1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu tín ngưỡng thờ mẫu và việc trưng bày chuyên đề này tại bảo tàng phụ nữ việt nam

140 36 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài còn nhằm khẳng định vai trò của bảo tàng trong việc bảo tồn Di sản Văn hoá dân tộc và đồng thời đi sâu tìm hiểu giá trị Di sản Văn hoá phi vật thể mà bảo tàng phản ánh đó là tín n

Trang 1

TRường đại học văn hóa hμ nội

khoa di sản văn hóa - -

lý thị ngọc dung

TèM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ VIỆC TRƯNG BÀY CHUYấN ĐỀ NÀY TẠI

BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM

khóa luận tốt nghiệp ngμnh bảo tμng học Mã số: 52320205

Người hướng dẫn: PGS.TS Đặng Văn bμi

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Đối tượng nghiên cứu 7

3 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Bố cục của khoá luận 8

CHƯƠNG 1: BẢO TÀNG TRONG VIỆC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ 9

1.1 Một số khái niệm 9

1.1.1 Khái niệm bảo tàng, hiện vật bảo tàng và sưu tập hiện vật bảo tàng 9

1.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể 16

1.2 Bảo tồn Di sản văn hoá phi Vật thể 18

1.2.1 Nhận thức và quan điểm tiếp cận 18

1.2.2 Vai trò của Bảo tàng trong việc bảo tồn Di sản Văn hoá phi vật thể 24

1.3 Khái quát về Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam 27

1.3.1 Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam 27

1.3.2 Đặc trưng và chức năng của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam 29

CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 32

2.1 Đạo Mẫu trong hệ thống tôn giáo- tín ngưỡng của người Việt 32

2.1.1 Khởi nguồn của Tín ngưỡng thờ Mẫu 32

2.1.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu lưu truyền trong dân gian 34

2.1.3 Vai trò Đạo Mẫu trong hệ thống tôn giáo- tín ngưỡng người Việt 38

2.2 Thiết chế của Đạo Mẫu 41

2.2.1 Hệ thống điện thần 41

Trang 3

2.2.2 Không gian tâm linh với đạo thờ Mẫu 46

2.3 Nghi lễ Lên đồng- điều kiện để tín ngưỡng duy trì trong đời sống 48

2.3.1 Khái niệm Lên đồng 48

2.3.2 Mục đích lên đồng 49

2.3.3 Lên đồng (Hầu bóng)- Kho tàng sống của di sản văn hoá Việt Nam 50

2.4 Những giá trị cơ bản của Đạo Mẫu 53

2.4.1 Giá trị nhận thức Thế giới tự nhiên 53

2.4.2 Giá trị Lịch sử 54

2.4.3 Giá trị thẩm mỹ 54

2.4.4 Nghệ thuật Hát văn 55

2.4.5 Đạo Mẫu hướng niềm tin vào đời sống trần thế của con người 58

CHƯƠNG 3: BẢO TÀNG PHỤ NỮ VIỆT NAM GÓP PHẦN VÀO VIỆC PHÁT HUY TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM 61

3.1 Một số đổi mới trong Trưng bày ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam 61

3.1.1 Từ nhận thức đến thực tế 61

3.1.2 Thay đổi từ những bài học cụ thể 65

3.2 Trưng bày chuyên đề tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam 70

3.2.1 Quá trình hình thành trưng bày chuyên đề 70

3.2.2 Nội dung trưng bày chuyên đề 73

3.2.3 Số lượng và phân loại hiện vật có trong trưng bày chuyên đề 89

3.3 Những đánh giá bước đầu về giá trị Trưng bày chuyên đề “Tín ngưỡng thờ Mẫu: Tâm- Đẹp- Vui” tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam 91

3.4 Nhận xét về trưng bày chuyên đề 92

3.5 So sánh trưng bày tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam với trưng bày tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 95

3.6 Một số giải pháp về vấn đề sưu tầm và giới thiệu Di sản Văn hoá phi vật thể trong Bảo tàng 98

3.6.1 Những hạn chế 98

Trang 4

3.6.2 Một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế 100

KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Di sản văn hoá được coi là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, dân tộc, là chất liệu để gắn kết cộng đồng các dân tộc, là cơ sở để sáng tạo ra những giá trị tinh thần mới và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại

Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu và giáo dục khoa học có nhiệm vụ quan trọng là sưu tầm, bảo quản, trưng bày và phát huy giá trị của di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể, đây là những chức năng quan trọng nhất không thể thiếu mà xã hội đã giao cho bảo tàng

Trước đây, bảo tàng thiên về chức năng là nơi lưu giữ những hiện vật phản ánh về một sự kiện, hiện tượng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhận thức chính xác về di sản văn hoá phi vật thể (thể hiện ở Luật di sản văn hoá 2001 và được sửa đổi bổ sung năm 2009) thì việc trưng bày giới thiệu các di sản văn hoá phi vật thể trong bảo tàng ngày càng được chú ý hơn, hoàn thiện hơn

Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn liền với cộng đồng người nào đó, mang những đặc trưng và tính chất của cộng đồng Trong xã hội hiện đại, những giá trị văn hoá hiện đại tác động đến những giá trị văn hoá truyền thống, có thể nó sẽ hoà nhập với nhau cùng phát triển nhưng cũng có thể những giá trị văn hoá truyền thống sẽ bị phai mờ và bị thay thế bằng những giá trị văn hoá hiện đại Bảo tàng lúc này đóng vai trò là một thiết chế văn hoá có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống để chuyển giao cho thế hệ mai sau dưới dạng hoàn thiện gần với nguyên gốc nhất

Kho tàng Di sản Văn hoá của dân tộc Việt nam nói chung hay kho tàng

Di sản Văn hoá phi vật thể nói riêng thực sự rất đa dạng và phong phú Đảng

và nhà nước ta luôn luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất để cho những giá trị tinh

Trang 6

thần ấy, những giá trị được coi là “quốc hồn, quốc tuý” ấy tồn tại lâu dài cùng với dân tộc

Đạo Mẫu là tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa đích thực, mặc dù trong quá trình phát triển, nó đã thu nhận những ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo

và thậm chí cả Nho giáo nữa Đạo Mẫu lấy tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm đấng sáng

tạo và bảo trì cho vũ trụ và con người, là nơi con người ký thác những mong ước khát vọng về đời sống trần thế của mình và đạt tới sức khoẻ và tài lộc

(Phúc- Lộc- Thọ) Tuy có một thời gian dài Lên đồng- một nghi lễ đặc trưng nhất của tục thờ Mẫu bị cấm đoán và coi đó là một thứ mê tín dị đoan thì bất

chấp những sự cấm đoán ấy người ta vẫn âm thầm tiến hành Lên đồng, niềm

tin vào Mẫu (Mẹ) thôi thúc họ phải thực hành các nghi lễ nằm ngoài vòng luật

pháp đó Để rồi Lên đồng vẫn tiếp tục tồn tại đến ngày nay trong sự thành kiến và đồn thổi của xã hội, với sức sống mạnh mẽ nhờ vậy tín ngưỡng thờ Mẫu càng khẳng định được vị thế trong đời sống tâm linh của dân tộc Việt

Bản thân tôi cũng cảm thấy rất hứng thú về vấn đề tín ngưỡng thờ Mẫu, cùng với kiến thức chuyên ngành đã tích luỹ được từ thực tiễn, tập dượt khả

năng nghiên cứu, viết bài, tôi quyết định chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu về

Trưng bày chuyên đề Tín ngưỡng Thờ Mẫu: Tâm- Đẹp- Vui tại Bảo tàng Phụ

Nữ Việt Nam” làm Khoá luận tốt nghiệp Đại học ngành Bảo tồn- Bảo tàng

Đề tài còn nhằm khẳng định vai trò của bảo tàng trong việc bảo tồn Di sản Văn hoá dân tộc và đồng thời đi sâu tìm hiểu giá trị Di sản Văn hoá phi vật thể mà bảo tàng phản ánh đó là tín ngưỡng thờ Mẫu tại Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và nội dung Trưng bày chuyên đề Tín ngưỡng thờ Mẫu ở bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam

Trang 7

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lê Nin

- Phương pháp khoa học để tiến hành phân tích nghiên cứu về tín ngưỡng thờ mẫu: Bảo tàng học, Xã hội học, Văn hoá học

6 Bố cục của khoá luận

Bài khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận, có 3 Chương:

Chương 1: Bảo tàng trong việc bảo tồn Di sản văn hoá phi vật thể

Chương 2: Đạo Mẫu trong đời sống xã hội đương đại Việt Nam

Chương 3: Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá trong tín ngưỡng thờ mẫu ở Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1: BẢO TÀNG TRONG VIỆC BẢO TỒN

DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm bảo tàng, hiện vật bảo tàng và sưu tập hiện vật bảo tàng

 Bảo tàng

“Bảo tàng có lịch sử lâu đời, các bảo tàng là những ngôi nhà cất giữ những báu vật của loài người, là nơi lưu giữ ký ức của các dân tộc, các nền văn hoá, những ước mơ và hy vọng của con người trên Thế Giới.”1

Định nghĩa về Bảo tàng của ICOM (Hội đồng Quốc tế các Bảo tàng) được thông qua ở kỳ họp thứ 20 tại Seoul (Hàn Quốc) tháng 10/2004 như sau:

“Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên mở cửa đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường xung quanh con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức”

Theo Luật Di sản Văn hoá năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì Bảo tàng được định nghĩa như sau: “Bảo tàng là thiết chế văn hoá có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày và giới thiệu di sản văn hoá, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường xung quanh con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hoá của công chúng.”

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về Bảo tàng nhưng các định nghĩa đều khẳng định:

 Bảo tàng là một thiết chế văn hoá đặc thù, một cơ quan văn hoá, khoa học và giáo dục

1 Timothy Ambrose và Crispin Daine Cơ sở Bảo tàng Bảo tàng CMVN dịch và xuất bản, 2000, tr24

Trang 9

 Đối tượng nghiên cứu, giới thiệu của bảo tàng là những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cùng môi trường tồn tại xung quanh con người

 Các hoạt động của bảo tàng hướng tới việc nghiên cứu, sưu tầm, thu thập, bảo quản, gìn giữ và trưng bày giới thiệu các sưu tập hiện vật về lịch sử xã hội, tự nhiên và thông tin về các sưu tập cho công chúng

 Ngày nay trong xu thế hội nhập và phát triển đã và đang diễn ra

sự phát triển mạnh mẽ của tri thức khoa học, bảo tàng ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của xã hội Bảo tàng phải là một thiết chế phi lợi nhuận, bao giờ cũng lấy mục tiêu phục vụ lợi ích công chúng là chính dù rằng bảo tàng vẫn cung cấp các loại dịch vụ mà người tiêu dùng có nhu cầu và

o Không gian trưng bày trong và ngoài bảo tàng

o Không gian bảo quản và xử lý hiện vật

o Không gian dành cho các thiết bị kỹ thuật

o Không gian dành cho cán bộ chuyên môn và cán bộ hành chính làm việc

o Không gian dành cho các hoạt động dịch vụ. 2Bảo tàng có những chức năng xã hội sau:

- Chức năng nghiên cứu khoa học: Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục khoa học- một trong những chức năng cơ bản quan trọng nhất, nó

Trang 10

có vai trò, ý nghĩa to lớn đối với bảo tàng đồng thời là tiền đề, là cơ sở cho mọi hoạt động của bảo tàng Bảo tàng và các cơ quan khoa học đều tiến hành nghiên cứu nhằm phát hiện ra những thông tin khoa học để truyền bá, phổ biến những kiến thức mới, những kết quả nghiên cứu vào sản xuất, phục vụ đời sống của con người

- Chức năng giáo dục tuyên truyền: Đây là một trong những chức năng

cơ bản quan trọng, thông qua các hình thức hoạt động của mình nhằm chuyển giao có mục đích rõ ràng các thông tin, những tri thức về khoa học, lịch sử, văn hoá giúp cho việc hình thành thế giới quan, giáo dục

tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ cho con người phát triển toàn diện

- Chức năng bảo tồn di sản văn hoá: mục đích của công tác bảo tồn di sản văn hoá là gìn giữ hiện vật, sưu tập hiện vật trong tình trạng ổn định lâu dài nhằm kéo dài tuổi thọ cho hiện vật và sưu tập, tránh sự huỷ hoại của các yếu tố môi trường, sinh học và thảm hoạ thiên nhiên hoặc con người gây ra

- Chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức: bảo tàng được khẳng định

là một trung tâm thông tin, một phòng thí nghiệm, là nơi giải trí tích cực,… Bảo tàng có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm lưu giư và truyền đi những thông điệp quan trọng về toàn bộ các nền văn minh của nhân loại thông qua các di sản văn hoá mà loài người đã sáng tạo ra

Thực hiện chức năng giải trí, bằng các hoạt động nghiệp vụ, các hình thức thể hiện với các dịch vụ văn hoá phong phú hấp dẫn nêu trên, bảo tàng làm cho công chúng tham quan dễ hiểu, dễ nhớ, thoải mái, không gò bó, áp đặt, tự họ lựa chọn, chủ động tham gia vào các hoạt động của bảo tàng, thoả mãn nhu cầu thưởng thức giá trị di sản văn hoá

có thực trong bảo tàng

Trang 11

- Chức năng tài liệu hoá khoa học: chức năng này gọi một cách đầy đủ là chức năng tài liệu hoá khoa học những sự kiện, hiện tượng của quá trình phát triển lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội bằng hiện vật gốc

Thực hiện chức năng này, bảo tàng phải tiền hành nghiên cứu những sự kiện lịch sử và sự nghiệp của một danh nhân… được bảo tàng phản ánh trong nội dung chủ đạo của mình, từ đó tổ chức sưu tầm, thu thập và lựa chọn những tài liệu hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc tiêu biểu có giá trị bảo tàng và tiến hành ghi chép lập hồ sơ khoa học- pháp

lý cho chúng, đồng thời phải làm đầy đủ các thủ tục, nguyên tắc bảo tàng học cho hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc như đăng ký, vào sổ kiểm kê, xây dựng sưu tập và bảo quản chúng theo chất liệu… nhằm gìn giữ di sản văn hoá này để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục và phổ biến tri thức khoa học- cho mọi tầng lớp công chúng vì

sự phát triển của xã hội.3

Các bảo tàng có một nhiệm vụ quan trọng là tăng cường vai trò giáo dục của mình và thu hút rộng rãi khách tham quan từ các cộng đồng địa phương hoặc các nhóm người mà bảo tàng phục vụ Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố cộng đồng và phát huy di sản của họ là một phần không thể tác rời với chức năng giáo dục.4

 Hiện vật bảo tàng

Trong cuốn nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-HN (2002) của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Huệ đã

đưa ra khái niệm: “Hiện vật bảo tàng là những hiện vật gốc mang giá trị và

thuộc tính của hiện vật bảo tàng, có hồ sơ khoa học- pháp lý kèm theo phù hợp với nội dung và loại hình của bảo tàng, chúng được gìn giữ và bảo quản lâu dài để phục vụ cho những hoạt động và chức năng xã hội của bảo tàng” 5

3 PGS.TS Nguyễn Thị Huệ, Cơ sở Bảo tàng học, Nxb Đại học Quốc Gia HN, 2008, Tr130

4

Trang 12

Để làm rõ và định nghĩa về hiện vật bảo tàng, tập thể giảng viên Khoa Bảo tàng, bộ môn Bảo tàng học Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã nghiên cứu và căn cứ vào chức năng xã hội, những nhiệm vụ mà bảo tàng được giap

và trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin về nhận thức, đã nêu “Hiện

vật bảo tàng là nguồn nhận thức trực tiếp cảm tính cho nhận thức của con người, tiêu biểu về văn hoá vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng với những hiện vật về thế giới tự nhiên xung quanh ta, bản thân nó chứng minh cho một sự kiện, hiện tượng nhất định nào đó trong quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên phù hợp với loại hình bảo tàng được sưu tầm, bảo quản nhằm phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục khoa học” 6

Trong cuốn Sự nghiệp Bảo tàng của nước Nga do Kaulen.M.E chủ biên

được Cục di dản văn hoá xuất bản năm 2006 thì có viết “Hiện vật bảo tàng là

đối tượng tự nhiên hay văn hoá lịch sử được nhập vào sưu tập bảo tàng, là tư liệu ban đầu của tri thức và tác động cảm xúc mang giá trị bảo tàng”

Như vậy, hiện vật bảo tàng trước hết là những hiện vật gốc của lịch sử

tự nhiên và lịch sử xã hội được lấy ra trực tiếp từ hiện thực xung quanh ta, vì vậy nó có tính khách quan và tính chân thực lịch sử… Hiện vật gốc bao giờ cũng có hai mặt: một mặt được bộc lộ ra bên ngoài được gọi là hình thức của hiện vật, như hình dáng, màu sắc, kích thước, trọng lượng,… Còn mặt kia

là những gì ẩn kín bên trong hình thức, nó bao gồm nội dung lịch sử, thông tin khoa học tạo ra bản chất của hiện vật Hình thức và nội dung lịch sử của hiện vật đều có giá trị nhưng giá trị lớn nhất và quan trọng nhất thuộc về bản chất của hiện vật Chính phần bản chất, nội dung lịch sử mới là linh hồn của hiện vật, khi nghiên cứu khai thác cả hình thức và nội dung hiện vật tức là chúng ta đã làm cho hiện vật sống lại cả thời kỳ hoặc giai đoạn lịch sử mà nó là vật chứng

6 Cơ sở Bảo tàng học (3 tập), trường Đại học Văn hoá Hà Nội, 1990, tr 81, Tập 1

Trang 13

Từ những nghiên cứu phân tích trên đây, chúng ta có thể khẳng định

“Hiện vật bảo tàng chính là nguồn sử liệu gốc quan trọng hàm chứa những

thong tin gốc về lịch sử xã hội, tự nhiên và con người, nó trải quan một quy trình xử lý khoa học của bảo tàng” 7

 Hiện vật trưng bày của Bảo tàng

Trưng bày là bộ mặt của bảo tàng, là hình thức thông tin cơ bản của bảo tàng đến với công chúng Trưng bày chính là việc trình bày các hiện vật bảo tàng một cách có tổ chức, có cơ sở khoa học, có mục đích, định hướng, có giải thích với sự phân bố chung phù hợp với ý đồ tư tưởng và nội dung trưng bày được soạn thảo, phù hợp với nguyên tắc, giải pháp của kiến trúc và kỹ thuật, mỹ thuật được lựa chọn Trong cuốn Giáo trình Cơ sở Bảo tàng học do PGS.TS Nguyễn Thị Huệ (chủ biên) xuất bản năm 2008 đã trình bày khái niệm hiện vật trưng bày như sau:

“Hiện vật trưng bày của bảo tàng là sự tổng hợp toàn bộ các loại hiện vật được sử dụng trong phần trưng bày của bảo tàng để chứng minh và giải thích cho đề tài trưng bày”

Tất cả các trưng bày của bảo tàng dù ở loại hình nào cũng đều phải thực hiện nguyên tắc chung của bảo tàng quy định đó là trưng bày dựa trên

cơ sở hiện vật gốc và sưu tập hiện vật gốc có giá trị bảo tàng 8

 Sưu tập hiện vật bảo tàng

Trong cuốn “Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga” do Cục Di sản văn

hóa xuất bản năm 2006 đã viết: “Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những

hiện vật khác nhau cùng chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định không kể mỗi hiện vật trong đó có giá trị văn hoá riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay văn hoá” 9

7 PGS.TS Nguyễn Thị Huệ Cơ sở Bảo tàng học Nxb Đại học Quốc Gia 2008- Tr.154-158

8

Trang 14

Trong cuốn Luật Di sản văn hoá Mục 9 điều 4 đã viết: “Sưu tập là một

tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, hoặc di sản văn hoá phi vật thể, được thu thập, gìn giữ sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên

và xã hội”

Như vậy, theo nội dung của khái niệm này, chúng ta có thấy rằng đối tượng được lựa chọn để xây dựng sưu tập không chỉ là những di sản văn hoá vật thể như di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia mà còn cả di sản văn hoá phi vật thể, chúng cần phải được nghiên cứu, phân loại sắp xếp vào các sưu tập của bảo tàng để phục vụ cho các chức năng xã hội của bảo tàng

 Mục đích xây dựng sưu tập của bảo tàng nhằm

- Phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, hiện vật là nguồn sử liệu chủ yếu, cơ bản nhất phục vụ cho nghiên cứu khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau phù hợp với nội dung chủ đạo của bảo tang Do đó sưu tập hiện vật của mỗi bảo tàng được xây dựng sẽ là một trong những nguồn tri thức quan trọng của từng lĩnh vực khoa học để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học trong và ngoài bảo tàng, đặc biệt trong tương lai các nguồn tư liệu về các thời kỳ lịch sử đã qua sẽ ngày càng trở nên khó sưu tầm thu thập thì các sưu tập hiện vật trong bảo tàng ngày càng trở thành nguồn sử liệu quý giá phục vụ cho nghiên cứu khoa học của một lĩnh vực nào đó của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

- Phục vụ cho công tác trưng bày- giáo dục- tuyên truyền Trong bảo tàng công tác trưng bày được tiến hành trên cơ sở hiện vật gốc và sưu tập hiện vật gốc có giá trị bảo tàng Do đó nếu sưu tập hiện vật được xây dựng và lựa chọn đưa ra trưng bày thì đó là những sưu tập hiện vật

có giá trị lớn vì nó có khả năng cung cấp thông tin tập trung- nhanh-

chính xác, phong phú của hiện vật bảo tàng với công chúng, bảo tàng sẽ

Trang 15

hấp dẫn và thu hút được đông đảo mọi thành phần khách tham quan đến chiêm ngưỡng, thưởng thức và suy ngẫm Từ đó họ nâng cao được

ý thức về tri thức được làm giàu và thoả mãn có nhu cầu về nghiên cứu học tập và giải trí của chính mình Do đó có thể nói trưng bày sưu tập hiện vật bảo tàng góp phần thực hiện tốt chức năng nghiên cứu và giáo dục truyền thống của bảo.10

1.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hoá là biểu hiện cụ thể nhất, dễ nhận biết nhất về bản sắc văn hoá dân tộc, là tài sản vô giá của đất nước là bộ phận cấu thành kho tàng

di sản văn hoá của nhân loại, có ý nghĩa trong việc giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc

Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO sử dụng trong Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm và trong một số trường hợp là cá nhân công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người.”

Theo quy định của Luật Di sản Văn hoá ta thấy:

Điều 1: Di sản văn hoá quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hoá

phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Trang 16

Điều 4: của luật Di sản Văn hoá được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã

đưa ra khái niệm: “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan; có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc cộng đồng; không ngừng được tái tại và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.” 11

Từ đó có thể xác định được một số đặc điểm của di sản văn hoá Phi vật thể như sau:

- Di sản văn hoá phi vật thể gắn với cộng đồng và cá nhân, vật thể và không gian văn hoá có liên quan và được lưu truyền và biểu hiện qua hình thức truyền miệng, truyền nghề/ cầm tay chỉ việc và các dạng bí quyết nghề nghiệp

- Phần lớn di sản văn hoá phi vật thể chỉ biểu hiện các mặt giá trị thông qua cử chỉ, nét mặt và hoạt động trình diễn của các nghệ nhân dân gian- chủ thể sáng tạo văn hoá và cũng là chủ sở hữu các di sản, do đó Di sản Văn hoá phi vật thể bị phụ thuộc khá nhiều vào nhận thức và hành vi ứng xử của các chủ thể văn hoá

- Di sản văn hoá không chỉ gắn bó máu thịt với các chủ thể văn hoá mà còn hoà quyện vào không gian sinh thái- nhân văn, nơi chúng được sáng tạo ra và đang hiện diện trong đời sống cộng đồng

- Di sản Văn hoá phi vật thể không chỉ mang đậm tính chất dân gian mà còn thường gắn bó mật thiết, phản ánh các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng mang tính chất tâm linh, thiêng liêng trong các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng (Đình, Chùa, Miếu, Phủ,…) Trong đó tín ngưỡng thờ Mẫu với các nghi lễ Hầu đồng, loại hình âm nhạc Chầu Văn ở các Phủ Mẫu là ví dụ điển hình nhất

11 Luật di sản văn hoá 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009

Trang 17

1.2 Bảo tồn Di sản văn hoá phi Vật thể

1.2.1 Nhận thức và quan điểm tiếp cận

Việc bảo tồn di sản văn hoá là vấn đề được cả nhân loại quan tâm, những giải pháp bảo tồn di sản văn hoá phù hợp là rất cần thiết, nghĩa vụ của người cán bộ văn hoá là chuyển giao những giá trị văn hoá này với sự đầy đủ

và nguyên gốc của chúng cho thế hệ nối tiếp Để làm được điều này chúng ta cần phải có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về di sản văn hoá, hướng tiếp cận

và tiến hành với tinh thần trách nhiệm cao nhất

Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ về di sản văn hoá phi vật thể, coi

đó là một bộ phận mang tính chức năng của di sản văn hoá vật thể mà không phải là một dạng di sản có tính độc lập tương đối Vì thế, việc bảo vệ và phát huy giá trị chưa được quan tâm thoả đáng, dẫn đến tình trạng nhiều giá trị văn hoá phi vật thể bị mai một, thất truyền.12

Chỉ sau cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 32, UNESCO đã thông qua Công ước Bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể, chúng ta mới có cách tiếp cận tương đối toàn diện về loại hình di sản văn hoá này Tuy nhiên, trong thực tế từng quốc gia vẫn có cách định nghĩa và phân loại riêng, phù hợp với điều kiện lịch sử và văn hoá của mình Ở Việt Nam, di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành di sản văn hoá dân tộc Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối

Di sản văn hoá phi vật thể, tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hoá và chủ sở hữu di sản Trong những trường hợp cá biệt, chủ sở hữu di sản là một cộng đồng cư dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ cũng tác động không nhỏ đến sự tồn

12 PGS.TS Đặng Văn Bài, Bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể- từ góc nhìn toàn cầu hoá, Tạp chí Di sản văn hoá số 4(21)-2007,

Trang 18

vong của di sản văn hoá phi vật thể Và chính họ là nhân tố quyết định những

di sản văn hoá phi vật thể nào cần được bảo tồn, phương cách bảo tồn, sử dụng và khai thác chúng nhằm thoả mãn nhu cầu hưởng thụ văn hoá của cá nhân và cộng đồng

Di sản văn hoá mang “tính dân gian” rõ rệt và “tính dân gian” trong di

sản văn hoá phi vật thể lại càng đậm đặc hơn Văn hoá dân gian cho ta khả năng khai thác kho tàng tri thức bản địa hay “túi khôn dân gian” (tri thức về môi trường thiên nhiên; về lao động sản xuất; về dưỡng sinh trị bệnh và về ứng xử xã hội, quản lý cộng đồng Có thể hiểu tri thức bản địa là hiểu biết

mà một cộng đồng người đã tích luỹ và “trưng cất” thành những kinh nghiệm ứng xử với tự nhiên và xã hội, được truyền lại cho đời sau bằng trí nhớ, truyền miệng và cầm tay chỉ việc trong lao động sản xuất và quản lý xã hội Tri thức bản địa có những đặc trưng cơ bản là: Mang dấu ấn tác động của môi trường tự nhiên rất rõ nét, dấu ấn của cộng đồng- chủ thể sáng tạo có tính địa phương, vùng miền, đặc trưng này chính là yếu tố làm nên sự đa sắc trong di sản văn hoá của quốc gia, dân tộc Do đó, cũng làm cho mức độ tinh tế và nhạy cảm trong di sản văn hoá phi vật thể tăng lên đáng kể Nó là cái gì đó, rất “mong manh”, dễ “lay động”, dễ bị biến dạng trước những tác động, dù là nhỏ nhất, từ con người và xã hội Song, trong chừng mực nào nó, chính độ nhạy cảm như vậy đã lại tạo ra khoảng không gian rộng lớn cho sự sáng tạo của các chủ thể văn hoá, đó chính là yếu tố làm cho di sản văn hoá Việt Nam mang tính đa dạng hơn, xét cả cấp độ quốc gia (54 cộng đồng tộc người) và cấp độ địa phương (các vùng miền)

Di sản văn hoá phi vật thể không chỉ gắn bó với các chủ thể văn hoá mà còn hoà quyện vào không gian sinh thái- nhân văn, nơi chúng được sáng tạo

ra và đang hiện diện, tiến diễn trong đời sống đương đại của cộng đồng Điều

đó có nghĩa là, di sản văn hoá phi vật thể không “nhất thành nhất biến”, chúng nhất định phải hàm chứa những nhân tố mang hơi thở của thời đại mà chủ thể

Trang 19

văn hóa cũng như chủ sở hữu di sản văn hoá phi vật thể được sáng tạo ra, được bảo lưu và chuyển giao qua nhiều thế hệ là cả một quá trình sàng lọc và sáng tạo không ngừng nghỉ Các thế hệ kế tiếp nhau có quyền bình đẳng trong việc thừa hưởng các giá trị di sản văn hoá do ông cha để lại, đồng thời phải có trách nhiệm chọn lựa những gì là tinh hoa nhất để bảo lưu, chuyển giao trên

cơ sở kế thừa có chọn lọc Không những thế mà còn phải luôn sáng tạo những giá trị văn hoá mới, bổ sung làm cho kho tàng di sản văn hoá của quốc gia cũng như của nhân loại càng phong phú và đa dạng hơn- Đó là con đường phù hợp với quy luật sáng tạo và phát triển của các giá trị di sản văn hoá phi vật thể Các loại hình di sản văn hoá phi vật thể tiêu biểu mà chúng ta có hiện nay như: Nhã nhạc cung đình Huế, Nghệ thuật ca trù Việt Nam, không gian văn hoá quan họ Bắc Ninh, Nghệ thuật Chèo, Tuồng, chắc chắn cũng hàm chứa những dấu ấn sáng tạo qua nhiều giai đoạn lịch sử chứ không thể còn nguyên như lúc chúng mới được sáng tạo

Kho tàng di sản văn hoá quốc gia hoặc cộng đồng dân tộc bao giờ cũng chứa đựng hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Ở cấp độ quốc gia, yếu tố ngoại sinh là những tinh hoa văn hoá

mà các cộng đồng người Việt Nam tiếp thu có chọn lọc và tiếp biến một cách tích cực từ các quốc gia, dân tộc khác Ở cấp độ cộng đồng tộc người hoặc vùng, miền văn hoá thì yếu tố ngoại sinh sẽ là những gì chúng ta học hỏi được

từ các cộng đồng người khác trong từng quốc gia dân tộc hoặc từ các vùng, miền văn hoá khác nhau trên cùng lãnh thổ quốc gia Ngược lại, yếu tố nội sinh- cội nguồn sáng tạo văn hoá là những giá trị văn hoá do cộng đồng các tộc người ở Việt Nam hoặc cộng đồng cư dân trong các vùng, miền văn hoá khác nhau của Việt Nam đã sáng tạo ra và chuyển giao cho thế hệ hôm nay Quan điểm nhận thức này đặt ra yêu cầu phải đối xử bình đẳng và tôn trọng cả hai yếu tố nội sinh- ngoại sinh, đó cũng là một phương thức đúng đắn để sáng tạo, bảo lưu bản sắc văn hoá dân tộc và giao lưu văn hoá với quốc tế

Trang 20

Ở Việt Nam trong xu thế hội nhập toàn cầu, tình hình đô thị hoá ngày càng diễn ra nhanh chóng, có phần ồ ạt, cuộc sống con người có phần thay đổi, con người thực dụng hơn, sống gấp hơn Chính điều đó đã đặt các di sản văn hoá (vật thể và phi vật thể) trước nguy cơ bị huỷ hoại, mai một nghiêm trọng với muôn vàn hình thức khác nhau do chính ý thức con người (trong đó cũng có phần do thiên nhiên)

 Mục tiêu cơ bản của hoạt động bảo tồn di sản văn hoá

Bảo vệ di sản văn hoá, khuyến khích mọi hoạt động sáng tạo của toàn

xã hội, bảo đảm sự bình đẳng và dân chủ cho tất cả công dân được tiếp cận với di sản văn hoá và tạo cơ hội cho mọi công nhân tham gia hoạt động bảo

vệ, phổ biến và hưởng thụ giá trị văn hoá

Đích hướng tới là bảo tồn- phát huy- chuyển giao di sản văn hoá dưới dạng nguyên gốc (hoặc càng gần với nguyên gốc càng tốt cho thế hệ tương lai), bảo tồn di sản văn hoá là nhằm phục vụ con người và phục vụ phát triển

Bảo tồn trước hết cần có cách tiếp cận thích hợp để nhận diện chân giá trị di sản văn hoá, tức là giá trị cốt lõi của nó để đưa ra giải pháp sao cho phù hợp

Quan điểm tổng thể đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận con người với tư cách là chủ thể sáng tạo (sáng tạo, hưởng thụ và bảo vệ di sản văn hoá) đồng thời cũng là loại sản phẩm văn hoá cao cấp, các hoạt động sản xuất văn hoá của con người, môi trường sinh thái- nhân văn và di sản văn hoá phải được xem như là một chỉnh thể hoàn chỉnh, trong đó mối quan hệ ràng buộc, không tách rời giữa thiên nhiên và con người là quan trọng nhất

Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, quan điểm tổng thể yêu cầu tiếp cận văn hoá nói chung và di sản văn hoá nói riêng trong cả quá trình lịch sử phát triển (có các giai đoạn phát triển và giai đoạn chuyển tiếp), trong đó 3 giai đoạn phát triển cơ bản của văn hoá Việt Nam là:

- Đông Sơn (Hùng Vương)

Trang 21

- Đại Việt

- Thời cận hiện đại

(Hai giai đoạn chuyển tiếp văn hoá là: một ngàn năm Bắc thuộc và giai đoạn thuộc Pháp)

 Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế Vấn đề bảo tồn di sản văn hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế này đặt ra câu hỏi về khả năng và phương thức mà di sản văn hoá có thể tác động tích cực tới quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam

Bảo vệ di sản văn hoá cũng tức là bảo vệ phần “cốt lõi” nhất trong bản sắc văn hoá dân tộc- cái làm nên bản lĩnh Việt Nam và là cái “phễu lọc”, loại

“phanh tinh thần” để chúng ta có thể hội nhập, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc

Di sản văn hoá góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, đồng thời thực hiện chức năng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá; hiện đại hoá đất nước bằng phương thức cung cấp cho xã hội những thông tin chân thực, tri thức, hiểu biết, những bài học lịch sử giúp cho thế hệ hôm nay hiểu đúng về quá khứ, nhận thức rõ về hiện tại và định hướng cho tương lai

Di sản văn hoá nếu được bảo tồn, tu bổ, tôn tạo theo đúng chuẩn mực khoa học sẽ trở thành loại tài nguyên du lịch đặc biệt, sản phẩm du lịch có khả năng cung cấp các loại dịch vụ có hàm lượng văn hoá cao, có sức hấp dẫn với

du khách trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch- ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Chúng ta thừa nhận di sản văn hoá là “nhịp cầu” gắn kết quá khứ- hiện tại- tương lai, do đó rất cần nhận thức rõ yếu tố thời gian trong di sản văn hoá

Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm tiếp cận tổng thể và hệ thống, có ý nghĩa là di sản văn hoá phải được xem xét trong quá trình phát

Trang 22

triển, trong bối cảnh lịch sử- xã hội và trong mối tương quan giữa các thành tố trong cùng một hệ thống Thời gian là một đại lượng vật lý đặc trưng cho sự biến đổi và chuyển động của các vật thể trong không gian, không gian tồn tại của vật chất có nhiều chiều nhưng thời gian tồn tại chắn chắn là chỉ có một chiều hướng theo nguyên lý: quá khứ- hiện tại- tương lai

Hiện tại tuy là đại lượng quá ngắn so với quá khứ và cả tương lai nhưng

là cái hiện hữu, cái hiện thực nhất, cần nhất và có ý nghĩa quan trọng với con người, hiện tại không tự nhiên sinh ra mà được chuẩn bị từ quá khứ Do đó hiện tại bao giờ cũng là một đại lượng tương đối, nó bị phụ thuộc vào quá khứ, bị áp đặt, được quy định bởi quá khứ Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ mà chỉ có thể ứng xử tuỳ theo hoàn cảnh và tuỳ theo khả năng thích nghi của mình Hiện tại là hiện thân của tương lai, là điểm xuất phát của tương lai

Trong hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá, chúng ta phải tuân thủ một nguyên tắc cơ bản mang tính định hướng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” là: Lựa chọn những giá trị từ quá khứ có ích cho hiện tại, đồng thời lại có khả năng đóng góp cho tương lai Điều đó có nghĩa là hoạt động bảo tồn di sản văn hoá cần phải coi việc phục vụ lợi ích của con người, thoả mãn nhu cầu của con người là mục tiêu tối thượng

Quá khứ là cái đã qua, những gì có trước hiện tại, là một phần không tách rời của con người, của quốc gia và của cả nhân loại, quá khứ còn là cơ sở cho việc hoạch định tương lai

Nhận thức đúng mối quan hệ giữa hiện tại và quá khứ giúp ta hiểu được bản chất tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt Nó giải thích rõ vì sao hàng ngàn năm qua cha ông chúng ta lại luôn tìm cách cắt nghĩa và xử lý một cách

có hiệu quả mối tương quan giữa trần gian và hạ giới, giữa thế giới những người đã khuất và thế giới những người đang sống

Trang 23

Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là tất cả các hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hoá phải phục

vụ đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, hội nhập quốc tế gắn liền với yêu cầu giao lưu tiếp biến văn hoá Việt Nam chỉ có thể thực hành giao lưu văn hoá quốc tế căn bản dựa trên 2 điều kiện tiên quyết là: Bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc “hội nhập mà không hoà tan” và giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng

Nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu phải vận dụng linh hoạt phương pháp tiếp cận tổng thể và hệ thống để nhận diện chính xác hệ giá trị tiêu biểu trong bản sắc văn hoá Việt và phát huy di sản văn hoá phục vụ mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để phát triển đất nước mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc Lấy việc phục vụ con người và phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước làm mục tiêu hoạt động, đưa di sản đến với đông đảo công chúng trong xã hội cũng đồng nghĩa với việc cung cấp cái họ cần chứ không phải những gì chúng

ta muốn

Với những nhận định nêu trên, chúng ta có thể thấy Bảo tàng với vai trò là thiết chế văn hoá, là cơ quan hội đủ điều kiện để gìn giữ và giới thiệu những giá trị di sản văn hoá của dân tộc, chuyển giao cho thế hệ mai sau và giới thiệu cho bạn bè quốc tế một cách hoàn thiện nhất

1.2.2 Vai trò của Bảo tàng trong việc bảo tồn Di sản Văn hoá phi

vật thể

Hiện nay, chúng ta chưa đánh giá hết chức năng và khả năng của Bảo tàng với tư cách là một loại thiết chế văn hoá đặc thù trong việc bảo vệ và phát huy, mà cụ thể là khả năng tổ chức không gian văn hoá để trình diễn các loại hình nghệ thuật dân gian Trước đây, chúng ta mới chỉ khai thác bảo tàng

ở chức năng bảo vệ phát huy di sản văn hoá vật thể mà chưa nhận thức đúng đắn rằng, cái cốt lõi, cái tinh tuý nhất trong di sản văn hoá vật thể lại chính là

Trang 24

các giá trị văn hoá phi vật thể mà nó chở theo Khả năng của bảo tàng tạo lập không gian cho việc tiếp cận, giao tiếp, đối thoại giữa công chúng với sưu tập hiện vật và giữa công chúng với nhau, khiến bảo tàng có thể chủ động tham gia vào việc bảo vệ di sản văn hoá, giáo dục nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giá trị di sản văn hoá Trong khuôn khổ các “chương trình giáo dục” của các bảo tàng, các chủ thể có điều kiện trình diễn và giới thiệu những giá trị văn hoá phi vật thể tiêu biểu mà mình nắm giữ cho đông đảo công chúng bảo tàng Bằng phương thức này, cùng một lúc, chúng ta có thể tôn vinh giá trị văn hoá và nghệ nhân dân gian.13

“Bảo tàng chịu trách nhiệm bảo tồn, giới thiệu phát huy đối với các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản văn hoá và di sản thiên nhiên của nhân loại Các cơ quan quản lý và các cơ quan có liên quan tới định hướng chiến lược và giám sát các hoạt động của bảo tàng đều có trách nhiệm quan trọng đối với việc bảo vệ và phát huy những di sản này, cũng như các nguồn lực, vật lực và tài lực sẵn có để phục vụ cho mục đích này.”14

Bảo tàng thực hiện chức năng gìn giữ và chuyển giao các giá trị di sản văn hoá của nhân loại thông qua 6 khâu công tác là: nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giáo dục, đây là những khâu nghiệp vụ quan trọng để bảo tàng thực hiện chức năng của mình Đối với di sản văn hoá phi vật thể thì vấn đề thực hiện biện pháp bảo tồn gặp phải nhiều khó khăn hơn đòi hỏi cần phải có sự nỗ lực của cán bộ bảo tàng

Trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể, vấn đề đặt ra là tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ, những hiểu biết về di sản văn hoá phi vật thể là rất cần thiết và quan trọng Chương trình giáo dục cộng đồng những tri thức về di sản văn hoá phi vật thể

là công việc không thể không làm Chính đây là cây cầu để đưa Di sản văn

13 PGS.TS Đặng Văn Bài, Bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể- từ góc nhìn toàn cầu hoá, Tạp chí di sản số

4(21)-2007, Tr3

14 Hội đồng quốc tế các Bảo tàng- Lich sử và quy tắc đạo đức nghề nghiệp- Tư liệu Cục Di sản văn hoá xuất

bản Năm 2005, tr 83,84

Trang 25

hoá phi vật thể về với cộng đồng Lâu nay chúng ra thường có ý băn khoăn tại sao giới trẻ không mặn mà với những Di sản Văn hoá của các thế hệ tiền nhân, như thanh niên người Kinh (Việt) không thích lễ hội cổ truyền, thanh niên các dân tộc thiểu số không thích trang phục dân tộc, không thích hát dân ca nhưng chúng ta lại không có một kế hoạch, một chương trình giáo dục về

Di sản Văn hoá phi vật thể của dân tộc cho thế hệ trẻ trong và ngoài nhà trường Như thế, tránh sao khỏi những hiện tượng đứt gãy di sản văn hoá dân tộc ở một số hiện tượng cụ thể, hiện tượng giới trẻ không yêu thích Di sản Văn hoá dân tộc! Vấn đề đặt ra là, cần có một hệ thống sản phẩm đa dạng, cả văn tự lẫn CD- ROM, VCD, DVD, cả băng hình lẫn băng tiếng, giới thiệu về

Di sản Văn hoá phi vật thể cả dạng phổ cập lẫn chuyên sâu, cho cả công chúng trong nước lẫn du khách nước ngoài, theo các độ tuổi và giới tính Trong công việc này, Bảo tàng có vai trò vô cùng quan trọng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã tiến hành trong mấy năm gần đây Những hoạt động nhằm giới thiệu các di sản văn hoá phi vật thể mà bảo tàng Dân tộc học đã làm thực sự có tác dụng tích cực trong việc nâng cao sự hiểu biết, bồi dưỡng lòng tự hào cho người xem về di sản văn hoá phi vật thể của các dân tộc Việt Nam, cần phải được giới thiệu nhiều hơn, cần được nhân rộng hơn Nói cách khác, phải xem trọng chức năng nâng cao nhận thức của cộng đồng về di sản văn hoá phi vật thể của Bảo tàng Trong các thiết chế văn hoá hiện nay, Bảo tàng là thiết chế có ưu thế nhất trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng

về di sản văn hoá phi vật thể

- Để làm được những điều ấy, phải có cơ sở để phát triển các phòng về

Di sản Văn hoá phi vật thể của các bảo tàng địa phương thì cần phải: Tổ chức tổng điều tra hiện trạng Di sản Văn hoá phi vật thể từng tỉnh Đây là công việc

có ý nghĩa căn bản để xác lập nội dung trưng bày, thuyết minh về Di sản Văn hoá phi vật thể của tỉnh mình, địa phương mình Xây dựng một kế hoạch tổng thể để phát triển phòng Di sản Văn hoá phi vật thể tại các bảo tàng địa

Trang 26

phương, cần có sự chỉ đạo thống nhất từ phía các cơ quan quản lý nhà nước

để sự phát triển ấy được bền vững Các bảo tàng địa phương chưa có phòng

Di sản Văn hoá phi vật thể chưa phải là điều rủi, bởi lẽ bây giờ bắt tay vào xây dựng, chúng ta lại hoàn toàn có điều kiện để tiếp cận cách làm của thời đại, phương tiện kỹ thuật hiện đại

Bảo tàng với tất cả nhiệm vụ và chức năng của nó, có vai trò vô cùng to lớn trong việc bảo tồn, lưu giữ và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể Nhưng do quan niệm về di sản văn hoá của một thời chưa toàn diện nên chúng ta chưa thực sự phát huy vai trò của nó Với Luật Di sản văn hoá, sự thay đổi tích cực của cơ quan quản lý nhà nước, có thể khẳng định bảo tàng sẽ phát huy hơn nữa chức năng của mình đối với di sản văn hoá phi vật thể của các thế hệ tiền nhân để lại cho chúng ta hôm nay, biến các di sản ấy thành hành trang tinh thần của thế hệ hôm nay để đi đến tương lai.15

1.3 Khái quát về Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

1.3.1 Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Xuất phát từ sự đánh giá cao vai trò của người Phụ nữ Việt Nam trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng của đất nước trong thời kỳ mới, thể theo nguyện vọng của phụ nữ cả nước, Ban Bí thư TW Đảng, Hội đồng Bộ trưởng và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã có chủ trương xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tại thủ đô Hà Nội

Năm 1985, Ban Bí thư TW Đảng đã có văn bản đồng ý với chủ trương của Hội LHPNVN về sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của Phụ Nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc để giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai Ban Bí thư TW Đảng cũng cho phép Hội LHPNVN được sử dụng ngôi nhà số 36 Phố Lý Thường Kiệt- Hà Nội làm cơ sở vật chất ban đầu

15 PGS.TS Nguyễn Chí Bền- Tạp chí Di sản văn hoá số 7-2004- tr 24-26

Trang 27

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam được thành lập theo quyết định số 09/CT ngày 1/10/1987 của Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khánh thành ngày 20/10/1995 nhân kỷ niệm 65 năm Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ra đời, bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là công trình kiến trúc hiện đại với diện tích 4500m2 và diện tích trưng bày gần 2000 m2

Trưng bày được coi là bộ mặt, của Bảo tàng, trong 24 năm qua tồn tại

và phát triển từ năm 1987– 2011, bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã cho ra đời 2

hệ thống trưng bày thường xuyên cụ thể như sau:

Hệ thống trưng bày thường xuyên lần 1 khi Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam được khánh thành ngày 20/10/1995 bao gồm 4 chủ đề:

Chủ đề 1: Mẹ trong ý thức cộng đồng

Chủ đề 2: Phụ nữ Việt Nam trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc

Chủ đề 3: Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ

Chủ đề 4: Trang phục Phụ nữ các dân tộc Việt Nam

Hệ thống trưng bày thường xuyên lần 2 khi Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam nhân kỷ niệm 80 năm Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ra đời 20/10/2010 với 3 chủ đề:

Chủ đề 1: Phụ nữ trong gia đình

Chủ đề 2: Phụ nữ trong lịch sử

Chủ đề 3: Thời trang nữ truyền thống và hiện đại

Ngoài ra từ khi thành lập đến nay, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã thực hiện được 59 phần trưng bày chuyên đề và 13 phần trưng bày lưu động

Đồng thời Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam còn có 10 ấn phẩm sách đã được phát hành, đây cũng có thể coi là những công trình nghiên cứu riêng của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam còn tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị để phục vụ các hoạt động văn hóa, truyền thông kiến thức về gia đình và xã hội

Trang 28

cho phụ nữ, nơi giao lưu văn hóa giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Thế Giới

vì mục tiêu bình đẳng, phát triển và hòa bình

Từ khi thành lập đến nay, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã vinh dự nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng đặc biệt là việc đón nhận Huân chương độc lập hạng Ba (10/1/2011)

1.3.2 Đặc trưng và chức năng của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

 Đặc trưng cơ bản của Bảo tàng nói chung là:

Thứ nhất: sưu tầm gìn giữ các hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc về những sự kiện, hiện tượng tiêu biểu của lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội

Thứ hai: tổ chức trưng bày triển lãm giới thiệu các hiện vật gốc và sưu tập hiện vật gốc về các sự kiện, hiện tượng của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội nhằm phục vụ thoả mãn nhu cầu hiểu biết- khám phá của công chúng

Thứ ba: bảo tàng và duy nhất chỉ có bảo tàng mới có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi để cho công chúng cảm nhận - “mục sở thị” đích thực những hiện vật gốc, sưu tập gốc ít có, hoặc hoàn toàn không có ngoài bảo tàng cùng trong thời gian ấy của một sự kiện, hiện tượng xã hội, hoặc thiên nhiên nào đó

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một thiết chế văn hoá, bảo tồn, nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày hiện vật gốc mang ý nghĩa và giá trị bảo tàng, thể hiện vị trí và vai trò to lớn của người Phụ Nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc, bên cạnh đó phản ánh đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần

Bảo tàng hiện đang lưu giữ và trưng bày những tài liệu hiện vật phản ánh về vai trò và vị thế quan trọng của Phụ nữ Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước Đồng thời Bảo tàng cũng đang lưu giữ và trưng bày những tài liệu hiện vật phản ánh về sự ra đời và phát triển của tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam- một tổ chức chính trị- xã hội của phụ nữ có uy tín cao trong nước và Quốc tế, và đây cũng là đơn vị tổ chức xây dựng Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam- một công trình mang tính thời đại

Trang 29

Bảo tàng có mô hình mới thể hiện đặc trưng giới và sự phát triển của giới trong xã hội Việt Nam xưa và nay, thể hiện những giá trị văn hoá, nhân văn sâu sắc Chính đặc trưng Giới này đã làm cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

có những nét khác biệt so với các bảo tàng khác trong hệ thống Bảo tàng quốc gia Việt Nam là Bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam không chỉ là nơi gìn giữ những nét đẹp của người Phụ nữ Việt Nam mà còn là nơi đáp ứng nhu cầu nhận thức

và giáo dục về giới

 Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam với những chức năng xã hội sau: Chức năng nghiên cứu khoa học; Chức năng giáo dục tuyên truyền; Chức năng bảo quản di sản văn hoá; Chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức; Chức năng tài liệu hoá khoa học.16

Cụ thể hơn đó là Bảo tàng Phụ nữ là bảo tàng giới có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày và giới thiệu những hiện vật về hình ảnh và vai trò của người Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc và cuộc sống hiện tại

Cùng với Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một loại hình bảo tàng độc đáo Sự ra đời của bảo tàng chính là quá trình phấn đấu cho sự bình đẳng giới Do đó, ngoài những chức năng xã hội trên bảo tàng còn

là trung tâm hoạt động văn hoá, truyền thông về kiến thức gia đình và xã hội cho phụ nữ là nơi giao lưu giữa Phụ nữ Việt nam và Phụ nữ Thế Giới về mục tiêu bình đẳng, phát triển và hoà bình

Với chức năng là một thiết chế văn hoá, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào hoạt động xã hội hoá Bảo tàng hiện nay, nhằm giáo dục truyền thống lịch sử vẻ vang của Phụ nữ cho các thế hệ hôm nay và mai sau Tuyên truyền, giáo dục đối với khách tham quan, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu về hình ảnh người Phụ nữ Việt Nam nói chung và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nói riêng

Trang 30

Từ những đặc trưng và chức năng cơ bản trên đây ta có thể thấy Bảo tàng Phụ nữ thuộc loại hình bảo tàng lịch sử- xã hội, hay nói hẹp hơn là Bảo tàng về nhân học Thực hiện một xứ mệnh là nơi lưu giữ những hiện vật gốc một bộ phận của Di sản văn hoá quan trọng của đất nước

Với những chức năng, nhiệm vụ trên, Bảo tàng sẽ thực sự là cơ quan

có khả năng bảo quản, trưng bày và giới thiệu những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá của dân tộc

Trang 31

CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 2.1 Đạo Mẫu trong hệ thống tôn giáo- tín ngưỡng của người Việt

2.1.1 Khởi nguồn của Tín ngưỡng thờ Mẫu

Nguyên nhân khởi phát tín ngưỡng thờ Mẫu là từ chế độ mẫu hệ, trong thời kỳ nguyên thuỷ khi mà người phụ nữ đóng vai trò là chủ gia đình, là người có quyền quyết định mọi vấn đề to lớn trong gia đình, bộ tộc thù họ cũng góp phần quyết định sự tồn vong của xã hội

Ở nước ta, có nhiều địa danh gắn liền với chữ “Bà”: Núi Bà Mụ, núi Bà Đen, Bà Chúa Xứ, Bà Điểm, hoặc những từ chỉ người phụ nữ như Quan Âm Thị Kính, Thiên Hậu, Cô Hồng, Bà Chúa Kho, Điều đó cho thấy, vai trò của người phụ nữ quan trọng như thế nào đối với cuộc sống

Từ xưa đến nay, vị trí của người mẹ trong mỗi gia đình, cộng đồng luôn được tôn vinh, ca ngợi, Mẹ là chỗ dựa vật chất và tình cảm Bởi lẽ đó mà hình tượng người Mẹ gắn liền với các hiện tượng tự nhiên như: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, mang lại cho con người nguồn sống để sinh tồn Dân gian thờ Mẫu với niềm tin mãnh liệt vào quyền lực linh thiêng và khát vọng cầu mong sự an lành, bình yên, tốt đẹp

Tín ngưỡng thờ Mẫu tôn vinh các vị nữ thần với sức mạnh và khả năng siêu phàm, có thể điều chỉnh được tự nhiên vốn dĩ có quy luật Trong hành trình tìm kiếm sự mưu sinh, một trong những yếu tố tiên quyết là hiện tượng

tự nhiên, để cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt và che chở cho

sự sống trước muôn vàn tai hoạ luôn rình rập con người

Việc thờ tam tòa thánh Mẫu hay thờ Tứ Phủ trong dân gian là có nguồn gốc xuất xứ với những nguyên nhân sâu xa được hình thành và phát triển từ hàng nghìn năm trong trong quan niệm của con người về vũ trụ quan, nhân sinh quan Điều đó vừa thể hiện tư duy, niềm khao khát về mặt tinh thần đối

Trang 32

với Mẫu, trước hết là người sinh ra, nuôi dưỡng, bảo lưu các thế hệ giống nòi,

là điểm tựa về mặt vật chất và tinh thần cho mỗi cá nhân, là sự ấp ôm che chở bao la trước mọi sự khó khăn, và mẹ là tất cả Trước những hiện tượng siêu nhiên, mọi môi trường sống dần được gắn với mẹ, từ người mẹ cụ thể đến mẹ siêu trần, mẹ siêu phàm Mẹ trong bao quát khái niệm tư duy và được thần tượng hóa trong đời sống con người, mà việc thờ Mẹ thì cũng tự nhiên và cũng là điều đáng tự hào về tính nhân văn nói riêng, rất đẹp ở người Việt Nam, mà chẳng nơi nào trên thế giới có được

Trong hành trình phát triển của mình, tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển khá sâu rộng và phổ biến khắp mọi địa phương trong cả nước, mỗi vùng miền

có sắc thái văn hoá khác nhau nên cũng có sự ảnh hưởng và chi phối tạo nên diện mạo đa sắc của tín ngưỡng thờ Mẫu Thờ Mẫu không chỉ là hiện tượng phổ biến đa dạng về nội dung và ý nghĩa mà còn thể hiện tính chất linh thiêng

về phương diện triết lý nhân sinh và nhận thức Cùng với tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thần, Phật thì tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại cùng với một vị trí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống tín ngưỡng Việt Nam

Tầm nhìn văn hoá trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Ý thức hướng về cội nguồn thể hiện rõ qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần và hành vi tín ngưỡng, thờ cúng những người có công lao dựng làng, dựng nước Đối với người Mẹ, người mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng những đứa con thì nghĩa mẹ thật là sâu nặng vô cùng, từ ý nghĩa

đó mở ra một tầm nhìn văn hoá, những gì là yếu tố có ý nghĩa quyết định sinh sôi ra của cải, hạt gạo, bát cơm, là nhân tố cơ bản nuôi sống cư dân nông nghiệp Vì thế, cây, đất, nước, được tôn vinh là những bà Mẹ

Hơn thế nữa, văn hoá Việt Nam mang triết lý âm sinh dương thành, điều này thể hiện rõ rệt ở nền văn hoá lúa nước, đề cao yếu tố yên tình, bình hoà, coi trọng tình nghĩa xóm làng tạo nên sức mạnh đoàn kết chống lại thiên tai địch hoạ Đối với người Việt Nam: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”

Trang 33

Chính vì vậy mà mọi vinh quang, trách nhiệm đều quy về vai trò của người

mẹ Điều này thể hiện qua một số hình tượng mang biểu tượng như sông cái, đường cái, Mẹ quê hương, Mẹ Việt Nam anh hùng,

Từ những điều triết lý sâu xa trên đây mà ở Việt Nam người mẹ được tôn vinh đặc biệt, có hẳn một tín ngưỡng dành cho người mẹ, đó là tín ngưỡng thờ Mẫu Qua đó, chúng ta thấy rằng, bản chất của tín ngưỡng thờ Mẫu là tôn thờ những yếu tố, đối tượng sản sinh ra vật chất, của cải nuôi dưỡng con người Tất cả những yếu tố đó được suy tôn là Mẹ một cách đầy linh thiêng

2.1.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu lưu truyền trong dân gian

Tam phủ là danh từ chỉ ba vị thánh thần: Bà Trời (hay mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay mẫu Thoải) Tứ phủ gồm ba vị mẫu trên cộng thêm mẫu Địa Phủ Các mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp Về sau do

sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa nên có thêm hình tượng Ngọc Hoàng, thổ công và hà bá Trong đó mặt trời là vị thần quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các trống đồng, tục thờ Trời ở Việt Nam có ảnh hưởng từ sự giao thoa với văn hoá Trung Quốc.17

Tín ngưỡng thờ Mẫu được hình thành ở Việt Nam do sự ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ kết hợp với Đạo giáo du nhập từ Trung Quốc rồi phát triển thành một hệ thống mang tính tầng lớp, thứ bậc và trở thành tín ngưỡng được lưu hành rộng rãi trong dân gian

Là sự mô hình hoá vũ trụ quan của người Việt, đó là một không gian thể hiện rõ thứ bậc vị trí của các nữ thần cai quản:

- Thánh mẫu Thượng Thiên: Cai quản trời và làm chủ, mây mưa, sấm chớp (trang phục màu đỏ)

- Thánh mẫu Thoải: Cai quản Thuỷ phủ (trang phục màu trắng)

Trang 34

- Thánh mẫu Thượng Ngàn: Cai quản rừng núi, cây cối (trang phục màu xanh)

Ba vị Thánh Mẫu này đã cấu thành nên hệ thống Tam phủ của người Việt hay còn được gọi là Tam toà Thánh Mẫu, về sau này người Việt lại sáng tạo ra Thánh Mẫu Địa phủ- cai quản đất đai (trang phục màu vàng) hình thành nên hệ thống Tứ phủ

- Dưới bốn vị thánh mẫu này còn có năm ông quan thừa hành, từ đệ Nhất đến đệ Ngũ Bốn ông quan từ đệ Nhất đến đệ Tứ là phái viên tương ứng

Tứ toà thánh mẫu, riêng ông Ngũ là quan Tuần Tranh- Vị long vương cai quản sông nước

- Tầng thấp hơn là 4 vị thánh bà Sau đó 1 ông hoàng Kế tiếp là 12 tiên

cô (thị nữ của thánh mẫu) bao gồm: Cô Cả, Cô Đôi, Cô Bơ, Ngang hàng với họ là 4 cậu quận, tầng thấp hơn là Ngũ hổ và cuối cùng là ông Lốt (rắn)

Thờ Mẫu là một hiện tượng văn hoá dân gian mang tính tổng thể, cùng với tín ngưỡng này là hàng loại các truyền thuyết, các bài văn chầu đan xen với hình thức múa bóng, hầu đồng Trong đó, hầu bóng và lên đồng được xem

là nét đặc trưng, một hình thức không thể tách rời của tín ngưỡng thờ Mẫu

Không gian thờ Mẫu thường là các đền, miếu, phủ, Ban đầu, miếu là

cơ sở tín ngưỡng duy nhất để thờ mẫu, nhưng sau này do quá trình hỗn dung, tích hợp về tín ngưỡng nên miếu không còn là nơi duy nhất thờ mẫu nữa Mà miếu còn thờ cả Phật, Thánh, 18

Các dạng thức thờ Mẫu

 Thờ Mẫu ở Bắc Bộ

Giáo sư Ngô Đức Thịnh đã đưa ra mô hình tổng quát về Đạo Mẫu của người Việt Nam mà Bắc Bộ là tiêu biểu, gồm ba lớp kế tiếp và có mối liên hệ hữu cơ với nhau, đó là: Nữ Thần, Mẫu thần, và Mẫu Tam Phủ- Tứ Phủ

18 Thuận Phước- Phong tục Dân gian- Nghi lễ Thờ Mẫu-Nxb Hồng Đức-2011, tr 57

Trang 35

Mẫu Thần

Nữ Thần

Đạo Mẫu Tam Phủ- Tứ phủ hình thành và phát triển trên nền tảng thờ

Nữ Thần và Mẫu thần, nhưng sau khi đã hình thành rồi thì Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ lại tác động theo xu hướng “Tam phủ, Tứ phủ hoá” tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu thần Điều này chúng ta thường thấy khá phổ biến ở các đền, miếu thờ Nữ thần và Mẫu Thần, thể hiện cách phối thờ, các hình thức trang trí, tranh tượng, các lễ vật, tục hát chầu văn,

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá đề thành các Mẫu thần tương ứng thời kỳ từ Thế Kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với danh xưng như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Ỷ Lan Nguyên Phi, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh Nương

Từ khoảng thế kỷ 15 trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo Giáo

Có thể nói mô hình tổng quát trên là mô hình đầy đủ nhất mà tục thờ Mẫu ở Bắc Bộ là đại diện, đây cũng là mô hình có sự phát triển tuần tự mang

Mẫu Tam Phủ- Tứ Phủ

Trang 36

tính nội tại Phạm vi phân bố của dạng thức thờ Mẫu này là đồng bằng Bắc

Bộ và duyên hải Bắc Trung Bộ, mà điểm chót phía Nam là Huế- Huế có vị trí rất đặc biệt trong sự giao thoa và chuyển tiếp của tục thờ Mẫu Xét tổng thể cả

về hệ thống thần linh và nghi thức thờ cúng, lễ hội thì tục thờ Mẫu ở Huế vẫn thuộc hệ thống thờ Mẫu Tam phủ- Tứ phủ, tuy nhiên trong điện thần, nhất là

vị thần chủ thì không phải là Liễu Hạnh như Bắc Bộ mà là Thiên Ya Na, vị nữ thần Việt gốc Chăm

 Thờ Mẫu ở Trung Bộ

Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực Nam Trung Bộ, đặc trưng

cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của Mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần Hình thức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và lớp thờ Mẫu thần mà tiêu biểu hơn cả là thờ Thiên Ya Na, Pô Inư Nưgar

 Thờ Mẫu ở Nam Bộ

So với Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân các vị thần ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, 19

Bài nghiên cứu sẽ xem xét dạng thức thờ Mẫu ở Bắc Bộ dưới góc độ khái quát để nêu lên những thiết chế, nghi lễ, nghi thức của Đạo Mẫu, cùng với việc nghiên cứu những cách thức bảo tàng tiến hành để gìn giữ giá trị văn

19 Ngô Đức Thịnh Đạo Mẫu Việt Nam Nxb Tôn Giáo-2010 Trang 43

Trang 37

hoá về Đạo Mẫu Để từ đó đưa ra những so sánh giữa thực tiễn và khả năng bảo tàng đã thực hiện trong việc bảo tồn, để gìn giữ những nét đặc sắc của Đạo Mẫu Việt Nam (với đại diện là thờ Mẫu ở Bắc Bộ) một cách trọn vẹn nhất

2.1.3 Vai trò Đạo Mẫu trong hệ thống tôn giáo- tín ngưỡng người Việt

Trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam đã từng tồn tại rất nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, trước nhất là các tín ngưỡng, các tục thờ mang tính bản địa hay mang đậm bản địa, như thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng ở các làng xã, thờ các vị Thần (tổ sư các nghề, các vị thần linh bảo trợ, các anh hùng có công với dân với nước ); các tôn giáo du nhập

từ bên ngoài như Phật giáo, Khổng giáo, Lão Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn giáo, Hồi giáo; một số tôn giáo địa phương như Cao Đài, Phật Giáo, Hoà Hảo Người Việt Nam chấp nhận mọi thứ tín ngưỡng tôn giáo, dù bản địa hay ngoại lai miễn là nó phù hợp với nền tảng đạo đức Nhân- Nghĩa- Lễ- Trí- Tín Các tôn giáo tín ngưỡng này không rạch ròi phân biệt mà chúng thường thâm nhập và lồng ghép với nhau Người theo đạo Phật vẫn thờ cúng tổ tiên, Thành Hoàng, thổ thần, Mẫu, Các tôn giáo từ ngoài du nhập vào thường bị biến dạng để thích ứng với đời sống tâm linh của con người Việt Nam, nên xu hướng “dân gian hoá” các tôn giáo là hiện tượng dễ thấy, như đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão và mức độ nào đó có cả đạo Thiên Chúa nữa Người Việt Nam theo nhiều đạo nhưng không hướng về các giáo lý cao xa hay cuồng tín

si mê, mà chủ yếu là khai thác các mặt đạo lý, cách thức ứng xử giữa con người và con người

Thoát thai từ đạo Thờ Thần và chịu những ảnh hưởng của đạo giáo Trung Quốc, Đạo Mẫu với tư cách là một biến thể của Đạo giáo Việt Nam đã

và đang thâm nhập và ảnh hưởng tới các tín ngưỡng tôn giáo khác

Cùng một loại hình Đạo Giáo, Đạo Mẫu rất gần gũi với đạo thờ Tiên

trong cả quan niệm, thần điện và nghi thức thờ cúng mà hơn nữa vị thần chủ

Trang 38

của Đạo Mẫu là Liễu Hạnh đồng thời cũng là một vị Tiên, tiêu biểu của Việt Nam Đấy là chưa kể các hình thức nghi lễ cầu Tiên, luyện đồng, giáng bút của hai loại này có nhiều nét vay mượn của nhau

Cùng xuất phát từ Đạo thờ Thần, nhưng giữa đạo Mẫu và thờ Thành

hoàng các làng xã có ít quan hệ gắn bó, mặc dù nhiều vị Thánh của Đạo Mẫu

đồng thời cũng là Thành Hoàng của khá nhiều làng xã Phải chăng, cùng gốc thờ Thần, nhưng tục thờ Thành Hoàng đi theo con đường tiếp thu Nho giáo và chịu sự kiểm soát của Triều đình, còn đạo Mẫu lại tiếp thu Đạo Giáo và nằm ngoài vòng kiểm soát của triều đình, có lúc trở thành đối địch, các triều đại phong kiến không thừa nhận thứ đạo này

Đạo Mẫu tiếp thu những ảnh hưởng của tục thờ cúng tổ tiên, một tín

ngưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu trong tín ngưỡng người Việt Nam Điện thần của đạo Mẫu mang tính gia tộc, có Vua Cha, Thánh Mẫu có “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”, chẳng qua cũng là một dạng phóng đại của

mô thức gia đình và thờ cúng tổ tiên Có lẽ việc thờ Cô và Cậu của Đạo Mẫu

có cội nguồn sâu xa từ việc thờ cúng những người chết trẻ, Bà Cô, Ông Mãnh, một yếu tố rất quan trọng trong thờ cúng tổ tiên ở các gia tộc và dòng họ Đạo Phật và Đạo Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng của nhau khá sâu sắc Trong việc hình thành phái Mật Tông ở nước ta, có sự ảnh hưởng nhất định của sự giao thoa Phật- Mẫu, điều dễ nhận biết là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều có điện thờ Mẫu, trong đó phổ biến nhất là dạng Chùa “Tiền Phật hậu Mẫu” (phía trước Thờ Phật, phía sau thờ Mẫu) Việc xuất hiện Mẫu trong Chùa, theo nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền thì khoảng thế kỷ XVII-XVIII người ta đi chùa vừa lễ Phật vừa để cúng Mẫu và nhiều khi điện Mẫu trong chùa tạo nên không khí “ấm cúng” nhộn nhịp hơn cho các ngôi chùa làng Một số các vị tăng ni có “căn quả” cũng trở thành tín đồ của Đạo Mẫu và ngày nay, ở hầu hết các ngôi chùa có điện Mẫu

ở Miền Bắc đều thường xuyên diễn ra nghi lễ Hầu đồng

Trang 39

Truyền thuyết về Liễu Hạnh công chúa còn ghi rõ sự tích “Sòng sơn đại chiến” theo đó, trong lúc Mẫu Liễu đang bị các đạo sĩ phái Đạo Nội (Phù Thuỷ) lừa, thu hết phép thuật, dồn vào tình thế nguy kịch, bị họ bắt giữ thì Thích Ca Mâu Ni đã ra tay cứu độ, giải thoát cho Liễu Hạnh công chúa Từ

đó, Thánh Mẫu Liễu Hạnh quy y, nghe kinh tuân pháp, chuyển hoá từ bi theo gương Phật

Trong khung cảnh nông thôn Việt Nam, sự thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai thứ tôn giáo tín ngưỡng dân dã là điều dễ hiểu vì cùng là tín ngưỡng dân dã của người dân, cùng hướng về từ bi bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến khích trừ ác, nền tảng của những nguyên tắc ứng xử xã hội cổ truyền Với lại dường như hai thứ tín ngưỡng này bổ sung cho nhau,

đáp ứng nhu cầu tâm linh của người nông dân: theo Phật là để tu nhân tích

đức cho đời kiếp sau được lên cõi Niết Bàn cực lạc; còn theo Đạo Mẫu là mong được hộ độ trì mang lại sức khoẻ, tài lộc, may mắn cho đời sống hiện hữu thường ngày

Còn với Ấn Độ Giáo và Thiên Chúa Giáo thì Đạo Mẫu cũng không tạo

ra bức tường ngăn các mà hơn thế nữa, truyền thống tôn thờ Mẫu của người Việt có gì đó gần gũi với biểu tượng Đức Mẹ Maria của Thiên Chúa Giáo Do vậy, khi du nhập vào nước ta, những người truyền đạo không phải không nhận ra những nét tương đồng giữa Đạo Mẫu bản địa và Thiên Chúa Giáo, lợi dụng nó trong việc truyền đạo Với đạo Hin đu (Ấn Độ giáo) xa xôi về nhiều phương diện, nhưng người Việt không phải là không Việt hoá các vị thần của đạo này, biến nó thành một dạng Tháng Mẫu của người Việt Việc tôn thờ Bà Đen ở Linh Sơn và Bà Chúa Xứ ở Núi Sam là những thí dụ điển hình cho xu hướng bản địa hoá ấy.20

Trang 40

2.2 Thiết chế của Đạo Mẫu

- Ngũ Vị Hoàng Tử (gọi theo thứ tự từ Đệ Nhất đến Đệ Ngũ)

- Thập Nhị Vương Cô (gọi theo thứ tự từ 1 đến 12)

- Thập Vị Vương Cậu (gọi theo thứ tự từ 1 đến 10)

- Ngũ Hổ

- Ông Lốt (rắn)

Sau đây khoá luận xin được trình bày những vị tiêu biểu trong hệ thống điện thần của Thiết chế Đạo Mẫu

Phật Bà Quan Âm là vị Bồ Tát của Đạo Phật, vốn là nam thần, tuy nhiên

khi vào Trung Quốc từ thời Tống, thì đổi giới tính thành nữ thần Đặc biệt, khi vào Việt Nam, bà trở thành Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn, gắn liền với tín ngưỡng dân gian Tương truyền, trong trận kịch chiến giữa Công Chúa Liễu Hạnh với các phù thuỷ dòng Nội Đạo Tràng, Phật Bà đã ra tay giải cứu cho Liễu Hạnh Từ ân đức đó, Công chúa Liễu Hạnh đã quy y và mở đường cho sự hội nhập giữa tín ngưỡng dân gian với Phật Giáo Do vậy, trong điện thần Đạo Mẫu cũng như trong nhiều nghi lễ của Đạo Mẫu đều thấy hiện diện của Phật Bà Quan Âm

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w