảo tàng học, lịch sử học, nghệ thuật học, xã hội học, văn hóa học, sử dụng phương pháp quan sát, khảo tả, đo
vẽ, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, phân loại, tiếp cận nghiên cứu sưu tập theo phương pháp nghiên cứu sưu tập cổ vật tư nhân
5 Bố cục bài khóa luận
Bài nghiên cứu ngoài phần mở đầu, phần kết thúc gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và một số khái niệm
Chương 2: Sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI đang được lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa
Chương 3: Bảo quản và phát huy giá trị sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI đang được lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa
Cuối cùng là phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 98
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHOA DI SẢN VĂN HÓA - TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VĂN HÓA HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1 Khái quát về Khoa Di sản văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội 1.1.1 Khái quát về Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nằm tại số 418 đường La Thành, Hà Nội, là trường đại học lớn nhất của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch 50 năm qua, trường đã đào tạo được hàng chục nghìn cán bộ văn hoá hiện đang công
tác trên khắp mọi miền đất nước
Từ những năm đầu thành lập, trường đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học Nhiều hội nghị khoa học có quy mô toàn ngành, toàn quốc đã được triển khai ngay cả trong thời kỳ chiến tranh Các đề tài nghiên cứu của trường
đã tiếp cận những vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá truyền thống, đồng thời góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu văn hoá hiện đại Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng phát triển mạnh mẽ Năm nào cũng có những công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên được trao giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” của bậc đại học Hai năm liền trường được Bộ Giáo dục - Đào tạo tặng Bằng khen là đơn vị đạt thành tích cao trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học
Vì những thành tích đạt được, trường Đại học Văn hoá đã được trao nhiều Bằng khen và ba Huân chương Lao động: Huân chương Lao động hạng
Ba (1984), Huân chương Lao động hạng Hai (1989), Huân chương Lao động hạng Nhất (1994) và Huân chương Độc lập hạng Ba (2004)
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội được thành lập ngày 26/3/1959 theo Quyết định số 134/VĂN HÓA-QĐ của Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hóa, Thể
Trang 109
thao và Du lịch) Trong hơn 50 năm qua, trường đã trải qua những giai đoạn lịch sử như sau:
Trường cán bộ văn hóa (1959 – 1960)
Năm 1954, chiến dịch Đông Xuân giành thắng lợi kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm của dân tộc Việt Nam, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng Nhận rõ yêu cầu cấp bách của việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, phục vụ
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, Chính phủ và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và phát triển ngành giáo dục Công tác đào tạo cán bộ văn hóa văn nghệ cũng nằm trong mối quan tâm đó
Tháng 3 năm 1959, đáp ứng nhu cầu cấp bách của việc đào tạo cán bộ làm công tác lý luận và nghiệp vụ văn hóa, trường Cán bộ Văn hóa ra đời (theo quyết định số 134 VĂN HÓA/QĐ ngày 26/3/1959) Lúc này, trường chỉ đào tạo bồi dưỡng các cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ văn hóa là chính
Khóa học đầu tiên được khai giảng vào ngày 26/3/1959 tại trường Cán
bộ Văn hóa Thời kỳ đầu, trường đã giảng dạy một số môn về lý luận văn hóa
và đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời có sự tham gia giảng dạy của chuyên gia Liên Xô
Trong thời gian ngắn xây dựng, những gì mà trường đạt được là tiền đề
cơ bản, tạo ra cơ sở vật chất và cơ sở tinh thần cần thiết để nhà trường có thể vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn mới
Trường lý luận nghiệp vụ văn hóa (8/1960- 1977)
Năm 1960, miền bắc kết thúc thắng lợi kế hoạch 3 năm cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa và chuẩn bị Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Để phù hợp thực tiễn đó, trường Cán bộ văn hóa cho biên soạn lại chương trình giảng dạy, các cán bộ giảng dạy nhà trường rất chú trọng tham khảo, học tập kinh
Trang 1110
nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa Sau một năm vừa làm, vừa học, đến năm 1960, trường đã phát triển thêm một số ngành học về nghiệp vụ văn hóa, như ngành Văn hóa quần chúng, ngành Xuất bản, ngành Thư viện, ngành Phát hành sách, Bảo tồn – Bảo tàng và đổi tên trường là Lý luận nghiệp vụ Bộ Văn hóa (Quyết định 127/VĂN HÓA - QĐ 9/8/1960) Đặc biệt, riêng khoa Thư viện, với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô đã có lớp Đại học Thư viện ngay
từ năm 1960
Năm 1965, đế quốc Mỹ đã đưa quân ào ạt vào Miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại Miền Bắc Trước tình hình đó, chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc Cả miền Bắc chuyển hướng xây dựng kinh tế và đời sống, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam Đối với công
tác giáo dục, ngày 3 tháng 7 năm 1965, Đảng chỉ thị: “Trước tình hình và
nhiệm vụ mới, nhà trường xã hội chủ nghĩa phải thực sự là một tập thể gương mẫu trong giảng dạy, học tập, lao động, sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu”1
Trong thời gian khó khăn này, thầy và trò trường Lý luận nghiệp vụ vẫn phấn đấu, thi đua dạy tốt, học tốt, vừa dạy vừa học vừa tham gia sản xuất, chiến đấu cũng nhân dân địa phương, đồng thời giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo trước mắt, tích cực chuẩn bị một số điều kiện cho sự nghiệp phát triển của trường
Trường được đổi tên thành trường Lý luận nghiệp vụ văn hoá (Quyết định số 127/VĂN HÓA - QĐ của Bộ Văn hoá)
Trường Cao đẳng nghiệp vụ văn hóa (5/9/1977 – 1982)
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi vẻ vang vào ngày
30 tháng 4 năm 1975, mở ra một kỷ nguyên mới: miền Nam được hoàn toàn
1 Chỉ thị 102 CT/TW
Trang 12Bên cạnh đó việc thành lập khoa Viết văn cũng là một điểm nhấn của trường Khoa Viết văn đã trang bị cho những học viên những kiến thức cơ bản Phần đông con số các học viên sau khi ra trường trở thành lực lượng sáng tác chuyên nghiệp hoặc biên tập ở các báo, các đài phát thanh ở trung ương và địa phương Khoa Văn hóa quần chúng sau những năm đào tạo trung cấp đã bắt đầu đào tạo đại học
Khi đất nước đã thống nhất, nước ta bước vào thời kỳ cách mạng mới, thực tế cho thấy văn hóa phải được nhìn nhận, đánh giá hiểu sâu hơn ở tầm tri thức khoa học về nghiệp vụ Vì vậy, trường được Bộ Văn hóa đề nghị với Hội đồng chính phủ qua Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp) ra Quyết định số 246 CP, ngày 5 tháng 9 năm 1977 đổi tên thành trường Cao đẳng Nghiệp vụ văn hóa
Song song với việc đẩy mạnh công tác đào tạo, nhà trường còn chú trọng đến việc tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, bước đầu hướng khoa học và văn hóa vào việc phục vụ thiết thực những yêu cầu của cuộc sống Qua những hoạt động khoa học này, nhà trường đã bước đầu phát huy vai trò khoa học và văn hóa đối với xã hội
Trang 1312
Năm 1979, trường Cao đẳng Nghiệp vụ văn hóa long trọng kỷ niệm hai mươi năm thành lập và vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng III của Đảng và Nhà nước trao tặng Trên cơ sở đó, thầy và trò cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trường Cao đẳng nghiệp vụ văn hóa bước vào chặng đường tiếp theo một cách vững chắc và tin tưởng hơn
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (từ 4/9/1982 đến nay)
Sau 5 năm đào tạo với tên gọi trường Cao đẳng Nghiệp vụ Văn hóa, trường được thực sự trưởng thành về mọi mặt: Về trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên, giáo án, giáo trình, về khả năng chỉ đạo và quản lý cán bộ lãnh đạo về cơ sở vật chất Các khoa Bảo tàng và Phát hành sách cũng chuyển sang đào tạo Đại học Trường được đổi tên từ Cao Đẳng lên Đại học theo Quyết định số 228/CP ngày 4-9-1982 của Hội đồng Bộ trưởng Điều đó thể hiện sự ghi nhận về sự tiến bộ, vai trò và chức năng của nhà trường đối với xã hội
Việc chuyển từ Cao đẳng lên Đại học tạo nên một bước ngoặt mới cho trường Đại học Văn hóa Hà Nội Vì vậy, nhà trường một lần nữa phải nghiên cứu xem xét lại toàn bộ chương trình và mục tiêu đào tạo Mục tiêu ấy không còn bó hẹp trong phạm vi Bộ Văn hóa mà đã hướng tới hiệu quả xã hội Do vậy, nhà trường chủ trương đào tạo những gì xã hội cần chứ không chỉ đào tạo những gì sẵn có trong trường
Theo tinh thần đó, trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã thực hiện những cải cách và đổi mới toàn diện Cụ thể là:
Trường đã mở rộng các hình thức và qui mô đào tạo Ngoài hình thức đào tạo chính qui, mở rộng, chuyên tu, cử tuyển, trường còn rất quan tâm đến
hệ đào tạo tại chức và bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, ngoài ra trường còn
mở các lớp bồi dưỡng chuyên ngành ngắn hạn và dài hạn v.v…
Trang 1413
Từ chỗ chỉ có lớp Đại học truyền thống, tới nay, trường đã mở nhiều khoa, ngành mới như Văn hóa Du lịch, Thông tin cổ động và quảng cáo… Bên cạnh đó, trường còn mở các lớp đào tạo sau đại học thuộc các chuyên ngành Văn hóa, Thư viện – Thông tin Mở rộng các cơ sở đào tạo tại các tỉnh, các vùng trong toàn quốc
Công tác nghiên cứu khoa học cũng là một trong những công việc quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Nhiều Hội nghị khoa học lớn đã được trường tổ chức, như Hội nghị khoa học 200 năm cách mạng Pháp; Hội nghị khoa học về phương pháp giảng dạy đại học, Nho giáo và Văn hóa Việt
Nam Đặc biệt là hai Hội nghị: “50 năm Đề cương văn hóa Việt Nam” và “Sự
lãnh đạo của Đảng về Văn hóa văn nghệ trong tình hình mới” (1993) Ngoài
ra, còn một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Trường của các đồng chí lãnh đạo và cán bộ giảng dạy Trường còn tổ chức tốt việc nghiên cứu khoa học trong sinh viên Công tác này được bắt đầu từ việc tổ chức viết khóa luận tốt nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên tự nâng cao trình
độ, tự đào tạo, gắn lý luận tiếp thu trong nhà trường với thực tế nghề nghiệp
Trong những năm gần đây, ngoài những khoa truyền thống, nhiều khoa đào tạo được thành lập, cụ thể là: khoa Văn hóa dân tộc, khoa Văn hóa học, khoa Ngôn ngữ và Văn hóa quốc tế, khoa Nghệ thuật đại chúng Mặc dù, còn non trẻ song những khoa này bước đầu đã có những thành tựu nhất định, dần dần khẳng định được vai trò trong đào tạo cán bộ văn hóa cho xã hội Ngoài
ra, một số khoa đã đổi tên để phù hợp với thực tiễn xã hội và chuyên ngành đào tạo của khoa, đó là khoa Văn hóa quần chúng đổi tên là khoa Quản lý văn hóa – nghệ thuật, khoa Bảo tàng đổi tên là khoa Di sản văn hóa, khoa Phát hành sách nay là khoa Xuất bản – Phát hành, khoa Viết văn trở thành khoa Viết văn – Báo chí…
Trang 1514
Có thể nói, những thành quả như ngày hôm nay là công sức đóng góp của thầy và trò đã không ngừng phấn đấu vươn lên; là kết quả của việc nhà trường luôn coi trọng cả hai nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học, đưa khoa học phục vụ đời sống văn hóa
1.1.1.2 Các khoa đào tạo
Trường Đại học Văn hoá Hà Nội là đơn vị đào tạo có quy mô tuyển sinh và chất lượng đào tạo hàng đầu về lĩnh vực Văn hoá, Nghệ thuật, Du lịch Hiện này, trường đào tạo các khoa với ngành đặc thù như sau:
1 Khoa Quản lý Văn hóa - Nghệ thuật với ngành đào tạo Quản lý
văn hóa: sinh viên tốt nghiệp có cơ hội làm việc tại các Sở Văn hóa, Phòng và
Trung tâm văn hóa; các Bộ, Ngành có chức năng xây dựng chính sách văn hóa và quản lý hoạt động văn hóa nghệ thuật; các công ty tổ chức sự kiện và hoạt động truyền thông; các đơn vị tổ chức biểu diễn; bộ phận Marketing của doanh nghiệp
2 Khoa Văn hóa Du lịch với ngành đào tạo Việt Nam học: sinh viên
tốt nghiệp có cơ hội làm việc tại các cơ quan quản lý hoạt động du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch, các cơ quan nghiên cứu
và xây dựng chính sách về du lịch
3 Khoa Xuất bản- Phát hành: đào tạo ngành Kinh doanh xuất bản
phẩm Sinh viên tốt nghiệp có cơ hội làm việc tại các doanh nghiệp kinh doanh văn hóa phẩm, các cơ quan xuất bản, phát hành; bộ phận phát triển thị trường của các cơ quan báo chí, truyền thông; các cơ quan quản lý nhà nước
về hoạt động xuất bản, phát hành
4 Khoa Di sản văn hóa: đào tạo ngành Bảo tàng học Sinh viên tốt
nghiệp có cơ hội làm việc tại thiết chế bảo tàng, di tích và tại các cơ quan, các
tổ chức chính trị xã hội; xã hội nghề nghiệp có chức năng liên quan đến sự nghiệp bảo tàng, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa như các quỹ quốc tế
Trang 1615
về Bảo tồn, các ban Quản lý di tích, các ban Quản lý dự án trùng tu, tôn tạo, bảo tồn di tích
5 Khoa Thông tin - Thư viện: đào tạo 2 ngành Thư viện
học và Thông tin học Sinh viên tốt nghiệp có cơ hội làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động thư viện; các thư viện trong toàn hệ thống từ thư viện của các Bộ, Ngành đến tỉnh thành, quận huyện, xã phường, trường học; các Trung tâm lưu trữ; các bộ phận Quản lý dữ liệu của cơ quan, doanh nghiệp
6 Khoa Văn hóa Dân tộc: đào tạo ngành Văn hóa dân tộc thiểu số
Người tốt nghiệp có cơ hội được làm việc tại các Viện Nghiên cứu, các cơ quan làm công tác dân tộc ở Trung ương và địa phương, các Ban dân tộc và Tôn giáo, các Sở Văn hóa, Trung tâm văn hóa
7 Khoa Viết văn - Báo chí : đào tạo ngành Sáng tác văn học- ngành
học dành cho những người đam mê sáng tác, nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học; hoặc muốn đảm nhiệm công việc ở các cơ quan báo chí, xuất bản liên
quan đến văn học
8 Khoa Văn hóa học: đào tạo ngành Văn hóa học Người tốt nghiệp
có thể giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng; công tác tại các Viện, cơ quan nghiên cứu; làm việc tại các công ty truyền thông; các tổ chức phát triển văn hóa cộng đồng; các đơn vị tổ chức sự kiện; các đơn vị tư vấn xây dựng và
quản lý dự án văn hóa
9 Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Quốc tế: đào tạo chuyên ngành Hướng
dẫn viên du lịch quốc tế
10.Khoa Nghệ thuật Đại chúng: đào tạo chuyên ngành Đạo diễn sự
kiện và Biểu diễn âm nhạc
1.1.2 Khái quát về Khoa Di sản văn hóa
Trang 1716
1.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Khoa Di sản văn hóa là một trong những khoa được thành lập sớm nhất tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội Với bề dày hơn 50 năm hình thành và phát triển, Khoa Di sản văn hóa đã đào tạo hàng ngàn cử nhân cho Ngành Bảo tàng - Bảo tồn Di sản văn hóa Việt Nam Quá trình đào tạo của khoa trải qua các giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn 3: 1993 - 2000
Khoa tiếp tục đào tạo bậc đại học Năm 1993, Khoa xây dựng Bộ môn Quản lý - giám định cổ vật, thuộc ngành Bảo tàng học và mở thêm chuyên ngành Văn hóa du lịch Đây là chuyên ngành đào tạo mới, thu hút khá lớn nhu cầu và sự quan tâm của xã hội Do vậy, đến năm 2000, Nhà trường đã tách riêng chuyên ngành Văn hóa du lịch và thành lập Khoa Văn hóa du lịch thuộc Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Giai đoạn 4: 2000 – nay
Khoa Bảo tàng đào tạo cử nhân văn hóa ngành Bảo tàng học, cung cấp nguồn nhân lực đáng kể cho ngành Bảo tàng và Bảo tồn Di sản văn hóa Việt Nam Năm 2010, xây dựng chương trình đào tạo gồm nhiều chuyên ngành chuyên sâu Năm 2012, Khoa Bảo tàng đổi tên thành Khoa Di sản Văn hóa
Trang 1817
1.1.2.2 Công tác nghiên cứu khoa học
Ngoài việc giảng dạy, đội ngũ giảng viên của khoa cũng tích cực nghiên cứu khoa học Đến nay, khoa đã tham gia nghiên cứu thành công khá nhiều đề tài khoa học từ cấp Trường đến cấp Nhà nước Hàng năm, hưởng ứng cùng toàn trường, Khoa Di sản văn hóa tổ chức cho sinh viên được tham gia nghiên cứu khoa học Những đề tài hay được đưa lên cấp Trường và thậm chí lên cấp Bộ Qua hoạt động này, sinh viên được trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệm trong việc viết luận văn để chuẩn bị cho viết khóa luận tốt nghiệp năm thứ tư Đồng thời, sinh viên có cơ hội được thể hiện năng lực của mình, có cơ hội sáng tạo và đóng góp ý tưởng mới cho ngành văn hóa và xã hội
1.1.2.3 Một số công việc khác khoa đã thực hiện
Tham gia khai quật khảo cổ khu di tích Hoàng thành Thăng Long năm
2003 (50 sinh viên Bảo tàng khóa 20 cùng 2 giảng viên Nguyễn Tiến và Nguyễn Sỹ Toản)
Thực hiện chủ trương đổi mới hoạt động của bảo tàng; tham gia sưu tầm, tổng kiểm kê hiện vật bảo tàng và nâng cấp bảo tàng
Tham gia nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị của Thành cổ; tổ chức Hội thảo khoa học của giảng viên và sinh viên
Tham gia xây dựng nhà truyền thống cho một số quận – huyện và các
cơ quan công an trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận
Đổi mới phương pháp giảng dạy, gắn lý luận với thực tiễn Hiện nay đối với môn học “Cổ vật Việt Nam”, ngoài việc đưa sinh viên đến các bảo tàng, bước đầu khoa đã phối hợp với Trung tâm UNESCO - Nghiên cứu bảo tồn cổ vật Việt Nam đưa “cổ vật” vào giảng đường cho sinh viên nghiên cứu trực quan Đối với các môn học khác, khoa cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu để tìm
Trang 19- Phối hợp với Bảo tàng lịch sử Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực
- Phối hợp với Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; với Bảo tàng Nhân học trong đào tạo ngành Bảo tàng học
- Phối hợp với Trung tâm UNESCO - Nghiên cứu bảo tồn cổ vật Việt Nam đưa cổ vật vào giảng đường cho sinh viên nghiên cứu trực quan
Mở rộng mối quan hệ hợp tác với các bảo tàng trong nước và khu vực nhằm gắn đào tạo lý luận với thực tiễn, mở rộng quan hệ hợp tác đào tạo với các Viện, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Khái niệm đồ gốm
Nói về khái niệm đồ gốm có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng cơ bản đều chỉ một sản phẩm là sự kết hợp giữa đất, nước và lửa Dưới đây, xin
đưa ra một số khái niệm như sau:
Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Gốm là sản phẩm làm từ đất sét và hỗn
hợp đất sét nung”1
1 Hoàng Phê (2004), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ xuất bản, tr.432
Trang 2019
Còn họa sĩ Trần Khánh Chương cho rằng: “Gốm là một từ chung nhất
để gọi các loại sản phẩm được làm bằng đất và phải nung qua lửa mới có thể
sử dụng được”1
Tuy nhiên, gốm chia ra nhiều loại: gốm đất nung, gốm sành nâu, gốm sành xốp, gốm sành trắng và đồ sứ Những loại này tuy đều gọi chung là gốm nhưng không hoàn toàn giống nhau, đặc biệt là chất đất và nhiệt độ
Gốm đất nung là loại gốm ra đời đầu tiên, là cơ sở của các loại gốm khác phát triển Nguyên liệu là đất sét, có thể tìm thấy ở khắp nơi trong nước,
tương đối mịn hạt, pha thêm cát Nhiệt độ nung thấp (600 – 900˚C), cách
thành hình và nung đơn giản Gốm cứng nhưng vẫn thấm nước Gốm có nhiều màu sắc khác nhau như đen sẫm, đen nhạt, nâu đỏ, vàng nhạt hoặc trắng mốc Gốm đất nung được nặn bằng tay hoặc vuốt bằng bàn xoay đơn giản Về trang trí, chủ yếu sử dụng hoa văn hình học, nét vẽ chìm là phương tiện thể hiện chính, không có màu, men, vẽ trực tiếp lên sản phẩm còn ướt hoặc hơi khô
Đồ sành chủ yếu được làm từ đất sét dẻo, ít tạp chất, chủ yếu pha thêm cát, độ nung cao, bóng nhoáng và không thấm nước Sự ra đời của đồ sành thực sự là một bước phát triển cao so với đất nung Đồ sành có sành nâu, sành trắng và sành xốp
Gốm sành nâu là bước phát triển cao hơn của gốm đất nung về mặt kỹ thuật Sản phẩm gốm sành nâu thường có kích thước lớn Hình dáng đơn giản, thường là hình ống hoặc phình bụng, ít có chân đế riêng, dáng khỏe, vững chãi Trừ một số gốm sành nâu có tráng men và vẽ hoa văn nét chìm trên lớp men của những thế kỷ sau, còn phần lớn gốm sành nâu được trang trí đơn giản, kế thừa mô típ và thủ pháp trang trí của gốm đất nung
Sau đồ gốm đất nung và sành nâu, phải kể đến đồ gốm sành xốp có từ thời Bắc thuộc và rất phát triển ở thời Lý, Trần Đồ gốm sành xốp lấy nguyên
1 Trần Khánh Chương, Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ Sách đã dẫn, tr.14
Trang 2120
liệu là đất sét trắng hoặc cao lanh trắng, được tráng men và nung ở nhiệt độ
cao (1200 - 1250˚C) Đây là loại sản phẩm mang đầy đủ vẻ đẹp của đồ gốm
nói chung về hình dáng, hoa văn trang trí, men, màu Đến thế kỷ XI, đồ gốm sành xốp phát triển rực rỡ và tiêu biểu là gốm hoa nâu, gốm chạm đắp nổi thời
Lý – Trần
Gốm sành trắng có độ nung cao hơn và kỹ thuật hoàn nguyên tốt hơn nên xương đất có chớm chảy tuy không phải như đồ sứ và màu men trắng ngả ánh xanh chứ không trắng ngà Tiêu biểu là gốm hoa lam thế kỷ XV – XVI
Đồ sứ là một bước phát triển cao hơn về kỹ thuật sản xuất cũng như phương pháp trang trí trên sản phẩm Đồ sứ chủ yếu làm bằng cao lanh có thêm đất sét trắng và một sồ loại đá Nguyên liệu làm sứ là loại nguyên liệu
tinh chất, chịu lửa cao, đến 1500˚C, có màu trắng, trong suốt, rắn chắc, bóng
loáng như thủy tinh Sản phẩm sứ có đặc điểm là trắng, trong, mỏng, nhẹ, họa tiết trang trí nhiều màu, tạo dáng mảnh dẻ, thanh thoát, trau chuốt Thủ pháp trang trí có sự đa dạng, sáng tạo kỹ thuật mới như in hoa, phun hoa, dán hoa,
đổ màu dưới men hoặc trên men Đồ sứ của nước ta tuy chưa xác định được xuất hiện vào thời gian nào nhưng đã có giả định cho rằng đồ sứ chỉ mới xuất hiện vài chục năm gần đây từ ngày có nhà máy sứ Hải Dương (1960)1
Trong thực tế, người ta vẫn có xu hướng tách sứ ra khỏi gốm bởi nghệ thuật chế tạo sứ đòi hỏi yêu cầu cao nhất về độ lửa, độ trong, bóng… nhưng xét cho cùng đồ sứ vẫn là một loại gốm Giáo sư, họa sĩ Nguyễn Văn Y đã
giải thích về điều này như sau: “Gốm là tiếng gọi chung nhất của mấy loại
trên Nhưng trên thị trường, người ta muốn tách sứ ra khỏi gốm, bởi cái bóng bẩy của nó khác các loại trên không ít Một phần còn do nguyên nhân lịch sử:
sứ ra đời rất muộn so với họ nhà gốm ổn định từ lâu Nếu ở Việt Nam thường gọi “Gốm và Sứ”, ở châu Âu thường gọi “Ceramique et Pocelaine” là đều do
1 Trần Khánh Chương, Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ Sách đã dẫn, tr.36
Trang 2221
thói quen hoặc có dụng ý, hoặc vô tình Nhưng về mặt khoa học, sứ trước sau chỉ là một loại gốm”
1.2.2 Khái niệm cổ vật, di vật, bảo vật quốc gia
Nói về khái niệm cổ vật, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Chẳng hạn như:
PGS.TS Đỗ Văn Ninh đã nêu: “Cổ vật là những di vật cổ, đẹp, quý
hiếm có giá trị kỹ thuật, có giá trị mỹ thuật, giá trị lịch sử, giá trị kinh tế”1
Trong cuốn “Đại cương về cổ vật Việt Nam” đưa ra khái niệm: “Cổ vật
là hiện vật văn hóa cổ, quý hiếm, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, mỹ thuật và giá trị kinh tế”2
Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 cũng giải
thích như sau: “Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về
lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”3
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra đặc điểm chung để nhận biết cổ vật, đó là:
Trang 23- Đồ giả cổ: loại sản phẩm được chế tạo ngày nay nhưng bắt chước mẫu
mã của đồ cổ thật, mục đích đánh lừa người mua
- Vật phỏng chế: những loại sản phẩm nổi tiếng thường được người đời sau bắt chước chế tạo lại giống hệt, hoặc học màu men tráng lên những vật phẩm có hình dáng khác, ví dụ gốm men ngọc thời Tống được các thời Minh, Thanh phỏng chế lại Nếu vật phỏng chế có từ một trăm năm tuổi trở lên cũng
có thể coi như cổ vật
Như vậy, ta thấy rằng vật phỏng chế và đồ cổ giả nếu đủ 100 năm tuổi vẫn được coi như đồ cổ, những loại sản phẩm khác không đủ tiêu chí của cổ vật Chỉ có cổ vật mới có đủ ba tiêu chí: cổ, quý hiếm, có giá trị tiêu biểu về
Trang 2423
lịch sử, mỹ thuật, kỹ thuật, kinh tế Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa cổ vật và các loại sản phẩm khác
1.2.3 Khái niệm sưu tập, sưu tập hiện vật bảo tàng, sưu tập tư nhân
Nhiều luận thuyết cho rằng, con người có “bản năng sưu tầm” những
đồ vật kỳ lạ, do tính hiếu kỳ của con người Luc Benoist – một học giả bảo
tàng của Pháp, trong cuốn “Bảo tàng và Bảo tàng học” đã viết: “Chúng ta
nhận thấy là đứa trẻ ngay từ 3 tuổi đã biết thu thập tất cả những đồ vật linh tinh nhất mà chúng nhặt được”1 Những đồ vật “linh tinh” ấy, qua ý thức được tập hợp lại với nhau theo những dấu hiệu chung nhất định và trở thành sưu tập Con người ở những độ tuổi khác nhau với những sở thích khác nhau,
đã sưu tầm những đồ vật mà mình yêu thích và gọi chúng là sưu tập như: sưu tập tem, sưu tập nắp chai, sưu tập tiền, sưu tập đồng hồ…Vậy sưu tập là gì?
Thuật ngữ sưu tập được bắt nguồn từ tiếng Latinh là Collectio, chuyển sang tiếng Pháp và tiếng Anh là Collection, và tiếng Nga là Kolecxia Trong
cuốn Đại bách khoa toàn thư của Liên Xô (cũ) có định nghĩa: “Sưu tập là sự
tập hợp có hệ thống một số lượng lớn hiện vật (cùng loại hoặc liên kết với nhau bởi nét chung của chủ đề)”2
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, giải thích khái niệm sưu tập theo hai
nghĩa:
- Nghĩa 1: Sưu tập là tìm kiếm và tập hợp lại
- Nghĩa 2: Sưu tập là tập hợp cái đã sưu tầm được theo hệ thống
Dưới góc độ di sản văn hóa, trong Luật Di sản văn hóa có nêu: “Sưu
tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu
1 Phan Khanh (1992), Bảo tàng – Di tích – Lễ hội, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.29
2 Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (1994), Sưu tập hiện vật bảo tàng, NXB Văn hóa Thông
tin, Hà Nội, tr.42
Trang 25như sau: “Sưu tầm là sự tìm kiếm, thu thập một cách có hệ thống, có mục
đích”2 Như vậy, sưu tầm là hoạt động tìm kiếm có hệ thống, có mục đích tất
cả những thứ có thể sưu tầm, còn sưu tập cũng là tìm kiếm nhưng những thứ
đã tìm kiếm ấy được tập hợp lại theo những đặc điểm chung Một sưu tập có thể là tập hợp của nhiều đợt sưu tầm
Trong lý luận Bảo tàng học, thuật ngữ hiện vật bảo tàng cũng được nghiên cứu, phân tích và các nhà bảo tàng học đã đưa ra nhiều khái niệm cho thuật ngữ này Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài khóa luận, em xin đưa ra một
khái niệm mà theo em là đầy đủ nhất như sau: “Hiện vật bảo tàng là nguồn
nhận thức trực tiếp cảm tính cho nhận thức của con người, tiêu biểu về văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng những hiện vật về thế giới tự nhiên xung quanh ta, bản thân nó chứng minh cho một sự kiện, hiện tượng nhất định nào đó trong quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên phù hợp với loại hình bảo tàng được sưu tầm, bảo quản nhằm phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục khoa học”3
Từ việc tìm hiểu khái niệm “sưu tập” và khái niệm “hiện vật bảo tàng”, chúng ta tiếp tục tìm hiểu thế nào là “sưu tập hiện vật bảo tàng”? Hiện nay, khái niệm này được đề cập đến khá nhiều trong các công trình bảo tàng học trên thế giới và Việt Nam Các chuyên gia bảo tàng học của Cộng hòa Liên
1 Luật Di sản văn hóa (2001), Điều 4 – Mục 9, NXB Chính trị Quốc gia, tr.13
2 TS Nguyễn Thị Huệ, ThS Trần Đức Nguyên (2011), Giáo trình sưu tầm hiện vật bảo tàng, NXB Lao động, Hà Nội, tr.18
3 Cơ sở bảo tàng học, tập 1, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 1990, tr.81
Trang 2625
bang Nga cho rằng: “Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những hiện vật
khác nhau cùng chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định không kể mỗi một hiện vật trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay văn hóa”1
Các nhà nghiên cứu về bảo tàng và bảo tàng học Việt Nam đã đưa ra khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng như sau:
“Sưu tập hiện vật bảo tàng hay sưu tập cổ vật là một tập hợp những hiện vật bảo tàng có liên quan đến một hoặc vài dấu hiệu chung về hình thức, chất liệu, nội dung; có tầm quan trọng và có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật và được sắp xếp nghiên cứu có hệ thống và tạo thành một bộ tương đối hoàn chỉnh”2
Mặc dù có nhiều khái niệm được đưa ra, song các khái niệm về sưu tập hiện vật bảo tàng đều khẳng định nội dung, yếu tố quan trọng của một sưu tập là:
- Đối tượng tập hợp thành sưu tập hiện vật bảo tàng phải là các hiện vật bảo tàng;
- Chúng có cùng một hay nhiều dấu hiệu chung;
- Chúng đang được lưu giữ bảo quản trong bảo tàng;
- Chúng cùng phản ánh về một vấn đề nào đó
Từ những phân tích trên, chúng ta hiểu được thế nào là sưu tập hiện vật bảo tàng, để từ đó có cơ sở nghiên cứu, khai thác những vấn đề khác của sưu tập và hoạt động xây dựng sưu tập Đối với bảo tàng, sưu tập là vốn cố định
và là tài sản của mỗi bảo tàng, là biểu hiện bản sắc đặc trưng, giá trị đích thực của bảo tàng
1 Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga (bản dịch), Cục Di sản văn hóa, Hà Nội, 2006, tr.235
2 Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (1994), Sưu tập hiện vật bảo tàng Sách đã dẫn, tr.37
Trang 2726
Hiện nay, không chỉ có bảo tàng nhà nước mới lưu giữ di sản văn hóa
mà các bảo tàng tư nhân, các tổ chức, cá nhân cũng lưu giữ một số lượng không nhỏ di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể với loại hình, chất liệu đa dạng, phong phú Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 thể hiện sự tiến bộ của Nhà nước khi công nhận quyền sở hữu tư nhân về cổ vật Vì vậy, thế hệ những nhà sưu tầm cổ vật xuất hiện ngày càng nhiều và chơi đồ cổ trở thành một thú vui lành mạnh, cũng vừa là cách để giữ gìn, phát huy di sản văn hóa của nước ta
Từ khái niệm sưu tập, khái niệm cổ vật, chúng ta có thể hiểu khái niệm sưu tập cổ vật tư nhân là một tập hợp các cổ vật được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, chất liệu, nội dung, thời gian, không gian… do tư nhân sở hữu và quản lý
Sưu tập cổ vật gốm thế kỷ XI – XVI đang được lưu giữ tại Khoa Di sản văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội không phải là một sưu tập hiện vật bảo tàng cũng không phải sưu tập cổ vật tư nhân Chúng ta nên hiểu sưu tập này theo khái niệm sưu tập của Luật Di sản văn hóa mà bài viết đã trình bày
Trang 2827
CHƯƠNG 2 SƯU TẬP CỔ VẬT GỐM THẾ KỶ XI – XVI ĐANG ĐƯỢC LƯU GIỮ
TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA
2.1 Sự xuất hiện và phát triển của đồ gốm ở Việt Nam
2.1.1 Sự xuất hiện đồ gốm và những bước phát triển
Ngày nay, sự có mặt của đồ gốm trong cuộc sống hàng ngày là điều không thể thiếu Đồ gốm ở khắp mọi nơi, từ bắc vào nam, từ miền xuôi tới miền ngược, từ nơi đô thị đến đường làng ngõ xóm, đồ gốm có mặt trong mỗi gia đình Đồ gốm được sử dụng với nhiều công dụng khác nhau, từ đồ đựng,
đồ đun nấu, đến những đồ uống rượu, đồ thờ, đồ trang trí… Gốm còn được sử dụng trong xây dựng, đó là những viên gạch xây, gạch lát, ngói, đầu rồng, đầu phượng, những đề tài trang trí kiến trúc khác, v.v Vì thế, chúng ta coi sự tồn tại của chúng là bình thường bởi khi chúng ta sinh ra, chúng đã tồn tại từ rất lâu trước đó, ít ai tìm hiểu về sự ra đời của chúng Đồ gốm được sinh ra không phải là tự nhiên mà có nguyên do và những đồ gốm thường ngày chúng
ta thấy không phải ngay khi ra đời đã như vậy mà chúng đã phải trải qua một quá trình rất dài mới có thể đạt đến trình độ tinh xảo như hiện nay Suy cho cùng, bất cứ thứ gì do con người tạo ra cũng nhằm mục đích phục vụ cho đời sống của con người và đồ gốm cũng vậy
Đồ gốm, theo định nghĩa ở trên, là sản phẩm làm từ đất và được nung qua lửa Vậy điều chắc chắn rằng, đồ gốm chỉ được ra đời sau khi con người tìm ra lửa và biết tạo ra lửa Tuy nhiên, sau khi con người biết tạo ra lửa, đồ gốm vẫn chưa xuất hiện ngay mà phải trải qua một thời gian khá dài, qua một quá trình lao động sản xuất mới biết làm ra đồ gốm Các nhà nghiên cứu cho rằng, đồ gốm xuất hiện vào thời đại đá mới, cách ngày nay chưa đến một vạn năm Nguyên do nào đã dẫn tới sự xuất hiện của đồ gốm và đồ gốm đã phải
Trang 29để nấu chín thức ăn Mặt khác, trong quá trình lao động sản xuất, lăn lộn với bùn đất, con người đã phát hiện ra rằng khi cho một lượng nước vừa phải vào đất, nhào nặn thành một chất dẻo sền sệt, có thể nặn thành nhiều hình dáng khác nhau, đem phơi hong dưới ánh mặt trời, phôi đất trở nên cứng hơn, khi nung qua với một nhiệt độ nhất định, phôi đất trở nên cứng rắn và không thấm nước
Có một giả thuyết đáng chú ý nói về sự hình thành đồ gốm khi quan sát thấy những mảnh gốm vào giai đoạn sớm mang rõ dấu hình đan Giả thuyết này cho rằng ban đầu người ta đan một chiếc giỏ bằng tre, nứa rồi trát đất đã được nhào nặn vào trong, do ngẫu nhiên đồ đựng bị cháy, chỉ còn hình thù bằng đất đã được nung Người ta đổ nước vào, nước không thấm ra ngoài, thế
là đồ gốm ra đời
Việc làm ra đồ gốm là một phát minh vĩ đại của loài người, đưa xã hội
loài người đến một bước phát triển cao hơn “Fr Enghen, trong cuốn “Nguồn
gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước” đã cho sự ra đời của đồ gốm là một tiêu chí để xác định sự kết thúc của thời đại mông muội, mở đầu cho thời đại dã man của loài người Các nhà khảo cổ học trên thế giới cũng cho rằng
sự ra đời của đồ gốm là biểu hiện cho sự kết thúc của thời đại đá cũ và mở đầu cho thời đại đá mới”1
1Hoàng Xuân Chinh (2011), Tiến trình gốm sứ Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr.11
Trang 3029
Sự ra đời của đồ gốm thể hiện trí tuệ to lớn, sức sáng tạo không ngừng của con người Nhiều kiến thức khoa học kỹ thuật được thực hiện khi làm ra
đồ gốm
Đồ gốm là sự kết hợp của đất, nước và lửa Đất nhào nặn với nước sau
đó nung trong lửa Đất ban đầu trở thành đồ gốm, không những không sợ nước mà còn đựng được nước Điều này đúng với nguyên lý biến đổi vật chất
từ dạng này sang dạng khác, từ loại vật chất này sang loại vật chất khác Để
có được đồ gốm phải trải qua một quá trình thử nghiệm lâu dài, có thể từ chưa nung hoặc nung với nhiệt độ thấp nên sản phẩm vẫn thấm nước đến nung với nhiệt độ cao khoảng 700 - 1000˚C, sản phẩm mới không thấm nước
Việc lựa chọn đất để nặn phôi gốm cũng rất quan trọng bởi tính dẻo giữa các loại đất rất khác nhau, có loại đất dễ nặn và có loại đất rất khó nặn Trong quá trình hong phơi phôi gốm dưới ánh mặt trời và nung trong lò, độ co rút của các loại đất cũng khác nhau, làm cho sản phẩm bị biến dạng và nứt vỡ
Để khắc phục tình trạng này, người xưa qua kinh nghiệm thực tế đã biết pha thêm một số tạp chất vào trong đất như than thực vật, cát, mảnh vụn vỏ nhuyễn thể…
Đồ gốm ban đầu được nặn bằng tay khá thô hoặc làm bằng tay theo kiểu dải cuộn (nặn thành từng dải rồi cuộn lại thành từng vòng to nhỏ khác nhau rồi xếp chồng lên, trực tiếp miết chúng dính với nhau theo kiểu dáng đã định trước) Phương pháp dải cuộn làm ra những đồ gốm khá đẹp, hình dáng tròn trịa hơn, thành gốm đều đặn hơn Tới thời đại hậu kỳ đá mới, cách ngày nay khoảng 5000 – 6000 năm, người thợ gốm mới biết sử dụng phương pháp bàn xoay Bàn xoay được làm từ một chiếc cọc và một tấm ván tròn phẳng Người thợ dùng chân hoặc tay điều kiển tấm ván chuyển động xoay tròn liên tục Trên tấm ván, ở chính giữa đặt khối nguyên liệu đất đã được nhào nặn với nước Khi tấm ván chuyển động xoay tròn, người thợ dùng tay vuốt khối đất
Trang 3130
thành các hình thù, kiểu dáng đồ vật nhất định Sản phẩm cân đối tròn trịa, thành mỏng đều, trên mặt trong miệng gốm thường lưu lại những đường vân tròn song song đều đặn là dấu tích khi vuốt bằng bàn xoay tạo nên Các nhà khảo cổ gọi đường văn đó là “luân văn” Người thợ gốm không những sử dụng bàn xoay để tạo hình mà còn sử dụng để tu sửa phôi gốm, khắc vạch hoa văn, nhất là các đường chỉ chìm huyền văn hoặc phân chia các cành hoa văn
Hoa văn trang trí trên gốm ban đầu chỉ là những hoa văn hình học, chấm dải, khắc vạch…về sau trang trí những hoa văn phức tạp hơn như hình hoa lá, chim, cá, thú, người, rồng, phượng… Hoa văn trang trí từ tĩnh đến động, từ những họa tiết đơn lẻ đến những bức tranh phong cảnh, cảnh sinh hoạt vô cùng phong phú, từ đơn sắc đến nhiều màu Trang trí trên gốm đã trở thành nghệ thuật, thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của con người
Sự sáng tạo ra men gốm là một bước tiến lớn trong công nghệ sản xuất gốm sứ Đồ gốm ban đầu không có men, người ta chỉ sử dụng các chất được oxit hóa để tạo màu cho gốm Khi con người sáng tạo ra men đã khiến cho đồ gốm không những là đồ dùng sinh hoạt hàng ngày mà còn trở thành một vật dụng trang trí bởi tính thẩm mỹ cao do màu sắc và độ láng bóng của lớp men Men gốm giai đoạn sớm được chế thành từ đá vôi và một số khoáng chất trong đất sét, do đó gọi là men đá vôi, sau khi nung men có màu xanh lục, xanh vàng hoặc vàng xám Bên cạnh đó, có loại men chì do người ta bỏ thêm chì vào để hạ thấp nhiệt độ nóng chảy Về sau, người ta biết sử dụng than thực vật để chế tạo ra men, gọi là men thực vật Men gốm có thể khắc phục được các nhược điểm của đồ gốm là tính thấm nước và tạp chất bẩn, lại vừa làm cho đồ gốm không còn hình dáng thô như trước mà thay vào đó mang tính thẩm mỹ cao, làm phong phú thêm đời sống sinh hoạt văn hóa của con người Và quan trọng hơn, sự ra đời của men đặt cơ sở vật chất cho sự phát minh ra đồ sứ
Trang 3231
Sự phát triển của đồ gốm cũng tương ứng với lịch sử phát triển của lò gốm Dựa vào phế tích lò gốm phát hiện được nhờ khai quật khảo cổ và hiện trạng những lò gốm thủ công của các dân tộc thiểu số gần đây còn tồn tại ở một số nước trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã nêu lên một cách khái quát các loại lò gốm với các tên như lò gốm không có lò, lò cóc, lò nằm, lò tròn, lò mằn thầu, lò hình trứng, lò móng ngựa, lò bầu, lò rồng, lò rồng có bậc cấp…
Trong giai đoạn mới ban đầu và cả giai đoạn gốm thời nguyên thủy, các nhà nghiên cứu khá thống nhất cho rằng đồ gốm được nung ngoài trời, và gọi
là giai đoạn “lò gốm” không có lò Để hình dung một lò gốm không có lò là như thế nào, xin dẫn ra trường hợp nung gốm của dân tộc thiểu số người Thái
ở Tây Song Bản Nạp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc như sau: “Trên một khoảng
đất bằng, người ta xếp củi cành cây thành hình chữ nhật, phía ngoài dày khoảng 15cm, ở giữa mỏng hơn, chỉ khoảng 8cm Sau đó xếp các phôi gốm đã được hong khô lên trên lớp củi, tiếp tục chất rơm rạ lên trên phôi gốm; phía ngoài lớp rơm rạ lại phủ lên một lớp bùn mỏng khoảng 1cm, nhìn qua giống như một gò đất nhỏ Phía dưới bốn góc gò đào bồn hố, phía trên gò xuyên thủng mấy lỗ nhỏ làm lỗ thoát khói Sau đó, người ta châm lửa ở bốn hố đó Đốt như vậy khoảng mười mấy giờ, để cho toàn bộ củi trong gò đất cháy hết Ngày hôm sau, bới than ra là có thể lấy được sản phẩm Nung như thế này, chỉ một số ít chỗ tiếp xúc với lớp bùn thì hơi đen còn hầu hết sản phẩm có màu đỏ gạch, nên gọi là gốm đỏ Qua đo đạc thấy độ nung lên tới trên 700˚C”1
Vào khoảng cuối thời đại đá mới sơ kỳ đồng thau, lò gốm nguyên thủy
ra đời có cấu trúc khá đơn giản, bao gồm một bầu lò cao hơn và một bầu lửa thấp hơn, giữa bầu lò và bầu lửa có các rãnh là đường lửa Tất cả đều đào trong đất, không có vòm lò Sau khi xếp phôi gốm vào lò dùng bùn đắp lên
1 Hoàng Xuân Chinh, Tiến trình gốm sứ Việt Nam Sách đã dẫn, tr.19
Trang 3332
làm vòm lò Sau này, muộn hơn một chút, qua kinh nghiệm thực tế, người thợ muốn có độ nung cao hơn thì phải có vòm lò kín Với lò vòm kín bầu lửa sâu hơn, độ nung trong lò phân bố đều hơn Nhưng độ nung chỉ đạt tới 900˚C
Để có được độ nung trên 1000˚C, lò gốm được cải tiến và đã ra đời ống khói, lợi dụng sức gió tự nhiên làm tăng nhiệt độ trong bầu lò và thải ra ngoài các khí thừa Độ nung có thể tăng lên đến 1200˚C, không những nung được
đồ gốm có chất lượng cao mà còn có thể nung được đồ sứ Lúc này, một lò gốm đúng nghĩa, có đầy đủ các bộ phận cần thiết đã ra đời Ở nước ta, đã phát hiện được khá nhiều lò gốm trong thời kỳ mười thế kỷ đầu Công nguyên ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa
Các loại lò tròn hay gần tròn, hình trứng, mằn thầu tuy hình dáng khác nhau song cấu trúc gần giống nhau Lò rồng thì khác, đó là những lò riêng biệt nối thông với nhau để lợi dụng sức nóng từ thấp đến cao vừa tiết kiệm nhiên liệu vừa tiết kiệm thời gian, mỗi lần ra lò với số lượng lớn Ở nước ta,
từ thời kỳ mười thế kỷ đầu Công nguyên cho đến thời Lê – Nguyễn, chủ yếu vẫn sử dụng loại lò hình gần tròn hay hình móng ngựa, thường được gọi là lò cóc hay lò nằm, chỉ đến cuối thế kỷ XVIII với sự xuất hiện của khu gốm sứ Móng Cái mới sử dụng lò rồng và nhanh chóng phát triển vào Bát Tràng và Biên Hòa
2.1.2 Lịch sử gốm Việt Nam
Gốm Việt Nam có nguồn gốc lâu đời, có truyền thống và phát triển toàn diện với nghệ thuật giản dị, mộc mạc chắc khỏe rất đồng đều, mang đậm nét dân gian và tính dân tộc Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật và kỹ thuật trên nhiều sản phẩm tạo nên những vẻ độc đáo riêng biệt Đặc điểm dân gian và dân tộc không những thấm sâu, bộc lộ rõ nét trên đồ gốm trong gia đình, trong kiến trúc mà ngay cả trong những đồ gốm cao cấp phục vụ cho tầng lớp trên và những đồ thờ cúng
Trang 34Theo các tài liệu của các nhà khảo cổ học, gốm nước ta xuất hiện cách đây gần một vạn năm, nhưng phát triển mạnh vào cuối thời đại đồ đá mới, chuyển sang đồ đồng, với những sản phẩm gốm đất nung có hình dáng đẹp và hoa văn hình học đa dạng, phong phú Trong quá trình phát triển của mình, gốm Việt trải qua một thời gian dài từ gốm đất nung đến gốm sành nâu, gốm sành xốp, gốm sành trắng, đồ sứ, tạo nên những gương mặt riêng mang dấu ấn chất liệu và kỹ thuật sản xuất Gốm Việt Nam cũng trải qua các thời kỳ tiền
sử, sơ sử, phong kiến, hiện đại mà ngày này người ta thường nhắc tới các loại gốm đất nung thời đồ đồng, gốm Hán Việt, gốm men ngọc, gốm hoa nâu thời
Lý – Trần, gốm hoa lam, gốm chạm đắp nổi, gốm tam sắc thời Lê – Mạc… Ở những thời kỳ khác nhau, nghệ thuật gốm đều mang những dấu ấn của thời đại, tạo nên những đặc điểm nghệ thuật gốm riêng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời chúng là những tài liệu sống phản ánh nghệ thuật tạo hình của các thời đại
2.1.2.1 Gốm Việt Nam thời tiền sơ sử
Gốm Việt Nam được mở đầu từ văn hóa Bắc Sơn Gốm sơ kỳ và trung
kỳ thời đại đá mới chủ yếu là gốm thô pha cát thô hoặc mịn để tránh bị nứt trong lúc nung Gốm chủ yếu nặn bằng tay, nên thành gốm dày mỏng không
Trang 3534
đều, hình dáng không được tròn trịa, cân đối Thời này cũng chưa có các lò nung hoàn hảo, phần lớn là nung ngoài trời hoặc chỉ có lò nửa dưới đào trong đất nên độ nung tương đối thấp, gốm không được cứng Lúc này, chủng loại
đồ gốm rất đơn giản, kiểu dáng khá đơn giản, phần lớn là đồ miệng đứng hoặc hơi loe Hoa văn hết sức nghèo nàn đơn giản, chủ yếu chỉ có văn thừng thô
Sang giai đoạn hậu kỳ thời đại đá mới, đồ gốm ở các vùng thể hiện sắc thái địa phương rất đậm nét, hình thành nên các văn hóa riêng Đồ gốm lúc này đã được chế tác khá cẩn thận, đẹp, một số lớn đã biết chế tạo gốm bằng phương pháp bàn xoay Chất liệu gốm lúc này tuy vẫn còn thô là chính, nhưng cát pha trộn có kích thước và số lượng giảm hơn nhiều, thành gốm đều đặn và mỏng hơn trước Hoa văn trang trí cực kỳ phong phú Đồ gốm lúc này không những nhiều về số lượng, mà các loại hình kiểu dáng cũng phong phú,
đa dạng Có thể nói đây là bước chuẩn bị cho bước nhảy vọt phát triển lên đỉnh cao của nghề gốm nguyên thủy Việt Nam trong giai đoạn văn hóa Tiền Đông Sơn và Đông Sơn ở miền Bắc, văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh ở miền Trung và văn hóa Đồng Nai ở miền Nam
Sau thời Văn Lang, Âu Lạc nước ta trải qua trên một ngàn năm Bắc thuộc Bộ mặt đồ gốm nước ta trong thời kỳ này vừa phải đấu tranh để bảo vệ truyền thống gốm đã hình thành từ thời dựng nước, vừa tiếp thu những tinh hoa của dòng gốm phương Bắc, nên vẫn tiếp tục phát triển và có màu sắc mới Các nhà nghiên cứu gốm gọi lịch sử gốm thời kỳ này là “Gốm Việt Nam 10 thế kỷ đầu Công nguyên”
2.1.2.2 Gốm Việt Nam 10 thế kỷ đầu Công nguyên
Trước đây, khi nói đến gốm thời Bắc thuộc, ta chỉ chú ý đến loại gốm
mà kiểu dáng và hoa văn trang trí cũng như màu men hoàn toàn giống với đồ gốm thời Hán, Lục Triều và Tùy Đường phát hiện trong các ngôi mộ gạch kiểu vòm cuốn Thực ra, gốm thời này, phong phú phức tạp hơn nhiều Chúng
Trang 3635
không những cho thấy sự bành trước của dòng gốm phương Bắc, mà còn phản ảnh sức sống của truyền thống gốm dân tộc đã được hình thành từ thời dựng nước
Về đại thể, có thể nói có 2 dòng gốm song song phát triển và có ảnh hưởng qua lại suốt trên một ngàn năm thời Bắc thuộc Dưới đây, xin lần lượt giới thiệu 2 dòng gốm, đó là:
Dòng gốm thô tiếp nối truyền thống gốm văn hóa Đông Sơn, cho đến nay chúng ta phát hiện được chưa nhiều nên ít được chú ý, song không phải không có Gốm thô trong thời Bắc thuộc, tuy có được pha thêm cát nhưng với
số lượng rất ít, hạt cát cũng mịn hơn, nên một số nhà nghiên cứu gọi loại gốm thô này là gốm thô mịn, có nghĩa là nó vừa thô vừa mịn Còn về hoa văn, chủ yếu vẫn là văn thừng và vài đường văn khắc vạch đơn giản, đơn giản hơn nhiều so với gốm văn hóa Đông Sơn Về màu sắc, nếu như gốm văn hóa Đông Sơn lưu vực sông Hồng có màu xám trắng hay trắng mốc, khu vực sông
Mã, sông Cả có màu xám thì gốm thời này thường có màu hồng nhạt và một
số có màu đỏ gạch Về chủng loại, các mảnh miệng và chân đế có thể thấy chúng gồm các loại đồ đun nấu và đồ đựng thường dùng hàng ngày như nồi, niêu, vò, bình, bát…với các kiểu miệng loe, chân đế choãi hình vành khăn cao thấp, to nhỏ khác nhau Đáng chú ý hơn cả là đồ gốm phong cách Đông Sơn tùy táng trong mộ gạch kiểu vòm cuốn, có mặt ở đây số lượng không nhiều, nhưng kiểu dáng và hoa văn trang trí khá độc đáo, vẫn phảng phất hình bóng
đồ gốm Đông Sơn với độ đậm nhạt khác nhau
Dòng gốm mang phong cách gốm Trung Quốc là sản phẩm gốm cao cấp lúc bấy giờ để phục vụ cho cuộc sống của tầng lớp quan lại quý tộc người Hán và người Việt So với gốm truyền thống bản địa thì dòng gốm này được làm bằng phương pháp bàn xoay nhanh, nên gốm dày mỏng đều đặn, kiểu dáng tròn trịa, được nung trong lò Gốm trang trí đơn giản, thường là vài
Trang 3736
đường chỉ chìm chạy quanh thân gốm hoặc vài đường văn sóng nước, phổ biến là văn in hình học Đáng chú ý hơn cả và cũng là tiêu biểu cho sự tiến bộ của công nghệ chế tạo đồ gốm lúc bấy giờ là kỹ thuật làm men và phủ men
Có thể nói, đây là lần đầu tiên gốm men ra đời trên đất nước ta
Từ những điều vừa trình bày ở trên chúng ta có thể thấy trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, đồ gốm và nghề gốm nước ta vẫn tiếp tục phát triển và
có những tiến bộ rất lớn trong công nghệ sản xuất gốm Sự có mặt của hai dòng gốm trên cho thấy sức sống mạnh mẽ của truyền thống gốm dân tộc đã được hình thành từ thời dựng nước đủ sức chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang, đồng thời cũng cho thấy văn hóa gốm Việt Nam không đóng kín,
mà luôn mở rộng tiếp thu những nhân tố tiến bộ để phát triển, tạo điều kiện cho sự bùng nổ mạnh mẽ sau khi giành được độc lập trong thời Lý - Trần
2.1.2.3 Gốm Việt Nam thời Lý - Trần
Dành được độc lập dân tộc sau hơn ngàn năm Bắc thuộc, nhờ sức sống mãnh liệt và sức sáng tạo, hấp thu cái mới không ngừng của nền văn hóa dân tộc, những người thợ gốm nước ta đã đưa công nghệ sản xuất đồ gốm nước ta lên một bước phát triển mới
Phổ biến và tiêu biểu nhất cho gốm thời Lý là gốm men ngọc, gọi như vậy vì màu men của gốm khiến chúng ta liên tưởng đến ngọc thạch Gốm men
ra đời và phát triển mạnh mẽ trong thời Lý, tiếp tục tồn tại trong thời Trần, cho mãi đến đầu thế kỷ XV
Gốm men ngọc thời Lý - Trần được làm từ đất sét trắng, và có thể có pha thêm một tỷ lệ nhất định cao lanh, đất được sàng lọc kỹ càng, tạo hình bằng bàn xoay nên thành gốm tương đối mỏng đều đặn, hình dáng tròn trịa cân đối, được nung với nhiệt độ cao, xương gốm đã chớm chảy, cứng, gõ vào tiếng kêu thanh Đặc trưng cơ bản cũng như giá trị của loại gốm này là ở màu
Trang 38có chiều sâu, ẩn hiện lung linh
Hoa văn trên gốm men ngọc thường gặp nhất là hình ảnh hoa sen và hoa cúc dây… Có thể nói, hầu hết bát, đĩa, ấm, liễn, âu gốm men ngọc thời Lý
- Trần nhìn tổng thể hoặc từng bộ phận, ít nhiều đều gắn với hình ảnh sen, có khi là gương sen, có khi là cánh sen, có khi là lá sen, có khi là cả một bông sen Nếu như hình ảnh hoa lá sen bắt gặp trong nhiều loại sản phẩm khác nhau từ, bát, đĩa, ấm, âu, liễn, thì hình ảnh hoa cúc chủ yếu trang trí trong lòng loại bát sâu lòng với các đồ án hoa cúc dây chằng chịt khắp lòng bát
Thời Lý - Trần, bên cạnh gốm men ngọc, còn có loại gốm hoa nâu cũng được đánh giá cao về nghệ thuật tạo dáng và nghệ thuật trang trí, lại dân dã, bình dị, rất Việt Nam, không đâu có
Gốm hoa nâu được làm từ đất sét thường hay đất sét trắng, có pha thêm một ít cao lanh, phủ men trắng ngà, trang trí hoa văn bằng phương pháp khắc vạch và bôi màu nâu lên hoa văn sau khi phủ men, rồi đem nung
Trong quá trình phát triển mấy trăm năm, gốm hoa nâu từ chỗ chỉ làm
ra những đồ dùng hàng ngày kích thước nhỏ trang trí các hình hoa lá đơn giản tiến lên sản xuất ra những đồ đựng to lớn hoa văn trang trí phức tạp cầu kỳ, nhưng về loại hình, kiểu dáng và hoa văn vẫn giữ nguyên phong cách chung của gốm hoa nâu, chắc khỏe, thành dày, cân đối, tráng men màu trắng ngà, khắc hoa lá, động vật rồi tô màu Có thể nói phương pháp trang trí hoa văn trên gốm hoa nâu từ bố cục, nét vẽ đến tô màu là sự kết hợp của hội họa và điêu khắc
Trang 3938
Hoa văn trên gốm hoa nâu thường là hoa sen, hoa súng, hoa cúc, hoa thị, hoa chanh và hình động vật như cò, công, thước hoặc cá tôm Hãn hữu lắm mới gặp hình rồng hoặc lực sĩ đấu giáo Hoa văn được bố cục thành mảng, có chính có phụ Phần lớn hoa văn được sắp xếp vào trong các băng ngang với nhiều biến thể phong phú
Cũng trong thời Lý - Trần, nhưng xuất hiện muộn hơn chút ít, là loại gốm phủ men trắng ngà, không khắc vẽ hoa nâu Vào thời Trần, ngoài các loại trên, thỉnh thoảng còn gặp loại gốm men xanh lục Gốm men xanh lục thời Trần được các nhà chơi cổ vật nước ta xem là loại quý hiếm đặc biệt, thường gặp là bát và thạp
Tuy gốm hoa nâu được coi là đặc sản của thời Trần, nhưng nó đã ra đời
từ thời Lý và đến thời Trần thì đạt đỉnh cao, từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIV Sang thế kỷ XV với sự xuất hiện của gốm hoa lam, gốm hoa nâu mất đi địa vị độc tôn và mai một dần
Trong kỹ thuật sản xuất gốm cũng cần lưu ý rằng đối với gốm thời Lý, các đồ kích thước nhỏ như bát, đĩa, âu thì trong lòng hiện vật có 4 hoặc 5 dấu con kê, đó là dấu vết của kỹ thuật chế tác gốm, song đến thời Trần thì mất dần dấu tích đặc biệt này
Thời Lý - Trần việc sản xuất đồ gốm kiến trúc cũng khá phát triển để phục vụ cho việc xây dựng cung điện, chùa tháp nguy nga ở kinh thành cũng như ở quê hương và danh thắng khắp nước Thời Lý - Trần đã sản xuất ra nhiều loại gạch ngói như ngói ống, ngói mũi hài, ngói yếm, các loại gạch như gạch xây, gạch lát, trang trí các vòng hoa văn cúc dây, văn rồng phượng rất đẹp Có nhiều giá trị nghệ thuật hơn cả là các tượng đất nung trang trí trên bộ mái Có thể nói gạch ngói và các tượng đất nung thời Lý - Trần là rất đặc trưng, độc đáo, chưa thời nào có
Trang 4039
Tóm lại, sau khi đất nước được độc lập, cũng như nhiều ngành sản xuất khác, ngành sản xuất gốm thời Lý - Trần đã thoát ra khỏi ảnh hưởng của dòng gốm phương Bắc, phát triển mạnh mẽ với các dòng gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm men trắng ngà, gốm men xanh lục, gốm sành và các loại gốm kiến trúc, có giá trị sử dụng và giá trị nghệ thuật cao, đánh dấu một bước tiến quan trọng về công nghệ chế tạo cũng như nghệ thuật trang trí trong lịch sử gốm sứ Việt Nam
2.1.2.4 Gốm Việt Nam thời Lê – Nguyễn
Sau khi chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh vào đầu thế kỉ XV, nhà Lê xây dựng một nhà nước phong kiến vững mạnh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, trong đó có nghề làm gốm
Đặc trưng nổi bất nhất của gốm thời Lê - Nguyễn là sự ra đời và phát triển của gốm hoa lam Có thể nói, sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của gốm hoa lam đã dẫn đến sự suy tàn dần của gốm men ngọc và gốm hoa nâu Gốm hoa lam phát triển suốt thời Lê – Nguyễn và cho mãi tới hôm nay Gốm hoa lam không phải là sáng tạo của người thợ gốm Việt Nam mà từ Trung Quốc Tài liệu Trung Quốc cho biết vào thời Nguyên, người thợ gốm Trung Quốc đã biết làm ra gốm hoa lam mà họ gọi là gốm thanh hoa Sứ hoa lam trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, rầm rộ nhất suốt thời Minh, Thanh
Suốt mấy trăm năm tồn tại và phát triển, gốm hoa lam có lúc thịnh lúc suy, nhưng trước sau vẫn giữ được những đặc trưng cơ bản của riêng mình Khác với gốm men ngọc và gốm hoa nâu, gốm hoa lam là dòng gốm hoa văn
vẽ một màu dưới men, nung một lần nên không bị bong men và biến màu Gốm hoa lam là dùng chất lam côban vẽ các đồ án hoa văn lên mặt phôi gốm, sau đó phủ men thấu quang lên và nung với nhiệt độ cao
Về chất liệu, gốm hoa lam đã vượt qua các loại gốm trong các giai đoạn trước đó Gốm hoa lam được làm từ đất sét trắng, pha thêm cao lanh là loại