1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đền văn hiến (xã hạ mỗ huyện đan phượng hà nội)

148 123 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi vô cùng tự hào vì mình là người con của đất nước Việt Nam, mảnh đất đã sản sinh ra biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt nổi tiếng về Nho học một thời và để hiểu biết thêm về truyền thống

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

(XÃ HẠ MỖ – HUYỆN ĐAN PHƯỢNG – HÀ NỘI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

Mã số: 52320305

Người hướng dẫn: PGS.TS TRỊNH THỊ MINH ĐỨC

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN BÁ ÁNH

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đã gần 4 năm gắn bó với mái trường Đại học Văn hóa Hà nội, đặc biệt là được theo học ngành Bảo tàng mà em yêu thích Được tiếp xúc các thầy, cô những người đang ngày ngày dạy bảo chúng em với lòng nhiệt tình và hết mực yêu thương học trò Thời gian trôi đi thật nhanh, thầy cô đã bồi đắp cho chúng em những tri thức quý báu về chuyên ngành, về đạo đức làm người Giờ đây chúng em dưới sự dìu dắt của thầy cô đang ngày thêm trưởng thành, tất cả đều là công lao to lớn, in sâu vào trái tim chúng em là lòng tự hào và biết ơn đối với các thầy, cô

Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Di sản Văn hóa và đặc biệt là PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học

và chỉ bảo em những vấn đề trọng tâm của đề tài ngay từ khi xác định tên đề tài, xây dựng đề cương tới lúc hoàn thiện bài khoá luận Xin cảm ơn sự giúp

đỡ của chính quyền địa phương, Ban quản lý di tích đền Văn Hiến đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình khảo sát, tiếp cận nghiên cứu di tích

Bài khóa luận này chủ yếu là kết quả khảo sát thực tế tại cơ sở với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn và các cộng tác viên đã tận tình giúp đỡ Tuy nhiên do kiến thức chuyên ngành còn hạn chế, thời gian nghiên cứu hạn hẹp chắc hẳn khoá luận của em còn có khiếm khuyết Kính mong nhận được

sự giúp đỡ, góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè cho bài khoá luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Bá Ánh

Trang 3

MỤC LỤC MỤC LỤC ……… 2

MỞ ĐẦU……….…….4

1 Lý do chọn đề tà 4

2 Mục đích nghiên cứu……….… 5

3 Đối tượng nghiên cứu……….… 6

4 Phương pháp nghiên cứu……….…….6

5 Bố cục……….… 7

Chương 1: LÀNG HẠ MỖ VÀ ĐỀN VĂN HIẾN……….… 8

1.1 Tổng quan về làng Hạ Mỗ ……….…… 8

1.1.1 Vị trí địa lý – đặc điểm tự nhiên……….… 8

1.1.2 Dân cư và đời sống kinh tế của dân cư……… 9

1.1.3 Văn hóa truyền thống làng Hạ Mỗ……….13

1.2 Quá trình hình thành và tồn tại của đền Văn Hiến……….30

1.2.1 Lịch sử nhân vật được thờ……… ….30

1.2.2 Quá trình hình thành và tồn tại của đền Văn Hiến……… 39

1.2.3 Đền Văn Hiến trong hệ thống di tích thờ Thái úy Tô Hiến Thành……….…… 40

Chương 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – DI VẬT VÀ LỄ HỘI CỦA DI TÍCH ĐỀN VĂN HIẾN……… 46

2.1 Giá trị kiến trúc đền Văn Hiến……… 46

2.1.1 Không gian cảnh quan……….46

2.1.2 Bố cục mặt bằng……….49

2.1.3 Kết cấu kiến trúc đền Văn Hiến……… 50

2.1.4 Trang trí trên kiến trúc……… 63

2.2 Hệ thống di vật……… 69

2.2.1 Di vật bằng đá……….69

2.2.2 Di bật bằng gỗ………70

2.2.3 Di vật bằng giấy……….76

Trang 4

2.2.4 Di vật bằng đồng………76

2.2.5 Di vật bằng gốm sứ……….78

2.2.6 Di vật bằng vải……… 79

2.3 Lễ hội đền Văn Hiến……… 80

2.3.1 Lịch lễ hội ……… 80

2.3.2 Công tác chuẩn bị cho lễ hội.……… …… 82

2.3.3 Diễn trình lễ hội ……….……… 83

2.3.4 Kết thúc lễ hội ……… ……….92

2.3.5 Lễ hội đền Văn Hiến trong mối liên quan với các di tích cùng thờ Thái úy Tô Hiến Thành……….……… 95

2.3.6 Các ngày lễ kỷ niệm khác trong năm……… …98

Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐỀN VĂN HIẾN……… 99

3.1 Giá trị tiêu biểu của đền Văn Hiến………99

3.2 Hiện trạng về di tích, di vật đền Văn Hiến……….102

3.2.1 Hiện trạng di tích ……… ……… 102

3.2.2 Hiện trạng các di vật đền Văn Hiến ……….…… 105

3.3 Vấn đề bảo vệ di tích đền Văn Hiến………106

3.4 Giải pháp bảo tồn cho di tích ……… 109

3.4.1 Giải pháp bảo quản đối với di tích đền Văn Hiến ………… 109

3.4.2 Giải pháp tu bổ di tích đền Văn Hiến ……… ………… 113

3.4.3 Tôn tạo di tích đền Văn Hiến ……… 114

3.4.4 Tăng cường trong công tác quản lý di tích ……….114

3.5 Hiện trạng lễ hội đền Văn Hiến và biện pháp bảo tồn lễ hội … 115

3.6 Khai thác và phát huy giá trị di tích đền Văn Hiến ……….118

KẾT LUẬN……… 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 124

PHỤ LỤC……… 126

Trang 5

sử đó đã để lại một di sản văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc Thông qua

hệ thống di sản văn hóa chúng ta có thể tìm hiểu nắm bắt và tiếp nối những giá trị tinh hoa mà ông cha ta để lại Di tích lịch sử văn hóa là hình thức biểu hiện vật chất của di sản văn hóa, nó luôn có dấu ấn sâu sắc đối với mọi thế hệ người dân Việt Nam, bởi lẽ trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử các di tích luôn mang dấu ấn của thời đại, ghi nhận chặng đường lao động sáng tạo của các thế hệ đi trước Đó không chỉ là những giá trị vật chất cụ thể mà còn bao hàm những giá trị tinh thần phong phú Di tích lịch sử văn hóa là những trang

sử có sức thuyết phục lớn đối với mọi thế hệ chúng ta Vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu để từ đó bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời đại mới

Tìm hiểu về di tích lịch sử - văn hoá là tìm về cội nguồn của dân tộc để

kế thừa và phát huy góp phần làm đẹp truyền thống văn hoá, nó càng trở nên

có ý nghĩa hơn nếu chúng ta đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, bóc tách từng lớp văn hoá chứa đựng trong đó để phần nào hiểu rõ hơn về cội nguồn văn hoá của dân tộc, từ đó gìn giữ, bảo tồn những tinh hoa văn hoá, truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục và lấy đó làm nền tảng xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, trải qua bao nhiêu thế kỷ, với những biến cố thăng trầm của lịch sử và xã hội đã khiến cho nhiều di tích lịch sử - văn hoá quý giá bị huỷ hoại, di sản văn hóa trong cả nước bị thu hẹp

và xuống cấp nghiêm trọng, nhiều di tích bị đổ nát, di vật bị hư hại, mất cắp Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế đất nước, chiến lược phát triển văn hóa được nhà nước quan tâm Hoà chung với xu thế đó các di tích lịch sử - văn hoá dần được phục hồi, tôn tạo và phát huy giá trị Các di tích

Trang 6

Di tích lịch sử văn hóa là nơi bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của quá khứ, là nơi chứa đựng công lao to lớn của những vị anh hùng dân tộc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước Đó cũng là nơi người dân đặt niềm tin và ước mơ của mình để mong muốn cuộc sống bình yên, hạnh phúc qua những điều họ gửi gắm vào nhân vật họ tôn thờ ở đó

Làng quê Hạ Mỗ nay thuộc huyện Đan Phượng – Thành phố Hà Nội Hạ

Mỗ cũng như bao làng quê khác trên mảnh đất Việt Nam là một làng quê yên bình nhưng có bề dày lịch sử văn hóa và truyền thống Chính làng quê với những cánh đồng bao la, bát ngát thẳng cánh cò bay, với lũy tre xanh, những dòng sông đỏ nặng phù sa,…, đã sinh ra biết bao nhân vật anh hùng tài giỏi đóng góp rất nhiều công lao to lớn cho quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Những người anh hùng đã làm rạng ngời thêm cho trang sử

vẻ vang của một dân tộc bất khuất kiên cường Tôi vô cùng tự hào vì mình là người con của đất nước Việt Nam, mảnh đất đã sản sinh ra biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt nổi tiếng về Nho học một thời và để hiểu biết thêm về truyền thống văn hóa cũng như về Thái úy Tô Hiến Thành, là người đóng góp rất nhiều công lao cho đất nước và quê hương, tên tuổi của ông được nhân dân ca

tụng khắp nơi nên tôi đã chọn đề tài : “Tìm hiểu di tích đền Văn Hiến”, xã

Hạ Mỗ - huyện Đan Phượng - Thành phố Hà Nội, làm khoá luận tốt nghiệp

Đại học ngành Bảo tàng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 7

Nghiên cứu giá trị văn hóa, nghệ thuật của di tích đền Văn Hiến, khảo sát thực trạng và tình trạng kỹ thuật của đền Văn Hiến hiện nay Bước đầu đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích đền Văn Hiến trong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về làng Hạ Mỗ - Không gian văn hóa nơi di tích tồn tại

- Căn cứ vào các tài liệu biên chép và các nguồn tư liệu tại di tích xác định niên đại xây dựng đền và những lần trùng tu, sửa chữa

- Giới thiệu về nhân vật được thờ ở đền Văn Hiến

- Nghiên cứu giá trị kiến trúc, di vật, lễ hội tại đền Văn Hiến

- Khảo sát thực trạng, tình trạng kỹ thuật của di tích để đưa ra giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Văn Hiến

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là di tích đền Văn Hiến - thôn Hạ Mỗ - xã Hạ

Mỗ, huyện Đan Phượng - thành phố Hà Nội và mở rộng đến các di tích thờ Thái úy Tô Hiến Thành để tìm hiểu và so sánh

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: nghiên cứu khái quát toàn cảnh di tích đền Văn Hiến trong không gian, thời gian, lịch sử, văn hóa, xã hội của xã Hạ Mỗ

- Phạm vi không gian: xã Hạ Mỗ - huyện Đan Phượng – Thành phố Hà Nội

- Phạm vi thời gian:

+ Đối với các giá trị văn hóa vật thể: Nghiên cứu từ khi di tích hình thành tới nay

hiện nay, so sánh với trước kia để thấy được sự biến đổi

4 Phương pháp nghiên cứu

- Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu liên nghành: Bảo tàng học,

dân tộc học, mỹ thuật học, lịch sử, xã hội học

Trang 8

- Phương pháp khảo sát điền dã tại di tích và sử dụng các kỹ năng: Quan sát, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh, phỏng vấn, trao đổi, thống kê

chung và riêng trong các di tích cùng thờ Thái úy Tô Hiến Thành

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu 3 chương:

Chương 1: Làng Hạ Mỗ và đền Văn Hiến [Từ trang 8 - 45]

Chương 2: Giá trị kiến trúc – di vật và lễ hội của di tích đền Văn Hiến

[Từ trang 45 – 99]

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Văn Hiến [Từ trang

100 – 123]

Trang 9

Chương 1 LÀNG HẠ MỖ VÀ ĐỀN VĂN HIẾN

1.1 Tổng quan về làng Hạ Mỗ

1.1.1 Vị trí địa lý - đặc điểm tự nhiên

Xã Hạ Mỗ ngày nay gồm hai thôn Hạ Mỗ và Trúng Đích, Bắc giáp hai

xã Trung Châu và Hồng Hà, Đông giáp hai xã Liên Hồng và Liên Hà, Tây

giáp Trung Châu và Thượng Mỗ, Nam giáp xã Tân Hội

Trước hoặc sau cuộc chống Lương Tùy, Hạ Mỗ có tên là trang Phú Lộc rồi hương Ô Diên Trúng Đích xưa kia còn có tên là Làng Cách (Thơ Mỗ, phú cách, sách Vẽ, phương ngôn)

Ở thế kỷ VI, Hậu Nam Đế, Lý Phật Tử lập thành trì ở đây nên có tên là thành Ô Diên Trong Đại Việt địa dư toàn biên (Nguyễn Văn Siêu) ghi: “Đời Tùy đổi đặt Giao Chỉ thuộc Giao Châu Đời Đường, năm Vũ Đức thứ 4 lại đặt Giao Châu ở đấy, lại chia đặt ba huyện là Từ Liêm, Ô Diên, Vũ Lập Lấy sông Từ Liêm (sông Nhuệ) đặt tên gọi là Từ Châu Năm thứ 6, đổi gọi là Nam

Từ Châu Đầu năm Trinh Quán bỏ châu, ba huyện lại thuộc Giao Chỉ” Như vậy tên Ô Diên (làng) xưa còn được gọi tên cho một huyện Hương Ô Diên thuộc huyện Vĩnh Khang, phủ Ứng Thiên đời Lý, đến thời Trần thuộc huyện Vĩnh Thuận ( hoặc Từ Liêm) phủ Đông Đô Từ đầu thế kỷ XIX Hạ Mỗ thuộc tổng Thượng Hội, còn Trúng Đích thuộc xã Thượng Trì huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây

Từ đầu thế kỷ XX, Hạ Mỗ và Trúng Đích đều thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông

Từ giữa thế kỷ XX trở về trước xã Hạ Mỗ gồm hai thôn là Hạ Mỗ, tục gọi Mỗ Hạ và Tiên Tân, tục gọi Mố Bến

Từ sau cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hạ Mỗ thuộc xã Hồng Thái (nay là 3 xã Hạ Mỗ, Hồng Hà, Thượng Mỗ) còn Trúng Đích thuộc xã Liên Trì, huyện Liên Bắc (trước 1953), Đan Phượng (từ 1953 về sau) tỉnh Hà Đông

Trang 10

Từ năm 1956, hai làng Hạ Mỗ và Trúng Đích sát nhập thành một xã và vẫn lấy tên là xã Hồng Thái Từ 1972, xã Hồng Thái đổi tên thành xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng tỉnh Hà Đông, sau đổi thành tỉnh Hà Tây (1965), Hà Sơn Bình (1976), Hà Nội (1979), Hà Tây (1991), từ tháng 8/2008 đến nay lại thuộc về Hà Nội Xã Hạ Mỗ hiện nay chia thành 10 cụm dân cư: cụm số 1 đến cụm số 8 thuộc thôn Hạ Mỗ, cụm số 9 và số 10 thuộc thôn Trúng Đích Di tích đền Văn Hiến nằm về phía Tây, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 30km Đi đến di tích, khách tham quan có thể đi theo đường Tràng Thi – Nguyễn Thái Học – Cầu Giấy Đi tiếp theo đường 32 qua Thị trấn Trôi (Hoài Đức) tới Phùng rẽ tay phải theo đê quai sông Hồng khoảng 4km là tới địa phận thôn

Hạ Mỗ, di tích Văn Hiến Đường nằm ngay đầu làng

1.1.2 Dân cư và đời sống kinh tế của dân cư

* Dân cư (Xem a1 – Phụ lục 1 trang 126)

“Hạ Mỗ là miền đất rất cổ”, có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời Ngay từ thế kỷ VI tức là cách ngày nay trên 1400 năm, Hạ Mỗ đã đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là kinh đô của Nhà nước Vạn Xuân dưới triều Hậu Lý Nam

Đế, Lý Phật Tử

Trong lịch sử hình thành, phát triển dân tộc, người Việt từ vùng trung du tràn xuống khai thác vùng đồng bằng thấp đã để lại một hệ thống thành thị gắn với những bước phát triển của lịch sử, xã hội: Thành Cổ Loa, thành Ô Diên, thành Long Biên, Thăng Long cùng một số thành khác,… Trong mối tương quan này, thành Ô Diên nằm gần khu vực ngã ba giao giữa hai con sông: sông Hồng và sông Đáy – hai con sông đóng vai trò là đường giao thông huyết mạch, đồng thời là đường trung chuyển và giao lưu văn hóa của vùng này với khu vực thượng nguồn Như vậy, thành Ô Diên cùng với thành

Cổ Loa được coi như thành quách mang tính chất “cột mốc văn hóa” đánh dấu lãnh thổ trên con đường tiến xuống vùng đồng bằng thấp thuộc châu thổ Bắc bộ của cư dân Việt Sự hình thành và phát triển của thành cổ Ô Diên cũng

Trang 11

Người trung, trung tự thuở xưa đến giờ”

Hơn 15 thế kỷ trôi qua, mảnh đất Ô Diên ngày xưa – Hạ Mỗ ngày nay, ngày càng chuyển biến theo xu hướng phát triển của xã hội Dân số Hạ Mỗ đông dần và tấm lòng yêu nước thương nòi, tình làng nghĩa xóm cũng ngày cành vững chắc Gắn bó với quê hương, chung sức chung lòng xây dựng đất nước là bản chất được tôi luyện và gìn giữ bền chặt của mọi nhà, mọi người dân Hạ Mỗ

Hiện nay theo thống kê của Ban văn hóa xã Hạ Mỗ thì toàn xã có 50 dòng họ Trong đó làng Hạ Mỗ có 37 dòng họ, dựa theo các cuốn gia phả một

số dòng họ ở làng Hạ Mỗ như họ Tô, Nguyễn Thế (lớn nhất), Nguyễn Khắc, Bùi Quang Trong đó họ Tô hiện nay con cháu đang xây dựng nhà thờ họ, còn

ba họ trên đều có nhà thờ họ và tổ chức giỗ Tổ thường niên mỗi năm một lần

Họ Tô là dòng họ lâu đời nhất ở làng Hạ Mỗ, tuy nhiên con cháu dòng họ Tô bao đời nay đều đi lập nghiệp ở nơi khác cho nên hiện nay số đinh của họ Tô chỉ có 40 người Bên cạnh đó thì gia phả dòng họ Nguyễn Thế, Nguyễn Khắc, Bùi Quang đều có ghi chép cho biết các cụ Tổ của các họ đã đến đây lập nghiệp và dựng họ được trên 300 năm Họ Nguyễn Thế hiện nay có 350 suất đinh, Nguyễn Khắc và Bùi Quang có 300 suất đinh Lý giải cho vấn đề này các cụ cao niên trong làng cho biết tuy số họ trong xã nhiều nhưng chủ yếu là người dân tứ phương về đây từ đầu thế kỷ 20, đặc biệt là bộ đội sau kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ đã ở lại đây lập nghiệp Mặc dù

Trang 12

hiện nay với sự phát triển của đất nước, đời sống của người dân xã Hạ Mỗ cũng đã khác trước, tốt hơn nhưng các dòng họ trong làng chỉ có nhà thờ họ là những căn nhà cấp 4 lụp xụp, chật hẹp, rất ít các dòng họ có đất để xây nhà thờ họ riêng mà đa số các cụ Tổ của dòng họ được thờ trong nhà của “Trưởng tộc”

* Đời sống kinh tế của dân cư

+ Nông nghiệp

Hạ Mỗ là một xã thuần nông, diện tích đất canh tác hiện có 388,5ha với dân số 7571 khẩu, bình quân 276m2 một nhân khẩu Đất hẹp, người đông nhưng với tinh thần yêu nước, truyền thống lao động cần cù, trong thăng trầm của lịch sử, mọi khó khăn thử thách người Hạ Mỗ đều đã vượt qua, từng bước xây dựng xóm làng tiến lên những bước mới, hoàn thành mọi nhiệm vụ, đóng góp sức người, sức của xây dựng quê hương, bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa do cha ông ta để lại

Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quân

sự năm 2012: Tổng diện tích gieo trồng 306,2 ha Diện tích gieo cấy vụ xuân 155,6 ha, năng suất bình quân đạt 67,75 tạ/ha, sản lượng đạt 1.069,73 tấn Diện tích trồng hoa màu: Ngô bãi diện tích 5 ha, năng suất đạt 55 tạ/ha, sản lượng 55 tấn Hoa 35 ha đạt năng suất 100 triệu/ha Rau màu, cây ăn quả năng suất đạt 60 triệu/ha Diện tích gieo cấy vụ mùa 150,6 ha năng suất bình quân đạt 57 tạ/ha sản lượng đạt 888,89 tấn Ngô diện tích 5 ha đạt năng suất 55 tạ/ha với sản lượng 27,5 tấn Hoa 35 ha đạt năng suất 100 triệu/ha Rau màu, cây ăn quả năng suất đạt 60 triệu/ha Năng suất lúa cả năm đạt 12,57 tạ/ha, sản lượng hai vụ 1.958,62 tấn Tăng cường công tác khuyến nông, phối hợp Khuyến nông huyện tổ chức chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi Tổ chức 5 lớp tập huấn cho 350 người tham dự Phong trào trồng cây xanh được đẩy mạnh, toàn xã trồng được 1200 cây xanh đạt 100% so với

kế hoạch Chăn nuôi gia súc, gia cầm: Tổng đàn lợn có 3.086 con bằng 93,6% giảm 211 con so với cùng kỳ; Đàn trâu, bò có 24 con bằng 50% so với cùng

Trang 13

kỳ; Đàn chó có 484 con, bằng 82% so với cùng kỳ; Đàn gia cầm 17.364 con, bằng 112% so với cùng kỳ Được UBND Thành phố đầu tư phát triển dự án nuôi chim trĩ được 4.200 con; Dự án tổ chức phi chính phủ AM được 1200 con; Dự án Ngân hàng bò do tổ chức AM đầu tư 22 con; Dự án nuôi bò của ông Bổng Việt kiều Mỹ đầu tư 10 con Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch và phương án phòng chống lụt, bão úng năm 2012

+ Tiểu thủ công nghiệp

Nhân dân Hạ Mỗ đã sớm kết hợp được nền kinh tế tự cung tự cấp với việc trao đổi hàng hóa với các vùng xung quanh nên phát triển một số nghề thủ công như mộc, nề, làm gạch ngói, ép mía mật,…

Hạ Mỗ có nghề thêu ren xuất khẩu, nghề du nhập vào Việt Nam đầu thế

kỷ XX Tuy là một nghề mới nhưng người Hạ Mỗ đã làm cho nghề thêu ren phát triển mạnh Hiện nay ngoài nghề nông, Hạ Mỗ vẫn là một làng làm các mặt hàng thêu ren xuất khẩu của Hà Nội Ren (còn gọi là Gien vơ ni): Đã từng có thời gian, người dân Hạ mỗ đi khắp nơi để dạy nghề Tuy nhiên, do thị trường xuất khẩu bị bó hẹp nên nghề này đến nay đã bị mai một

Nghề làm rượu ở Hạ mỗ đã tồn tại từ bao đời nay và ngon có tiếng Đây

là loại rượu rất thơm, có độ cồn cao (tối thiểu 48% độ cồn) nhưng không bao giờ khiến người uống bị đau đầu Chất lượng luôn ngon nhất vùng có lẽ cũng bởi bản chất thật thà của người dân ở đây

Nghề làm Nem: Khác hoàn toàn với Nem Phùng (một loại Nem nổi tiếng khác cũng ở huyện Đan phượng) được làm từ bì heo, Nem Hạ mỗ có thành phần chủ yếu là thịt nạc loại ngon nhất và nem thính nên ăn rất ngọt

Nghề làm Đậu phụ: Đậu phụ Hạ Mỗ ngon nổi tiếng, hàng ngày cung cấp một số lượng lớn cho thị trường Hà nội Đặc điểm bìa đậu (dân địa phương gọi là khăn đậu) to, mềm nhưng không nát, được làm từ những hạt đậu tương

đã qua chọn lọn kỹ lưỡng Dù rán, nướng hay ăn ngay vẫn cảm thấy vị béo ngậy thơm ngon Đây là bí quyết nhà nghề và do nguồn nước địa phương đã tạo nên chất lượng của sản phẩm

Trang 14

Nghề làm Bột sắn dây: Hiện nay do hàng giả quá nhiều nên các gia đình làm sắn dây không còn mặn mà với nghề này nữa Trong làng chỉ còn ít gia đình vẫn cố gắng giữ nghề

1.1.3 Văn hóa truyền thống làng Hạ Mỗ

* Truyền thống khoa bảng

Người dân làng Hạ Mỗ luôn tự hào là nơi sinh ra, nuôi dưỡng nhiều nhân tài, có nhiều đóng góp to lớn vào lịch sử dân tộc Theo lời các cụ cao niên trong làng thì Hạ Mỗ là nơi có truyền thống học hành vì vậy có nhiều người học cao, thi cử đỗ đạt và ra làm quan dưới các triều đại phong kiến

Không chỉ là nơi nổi tiếng về Nho học, thời xưa với Thiền sư Trí Bảo (Nguyễn Trí Bảo) nhà lý luận xuất sắc thuộc thế hệ thứ 10 dòng Thiền Quang Bích của Phật giáo thời Lý, thế kỷ XII Hạ Mỗ lại đóng góp cho đất nước một nhân vật kiệt xuất là Thái úy, Thái phó Bình chương quân Quốc trọng sự tước vương Tô Hiến Thành (1102-1179) Thế kỷ XV có Hoàng giáp Đỗ Trí Trung (1439 - ?) thi đỗ đệ nhị giáp cận đệ chánh Tiến sĩ khoa Ất Mùi năm Hồng Đức thứ 6 đời vua Lê Thánh Tông (1475) Ông làm quan đến chức Đặc tiến kim tử Vinh Lộc Thượng đại phu Nhập nội thị tả thị Lang Ông đứng đầu khoa kim cương bát bộ tham dự vào hội “Quỳnh uyển cửu ca” Ông tham gia tích cực vào sinh hoạt văn thơ ở kinh thành, là một trong 28 vì sao của Hội Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông sáng lập

Thế kỷ XVII có Đào Hoàng Thực (1670-1748) năm 21 tuổi thi Hương

đỗ giải Nguyên, năm 22 tuổi dự thi văn chức đỗ đầu Khoa thi Hội năm Đinh Sửu (1697) ông đỗ Tiến sĩ trúng cách (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân) xếp thứ 5 Tháng 12 cùng năm (đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa thứ 18) ông thi Điện, đỗ hàng thứ 5 Khi đó Đào Hoàng Thực 28 tuổi Ông làm quan

từ chức Hiến sát, sau thăng Gián tham tụng Binh bộ thượng thư, Hình bộ thượng thư Khi về hưu ông tiếp tục tham gia Thị ngũ lão chế, được phong Quận công tước tại triều đình Trong khoảng thời gian hơn 40 năm tại triều,

Trang 15

Đào Hoàng Thực là người thông tuệ văn chương, tài trí hơn người, khảng khái có khí tiết, không chịu né tránh cường quyền, nổi tiếng là người ngay thẳng thời bấy giờ Do đó, từ khi bị khiển trách nhẹ ông lại được tin dùng, nhiều lần giúp ngoài biên, rồi tham dự việc chính sự quan trọng, dâng sớ vài trăm điều, đều thiết thực, hợp ý vua Chúa Trịnh Doanh thường khen ông là bậc Ngụy Trưng, Lý Giáng (hai tể tướng đời Đường Thái Tông và Đường Hiến Tông) Đào Hoàng Thực là người học rộng y thư, nghề y nổi tiếng, được nhà vua ban cho biên soạn sách y Ông còn tinh thông địa lí, được phụng sai xem đất ở xứ Thanh Hóa, chọn được khu đất đẹp lập họa đồ cung tiến lên vua,… Lúc cuối đời, ông trở về quê dạy học Số người theo học đến hơn 100 người, nhiều người đã đỗ đạt cao ra làm quan Đào Hoàng Thực được môn sinh đời sau ngưỡng mộ như Thái Sơn, Bắc Đẩu vậy Sau khi ông mất, nhà vua phong tặng chức Thiếu phó

Đây là một minh chứng cho truyền thống học hành khoa bảng và sự tôn vinh của các nho sinh đối với các bậc thầy xưa kia, làng Hạ Mỗ có xây văn chỉ để thờ cúng Là một địa phương giàu truyền thống, một vùng “địa linh nhân kiệt”, hiếu học, giàu truyền thống lịch sử Thế hệ những người dân Hạ

Mỗ luôn tự hào về một miền quê văn hiến, sớm có những người con trung hiếu làm rạng rỡ non sông Phát huy truyền thống quý giá đó nhân dân làng

Hạ Mỗ chung sức đồng lòng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh hơn nữa để xứng đáng với các bậc tiên hiền đi trước, tiến lên sánh ngang với các địa phương khác trong cả nước Việc giữ gìn và phát huy những truyền thống đó là trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của thế hệ mai sau ở Hạ Mỗ

Trang 16

tinh thần tôn trọng, thờ phụng tổ tiên, người có công với nước,… Đồng thời thể hiện trí óc thông minh, bàn tay khéo léo của người dân địa phương, được thể hiện qua những công trình kiến trúc nghệ thuật

Để duy trì và phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương đất nước, nhân dân Hạ Mỗ sớm xây dựng các công trình văn hóa, các di tích lịch

sử - văn hóa được bảo tồn và phát huy giá trị Xưa kia Hạ Mỗ có 2 đình (đình Vạn Xuân và đình Trúng Đích), 2 miếu (miếu Hàm Rồng và miếu Âm Hồn),

2 chùa (chùa Hải Giác và chùa Báo Ân), 1 văn chỉ (nay là đền Văn Hiến), 1

võ chỉ (nay là đền Tri Chỉ) và 1 đền (đền Chính Khí) Trải qua những biến đổi của xã hội, hiện nay Hạ Mỗ có 2 đình (đình Vạn Xuân và đình Trúng Đích), 1 miếu (miếu Hàm Rồng), 2 chùa (chùa Hải Giác và chùa Báo Ân) và 3 đền (đền Văn Hiến, đền Tri Chỉ, đền Chính Khí) Đình Vạn Xuân, Miếu Hàm Rồng, đền Chính Khí thờ thần Bát Lang và các nhân vật lịch sử có liên quan với thành Ô Diên như Hậu Lý Nam đế Lý Phật Tử, Nhã Lang Vương và Biệt Súy Lý Phổ Đỉnh Miếu và đình Trúng Đích thờ hoàng tử Đông Chinh Vương, con vua Lý Thái Tổ có công dẹp giặc ở Châu Văn (Lạng Sơn) Đền Văn Hiến xưa là văn chỉ, là nơi biểu dương các danh nhân khoa bảng và tưởng niệm những con người ưu tú đã làm rạng rỡ cho quê hương đất nước Đền Tri Chỉ xưa là võ chỉ, thần chủ là Trần Hưng Đạo Tháng 10/1991, Đình Vạn Xuân, chùa Hải Giác và đền Văn Hiến đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Trong đó làng Hạ Mỗ hiện nay có các di tích như đình Vạn Xuân, chùa Hải Giác, miếu Hàm Rồng, và 3 đền (đền Văn Hiến, đền Tri Chỉ, đền Chính Khí)

+ Đình Vạn Xuân

Đình Vạn Xuân nằm ở trung tâm làng, xây dựng theo hướng Tây, là tâm đối xứng của hai ngôi đền Hàng Văn (Văn Hiến Đường) và Hàng Võ (Tri Chỉ Đường) ở hai đầu bắc – nam của làng Đình được xây dựng trên khu đất rộng, thế quy vờn ngọc Phía sau là một gò nhỏ áp tường nhà hậu, nằm nhô ra bờ bán nguyệt (nay đã bị san lấp) Phía trước là sân rộng, vuông vức trên 600m2,

Trang 17

tả hữu vu mỗi bên đều rộng 5 gian Bao quanh sân ở 4 góc là 4 cửa quấn thư Đông, Tây, Nam, Bắc Ngoài cùng là hệ thống cột đồng trụ cùng hai nhà tả môn, hữu môn kiến trúc kiểu cổ diêm tám mái tạo nên một không gian vừa thoáng đạt, vừa mạnh mẽ uy nghi Nối tiếp cổng, sân gạch là sân cỏ rộng kề bên ao đình có gò tròn ở giữa Đường đi lối lại bao quát quanh đình Quang cảnh xung quanh và phía trước đền như một công viên thu nhỏ rất thuận tiện cho việc tổ chức sinh hoạt vui chơi giải trí, hội hè, lễ nghi truyền thống

Đình Vạn Xuân là một tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh kiểu “nội vương

ngoại quốc” được cấu thành bởi 10 nóc nhà liên hoàn dọc ngang với diện tích

trên 700m2 Nhà tiền tế rộng 5 gian, 2 chái Tiếp theo là tòa đại đình Từ gian giữa nhà tiền tế là hệ thống mái dọc chạy thẳng vào gian giữa đại đình nối liền với hậu cung Ngôi nhà dọc này được nâng cao cả hai tầng mái Nhà hậu cung gồm hai gian dọc chạy suốt đại đình ra tiền tế Nối nhà tiền tế và đại đình ở hai đầu là hai dãy hành lang nhỏ gồm 3 gian hẹp nòng Sau hậu cung là

3 nếp nhà nối liền nhau gọi là nhà hậu phòng, mỗi nhà đều có 3 gian Nằm giữa các tòa tiền tế, đại đình, dãy nhà dọc và hành lang ở 2 bên là hồ vuông đối xứng do 8 bờ xối nước chảy và tạo thành Ở bên trong cũng có 2 hồ tương

tự nằm giữa tòa đại đình, nhà hậu cung, hậu phòng Bốn hồ nước này vừa tạo không gian thoáng mát, sáng sủa, vừa là điểm nhấn trên mặt bằng cấu trúc kiểu “Nội Vương Ngoại Quốc” của đình Vạn Xuân Giáp mái gian giữa nhà tiền tế là một sân vuông được xây cao hơn mặt sân đình 15cm theo kiểu sân lộng, sân chầu Nhân dân thường gọi là sân chất kiệu, sân hát chèo (một nơi biểu diễn) Bức tường đốc hậu nhà hậu cung xây theo kiểu bít đốc tay ngai Bên trong hậu cung được làm sàn gỗ cao 1,4m so với mặt đất, gian ngoài bày hòm sắc, bát hương và nhiều đồ tự khí Gian trong làm hệ thống cửa bức bàn

để tạo thành cung cấm Trong cung đặt long ngai thần vị và đặt tượng thần hoàng làng

Lễ hội hàng năm, Thần được rước từ miếu Hàm Rồng về đình Vạn Xuân

và được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch

Trang 18

+ Chùa Hải Giác (xem a2 – Phụ lục 1 trang 126)

Chùa Hải Giác (Hải Giác Tự) thuộc làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng nằm bên hữu ngạn sông Nhuệ cổ, cách trung tâm Hà Nội 20km về phía Tây Bắc Chùa hiện nay còn khá nguyên vẹn, là một ngôi chùa lớn đồ sộ trong vùng Nhà Tiền đường cấu thành bởi năm tòa ngang dọc nối tiếp liên hoàn Đối diện với Tiền đường là tam quan, hai bên là nhà Tổ và điện Mẫu Về chùa Hải Giác được lưu truyền trong dân gia câu ca:

“Chùa làng có đủ trăm gian

Nội công ngoại quốc rõ ràng chẳng sai”

Đến cuối thế kỷ XIX, chùa được trùng tu, sửa chữa lớn Tuy bài ký trên bia “Tự hậu bi ký” (một trong số 25 bia) trong chùa dựng ngày 30 tháng Hai nhuận năm Thành Thái thứ hai (1896) không ghi rõ chi tiết, quy mô của việc trùng tu, nhưng hiện trạng di tích đã cho thấy qui mô và các kiến trúc của chùa là sản phẩm của thời kỳ này

Chùa Hải Giác được xây dựng trên khu đất bằng phẳng ở dìa làng Các kiến trúc bộ phận dược bố trí chiều sâu, theo trục chính là Đông – Tây Phía trước là tam quan, sau đến sân gạch rộng, hai bên sân là hai dãy nhà Tổ, nhà Mẫu nằm song song Cuối cùng là tòa Tiền đường Bao quanh khu kiến trúc là giếng nước dựng lầu Quan Âm, vườn Tháp, vườn cây xanh rộng lớn để tạo ra không gian thanh u tĩnh mịch cho cửa Thiền, đem lại sự hài hòa giữa kiến trúc với môi trường tự nhiên, tạo cho di tích những vẻ đẹp độc đáo gần gũi với cuộc sống con người Tam quan là một nếp nhà ba gian, hai tầng, tám mái Tầng trên treo chuông, khánh, bên dưới bốn bề thoáng đạt tiện dụng trong sinh hoạt hàng ngày Từ Tam quan vào Tam bảo, cũng như từ nhà Tổ sang điện Mẫu qua một sân rộng hơn 300m2 Nhà Tổ nằm ở bên phải sân chùa gồm

5 gian, trong cung đặt 10 pho tượng các sư tổ Đôi câu đối ở gian giữa ca ngợi

vị sư tổ, nhà yêu nước, Hữu quân chánh tướng trong phong trào chống Pháp những năm cuối thế kỷ 19 như sau:

Trang 19

“Vị quốc xả thân vạn đại Tổ Sư danh bất hủ

Cứu dân độ thế ức niên chân lý đức lưu hinh”

(Vì nước bỏ mình, muôn đời danh tiếng Sư Tổ không bao giờ mất

Cứu dân giúp đời, vạn kiếp đức của Người là chân lý mãi tỏa hương.)

Điện Mẫu nằm đối diện với nhà Tổ Hai nếp nhà này có quy mô và kiến trúc giống nhau Trong điện Mẫu có tượng Tam phủ (Mẫu Thiên, Mẫu Thủy, Mẫu Nhạc),… Có động Sơn Trang và Phủ Trần Triều hiển Thánh Khu chùa chính của chùa Hải Giác vẫn bảo lưu được quy hoạch trên mặt bằng kiến trúc của ngôi chùa thời Lê là Tiền đường, Thượng điện cùng với những dãy hành lang bao quanh Thượng điện là dãy nhà dọc 4 gian nối với chính giữa của nhà tiền đường Bao quanh khu chùa chính là 3 dãy hành lang nối tiếp nhau, mỗi dãy gồm 10 gian hẹp nòng Mặt sau của các dãy nhà xây tường bao ngăn cách, sát tường xây bệ gạch để đặt tượng Chùa Hải Giác là một trong những chùa có nhiều tượng nhất ở nước ta hiện nay với hơn 200 pho tượng lớn nhỏ, trong đó 50 pho tượng tròn là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao

Tại tòa thượng điện trên vị trí trang trọng ở hàng thứ nhất là 3 vị Tam Thế đang ngồi kiết già trên tòa sen Hàng thứ hai là bộ Di Đà tam ngôn gồm

A Di Đà và hai bên có hai Đại Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí thị giả Hàng thứ ba là tượng Di Lặc, Văn Thù, Phổ Hiền ngồi trên lưng bạch tượng hai bên làm tăng thêm sức mạnh của Đức Phật tương lai Hàng thứ tư là tượng Thích Ca thiền định Tám pho tượng lớn đều ngự trên tòa sen, có vân xoáy trên đầu Hàng thứ năm là tượng Ngọc Hoàng ngồi trên long ngai, hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu Hàng thứ sáu, Thích Ca sơ sinh trong tòa Cửu Long, hai bên có Phạm Thiên, Đế Thích Ở hai góc cuối thượng điện có Quan Âm Thị Kính (bên phải) và Quan Âm Thiên Thủ (bên trái) Hai bên sườn thượng điện

là Thập điện Diêm Vương, phía tiền đường có hai pho Kim Cương lớn, còn gọi là hai ông Hộ Pháp (Khuyến Thiện và Trừng Ác)

Bên trái Tiền đường, thờ Đức Ông và hai quan văn võ tùy tòng Đối xứng với ban tượng này về phía bên phải có nhóm tượng gồm Thánh Tăng,

Trang 20

Diệu Nhiên và Đại Sĩ (còn gọi là ông ăn khói nói ra lửa) Dọc theo hai tường hồi, tượng được bài trí giống nhau, mỗi bên gồm 4 vị Kim Cương và hai Bồ Tát, cả hai tập hợp hoàn chỉnh là Bát Bộ Kim Cương, Tứ Bồ Tát Hai dãy hành lang song song với thượng điện được dùng làm nơi tọa lạc của Thập Bát

La Hán Tượng được thể hiện trong nhiều tư thế khác nhau, tiêu biểu cho cá tính và đặc trưng của từng người

Nhà hậu trong cùng được làm Mặt động và dựng 25 tấm bia hậu để biểu dương những người công đức Trong đó 5 bức tượng phù điêu của thời Lê Mặt động của chùa Hải Giác được thể hiện 2 tầng đối nghịch nhau Tầng trên

là cõi phúc, cõi cực lạc dành cho những người có công quả tu luyện và chuyên làm những điều thiện; Tầng dưới là cõi âm ty, địa ngục với những hình phạt khốc liệt đang đón đợi kẻ ác ở trên dương giới Toàn bộ mặt động

có 13 pho tượng lớn và hàng trăm pho tượng nhỏ được bố trí hợp lý thành những tiểu cảnh mang ý nghĩa giáo dục với con người

Có thể nói, chùa Hải Giác là một ngôi chùa cổ, chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống quý báu, được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia

+ Miếu Hàm Rồng

Miếu Hàm Rồng tục gọi là Quán Bét, đọc lệch chữ Bát tức Lý Bát Lang

Đây là một chứng tích hiếm hoi còn sót lại trên khu thành Ô Diên.“Miếu

nguyên xưa là gò hạt ngọc, nổi giữa đầm Hàm Rồng, thuộc về trong thành Ô Diên, nay có đê vòng sau miếu” Như vậy, miếu Hàm Rồng vốn xưa là phủ đệ

của Lý Bát Lang Năm Tân Mão (571), sau khi Lý Bát Lang mất, theo lệnh của hậu Lý Nam Đế, nhân dân xây cất thành miếu thờ ông, ngay trên phủ đệ

và cũng là nơi ông hóa Từ đó đến nay đã 7 lần tu tạo và đổi hướng nhiều lần.Trong một tư liệu ghi trong tộc phả họ Bùi Tất, việc xây dựng và tu tạo miếu như sau: “Lần thứ nhất, tháng 3 năm Tân Mão, trùng tu theo hướng cũ nhưng làm mới rõ ràng hơn Lần thứ hai, tháng 9 năm Mậu Tuất, tu tạo đổi hướng sang Tây Bắc (Càn) Cước chú: Không biết hay dở thế nào, được một

Trang 21

mô nhỏ hơn đình Vạn Xuân vì làm trên địa điểm trước đây là phủ đệ của Lý Bát Lang Trước miếu là một sân cỏ như một bán đảo nhô ra thượng nguồn sông Nhuệ cổ Kiến trúc miếu kiểu chữ đinh gồm hậu cung và tiền tế, hướng Đông - Đông Nam Nhà tiền tế gồm 5 gian, dãy nhà dọc nằm từ gian giữa nhà tiền tế chạy thẳng vào hậu cung như một sảnh đường hai tầng Giáp mái gian giữa nhà tiền tế là một sân vuông được xây cao hơn mặt sân miếu 15cm theo kiểu sân lộng, sân chầu Hình thức tổ chức này cũng được thực hiện như ở công trình đình Vạn Xuân Khi xưa, xung quanh miếu, theo triền đê, cây cối sum suê như một khu rừng Trong kháng chiến chống Pháp bị triệt phá, nay đang được khôi phục Trong hậu cung đặt hai ngôi tượng cổ Pho tượng lớn tư thế ngồi cao 1,7m, đường kính 0,9m (không kể bệ) bằng chất liệu gỗ, chạm khắc tinh tế, sơn son thiếp vàng là một tác phẩm mỹ thuật cao Pho tượng thứ hai nhỏ hơn do dân làng tạc thêm hơn 200 năm nay, trong dịp tổ chức lễ hội truyền thống, tổ chức rước long ngai từ miếu về đình Vạn Xuân và ngược lại, đây là một nghi lễ có tiếng trong vùng từ xưa

Trang 22

+ Đền Tri chỉ

Đền Tri chỉ vốn là võ chỉ thời trước, sau lễ đồng giáng bút năm Đinh Mùi (1907), dân làng xây dựng thêm các công trình thờ phụng và có tên là Tri Chỉ Đường Đền Tri Chỉ thờ Trần Hưng Đạo và Tam thánh (Văn Xương Đế Quân, Quan Thánh Đế Quân và Phu Hựu Đế Quân) Thần chủ đền Tri Chỉ là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Về sau thờ thêm Tản Viên Sơn Thánh, hoàng tử Lý Bát Lang thành hoàng làng Ngoài ra còn thờ Táo Quân

và Thổ Thần Tất Cả các vị thần được thờ đều bằng tượng Trong cuộc kháng chiến chồng quân Nguyên Mông lần thứ 2 (1285), Đinh Tuấn, một vị tướng của triều Trần dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương đã từng tổ chức dân binh trong vùng chiến đấu chống giặc Nguyên Có lần đội dân binh này đã tiến công tiêu diệt gọn một đoàn thuyền chiến của giặc trên sông Hồng, chỗ cửa sông Nhuệ Máu giặc trôi đỏ cánh đồng các làng Hạ Mỗ, Thượng Mỗ ở hai bên cửa sông Để ghi nhớ chiến công của quân dân ta trên mảnh đất này trong các cuộc kháng chiến chống xâm lăng từ nhiều thế kỷ trước, đồng thời cũng thể hiện tư tưởng tài kiêm văn võ của quê hương nên khi lập đền Văn Hiến (đền hàng văn) thì cũng lập ngay đền Tri Chỉ (hàng võ) Đền được kiến trúc hình chữ đinh gồm đại bái và hậu cung Tòa nhà đại bái là lớp nhà ngang

3 gian 2 dĩ xây gạch theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai Phía ngoài hai đầu hồi đắp đầu rồng, đường viền tay ngai xây triện hoa văn Đặc biệt, tại tòa đại bái được nâng cao cả hai tầng mái tạo thế đứng vững chắc Đền được trùng tu sửa chữa nhiều lần Những năm gần đây, đền xây thêm khu nhà Mẫu và tu sửa nhà khách được khang trang hơn trước

+ Đền Chính Khí

Đền Chính Khí tọa lạc trên khu đất cao nhất (cốt đất 13,8 – độ cao 13,8

m so với mặt nước biển) làng Hạ Mỗ, nay thuộc cụm dân cư số 2, tục gọi là xóm Già (chỉ các làng Già Mét bên hữu ngạn sông Hồng)hay khu Đất Thuế (âm đọc chệch của từ Thế - Thế là chân phần đất được chia theo suất đinh Con trai được thế phần bố - Nếu không có con trai thì khi chết phải trả làng để

Trang 23

Đền theo hướng tây bắc, trông núi, nhìn sông:

“Tản Lĩnh thanh hai ẩn ước sơn dung miếu mạo

Nhĩ Hà bạch nhiễu bồi hồi vân ảnh thiên quang”

“Bắc phương cạnh tú (sao tranh phương Bắc)

Nam nhạc chung thiên” (Núi hợp trời Nam)

Trước hậu cung là sân gạch (2 nấc), sau đến cổng đền Giữa cổng là hai cột đồng trụ lớn được đắp hổ phù, rồng phượng quay bốn phía Hai bên là tả, hữu nghi xây kiểu chồng diêm tám mái, hai cột đồng trụ nhỏ tiếp nối tường bao quanh đền Hai nhà tả vu, hữu vu mới xây thêm năm 2007, mỗi nhà có ba gian Bước qua đường cái làng là hồ nước lớn, giếng tròn xưa được xây kiên

cố trực diện với cổng đền Đền Chính Khí thờ Tứ vị đại vương:

“Diêm La Phật Tử đại vương

Trang 24

Hy Minh Dũng Nghị đại vương

Nhã Lang linh ứng đại vương

Biệt súy Phổ Đỉnh đại vương”

Ngày đại tiệc hàng năm là ngày mồng 7 tháng Giêng (sinh nhật vua Lý Phật Tử), nhân dân trong xóm tổ chức tế lễ linh đình Đồ tế tự, tế khí, sắc phong đến nay hầu hết đã bị thất lạc Hiện chỉ còn 2 đôi câu đối gỗ, 4 bài vị thánh, 1 hương án, 1 trống cái, 1 chuông nhỏ, 9 lư hương to nhỏ, 2 y môn, 1 mâm bồng cỗ, 1 hòm đựng sắc và một số cây đèn, nến, đài,…, đều đã bị hư hỏng nặng

Trước hậu cung và ba mặt đồng trụ đều có câu đối Đáng chú ý là các câu đối nêu rõ vị trí xưa của thành Ô Diên và các sự kiện đã diễn ra ở đây: “Bát bảo xa thư thông Bắc cực

Vạn niên lễ nhạc sán Nam cung”

(Tám ấn báo tin thống nhất đất nước của nhà vua,

Vạn năm sau lễ nghi và âm nhạc tươi đẹp nơi xưa vua ở)

“Kỳ dịch Tràng An phưởng phất bách niên tiền tĩnh

Càn khôn bất lão y hy thất miếu hậu cao"

(Những trận đánh (cuộc chơi cờ) lớn ở Kinh đô nhiều năm trước chỉ còn thoảng qua đều đã yên ổn

Tình nghĩa vua tôi còn mãi dẫu chỉ mường tượng không rõ ràng ở miếu thờ các tiên vương về sau luôn được quý kính)

* Phong tục tập quán

Làng Hạ Mỗ với truyền thống văn hiến lâu đời, luôn hướng theo ngọn cờ Thiên hạ thái bình, phấn đấu cho mục tiêu cao cả: “Khi khả quan văn vật, tốt đẹp lễ nhạc y quan Ngành văn nổi các khoa mục, ngành vũ xuất những công hầu, nhà nhà phú thọ khang ninh, làng xóm phục hòa phồn hậu” Đó là ý chí, tình cảm và quyết tâm của người dân Hạ Mỗ từ ngàn đời vẫn lưu truyền cho các thế hệ

Trang 25

+ Điều 1 Quy định về lễ hội truyền thống, phong tục tập quán

Thực hiện chính sách tôn giáo của Chính phủ, mọi người trong làng đều

có quyền tự do tín ngưỡng, được thờ cúng, tế lễ trong gia đình, miếu, chùa, đền của làng theo đúng thể lệ, quy định Theo tính chất và nội dung thờ tự từ xưa mỗi nơi nên giữ vững không tự ý thay đổi Nếu được dân làng nhất trí, chính quyền đồng ý cho phép, các cơ quan văn hóa và tổ chức tôn giáo chuẩn

y thì mới được thay đổi Các di tích được thực hiện đúng “Luật Di sản Văn hóa 2001 và sửa đổi bổ sung năm 2009”

Việc thờ cúng thể hiện sự trang nghiêm, thành kính, tránh lãng phí phô trương, ăn uống tốn kém làm phương hại sự đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín, giảm lòng tin của nhân dân và khách thập phương Mọi người đến nơi thờ cúng quần áo chỉnh tề, không dung tục, không gian dối, không lợi dụng nơi công cộng để tuyên truyền ảnh hưởng cá nhân, gây bè kéo cánh, nói xấu người khác hoặc làm phương hại đến công việc của địa phương và Nhà nước Người trong làng cũng như khách thập phương đến lễ bái không được hành nghề mê tín dị đoan hoặc đầu cơ trục lợi, kinh doanh trái phép, tổ chức đánh bạc dưới bất cứ hình thức nào, không đốt đồ mã trong khu vực lễ hội, không đốt pháo, thả đèn trời Mọi người thực hiện giữ gìn vệ sinh công cộng Người đang có đại tang thì tạm hoãn việc ra đình, đền, nếu đang đảm nhiệm công việc của làng thì cử người khác thay thế Ra đình, chùa, đền, điếm sở mọi người nên có ý thức tôn trọng các cụ cao tuổi, chọn chỗ ngồi thích hợp với lứa tuổi, biết nhường chỗ thuận lợi và trân trọng khách của làng, tôn trọng nội quy của dân làng

Hội làng không nhất thiết năm nào cũng tổ chức Năm nào mở hội thì tùy tình hình cụ thể về nội dung và tính chất mà quyết định số ngày nhưng không

Trang 26

+ Điều 2 Về việc cưới

Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn, trước khi

tổ chức lễ cưới đôi nam nữ đến Ủy ban nhân dân xã làm thủ tục đăng ký kết hôn theo đúng quy định Không tổ chức cưới tảo hôn hoặc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng Không ép buộc, gả bán hoặc khôi phục những thủ tục lạc hậu Tổ chức đám cưới trang trọng, vui tươi, lành mạnh, phù hợp với phong tục tập quán: “Khi sự tìm hiểu đã chín muồi, người con trai sẽ thưa chuyện với cha, mẹ mình để chuẩn bị lễ vật sang nhà gái xin cưới Theo tập quán quy định của làng Hạ Mỗ xưa, nhà trai không những phải chuẩn bị lễ vật

mà còn phải làm cỗ cho nhà gái Nhà gái nếu lấy chồng là người trong làng thì phải nộp cheo đôi chiếu hoa cho làng, nếu lấy chồng không phải là người làng thì nhà gái phải nộp gạch cho làng để xây đường, mà phải là loại gạch đơn thì làng mới chịu Đến nay, những tục lệ đó đã không còn tồn tại và lễ cưới được tổ chức đơn giản theo nếp sống mới mà vẫn đảm bảo đầy đủ những quy định cần phải tuân thủ

Lễ chạm ngõ: Theo quy định xưa, nhà trai sẽ bắn tin thăm dò trước, đối

với các nhà quyền quý thường tìm nơi môn đăng hộ đối (gia đình tương

Trang 27

xứng) Sau khi đã được nhà gái đồng ý, nhà trai mới nhờ ông mai hoặc bà mối mang trầu cau và trà tới xin dạm Trầu cau là thứ không thể thiếu trong các lễ cưới hỏi của người Việt Nam Trầu cau tượng trưng cho tình nghĩa thủy chung, thắm thiết

Lễ ăn hỏi: Sau khi chọn được ngày lành, tháng tốt, hai gia đình thống nhất, nhà trai phải có một cơi trầu để xin hỏi Ngoài ra, còn có các lễ vật khác như: Buồng cau, lá trầu, bánh phu thê, chè, thuốc lá và rượu…

Tất cả được đặt lên từng mâm rồi sau đó phủ vải đỏ, nhà trai sẽ chọn ba, năm hoặc bảy thanh niên khỏe mạnh chưa vợ trong làng đội lễ đi đầu đoàn, tiếp sau là đầy đủ các thành phần, lứa tuổi được chọn đi dự lễ

Lễ cưới: Thường được tổ chức vào tháng Giêng, tháng Hai và tháng Chạp âm lịch, đây là những tháng có tiết xuân mát mẻ, công việc bớt bận rộn Sau khi ấn định được ngày lành tháng tốt, nhà trai cùng nhà gái tiến hành tổ chức đám cưới cho đôi trai gái Trong ngày cưới, họ hàng, bạn bè thân hữu gần xa và nhân dân trong khu đến dự để chúc mừng cho gia đình nhà trai và nhà gái Đúng giờ đã định, nhà trai với đầy đủ các thành phần, vai vế, nội ngoại và bạn bè đến nhà gái Đại diện họ nhà trai có lời xin đón dâu Được sự đồng ý của đại diện nhà gái, cô dâu chú rể làm lễ gia tiên Tối hôm đó, cô dâu ngủ lại nhà trai một đêm (đêm tân hôn) Sáng hôm sau, nhà trai sửa soạn một cái lễ cùng cô dâu và chú rể sang nhà gái để lại mặt”

Tổ chức đám cưới phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình, đảm bảo yêu cầu tiết kiệm, tránh phô trương hình thức, gây lãng phí, hạn chế cỗ bàn, hạn chế các tục lệ không cần thiết Khuyến khích tổ chức theo nếp sống mới, tổ chức hình thức cưới tiệc trà, văn nghệ và báo hỷ sau ngày cưới thay cho tiệc mặn tại gia đình Trong đám cưới không nên uống rượu say, không được sử dụng các thiết bị âm thanh gây tiếng ồn quá mức quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến xung quanh và trật tự công cộng, không được mở loa đài, băng đĩa nhạc sau 22 giờ và trước 6 giờ sáng

Trang 28

+ Điều 3 Về việc tang

Khi có người qua đời, gia đình ở cụm dân cư nào thì thông báo với cụm

trưởng cụm dân cư đó để cụm trưởng thông báo cho nhân dân trong thôn, cụm biết và có trách nhiệm đến Ủy ban nhân dân xã làm thủ tục khai tử Khi nhận được thông báo các hộ gia đình bố trí người đến giúp đỡ gia đình có tang khâm liệm, chuẩn bị mọi thứ cho tang lễ Khuyến khích thực hiện hình thức hỏa táng

Việc tổ chức tang lễ chu đáo, trang nghiêm, gọn nhẹ, tiết kiệm phù hợp với nếp sống văn hóa trong việc tang Khi tổ chức không nên mời cỗ đối với khách, dân làng mà chỉ tổ chức gọn nhẹ trong gia đình, phải đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm Không để thi hài người quá cố quá 36 giờ Trường hợp chết do bệnh dịch lây nhiễm nguy hiểm thì tổ chức chôn cất ngay theo quy định của Bộ Y tế Nếu hộ nào vi phạm thì lập biên bản đề nghị cấp có thẩm quyền giải quyết Không sử dụng kèn trống, nhạc tang sau 22 giờ và trước 6 giờ sáng Không nên đốt rải vàng mã khi đưa tang tránh ô nhiễm môi trường Các tuần tiết trong việc tang như cũng 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu và cải táng chỉ tổ chức trong nội bộ gia đình

Thực hiện nghiêm túc quy chế và sử dụng nghĩa trang nhân dân Đối với người không có hộ khẩu thường trú tại địa phương, khi qua đời gia đình có nguyện vọng tổ chức lễ tang và an táng tại địa phương thì thân nhân phải thông báo cho Cụm trưởng và xin phép Ủy ban nhân dân xã và chấp hành đầy

đủ các quy định về tang lễ cũng như tập quán của nhân dân địa phương

+ Điều 4 Việc tổ chức ngày lễ, tết, giỗ, mừng thọ

Các gia đình có ông, bà, cha, mẹ đến tuổi lên lão (Từ 70 tuổi trở lên) vào

các năm chẵn (như 70 tuổi, 75 tuổi, 80 tuổi,…) thì báo cáo với Chi hội người cao tuổi để tổ chức mừng thọ vào dịp đầu xuân thể hiện lòng tôn kính và hiếu thảo của con cháu đối với người cao tuổi trong gia đình

Việc tổ chức ngày lễ, tết, giỗ,…, nên gọn nhẹ, không phô trương, không kéo dài thời gian

Trang 29

* Truyền thống cách mạng

Trong thời kỳ nhà nước Vạn Xuân chống quân xâm lược Tùy, người dân

Hạ Mỗ (tức thành Ô Diên) đã cùng với quân dân cả nước chiến đấu anh dũng Tham gia đội quân của Thái úy Tô Hiến Thành dẹp phản loạn ở biên giới phía Bắc và dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu phía Nam, buộc chúng phải thuần phục uy danh Đại Việt Và trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước qua các triều đại khác nhau nhân dân Hạ Mỗ vẫn một lòng đoàn kết chống giặc ngoại xâm

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Hạ Mỗ còn có nhiều người con đã hi sinh trên mảnh đất này để bảo vệ xóm làng, đất nước tiêu biểu có sư cụ Thích Thanh Trang, trụ trì chùa Hải Giác là Hữu quân Chánh tướng của phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX và anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân – liệt sĩ Lê Thao (1929-1950)

140 người con đã hi sinh trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và

16 bà mẹ Việt Nam anh hùng là những tấm gương sáng để lại trong lòng người dân Hạ Mỗ đời đời ghi nhớ công ơn

* Đời sống văn hóa - xã hội hiện nay

Nhìn chung, đời sống của người dân Hạ Mỗ từ sau năm 1945 đến nay

đã có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng ổn định và phát triển

Hạ Mỗ có lễ hội truyền thống được mở vào ngày sinh của thành hoàng làng 12 tháng Giêng âm lịch tại đình Vạn Xuân Ngày trước hội mở từ 12 đến

24 tháng Giêng, bây giờ chỉ mở hội 3 ngày từ 12 đến 14 tháng Giêng Từ sau ngày khánh thành tôn tạo miếu Hàm Rồng (1995) trong lễ hội lại có rước tượng thánh từ miếu về đình ngày vào đám (chiều tối ngày 11) và từ đình về miếu ngày rã đám (chiều tối ngày 13) như thượng cổ Từ xa xưa hội làng Hạ

Mỗ đã tổ chức nhiều trò chơi dân gian như đánh cờ người, hát nhà tơ (ca trù), hát chèo, đánh đu…, nhưng đặc sắc và thu hút người xem hơn là trò bắt vịt và nấu cơm thi

Trang 30

Tục truyền rằng người Hạ Mỗ vốn là gia thần thủ túc của Hoàng tử Lý Bát Lang, đã từng đi theo ông đánh giặc và bảo vệ thành Ô Diên Công việc hậu cần (nấu cơm) cùng tham gia chiến đấu (bắt vịt tượng trưng cho bắt giặc),

do đó có trò đua thuyền bắt vịt nấu cơm thi ra đời sớm ở đây Hạ Mỗ xưa là vùng sông nước Thành Ô Diên nằm ở ngay ngã ba sông do đó phương tiện đường thủy xưa kia rất phổ biến và phát triển Trò đua thuyền bắt vịt nấu cơm thi ở đây cũng là sự nhắc nhở về điều kiện sống và truyền thống của dân làng Phong trào xây dựng gia đình văn hóa được triển khai sâu rộng Nam

2012 toàn xã có 1.570 hộ gia đình văn hóa trên tổng số 1.985 hộ đăng ký đạt 79%, tăng 10,9% so với năm 2011

Nếu như trước năm 45, cả xã Hạ Mỗ chưa có một trường học nào thì hiện nay, trong hệ thống giáo dục đã có trường học của xã như trường Mầm non, trường Tiểu học, trường Trung học cơ sở

Trạm y tế xã Hạ Mỗ gồm 1 bác sỹ, 2 Y sỹ, 3 điều dưỡng và một nữ hộ sinh Trạm là Y tế tuyến cơ sở trực thuộc sự quản lý chuyên môn của Trung tâm Y tế huyện Đan Phượng và trực thuộc trực tiếp UBND xã Hạ Mỗ quản lý

về nhân sự Trạm làm được các kỹ thuật theo phân tuyến: khám chữa các bệnh cơ bản, xử trí vết thương, sơ cứu cấp cứu, đỡ đẻ, đặt vòng, tiêm chủng Trạm được trang bị một số máy móc tương đối hiện đại như: máy siêu âm, xét nghiệm nước tiểu, kính hiển vi Trạm Y tế phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân trong xã và tiêm chủng theo chương trình quốc gia, gồm tiêm cho trẻ em vào ngày mồng 5 hàng tháng, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai vào mồng 6 hàng tháng

Tăng cường công tác tuyên truyền về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên đài truyền thanh và qua các hội nghị, tọa đàm Tổng số 2.211 hộ; Số nhân khẩu 8,217 khẩu; Tổng số trẻ sinh năm 2012 là 161 tăng 30 cháu so với năm 2011, trong đó có 76 nữ, 85 nam; Tỷ lệ sinh 19,9%; số người sinh con thứ 3 trở lên là 22 tăng 3 người và bằng 15% so với cùng kỳ, chiếm 13,6% tỷ

Trang 31

Đền Văn hiến, tên chữ là Văn Hiến Đường, xưa kia là văn chỉ thờ Khổng

Tử, là nơi biểu dương các danh nhân khoa bảng trong làng Sau khi Thái úy

Tô Hiến Thành qua đời, nhân dân xây mộ và thờ ông tại đây Ngoài ra khi quan nghè Đỗ Trí Trung (người con của làng Hạ Mỗ) qua đời, dân làng đưa bài vị của ông vào thờ chung với Thái úy Tô Hiến Thành Từ khi đền Văn Hiến được xây dựng khang trang năm 1928, dân làng đã tạc tượng, phối thờ Nho giáo (ảnh Khổng Tử), Đạo giáo (Văn Xương Đế Quân, Đức Thánh Phù Hựu và Đức Thánh Đế Quân) và Tín ngưỡng dân gian (Lý Bát Lang, Thái úy

Tô Hiến Thành và Đỗ Trí Trung)

1.2.1.1 Thái úy Tô Hiến Thành

Tô Hiến Thành (1102 – 1179) hiệu Phi Diên và Đại Liêu Thủa nhỏ, ông

đã có tài văn võ, đức trí hơn người Năm Thiệu Minh thứ nhất (1138) ông đỗ Thái học sinh Ông phò ba vua đời Lý Thần Tông (1128-1138), Lý Anh Tông (1138-1175) và Lý Cao Tông (1175-1210) Ông là người có công lớn trong việc tổ chức quân đội, giữ yên biên thùy, mở mang văn hiến, chăm lo đời sống nhân dân, tiến cử hiền tài, phò vua giúp nước trọn cả cuộc đời Rất nhiều

sử sách đã ghi lại những đóng góp vô cùng lớn lao của Tô Hiến Thành Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú ghi chép lại công lao to lớn của ông: Năm Đại Định thứ 12 (1141) có người thầy bói là Thân

Trang 32

đi đánh Chiêm Thành, người Chiêm xin hòa ông mới đem quân về Bấy giờ ông đương việc nước cầm chính quyền, rèn binh kén tướng, việc quân đội, quốc phòng nhất nhất được chấn chỉnh Năm Thiên Cảm Chí Bảo thứ 2 (1175) vua lập Long Cán làm thái tử, ông nhận chức nhập nội kiểm hiệu thái phó, bình chương quân quốc trọng sự tước vương giúp thái tử, ngày vua đau

ốm sai Tô Hiến Thành ẵm thái tử ra coi chính sự Thời gian Lý Anh Tông mệt nặng, vua ủy cho Tô Hiến Thành phò thái tử lên ngôi, mọi công việc quốc gia đều giao cho xử đoán Thái hậu muốn dựng thái tử cũ là Long Xưởng mới đem vàng bạc hối lộ vợ ông Tô Hiến Thành nói: “Ta là bậc đại thần vâng mệnh của tiên đế dặn lại, giúp đỡ vua tuổi nhỏ, nay lấy của hối lộ mà bỏ người nọ lập người kia thì còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế nơi suối vàng” Thái hậu lại triệu ông vào dụ dỗ đủ mọi đường Ông thưa: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, người trung thần nghĩa sĩ đâu lại muốn thế Huống lời nói của tiên đế hãy còn văng vẳng bên tai, há lại không biết việc của Y Doãn, Hoắc Quang ngày trước hay sao? Tôi không dám vâng lời”

Nhận xét về triều vua Lý Anh Tông, sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: “Tô Hiến Thành được dự chính quyền, giúp đỡ bên trong chạy vạy bên ngoài, trung thành lo lắng, vua cũng đậm tâm nhân kính, suy việc trước, giữ việc sau, trí tuệ ngày càng tăng, đức nghiệp ngày càng tiến,… Triều đình sáng sủa,

biên giới yên bình, hầu như đem lại được thịnh trị”[Theo Đại Việt sử ký toàn

thư, tập 1, Nxb VHTT] Vua Trần Nghệ Tông (1370 – 1372) sai vẽ bức tranh

Trang 33

Chu Công phò vua giúp Thành Vương, Hoắc Quang phò giúp Chiêu Đế, Khổng Minh phò giúp Hậu chủ, Hiến Thành phò giúp Cao Tông để ngợi ca bốn vị phụ chính nổi tiếng xưa nay

Vua Tự Đức (1778 – 1793) viết thơ ca ngợi:

“Nghĩa trọng tài khinh thị trượng phu

Y, Chu tâm tích thế gian vô Lâm chung nhất ngữ do kim thạch Tinh nhật tranh huy tứ phụ đồ”

Tạm dịch là:

“Nghĩa trọng tài khinh chí hướng to

Y, Chu tích cũ hiếm người so Một lời sau trước như vàng đá Sáng mãi gương soi tứ phụ đồ”

Sử sách xưa nay ca ngợi ông với tấm lòng trung thành không làm trái di lệnh của vua Lý Anh Tông lập Long Cán, quản lĩnh cấm binh, thưởng phạt công bằng, trong nước ai cũng quy phục

Khi lâm bệnh nặng, ông còn khẳng khái cương trực chọn cử người hiền tài cho đất nước, Thái hậu có đến thăm và hỏi ai có thể thay thế ông việc chính sự trong triều, ông đã đề nghị chọn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá làm phụ chính thay ông chứ không chọn Vũ Tán Đường mặc dù Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ thuốc thang cho ông Một lần nữa cho thấy Tô Hiến Thành luôn vì lòng trung với nước, vì đại sự triều đình, phân biệt rõ lý trí và tình cảm, giữa công việc và tình nghĩa Sau khi ông mất, Thái hậu không nghe lời khuyên của ông nên chính sự bắt đầu lụi bại Không chỉ lo toan tốt việc nước, Tô Hiến Thành còn lo nghĩ thấu đáo cho nhân dân Một số giai thoại về ông cho biết Tô Hiến Thành có tư tưởng “Khứ thị phát, lưu thị mạt” nghĩa là

“ra đi thì phát triển, ở lại thì nghèo khó”

Vì thương dân không muốn lấy ruộng vườn của làng làm thái ấp, không

nỡ biến bà con thân thích thành gia nô hay những nông dân trong công xã

Trang 34

riêng của mình, Thái úy Tô Hiến thành đã đưa hầu hết con cháu và dòng họ đi lập quê mới ở những vùng mà được nhà vua phong cấp Chuyện kể rằng: biết tin quan Thái úy được vua phong cấp điền trang, bà con làng xóm vui mừng khôn xiết nhưng thấy ông không nhận đất đai quê nhà lại xin triều đình cấp cho ở những vùng xa xôi cách trở nhiều người sinh ra tiếc của và trách móc ông Một số người xin ông tâu với triều đình cấp ngay trong huyện hoặc vùng xung quanh Ông bảo, nếu không phải ta mà là vị quan khác được nhà vua phong đến đây, liệu các nhà có vui lòng mà ưng thuận làm nô bậc cho người

ta hay không? Huống chi, quê mình “đa đình điền thiểu”, tất cả đều là bà con anh em, họ hàng gần xa ta không nỡ Có người nghe ra bằng lòng làm theo lời ông, có người xin ông chiếu cố để ở lại quê, ông trả lời dứt khoát: “Khứ thị phát, lưu thị mạt” ta không muốn cậy quyền cậy thế, muốn gì được vậy Lấy ruộng vườn của bà con mình làm của riêng, bắt anh em làm nô tì, nô bậc cho nhà mình thì có khác chi kẻ “cướp ngày” ta không thể làm Về sau hầu hết con cháu dòng họ đã vâng lời của ông đi khắp nơi an cư lạc nghiệp đâu cũng hưng thịnh

Dấu ấn Tô Hiến Thành trong đời sống của người dân Hạ Mỗ: Người dân

Hạ Mỗ ai ai cũng đều biết về Thái úy Tô Hiến Thành là một con người “văn võ toàn tài, đức trí kiêm ưu” Ông là một vị quan thanh liêm, hết lòng trung thành với vua và đất nước, có công dẹp giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi nước nhà Tuy nhiên, trong cuộc sống của người dân Hạ Mỗ ngày nay còn lưu truyền rất nhiều giai thoại về ông và thường xuyên nhắc đến, kể cho con cháu nghe với tấm lòng biết ơn chân thành và kính trọng nhất Truyền thuyết kể rằng, Tô Hiến Thành khi còn làm chức quan nhỏ, ông thường đi về quê ở Nhân dân địa phương hết lòng cảm phục ông vì lối sống thanh cao, giản dị Hơn nữa, ông hết lòng chiến đấu chống thế lực cường quyền ở địa phương để bảo vệ bà con, dân chúng Đức độ của ông đối với bà con lối xóm được người dân Hạ Mỗ hết lòng nể phục và biết ơn Tương truyền, ở gần nhà ông có một nhà bị mất trộm áo, bèn

ra lễ vị thần xóm để mong lấy lại được Nhưng kêu cúng mãi mà không được

Trang 35

Biết tin, ông cho dân phá miếu thờ và nói: “Thần vì dân ngăn ngừa tai họa, nay kẻ kia mất áo kêu cầu không hiệu quả, còn thờ làm gì! Làm thần của một

ấp là phải giữ trị an cho dân chúng trong ấp Dân mất cái áo cũng không tìm

ra kẻ gian, một việc nhỏ cũng không làm trọn thì không đáng được hưởng tế

lễ bốn mùa của dân ấp” Sau khi phá miếu thờ, ngay đêm ấy, thần miếu báo mộng cho bà vợ Tô Hiến Thành rằng: “Chồng bà phải mở cửa miếu cho dân thờ cúng, nếu không thần sẽ vật chết đứa con gái đầu lòng” Bà sợ hãi báo lại cho chồng nhưng ông gạt đi Quả nhiên đứa con gái đầu lòng của ông ốm rồi chết Ai nấy biết chuyện kinh hãi oai thần Tô Hiến Thành vẫn trơ trơ sắt đá không tin thần vật được chết con gái mình

Một hôm khác thần lại báo mộng cho con trai ông rằng: “Nếu miếu thần không được sửa sang cho nhân dân tới thờ cúng như xưa thì đứa em gái của anh ta sẽ tiếp tục bị vật chết như chị nó” Tô Hiến Thành cho đó là một việc phi lý, bèn gác ngoài tai Nhưng quả nhiên mấy ngày sau cô con gái thứ hai của ông chết thật Mọi người đều hết sức kinh hãi, chỉ có Tô Hiến Thành vẫn bình tĩnh Ông vững vàng mắng lại thần rằng: “Có giỏi thì làm chết ta chứ sao lại thù vặt để làm hại mấy đứa con ta như thế” Thần miếu chịu phép phải báo mộng lại cho ông: “Thực ra hai con gái ông chết là do số mệnh Thần được nghe biết số mệnh của hai cô con gái ông trước nên nói trước để dọa ông chứ thực ra không phải thần bắt chúng chết được Còn việc kẻ trộm lấy áo thì đó

là việc nhỏ nhặt, chẳng lẽ vì mất một cái áo mà mất luôn một mạng người như cách người ta chửi rủa nhau Vậy xin ông cho lập lại miếu thờ để thần có chốn nương tựa” Nghe Thần miếu nói hợp lý Tô Hiến Thành mới cho người lập lại miếu thờ cho thần

Qua câu chuyện trên, chúng ta có thể thấy, Tô Hiến Thành là một người hết lòng lo cho dân, không nề hà, bất chấp cả thế lực thần linh đe dọa nhưng ông vẫn một lòng vì dân không quản ngại, sợ hãi Tấm lòng của Tô Hiến Thành khiến người dân Hạ Mỗ hết sức nể phục và biết ơn sâu sắc Thực chất, thông qua câu chuyện dân gian, nhân dân Hạ Mỗ đã thần linh hóa tấm lòng

Trang 36

thương dân và thái độ kiên quyết chống lại thế lực phong kiến ở địa phương lúc bấy giờ Qua đây, chúng ta thêm hiểu về tấm lòng tốt đẹp của Tô Hiến Thành Không chỉ có vậy, việc Tô Hiến Thành nhận sự ủy thác của vua Lý Anh Tông hết lòng phò trợ cho vua Lý Cao Tông lên ngôi vua bất chấp mọi lời mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa của Thái hậu được mọi người dân Hạ Mỗ lưu truyền như một giai thoại về tấm lòng trung thành của ông Đến lúc qua đời ông vẫn một lòng một dạ vì nước vì dân tiến cử hiền tài, không vì ân huệ riêng mà đứng trên sự nghiệp lớn, quyền lợi của dân tộc để chọn người thay thế với phương châm “tùy người mà giao việc”…

Tất cả những công lao đóng góp của Tô Hiến Thành với quê hương, đất nước được người dân Hạ Mỗ truyền tụng từ đời này sang đời khác với một lòng biết ơn sâu sắc nhất Qua việc lưu truyền các giai thoại, những đóng góp của ông với đất nước, người dân Hạ Mỗ muốn giáo dục cho con cháu đời sau biết ơn Thái úy Tô Hiến Thành, đồng thời qua đó giáo dục cho con cháu đời sau phải biết yêu quê hương đất nước, cố gắng học tập và noi theo tấm gương sáng của các bậc tiền nhân Noi gương ông, mọi người dân Hạ Mỗ đều tự thấy mình phải có trách nhiệm giữ gìn truyền thống của mảnh đất “Đế Vương đất cũ”, của người “Tể phụ ngày xưa” Chính vì vậy, dù trong xã hội phong kiến, trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, dù bọn cường hào địa phương tác oai, tác quái, người dân Hạ Mỗ vẫn vững vàng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ xóm làng, quê hương, đất nước Tô Hiến Thành là một tấm gương lớn về lòng trung nghĩa chính trực, góp phần quan trọng tạo dựng sự ổn định, phát triển của vương triều Lý Sử thần Ngô Sĩ Liên trong “Đại Việt sử ký toàn thư” có lời bàn: “Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết sức trung thành, khéo xử trí biến cố, như cột đá giữa dòng, tuy bị sóng gió lay động, vỗ dập mà vẫn đứng vững không chuyển, khiến trên yên dưới thuận, không thẹn với phong độ của bậc đại thần xưa Huống chi đến lúc sắp chết còn vì nước tiến cử người hiền, không vì ơn riêng…Thái hậu không dùng lời nói của Tô Hiến Thành là việc không may cho nhà Lý vậy”

Trang 37

1.2.1.2 Tiến sĩ Đỗ Trí Trung

Đỗ Trí Trung (1439 - ?), người làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, xưa thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây sau thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông và nay thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Năm 37 tuổi, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Đỗ Trí Trung làm quan đến chức Tự Khanh – Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc thượng đại phu, nhập nội thị tả thị lang Ông là người đứng đầu khoa Kim cương bát bộ, lại tham dự vào Hội “Quỳnh uyển cửu ca” (chín bài ca vườn ngọc) Ông sinh hoạt văn thơ với các văn thần lúc bấy giờ xung quanh vua Lê Thánh Tông trong Hội Tao Đàn

Trong thời gian làm quan, ông thường từ Thăng Long về quê thăm bà con, họ hàng, làng xóm Đặc biệt, ông rất quan tâm tới công việc xây dựng, sửa sang các công trình phúc lợi của làng, nhất là miếu đường thánh thất

Vì có công đức lớn trong đợt trùng tu tôn tạo chùa Hải Giác nên sau khi ông mất, dân làng và nhà chùa đã thuê thợ tạc tượng thờ tại ban hữu (bên phải) tòa mặt động trong khu đặt bia hậu chùa Hải Giác

Đôi câu đối khắc chìm trên cột (gạch) ghi:

“Khoa hoạn bất ma tiền sử lục

Gia hương tồn vấn hậu tâm tri”

Dịch nghĩa:

(Đỗ đạt làm quan sử ghi không mất

Quê nhà còn thăm hỏi về sau, còn rõ tấm lòng)

Sau lễ “Đồng giáng bút”, đền Văn Hiến được xây dựng lớn hơn, dân làng làm lễ rước tượng quan nghè Đỗ Trí Trung về thờ cùng với Thái úy Tô Hiến Thành trong Hậu cung đền Văn Hiến Đồng thời đưa di ảnh của Đức Khổng Tử và tượng của các vị tiên, thánh của Đạo giáo vào cùng thờ

Cùng với “Tiên hiền bi ký”, bia khoa tràng ghi rõ sự nghiệp hai vị đại khoa: Thái học sinh Tô Hiến Thành và Tiến sĩ Đỗ Trí Trung “Văn Hiến

Trang 38

“Nhuệ thủy chung linh, thiên thu hiển hách Tô Công tích

Diên Thành dục tú, ức tải quang vinh Đỗ Tướng danh”

Năm 547, tháng giêng, Triệu Quang Phục lui về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể vào được Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết Quang Phục thuộc rõ đường

đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, Ông dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp hết

Trang 39

lương thực vũ khí, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế

cầm cự lâu dài Bá Tiên không đánh được Người trong nước gọi ông là Dạ

Trạch Vương (夜澤王) Bãi ấy gọi là "bãi Tự Nhiên", đầm ấy là "đầm Nhất

Dạ", ngày nay vẫn còn tên gọi cũ

Năm 550, Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho quân của ông lương hết, quân mệt mỏi thì có thể phá được Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về (sau này Trần Bá Tiên cướp ngôi vua của nhà Lương năm 557.), ủy cho tì tướng là Dương Sàn ở lại Ông tung quân ra đánh Sàn chống cự, thua chết Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc Ông vào thành Long Biên ở

Anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo, ở đất của người Di Lạo, xưng

là Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã Năng Trước đó, khi Lý Nam

Đế tránh ở động Khuất Lạo, Thiên Bảo cùng với tướng người trong họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn người vào Cửu Chân Trần Bá Tiên đuổi theo đánh, Lý Thiên Bảo thua, thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao, thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được, mới đắp thành để ở, nhân tên đất ấy mà đặt quốc hiệu Đến bây giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương

Năm 555, Đào Lang Vương mất ở nước Dã Năng, không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi, thống lĩnh quân chúng Năm 557, Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông đánh nhau với quân của Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình, năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại,

mà quân của Lý Phật Tử luôn thua, ngờ là ông có thuật lạ, bèn xin giảng hòa Ông nghĩ rằng Lý Phật Tử là người trong họ của Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (nay là hai xã Thượng Cát, Hạ Cát ở huyện Từ Liêm, Hà Nội) cho ở phía tây của nước, Lý Phật Tử dời đến thành

Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, xã ấy nay có đền thờ thần Bát Lang, tức là đền thờ Nhã Lang) Lý Phật Tử có con trai là Nhã Lang, xin lấy

Trang 40

con gái của ông là Cảo Nương Ông bằng lòng, kết thành thông gia Ông yêu quý Cảo Nương, cho Nhã Lang ở gửi rể Triệu Quang Phục quá tin vào sức mạnh quân sự của mình, mất cảnh giác nên đã bị suy yếu đáng kể Nhã Lang

ở rể, thực chất là để hoạt động gián điệp nên nội tình của Triệu Việt Vương đã

bị Lý Phật Tử nắm rõ

Năm 571, Lý Phật Tử phụ lời thề, đem quân đánh Ông yếu thế không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía nam, tìm nơi đất hiểm để ẩn náu, nhưng đến đâu cũng bị quân của Lý Phật Tử đuổi theo sát gót Ông cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, bị nước chắn, bèn nhảy xuống biển tự vẫn

Họ Triệu mất nước

1.2.2 Quá trình hình thành và tồn tại của di tích đền Văn Hiến

Đền Văn Hiến xưa là văn chỉ thờ Khổng Tử và là nơi biểu dương các danh nhân khoa bảng trong làng Ở đây có văn bia ghi lại quá trình lịch sử xây dựng đền, lý do xây dựng, tên tuổi, công lao của các bậc tiên hiền và những đóng góp tiền của để công đức cho dân làng Văn bia cho biết: “Từ đời Thành Thái Tổ trở về trước Văn Hiến Đường này chưa có Bia còn đặt bên bờ ruộng khoa trường, ngoài nhà để bia bốn bề gió lộng Những bậc lừng khoa danh, nổi sự nghiệp đều dựng miếu phụng thờ ở văn chỉ hàng huyện vậy mà ở nơi làng xưa quê cũ chỉ có một tấm bia tàn chốn đồng hoang nội vắng Chỉ có kẻ chăn trâu cắt cỏ qua lại Ngày 26 tháng Chạp trời mưa to gió lớn ngập tràn nơi

để bia, ầm ầm trời đất rung động Lát sau mưa tạnh thì nền đá vỡ, cột bia gãy

mà tấm bia vẫn sừng sững đứng nguyên giữa trời quang Trong nhà Văn Hiến

ấy, bia lớn sánh đôi, tượng xưa nghiêm nghị là thánh tích hai vị tướng công

họ Tô, Đỗ, bậc tiên hiền của xã ta…”

Theo như tấm bia đá Văn Hiến Đường Bi Ký đặt trong nhà che bia, nội dung bia ghi quá trình lịch sử xây dựng đền, lập bia và miêu tả cảnh đền cũng

như lịch sử ra đời của bộ sách “Cổ kim truyền lục” Trên văn bia còn ghi lại lý

do xây lại đền, tên tuổi, công lao của các bậc tiên hiền Bia được dựng ngày

12 tháng 6 năm Mậu Thìn niên hiệu Bảo Đại thứ ba (1928) tương đương

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hồng Ân (1997), Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945-1997 - Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945-1997
Tác giả: Nguyễn Hồng Ân
Năm: 1997
2. Trần Lâm Biền (2006), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt, (vùng châu thổ sông Hồng). Đề tài NCKH cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 2006
3. Nguyễn Đăng Duy – Trịnh Thị Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy – Trịnh Thị Minh Đức
Năm: 1993
4. Đại Việt sử ký toàn thư – Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb KHXH
5. Trịnh Thị Minh Đức – Phạm Thu Hương, Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
6. (2010) - 1000 nhân vật lịch sử văn hóa Thăng Long – Hà Nội, Nxb thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1000 nhân vật lịch sử văn hóa Thăng Long – Hà Nội
Nhà XB: Nxb thông tin và truyền thông
9. Nguyễn Thị Huệ (2011), Lịch sử sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2011
10. Phan Khanh (1992), Bảo tàng – Di tích – Lễ hội. Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng – Di tích – Lễ hội
Tác giả: Phan Khanh
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1992
11. Nguyễn Khởi (2002), Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc
Tác giả: Nguyễn Khởi
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2002
12. Nguyễn Hồng Kiên (1996), Kiến trúc gỗ cổ truyền Việt//T.C Kiến trúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc gỗ cổ truyền Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Kiên
Năm: 1996
13. Lịch sử Việt Nam (2003), NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam (
Tác giả: Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
14. Luật di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành, Nxb Chịnh trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nxb Chịnh trị Quốc gia
15. Luật di sản văn hoá, sửa đổi bổ sung năm 2009, Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hoá, sửa đổi bổ sung năm 2009
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
16. (1998), Hạ Mỗ - lịch sử và truyền thống, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạ Mỗ - lịch sử và truyền thống
Năm: 1998
21. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19, Nhà xuất bản KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH
22. Chu Quang Trứ, (2001), Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc.-H.: Mỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc
Tác giả: Chu Quang Trứ
Năm: 2001
23. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự, Phạm Ngọc Long,(1993), Chùa Việt Nam-H.: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự, Phạm Ngọc Long
Năm: 1993
24. Ủy Ban Nhân Dân Xã Hạ Mỗ, (2012), Quy ước làng Hạ Mỗ, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy ước làng Hạ Mỗ
Tác giả: Ủy Ban Nhân Dân Xã Hạ Mỗ
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2012
8. Hội văn nghệ dân gian Hà Nội, Sự tích các vị thần Thăng Long – Hà Nội Khác
17. Sở VHTT và DL – UBND Huyện Đan Phượng, (2011), Kỷ yếu hội thảo khoa học thành cổ Ô Diên Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w