1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích chùa thành phường chi lăng, thành phố lạng sơn, tỉnh lạng sơn

104 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, ngôi chùa đã chiếm một vị trí khá quan trọng, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt.. Do vị trí địa đầu phía Bắc, là thung lũng lòng

Trang 1

Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi

Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN VĂN TIẾN

Sinh viên thực hiện: HOÀNG THỊ LEN

Trang 2

MỤC LỤC

 

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CHÙA THÀNH TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 7

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại 7

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7

1.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình thay đổi địa giới hành chính của thành phố Lạng Sơn 9

1.1.3 Dân cư 15

1.1.4 Đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội 15

1.2 Diễn trình lịch sử chùa Thành 20

1.2.1 Niên đại khởi dựng di tích 20

1.2.2 Quá trình tồn tại của di tích 24

Chương 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – NGHỆ THUẬT CHÙA THÀNH 25

2.1 Giá trị kiến trúc 25

2.1.1 Không gian cảnh quan 25

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 31

2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc 31

2.2 Giá trị nghệ thuật 38

2.2.1 Trang trí trên kiến trúc 38

2.2.2 Giá trị điêu khắc tượng thờ 40

2.2.3 Các di vật tiêu biểu 62

Chương 3: BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH CHÙA THÀNH 69

3.1 Hiện trạng di tích chùa Thành 69

3.1.1 Thực trạng di tích 69

Trang 3

3.1.2 Hiện trạng di vật 71

3.2 Bảo tồn di tích chùa Thành 72

3.2.1 Cơ sở pháp lý 72

3.2.2 Các nguyên tắc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích 74

3.2.3 Các hoạt động bảo tồn 75

3.3 Vấn đề tôn tạo di tích chùa Thành 79

3.4 Phát huy giá trị của di tích 81

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

 

 

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản quý giá của dân tộc và của toàn nhân loại, là bức tranh xác thực và cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của từng quốc gia Ngày nay dù phát triển ở trình độ nào, mỗi đất nước đều phải tiến hành những hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích cho riêng mình, di tích lịch sử - văn hóa không chỉ nằm trong sự quan tâm của từng quốc gia mà còn

là sự quan tâm của cộng đồng quốc tế

Việt Nam là đất nước có loại hình di tích lịch sử văn hóa phong phú và

đa dạng, trong đó di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm một số lượng đáng kể, nhất là kiến trúc chùa

Đạo phật phù hợp với đặc trưng văn hóa của người Việt, vì thế nên khi

du nhập vào Việt Nam, đạo Phật nhanh chóng phát triển Có thời kỳ tôn giáo này đã phát triển đến đỉnh cao như cuối thời Lý – Trần với nhiều chùa, tháp xây dựng khắp nơi, đôi lúc có hệ tôn giáo khác phát triển mạnh hơn nhưng tinh thần từ bi, bác ái của Phật giáo đã thấm sâu vào trong tâm hồn của người Việt Chính vì vậy, ngôi chùa đã chiếm một vị trí khá quan trọng, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt Việc nghiên cứu ngôi chùa, xác định các mặt giá trị của nó không chỉ có ý nghĩa nghiên cứu tìm hiểu truyền thống văn hóa người Việt mà còn cung cấp nguồn

tư liệu khoa học cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch

sử văn hóa trong đời sống hiện nay

Chùa Thành (tên chữ là Diên Khánh tự) là một trong những di tích nằm trong một vùng đất giàu truyền thống văn hóa thuộc phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Qua khảo sát tại di tích và các nguồn tư liệu cho biết chùa có niên đại khá sớm , hiện vẫn còn dấu vết của kiến trúc thời hậu Lê, các di vật thuộc

Trang 5

thời đại Lê Huyền Tông, Tây Sơn, Nguyễn Trải qua nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử xã hội, sự tàn phá của chiến tranh nhưng chùa Thành vẫn bảo tồn được các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Giá trị ấy được thể hiện cụ thể thông qua kiến trúc, cảnh quan, các di vật cùng với các hoạt động văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng diễn ra trong di tích

Việc tìm hiểu, nghiên cứu toàn diện các mặt giá trị của di tích dưới góc

độ bảo tồn – bảo tàng sẽ góp phần hữu ích vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của di tích Vì vậy nên em chọn đề tài : “ Tìm hiểu di tích chùa Thành phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn” làm khóa luận tốt nghiệp đại học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu sự ra đời và quá trình tồn tại của di tích chùa Thành trong bối cảnh vùng đất nơi di tích tồn tại

- Khảo sát, xác định giá trị của di tích chùa Thành thông qua đặc điểm

về kiến trúc, điêu khắc, tượng Phật giáo

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng tồn tại hiện nay của ngôi chùa, qua đó bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di tích trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích chùa Thành ( phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn )

4 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp liên ngành: Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Bảo tàng học, Khoa học lịch sử, Mỹ thuật học, Dân tộc học, Xã hội học,

+ Phương pháp khảo sát điền dã tại địa phương nơi có di tích tồn tại để thu thập tài liệu liên quan, quan sát, đo vẽ, miêu tả, chụp ảnh

Trang 6

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục khóa luận gồm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Chùa Thành trong diễn trình lịch sử

Giới thiệu khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại, đồng thời tập trung

tư liệu xác định niên đại khởi dựng và làm sáng tỏ quá trình tồn tại của di tích

từ khi khởi dựng đến nay

Chương 2: Giá trị kiến trúc – nghệ thuật chùa Thành

Đây là phần chính của khóa luận Phần này chủ yếu tập trung vào khảo sát để khẳng định giá trị kiến trúc, trong đó chú trọng tới hệ thống điêu khắc tượng và các di vật có giá trị lịch sử, mỹ thuật

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Thành

Đề xuất ý kiến để bảo tồn, tôn tạo và khai thác, phát huy giá trị của ngôi chùa trong đời sống văn hóa của Lạng Sơn

Bài khóa luận được hoàn thành với sự nỗ lực cố gắng của bản thân cùng với sự hướng dẫn trực tiếp, tận tình của thầy giáo Nguyễn Văn Tiến Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Văn Tiến người đã hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Đồng thời, em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Di sản văn hóa, sư thầy Thích Quảng Truyền- trụ trì chùa Thành , Ban quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn, UBND Phường Chi Lăng đã giúp

em hoàn thành bài khóa luận này

Là một sinh viên năm thứ 4, chưa được tiếp xúc thực tế nhiều, trình độ còn hạn chế, kinh nghiệm còn ít nên không tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy

em rất mong nhận được sự góp ý của các nhà nghiên cứu, các thầy cô và các bạn

Trang 7

Chương 1 CHÙA THÀNH TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Lạng Sơn là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của tỉnh Lạng Sơn Thành phố Lạng Sơn có tổng diện tích tự nhiên 79,185 km², cách thủ đô Hà nội 160 km và cách biên giới Việt Trung (cửa khẩu Hữu Nghị) 18

km theo quốc lộ 1A mới; Thành phố ở trong khoảng 21°45´- 22° vĩ bắc và

106°39´ - 107º03´ kinh đông, thuộc phía đông bắc tỉnh Lạng Sơn Thành phố

Lạng Sơn năm giữa long huyện Cao Lộc, phía bắc giáp xã Thạch Đạn, phía nam giáp xã Yên Trạch, xã Tân Liên, phía đông giáp xã Gia Cát, Hòa Cư, thị

trấn Cao Lộc, phía Tây giáp các xã Tân Thành, Xuân Long, Thụy Hùng

1.1.1.2.Điều kiện tự nhiên

Thành phố Lạng Sơn trên một bồn địa bằng có rừng núi bao quanh từ nền đá cổ, được kiến tạo cách đây trên 280 triệu năm Câc tầng lớp đất đã tìm thấy ở đây có: tầng đá vôi tinh khiết màu xám sáng, xám xanh; tầng đá vôi không thuần khiết, tầng cát kết màu vàng, tầng đá phun trào Riolit, tầng cát kết màu xám, vàng; tầng cát bột kết màu tím gan gà, tầng cát kết hạt thô

Các kiểu địa hình: Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn chủ yếu ở khu vực

phía đông, đông Bắc, tây Nam thành phố Kiểu địa hình tích tụ do sông Kỳ Cùng tạo nên gồm ba bậc thềm: Bậc 1 là khu vực bệnh viện tỉnh, đường đi bản Loong, bậc 2 là khu vực sân bay Mai Pha cũ, bậc 3 là bờ sông Kỳ Cùng

Thổ nhưỡng: Có 12 loại đất chính: đất anderit phoocphia; đất feralit

phát triển trên đá mắcma axit; đất feralit vàng, vàng nhạt phát triển trên đá

Trang 8

trầm tích phiến thạch; đất feralit vàng nâu phát triển trên đá mẹ là sa phiến; đất feralit màu vàng nhạt phát triển trên đất mẹ, đất phù sa cổ ở dọc song Kỳ Cùng, đất feralit phát triển do sản phẩm phong hóa của đá vôi; đất phù sa mới được bù đắp hàng năm của sông Kỳ Cùng, đất phù sa cũ; đất feralit biến đổi

do việc trồng lúa nước, đất thung lũng, đất lầy thụt Nhìn chung các loại đất ở thành phố đều thích hợp cho việc trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả và cây công nghiệp cũng như phát triển Lâm nghiệp

Khoáng sản: có vàng sa khoáng, Mangan nhưng trữ lượng nhỏ; các loại

vật liệu xây dựng như đá vôi, đất sét, cát cuội, sỏi với trữ lượng lớn, chất lượng tốt, phục vụ cho sản xuất xi măng, nung vôi và làm gạch ngói

Do vị trí địa đầu phía Bắc, là thung lũng lòng chảo án ngữ bởi ba dẫy núi cao: dãy Công Sơn – Mẫu Sơn có đỉnh cao 1541 m, dẫy núi Khau Kheo cao 811m và núi Khau Mịa cao 800m; mở về phía tây và phía đông của thành phố, tạo nên như một phễu hút gió mùa đông bắc, làm cho thành phố Lạng Sơn trở thành một trong những nơi rét nhất Việt Nam Gió mùa đông bắc chiếm ưu thế suốt từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau Giá rét, không khí lạnh buốt tràn về kèm theo giông và mưa rào, tốc độ gió bình quân là 1,9m/s

Khí hậu: Vào mùa nóng ẩm nhiệt độ không khí bình quân 25ºC; nhiệt

cao nhất có ngày lên tới 39ºC Mùa đông nhiệt độ trung bình là 17ºC, tháng rét nhất xuống tới 13ºC, ngày rét nhất có thể xuống tới 2ºC Nhiệt độ trung bình năm là 21ºC Độ ẩm không khí mùa nóng là 81%, mùa rét là 67% Lượng mưa trung bình cả năm là 1.439mm, chia làm hai mùa: mùa mưa lượng mưa chiếm khoảng 75% so với cả năm, mùa khô lượng mưa chiếm 25%

so với cả năm Tháng 1 có lượng mưa thấp nhất trong năm, bình quân khoảng 22mm, có năm xuống tới 6mm Vào tháng 1 thường xuất hiện nhiều sương muối; có hai loại sương muối là sương muối bức xạ và sương muối bình lưu

Trang 9

Sông ngòi: Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng chảy qua địa phận thành phố

dài 19 km Lòng sông rộng trung bình 100m, mức nước giữa hai mùa mưa và mùa khô chênh lệch ít; chỉ khi có mưa to, bão lũ thì mực nước dâng lên đột ngột, nhưng rút rất nhanh Lưu lượng trung bình trong năm là 2.300m³/s Những năm mà mực nước sông Kỳ Cùng dâng lên cao là năm 1914 (258,43m); năm 1955 (258,34m), năm 1968 (257,13m), năm 1986 (259,98 m)

là năm có mức nước lên cao nhất từ trước tới nay gây ra trận lũ lụt lịch sử lớn nhất chưa từng có cho thành phố Lạng Sơn

Ngoài sông Kỳ Cùng, trên địa bàn thành phố còn có các con suối: suối Nao Ly chạy từ Cao Lộc qua khu Kỳ Lừa đổ ra sông Kỳ Cùng Suối Quảng Lạc dài 9,7 km, rộng 6 – 8m, lòng sâu về mùa lũ lên tới 2 – 3m, mùa khô xuống chỉ còn 0,5 – 1m

Thành phố Lạng Sơn có nhiều núi; Phần lớn các núi tại đây đều có ý nghĩa về mặt quân sự, kinh tế, văn hóa, danh lam thắng cảnh: Núi Khau Mịa cao nhất thành phố; đứng trên đỉnh núi cao 800 m này có khả năng quan sát toàn bộ khu vực thành phố đến tận thị trấn Đồng Đăng Núi Khau Puồng, Khuôn Nha, Phác Mông…thuộc xã Quảng Lạc Núi Phia Trang thuộc xã Mai Pha (khu di tích Mai Pha) Núi Đại Tượng có động Song Tiên ở phía Nam tỉnh lỵ Núi Dương (núi Hang Dê) thuộc phường Chi Lăng Các núi khác như Núi Phai Vệ thuộc phường Vĩnh Trại , núi Tam Thanh, Nhị Thanh, Núi Vọng Phu đều là những danh lam thắng cảnh tiêu biểu cho thành phố nói Riêng và

Trang 10

(con rể của Lý Công Uẩn), sau đổi thành họ Thân (Thân Thừa Quí) Con trai của Thân Thừa Quí là Thân Thiệu Thái cũng là phò mã của vua Lý Thái Tông Cháu nội của ông là Thân Cảnh Long lấy công chúa Thiên Thành, con gái vua Lý Thánh Tông Một dòng họ có ba đời (ông cháu cha con) đều được làm phò mã

Đất Lạng Châu khi ấy chỉ mới tính từ Chi Lăng, Hữu Lũng (Cổ Lũng) trở về phía nam cho tới Bắc Giang Trung tâm của Lạng Châu thời ấy là Giáp Khẩu – Quang Lang Vùng đất thành phố Lạng Sơn (ngày nay) ở phía bắc thuộc nhiều bộ tộc khác do họ Vi, họ Nùng, họ Hoàng cai quản; khi thì thần phục nhà Lý, khi lại sang với nhà Tống; khi lại tự trị trong vùng ảnh hưởng

của mình Thực sự gắn bó với quốc gia Đại Việt từ đầu chí cuối vẫn là họ Thân Sách Việt Sử lược ghi rõ họ Thân được phong làm châu mục (1069),

quê chính của họ là động Giáp Trong trận đánh quân Tống, Thân Thiện Thái

được dân chúng tôn làm thiên thần động Giáp Sách Quế Hải Chí (Trung

Quốc) viết về sự kiện này lại gọi ông là Tri châu Quang Lang Ải Chi Lăng được gọi là ải Giáp Khẩu (liên quan tới động Giáp) Theo lịch sử chép lại khi quân Tống chiếm Quang Lang (1077) phải tấn công ải Quyết Lý (Nhân lý ngày nay) Những chi tiết ấy cho phép dự đoán rằng nếu quan niệm Lạng Sơn khi ấy là một Châu (châu Lạng) có châu lỵ thì châu lỵ ấy nằm ở khoảng chung quanh vùng Nhân ly – Chi Lăng – động Giáp Lỵ sở đầu tiên dưới quyền các thủ lĩnh Lạng Sơn là ở đấy

Thời nhà Trần, lỵ sở, trấn Lạng Sơn được đưa về bắc châu Ôn ở khoảng

xã Mai Pha ngày nay Tại thời điểm này các thành quách mới được xây dựng

Có thể ban đầu xây dựng dựa vào chân núi Phai Vệ nên gọi là thành Vệ, sau này do thấy vị trí địa thế bất lợi nên lại chuyển đổi về phía Nam sông Kỳ Cùng, lấy tên là Đoàn Thành

Trang 11

Cái tên Đoàn Thành cũng chưa xác định là có tự bao giờ, theo sách

Phượng đình địa chí của Nguyễn Văn Siêu có chép: “Xét phủ trị phủ Tư

Minh, nay là châu Ninh Minh cách phía tây bắc 10 dặm, thế núi quanh rừng, gọi là Hồi Đoàn Sơn, phía nam có núi Công Mẫu giáp với Lạng Sơn, có lẽ cái tên Đoàn Thành là gốc từ đây” Thế kỷ 15, sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi cho biết Lạng Sơn có một phủ, bẩy châu Lỵ sở Lạng Sơn được bố trí nhiều cơ quan hành chính, kinh tế, chính trị, quân sự được gọi là vê, cục, ty…Thành Lạng Sơn có từ trước nay được củng cố, tu sửa lại; địa điểm vẫn nằm trên đất Mai Pha

Đời Lê , năm Thuận Thiên thứ nhất (1435) Lạng Sơn thuộc Bắc đạo

Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1935) chép Lạng Sơn có một phủ gọi là

phủ Trường Khánh (Tràng Khánh), gồm có 7 châu: Châu Lộc Bình (39 xã), châu Thoát Lãng (20 xã), châu Văn Uyên (41 xã), châu Thất Nguyên (34 xã), châu Yên Bác (38 xã), châu Yên (30 xã) Không kể các Doanh, các Bãi Lạng Sơn khi ấy có 227 làng xã Phủ lỵ Trường Khánh đồng thời cũng là lỵ sở Lạng Sơn Năm 1469, Vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ của 12 thừa tuyên; Lạng Sơn vẫn gồm 7 châu, nhưng tên cũng như các phần đất của Lạng Sơn có thay đổi đến thời nhà Nguyễn, Trấn Lạng Sơn gồm 1 phủ, 7 châu, 41 tổng,

206 xã, trang, phố, chợ được chia ra theo danh mục dưới đây để có thể hình dung được địa bàn lỵ sở, thị xã mà ngày nay là thành phố Lạng Sơn Phủ thuộc trấn Lạng Sơn vẫn là phủ Tràng Khánh; phủ lỵ và trấn lỵ cùng chung

Đến đầu thế kỷ 20 và cho đến ngày cách mạng tháng tám thành công; tỉnh lỵ Lạng Sơn tách hẳn ra thành một cơ quan riêng, không còn chung với phủ lỵ, huyện lỵ Địa bàn tỉnh lỵ chính của thành phố Lạng Sơn là thành phố bây giờ, nhưng vẫn chưa hình thành đơn vị thành phố và chưa có chính quyền riêng Phố phường dân cư đều nằm dưới quyền phụ trách của huyện Nhưng dáng của một đô thị đã được hình thành để rồi dần dần trở nên rõ nét hơn theo

Trang 12

dòng thời gian Ngày 23 tháng 9 năm 1925, chính quyền thực dân Pháp đã ra nghị định số 3045I về việc thành lập thị xã Lạng Sơn là trung tâm đô thị của tỉnh Lạng Sơn Có hai khu vực tự nhiên lấy con sông kỳ cùng làm ranh giới

để phân biệt Phía bờ nam gọi là “bên Tỉnh”, phía bờ bắc được gọi là “bên Kỳ Lừa” “Bên Tỉnh” tập trung các cơ quan cai trị hành tỉnh gồm dinh thự, công

sở của chính quyền của thực dân Pháp và Nam triều Thành Lạng sơn thuộc

về “bên Tỉnh”; là nơi đóng quân của quan binh Pháp và lính khố đỏ; phía

“bên Kỳ Lừa” là trung tâm kinh tế của phủ Cao Lộc và là nơi đóng quân của lính khố xanh Bộ máy trị an qua các triều đại của Lạng Sơn phụ trách chung công việc của cả Xứ Lạng, xê dịch xa gần thì vẫn chung quanh vùng địa bàn thành phố Lạng Sơn ngày nay Địa bàn ấy suốt bao năm vẫn có vai trò là một trung tâm Xứ Lạng, mặc dù không thành đơn vị hành chính riêng Từ lâu,

Lạng Sơn đã giữ một vai trò trọng trấn Sách Đại việt sử kí toàn thư còn ghi

rõ: Đời Lý, Thân Thiệu Thái là một vị phò mã; đời Trần, Trần Thủ Độ được lấy Lạng Châu làm đất Thang Mộc (năm 1226); đời Lê hoàng tử Nghi Dân được phong là Lạng Sơn Vương Địa bàn mà các nhà quí tộc này lấy làm nơi căn bản vẫn là chung quanh châu lỵ Qua danh sách các vị thủ hiến đã từng đóng chốt ở

lỵ sở này đều là những nhân vật có tên tuổi trong lịch sử Đời Trần có trương Hán Siêu, Trần Trung Ngạn; đời nhà Lê có Trịnh Khả, Bùi Cầm Hổ; sang đời Lê trung hưng có Hoàng Đình Ái, Đinh Văn Tả, Lê Anh Tuấn, Ngô Thì Sỹ đều là những danh tướng, danh nhân Những nhân vật chí ấy không những đã có nhiều đóng góp công lao cho đất nước mà còn nhiều công lao tạo dựng nên mảnh đất địa bàn thành phố Lạng Sơn Chưa có thị xã, chưa có thành phố Lạng sơn nói theo tổ chức hành chính của Nhà nước Nhưng trong nhận thức, cảm quan chung của mọi người thì từ lâu đã có một Lạng Sơn – trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị lâu đời của miền đất Xứ Lạng Trung tâm ấy cũng chình là thành Tiên, thành Đoàn, là tỉnh; không phải là một tỉnh rộng lớn theo nghĩa thông thường, mà còn

Trang 13

là một đô thị hẳn hoi; dần dần cái đô thị ấy sẽ trở thành thị xã và đã trở nên một thành phố Lạng Sơn như ngày hôm nay

Nói về Lạng Sơn xưa không thể không nói đến “Đoàn Thành” Trong quá trình quản lí cư dân, lãnh thổ, biên giới, ông cha ta rất chú ý trong việc xây dựng những tuyến phòng thủ, những “phên dậu”, “cổ họng” làm thành trì vững chắc để bảo vệ đất nước; đó một trong hững yêu cầu sống còn của công cuộc biên phòng biên giới đất nước và được các triều đại phong kiến nước ta

từ xa xưa liên tục tiến hành xây dựng và gia cố Lạng Sơn là một trong những mảnh đất “phên dậu” giữ vai trò xung yếu đối với an ninh biên giới phía Bắc của đất nước; vì vậy việc xây dựng mảnh đất này thành một “phên dậu” vững chắc là điều mà không một triều đại phong kiến nào không quan tâm đến Một trong những biện pháp đó là việc cho xây dựng hệ thống thành lũy phòng thủ

ở đây Đoàn Thành là một trong số thành lũy đó mà dấu tích của nó còn tồn tại đến ngày nay; một di tích kiến trúc cổ xưa còn sót lại ở Lạng Sơn mang giá trị rất lớn về lịch sử, nghệ thuật và văn hóa

Là một trong những tòa thành cổ được xây dựng tương đối sớm ở Việt Nam; trải qua quá trình lịch sử tồn tại lâu dài Đoàn thành Lạng Sơn có nhiều tên gọi khác nhau Có lúc được gọi là “Trấn thành”, lúc lại là “Tỉnh Thành”,

“Lạng thành” và phổ biến hơn tất cả vẫn là “Đoàn thành” Sở dĩ có việc gọi các tên khác nhau như vậy vừa do sự thay đổi đơn vị hành chính qua các triều đại phong kiễn cũng như do cấu trúc của tòa thành mà nên

Đoàn thành Lạng Sơn vào nửa đầu thế kỷ 19 có chu vi phía trong là

219 trượng, 2 thước, 5 tấc; chu vi ngoài là 586 trượng, 8 thước, 7 tấc Mặt đông rộng 153 trượng, 7 thước Mặt tây rộng 140 trượng, mặt nam rộng 273 trượng, mặt bắc rộng 292 trượng Toàn thành cổ có chu vi là 363 trượng, 7 thước, 2 tấc (khoảng 2.547 m); cao 9 thước (3,6 m) Mặt tường dày một

Trang 14

trượng, 8 thước (7,2 m) Chân thành dày 3 trượng, 2 thước (12,8 m); bên trong đắp đất vòng, bên ngoài xây gạch

Xung quanh Đoàn Thành là các đồn ải được bố trí tại các xã, các châu

xa gần để khi có biến sẽ tiếp ứng cho nhau, cả thảy có 19 đồn Ngoài các đồn xung quanh thành Lạng còn có 3 điếm dịch và 26 cửa ải Về mặt quân sự ở Đoàn thành có số quan là 818 người chia ra làm nhiều đội như đội Tin Vũ, đội

Tả Chi, đội Thiệu Vũ, đội Vũ Trấn và thuộc cơ Hùng Tiệp Ngoài ra tổ chức

bộ máy hành chính ở Đoàn Thành gồm các thư ký, cai án, chi bạ thuộc trấn,

ty tả hữu thừa, ty thong ngôn… khoáng vài chục người

Về mặt kinh tế xã hội, dân số ở Đoàn Thành Lạng Sơn khi ấy là 7.625 suất, trong đó người dân tộc là 5.363 suất, người kinh là 2.262 suất (không kể

số quan chức, binh lính và gia đình của họ không phải đóng thuế và đi lính; cũng không kể đến số người Hoa sang trú ngụ làm ăn) Số ruộng đất trồng cấy

vụ thu là 6.500 mẫu, 2 sào, 7 thước Ruộng công chỉ có 2 mẫu, 2 sào; còn lại tất cả là ruộng tư

Có thể nói trấn lỵ Đoàn thành vào cuối thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19

đã có tính cách là một đô thị Tác giả Nguyễn Nghiễm trong Lạng Sơn Đoàn Thành đồ ghi rất rõ là xung quanh trấn thành đã có rất nhiều chợ và nhiều phố như: phố Khau Lừ (phố Kỳ Lừa), phố Trường Thịnh, phố Đồng Đăng, phố Nhị Thanh…

Như vậy, Đoàn thành Lạng Sơn nguyên trước là trấn thành (quân sự) sau đã trở thành một đô thị, một trung tâm hành chính và một thành phố Lạng sơn ngày nay

Từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay, sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, hiện thành phố Lạng Sơn có 8 đơn vị hành chính: 5 phường, 3 xã gồm 75 đường, phố (một số đường, phố chạy dài qua địa phận nhiều phường hoặc là danh giới giữa các phường) và 47 thôn

Trang 15

1.1.4 Đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội

Thành phố Lạng Sơn - vùng đất đã trải qua thời kỳ Châu lỵ, Trấn lỵ và đến năm 1925 được thành lập, trở thành thị xã tỉnh lỵ, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của Tỉnh Đây là nơi có nhiều hang động, di tích lịch sử nổi tiếng như quần thể hang động Nhất, Nhị, Tam Thanh, Nàng Tô Thị, Thành Nhà Mạc, Chùa Tiên, Giếng Tiên cùng các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc đã từng hấp dẫn khách bốn phương từ ngàn xưa

Sự hội tụ của các điều kiện địa lý, thiên nhiên, hoàn cảnh lịch sử và con người đã tạo cho Thành phố Lạng Sơn thế mạnh phát triển đô thị, trở thành trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hoá của tỉnh Lạng Sơn và vùng Đông Bắc Tổ quốc

Thành phố Lạng Sơn thuộc loại hình đô thị thương mại ra đời từ khá sớm, được hình thành theo phương thức "Thị" có trước " đô " có sau Đây là nơi có những địa danh nổi tiếng đã đi vào ca dao, dân ca Việt Nam với những lời ca mượt mà, tha thiết:

Trang 16

" Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu nắm nem Mảng vui quên hết lời em dặn dò "

Ngày nay thành phố Lạng Sơn là một thành phố trẻ, thành phố thương mại cửa khẩu đang trên đà phát triển sôi động, là cửa ngõ giao lưu kinh tế- văn hóa của cả nước với đất nước Trung Quốc và các nước Đông Âu, là địa bàn quan trọng có mối quan hệ mật thiết với vùng tam giác kinh tế trọng điểm của miền Bắc Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh

Cơ cấu kinh tế của thành phố chủ yếu là phát triển thương mại du lịch dịch vụ (chiếm 59,8%), công nghiệp xây dựng ( chiếm 33,5%) và nông lâm nghiệp (chiếm 4,7%)

Hoạt động của các thành phần kinh tế phát triển ổn định, phong phú và

đa dạng Hiện thành phố có hơn 400 doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, hơn 4500 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động sản xuất trên địa bàn

Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cũng có những thay đổi mạnh mẽ, bước đầu đáp ứng được sự phát triển của ngành kinh tế thương mại- du lịch- dịch

vụ thành phố Nhiều khu di tích văn hóa- lịch sử, danh lam thắng cảnh đã được đầu tư, tôn tạo như: khu di tích thành nhà Mạc, khu di tích Nhất Nhị Tam Thanh, chùa Tiên du lịch sinh thái đầu tư xây dựng các công trình phục

vụ phát triển du lịch như: kè bờ sông Kỳ Cùng, cải tạo công viên Hồ Phai Loạn, xây dựng Khu du lịch sinh thái hồ Nà Tâm, hồ Thâm Sỉnh, Khu thái Đèo Giang - Văn Vỉ nhằm tạo ra các điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách

Trang 17

đến tham quan, du lịch trên địa bàn Hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ du lịch hiện có hơn 800 cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng trên địa bàn

 Một vài nét về phường Chi Lăng

Phường Chi Lăng nằm ở phía Tây Nam thành phố, diện tích tự nhiên 412,44 ha, chia làm 12 khối phố Trên địa bàn phường tập trung hầu hết các

cơ quan đầu nào của tỉnh Lạng Sơn: Tỉnh uỷ Lạng Sơn và các cơ quan trực thuộc tỉnh uỷ, UBND tỉnh và các Sở ban ngành trực thuộc uỷ ban, các cơ quan trực thuộc thành phố Đồng thời trên địa bàn phường Chi Lăng cũng tập trung nhiều di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh, trong đó có nhà thờ chính toà Cửa Nam, Diên Khánh tự, đồng chùa Song Tiên Nơi có đại lộ Hùng Vương nối với quốc lộ 1A, nơi có khuôn viên tượng đài đồng chí Hoàng Văn Thụ một trong những lãnh tụ cách mạng Việt Nam phường Chi Lăng còn là nơi tổ chức các cuộc mít tinh kỷ niệm lớn của tỉnh

và thành phố hàng năm

+ Phường Chi Lăng có 12 khối phố

+ Có 2.818 hộ, với 12.277 nhân khẩu

+ Có 6 dân tộc sinh sống trên địa bàn: Tày, Nùng, Kinh, Mông, Hoa, Dao

* Tình hình phát triển kinh tế văn hoá xã hội:

 Thương mại, du lịch và dịch vụ:

Trên cơ sở các tiềm năng thế mạnh của phường, cơ cấu kinh tế được xác định là: Thương mại, dịch vụ, du lịch, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và nông lâm nghiệp Về thương mại dịch vụ tập trung chủ yếu là chợ Chi Lăng (trước đây gọi là chợ Tỉnh) và trên các trục đường chính của phường

Về du lịch tập trung chủ yếu tại các di tích lịch sử văn hoá xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, gắn với lễ hội như đền Cửa Đông, Cửa Tây, Cửa

Trang 18

Nam, Cửa Bắc, chùa Hương Lâm (Diên Khánh tự), động chùa Song Tiên và Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn

 Sản xuất tiểu thủ công nghiệp:

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phường phát triển khá mạnh, phát huy tốt tiềm năng thế mạnh của phường, trên 20 doanh nghiệp là các công

ty cổ phần, TNHH sản xuất các loại vật liệu xây dựng, hành nghề nhôn sắt

 Sản xuất nông lâm nghiệp:

Diện tích đất đai sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do phát triển đô thị hoá thành phố, hiện chỉ còn 9 ha đất trồng lúa, đất màu sử dụng chủ yếu trồng các loại ngũ cốc như ngô, khoai, sắn, đậu đặc biệt là diện tích trồng cây hoa đào phát triển mạnh Diện tích đất đồi rừng được phủ xanh bằng các cây công nghiệp phù hợp như thông, bạch đàn, keo

 Xây dựng cơ bản và quản lý đô thị:

100% khối phố đã có nhà văn hoá, chương trình bê tông hoá đường làng ngõ xóm cơ bản đã hoàn thành đạt tổng chiều dài trên dưới 3.000 mét với tổng mức đầu tư gần 2 tỷ đồng thực hiện theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm Công tác chỉnh trang đô thị nâng cấp vỉa hè bằng gạch tự chèn đạt gần 5 tỷ đồng trong đó có sự đóng góp của nhân dân 16% Trên 90% các công trình xây dựng được cấp phép, công tác vệ sinh đô thị được quan tâm địa bàn phường luôn xanh sạch đẹp

 Lĩnh vực văn hoá xã hội:

Đưa vào sử dụng trạm truyền thanh đến 11/12 khu dân cư rất thuận lợi cho công tác tuyên truyền chủ trương đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến từng người dân, nâng cao một bước nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật Có 5 CLB thể thao và 7 đội văn nghệ quần chúng

Trang 19

thường xuyên hoạt động, nhất là vào các dịp lễ hội và phục vụ các sự kiện chính trị diễn ra trên địa bàn phường Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá trên 87%, khu dân cư tiên tiến đạt 12/12, công tác phòng chống các tệ nạn xã hội đạt thành tích rất đáng khích lệ

Công tác giáo dục đã nâng cao một bước chất lượng dạy và học, sĩ số duy trì 100% và tỷ lệ lên lớp đạt trên 99% Giữ vững phổ cập tiểu học, THCS

và THPT, duy trì tốt các phong trào do ngành giáo dục phát động

Y tế dân số gia đình và trẻ em được đầu tư phát triển, đội ngũ y bác

sĩ được tăng cường đảm bảo công tác khám chữa bệnh cho các đối tượng trên địa bàn (khám trên 7 ngàn lượt người, điều trị trên 3 ngàn lượt bệnh nhân) Tích cực tư vấn, tuyên truyền không kỳ thị phân biệt đối xử với những đối tượng mắc HIV/AIDS tạo điều kiện cho những đối tượng này tái hoà nhập cộng đồng Tỷ lệ tăng dân số đạt 0,7%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở mức 10%

Thực hiện chính sách xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, nhất là số lao động được đào tạo nghề tăng, số lao động trong độ tuổi lao động có việc làm phù hợp tại chỗ Công tác giải ngân hỗ trợ ngành nghề và lao động vay đạt gần 13 tỷ đồng sử dụng đúng mục đích phát huy được hiệu quả vốn vay Hiện

số hộ nghèo chỉ còn 0,3%, số hộ giàu và khá lên đến 72,4% Số nhà tạm được xoá 13 công trình với vốn đầu tư 382 triệu đồng, số hộ được sử dụng nước sạch đạt 100% Số đối tượng chính sách (155 đối tượng) được quan tâm đúng truyền thống đạo lý dân tộc “uống nước nhớ nguồn” đầy đủ các chế độ chính sách Công tác tôn giáo dân tộc được quan tâm phát huy tốt khối đoàn kết thực hiện nghiêm chủ trương đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, tôn trọng lẫn nhau bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng trên địa bàn theo đúng Hiến pháp và pháp luật

Trang 20

Phường Chi Lăng là một trong tám phường xã của thành phố Lạng Sơn, nằm ở phía Tây Nam thành phố - trung tâm chính trị, kinh tế xã hội của tỉnh Lạng Sơn Nơi đây con sông Kỳ Cùng uốn khúc chảy ngược lên phía Bắc,

liền đó là “Kỳ Cùng thạch độ” - một trong tám cảnh đẹp của Trấn thành Lạng

Sơn do Đốc trấn Ngô Thì Sĩ phóng bút đề thơ phong tặng, gắn với cảnh trên

bến dưới thuyền “lung linh sóng nước, xôn xao tiếng chợ” trên sông Ô Bi từ

thuở nhà Lý ở thế kỷ XI, đó là viễn ảnh xa xưa của một chợ vùng núi - tiền thân chợ Kỳ Lừa ngày nay

Chỉ là một phố chợ miền núi nhưng phố chợ Kỳ Lừa ở Lạng Sơn thì không mấy ai không biết, bởi không chỉ là sự hiện hữu của một trung tâm thương mại của thành phố, mà còn hiện hữu sinh động từ miền ca dao bất hủ

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh, có , có thành Tiên xây và ”, gắn liền với bút tích của các tao nhân mặc khách ken

dày trên các bia ma nhai và các bia hình khối trong các di tích Nơi đây với một phát hiện lịch sử quan trọng về tấm bia đá hình khối hai mặt trong đó ghi

"Việt Nam hầu thiệt Trấn Bắc ải quan" nghĩa là: Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam và là ải quan trấn giữ phương Bắc Một phát hiện lịch sử

quan trọng nêu ở đây là trên bia ghi rõ "ải quan trấn giữ phương Bắc" và nơi này là yết hầu của "nước Việt Nam", một phát hiện lịch sử quan trọng là quốc

hiệu Việt Nam đã được khẳng định trên bia Thuỷ Môn Đình ngay từ năm

1670 Và đây cũng là nơi mở đầu của “con đường thiên lý” lịch sử từ cửa ngõ

biên giới phía Bắc về kinh đô Đại Việt, nơi mà hầu hết các đoàn sứ bộ của hai nước Việt - Trung bang giao qua lại, đồng thời lịch sử cũng ghi nhận là nơi các triều đại phong kiến phương Bắc mở đầu tiến quân xâm lược nước ta

1.2 Diễn trình lịch sử chùa Thành

1.2.1 Niên đại khởi dựng di tích

Cũng như nhiều ngôi chùa khác, chùa Thành được dựng lên không ngoài mục đích làm nơi tôn thờ các vị Phật, Bồ tát và các nhân vật khác liên

Trang 21

quan đến đạo Phật Ngôi chùa chính là một sản phẩm văn hóa, một dấu tích vật chất nổi bật theo những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc Đạo Phật chủ trương “cải tà quy chính”, “khuyến thiện trừng ác” Bởi vậy, trong chừng mực nhất định, đạo Phật đã có những mặt tích cực phù hợp với tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân Đại Việt Trải qua hơn hai thiên niên kỷ kể từ khi

du nhập vào Việt Nam, tuy trong quá trình phát triển có lúc thăng, lúc trầm song Phật giáo đã thực sự phát triển và trở thành một tôn giáo gắn chặt và hòa quyện với tín ngưỡng dân gian của người Việt Kết quả của nó để lại tới ngày nay là hàng nghìn những kiến trúc tôn giáo ( trong đó chiếm đa số là các ngôi chùa) còn tồn tại cho đến ngày nay trên đất nước ta Tư tưởng từ bi bác ái và

ôn hòa của đạo Phật đã dễ dàng gặp gỡ với lòng yêu nước, tư tưởng nhân đạo, vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc ta Chùa Thành, cho đến nay vẫn là cây cầu nối liền lịch sử với hiện tại, nối thế hệ này với thế hệ khác để

làm sống lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của mảnh đất xứ Lạng

Đạo Phật đã giữ vai trò một ý thức hệ cơ bản góp phần tích cực để tập hợp lực lượng người Việt đứng dậy giành độc lập dân tộc ở cuối thời kỳ Bắc thuộc Sau đó tới hàng nghìn năm, đạo Phật vẫn phát huy tính tích cực của nó, góp phần vào việc duy trì bản sắc văn hóa dân tộc Đạo Phật đi vào quần chúng bình dân một cách mạnh mẽ và hầu như để lại dấu ấn ở khắp nơi bằng những ngôi chùa Điểm nổi bật của chùa Việt là bao giờ cũng có xu hướng gần dân, ngoài một số chùa được dựng ở những địa điểm thắng cảnh thiên nhiên thì hầu như chùa nào cũng gắn với làng xóm Tín đồ của Phật giáo chủ yếu là nông dân, nên chùa đã phản ánh đậm nét tư duy nông nghiệp, từ đó có thể thấy được chùa là một trung tâm văn hóa của làng và chùa Thành là một

số đó Chùa là nơi thờ Phật, một tôn giáo lớn được du nhập vào nước ta ngay

từ những thế kỷ đầu công nguyên Bằng hệ thống giáo lý và tư tưởng luân hồi, giác ngộ, khuyến thiện của đạo Phật, sự hiện diện của ngôi chùa đã góp phần

Trang 22

tạo nên những truyền thống văn hóa tốt đẹp ở địa phương Ngoài nội dung chính là thờ Phật, trong chùa còn phối thờ những người có nhiều công đức với

di tích hoặc với nhân dân- thờ hậu phật Việc thờ cùng này vốn bắt đầu từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và thể hiện truyền thống nhân bản, truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc tâ Bên cạnh việc thờ hậu trong chùa còn có nhà thờ Tổ, thờ Mẫu, một loại hình tín ngưỡng dân gian của người Việt cổ được lưu truyền và tồn tại đến nay Tuy có nguồn gốc

và nội dung thờ cúng khác nhau, song các tôn giáo, tín ngưỡng đều nhằm hướng con người đến điều thiện và tin vào tương lai tốt đẹp

Mỗi di tích lịch sử văn hóa ra đời dù sớm hay muộn đều mang trong mình tinh thần của cộng đồng và luôn gắn liền với các hình thức sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Mặt khác di tích còn phản ánh tư duy nghệ thuật cũng như tình hình kinh tế- văn hóa- xã hội của một thời kỳ lịch sử Di tích không đơn thuần là khối vật chất thô cứng mà chúng đang sống thực sự giữa cộng đồng làng xã Việt Nam Bao đời trôi qua, những gì được coi là tinh hoa nhất đều cô đọng lại trong di tích Vì vậy, việc tìm hiểu niên đại khởi dựng của mỗi di tích đều vô cùng cần thiết và đang là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học

Vào thế kỷ thứ 1, tướng Hán là Mã Viện đem quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sáp nhập nước ta vào Đông Hán, đi đến đâu chúng xây thành đắp lũy đến đó Nơi tiếp giáp giữa Giao Chỉ và Trung Quốc (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn), Mã Viện cho quân dựng cột đồng, khắc sáu chữ "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Nếu cột đồng đổ thì người Giao Chỉ bị diệt)

Tương truyền, bất cứ người dân đất Việt nào đi qua nơi ấy đều ném vào chân cột đồng một hòn đá Trải nhiều đời, đá trùm lên lấp kín trụ đồng Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm Tân Mùi (1271), Hốt Tất Liệt đòi vua Trần

Trang 23

Thánh Tông phải sang chầu, vua viện cớ đang ốm không đi được Hốt Tất Liệt cho sứ sang yêu cầu vua Trần chỉ cho chúng cột đồng của Mã Viện thuở xưa, với ý đồ dùng cột đồng để hăm dọa sẽ san bằng Đại Việt Vua không hề run sợ mà khẳng khái trả lời chúng rằng: "Cột ấy lâu ngày nên đã mất"

Đến thế kỷ 17, năm Đinh Sửu (1637), thám hoa Giang Văn Minh được vua Lê cử sang yết kiến hoàng đế nhà Minh Thấy sứ thần Việt Nam ứng đối trôi chảy tỏ rõ bậc tài danh, vua Minh ra vế đối: "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục",

ý nói cây cột đồng từ thời Mã Viện đến nay rêu đã phủ xanh, vua Minh huênh hoang sức mạnh của Trung Hoa Giang Văn Minh đối lại: "Đằng giang tự cổ huyết do hồng", nhắc nhở về sự thất trận nhiều lần của Bắc triều, bao lần nhuộm máu trên sông Bạch Đằng khi chúng sang xâm lược nước Nam

Vào thời Lý Trần, cạnh nơi có cột đồng bị đống đá đè lên, triều đình đã cho dựng nhà công quán làm nơi nghỉ chân của sứ thần hai nước Việt - Trung Nhân dân xây chùa cạnh nhà công quán, nơi cột đồng xưa, đặt tên là Diên Khánh tự Ngôi cổ tự nằm cạnh Đoàn Thành phía bắc, nên dân gian vẫn quen gọi là chùa Thành

Có văn bia ghi rằng: "Chùa Diên Khánh gần ngay phố chợ mà nhìn xa

là một dải sơn hà, quả là danh thắng dồi dào phúc đức của bẩy châu vậy Xưa thương khách tấp nập, của cải đầy ắp nên mới xây Chùa này, chuyên thờ Quan Thánh Ðế quân Số là do cầu đảo linh thiêng nên sư trụ trì đã tô thêm tượng và trở thành ngôi chùa thờ Phật”

Khởi nguyên chùa được xây dựng cách vị trí ngày nay khoảng 200m về phía tây nam vào đầu thế kỷ XV dưới triều Thái tổ Lê Lợi, thuộc địa phận xã Mai Pha, Châu Ôn, chùa có tên là Hương Lâm Năm 1796, triều vua Nguyễn Quang Toản (1793-1796) năm Thịnh Bảo Hưng thứ 4 chùa được chuyển về vị

Trang 24

trí hiện nay và lấy tên là Diên Khánh tự Năm 1846, triều vua Miên Tông (1841- 1847) năm Thiệu Trị thứ 6 chùa lại đổi tên là Tuần Khánh ( Tuần Khánh tự) sau mới đổi lại là Diên Khánh tự và tồn tại cho đến ngày nay

1.2.2 Quá trình tồn tại của di tích

Trải qua gần 500 năm tồn tại, trong điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt của nước ta, chùa Thành được tu sửa nhiều lần qua các thời kỳ, lần tu sửa sớm nhất được xác định là năm dựng "Diên Khánh Tự bi ký" 1796, và các năm 1947, 1967, 1980, 1992, lần tu sửa cuối cùng để chùa có được diện mạo như ngày nay là năm 2004

Có thể nói dù không còn giữ được kiến trúc gỗ truyền thống như nhiều ngôi chùa cổ khác, nhưng chùa Thành vẫn có một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân xứ Lạng

 

Trang 25

Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – NGHỆ THUẬT CHÙA THÀNH

2.1 Giá trị kiến trúc

2.1.1 Không gian cảnh quan

Từ thời xưa, người Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng nhà cửa Qua thời gian dài trải nghiệm, ông cha ta đã đúc rút ra kinh nghiệm: làm nhà phải chọn được hướng tốt mới mong mọi người trong gia đình được khỏe mạnh, con cháu học tài, đỗ cao, công việc làm ăn gặp nhiều may mắn Hướng nhà đã quan trọng như vậy, hướng chùa, hướng đình còn quan trọng hơn vì đây là công trình tôn giáo tín ngưỡng đại diện cho cả một cộng đồng Từ xưa, ước vọng truyền đời của người dân gửi vào di tích chính

là sự linh thiêng Di tích phải được đặt ở những nơi hội tụ sinh khí của đất trời thì cầu xin yên ấm, no đủ của con người mới thấu hiểu và đáp ứng Do đó trước khi xây dựng những công trình này, người ta phải nghiên cứu rất tỉ mỉ

và tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của thuật phong thủy

Thời gian đầu, việc chọn đất, hướng và giờ xây dựng di tích đối với người Việt Nam không thực sự được đề cao Với tư duy dân dã, họ chỉ cần biết tới hai yếu tố đất và nước Sau này, khi Nho giáo đã đầy đủ hình hài và

ăn sâu bám rễ vào người Việt thì thuyết phong thủy, âm dương ngũ hành mới

có vị trí thực sự của nó Và bởi thế, việc chọn thế đất và hướng đối với những công trình kiến trúc phục vụ tôn giáo tín ngưỡng là rất quan trọng Người xưa cho đó là cách để bày tỏ sự kính trọng đối với thần linh và những lời thỉnh cầu mong được các vị thần linh cảm thông

Do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, việc lựa chọn đất dựa trên thuyết phong thủy phù hợp với quy luật âm dương thể hiện đồng nhất tính

Trang 26

linh của thần và hạnh phúc muôn mặt của con người Đất tốt là mảnh đất quẻ, xung quanh không bị các thành phần khác che khuất hoặc làm ảnh hưởng tới tính thiêng Đó là vùng đất cao ráo, cây cối tốt tươi, chim chóc tụ về Trong cuốn “ Một con đường tiếp cận lịch sử’, PGS- TS Trần Lâm Biền cho rằng:

“ Người Việt nhìn nhận trong bao la có một khối sinh lực nào đó ở tầng trên, bàng bạc không được xác định Dòng sinh lực vũ trụ này dần được đồng nhất với mọi nguồn hạnh phúc Nó chảy xuống mặt đất làm nảy nở thành sự sống Chính con người đã mượn của trời đất mảnh sinh lực để làm linh hồn riêng Song dòng chảy của thứ linh hồn thiêng liêng đó chỉ xảy ra

ở những mảnh đất hội tụ được những điều kiện nhất định nào đó mà người xưa bằng kinh nghiệm đã nhìn thấy được Nơi ấy họ thường dựng các kiến trúc tôn giáo Vì thế, đứng trong các di tích này tức là nhập vào sự yên ấm của nguồn sinh khí vô biên”

Theo kết quả điền dã dân tộc học, các nhà nghiên cứu cho thấy rằng có khá nhiều di tích cổ không quay mặt về chính hướng: như chính Đông, chính Tây, chính Nam, mà có sự kết hợp, dung hòa thẩm mỹ giữa hai hướng đẹp Tuy nhiên nó chưa trở thành một xu hướng mang tính phổ biến Xưa nay đối với người Việt, hướng Tây và hướng Nam là hai hướng đẹp, được đặc biệt lưu tâm khi xây dựng di tích

Hướng Tây được quan tâm đặc biệt với các di tích có từ thế kỷ XVI trở

về trước Người ta tin rằng đây là một hướng ổn định nhất vì hợp với sự vận hành của âm dương, khiến cho thần linh không rời bỏ nghĩa vụ vì chúng sinh đau khổ Có thể thấy rõ điều này như sau, mặt trước phần mang dương tính

mà quay về hướng Tây thuộc âm là hợp phần lưng thần là âm, quay hướng Đông thuộc dương là hợp; tay trái (âm) đi với hướng Nam thuộc dương, tay phải (dương) đi với hướng Bắc thuộc âm Hướng Nam là hướng đầy dương

Trang 27

tính, sáng sủa, mát mẻ về mùa hè, tránh rét về mùa đông Chẳng thế mà tục ngữ có câu: “ Lấy vợ hiền hòa làm nhà hướng Nam” Hướng Nam đối với người Việt nói riêng, người phương Đông nói chung, là hướng màu đỏ được coi là màu của sự sống đem lại hạnh phúc no đủ cho con người Đồng thời đây cũng là hướng đế vương theo tinh thần của đạo Nho và là hướng đồng nhất với trí tuệ (hướng của Bát Nhã) lấy trí tuệ để diệt trừ ngu dốt- là mầm mống của tội ác theo tinh thần của đạo Phật Với ngôi chùa thì phần nào còn

có nghĩa các đức Phật và Bồ tát ngồi quay hướng Nam để nghe lời kêu cứu của chúng sinh trong kiếp đời tục lụy, đặng dùng pháp lực vô biên qua tứ đại

vô lượng tâm ( từ, bi, hỉ, xả) mà còn cứu vớt Còn “ hướng Đông là nơi ở của các thần theo tự nhiên gắn với mặt trời mọc Người phía Nam, nhất là với các ngôi chùa cổ của người Khme Nam Bộ thường quay hướng này Người Bắc

Bộ ít quay theo hướng Đông vì nóng nực và hơn nữa ánh dương soi vào di tích dễ làm hồn thần tán mà không tụ” Đôi khi chùa quay hướng Bắc, trong trường hợp này ngôi chùa hầu nhưu chứa đựng trong nó một sự tích riêng

Một công trình kiến trúc được xây dựng hoành tráng như một cung điện nguy nga lộng lẫy, toạ lạc trong cảnh thâm u tịch mịch rất phù hợp với dáng vẻ đặc trưng của những ngôi chùa Việt Ngôi chùa trầm mặc uy nghi dưới tán cây đại thụ soi bóng bên bờ nam " Kỳ cùng thạch độ" - một trong tám cảnh đẹp từ xa xưa của Xứ Lạng, trên địa bàn phường Chi Lăng, thành

phố Lạng Sơn, đó là Chùa Thành (có lẽ do chùa ở gần Đoàn Thành cổ nên

có tên này chăng?)

Chùa Thành toạ lạc trong không gian phẳng rộng lớn gần 10.000m2, ở nơi đó còn có nhà Công Quán tiếp đón các sứ thần Việt - Trung trong lịch sử bang giao khi xưa Cách đó không xa về phía tây bắc còn có cột đồng trụ Chùa quay hướng chính Tây có ý nghĩa thần gần dân và ban phúc cho dân

Trang 28

thường xuyên hơn, sân chùa liền kề mép đường Hùng Vương (trước đây là quốc lộ 1A cũ) Phía Bắc giáp khuôn viên vườn hoa Đầu Cầu liền bến “Kỳ Cùng thạch độ” Phía Đông sát mép sông Kỳ Cùng Phía Nam giáp khuôn viên vườn hoa Bờ Sông

Khi nói tới không gian cảnh quan di tích, ngoài những đặc điểm về địa thế và hướng của công trình kiến trúc thì một vấn đề cũng được khá quan tâm nữa chính là bố trí trồng các loại “cây cỏ” trong khuôn viên di tích, hoàn toàn

có thể tuân theo sự sắp xếp có mục đích của con người Sự có mặt của “ cây cỏ” góp phần tô điểm cho di tích, làm cho di tích hài hòa vào thiên nhiên Đến với ngôi chùa sự có mặt của cây cỏ còn mang ý nghĩa thoát tục Mặt khác cây

cỏ tươi tốt còn ứng với việc xác nhận mảnh đất mà di tích đang tồn tại là mảnh đất linh thiêng, mảnh đất làm cho muôn loài trên mảnh đất ấy vạn vật sinh sôi phát triển Hơn nữa, khi bước vào chùa được bao bọc bởi cây cối tốt tươi, con người hòa mình vào thiên nhiên, nghe tiếng chuông chùa, mọi phiền muộn được trút bỏ, con người tạm lánh xa cõi hồng trần tục lụy mà nhập vào thiền, vào vô vi (Không làm theo lẽ đời mà còn làm theo lẽ đạo) Họ có thể gạt bỏ hết những vướng mắc của đời thường con người hướng đến tâm thiện, hướng đến Phật làm cho con người biết yêu người, yêu quý muôn vật

Ngay sát Tam quan là cây đại thụ, cây đại khi nở hoa có màu trắng, hương thơm tinh khiết, là một trong hệ cây thiên mệnh Theo người xưa, thế giới nhân gian và vũ trụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cây đại được coi như cánh tay của nhân gian hút sinh lực vũ trụ, vì thế nó biểu tượng cho sức sống Thân cây xù xì với nhiều bướu, những bướu của cây đại được coi như

sự tập trung sinh lực của vũ trụ Người ta tin rằng khi sờ vào bướu cây này sẽ được sống lâu

Trang 29

Phía sau chùa còn trồng cây mít Đây là một loại cây trồng để con người lấy quả dùng cả khi non và khi chín Ý nghĩa của cây mít được Phật giáo rất quan tâm Họ lý giải rằng, mít có thể là tiếng gọi tắt của từ Paramita ( tiếng Phạn), phiên ra Hán ngữ là “ Cứu cánh đáo bỉ ngạn” nghĩa là giáo hóa chúng sinh đưa tới bến bờ giác ngộ Vì thế cây mít là tượng trưng cho sự giác ngộ, giải thoát Thời kỳ mà đạo Phật phát triển, các kiến trúc truyền thống, đồ thờ trong đình, chùa, đền, miếu thường được làm bằng gỗ mít Và vì cây mít tượng trưng cho sự giác ngộ, giải thoát nên người ta còn lấy gỗ mít để tạc tượng Trồng cây mít còn ngầm nhắc nhở những người tu luyện gắng tịnh tấn

tu hành thì nhất định sẽ sớm giác ngộ cửa Phật

Ngoài ra trong chùa còn trồng nhiều loại cây cảnh, cây sấu, cây xoài, cây muỗm, nên bốn mùa cây cối tươi tốt, sum suê Dân gian cho rằng trong những tán cây ấy là nơi những linh hồn bơ vơ trú ngụ Những linh hồn ấy nương nhờ vào đó để hưởng lộc của chúng sinh Vì thế, dân gian có tục lệ vào ngày rằm tháng bảy nấu cháo hoa, làm oản múc ra lá cây gài vào các cành cây

để cúng cô hồn Các linh hồn ấy cư ngụ ở đây, ngày ngày nghe tiếng kinh kệ

mà tìm đường siêu thoát

Vườn chùa còn dành một khoảng không gian nhỏ để trồng một số loại cây rau cải, cà, đậu, những cây này phục vụ cho nhu cầu cuộc sống chay tịnh đời thường của nhà chùa Chúng còn góp phần tô điểm cho không gian của nhà chùa

Như vậy việc chọn đất, chọn hướng và các loại cây cối được trồng ở di tích đã tạo nên một vẻ đẹp hài hòa giữa trời và đất, giữa con người và cây cỏ hoa lá khiến cho tâm hồn người hành hương như được chảy theo dòng thông linh, gạt bỏ hết mọi vướng mắc của đời thường mà nhập vào cõi Phật

Chùa Thành còn gắn với một thực thể văn hóa khác, đó là nhà Công quán- nơi nghỉ chân của sứ thần hai nước Việt Trung và là nơi nghỉ chân của

Trang 30

quan nhân nhiều thời đại đi qua sông Kỳ Cùng Hai cột đồng trụ dấu ấn của bến sông, phía Nam chợ Kỳ Lừa là cột mốc lịch sử về văn hóa

Dù không nằm trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, song vẫn xin được giới thiệu đôi nét về nhà công quán và cột đồng trụ này

Trong không gian chùa Thành, tại khu vực khuôn viên vườn hoa Đầu Cầu ngay nay, trước kia dưới thời phong kiến được xây Nhà Công Quán là nơi tập kết các sản vật của Đại Việt cống nạp cho phong kiến phương Bắc và cũng là nơi đón tiếp các sứ thần Đây là sự kết hợp trọn vẹn những triết yếu tốt đẹp làm bệ đỡ cho ngôi chùa phát huy mạnh mẽ giá trị tâm linh của mình

Có người lầm tưởng cho rằng đây là cột đồng trụ do Mã Viện dựng Nghiên cứu kiến trúc và chất liệu của cột này được xây bằng gạch chỉ, vôi cát, cao trên tám mét, cột vuông 0,95m x 0,95m, kết cấu tạo nên 4 phần riêng biệt: Phần chính dưới cùng cao 6m, ba mặt đều đắp gờ nổi 0,02m x 0,11m xung quanh; riêng mặt cột phía Đông gờ nổi chỉ lên cao 4m, ngay sát trên gờ nổi ở chính giữa có lỗ vuông 0,35m x 0,35m xiên chếch lên về phía Tây Các mặt cột đều đắp nổi chữ Hán: ở mặt cột phía Bắc còn lại hai chữ

ở vị trí thứ hai và ba (dịch là Sao, Thêm ?), mặt cột phía Nam còn hai chữ

(dịch là Thiên, Hạ ?), các chữ khác phần bị mờ, phần mất nét không đọc

được, nhưng xét về bố cục đó là các câu đối trên các cột biểu Phần hai tiếp trên có đáy phần 1 vuông liền phần 2 vát chéo 0,15m ở 4 góc cột tạo nên bát giác với 4 mặt vuông 0,9m x 0,9m và 4 mặt chữ nhật 0,15m x 0,9m Phần 3 liền trên có đáy dưới vát, đáy trên vuông và 4 mặt vuông 0,5m x 0,5m tạo thành một đấu vuông đỡ phần 4

Phần 4 cao 0,4m như chiếc nấm, thân cao 0,15m đỡ hình bầu dục đường kính lớn 0,4m, đường kính nhỏ 0,25m

Trang 31

Tìm hiểu kỹ lỗ vuông xiên chếch ở mặt cột phía Đông, thì ra đó là lỗ xỏ của xà nách nối cột trụ với một cột thấp nhỏ hơn về phía Đông cách 3 hoặc 4 mét tạo nên một cổng phụ Như vậy ở đối diện phía Tây cách khoảng 7 hoặc 9 mét phải còn một nửa cổng nữa có kết cấu như hai cột ở phía Đông tạo nên một Nghi Môn trên bờ nam sông nơi bến "Kỳ Cùng thạch độ", đây là loại Nghi Môn tượng trưng, nơi tiễn và đón các sứ thần của ta và Trung Quốc

Như vậy, mặt bằng tổng thể của chùa Thành tuy có quy mô không lớn nhưng tổng thể mặt bằng của nó đã chứa đựng khá đầy đủ các yếu tố cảnh quan, không gian kiến trúc Các công trình này được xây vào những khoảng thời gian khác nhau nhưng đều tạo sự hài hòa và hoàn chỉnh cho di tích

2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc

2.1.3.1 Tam quan

Tam quan là một công trình kiến trúc mở đầu cho một ngôi chùa, bởi tam quan là lối chính nhất để vào trong chùa Chư Tăng, tín đồ và du khách ra

Trang 32

vào chùa đều phải qua tam quan này Do vậy tam quan có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến đời sống tâm linh của các hành giả trong chùa và khách thập phương đến chùa lễ Phật Tam quan được xem như cửa ải giữa hai thế giới thánh-phàm, tịnh- nhiễm nhằm thanh lọc và bảo hộ tâm hồn của hành giả mỗi khi ra vào Cũng bởi lẽ đó mà người ta thường gọi tam quan của chùa là cửa Phật, cửa Tam bảo, cửa Từ bi, cửa Giải thoát

Do vậy, trong bố cục kiến trúc tổng thể của một ngôi chùa xưa, chư Tổ thường đặc biệt quan tâm đến hạng mục kiến trúc tam quan Mỗi tam quan xưa đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa con người, cảnh vật và giáo lý giải thoát của nhà Phật để xây dựng lên nhằm giúp cho con người bước vào luôn có cảm giác gần gũi, gạt bỏ ra ngoài những thị phi phiền muộn của thế gian, dọn lòng thanh tịnh trước khi vào lễ Phật bái Tổ Cũng như bao ngôi chùa Việt khác chùa Thành mở đầu bằng một Tam quan

Theo từ điển Hán - Việt định nghĩa: “ Tam” là con số 3, “Quan” là cửa,

là quan sát, là nhận thức Như vậy, Tam quan là ba cách quan sát, nhận thức Còn theo nhà Phật, Tam quan gồm: không quan, giả quan và trung quan

“Không quan là quan niệm về lẽ không của đạo có nghĩa là đi sâu vào

bản thể chung/cùng của muôn loài, muôn vật Người nhà Phật giải thích rằng:

“Nếu lấy đầu một chiếc lông thỏ gọi là Mao thỏ trần, chia 7 được Thủy trần rồi Kim trần, cứ theo cách này chia bảy lần liên tiếp cuối cùng được Sắc biến

tế tướng là cái sắc (vật chất) giáp giới cái không, vì quá nhỏ không thể chia được nữa, nhưng lúc này nó cũng không còn mang tính chất của lông thỏ nữa (cũng như bất kỳ vật thể nào), nó không là cái gì cả (như mang tính của hạt

cơ bản- vật lý), nó là bản thể của sự vật (bản thể của sự vật là phần vi tế nhất, nhỏ bé nhất cấu thành nên một sự vật) Từ không bản thể này, muôn vật trong thế giới hữu hình Trong Tam quan thì Không quan được tượng trưng bởi cửa

Trang 33

bên phải (theo hướng nhìn từ trong ra bởi theo quan niệm của người Việt, di tích là nơi thờ thần phật vì vậy hướng của di tích là theo hướng nhìn của Thần, Phật

Giả quan: Tức quan niệm về muôn vật, muôn loài chỉ tồn tại giả tạm

mà thôi Mọi vật đã có sinh thì tất phải có diệt theo quy luật thường hằng của tạo hóa (sinh, trụ, dị, diệt) Đó là tính “vô thường” trong nhận thức của nhà Phật (sắc tức thị không) được tượng trưng bằng cửa bên trái của Tam quan

Nằm ở giữa Giả quan và Không quan là Trung quan, nghĩa là trung tâm, là lối nhìn chân chính, đòi hỏi phải tìm hiểu mọi lẽ huyền vi của tạo hóa

và thế gian để đi vào Đạo bằng trí tuệ và tìm đường giải thoát”

Trước Tam quan dựng 2 cây hương và 2 lư hương bằng đá khá lớn Có

2 con Nghê chầu ở 2 bên mép ngoài cùng các bậc ngũ cấp dẫn lên Giả quan

và Không quan Chùa Thành không có lối vào Trung quan, ở đó bố trí một

bức phù điêu đá lớn và Rồng chầu (tạo tác theo phong cách đặc trưng thời Lý)

nằm nghiêng theo bậc ngũ cấp từ Trung quan đến nền sân chùa, phù điêu chạm nổi Long Phượng đăng đối, song Sư vờn cầu và các hoạ tiết vân mây, sóng nước rất sinh động

Tam quan chùa Thành được thiết kế theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái thanh thoát,lại thấp thoáng dưới bóng cổ thụ xum xuê càng tôn lên vẻ đẹp cảnh chùa, các mái lợp ngói mũi hài Kiểu mái này phổ biến ở các di tích cổ biểu hiện mạnh mẽ cho việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đến kiến trúc Việt Hai tầng mái là “lưỡng nghi” (thái âm, thái dương), bốn góc mái nhìn ra bốn hướng “tứ tượng” (thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu dương), tám mái là “bát quái” gồm 8 quẻ (càn-trời, ly – lửa, trấn- sấm, đoài- đầm nước, tốn- gió, khảm- nước, khôn- đất) Tất cả chuyển động tạo nên thế giới Đầu đao các tầng đều đắp Rồng Phượng hướng thiên, giữa nóc Trung quan đắp

Trang 34

"Lưỡng Long chầu nguyệt", giữa nóc Giả quan và Không quan đắp "Bình Hồ lô", tất cả các đầu bẩy đều khắc chữ "Thọ" Trung quan ba tầng hơi nhô lên

phía trước, bức đại tự sơn son thếp vàng ghi "Diên Khánh Tự" (Chùa Diên

Khánh) Tam Quan chùa Thành được xây dựng như một toà nhà ba gian, ba

tầng Đã là Tam quan của chùa thì đương nhiên kiến trúc như một tuyên ngôn của Phật pháp, để chỉ về Không quan nhằm nói về bản thể cốt lõi, về một Giả quan là nói đến quy luật vô thường (tức không tồn tại vĩnh viễn của muôn vật)

và một Trung quan là lối nhìn trí tuệ đi đến giải thoát về cõi Niết bàn Trung quan chùa Thành bài trí tượng A Di Đà tiếp dẫn Trên Giả quan treo chiếc khánh lớn Trên Không quan treo đại hồng chung - chiếc chuông lớn để sáng chiêu, chiều thỉnh làm thức tỉnh lòng người, trước khi chìm vào sự dày vò của kiếp đời nhân thế và chiều muộn lại cất lên tiếng chuông rung theo những lời kinh, để diệt trừ toàn bộ những phiền não cho thế gian, nhắc con người luôn hướng tới thiện tâm Nơi đây cũng biểu hiện tâm Bồ tát từ, bi, hỉ, xả bởi mỗi khi tiếng đại hồng chung vang lên thì mọi sự trừng phạt ở cõi âm đều được ngơi nghỉ, để những linh hồn tội lỗi có thể trở về với miền thánh thiện, nghe tiếng chuông ngân và hưởng tuần nhang thơm mà giác ngộ rồi phiêu diêu vào cõi vĩnh hằng Toàn bộ các cánh cửa và các mảng trang trí ở Tam quan đều được làm bằng gỗ lim xanh quý hiếm, chạm " Tứ linh" - Long, Ly, Quy, Phượng và " Tứ quý" - Tùng, Cúc, Trúc, Mai, cùng vân mây sóng nước, đao lửa và ở giữa các mảng chạm hình bánh xe luân hồi

2.1.3.2 Tiền đường

Qua bậu cửa Không quan, không có " Nhất chính đạo" (con đường dẫn

vào thế giới Phật) quen thuộc như các ngôi chùa khác, mà Tam quan lại liền

với không gian Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện

Nền tòa Tiền đường được lát bằng gạch Bát Tràng và cao hơn sân chùa 0.85m

Trang 35

Hệ khung gỗ chịu lực tòa Tiền đường được kết cấu bởi bốn hàng cột ( 2 hàng cột cái, 2 hàng cột quân) đỡ cho 6 bộ vì mái và liên kết nhau bằng hệ thống xà giằng Trong các công trình kiến trúc thì cột có một ý nghĩa vô cùng quan trọng nó là một cấu kiện chịu tải trọng rất lớn từ mái truyền tải qua thân cột xuống đất Nếu có một hệ thống cột vững chắc nó sẽ đảm bảo cho di tích

độ bền vững và có tuổi thọ cao.Vì thế cột thường được làm với kích thước lớn bằng những loại vật liêu có độ bền cao Các cột gỗ được tạo dáng búp đòng và dựng theo lối thượng thu hạ thách, đầu trên đỡ lấy câu đầu, đầu dưới gối lên các chân tảng kê bằng đá nhằm chống ẩm đồng thời chống lún

Tòa Tiền đường được định vị chắc chắn bằng 6 bộ vì Các bộ vì được làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng” Cụ thể: trên cùng là thượng lương được bào vuông, đỡ thượng lương là một đấu hình thuyền được cắt vát hai đầu, mặt khắc chữ “ thọ” Đấu này được đặt trên một đấu vuông thót đáy, tiếp đến là con rường thứ nhất, hai đầu trên của con rường vươn ra đỡ lấy đôi hoành mái, phía dưới là hai cột trốn đỡ lấy hai đầu của con rường thứ nhất và

từ thân cột trốn xuất hiện hai rường cụt một đầu ăn mộng vào thân cột trốn, đầu còn lại vươn ra đỡ hoành Tất cả được đặt trên lưng câu đầu Câu đầu là một thanh gỗ lớn, hai đầu ăn mộng vào cột cái tạo thành một kết cấu vững chắc có chức năng đỡ mái tòa Tiền đường

Các bộ vì nách của Tiền đường được làm theo kiểu chồng rường- cột trốn, được kết cấu như sau: con rường thứ nhất ăn mộng vào thân cột cái rồi chạy ra đỡ hoành và tỳ lực xuống con rường thứ hai qua một đấu vuông thót đáy Đầu con rường thứ hai tỳ lực trên một cột trốn nhỏ, tạo thành khung hình chữ nhật nằm giữa không gian của cột cái, bụng rường thứ hai, cột trốn và xà nách Phần ngoài có một con rường ăn mộng vào cột trốn rồi chạy vươn đầu

đỡ một chiếc hoành khác, nằm , dưới con rường này có một con rường khác

có ý nghĩa để cho lòng nhà rộng hơn Tất cả hệ thống kể trên đều dồn lực ép

Trang 36

xuống xà nách Xà nách có đuôi ăn mộng vào cột cái rồi chạy ra ăn mộng vào đầu cột quân mang hình thức như nửa chiếc câu đầu nhưng nhỏ hơn

Đầu cột quân được xẻ ra để đỡ một đầu bẩy là một khúc gỗ lớn, có đuôi hình tam giác nằm ở phía trong đầu cột quân Đuôi này đội bụng xà nách để tạo thế cân bằng cho đầu bẩy ở phía ngoài

Mái được lợp bằng ngói mũi hài, bên dưới có một lớp ngói lót

có 4 cột, đỉnh được đắp búp sen Hai gian của Thiêu hương có 2 gian thờ nhỏ, bên phải treo chuông của chùa, bên trái là Tượng quan âm thiên thủ thiên nhãn Vì nóc được làm theo kiểu “ ván mê” , trên cùng là thượng lương được bào vuông, đỡ thượng lương là một đấu hình thuyền được cắt vát hai đầu, mặt khắc chữ “thọ” , phía dưới là tấm ván đỡ lấy các hoành mái không qua hệ thống đấu, ở giữa khoét hình chữ nhật tạo cảm giác thoáng và được đặt trên lưng câu đầu, trên hoành là hệ rui mái đỡ cho lớp ngói lót và trên cùng là lớp ngói lợp (ngói mũi hài) Nền tòa Thiêu hương lát gạch Bát tràng

2.1.3.4 Thượng điện

Tòa nhà này được coi là không gian linh thiêng nhất trong chùa bởi nơi đây đặt tượng thờ của những nhân vật tối thượng trong Phật điện Trong Tam phẩm vãng sinh thì Thượng điện tượng trưng cho cõi Vô sắc giới Ở chùa

Trang 37

Thành, Thượng điện là một công trình có nền cao nhất trong quần thể Đứng

từ phía hồi nhìn lên Thượng điện là tòa nhà có kết cấu kiểu tòa bốn mái với bốn mái đao cong vút tạo nên sự mềm mại cho công trình Hai đầu kìm được đắp từ vữa tạo hình đuôi én vuốt cong Nối giữa hai đầu kìm là đường bờ nóc được xây bằng gạch trát vữa, mép trên đường bờ nóc nẹp những đường chỉ vuông trang trí Ở vị trí khúc nguỷnh trang trí con sô/ náp với ý nghĩa kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương

Tòa Thượng điện có diện tích khoảng 45m2, gồm một gian hai chái lớn

Hệ khung gỗ được kết cấu bởi hai bộ vì theo kiểu chồng rường giá chiêng, đỡ cho hệ thống hoành rui, ngói lót và ngói lợp bào trơn đóng bén Hai bộ vì này được đỡ bởi tám cây cột chia làm 4 hàng, gồm hai hàng cột cái và hai hàng cột quân, hệ thống cột được đặt trên các chân tảng kê cột bằng đá được tạo tác kiểu âm dương Nền tòa Thượng điện được làm cao hơn nền tòa Tiền đường, Thiêu hương là 0,8 m được lát gạch giống như tòa Tiền đường, khách thập phương muốn lên thắp hương lễ phật phải đi qua một bậc tam cấp dẫn lên từ tòa Thiêu hương

2.1.3.5 Điện Mẫu và nhà Tổ

Bên phải Tam quan có cổng phụ là lối dẫn vào nhà Mẫu và nhà Tổ Đây là một dãy nhà được sử dụng chung làm nhà thờ Tổ và điện thờ Mẫu Kiến trúc tòa nhà này có ba gian hai chái tường hồi bít đốc tay ngai, với 4 hàng cột (2 cột cái, 2 cột quân).Các cột được dựng đứng trên những tảng kê bằng đá xanh, song do nền đã được tôn thêm và lát gạch Bát tràng nên phần

đá tảng hiện nay chỉ còn lộ một lớp mỏng Gian bên phải của tòa nhà là nơi thờ các vị Tổ chùa, gian chính giữa là nơi thờ Thánh Mẫu, gian bên trái thờ hậu, những người có công đóng góp cho chùa Mái của tòa nhà được lợp bằng ngói ta, bờ nóc đắp nổi bằng vữa, chạy dọc theo chiều dài của mái Kìm hai

Trang 38

đầu mái là hai đấu vuông giật cấp được gọi là đấu nắm cơm Từ thân đấu chạy xuống là bờ chảy được chốt bằng hai đấu nắm cơm khác Tiếp đó là hệ tay ngai đơn giản, từ mép ngoài của mái là một bức tường phụ nhỏ nối với tường hồi chạy ra và kết thúc ở hai trụ biểu Hai đầu hồi của phòng các sư ni được nối thêm ở hai phía trái để tạo nên không gian khép kín giữa các đơn nguyên kiến trúc với nhau

Bộ vì nóc có kiểu thức giống tòa Tiền đường và Thượng điện Hệ thống cửa được làm theo kiểu “thượng song hạ bản”

Gần đây, để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của những người tu hành trong chùa, nhà chùa đã xây dựng thêm hai dãy tăng phòng nối liền với hai bên hồi điện Mẫu và nhà Tổ

2.2 Giá trị nghệ thuật

2.2.1 Trang trí trên kiến trúc

Trong kiến trúc cổ truyền, các mảng trang trí là một phần không thể thiếu, nó làm giảm bớt đi sự thô cứng của chất liệu tạo nên nó Hơn thế nữa, trang trí không chỉ là một hình thức làm đẹp cho kiến trúc mà nó còn phản ánh mơ ước để gửi gắm lời cầu mong của người dân đến các “thế lực tầng trên” Nó còn là “tiếng nói” của người đương thời (chủ nhân sáng tạo văn hóa) cho thế hệ sau

Ở chùa Thành, các mảng đề tài trang trí khác nhau được thể hiện trên

bề mặt các cấu kiện kiến trúc gỗ và các di vật Các đề tài trang trí này chứa đựng nhiều ý nghĩa phản ánh những mong muốn nội tâm, nhân sinh quan, vũ trụ quan của người đương thời

Hầu hết, hệ cấu kiện kiến trúc gỗ không được trang trí cầu kỳ mà được làm khá giản đơn, mộc mạc nhưng không vì thế mà làm giảm đi vẻ đẹp và sự

Trang 39

bề thế của ngôi chùa Các cấu kiện gỗ chủ yếu được làm theo lối bào trơn đóng bén, một số cấu kiện tuy trang trí những hình thức hoa văn đơn giản nhưng cũng đã tạo nên đường nét mềm mại trên thớ gỗ lim rắn chắc Vượt lên

đó nó lại mang giá trị triết lý sâu sắc Tuy các mảng trang trí không nhiều nhưng phần nào nói lên những ước vọng của người dân xứ Lạng Trên các thanh rường, kẻ câu đầu của các bộ vì mái tòa Tiền đường, Thượng điện, điện Mẫu có trang trí những họa tiết hoa văn vân xoắn đơn giản nhưng uyển chuyển Đây là hình tượng đã được nghệ thuật hóa để biểu tượng cho mây, mưa, sấm, chớp Hầu như các cư dân nông nghiệp nào cũng quan tâm đến lực lượng tự nhiên Với hình tượng hoa văn này, người ta mong sẽ gọi được sấm chớp, gọi mưa và gọi mùa sinh sôi, mang lại hạnh phúc cho những cư dân nông nghiệp

Tại các bẩy hiên cũng được trang trí hoa văn như vậy

Tòa Thiêu hương được trang trí bởi các đề tài tứ quý ( tùng , cúc, trúc,mai) trên bộ vì nóc cùng với một số hoa văn sóng nước Đây là một bức chạm khá tiêu biểu mà ta có thể bắt gặp ở nhiều di tích bởi nó tượng trưng cho

sự thanh tao trong sạch của người quân tử: Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Cương:

“ cây tùng (bách hay thông” luôn xanh tốt bốn mùa, có khả năng sống bền bỉ trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, cho nên cây tùng còn biểu tượng cho khí phách kiên cường, không sợ hiểm nguy trước những thử thách của thiên nhiên và cuộc đời Do sống trên núi cao nên cây tùng còn biểu hiện cho lối sống ẩn dật lánh đời, nhưng kiêu hãnh để giữ cho tâm hồn trong sạch” Trong tứ quý, cây tùng còn biểu tượng cho mùa đông Tùng thường đi với hạc

để tạo mô típ tùng- hạc có tính biểu tượng cao về sự trường thọ, ngay thẳng

và trong sạch

Nhà Mẫu và nhà Tổ là công trình mới được xây dựng năm 1991 vì vậy trang trí trên kiến trúc không có những nét đặc sắc tiêu biểu Nghệ thuật trang

Trang 40

trí ở nhà Mẫu và nhà Tổ chỉ tập trung vào các bộ vì nóc Trên các con rường của vì nóc sử dụng thủ pháp chạm lộng, những hình họa hoa văn như lá cuốn, vân mây được nổi khối ra ngoài tạo nét mềm mại như chiếc áo ôm lấy thân gỗ tươi mới óng ả Ngoài ra nghệ thuật trang trí ở đây còn được thể hiện qua các cửa võng với những đề tài quen thuộc như “tứ linh” “tứ quý”

Có giá trị về mặt thẩm mỹ hơn cả là các bộ cửa võng ở tòa Thiêu hương, Thượng điện, nhà Mẫu, nhà Tổ Cửa võng tạo ra không khí trang nghiêm với vàng son rực rỡ Các mô típ quy phạm theo trình tự đăng đối Trên các cửa võng là nơi đặt các hoành phi Ở các cột cái đặt các câu đối Các hoành phi và câu đối này tạo ra giới hạn các hình thể trang trí bên trong Có bộ cửa võng được chạm thủng trang trí hai cây trúc già, gốc trúc cùng bộ rễ già nua hóa hình đầu rồng, thân cây cùng cành lá hóa thân rồng uốn lượn Hai “con rồng tre” ấy chầu vào một bông hoa cúc đại đóa nở độ mãn khai như hình mặt trời đang tỏa sáng Đây là hình thức thể hiện cách điệu hóa đề tài “ lưỡng long chầu nhật” được cư dân nông nghiệp tôn sùng Có bộ vẫn với lối chạm ấy, nhưng thể hiện

đề tài hoa cúc dây với những nhành dây cúc mềm mại, ở chính giữa là bông cúc lớn đang nở độ mãn khai, tượng trưng cho mặt trời- nguồn phát sáng

2.2 2 Giá trị điêu khắc tượng thờ

Tượng thờ không chỉ có mặt ở chùa mà còn có mặt ở nhiều loại hình di tích khác Tuy nhiên chùa không chỉ là nơi lưu giữ hệ thống tượng đông đảo nhất mà đó còn là phần quan trọng nhất để thể hiện nghệ thuật điêu khắc qua các thời kỳ của mỗi ngôi chùa Chúng khẳng định được sự phong phú và đa dạng của nghệ thuật điêu khắc tượng phổ biến trong những không gian và thời gian khác nhau Tại chùa, số lượng tượng thờ chiếm ưu thế, chúng thường thuộc dòng chảy có chất nghệ thuật dân gian và nhiều tác phẩm đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình Có thể nói, mỗi chùa được xem như một bảo

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1996
4. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích người Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đồ thờ trong di tích người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
5. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2008
6. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2005
7. Trịnh Thị Minh Đức (1990), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1990
8. Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên), Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên), Phạm Thu Hương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
9. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2006), Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2006
11. Phan Khanh (1992), Bảo tàng di tích lễ hội, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng di tích lễ hội
Tác giả: Phan Khanh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1992
12. Nguyễn Lang (2000), Văn hóa Phật giáo sử luận, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Phật giáo sử luận
Tác giả: Nguyễn Lang
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
14. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự (1998), Đình Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 1998
15. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
16. Trần Nho Thìn (1991), Vào chùa thăm Phật, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vào chùa thăm Phật
Tác giả: Trần Nho Thìn
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1991
17. Dương Thị The, Phạm Thị Hoa (1981),Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Dương Thị The, Phạm Thị Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1981
18. Trần Mạnh Thường (1998), Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam
Tác giả: Trần Mạnh Thường
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1998
19. Chu Quang Trứ (1994), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, NXB Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: NXB Mỹ thuật
Năm: 1994
20. Chu Quang Trứ ( 2003), Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc, NXB Mỹ thuật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc
Nhà XB: NXB Mỹ thuật Việt Nam
21. Trịnh Công Sơn (2002), Văn hóa phong tục Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phong tục Việt Nam
Tác giả: Trịnh Công Sơn
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
23. Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lạng Sơn (1996), Di tích và danh thắng, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích và danh thắng
Tác giả: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
1. Luật di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành (2001), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa (2009). NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w