1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu về khu di tích lịch sử tân trào xã tân trào huyện sơn dương tỉnh tuyên quang

126 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tμi Trong lịch sử dựng nước vμ giữ nước của dân tộc ta, trên mảnh đất Tuyên Quang đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại, đặc biệt lμ thời kỳ cách mạng Tuyên Quang nằm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA BẢO TÀNG

Phan thÞ Nh¹

T×m hiÓu vÒ khu di tÝch lÞch s Ử t©n trμo

x· t©n trμo - huyÖn s¬n d ƯƠng - tØnh tuyªn quang

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Ngμnh b¶o tån - b¶o tμng

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: TS NguyÔn ThÕ Hïng

Hμ Néi - 2008

Trang 2

Lời cảm ơn

Lμ sinh viên năm cuối khi viết luận văn tốt nghiệp nμy, tôi còn thiếu cả về

lý luận lẫn vốn sống thực tế do đó trong bμi luận văn nμy không thể tránh khỏi những khiếm khuyết vμ hạn chế Tôi xem đây lμ một bμi tập lớn để tập dượt, thể nghiệm vμ vận dụng những kiến thức đã học trong nhμ trường để trình bμy hiểu biết của mình về một vấn đề vμ đưa ra một số biện pháp để giải quyết vấn

đề đó

Tôi xin bμy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Thế Hùng Phó cục trưởng cục Di sản Văn hoá - Bộ Văn hoá, Thể thao vμ Du lịch đã tận tình hướng dẫn tôi viết bμi luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thμnh cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa Bảo Tμng vμ các bạn cùng khoa đã giúp đỡ, động viên tôi hoμn thμnh luận văn nμy

Nhân đây tôi xin bμy tỏ lời cảm ơn chân thμnh tới các cơ quan: Phòng Quản lý Di tích – Cục Di sản Văn hoá, Bộ Văn hoá, Thể thao vμ Du lịch;

Sở Văn hóa, Thể thao vμ Du lịch Tỉnh Tuyên Quang; Thư viện Quốc Gia; Thư viện trường Đại học Văn hoá Hμ Nội; Nhμ Văn hoá Thôn Thia vμ các cá nhân, tập thể đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận vμ sử dụng tμi liệu để xây dựng luận văn

Tuy nhiên do khả năng vμ trình độ nhận thức của một sinh viên còn rất hạn chế, mặc dù tôi đã rất cố gắng nhưng chắc chắn bμi luận văn nμy không tránh khỏi những thiếu sót vμ hạn chế Kính mong các thầy cô, các chuyên gia

vμ các bạn bè đồng khoa cùng những người quan tâm góp ý, nhận xét, phê

bình, cho ý kiến để bμi luận văn của tôi được hoμn thiện hơn

Tôi xin chân thμnh cảm ơn!

Hμ Nội, tháng 6 năm 2008 Sinh viên thực hiện Phan Thị Nhạ

Trang 3

Mục lục

Trang

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

Chương 1 : Khái quát về atk tân trμo vμ Khu Di tích Lịch

sử Tân Trμo……… …4

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên vμ xã hội 4

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 4

1.1.2 Khái quát về điều kiện xã hội 6

1.2 Quá trình hình thμnh ATK Tân Trμo 9

1.2.1 Bối cảnh lịch sử 9

1.2.2.Tân Trμo -Căn cứ địa cách mạng– Trung tâm của ATK……….19

1.3 Lược sử bảo tồn Khu Di tích lịch sử Tân Trμo – Tuyên Quang……… 22

1.3.1 Bảo vệ……… 22

1.3.2 Xếp hạng……… 23

1.3.3.Tu bổ 25

1.3.4.Quản lý 27

Chương 2: Những đặc trưng vμ giá trị cơ bản của Khu Di tích lịch sử Tân Trμo 29

2.1 Khảo tả một số di tích tiêu biểu tại Tân Trμo 29

2.1.1 Đình Hồng Thái 31

2.1.2 Nhμ ông Nguyễn Tiến Sự 35

2.1.3 Lán Nμ Lừa 36

2.1.4 Đình Tân Trμo 39

2.1.5 Cây Đa Tân Trμo 43

2.1.6 Lán Hang Bòng 45

2.1.7 Các di tích khác 47

Trang 4

2.2 Những đặc trưng cơ bản của Khu Di tích lịch sử Tân Trμo 49

2.2.1 Khu Di tích lịch sử Tân Trμo có quy mô lớn nằm ở trung tâm của khu căn cứ cách mạng, Chiến khu Việt Bắc 50

2.2.2 Địa hình vμ cảnh quan tự nhiên lμ yếu tố không thể tách rời của Khu Di tích lịch sử Tân Trμo………51

2.2.3 Khu Căn cứ cách mạng Tân Trμo được xây dựng trên cơ sở dựa vμo sự che chở vμ bảo vệ của nhân dân nên các di tích chính lμ các công trình công cộng vμ nhμ ở của dâ……… 52

2.2.4 Các di tích trong khu Căn cứ cách mạng Tân Trμo được xây dựng bằng các vật liệu tự nhiên nên kém bền vững……….………53

2.3 Những giá trị cơ bản của Khu Di tích lịch sử Tân Trμo………54

2.3.1 Giá trị Lịch sử .54

2.3.2 Giá trị Văn hoá .60

2.3.3 Giá trị Thẩm mỹ 70

2.3.4 Giá trị Du lịch 72

Chương 3: Bảo tồn vμ phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử Tân Trμo 75

3.1 Đánh giá hiện trạng bảo tồn Khu Di tích lịch sử Tân Trμo trong những nămgần đây……….….75

3.2 Đề xuất một số định hướng bảo tồn vμ phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử .77

3.2.1 Bảo tồn 77

3.2.2 Tổ chức khai thác phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử Tân Trμo 85

Kết luận 94

Danh mục tμi liệu tham khảo 97 phụ lục

Trang 5

mở đầu

1 Lý do chọn đề tμi

Trong lịch sử dựng nước vμ giữ nước của dân tộc ta, trên mảnh đất Tuyên Quang đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại, đặc biệt lμ thời kỳ cách mạng Tuyên Quang nằm trong khu căn cứ địa, Tân Trμo được chọn lμm Thủ đô lâm thời Khu Giải phóng lμ nơi ở vμ lμm việc của Bác Hồ vμ các cơ quan Trung ương của Đảng, Chính phủ, nơi khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoμ Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp xâm lược, Tuyên Quang một lần nữa lại được chọn lμm Thủ đô Kháng chiến, lμ nơi Bác

vμ Trung ương Đảng đã lãnh đạo cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi

Trong những tháng năm cách mạng vμ kháng chiến đầy gian khổ hy sinh hμo hùng ấy nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang nói chung vμ nhân dân xã Tân Trμo nói riêng đã hết lòng bảo vệ, che chở cán bộ cách mạng vμ cùng bộ đội chiến đấu anh dũng bảo vệ quê hương, giμnh độc lập cho đất nước Giờ đây mỗi tên lμng, tên núi, tên sông ở Tân Trμo đều gắn liền với một sự kiện của cách mạng vμ cuộc kháng chiến vĩ đại Nơi đây: “ Mái Đình Hồng Thái, Cây đa Tân Trμo’’, đây “ Ngòi Thia, sông Đáy’’, “ Núi Hồng’’,

“Mái Đình Tân Trμo’’, vμ đây nữa Hang Bòng cùng mái Lán Nμ Lừa, Tân Trμo, nơi ở vμ lμm việc của Bác Hồ cùng Trung ương Đảng, Chính phủ, bộ tổng tư lệnh quân đội, nơi Đảng vμ Chính phủ ta đã đặt đại bản doanh để lãnh

đạo cuộc cách mạng tháng Tám thμnh công vμ lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng liên quan đến vận mệnh của dân tộc như: Cuộc họp Quốc dân Đại hội diễn ra tại Đình Tân Trμo

quyết định “ toμn dân đứng lên vũ trang khởi nghĩa giμnh chính quyền ,

thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quy định Quốc ca, Quốc kỳ, đọc “Bản quân lệnh số 1” dưới bóng đa Tân Trμo vμ hạ lệnh xuất quân tiến về giải phóng thủ

đô ở Lán Nμ Lừa, khi Bác Hồ bị mệt nặng Bác đã dặn rằng: “ Lúc nμy, thời cơ thuận lợi đã đến, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dμnh cho được độc lập’’, lời nói đó của Người đã hun

Trang 6

đúc vμ thổi bùng khí thế quyết tâm chiến đấu của quân vμ dân cả nước cμng thêm mạnh mẽ, thôi thúc cả dân tộc đứng lên đấu tranh giμnh quyền vμ lập nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hoμ, mở ra một Kỷ nguyên mới cho toμn dân tộc Việt Nam, Kỷ nguyên Độc lập Tự do

Tân Trμo trở thμnh mảnh đất cội nguồn của lịch sử, mỗi người con của

đất nước Việt Nam chắc hẳn ai cũng có khát khao khám phá bí ẩn của cội nguồn, ai cũng từng muốn đến miền đất ngμn năm Văn hiến Thăng Long –

Hμ Nội, đến nơi đất tổ Hùng Vương để hiểu rõ nguồn gốc con Lạc cháu Hồng, đi đến thủ đô Gió Ngμn, đến với Tân Trμo, Tuyên Quang - Thủ đô Cách mạng vμ thủ đô của cuộc kháng chiến để tìm lại trong mỗi tên núi tên sông, mỗi cách rừng, mỗi chiếc hang, mái lá vẫn còn lưu lại dấu vết của người anh hùng dân tộc vĩ đại, người cha giμ của dân tộc, vμ vết tích của cả một thời kỳ oanh liệt diễn ra ở đây

Tân Trμo đang dần trở thμnh điểm tham quan du lịch hấp dẫn đón nhiều khách du lịch cả trong vμ ngoμi nước đến tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu vμ học tập lịch sử đồng thời tìm hiểu mảnh đất con người ở đây đã sống cùng vμ lμm nên những tháng năm lịch sử oanh liệt, hμo hùng ấy

Khu Di tích lịch sử Tân Trμo có một ý nghĩa quan trọng vμ vô cùng lớn trong lịch sử giữ nước của dân tộc vì vậy vấn đề bảo tồn vμ phát huy giá trị của Khu Di tích lịch sử Tân Trμo lμ vấn đề quan trọng vμ hết sức cần thiết

Lμ một người con của mảnh đất Tân Trμo lịch sử em rất tự hμo vμ luôn mong muốn có thể đóng góp được một phần công sức của mình vμo việc bảo tồn vμ phát huy giá trị của khu di tích nμy để lμm cho quê hương mình thêm giμu đẹp, giữ gìn vμ phát huy bản sắc của quê hương anh hùng

Được sự động viên, giúp đỡ vμ ủng hộ nhiệt tình của thầy Nguyễn Thế Hùng, Phó cục trưởng Cục Di sản Văn hoá giảng viên hướng dẫn em, em xin mạnh dạn chọn đề tμi “ Tìm hiểu về khu di tích lịch sử Tân Trμo’’ lμm khoá luận tốt nghiệp của mình

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu của đề tμi

Đề tμi “ Tìm hiểu về Khu Di tích lịch sử Tân Trμo” nghiên cứu nhằm mục đích đi sâu tìm hiểu về lịch sử, quá trình hình thμnh Khu Di tích lịch sử Tân Trμo vμ nêu bật được đặc trưng vμ giá trị của khu di tích lịch sử nμy đồng thời thấy được bản sắc văn hóa của các dân tộc trong vùng ảnh hưởng đến khu

di tích lịch sử để từ đó đề xuất kế hoạch bảo tồn vμ phát huy giá trị di tích

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tμi

Đối tượng nghiên cứu: Bμi luận văn nμy nghiên cứu tổng thể về Khu Di tích lịch sử tại xã Tân Trμo bao gồm nhiều điểm di tích riêng lẻ, đi sâu vμo những di tích có giá trị tiêu biểu đồng thời tìm hiểu bản sắc văn hoá dân tộc của dân cư trong khu vực xã Tân Trμo

5 Bố cục của đề tμi

Ngoμi phần mở đầu, phần kết luận, tμi liệu tham khảo, phụ lục, bμi viết gồm có 3 chương:

Chương1: Khái quát về ATK Tân Trμo vμ Khu Di tích lịch sử Tân Trμo Chương2: Những đặc trưng vμ giá trị cơ bản của Khu Di tích lịch

sử Tân Trμo

Chương 3: Bảo tồn vμ phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử Tân Trμo

Trang 8

CHƯƠNG 1 Khái quát về atk tân trμo vμ khu di tích

lịch sử Tân Trμo

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên vμ xã hội

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Tuyên Quang lμ một địa danh được nhiều người biết đến trong thời kỳ tiền khởi nghĩa cũng như trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, Tuyên Quang lμ căn cứ địa cách mạng, lμ an toμn khu của Trung ương Đảng, Chính phủ Tân Trμo lμ một xã nằm ở phía Đông huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang, có diện tích đất tự nhiên lμ 3.494 ha với 3/4 diện tích lμ đồi

núi, dân cư sinh sống trong những thung lũng nhỏ ven các sông suối

Phía Bắc Tân Trμo giáp xã Trung Yên, phía Nam giáp xã Bình Yên vμ Lương Thiện, phía Tây giáp xã Minh Thanh của huyện Sơn Dương, phía

Đông giáp xã Phú Đình vμ xã Minh Tiến của huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.1

Tân Trμo lμ vùng đất có địa hình rừng núi rậm rạp chủ yếu lμ đất xen kẽ với đá vμ các thung lũng nhỏ Phía Đông vμ Đông Nam có dãy núi Hồng lμ ranh giới giữa xã Tân Trμo vμ xã Phú Đình huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên; Phía Nam vμ Tây Nam có dãy núi Nản Đeng vμ Nản Bòng lμ ranh giới Tân Trμo với xã Bình Yên vμ Minh Thanh

1.1.1.2 Tμi nguyên thiên nhiên

Tân Trμo có địa hình rừng núi rậm rạp đồng thời cũng có hệ thống sông ngòi phong phú những ngọn núi, khe suối, con sông đã tạo nên một Tân Trμo trường tồn đầy sức sống Con sông lớn nhất lμ sông Phó Đáy chảy theo hướng Bắc, Nam qua các thôn của xã như thôn Thia, thôn Cả, thôn Vĩnh Tân, thôn Bòng Ngoμi ra còn có một số dòng suối như: Thia, Khuôn Pén, Khuổi Kịch,

1 Lịch sử Đảng bộ xã Tân Trμo, BCH Đảng bộ xã Tân Trμo, 2007, tr.9

Trang 9

đó lμ những nguồn nước quan trọng vừa cung cấp nước cho sản xuất vμ

đời sống, vừa lμ nguồn cung cấp vật liệu xây dựng cho nhân dân ở đây Tân Trμo có lượng mưa vμ nhiệt độ trung bình hμng năm phù hợp với sự sinh trưởng vμ phát triển của cây trồng vật nuôi, lμ nơi có khí hậu trong lμnh mát mẻ Trong các khu rừng, đồi núi, mặc dù cây cối đã bị tμn phá vμ muông thú bị săn bắn nhiều những vẫn còn nhiều loại thú như: hươu, lợn cỏ, tắc kè, gμ rừng, dúi, nhím, cầy Cùng các loại gỗ quý hiếm như: Đinh, lim ,sến, táu Các cây dược liệu qúy như: Trầm hương, sa nhân, ba kích, thiên niên kiện, vμ các loại cây phục vụ cho công nghiệp chế biến vμ vật liệu xây dựng như: giang, tre, nứa, cọ, các lại gỗ thông thường khác như: keo, trò chỉ, xoan

Thổ nhưỡng ở Tân Trμo khá mμu mỡ, đất dùng cho canh tác trồng lúa có 122 ha, chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, ngoμi đất đồi rừng còn

có đất soi bãi, đất lμm ruộng nương thích hợp cho phát triển cây lương thực như: ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ vμ các loại cây công nghiệp, cây lâm nghiệp vμ các loại cây ăn quả khác Đặc biệt đất ở đây rất phù hợp với việc trồng cây chè, cây chè ở Tân Trμo đang được đầu tư vμ phát triển mạnh vμ đang dần tạo được cho mình một thương hiệu riêng, đất ở

đây cũng được khai thác để lμm vật liệu xây dựng như đất lμm gạch, cát, sỏi ở sông

Nhìn tổng thể, các điều kiện tự nhiên của xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tân Trμo xây dựng cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp toμn diện Với địa thế bao bọc lμ núi non hiểm trở, có đường bộ thông qua các xã khác thuận lợi, nối liền với các xã giáp ranh trong huyện vμ xã Phú Đình, Định Hoá, Thái Nguyên vμ có đường thuỷ xuyên suốt về hạ huyện, trung du, đồng bằng, được bảo vệ bởi các dãy núi như một lớp tường thμnh vững chắc, không những Tân Trμo có khả năng phát triển kinh tế hμng hoá, mμ còn có đầy đủ các yếu tố cần thiết của một căn cứ

địa chiến lược, cơ động khi có chiến tranh

Trang 10

1.1.2 Khái quát về điều kiện xã hội

168 đảng viên.1

Bền bỉ suốt mấy nghìn năm lịch sử, bằng sức lao động cần cù, nhân dân các dân tộc Tân Trμo không ngừng cải tạo tự nhiên, biến những đồi cằn, núi hoang, gò bãi, đầm lầy thμnh các trμn ruộng, cánh đồng, hồ cá, vườn cây xanh tươi phục vụ cuộc sống con người Nhân dân Tân Trμo sống quần tụ thμnh các lμng lớn trong các thung lũng vμ ven sông suối, ở các chân núi vμ các triền đồi thấp Nhân dân ở đây sống chủ yếu bằng trồng trọt vμ chăn nuôi, ngoμi ra còn khai thác các nguồn lợi trên rừng, dưới lòng đất đó cũng lμ nguồn thu nhập quan trọng Với đôi bμn tay khéo léo các thiếu nữ dân tộc đã dệt nên những nét hoa văn tinh xảo trên những tấm vải, chiếc khăn, chiếc gối, dây vỏ dao Các chμng trai biết tạo ra những cây nỏ, súng kíp, con dao, lưỡi cμy Từ cuộc sống lao

động chiến đấu gian khổ những vẻ đẹp của đời sống tinh thần của nhân dân cμng được hình thμnh vμ phát triển phong phú thể hiện qua các lμn điệu: then, sli, lượn, sình ca, hát ổi, nhảy sạp, đμn tính vμ các trò chơi dân gian phong phú: tung còn, đẩy gậy, được lưu truyền qua nhiều thế hệ

Sau khi thực dân pháp chiếm đóng Tuyên Quang, các bản lμng Tân Trμo

được đặt dưới ách cai trị của chúng Thực hiện âm mưu vμ chính sách phản

1 Lịch sử Đảng bộ xã Tân Trμo, BCH Đảng bộ xã Tân Trμo, 2007, tr.11

Trang 11

động, thực dân pháp thiết lập bộ máy cai trị từ xã đến thôn bản với các chức danh lý trưởng, khán động vμ bọn địa chủ, cường hμo

Cơ cấu tổ chức của mỗi lμng cũng có những nét chung phù hợp với điều kiện sản xuất vμ sinh hoạt của cộng đồng cư dân mμ phần lớn lμ nghề nông Những năm trước cách mạng tháng 8/1945, quản lý lμng xã lμ một hội đồng gồm các chức danh chánh hội, phó hội, thư ký, thủ quỹ, hộ lại, trưởng bạ, lý trưởng, trương tuần, tuần phiên Việc phân chia các chức không nhất thiết phải

lμ người của thôn nμo, trừ hai chức Chánh hội vμ Phó hội lμ do người của hai thôn Kim Trận vμ Kim Long đảm nhiệm

Dưới ách thống trị của bọn Thực dân phong kiến, đời sống mọi mặt của nhân dân vô cùng cực khổ, lầm than Người dân bị tước đoạt quyền lợi tối thiểu,

ai có lòng yêu nước chúng đều cho lμ “ giặc cỏ’’ lμ “phản nghịch’’ vμ bị đμn áp rất dã man Dựa vμo bộ máy cai trị, chúng đề ra rất nhiều thứ thuế như: thuế

đinh, thuế điền nặng nề cùng bao nhiêu nạn phu phen, tạp dịch để bóc lột nhân dân, chúng còn dung túng cho bọn hương lý, kỳ hμo, địa chủ bóc lột nhân dân bằng tô tức, phạm thu, lạm bổ, cộng với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu quảng canh, du canh, du cư, lμm ra không đủ ăn đời sống vô cùng khổ cực Những lúc giáp hạt lương thực chính của người dân lμ củ mμi, củ từ, củ bấu dùng trong bữa

ăn thay cơm, đêm ngủ không có chăn chiếu phải đắp bằng vỏ cây sui, trẻ nhỏ phần lớn không có quần áo mặc

Chúng thực hiện chính sách ngu dân không nơi nμo có trường học Gần 100% dân số mù chữ bệnh tật hoμnh hμnh ốm đau chỉ có cách bói toán cúng tế thần linh, ma quỷ nên nhiều sinh mạng bị chết oan uổng Chúng khuyến khích

mê tín dị đoan, rượu cồn, thuốc phiện, cờ bạc Thực hiện chính sách “ Chia để trị’’ chúng gây hằn thù dân tộc, chia rẽ các dân tộc kinh, tμy, dao để dễ bề cai trị

Trang 12

1.1.2.2 Truyền thống của nhân dân các dân tộc Tân Trμo

Về truyền thống lao động sản xuất: Nhân dân các dân tộc Tân Trμo luôn

cần cù chăm chỉ trong lao động sản xuất, cố gắng phát huy những thế mạnh của vùng đất để tạo dựng cho mình một cuộc sống đầy đủ, sung túc, ở đó truyền thống được thể hiện ở sự hình thμnh ý thức dòng họ, cộng đồng, ý thức gắn bó xây dựng vμ bảo vệ quê hương Do cuộc sống phải quần tụ cùng nhau

để chống đỡ với thiên nhiên, lao động sản xuất nên giữa các dòng họ luôn có

sự đoμn kết giúp đỡ lẫn nhau Chính từ tình cảm gắn bó cấu kết trước lμ họ hμng sau lμ cộng đồng lμng xã đó đã sớm hình thμnh nên lối sống một mặt rất trọng nhân nghĩa, nhưng mặt khác cũng rất thẳng thắn quyết liệt của con người Tân Trμo đứng trước những bất công ngang trái

Về truyền thống văn hoá: Tân Trμo lμ vùng đất giμu truyền thống văn

hoá, hai thôn Kim Long vμ Kim Trận đều có đình lμng được dựng lên để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng lμ nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá của dân lμng Hai ngôi đình nμy không chỉ có giá trị về kiến trúc nghệ thuật mμ còn lμ những di tích ghi đậm dấu ấn lịch sử cách mạng

Về tôn giáo, tín ngưỡng: Người dân Tân Trμo thường hướng tới thế giới

tâm linh, ngoμi việc thờ cúng tổ tiên, ông bμ còn thờ cả những vị thánh, vị thần điều đó dễ nhận thấy ở hai ngôi đình lμng Kim Trận vμ Kim Long, đình nμo cũng thờ nhiều thần (thần sông, thần núi) Đình Kim Long thờ 8 vị sơn thần, đình Kim Trận thờ 11 vị sơn thần Nét đẹp văn hoá của lμng quê miền núi Tân Trμo còn được thể hiện rõ nét ở những buổi lễ hội, những phong tục tập quán cổ truyền trong những ngμy lễ tết, hội hè, đình đám

Về truyền thống yêu nước: Những người dân Tân Trμo lμ những người

chất phác, thật thμ, không chịu khuất phục trước những khó khăn, trước quân thù hung bạo, họ luôn sẵn sμng chiến đấu chống lại mọi bất công, bảo vệ, che chở cho các chiến sỹ cách mạng của ta trong kháng chiến

Nhân dân Tân Trμo vốn có lòng yêu quê hương, lμng bản, căm thù sâu sắc chế độ thực dân nên từ khi có Đảng vμ cách mạng soi sáng, đồng bμo các

Trang 13

dân tộc Tân Trμo đã sớm giác ngộ một lòng một dạ theo Đảng lμm cách mạng, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, bảo vệ độc lập tự do vμ xây dựng một chế độ mới do Đảng vμ Bác Hồ lãnh đạo

1.2 Quá trình hình thμnh ATK Tân Trμo

1.2.1 Bối cảnh lịch sử

1.2.1.1 Sơ lược tình hình cách mạng Việt Nam giai đoạn 1939-1945

Tháng 9 năm 1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ngay sau đó

Đảng ta kịp thời rút vμo hoạt động bí mật chuyển trọng tâm công tác vμo nông thôn đồng thời vẫn chú trọng gây dựng vμ phát triển phong trμo cách mạng ở các đô thị

Ngμy 29/9/1939 Trung ương Đảng gửi toμn Đảng một thông báo quan

trọng nêu rõ: “Hoμn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng” Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hμnh Trung ương Đảng (tháng

11/1939) nhận định: Trong điều kiện lịch sử mới giải phóng dân tộc lμ nhiệm

vụ hμng đầu cấp bách nhất của Đông Dương vμ chủ trương tập hợp mọi lực lượng chống Đế quốc vμ tay sai vμo Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi lấy

đồn Chợ Rạng (Đô Lương – Nghệ An), ba cuộc nổi dậy nμy lμ những đòn

tiến công trực diện vμo nền thống trị của thực dân Pháp, đó lμ “tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toμn quốc lμ bước đầu tranh đấu bằng vũ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương”

Trang 14

Ngμy 28/1/1941 Nguyễn ái Quốc (Hồ Chí Minh) trở về nước lãnh đạo phong trμo cách mạng trong nước Tình hình cách mạng lúc nμy cần phải xúc tiến ngay công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đến thắng lợi cần phải ra sức phát triển lực lượng cách mạng vμ những hình thức tổ chức thích hợp, tiến hμnh xây dựng căn cứ địa cách mạng

Từ giữa năm 1941 trở đi tình hình trong nước vμ thế giới tiếp tục diễn ra rất căng thẳng Các cấp bộ Đảng vμ mặt trận Việt Minh đã tích cực xây dựng các tổ chức Đảng, tổ chức cứu quốc của quần chúng, phát triển lực lượng chính trị vμ phong trμo đấu tranh của quần chúng ở cả nông thôn vμ thμnh thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng tiến hμnh vũ trang cho quần chúng cách mạng, củng cố, mở rộng phát triển lực lượng du kích ở các địa phương, nhiều cơ sở Việt Minh được xây dựng ở Cao Bằng có nhiều xã, tổng hầu như toμn dân tham gia vμo hội cứu quốc Cao Bằng trở thμnh một căn cứ địa cách mạng, một địa bμn điển hình về xây dựng vμ phát triển lực lượng, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang toμn dân Đội du kích Bắc Sơn đổi tên lμ Cứu quốc quân luôn bám sát quần chúng, kiên trì chiến đấu chống địch khủng bố, giữ gìn lực lượng cổ vũ phong trμo quần chúng trong cả nước

Từ năm 1943 đến năm 1945 phong trμo cách mạng phát triển ngμy cμng mạnh vμ đều khắp ở cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ vμ Nam Kỳ Phong trμo thanh niên, học sinh, trí thức ở thμnh phố bắt đầu khiến cho bọn đế quốc Phát xít

Đức – Nhật lo sợ, bên cạnh thủ đoạn bạo lực đμn áp, chúng tích cực dùng nhiều thủ đoạn chính trị, văn hoá rất xảo quyệt để ngăn chặn các phong trμo của thanh niên, trí thức

Đảng ta đẩy mạnh hoạt động chống lại nọc độc văn hoá tư tưởng phản

động của Pháp – Nhật vμ bọn tay sai, tuyên truyền đường lối cứu nước của

Đảng, cổ vũ quần chúng trên trận tuyến cách mạng Báo chí cách mạng lμ một vũ khí sắc bén, nhiều tờ báo được xuất bản Năm 1943 đưa ra bản đề

cương “Văn hoá Việt Nam ”; cuối năm 1944, hội văn hoá cứu quốc Việt Nam

ra đời, thu hút trí thức vμ các nhμ hoạt động văn hoá vμo trận tuyến đấu tranh

Trang 15

vì một nền văn hoá mới, với sự nghiệp chống Pháp – Nhật dμnh độc tự do cho dân tộc

Cùng với việc đẩy mạnh xây dựng lực lượng chính trị, Đảng còn chú trọng xây dựng vμ phát triển các căn cứ cách mạng vμ lực lượng vũ trang ở trung tâm Bắc Sơn, Võ Nhai, cứu quốc quân tích cực tiến hμnh công tác tuyên truyền vũ trang, xây dựng cơ sở chính trị, mở rộng khu căn cứ ra nhiều huyện thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên Lực lượng cứu quốc quân đã phát triển thμnh một trung đội

ở trung tâm Cao Bằng, phong trμo việt minh phát triển mạnh mẽ Khu căn cứ được mở rộng sang các tỉnh Hμ Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, các đoμn xung phong Nam tiến hoạt động mạnh, phát triển cơ sở chính trị quần chúng trong các dân tộc thiểu số, đánh thông đường liên lạc bằng một hμnh lang chính trị nối liền hai khu căn cứ Cao Bằng vμ Bắc Sơn, Võ Nhai (cuối năm 1943), chuẩn bị cho sự ra đời khu giải phóng Việt Bắc về sau

Từ giữa năm 1944, tình hình trong nước vμ trên thế giới phát triển mau

lẹ Tháng 10 năm 1944, Đế quốc Pháp mở cuộc cμn quét lớn vμo Võ Nhai (Thái Nguyên), quần chúng khởi nghĩa ngoμi kế hoạch, lực lượng cách mạng gặp nhiều khó khăn Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng hoạt động ngay để bảo toμn lực lượng

ở Cao Bằng, Bắc Kạn, LạngSơn, không khí cách mạng sôi sục gấp rút chuẩn bị phát động chiến tranh du kích trong phạm vi ba tỉnh, Hồ Chí Minh

từ Trung Quốc trở lại Cao Bằng kịp thời đình chỉ việc phát động chiến tranh

du kích trên quy mô rộng lớn do điều kiện chưa chín muồi, tránh gây tổn thất cho cách mạng

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thμnh lập (22/12/1944) có nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, vận động nhân dân nổi dậy, gây dựng cơ sở chính trị vμ quân sự cho cuộc khởi nghĩa sắp đến, mấy ngμy sau khi thμnh lập, đội đánh thắng liên tiếp hai trận ở Khay Phắt vμ Nμ Ngần

Trang 16

(Cao Bằng) vμ đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền kết hợp chính trị vμ quân sự, xây dựng cơ sở cách mạng, góp phần củng cố vμ mở rộng khu căn cứ Cao – Bắc – Lạng, cổ vũ vμ thúc đẩy mạnh mẽ phong trμo cách mạng quần chúng trong cả nước

Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vμo giai đoạn kết thúc, ngμy 9/3/1945 Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toμn cõi Đông Dương

Ngμy 12/3/1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau vμ hμnh động của chúng ta”

Từ giữa tháng 3/1945, cao trμo kháng Nhật cứu nước của nhân dân ta

đã diễn ra rất sôi nổi, mạnh mẽ vμ phong phú

Phong trμo đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra trong nhiều nơi ở vùng thượng du vμ trung du Bắc kỳ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vμ Cứu Quốc quân phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hμng loạt xã, huyện thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang

ở Bắc Giang, quần chúng nổi dậy thμnh lập uỷ ban Dân tộc giải phóng

ở nhiều lμng, Chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất thuộc đồn điền Tortarin chia cho dân nghèo vμ những gia đình có công với cách mạng Đội

du kích Bắc Giang được thμnh lập; ở Hưng Yên, đội tự vệ chiến đấu đánh chiếm đồn Bần, thu toμn bộ vũ khí của địch; ở Quảng Ngãi cuộc khởi nghĩa

nổ ra ở Ba Tơ, đội du kích Ba Tơ được thμnh lập Đây lμ đội vũ trang thoát ly

đầu tiên do Đảng tổ chức vμ lãnh đạo ở miền Trung

Hμng ngμn chiến sỹ cách mạng bị địch giam giữ trong các nhμ tù Nghĩa

Lộ, Sơn La, Hoả lò, Buôn Ma Thuột, Hội An…nhân cơ hội Nhật- Pháp bắn nhau đã vượt ngục ra ngoμi hoạt động

Ngμy 16/4/1945 Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về việc tổ chức uỷ ban giải phóng Việt Nam

Giữa lúc cao trμo kháng Nhật cứu nước đang cuồn cuộn dâng lên, ngμy 15/5/1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách

Trang 17

mạng Bắc kỳ tại Hiệp Hoμ (Bắc Giang), hội nghị đã nhận định: tình thế đã

đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng vμ cần kíp trong lúc nμy Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ Hội nghị chủ trương thống nhất các lực lượng vũ trang sẵn có thμnh Việt

Nam Giải phóng quân, xây dựng các chiến khu trong cả nước, phát triển hơn nữa lực lượng vũ trang vμ nửa vũ trang, mở trường đμo tạo cán bộ quân sự vμ

chính trị

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về Tân Trμo (Tuyên Quang), người chỉ thị phải gấp rút chuẩn bị cho Đại hội Quốc dân, thμnh lập khu giải phóng Ngμy 4/6/1945 khu giải phóng chính thức được thμnh lập gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng - Bắc Kạn - Lạng Sơn - Tuyên Quang - Thái Nguyên - Hμ Giang vμ một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang - Phú Thọ -Yên Bái Khu giải phóng trở thμnh căn cứ địa chính của cách mạng cả nước vμ lμ hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới…Tân Trμo, Tuyên Quang được chọn lμm thủ đô của Khu Giải phóng

Từ Tân Trμo, Tuyên Quang thủ đô của Khu Giải phóng, Bác Hồ vμ Trung ương Đảng đã cho ra đời những chỉ thị, quyết định quan trọng để chỉ

đạo cả nước tiến hμnh khởi nghĩa từng phần vμ tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám với thắng lợi vang dội

1.2.1.2 Hoạt động cách mạng trên mảnh đất Tân Trμo lịch sử giai

đoạn 1939-1945

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, bọn đế quốc tăng cường đán áp, khủng bố cách mạng Dưới ánh sáng của đường lối mμ Đảng đã vạch ra, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên tự giải phóng, ở Tân Trμo cũng đã bắt

đầu nhen nhóm các phong trμo cách mạng

Cuối năm 1939 trước sự khủng bố gắt gao của kẻ thù, đồng chí Nhất Quý vμ đồng chí Nguyên Minh lμ cán bộ của Đảng ở Đại Từ (Thái Nguyên)

Trang 18

đã lánh sang Khuôn Trạn một thôn ở chân dãy núi Hồng – xã Lương Thiện (phía Nam Tân Trμo) cố gắng bắt mối gây dựng cơ sở vμ sau một thời gian ngắn các đồng chí đã gây được cảm tình với nhân dân cả lμng Khuôn Trạn (gồm 11 gia đình) Đầu năm 1940, đồng chí Trần Độ đã tới gây dựng cơ sở cách mạng ở Ngòi Nho, hoạt động của các đồng chí nμy đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc hình thμnh căn cứ địa cách mạng ở Tân Trμo

Cuối năm 1941, để mở rộng địa bμn hoạt động, các đồng chí trong đội Cứu quốc quân II như đồng chí Nguyễn Cao Đμm, Phương Cương, Phúc Quyền đã đến xây dựng chiến khu II phía Nam khu Việt Bắc, lμ vùng xung quanh Núi Hồng thuộc Tuyên Quang vμ Thái Nguyên Sơn Dương được chọn lμm địa bμn hoạt động của cứu quốc quân II tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của phong trμo cách mạng vùng Tân Trμo mở rộng hơn các cơ sở cách mạng Tuy việc xây dựng cơ sở gặp rất nhiều khó khăn nhưng với nhiệt tình cách mạng, các cán bộ cách mạng đã lặn lội trong quần chúng, sử dụng nhiều hình thức để bắt mối, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân từ việc dạy học, bán thuốc, đi buôn, dạy võ, giả lμm thầy cúng đến việc lợi dụng đặc điểm trong mối liên hệ anh em, họ hμng, uy tín của trưởng tộc trong xóm lμng

Cuối năm 1941, đầu 1942 ngọn lửa cách mạng đã nhanh chóng lan nhanh đến xóm Kim Long, sự tuyên truyền vận động, giác ngộ cách mạng của các cán bộ cách mạng đã lμm cho chủ trương đường lối của Đảng ngμy cμng ăn sâu trong nhân dân Nhân dân Tân Trμo tự nguyện tham gia phong trμo việt minh ngμy cμng đông Nhiều cuộc uống máu ăn thề được tổ chức ở vùng Tân Trμo vμo năm 1942-1943 để tỏ lòng trung thμnh với cách mạng

được tổ chức rất long trọng Niềm tin tưởng ở việt Minh về đánh Pháp đuổi Nhật ngμy cμng lớn lên trong thôn bản, ảnh hưởng của cách mạng ngμy cμng lan rộng trong nhân dân

Mặc dù kẻ thù lùng sục, khủng bố gắt gao nhưng nhân dân vùng Tân Trμo vẫn tìm mọi cách liên lạc, ủng hộ cách mạng vì vậy các cơ sở, tổ chức việt minh ở vùng nμy ngμy cμng được củng cố phát triển vững mạnh hơn Từ

Trang 19

Khuôn Trạn, Ngòi Nho, các cơ sở cách mạng vμ các hội việt minh đã lan rộng tới Khuổi Kịch (Tân trμo) vμ Bình Dân, Lập Binh (Bình Yên), Khuôn

Đμo, Khuôn Trút (Trung Yên) như một đường cánh cung phía Đông Bắc huyện Sơn Dương biến vùng Tân Trμo thμnh một trung tâm hoạt động của cách mạng sôi nổi trong huyện, chuẩn bị cho một bước phát triển mới của phong trμo cách mạng

Trong khi các cơ sở cách mạng ở vùng Tân Trμo đang mở rộng, từ tháng

9 năm 1942, các tổ chức cứu quốc quân từ biên giới Việt Trung lần lượt trở

về nước hoạt động, đội ngũ cách mạng ở Tân Trμo được tăng cường thêm một

số đồng chí như đồng chí Kháng Phương, đồng chí Hồng Thái Cùng với các

đồng chí cũ, các đồng chí mới đến đã mở nhiều lớp huấn luyện, đμo tạo cán

bộ cơ sở vμ tích cực tuyên truyền vận động quần chúng

Cuối năm 1942, một số đội tự vệ được thμnh lập ở Khuổi Kịch, Kim Long, Hồng Thái đã được thμnh lập vμ huấn luyện tuy số lượng còn ít, vũ khí thô sơ, nhưng các chiến sỹ đã lμm tốt nhiệm vụ bảo vệ phong trμo cách mạng

vμ giao thông liên lạc trong điều kiện bí mật tại địa phương

Cuối năm 1943, các cơ sở vμ phong trμo cách mạng đã được mở rộng ra các xã xung quanh Tân Trμo như Trung Yên, Hợp Thμnh vμ một số nơi trong huyện Sơn Dương các cuộc đấu tranh cách mạng đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, từ đầu năm 1944 trở đi các cuộc mít tinh hội họp, học tập

điều lệ việt minh đã diễn ra sôi nổi vμ rộng khắp vùng Tân Trμo Đặc biệt lμ phong trμo luyện tập quân sự rất rầm rộ, hầu hết thanh niên khắp các lμng bản

đều tham gia Trên cơ sở của phong trμo quần chúng, lực lượng cứu quốc quân II ngμy cμng mạnh, trước tình hình đó ngμy 25/2/1944 đội Cứu Quốc quân III đã chính thức được thμnh lập ở Khuổi Kịch (Tân Trμo), một số đội viên ưu tú người địa phương đã được vinh dự đứng trong hμng ngũ của Cứu Quốc quân III Cứu Quốc quân III ra đời có tác dụng to lớn đối với phong trμo cách mạng Việt Bắc góp phần nhanh chóng đẩy phong trμo cách mạng ở

Trang 20

Tân Trμo lên cao, chuẩn bị tích cực cho vũ trang khởi nghĩa dμnh chính quyền trong cả nước

Phong trμo cách mạng phát triển, địa bμn hoạt động được mở rộng khắp các huyện Bắc Sơn, Võ Nhai, Yên Thế, Phú Lương, Đại Từ, Định Hoá, Sơn Dương nên chiến khu Hoμng Hoa Thám được phân chia ra lμm hai phân khu Trong đó, Tân Trμo nằm trong phân khu Nguyễn Huệ dưới

sự chỉ đạo trực tiếp của cứu quốc quân III, sự kiện đó đã đưa phong trμo cách mạng ở Tân Trμo cũng như vùng xung quanh Tân Trμo đi vμo chiều sâu vμ mở rộng hơn trước đòi hỏi của cách mạng Tháng 10 năm 1944, mười hai cán bộ ở nhμ tù Chợ Chu đã vượt ngục trở về địa phương để bổ sung về vùng Tân Trμo như đồng chí: Tạ Xuân Thu, Trần Thế Môn, Lê Hiến Mai,… Đợt bổ sung cán bộ cốt cán kỳ nμy đưa phong trμo cách mạng lên mạnh mẽ hơn Nhiều nơi chính quyền địch bị tê liệt, những tên tay sai ngoan cố bị nhân dân vμ cách mạng trừng trị, số còn lại không dám ra mặt

đμn áp nhân dân

Một số người ở Tân Trμo đã tìm cách liên lạc với việt minh như các

ông: Nguyễn Văn ảnh, Lý Văn Túc, Viên Phúc Tần, Viên Văn Chấn ở lμng Hồng Thái, nhiệm vụ của các ông lμ những cán bộ cốt cán lμ tuyên truyền phát triển cơ sở cách mạng trong các thôn bản người tμy ở Tân Trμo đã gây dựng được cơ sở cách mạng, nhiều người đã biết việt minh sẽ

về đánh đuổi Nhật – Pháp giμnh độc lập cho quê hương, đất nước

Để đẩy mạnh hơn nữa phong trμo cách mạng vμ xúc tiến việc củng cố căn

cứ địa, tháng 12 năm 1944, các đồng chí lãnh đạo phân khu Hoμng Hoa Thám quyết định chia đội cứu quốc quân III ra các vùng xung quanh để gây dựng phong trμo ở Sơn Dương các đồng chí Tạ Xuân Thu, Lê Dục Tôn phụ trách các đoμn Nam tiến, đã tiến xuống các vùng phía Nam vμ phía Tây Tân Trμo để

mở thêm căn cứ cách mạng, khí thế cách mạng của các nơi đó lên cao, đến đầu năm 1945 không khí chuẩn bị khởi nghĩa rất rầm rộ

Trang 21

Đầu tháng 3 năm 1945, có rất nhiều dấu hiệu biến động chính trị Các tổng lý, kỳ hμo, quan lại, binh lính rất xôn xao, lính dõng ở các xã luôn bị gọi đi tập trung ở các Châu, Tổng, khiến chúng hoang mang đến cao độ Sau khi biết được tin nμy vμ nhận chỉ thị của đồng chí Tân Hồng (Chu Văn Tấn), trước ngμy 09 tháng 3 đồng chí Song Hμo triệu tập một cuộc họp tại Vực Đảo (Thanh La) bao gồm các đồng chí: Song Hμo, Tạ Xuân Thu, Chu Quý Lương, Chị Ân…cuộc họp đã thống nhất phân tích thời cơ khởi nghĩa vμ may cờ khởi nghĩa

Ngμy 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp phong trμo cách mạng xung quanh Tân Trμo đã phát triển rất mạnh mẽ, tình thế cách mạng ngμy cμng tới gần Nhiều nơi chính quyền địch tuy vẫn còn nhưng hầu như

bị tê liệt Mọi công việc trong lμng bản, nhân dân đều tìm tới Việt Minh

để giải quyết Một hệ thống cơ sở cách mạng vμ tổ chức Việt Minh được thiết lập vững chắc ở Thanh La, Khuổi Kịch, Trung Yên rồi tản ra ở Phượng Liễn, Lμng Sảo, Cây Mơ (Hợp Thμnh), Đăng Châu, Lập Binh (Bình Yên) như một vòng tròn thép bμo vây lấy xã Tân Trμo lμm cho bọn phản động ở Tân Trμo tuy ngoan cố nhưng không dám ngóc đầu dậy công khai đưa bọn đế quốc đi đμn áp cách mạng Vòng đai cách mạng ở xung quanh tân Trμo như Thanh La, Trung Yên, Khuổi Kịch lμm tiền đề để Tân Trμo trở thμnh Thủ đô của Khu Giải phóng sau nμy

Cũng như ở vùng Tân Trμo, phong trμo cách mạng trong cả nước đang bước vμo giai đoạn quyết định, sự liên lạc giữa Việt Bắc vμ miền xuôi đã

được thực hiện, phong trμo chiến tranh du kích diễn ra khắp cả nước Cuộc

đảo chính Nhật - Pháp lμm cho chính quyền địch tan rã, tình thế vũ trang khởi nghĩa giμnh chính quyền từng bộ phận đã tới

Tại Sơn Dương, do có sự chuẩn bị trước vμ do phong trμo cách mạng lên cao, ngμy 10/3/1945 các đồng chí lãnh đạo Khu uỷ Phân khu B, Phân khu Nguyễn Huệ đã trở về khá đông đủ để tiến hμnh cuộc họp do đồng chí Song Hμo phụ trách đã quyết định giμnh chính quyền cho kịp thời cơ

Trang 22

Sáng 10/3/1945 đồng chí Tạ Xuân Thu được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang, nòng cốt lμ đội cứu quốc quân III cùng đông đảo quần chúng nhân dân Thanh La kéo đi tịch thu bằng, sắc, ấn, triện của bọn trưởng lý, kỳ hμo, tước vũ khí của bọn lính dõng

Sáng 11/3/1945, trên bãi cỏ rộng trước đình Thanh La nhân dân đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn, hô vang các khẩu hiệu vμ tiếp tục toả đi các hướng, lực lượng tham gia mỗi lúc một đông Khí thế bừng bừng như lửa cháy, mã tấu với súng kíp, gậy song với đinh ba… quần chúng hô khẩu hiệu vang trời.1 Đoμn quân cách mạng kéo tới đâu, hương dõng kéo ra nộp súng, tổng lý, kỳ hμo mũ áo chỉnh tề ra nộp triện đồng, bằng sắc tới đó Quân ta lập tức cho đốt ngay các bằng sắc đó vμ tuyên bố thμnh lập uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời

Đêm 12/3/1945, quân cách mạng bao vây vμ tiêu diệt đồn Đăng Châu,

mờ sáng ngμy 13 mất đồn bọn Nhật liền cho lính vμ bọn tay sai chiếm lại 4 giờ sáng 15 tháng 3 quân cách mạng phải đánh đồn Đăng Châu lần hai Sau hai giờ chiến đấu ác liệt, quân ta đã lμm chủ hoμn toμn đồn Đăng Châu diệt tên tri phủ Hoμng Thế Tâm đồng thời giác ngộ cho toμn bộ lính khố xanh trong đồn, giải phóng châu lỵ Sơn Dương, chính quyền cách mạng châu tự

do ra đời, ban châu tự do chính quyền cách mạng đầu tiên ở Sơn Dương

kỳ hμo nộp bằng sắc, ấn triện, vũ khí cho cách mạng Sau đó, chính quyền

1 Lịch sử Đảng bộ xã Tân Trμo, BCH Đảng bộ xã Tân Trμo, 2007, tr.23

Trang 23

cách mạng đầu tiên ở xã Hồng Thái được thμnh lập do ông Nguyễn Văn ảnh lμm chủ nhiệm

Ngμy 17/03/1945, đồng chí Nguyễn Trung Đình về gây dựng phong trμo Việt Minh ở xã Kim Long vμ thμnh lập chính quyền địa phương do ông Hoμng Văn Các lμm cố vấn vμ ông Nguyễn Tiến Sự lμm chủ nhiệm việt minh

Cùng ngμy hôm đó nhân dân Tân Lập (Tân Trμo) cũng kéo đi thu bằng sắc, ấn triện, vũ khí của bọn lý trưởng kỳ hμo vμ bầu ra uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời do ông Nguyễn Tiến Sự lμm chủ nhiệm

Như vậy, đến giữa tháng 3/1945 nhân dân các dân tộc xã Tân Trμo đã hoμn toμn giμnh được chính quyền về tay nhân dân Mọi người dân đều được hưởng nền độc lập tự do, khí thế cách mạng trong lμng bản sôi sục khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, xây dựng vμ bảo vệ chính quyền cách mạng vừa mới dμnh được

Tóm lại, việc thμnh lập chính quyền cách mạng ở xã Tân Trμo vμ các xã của châu Tự Do lμ thắng lợi bước đầu rất quan trọng cùng với sự ra đời của châu Tự Do, châu kháng địch bao gồm các xã vùng hạ huyện Sơn Dương vμ một số xã thuộc huyện Phù Ninh (Phú Thọ), Lập Thạch (Vĩnh Phúc) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong việc giải phóng Sơn Dương lμm cho Sơn Dương trở thμnh một chiến khu vững chắc phía Nam khu Căn cứ địa Việt

Bắc

1.2.2 Tân Trμo - căn cứ địa cách mạng - trung tâm của ATK

Trong thời gian đầu năm 1945, các huyện khắp tỉnh Tuyên Quang vμ cả vùng Việt Bắc đang sôi nổi giμnh chính quyền từng bộ phận, một vùng nông thôn rộng lớn ở núi rừng Việt Bắc hoμn toμn được giải phóng, Khu Giải phóng Việt Bắc được hình thμnh cùng với Việt Bắc nhân dân các tỉnh trung

du vμ đồng bằng cũng hăng hái hưởng ứng phong trμo sắm vũ khí đuổi thù chung vμ phá kho thóc chia cho dân nghèo, khí thế cách mạng diễn ra khẩn

Trang 24

trương vμ sôi nổi trong toμn quốc Thời cơ toμn quốc giμnh chính quyền sắp chín muồi, cuộc tổng khởi nghĩa đang đặt ra cấp bách cách mạng cần phải chuẩn bị chu đáo để đón thời cơ

Trước đòi hỏi cấp bách đó, Cách mạng Việt Nam cần phải có một trung tâm thuận lợi cho việc chỉ đạo cách mạng chung Khu trung tâm đó phải lμ nơi tiện liên lạc với cả nước, dễ cơ động, cách mạng phát triển lúc nμy, Khu giải phóng gồm sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hμ Giang vậy trong sáu tỉnh đó sẽ có một nơi được chọn lμ trung tâm trở thμnh của Thủ đô của Khu giải phóng

Trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, việc xây dựng căn

cứ địa lμ một vấn đề sinh tử đối với thắng lợi của cách mạng Chỉ có trên cơ

sở xây dựng căn cứ địa vững chắc thì cách mạng mới có điều kiện chuẩn bị lực lượng, tiến hμnh chiến tranh du kích để tiến lên tiêu diệt toμn bộ kẻ thù giμnh thắng lợi hoμn toμn cho cách mạng Việc xây dựng căn cứ địa cách mạng không thể tách rời hai yếu tố: thứ nhất lμm địa hình, địa vật có thể tạo cho cách mạng khi thuận lợi thì tiến công, khi khó khăn vẫn có thể giữ vững

được lực lượng; thứ hai lμ tấm lòng của nhân dân vμ phong trμo cách mạng ở

đó có thể đảm bảo cho cách mạng an toμn vμ phát triển đồng thời thúc đẩy sự phát triển của cách mạng, chỉ có kết hợp hai yếu tố đó thì mới tạo nên một chiến khu vững chắc

Thời kỳ 1939-1945, Đảng ta đã xây dựng được nhiều căn cứ địa trên cả một vùng Việt Bắc rộng lớn bao gồm sáu tỉnh, nhưng để lựa chọn một trong các căn cứ đó trở thμnh trung tâm chỉ đạo trong cả nước lμ một vấn đề được

đặt ra để xem xét vμ nghiên cứu

Cao Bằng lμ nơi có phong trμo cách mạng sớm, nơi Bác Hồ đã ở vμ lμm việc từ năm 1941 nhưng xa Hμ Nội vμ các tỉnh đồng bằng nên khó cho việc chỉ đạo chung Xét trong các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang thì thấy Sơn Dương, một huyện của Tuyên Quang lμ địa bμn có phong trμo cách mạng phát triển khá mạnh vμ lμ địa điểm cơ động Sơn Dương giáp

Trang 25

với Đại Từ, Định Hoá (Thái Nguyên) lμ nơi cách mạng sôi sục vμ dễ kéo về xuôi phía Nam Sơn Dương có đường xuống Vĩnh Yên, liên lạc dễ dμng với miền xuôi, hoặc ngược lên thì sang Tuyên Quang, Yên Bái, Hμ Giang, Hoμ Bình đều thuận tiện

Sơn Dương lμ một bμn đạp tốt để phát triển cách mạng, nối liền Việt Bắc với trung du vμ đồng bằng, lμ nơi có phong trμo cách mạng phát triển mạnh mẽ vμ toμn huyện đã được giải phóng, đó lμ địa bμn tốt, có điều kiện thuận lợi để các cơ quan lãnh đạo đóng

Nhưng trong toμn huyện thì sẽ phải có một xã lμ điểm đỏ” để giữ vai

trò trung tâm vùng đông bắc Sơn Dương gồm các xã Thanh La, Trung Yên,

lμ các nơi có phong trμo cách mạng phát triển sớm nhưng lại không có vị trí

địa lý thuận lợi để bảo vệ cơ quan đầu não Khi nhận được chỉ thị của Bác Hồ

về việc tìm địa điểm để Bác vμ Trung ương Đảng ở, đồng chí Võ Nguyên Giáp vμ đồng chí Chu Văn Tấn đã chọn Tân Trμo

Ngμy 4/6/1945, Khu Giải phóng chính thức được thμnh lập, Uỷ ban lâm thời của Khu giải phóng được thμnh lập, Tân Trμo chính thức trở thμnh Thủ đô của khu Giải phóng

Tân Trμo lμ nơi có điều kiện địa lí tự nhiên thuận lợi, tiến thoái dễ dμng, lại vừa nằm giữa một khu phong trμo cách mạng sớm phát triển, cơ sở cách mạng vững chắc Người dân Tân Trμo vừa mới giải phóng, khí thế cách mạng đang dâng lên mạnh, nhân dân hăng hái, nhiệt tình, yêu nước vμ căm thù giặc sâu sắc Vì vậy Tân Trμo trở thμnh Thủ đô của Khu Giải phóng lμ một tất yếu Tân Trμo trở thμnh một căn cứ địa, một trung tâm, một thủ đô, một trái tim nóng hổi của cả nước mμ từng giây, từng phút, từng ngμy, từng giờ mỗi người dân trong nước đều hướng về

Tân Trμo nơi Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ vμ các ban ngμnh lμm việc để lãnh đạo cuộc cách mạng của toμn Đảng, toμn dân đi đúng hướng, chớp thời cơ, tiến hμnh tổng khởi nghĩa vμ lμm nên chiến công oai hùng, lừng lẫy trong lịch sử của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 điều đó

Trang 26

cũng khẳng định vị trí của Tân Trμo, Tân Trμo xứng đáng lμ trung tâm của Căn cứ địa, “Thủ đô xanh” của cách mạng

Được tin nhân dân Hμ Nội giμnh chính quyền, ngμy 20/8/1945 Hồ Chí Minh quyết định rời Tân Trμo về Hμ Nội Cùng với quyết định đó, Người còn

có một quyết định khác xa hơn, đó lμ việc để đồng chí Phạm Văn Đồng vμ một số đồng chí khác ở lại, chuẩn bị cho sự trở lại của Chính phủ Việt Nam khi tình hình bắt buộc Lúc đó không ai biết được ý tưởng nμy của Người trừ những người thân cận Dã tâm trở lại xâm lược của thực dân Pháp ngμy cμng

lộ rõ hơn trong 3 quý đầu năm 1946, sau khi từ Pháp về, Hồ Chí Minh xúc tiến mạnh mẽ theo hướng đã hình thμnh từ trước Người đã cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh trở lại vùng căn cứ địa cũ để chuẩn bị

địa bμn cho việc rút lui chiến lược của ta khi so sánh lực lượng giữa ta vμ Pháp quá chênh lệch Cuộc rút lui chiến lược của ta chủ động vμ thắng lợi Vμ

từ đó, Việt Bắc lại trở thμnh chiến khu vμ Tân Trμo – Tuyên Quang trở thμnh trái tim của cả nước, trở thμnh trung tâm An toμn khu của cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp

1.3 Lược sử bảo tồn khu di tích lịch sử Tân Trμo, Tuyên Quang

1.3.1 Bảo vệ

Các di tích tồn tại trên đất nước Việt Nam lμ tμi sản văn hoá quý báu của toμn dân tộc Việt Nam Vì vậy Đảng vμ Chính phủ ta đã có nhiều sắc lệnh vμ nghị định về việc bảo tồn di tích Đặc biệt lμ sắc lệnh 65 do Chủ tịch

Hồ Chí Minh ký ngμy 25/ 11/ 1945 về việc bảo tồn cổ tích; Nghị định 519 TTG do Thủ tướng chính phủ ký ngμy 29/10/ 1957; Luật Di sản Văn hoá ký ngμy 01/01/2001 đã tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo vệ các di tích trên đất nước Việt Nam

Thấm nhuần nguyên lý Mác – Lê Nin về việc xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa vμ chấp hμnh nghiêm chỉnh chính sách của Đảng, các địa phương trên miền bắc đã tích cực công tác bảo tồn di tích Nhận thức rõ tầm

Trang 27

quan trọng của các di tích trong công cuộc cách mạng Văn hoá tư tưởng của nhân dân, nhận thấy rõ trách nhiệm của mình trước lịch sử vμ thế hệ mai sau nên sau khi miền Bắc được giải phóng(1954), Tỉnh uỷ, Uỷ ban Hμnh chính vμ

Ty Văn hóa Tuyên Quang đã chú ý tới việc giữ gìn các di tích ở vùng Tân Trμo nói chung vμ ở xã Tân Trμo nói riêng từ đó có biện pháp tích cực để bảo

vệ các di tích đó

Toμn bộ cảnh quan môi trường di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến ở khu vực Tân Trμo, Tuyên Quang hầu hết được bảo tồn mặc dù theo thời gian cũng bị thay đổi nhiều do tác động của thiên nhiên vμ đời sống xã hội của con người ở đây nên các con đường đến di tích được phát quang vμ mở rộng hơn, một số hạng mục di tích bị mục nát vμ huỷ hoại như một số lán ở khu

đồi Nμ Lừa, lán Hang Thia, lán Hang Bòng, vμo thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20 một số di tích quan trọng đã bị xâm phạm như khu đập ngăn nước tại hồ Nμ Lừa, cảnh quan một số di tích quan trọng bị biến đổi nguy hiểm đặc biệt lμ các di tích nằm ven sông Phó Đáy

1.3.2 Xếp hạng

Vấn đề xếp hạng các di tích lịch sử lμ vấn đề quan trọng vμ cần thiết để

từ đó có cơ sở pháp lý vμ biện pháp đầu tư thích đáng để bảo vệ, tu bổ, tôn tạo, quản lý các di tích một cách có quy hoạch vμ hiệu quả

Khu Di tích lịch sử Tân Trμo đã được chú ý, lập Hồ sơ khoa học xin xếp hạng di tích ngay từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ 20

Trong tổng số 46 di tích lịch sử cách mạng vμ kháng chiến ở Tân Trμo

có một số di tích đặc biệt quan trọng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao vμ Du lịch xếp hạng cấp Quốc gia:

Quyết định số 09 – VH/QĐ ngμy 21 tháng 2 năm 1975 của Bộ Văn hoá, quyết định xếp hạng mười hai di tích lịch sử vμ văn hoá thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hμ Nội, Hải Phòng, Hμ Tây, Nam Hμ, Thanh Hoá, Nghệ An, Vĩnh Linh, Vĩnh Phú Trong đó tỉnh Tuyên Quang có

di Khu Di tích lịch sử Tân Trμo được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia bao

Trang 28

gồm một số địa điểm như: Đình Hồng Thái, Cây đa Tân Trμo, đình Tân Trμo

vμ cụm di tích Nμ Lừa với các địa điểm lμ lán Nμ Lừa, lán Điện Đμi, Lán

Đồng Minh, lán Họp Hội Nghị toμn quốc của Đảng

Quyết định số 23/2005/ QĐ - BVHTT, quyết định về việc xếp hạng di tích quốc gia cho di tích lịch sử Địa điểm Ban Tuyên huấn Trung ương ( 1949 – 1953) xã Tân Trμo, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang;

Quyết định số 57/2005/QĐ- BVHTT công nhận di tích Địa điểm Ban tổ chức Trung ương ( 1951 – 1953) tại xã Tân Trμo, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang;

Quyết định số 525/QĐ- UBND ngμy 10 tháng 11 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc xếp hạng di tích cấp tỉnh di tích lịch sử: Nhμ ông Hoμng Trung Dân, nơi ở vμ lμm việc của đồng chí Võ Nguyên Giáp

từ ngμy 21 tháng 5 đến ngμy 16 tháng 8 năm 1945, tại thôn Tân Lập, xã Tân Trμo, huyện Sơn Dương;

Quyết định số 526/QĐ- UBND ngμy 10 tháng 11 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc xếp hạng di tích cấp tỉnh di tích lịch sử:

Trang 29

Nhμ ông Nguyễn Tiến Sự, nơi ở vμ lμm việc của Bác Hồ trong những ngμy

đầu Bác về Tân Trμo đầu tháng 5 năm 1945, tại thôn Tân Lập, xã Tân Trμo, huyện Sơn Dương

Ngoμi ra các địa điểm di tích khác cho đến năm 2006 đều đã có Hồ sơ khoa học, cần tiếp tục triển khai lập hồ sơ gửi lên Bộ văn hoá, Thể thao vμ Du lịch xin xếp hạng di tích cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia

1.3.3 Tu bổ

Đảng vμ Nhμ nước ta hết sức quan tâm tới việc bảo tồn Khu Di tích lịch

sử Tân Trμo nhằm phục vụ việc giáo dục truyền thống, văn hoá, du lịch nên

đã đầu tư nhiều kinh phí cho công tác tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử Tân Trμo

Thực hiện dự án 532/CP của chính phủ, từ năm 1993 đến năm 2001, một số di tích đặc biệt quan trọng thuộc “ Chiến khu Việt Bắc” tỉnh Tuyên Quang đã được đầu tư tu bổ, phục hồi, tôn tạo với tổng số vốn 5.838,8 triệu

đồng cho 5 khu di tích Trong đó tổng số vốn đầu tư cho khu di tích lịch sử xã Tân Trμo chiếm tới 2.244,8 triệu

Trang 30

Bảng thống kê vốn đầu tư của dự án 532/ CP đối với Khu Di tích lịch

Trồng hμng rμo cây xanh vμ trồng cỏ

tại đình Tân Trμo, đình Hồng Thái,

cây đa Tân Trμo

Xây dựng khu phục vụ khách tham

quan, công trình vệ sinh, sân vườn nhμ

trưng bμy Tân Trμo

2001 200.0

Trang 31

Bộ Văn hoá, Thể thao vμ Du lịch kết hợp với Sở Văn hóa, thể thao vμ

Du lịch tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng vμ thực hiện nhiều dự án tu bổ, tôn tạo các di tích tại Khu Di tích lịch sử Tân Trμo Một dự án đang được xây dựng lμ

“ Dự án đầu tư Bảo tồn, phục hồi, tôn tạo vμ phát huy các khu di tích lịch sử cách mạng Chiến khu Việt Bắc tỉnh Tuyên Quang”, dự án nμy được thực hiện

từ năm 2003 đến 2007 trong đó dμnh một tổng số vốn lớn để đầu tư tu bổ, phục hồi, tôn tạo các di tích ở Tân Trμo Trong dự án nμy, Khu Di tích lịch sử Tân Trμo có 15 di tích được đầu tư với các nội dung: Phục hồi 5 di tích, tu sửa

2 di tích, xây dựng nhμ bia vμ đặt bia ghi dấu sự kiện 1 di tích, đặt bia đá lớn ghi dấu sự kiện 1 di tích, đặt bia đá nhỏ ghi dấu sự kiện 10 di tích; Các di tích

được chú ý đầu tư trong dự án nμy bao gồm: Cụm di tích lán Nμ Lừa, Nhμ Văn hoá Cứu quốc, Hang Bòng, Cây đa Tân Trμo, Đình Tân Trμo, Đình Hồng Thái, nhμ ông Nguyễn Tiến Sự, nhμ ông Hoμng Trung Dân, Nhμ xuất bản Sự thật

1.3.4 Quản lý

Số lượng các di tích thuộc Chiến khu Việt Bắc tỉnh Tuyên Quang (giai

đoạn 1941 – 1954) do Bảo tμng tỉnh Tuyên Quang thống kê tính đến thời

điểm 1998 gồm 343 di tích lớn nhỏ Các di tích đặc biệt quan trọng chủ yếu tập trung ở Tân Trμo, Yên Sơn, Chiêm Hoá, toμn huyện Sơn Dương có 146 di tích trong đó xã Tân Trμo có 46 địa điểm di tích

Khu Di tích lịch sử Tân Trμo lμ một di sản Văn hoá quý giá của cả nước, cần phải được bảo tồn, giữ gìn vμ phát huy giá trị Vì vậy khu di tích lịch sử nμy yêu cầu có sự quản lý chặt chẽ để vấn đề bảo tồn vμ phát huy tác dụng của di tích có hiệu quả cao

Ngμy 2 tháng 9 năm 1971 thμnh lập Ban quản lý di tích Khu Di tích lịch

sử Tân Trμo để quản lý, bảo vệ chú ý theo dõi tu bổ vμ tôn tạo các di tích lịch

sử tại khu di tích nμy để bảo tồn nguyên vẹn các di tích vμ phát huy giá trị các di tích đạt hiệu quả cao Hiện nay, Ban quản lý Di tích Tân Trμo do ông Ngô Quốc Lập lμm giám đốc vμ chịu trách nhiệm đầu tiên trong công tác

Trang 32

quản lý khu di tích Ban quản lý nμy gồm có 31 người trong đó có ban giám

đốc vμ các cán bộ, nhân viên, ban bảo vệ nằm dưới sự quản lý của Sở Văn hoá, Thể thao vμ Du lịch tỉnh Tuyên Quang vμ Bộ Văn hoá, Thể thao vμ Du lịch

Ban quản lý di tích Tân Trμo quản lý các di tích thuộc các xã vùng ATK, các xã ATK của huyện Sơn Dương vμ một số xã thuộc ATK của huyện Yên Sơn Trong đó xã Tân Trμo gồm có 46 địa điểm di tích nằm dưới sự quản

lý của ban Quản lý di tích nμy

Tiểu kết chương 1: Tân Trμo lμ một xã nhỏ thuộc tỉnh Tuyên Quang,

nằm ở phía Bắc của Tổ Quốc, lμ một miền rừng núi thâm sâu hoang vu mặc

dù vậy nhưng có các điều kiện tự nhiên vμ vị trí thuận lợi, có thể nối liền miền núi với đồng bằng, trung du, dễ liên lạc với cả nước, có vị thế hiểm yếu

về quân sự để che chở cho cách mạng, tiến thoái dễ dμng Đồng thời, nhân dân vùng Tân Trμo có truyền thống yêu nước sâu sắc, sớm vùng lên đấu tranh cho quyền lợi của mình Cách mạng về đến Tân Trμo, nhân dân sớm giác ngộ cùng với nhân dân cả nước vùng lên đấu tranh giμnh quyền độc lập vμ tự do, dân chủ vμ luôn ủng hộ, che chở, bảo vệ cách mạng Tình hình cách mạng Việt Nam giai đoạn 1939 – 1945 bước vμo thời kỳ sôi nổi vμ mạnh mẽ, chuẩn bị cho tiến hμnh tổng khởi nghĩa giμnh chính quyền trong cả nước, hoạt động cách mạng ở vùng Tân Trμo cũng thật sự sôi nổi Tháng 6 năm

1945, Tân Trμo được chọn lμm trung tâm của căn cứ địa, Thủ đô của khu giải phóng vμ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Tân Trμo một lần nữa lại trở thμnh thủ đô, Thủ đô Kháng chiến vì Tân Trμo có đủ các điều kiện tự nhiên vμ xã hội thuận lợi để trở thμnh trung tâm để Bác vμ Trung ương Đảng, các ban ngμnh đóng tại đây để lãnh đạo phong trμo cách mạng trong cả nước đi đến thμnh công

Tân Trμo hiện nay trở thμnh một địa danh quen thuộc mμ mỗi người Việt Nam đều nhắc đến với niềm tự hμo dân tộc, nơi đây có nhiều di tích lịch

sử ghi dấu những sự kiện trọng đại trong thời kỳ cách mạng Việt Nam vì vậy

Trang 33

đã được Đảng, Nhμ nước vμ các cơ quan chức năng quan tâm đến cho giữ gìn, bảo vệ bằng cách thực hiện các biện pháp bảo vệ, xếp hạng, tu bổ vμ quản lý các di tích

Trang 34

CHƯƠNG 2 Những đặc trưng vμ giá trị cơ bản của khu

Di tích Lịch sử Tân Trμo

2.1 Khảo tả một số di tích tiêu biểu

Tân Trμo lμ một xã nằm về phía Đông Bắc huyện Sơn Dương nơi có 90% diện tích lμ rừng núi Tân Trμo có một vị trí địa lý vô cùng đặc biệt

vμ hiểm trở

Hướng Đông Khu Di tích Tân Trμo dựa vμo dãy núi Hồng trùng

điệp về phía bên kia của dãy núi lμ huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên; Hướng Nam lμ xã Bình Yên; Hướng Tây lμ xã Minh Thanh, hướng bắc

lμ xã Trung Yên, Thanh La thuộc huyện Sơn Dương Các dãy núi như Núi Hồng (phía Đông), Núi Thia (phía Nam), Núi Bòng (phía Tây) vμ các núi Nμ Lừa, núi Khau Hắp, núi Hin Nên bao quanh Khu Di tích như một bức tường thép thiên nhiên rất thuận lợi cho việc lập căn cứ địa vμ

đánh du kích địa thế Tân Trμo vô cùng hiểm trở, nằm giữa bốn bề núi chắn, sông ngăn, cách xa huyện lỵ vμ đường cái lớn tạo cho Tân Trμo có khả năng phòng ngự tốt khi cách mạng gặp khó khăn Muốn vμo Tân Trμo chỉ có hai con đường mòn duy nhất: Một con đường đi từ huyện lỵ Sơn Dương phải vòng qua xã Thanh La, vượt qua các khu rừng rậm vμ

đèo Chắn hiểm trở thì mới vμo được Hồng Thái lμ nơi địa đầu của xã Tân Trμo vμ từ Tân Trμo cũng chỉ có một con đường độc đạo qua Đèo

De sang Thái Nguyên Những con đường giao thông độc đạo đó rất thuận lợi cho việc phục kích, tiêu diệt kẻ thù khi chúng muốn lùng sục vùng căn cứ Tự hμo về địa thế của quê hương mình, nhân dân Tân Trμo

đã có câu ca dao:

Kim Long đất hiểm tứ bề

Kẻ địch muốn chết thì về Kim Long

Trang 35

Mảnh đất Tân Trμo không chỉ lμ nơi thuận lợi cho việc phòng ngự khi cách mạng gặp khó khăn mμ còn lμ nơi có thế tiến công quân thù,

mở rộng ảnh hưởng của cách mạng ra các vùng xung quanh Từ Tân Trμo có thể dễ dμng cơ động tiến lên, lui xuống hay sang phải, sang trái,

có thể dễ dμng liên lạc với các nơi trong huyện vμ trong tỉnh Tuyên Quang Từ Tân Trμo cũng có thể phát triển cách mạng sang Thái Nguyên, đồng thời cũng dễ dμng xuống Vĩnh Phú vμ các tỉnh trung du,

đồng bằng, từ đó có thể nối liền phong trμo cách mạng Việt Bắc với cả nước Với điều kiện thiên nhiên vμ vị trí địa lý đặc biệt đó, Tân Trμo có thể trở thμnh một trung tâm chỉ đạo cách mạng, trở thμnh đầu mối liên lạc của cách mạng thiên nhiên Tân Trμo đẹp vμ có lợi về mặt quân sự

đồng thời cũng rất nên thơ với những rừng tre, rừng nứa bao quanh với dãy núi Hồng sừng sững in bóng trên nên trời cao lồng lộng cμng tô thêm vẻ đẹp cho Tân Trμo Không chỉ có núi, Tân Trμo còn có sông, có suối, dòng sông Phó Đáy như con rồng uốn khúc tạo thμnh một chướng ngại vật thiên nhiên phía Tây che chở cho Tân Trμo Dòng suối Thia bắt nguồn từ chân dãy núi Hồng chảy qua xóm Thia đổ vμo sông Đáy vμ từ chân núi Khau Nhì, suối Khuôn Pén chảy về trước đình Tân Trμo như một cánh cung mềm mại rồi chảy vμo sông Phó Đáy Dòng suối Khuổi Kịch, suối Lũng Tẩu nước trong xanh mát rượi tạo cho Tân Trμo một cảnh đẹp rất thơ mộng

Địa hình hiểm yếu về quân sự, cảnh thiên nhiên lại đẹp đó lμ yếu tố quan trọng để Tân Trμo từ một nơi xa xôi hẻo lánh vắng vẻ trở thμnh Thủ đô Khu Giải phóng trở thμnh Trung tâm lãnh đạo cách mạng của

Đảng ta

Khu Di tích lịch sử Tân Trμo nằm trong phạm vi xã Tân Trμo với diện tích lμ 3.494 ha, các di tích lịch sử bao gồm nhiều địa điểm nằm rải rác trong toμn xã với các thôn bản: Tân Lập, Thia, Lũng Búng, Cả, Bòng, Tiền Phong, Vĩnh Tân, Khuổi Kịch, Đồng Man, Lũng Tẩu, trong

Trang 36

đó các di tích lịch sử nằm tập trung nhiều nhất ở thôn Tân Lập, có các di tích nằm ngay trong dân, lμ nhμ của nhân dân, có di tích nằm trên các

đồi núi thấp, di tích lμ các hang động, các mái lán, di tích lμ mái đình của dân lμng trong xã

Tất cả những yếu tố đó khiến Khu Di tích Tân Trμo không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mμ còn có giá trị về văn hoá, thẩm mỹ, du lịch Khu Di tích lịch sử Tân Trμo có nhiều ý nghĩa quan trọng vì vậy chúng ta cần đi sâu tìm hiểu khảo tả những di tích tiêu biểu để từ đó hiểu sâu hơn ý nghĩa cũng như giá trị của mỗi di tích lịch sử ở vùng Thủ

đô Giải phóng - Thủ đô Kháng chiến để từ đó có biện pháp gìn giữ vμ bảo vệ mỗi di tích, vμ cũng chính lμ bảo vệ di sản văn hoá của dân tộc

2.1.1 Đình Hồng Thái

Đình Hồng Thái lμ nơi dừng chân đầu tiên của vị lãnh tụ kính yêu - Bác Hồ của chúng ta khi người đến Tân Trμo đồng thời đây cũng lμ nơi ghi dấu những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc

Đình Hồng Thái nằm ở thôn Hồng Thái xã Tân Trμo Thôn Hồng Thái trước đây lμ thôn Kim Trận, tên Hồng Thái được đặt cho thôn lμ một kết quả của một quá trình đấu tranh anh hùng vμ bất khuất của nhân dân Kim Trận Tháng 3/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp lμ

đồng chí Chu Quý Lương, nhân dân Kim Trận đứng lên khởi nghĩa vũ trang dμnh chính quyền Sau khi dμnh chính quyền, nhân dân họp bμn vμ quyết định đổi tên lμng, đồng bμo lấy tên liệt sỹ Phạm Hồng Thái đặt lμm tên xã mình vμ đình Kim Trận cũng mang tên lμ đình Hồng Thái từ

đó

Đình Hồng Thái được dựng trên một khu đất rộng vμ đẹp theo thuật

phong thuỷ từ ngμn xưa để lại, đó lμ thế: Đất tụ thuỷ, nước tụ hội”

Đình Hồng Thái được lμm theo hướng Đông Nam, lấy núi Thia ở phía

đông lμm án, vμ có con sông Phó Đáy bao quanh, phía Nam có núi Bòng, phía Bắc giáp xóm Cả

Trang 37

Đình nằm sát cạnh con đường từ huyện lỵ Sơn Dương đi vμo xóm Cả trước cửa đình có sân rộng, sân đình có nhiều cây cổ thụ như cây

đa, cây gạo, có nhiều cây cối khác như cây nhãn, cây thổ Đường đi vμo

đình có hai lối chính, một đường sát với lμng Cả, một đường đi từ lμng Thia, lμng Bòng vμo Từ vị trí của đình có thể dễ dμng toả đi các xã: Thanh La (Minh Thanh), Trung Yên, Tân Lập vì ở đây có nhiều đường qua lại Chính địa thế nμy đã tạo nên xung quanh đình một bức tường thμnh vững chắc, một hμo sâu hiểm trở, đồng thời nó cũng lμ điều kiện rất tốt để bảo vệ cho đình thμnh một nơi trạm tiếp, một đầu mối liên lạc

Đình Hồng Thái được cất dựng từ năm thứ tư triều Khải Định, tức

năm 1918 theo như những dòng chữ được ghi lại ở đình: “Tuế thứ kỷ vị luật trung nam lã đấu bính quý dậu cốc đán kỷ mão Việt nhân dân thì lâm thái ất tân hiến đình thư đại lợi Vμ: “Hoμng Nam Khải Định tứ niên bát ngoạt nhị thập tứ nhật ất tị thì kiên tụ thượng lương đại cát”

Theo tục truyền thì nhân dân Kim Trận xưa rất ít đình, do đó một yêu cầu đặt ra lμ phải dựng đình để cầu tự cho dân bản sinh sống, nảy

nở vì mọi công việc của lμng xã, vận mệnh của người dân được bμn ở

đình, sinh hoạt cộng đồng lμng xã cũng được diễn ra ở đình, do yêu cầu như vậy nên 1918 đình Hồng Thái được dựng lên vμ thờ 11 vị thần

Đình có kiến trúc thuần gỗ, mái lợp lá cọ, nhìn tổng thể đình có dáng dấp như một ngôi nhμ sμn miền núi gồm có ba gian, hai chái

Các vì kèo kết cấu theo kiểu giá chiêng, trên câu đầu nối hai cột cái, người ta lμm hai cột chốn trên đầu hai cột đó có để các bắp quả, từ cột cái đến cột hiên bắc cái kẻ ngồi, từ cột hiên đưa các cái bẩy đỡ đầu mái, từ cột cái đến cột hiên có lắp các xμ nách Các vì kèo được nối với bốn xμ dọc theo bốn hμng cột hình thμnh nên một bộ khung vững chắc Trên bộ khung người ta bắc hoμnh trải rui mè, lợp lá cọ

Để kết thúc phần kiến trúc, người ta lμm mái chái để giải quyết mái chái từ đầu cột hiên chái, người ta bắc xμ dọc nối với cột cái, trên xμ

Trang 38

dọc, người ta để các cột chốn có kẻ suốt chạy thẳng gắn với cột góc Trên đó, người ta bắc hoμnh rải rui mè, lợp lá, tạo thμnh mái chái, ở giữa bốn vì kèo người ta lμm cột bắc sμn thờ, sμn cao sát mái vμ chạy suốt ba gian, từ dường bầu bắc dầm nối vμo cột cái vμ cột con để đặt bμn Phần thượng cung nμy chia lμm hai phần, phần ngoμi gồm hai nửa gian bên phải vμ bên trái dùng để bμy cỗ cúng tế, phần còn lại phía trong lμ vọng cung dùng để bμn thờ vμ để đồ tế khí

Hai gian trái, phải vμ phía sau gian giữa đình bắc sμn cao 80 cm Sμn lát ván bằng gỗ tạp, xẻ dμy 3 cm, sμn dùng đề dân lμng ngồi họp vμ

ăn uống

Khác với các ngôi đình ở miền xuôi, đình Hồng Thái hầu như không trang trí, chạm trổ hoa lá, xung quanh đình để trống, không lμm tường ván ở mặt dưới các câu đầu, bắp quả, các đầu dư có vẽ các chữ triện tô mực đen, có một số câu hán văn được ghi lại trên các xμ vμ khắc các câu đối

Hai câu đối được ghi ở hai tấm ván đóng vμo cột cái gian giữa:

“Chính trực thông minh thiên đại thánh

Âm phù mặc tướng nhất phương dân”

Hai câu nμy tạm dịch lμ: Ông thần ở đình thông minh, ngay thẳng nghìn năm vẫn lμ ông thánh ở đình, ông thần ở đình nμy chỉ được phép phù hộ cho dân phương nμy mμ thôi 1

Hai câu được ghi ở hai cột lửng ngoμi:

Đế ân tích mệnh lân chương sắc Thần vị linh chung phượng kính kỳ”

Hai câu nμy tạm dịch lμ: Ông vua ban sắc cho thần ở đình trông như vây con kỳ lân, ông thần ngồi ở đình như cánh con phượng hoμng chiếu gương vμo 2

Hai câu nữa được ghi ở hai cột lửng giữa:

1,2 Theo tμi liệu Hán nôm , Hồ sơ di tích Đình Hồng Thái

Trang 39

Để giang tả bão linh nguyên hội Ngọc tỉnh hữu triều thuỵ khí chung”

Hai câu nμy tạm dịch lμ:

“Sông Đáy vòng bên trái nguồn linh thiêng tụ lại Giếng Ngọc chầu bên phải, khí đẹp chung đúc về”.1

Để ca ngợi nhμ vua, ở trên vọng cung, có ghi bốn chữ:

“Thánh cung vạn tuế”.2

ở gian giữa trước sân, người ta có để bμn thờ, trên bμn thờ để bộ long giá, xung quanh bμn thờ được chạm trổ long ly quy phượng vμ được sơn son thiếp vμng ở gian giữa còn thấy hình tượng sáu con tắc kè bám ở sáu cột, ngoμi giá trị về mặt kiến trúc, trang trí, đây còn lμ một trong những tín ngưỡng nông nghiệp của đồng bμo, bởi đồng bμo tin rằng tắc kè lμ con vật có khả năng dự báo được thời tiết, mưa hay nắng để từ đó người ta có thể tính

được thời gian trồng cấy mùa vụ

Đình Hồng Thái thờ các vị sơn thần xung quanh vùng Tân Trμo, ngoμi

ra đình còn thờ một vị nhân thần lμ Ngọc Dung công chúa, hμng năm dân lμng ở đây đã tổ chức nhiều lễ cúng bái tại đình, vμ các ngμy lễ dựa vμo mùa

vụ trong năm Ngμy lễ lớn nhất lμ ngμy mùng 3 tháng giêng âm lịch, trong ngμy lễ ấy, đồng bμo tổ chức nhiều trò chơi lý thú, bổ ích như: Vật, câu ếch, hát ổi, cμy bừa, hát then, dạy học tất cả những trò chơi ấy đã phản ánh tinh thần thượng võ, tính giáo dục cũng như sinh hoạt bình dị của người dân nơi

đây Đây lμ ngμy hội vui nhất của lμng, họ rước công chúa Ngọc dung ở cầu Chương - Bến lở về cầu tự cho dân lμng Trong ngμy vui đó nhân dân các vùng lân cận cũng về đây góp vui

Ngoμi ra, còn có 2 ngμy lễ: Ngμy 4/5 âm lịch lμ ngμy lễ hạ điền, ngμy 14/7 âm lịch lμ ngμy lễ thượng điền, hai ngμy lễ nμy ít người tham dự hơn

1, 2 Theo tμi liệu Hán nôm, Hồ sơ Di tích Đình Hông Thái

Trang 40

ngμy lễ chính Họ tổ chức những ngμy lễ nμy với mong muốn tạ ơn trời đất đã cho nhân dân một mùa vụ tốt tươi

Đình Hồng Thái không chỉ lμ nơi sinh hoạt hội hè đình đám mμ nó còn

lμ nơi ghi dấu bước chân của Bác trên con đường hoạt động cách mạng

2.1.2 Nhμ ông Nguyễn Tiến Sự

Ngôi nhμ của Nguyễn Tiến Sự lμ ngôi nhμ đã được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử xảy ra vμo tháng 5 năm 1945 khi Bác Hồ bắt đầu đến Tân Trμo,

lμ địa điểm đầu tiên Bác ở khi Người đến Tân Trμo

Ngôi nhμ nμy được dựng vμo năm 1935 theo kiểu nhμ sμn 3 gian, phía trên lμ để ở, phía dưới dùng để chăn nuôi Diện tích của ngôi nhμ lμ 50m2, cao 13m, có 12 cột Trong đó có bốn cột cái, chất liệu bằng gỗ, tất cả các cột

đều được đẽo tròn không bμo nhẵn, các cây cột phụ vμ các đường quá giang,

xμ ngang, xμ dọc cũng như các câu đầu thượng ốc, đuôi én đều lμm bằng gỗ không mọt Đòn dóng hai mái đều lμm bằng cây mai phơi khô dμi 15 m Dui nhμ hai mái cũng được ráp dầy bằng cây nứa, cây nμy cách cây kia khoảng 20cm, mái lợp bằng lá cọ Sμn nhμ được chia lμm ba lớp, lớp dưới cùng lát bằng cây mai, cây nμy cách cây kia khoảng 1,2 m; lớp thứ hai lát bằng cây nứa dầy, lớp trên cùng cũng lát bằng cây mai đập bẹp, lau nhẵn lát thμnh mặt bằng

Nhμ được dựng hướng về phía đông bắc, cùng về phía Bắc cạnh góc nhμ bắc một cầu thang để lên xuống Cầu thang lμm bằng gỗ bμo nhẵn dμi 4m rộng 1,40 m, bắc chếch khoảng 450, từ cầu thang đi vμo 3m có đặt một cái bếp đun, chung quanh bếp đóng bằng gỗ hình vuông mỗi chiều rộng 1,40

m, nền đất được nhồi bằng đất sét vμ gio bếp Kiềng đặt nồi đun bằng sắt có

ba chân, cao 40 cm Hai gian giữa để thông không có vách ngăn, gian mμ gia

đình thường dọn cơm ăn cũng chính ở gian giữa nμy, thời kỳ đầu tháng 5 năm

1945 Bác Hồ về ở gian đó, Bác thường ngủ quay lưng về hướng Tây Về phía

đầu nhμ chỗ ở giữa phía ngoμi mặt rộng khoảng 2m; cao 2,4m thông qua gian giữa trong buồng đặt một cái giường bằng gỗ dμi 2,4 m; rộng 1,5 m; cao

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w