1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van Quan ly kinh doanh dich vu van hoa o huyen Tinh Gia, tinh Thanh Hoa

183 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 18,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

văn hoá, chính trị, xã hội… Đặc biệt là xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại sự thay đổi về mọi mặt cho đất nước. Cuộc sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Chất lượng cuộc sống được cải thiện, không chỉ là nhu cầu vật chất, nhu cầu về đời sống tinh thần cũng được nâng lên. Những năm qua, Việt Nam cũng có những bước chuyển mình rõ rệt trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,…trong đó, văn hóa là lĩnh vực có sự thay đổi rõ nét nhất. Đặc biệt, sự phát triển của công nghệ đã mở ra cơ hội cho mọi người dân có điều kiện tiếp thu, tìm hiểu các tinh hoa văn hóa trên thế giới cũng như để làm thỏa mãn các nhu cầu thưởng thức và sáng tạo văn hóa của mình. Việc ra đời các DVVH như: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; viết đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường; triển lãm văn hóa nghệ thuật; hoạt động karaoke; hoạt động trò chơi điện tử và các hình thức vui chơi khác... đã làm cho đời sống văn hóa của người dân trở nên phong phú hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của sự phát triển thị trường dịch vụ văn hóa công cộng thì vẫn còn những mặt bất cập và có tác động tiêu cực, cần phải được quản lý và chấn chỉnh. Nhiều loại hình KDDVVH, giải trí như karaoke, vũ trường cũng tiềm ẩn các mặt trái, dễ bị biến tướng, tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm dễ xâm nhập, gây mất ổn định an ninh trật tự, để lại nhiều hệ lụy. Trong khi đó, việc chấp hành chính sách, pháp luật của các chủ thể kinh doanh chưa được đầy đủ và nghiêm túc. Hiện tượng kinh doanh vũ trường, karaoke không có giấy phép kinh doanh, không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, phòng chống cháy nổ vẫn còn khá phổ biến. Một số cơ sở kinh doanh lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý của chính quyền địa phương để hoạt động quá giờ, âm thanh vượt quá quy định, kinh doanh không lành mạnh, biến tướng, trá hình, trục lợi, gây mất an ninh, trật tự. Đã có chủ cơ sở chạy theo lợi nhuận, ít quan tâm đến cộng đồng, cố tình hoạt động biến tướng từ quán bar sang kinh doanh vũ trường, tàng trữ vũ khí, ma túy, rượu lậu, môi giới mại dâm, v.v. Những hạn chế và tác động tiêu cực này đã đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả và đổi mới công tác quản lý KDDVVH công cộng, nhằm đưa hoạt động này trở thành một lĩnh vực kinh doanh lành mạnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội. Sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện nghe nhìn hiện đại trong thời gian gần đây càng khiến cho các loại hình dịch vụ văn hoá trở nên sôi động nhộn nhịp hơn trong đời sống tinh thần của nhân dân. Đồng thời sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho các sản phẩm đó ngày càng có chất lượng cao và hấp dẫn hơn. Tất cả yếu tố đó khiến cho thị trường KDDVVH ngày càng trở nên sôi động. Tĩnh Gia không chỉ là một địa phương có nền kinh tế phát triển, mà còn là vùng đất có truyền thống hiếu học, với nhiều danh nhân nổi tiếng có công trạng với đất nước qua bao thế kỷ. Điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho Tĩnh Gia một sức sống mạnh liệt, được mệnh danh là một tỉnh Thanh thu nhỏ, địa hình hội tụ đầy đủ khu vực đồng bằng, miền núi và biển đảo. Có nhiều con sông, kênh, sơn thuỷ hữu tình tạo cho con người nơi đây đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó, có nền văn hoá đa sắc thái của mỗi vùng miền. Một địa phương gắn liền với truyền thống văn hoá của người Kinh (người Kinh chiếm 99,6%, người Thái chiếm 0,4%). Tĩnh Gia cũng là trung tâm kinh tế của cả tỉnh, có Dự án lớn Nhà máy Lọc hoá dầu Nghi Sơn, với một lượng chuyên gia không nhỏ đến từ nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Co Oét…và một lượng công nhân lớn đến từ các tỉnh, thành trong cả nước đang công tác, làm việc và sinh sống tại Tĩnh Gia. Trong sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước, huyện Tĩnh Gia cũng nằm trong xu thế phát triển chung của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những loại hình dịch vụ văn hoá của thế giới hiện đại đã và đang ngày càng có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Nghiên cứu các hoạt động KDDVVH đang phát triển trong đời sống xã hội để phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực của nó là một nhiệm vụ vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cấp bách hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên người viết đã chọn vấn đề “Quản lý kinh doanh dịch vụ văn hoá ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hoá.

Trang 1

********

NGUYỄN VĂN TRÀ

QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA

Ở HUYỆN TĨNH GIA, THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa hoạc của PGS.TS Đặng Hoài Thu Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất ký hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Trà

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HOÁ HUYỆN TĨNH GIA, THANH HOÁ 14

1.1 Lý luận chung về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hoá 14

1.1.1 Các khái niệm 14

1.1.2 Phân loại dịch vụ văn hóa 16

1.1.3 Nội dung và phương thức quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 19 1.2 Tổng quan hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá 25

1.2.1 Khái quát về huyện Tĩnh Gia 25

1.2.2 Các loại hình hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa ở huyện Tĩnh Gia 30

Tiểu kết 37

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA Ở HUYỆN TĨNH GIA, THANH HÓA 38

2.1 Bộ máy và cơ chế phối hợp quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 38 2.1.1 Bộ máy của phòng Văn hóa - Thông tin huyện Tĩnh Gia 41

2.1.2 Cơ chế phối hợp trong quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 44

2.2 Nội dung quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 45

2.2.1 Xây dựng, ban hành và thực hiện hệ thống văn bản pháp quy 45 2.2.2 Công tác chỉ đạo, điều hành các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa 49

2.3 Đánh giá chung 77

2.3.1 Ưu điểm 77

2.3.2 Hạn chế 83

Trang 4

2.3.3 Những nguyên nhân 84

Tiểu kết 86

Chương 3: XU HƯỚNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA Ở HUYỆN TĨNH GIA, THANH HOÁ 87

3.1 Xu hướng phát triển các loại hình dịch vụ văn hoá ở huyện Tĩnh Gia 87

3.1.1 Các loại hình dịch vụ văn hóa có xu hướng đa dạng hóa 87

3.1.2 Nguồn nhân lực trong kinh doanh dịch vụ văn hóa đòi hỏi trình độ chuyên môn 89

3.2 Định hướng 89

3.2.1 Định hướng chung của tỉnh Thanh Hóa 89

3.2.2 Định hướng cụ thể của huyện Tĩnh Gia 91

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá 92

3.3.1 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục nhận thức 92

3.3.2 Nâng cao năng lực cho các chủ thể quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện 93

3.3.3 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho công tác quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 97

3.3.4 Giải pháp về hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy trong quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa và chính sách phát triển kinh doanh dịch vụ văn hóa 98

3.3.5 Phát huy vai trò và sự tham gia của cộng đồng, tăng cường tính tự quản trong công tác quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 103

Tiểu kết 105

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 114

Trang 5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

KDDVVH Kinh doanh dịch vụ văn hoá

TTTT Thông tin truyền thông

VHTTDL Văn hoá, thể thao và du lịch

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Phân cấp quản lý Nhà nước về văn hóa 38

Bảng 2.1: Thống kê chuyên ngành đào tạo cán bộ văn hóa ở huyện

Tĩnh Gia

43

Bảng 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước

về văn hóa tại huyện Tĩnh Gia trong sự nghiệp phát triển của huyện

78

Bảng 2.3: Kết quả phỏng vấn cán bộ về giải pháp nâng cao hiệu quả

quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện Tĩnh Gia

81

Bảng 2.4: Kết quả phỏng vấn người dân về giải pháp nâng cao hiệu

quả quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện Tĩnh Gia

82

Biểu đồ 2.1: Sự phù hợp về cơ chế làm việc của cán bộ Phòng Văn hóa

và Thông tin huyện Tĩnh Gia

79

Biểu đồ 2.2: Sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh

dịch vụ văn hóa đối với người dân

80

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua cùng với sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh

tế, văn hoá, chính trị, xã hội… Đặc biệt là xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh

tế quốc tế đã đem lại sự thay đổi về mọi mặt cho đất nước Cuộc sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt Chất lượng cuộc sống được cải thiện, không chỉ là nhu cầu vật chất, nhu cầu về đời sống tinh thần cũng được nâng lên

Những năm qua, Việt Nam cũng có những bước chuyển mình rõ rệt trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,…trong đó, văn hóa là lĩnh vực có

sự thay đổi rõ nét nhất Đặc biệt, sự phát triển của công nghệ đã mở ra cơ hội cho mọi người dân có điều kiện tiếp thu, tìm hiểu các tinh hoa văn hóa trên thế giới cũng như để làm thỏa mãn các nhu cầu thưởng thức và sáng tạo văn hóa của mình Việc ra đời các DVVH như: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; viết đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường; triển lãm văn hóa nghệ thuật; hoạt động karaoke; hoạt động trò chơi điện tử và các hình thức vui chơi khác đã làm cho đời sống văn hóa của người dân trở nên phong phú hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của sự phát triển thị trường dịch vụ văn hóa công cộng thì vẫn còn những mặt bất cập và có tác động tiêu cực, cần phải được quản lý và chấn chỉnh Nhiều loại hình KDDVVH, giải trí như karaoke, vũ trường cũng tiềm ẩn các mặt trái, dễ bị biến tướng, tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm dễ xâm nhập, gây mất ổn định

an ninh trật tự, để lại nhiều hệ lụy Trong khi đó, việc chấp hành chính sách, pháp luật của các chủ thể kinh doanh chưa được đầy đủ và nghiêm túc Hiện tượng kinh doanh vũ trường, karaoke không có giấy phép kinh doanh, không

có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, phòng chống cháy nổ vẫn

Trang 8

còn khá phổ biến Một số cơ sở kinh doanh lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý của chính quyền địa phương để hoạt động quá giờ, âm thanh vượt quá quy định, kinh doanh không lành mạnh, biến tướng, trá hình, trục lợi, gây mất an ninh, trật tự Đã có chủ cơ sở chạy theo lợi nhuận, ít quan tâm đến cộng đồng, cố tình hoạt động biến tướng từ quán bar sang kinh doanh vũ trường, tàng trữ vũ khí, ma túy, rượu lậu, môi giới mại dâm, v.v Những hạn chế và tác động tiêu cực này đã đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả và đổi mới công tác quản lý KDDVVH công cộng, nhằm đưa hoạt động này trở thành một lĩnh vực kinh doanh lành mạnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội

Sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện nghe nhìn hiện đại trong thời gian gần đây càng khiến cho các loại hình dịch vụ văn hoá trở nên sôi động nhộn nhịp hơn trong đời sống tinh thần của nhân dân Đồng thời sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho các sản phẩm đó ngày càng có chất lượng cao và hấp dẫn hơn Tất cả yếu tố đó khiến cho thị trường KDDVVH ngày càng trở nên sôi động

Tĩnh Gia không chỉ là một địa phương có nền kinh tế phát triển, mà còn

là vùng đất có truyền thống hiếu học, với nhiều danh nhân nổi tiếng có công trạng với đất nước qua bao thế kỷ Điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho Tĩnh Gia một sức sống mạnh liệt, được mệnh danh là một tỉnh Thanh thu nhỏ, địa hình hội tụ đầy đủ khu vực đồng bằng, miền núi và biển đảo Có nhiều con sông, kênh, sơn thuỷ hữu tình tạo cho con người nơi đây đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó, có nền văn hoá đa sắc thái của mỗi vùng miền Một địa phương gắn liền với truyền thống văn hoá của người Kinh (người Kinh chiếm 99,6%, người Thái chiếm 0,4%)

Tĩnh Gia cũng là trung tâm kinh tế của cả tỉnh, có Dự án lớn Nhà máy Lọc hoá dầu Nghi Sơn, với một lượng chuyên gia không nhỏ đến từ nhiều

Trang 9

nước trên thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Co Oét…và một lượng công nhân lớn đến từ các tỉnh, thành trong cả nước đang công tác, làm việc và sinh sống tại Tĩnh Gia Trong sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước, huyện Tĩnh Gia cũng nằm trong xu thế phát triển chung của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Những loại hình dịch vụ văn hoá của thế giới hiện đại đã và đang ngày càng có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người dân nơi đây

Nghiên cứu các hoạt động KDDVVH đang phát triển trong đời sống xã hội để phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực của nó là một nhiệm vụ vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cấp bách hiện nay Xuất phát từ

những lý do trên người viết đã chọn vấn đề “Quản lý kinh doanh dịch vụ văn

hoá ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc

sĩ chuyên ngành Quản lý văn hoá

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Với sự ra đời của dịch vụ văn hoá và ngày càng đa dạng, phong phú, đã làm nảy sinh nhiều vấn đề cần được quan tâm Quản lý như thế nào để vừa mang lại sự thụ hưởng cho người dân, vừa đạt hiệu quả kinh tế nhưng vẫn đảm bảo được sự lành mạnh trong môi trường KDDVVH

Vì vậy, đây cũng là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của những người làm công tác quản lý Dịch vụ văn hoá đã khẳng định vị trí không thể thay thế trong đời sống xã hội Đây cũng là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu và những người làm công tác quản lý văn hóa

Năm 2003, học viên Kiều Bá Hùng với đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành xuất bản phẩm ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” làm luận văn Thạc sỹ Quản lý Văn hóa Nghiên cứu chỉ ra những biểu hiện tiêu cực trái với pháp luật quy định của Nhà nước trong hoạt động xuất bản, in ấn nói

Trang 10

chung và hoạt động phát hành xuất bản phẩm nói riêng đều được phát hiện kịp thời và uốn nắn Tuy nhiên, đây vẫn còn là mặt tồn tại cần có những giải pháp hữu hiệu Việc định hướng và quản lý Nhà nước về hoạt động phát hành xuất bản phẩm trong cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng là việc làm tất yếu nhằm đảm bảo tính chính trị và tính giai cấp Đây là quá trình hướng dẫn, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng, các chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm hoạt động phát hành xuất bản phẩm phục vụ tích cực, có hiệu quả với đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúng nhân dân, là công cụ định hướng xã hội, bảo đảm thực sự là phương tiện tuyên truyền giáo dục của Đảng và nước đối với xã hội Với vai trò và ý nghĩa của công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động phát hành xuất bản phẩm trong xã hội, tác dụng đóng góp của hoạt động đối với việc xây dựng nền văn hóa nước nhà Công trình đã đưa ra ba nhóm giải pháp chính nhằm góp phần định hướng trong công tác quản lý Nhà nước về hoạt động phát hành xuất bản phẩm ở các tỉnh miền núi nói riêng và ở thành phố nói chung trên cả nước

Đến năm 2005, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tiến hành báo cáo đề tài

nghiên cứu cấp Bộ về vấn đề “Quản lý nhà nước với thị trường băng đĩa trong

giai đoạn hiện nay” (Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đinh Thị Vân Chi) Cuốn

sách đã được trình bày trong bốn chương chính Chương 1 Thị trường băng đĩa

và quản lý nhà nước với thị trường băng đĩa trong nền kinh tế thị trường; Chương 2 Thực trạng thị trường băng đĩa Việt Nam hiện nay; Chương 3 Thực trạng và nguyên nhân tình hình quản lý nhà nước đối với thị trường băng đĩa hiện nay; Chương 4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường băng đĩa Nghiên cứu đã xác định hiện trạng hoạt động của thị trường băng đĩa Việt Nam hiện nay, những mặt hạn chế của thị trường này và tác động tiêu cực của nó đối với xã hội; Đánh giá hiện trạng quản lý nhà

Trang 11

nước đối với thị trường băng đĩa, những thành tựu và hạn chế của quá trình quản lý, nguyên nhân hình thành; Đề xuất một số giải pháp thiết thực và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường băng đĩa

Năm 2014, Quách Thị Khuyên với đề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác

quản lý nhà nước đối với dịch vụ văn hóa tại thị xã Tam Điệp - Ninh Bình”

Nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề thực hiện chủ trương xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa, thời gian qua, trên địa bàn thị xã đã nhanh chóng phát triển nhiều loại hình dịch vụ văn hóa như karaoke, băng đĩa hình, trò chơi điện tử, Internet… thu hút đông đảo các tầng lớp trong xã hội tham gia, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần trong nhân dân Khẳng định chính sách của Nhà nước ta đã ban hành là phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội và khẳng định nền tảng tinh thần được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập sự tiếp cận văn hoá đã nảy sinh không ít các biểu hiện tiêu cực trong các loại hình dịch vụ văn hóa, tác động xấu đến tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là đối tượng thanh thiếu niên Dư luận xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng đã phản ánh với nhiều mức độ khác nhau Thực trạng đó cần phải tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với các dịch vụ văn hoá Từ đó góp phần trong công tác quản lý các dịch vụ văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước góp phần nâng cao đời sống văn hóa, xây dựng vững chắc nền tảng tinh thần của xã hội

Năm 2015, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tiến hành báo cáo đề tài

nghiên cứu đề tài cấp Bộ về “Nghiên cứu các giải pháp quản lý nhà nước

nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (Chủ

nhiệm đề tài: PGS.TS Đinh Thị Vân Chi) Trong đề tài các tác giả đánh giá hiện trạng quản lý nhà nước đối với thị trường văn hóa, phân tích nguyên nhân của những mặt hạn chế yếu kém, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp quản

Trang 12

lý nhà nước nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế; Đề xuất hệ thống giải pháp về quản lý nhà nước nhằm góp phần phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế…

Các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn đã đưa ra một bức tranh khá đa dạng về các vấn đề: dịch vụ văn hóa, Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa, tác động của kinh doanh dịch vụ văn hóa đến nhận thức của người dân Các nghiên cứu đó cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn, tài liệu tham khảo khá tốt trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận văn Trong luận giải các nội dung của đề tài luận văn sẽ sử dụng số liệu, tư liệu và tiếp thu các bình luận, nhận định của các nghiên cứu đó Tuy vậy, đó chỉ là những tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện luận văn Các điểm cơ bản có thể rút ra từ các công trình nghiên cứu tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

Các công trình nghiên cứu, mặc dù có sự khác nhau ở mỗi thời điểm trong lịch sử, với quy mô, phương pháp và cách tiếp cận cũng khác nhau, nhưng các tác giả đều đã đưa ra một bức tranh tổng thể về thực trạng quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã làm rõ những đặc điểm, vai trò, thực trạng và giải pháp của vấn đề quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa ở cả tầm vi mô và vĩ mô Nhưng vẫn chỉ xoay quanh các vấn đề cơ bản như nguyên nhân, thực trạng,

hệ quả của nó Nhiều nội dung chưa được phân tích, đặc biệt là nguyên nhân, chỉ mới xem xét trên góc độ giải quyết trước mắt, mà chưa đề cập nhiều đến vấn đề tác động của ván đề đến biến đổi văn hóa xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế như hiện nay

Về phương pháp, đa số các công trình nghiên cứu về quản lý văn hóa cũng như phân tích về thực trạng quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở Việt Nam từ trước đến nay đều sử dụng phương pháp định tính trong việc thu thập và

Trang 13

phân tích thông tin Những nghiên cứu bằng định lượng còn khá ít Hầu hết các nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả là chủ yếu Việc phân tích sâu vào vấn đề quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa và đặc biệt là các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này ở Việt Nam trong những năm gần đây còn tương đối ít

Nhìn chung Những nghiên cứu dưới góc độ quản lý văn hóa rất khiêm tốn, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa nói riêng, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá

về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

Vì vậy, đây được coi là hướng nghiên cứu mới cần được tập trung đi sâu tìm hiểu và phân tích trong đề tài luận văn, với hy vọng góp thêm đôi nét chấm phá vào bức tranh khoa học mà các tác giả đi trước đã dày công khởi dựng

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quản lý KDDVVH tại huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của dịch vụ văn hoá ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này người viết xác định các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về quản lý KDDVVH

và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có tác động ảnh hưởng đến hoạt động KDDVVH tại huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý KDDVVH ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý KDDVVH tại huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng quản lý KDDVVH như: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; viết đặt biển hiệu; hoạt động trò chơi điện tử, hoạt động karaoke và các hình thức vui chơi khác…trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý KDDVVH ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá từ năm 2012 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp từ sách, báo, tạp chí, các loại văn bản hiện có: Giúp tác giả đưa ra những quan điểm chung nhất, những thông tin,

số liệu chính xác sau khi đã được phân tích tổng hợp

- Phương pháp quan sát tham dự: Phương pháp giúp tác giả ghi nhận các thông tin về hiện tượng một cách khách quan nhất và hạn chế tối đa việc tác động lên đối tượng nghiên cứu bằng cách này hay cách khác để khai thác thông tin theo ý kiến chủ quan của mình

- Phương pháp phỏng vấn ẩn danh: có nhiệm vụ thu thập thông tin về những vấn đề liên quan đến công tác quản lý, hoạt động KDDVVH trên địa bàn huyện qua các cuộc phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm

- Phương pháp thống kê, phân loại: có nhiệm vụ thống kê các thông tin,

dữ liệu từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau, từ đó phân loại cho từng loại hình dịch vụ, hoạt động trong luận văn

Trang 15

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: giúp tác giả có được những đánh giá khách quan, trung thực về công tác quản lý cũng như thực trạng hoạt động KDDVVH trên địa bàn nghiên cứu hiện nay

6 Đóng góp của luận văn

- Về lý luận: Luận văn đã đưa ra một số lập luận với hệ thống văn bản

pháp quy trong hoạt động quản lý nhà nước về KDDVVH Góp phần làm rõ những mặt tích cực và những tồn tại của các dịch vụ văn hoá cũng như công tác quản lý các hoạt động kDDVVH như: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; viết đặt biển hiệu; hoạt động trò chơi điện tử, hoạt động karaoke và các hình thức vui chơi khác…

- Về thực tiễn: Luận văn đã đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý kinh

doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa Qua đó,

đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý KDDVVH ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hoá và tổng quan về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

Chương 2: Thực trạng quản lý kinh doanh dịch vụ văn hoá ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

Chương 3: Xu hướng, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh dịch vụ văn hoá ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

Trang 16

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA

VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HOÁ

HUYỆN TĨNH GIA, THANH HOÁ 1.1 Lý luận chung về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hoá

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Dịch vụ văn hoá

Có thể nói toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đều được coi là những sản phẩm văn hoá Do vậy trong bất kỳ hoạt động dịch vụ nào cũng chứa đựng yếu tố văn hoá Nó là tâm hồn, tình cảm và trí tuệ của con người, được kết tinh trong từng sản phẩm, chẳng hạn dịch vụ thương nghiệp không đơn thuần là hoạt động đáp ứng yêu cầu xã hội về mặt vật chất mà còn có khả năng kích thích năng lực thẩm mỹ của người mua lẫn người bán thông qua các sản phẩm với hình thức đẹp, chất lượng tốt, có giá trị thẩm mỹ cao Mặt khác nó còn thể hiện khả năng ứng xử có văn hoá giữa con người với con người cũng như con người với tự nhiên, xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các hàng hóa vật thể hữu hình còn có những loại dịch vụ mà người ta mua và bán trên thị trường Đó là hàng hóa phi vật thể, hay còn gọi là hàng hóa - dịch vụ

Dịch vụ văn hóa là những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa có tổ chức

và được trả công, nhằm phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của công chúng

Dịch vụ văn hóa tồn tại ở nhiều dạng: văn hóa phi vật thể, văn hóa tâm linh, văn hóa du lịch, văn hóa giải trí, văn hóa sinh hoạt xã hội… những nhân

tố ảnh hưởng đến dịch vụ văn hóa bao gồm: nhân tố thời đại, nhân tố truyền thống, nhân tố lịch sử

Trang 17

Hiện nay, vấn đề dịch vụ văn hoá được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tiếp cận ở những góc độ khác nhau, do đó có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có điểm tương đồng là: coi dịch vụ văn hoá như một hoạt động đặc thù, là một trong những hình thức truyền tải các giá trị văn hoá đến khách thể

- công chúng văn hoá

Theo một phương diện nào đó, hoạt động dịch vụ văn hoá nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá cho số đông, có tổ chức và được trả công Hoạt động dịch vụ văn hoá là quá trình của cá nhân và các thiết chế xã hội Kinh doanh dịch vụ văn hoá là các hoạt động nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân

từ sản phẩm văn hoá, dịch vụ văn hoá của tổ chức hoặc cá nhân đó

Để đưa ra một cách hiểu thống nhất trong luận văn này, tác giả lựa chọn

quan niệm về dịch vụ văn hóa là một hoạt động đặc thù, thông qua các cơ sở

dịch vụ, các thiết chế văn hoá để đưa văn hoá đến với công chúng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá của người dân

1.1.1.2 Quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp những quan điểm hợp lý của các khái niệm khác nhau về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa, có thể rút ra: “Quản

lý kinh doanh dịch vụ văn hóa là phương thức mà thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, hoạch, kế hoạch Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý (cơ sở KDDVVH) để định hướng, điều chỉnh những hoạt động xã hội về lĩnh vực văn hóa đi theo đúng hướng, đúng mục đích theo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển văn hóa trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Như vậy nói đến quản lý KDDVVH là nói đến cơ chế quản lý Cơ chế

đó, một mặt, phải tuân thủ các yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan; mặt khác, phải có một hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch…thích hợp để quản lý hoạt động KDDVVH Khái niệm này bao hàm

Trang 18

những nội dung cơ bản như: các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý về KDDVVH từ Trung ương đến địa phương là chủ thể quản lý; các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong lĩnh vực KDDVVH là đối tượng quản lý và

hệ thống pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch,…là công cụ để Nhà nước thực hiện quản lý

Với tư cách là đối tượng quản lý, hoạt động KDDVVH phải được tổ chức và vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Với tư cách là cơ sở và là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý, pháp luật, chính sách, quy hoạch,

kế hoạch,…phải được xây dựng trên cơ sở chính xác, đầy đủ, thống nhất là những chuẩn mực để đối tượng quản lý dựa vào đó vận động, phát triển và chủ thể quản lý thực hiện sự kiểm tra, giám sát đối tượng quản lý

Quản lý hoạt động KDDVVH là tạo môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động KDDVVH phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích Thực hiện kiểm tra, giám sát các hoạt động KDDVVH nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật Điều khiển những hoạt động của văn hóa, đời sống văn hóa đi theo đúng chuẩn mực xã hội chủ nghĩa Mục đích cuối cùng là tạo được tính nhân văn, nhân bản trong mỗi con người để phát triển hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân trong cộng đồng từ đó giữ gìn được bản sắc dân tộc kết hợp với sự tiến bộ của nhân loại

1.1.2 Phân loại dịch vụ văn hóa

Theo quy chế trên của Chính phủ, chúng ta có thể phân loại các hình thức dịch vụ văn hóa như sau:

- Dịch vụ lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu

Băng đĩa ca nhạc, sân khấu quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa, bao gồm: băng cát-xét, băng video, đĩa CD,

Trang 19

VCD, DVD, CD-Rom, đĩa vi tính, IC chips và các loại vật liệu khác có nội dung ca nhạc, sân khấu, thời trang, thể thao, sau đây gọi chung là băng đĩa ca nhạc, sân khấu

- Dịch vụ viết, đặt biển hiệu

Biện pháp viết, đặt, treo, dán, dựng, lắp biển hiệu, sau đây gọi chung là viết, đặt biển hiệu, tại trụ sở, nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân dưới các hình thức bảng, biển, hộp đèn, hệ thống đèn néo uốn chữ (neonsight) hoặc các hình thức khác, nhằm giới thiệu tên gọi, địa chỉ giao dịch của tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam không phải xin phép nhưng phải tuân theo những quy định

Biển hiệu chỉ được viết, đặt sát cổng, hoặc mặt trước của trụ sở hoặc nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân; mỗi cơ quan, tổ chức chỉ được viết, đặt một biển hiệu tại cổng; tại trụ sở hoặc nơi kinh doanh độc lập với tổ chức, cá nhân khác chỉ được viết, đặt một biển hiệu ngang và không quá hai biển hiệu dọc

Hình thức biển hiệu: phải bảo đảm mỹ quan; Biển hiệu phải viết bằng chữ Việt Nam; trường hợp muốn thể hiện tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế, tên, chữ nước ngoài phải ghi ở phía dưới, kích thước nhỏ hơn chữ Việt Nam

Nội dung biển hiệu: có tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu có); tên gọi đầy đủ bằng chữ Việt Nam đúng với quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp; Địa chỉ giao dịch, số điện thoại (nếu có); ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính (đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ); loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài); hoặc hợp tác xã; trên biển hiệu được thể hiện logo (biểu tượng) đã đăng ký

Trang 20

với cơ quan có thẩm quyền, không được quảng cáo cho bất cứ loại hàng hóa, dịch vụ nào

- Dịch vụ biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang

Tổ chức, cá nhân tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang trước công chúng phải có giấy phép công diễn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các chương trình, vở diễn hoành tránh, công phu và có những chương trình, vở diễn gọn nhẹ trong các nhà hàng, khách sạn hoặc các quán café âm nhạc, bóng đá âm nhạc…

- Dịch vụ karaoke

Karaoke là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, vì vậy khi cơ sở kinh doanh hoạt động Karaoke phải đủ các điều kiện quy định tại Điều 30 Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng (ban hành kèm theo Nghị định số 103/209/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính Phủ) và được

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp Giấy phép hoạt động (thẩm quyền cấp Giấy phép Karaoke quy định tại điều 31 Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng)

- Dịch vụ vũ trường

Vũ trường là một địa điểm vui chơi giải trí hoặc câu lạc bộ tụ tập sinh hoạt vui chơi (thường là vào ban đêm) của một hoặc một nhóm đối tượng với những đặc trưng nổi bật như âm nhạc ồn ào, có nhạc sống được biểu diễn bởi các ban nhạc sống chứ không phải là một ban nhạc trên sân khấu, ánh sáng mờ ảo, chớp nhoáng, nhiều màu và ở trong vũ trường có nhiều đối tượng nhảy múa, hoặc nhảy múa tập thể Vũ trường có thể là một địa điểm độc lập hoặc là một phần trong các hình thức khác như quán bar, khách sạn, nhà hàng Nói chung vũ trường thường được xây dựng và cách âm với không gian bên ngoài để tránh những ồn ào khi về đêm, ảnh hưởng đến sinh hoạt

chung của cộng đồng

Trang 21

1.1.3 Nội dung và phương thức quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

1.1.3.1 Nội dung quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

Một là: Xây dựng, ban hành và thực hiện hệ thống văn bản pháp quy

Để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, một trong những nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng

và hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp quy Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đòi hỏi phải có những quy định pháp luật để căn cứ vào đó mọi cá nhân, tổ chức hoạt động theo các mục tiêu của toàn xã hội Văn bản pháp quy vừa có giá trị pháp lý để điều chỉnh hành vi và hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân hoạt động, vừa là cơ sở cũng là công cụ pháp luật để các cơ quan quản lý thực hiện được các chức năng quản lý của mình trong lĩnh vực quản lý thị trường dịch vụ văn hóa Các văn bản quy phạm pháp luật cũng chính là cơ sở pháp lý

để các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời cũng

là công cụ để các cơ quan quản lý tiến hành các biện pháp của mình, nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó không chỉ đáp ứng được nhu cầu của nhân dân

mà còn định hướng cho hoạt động sản xuất KDDVVH đi đúng theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc và xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Bộ VHTTDL xây dựng thể chế, chính sách cho các hoạt động KDDVVH: Thể chế văn hóa dựa vào quản lý hai loại hệ thống chuẩn mực: chuẩn mực luật pháp và chuẩn mực phong tục tập quán Vấn đề đặt ra là cần xác định rõ những loại hình KDDVVH nào cần áp dụng thể chế pháp luật nào Trên bình diện quốc tế có thể đề cập đến những bộ luật, điều luật có tính quốc tế về dịch vụ văn hóa mà nhiều nước thấy có trách nhiệm phải tham dự, ràng buộc nhau vì tiến bộ chung của nhân loại Trên bình diện quốc gia, nước nào cũng có những điều luật về văn hóa

Trang 22

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “ Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (Điều 60 - Chương III) Nhà nước còn ban hành các đạo luật riêng đối với một số hoạt động văn hóa như: Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo hộ quyền tác gia, Luật điện ảnh, Luật quảng cáo, Internet, Pháp lệnh thư viện,…

Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật, như: Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính Phủ quy định: “lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hoá, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động

vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và các hình thức vui chơi giải trí khác”; Nghị định 158/2013/NĐ-CP của Chính Phủ

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo;

Đặc biệt phải kể đến Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng (khóa VIII)

về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nhấn mạnh đến xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: “Cần tạo ra ở đơn vị cơ sở (gia đình, bản, làng, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, trường học, đơn vị bộ đội…), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi) đời sống văn hoá lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng

và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong Nghị quyết này xác định, “văn hóa phải được ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội", văn hóa không chỉ nâng cao mức hưởng thụ và đời sống tinh thần của nhân dân mà còn trực tiếp góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ và phát huy bản

Trang 23

sắc văn hóa dân tộc Đây chính là cơ sở quan trọng để thực hiện quản lý các hoạt động kinh doanh, dịch vụ văn hoá ở cơ sở dần đi vào ổn định, hoạt động

có trật tự kỷ cương Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập quốc tế, giao lưu văn hoá, hoạt động văn hoá ở cơ sở cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới cho công tác quản lý văn hoá cơ sở

Trên cơ sở các quy định của Chính phủ, Bộ VHTTDL tiếp tục đưa ra các Thông tư hướng dẫn quy định hoạt động sản xuất KDDVVH và trực tiếp chỉ đạo các cơ quan trực thuộc thực hiện vai trò quản lý Nhà nước Trong đó có nhiều thông tư quan trọng như: Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 Quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp

và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình, ca múa nhạc, sân khấu; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16 tháng 12 năm 2009 của Bộ VHTTDL quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và KDDVVH công cộng ban hành kèm theo gần đây nhất, Quyết định số 1626/QĐ-BVHTTDL ngày 19/4/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Văn hóa thông tin cơ sở phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức khảo sát hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng Thời gian khảo sát vào Quý II, III năm 2017 tại tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Trà Vinh, Cà Mau, Sóc Trăng và Kiên Giang

Quản lý KDDVVH bằng hệ thống văn bản pháp quy bao gồm: việc nghiên cứu xây dựng, lấy ý kiến đóng góp, tổng hợp và trình ký ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành luật trong KDDVVH Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, một loạt Nghị quyết ra đời có tác động mạnh

mẽ đến quản lý Nhà nước đối với thị trường KDDVVH như : Nghị quyết TW5

về văn hóa với mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản

Trang 24

sắc dân tộc”… Vì thế việc cung cấp ngày càng nhiều hơn các văn hóa phẩm với

nhiều nội dung khác nhau trở nên vô cùng quan trọng và việc quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất, KDDVVH cũng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Để quản

lý các dịch vụ văn hóa, Chính phủ và Bộ VHTTDL, các cấp, các ngành địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, từng bước hoàn chỉnh

hệ thống văn bản pháp quy, thể chế hóa các đường lối của Đảng và Nhà nước đối KDDVVH, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động sản xuất, KDDVVH Đến nay chúng ta đã có nhiều Luật và văn bản dưới Luật quy định và điều chỉnh KDDVVH tạo môi trường pháp lý cho kinh doanh các văn hóa phẩm, đồng thời định hướng cho có chất lượng cao, nội dung tốt đáp ứng nhu cầu chính đáng của đông đảo công chúng và từng bước loại bỏ những văn hóa phẩm có nội dung xấu, sai định hướng

Theo luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội là cơ quan có quyền thông qua, ban hành các bộ Luật và Pháp lệnh Quốc hội thông qua và ban hành một số bộ luật quan trọng tạo tiền đề pháp lý cho công tác quản lý thị trường KDDVVH như: Luật xuất bản, Luật bản quyền tác giả, Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật quảng cáo,…

Hai là: Công tác chỉ đạo, điều hành các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa

Chính phủ ban hành các Nghị định, chỉ thị về việc quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình, trong đó có các hoạt động KDDVVH, chỉ đạo các tỉnh, thành phố triển khai và tăng cường công tác quản lý đối với loại hình dịch vụ nhạy cảm như Karaoke, vũ trường…

UBND tỉnh giao Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch căn cứ chức năng, nhiệm vụ phối hợp với các ngành chức năng có liên quan chỉ đạo, hướng dẫn UBND các huyện, thành phố thực hiện công tác quản lý, rà soát, thống kê các

cơ sở KDDVVH có trên địa bàn Tổ chức kiểm tra các cơ sở KDDVVH (đặc

Trang 25

biệt là các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường…) trên địa bàn tỉnh; chấn chỉnh và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật; đình chỉ ngay hoạt động kinh doanh của các cơ sở không được cấp phép hoặc đã được cấp phép nhưng không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật

Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Công an tỉnh và các ngành chức năng chỉ đạo UBND các huyện, thành phố tăng cường công tác quản lý và tổ chức thanh tra, kiểm tra đối với những

cơ sở kinh doanh dịch vụ trò chơi điện tử theo quy định của pháp luật; chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền, phổ biến những quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng;

UBND huyện, thành phố xây dựng kế hoạch và thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động KDDVVH

để mọi người dân được biết và thực hiện Chủ động phối hợp với các sở, ngành chức năng của tỉnh trong triển khai thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước về KDDVVH trên địa bàn quản lý Đồng thời chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thường xuyên kiểm tra, giám sát và quản lý chặt chẽ các hoạt động KDDVVH có trên địa bàn

Ba là: Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hóa

Hướng dẫn việc thanh tra, kiểm tra KDDVVH, tổ chức kiểm tra, giám sát KDDVVH: cùng với việc tăng cường kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với KDDVVH, là những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước đối với văn hóa Đổi mới cơ chế, kiểm tra, giám sát KDDVVH theo ba hướng: hoàn thiện và bổ sung các văn bản pháp quy; kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh tra giám sát của ngành từ TW đến cơ sở; tổ chức và sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà

Trang 26

nước cũng như các cơ quan sản xuất và cung ứng dịch vụ văn hóa, xác định vai trò của doanh nghiệp nhà nước

1.1.3.2 Phương thức quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

Phương thức hành chính: Phương thức hành chính: là tác động trực

tiếp bằng các quy định dứt khoát mang tính quyền lực bắt buộc của nhà nước lên khách thể Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính trong quản lý KDDVVH là tính nguyên tắc và tính quyền lực Nó đòi hỏi đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định hành chính Nếu vi phạm sẽ bị xử

lý kịp thời Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải sử dụng đúng và đầy đủ quyền lực của mình trong các tác động hành chính gắn với

thẩm quyền của mình

Phương thức kinh tế: Tác động vào đối tượng quản lý thông qua các

phương pháp kinh tế để đối tượng quản lý lựa chọn phương pháp hiệu quả nhát trong phạm vi của họ Mọi hoạt động KDDVVH đều tuân thủ các quy luật kinh

tế khách quan như: quy luật cạnh tranh, quy luật quản lý giá trị, quy luật cung cầu…Tác động thông qua lợi ích kinh tế, tạo ra động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận Để thực hiện mở rộng, áp dụng các phương pháp kinh tế vào quản lý KDDVVH, nhà nước cần phải hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ thị trường Phải thực hiện việc phân tầng, phân cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho cấp dưới, sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý KDDVVH đòi hỏi cán

bộ quản lý phải có năng lực trình độ về nhiều mặt; kiến thức văn hóa, kinh tế,

pháp luật,… cũng như phải có được tư cách, đạo đức nghề nghiệp

Phương thức truyên truyền giáo dục: Đây là cách thức tác động bằng

tình cảm, nhận thức của con người nhằm nâng cao tính tự giác và tính tích cực của công dân trong thực hiện nhiệm vụ chung Để tác động vào con người, không chỉ bằng những biện pháp xử lý về hành chính, kinh tế, mà điều quan

Trang 27

trọng nhất chính là việc giáo dục, thuyết phục,… tác động vào suy nghĩ, tình cảm, tâm lý của người dân Phương pháo giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng quy luật tâm lý Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người nhận thức được điều phải, điều trái, từ đó nâng cao tính tích cực công dân của họ Để công việc đạt hiệu quả cao, các chủ thể quản lý phải vận dụng tổng hợp các phương pháp và căn cứ vào điền kiện cụ thể, yêu cầu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển, để nhấn mạnh phương pháp này hay

phương pháp khác

1.2 Tổng quan hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá

1.2.1 Khái quát về huyện Tĩnh Gia

1.2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế

Tĩnh Gia là một huyện miền biển thuộc tỉnh Thanh Hóa Diện tích tự nhiên: 450 km² Dân số: 220.000 người, tốc độ tăng trưởng kinh tế: 11%/năm (năm 2002) Ðịa hình bán sơn địa, bao gồm những hang động, đồng bằng và có đường bờ biển dài Diện tích tự nhiên: 450 km2 Dân số: 220.000 người

Tĩnh Gia là huyện cực nam của tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp tỉnh Nghệ An, phía đông giáp biển, phía bắc giáp huyện Quảng Xương, phía tây giáp huyện Nông Cống và huyện Như Thanh Vừa có biển, vừa có núi rừng cùng nhiều danh thắng, huyện Tĩnh Gia có nhiều lợi thế phát triển kinh tế tương đối toàn diện, đặc biệt là phát triển du lịch, công nghiệp và thuỷ, hải sản

Sự kết hợp hài hòa giữa các cảnh quan biển, đảo, đồng bằng, trung du và miền núi đã tạo cho Tĩnh Gia thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch Vì vậy, trong những năm qua, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá chủ trương đưa Tĩnh Gia trở thành điểm du lịch mới của Việt Nam nói chung, Thanh Hoá nói riêng

Trang 28

Ðến với Tĩnh Gia, du khách không thể không ghé thăm những địa danh nổi tiếng như: Hòn Bảng, Hòn Biện Sơn, Hòn Mê, núi Ngọc Sơn, núi Am, hồ Yên Mỹ, động Trường Lâm, di tích kiến trúc đá nghệ thuật đền thờ Quận công Lê Ðình Châu, nhà thờ xứ Ba Làng xây dựng năm 1893, đền thờ các Tiến sỹ họ Lương, đền thờ Ðào Duy Từ, Tất cả tạo thành quần thể du lịch

vô cùng độc đáo, là sự tổng hoà giữa những cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng cùng các truyền thuyết, dấu tích lịch sử

Bên cạnh đó, Tĩnh Gia còn có hệ thống giao thông thuận lợi với 40

km đường quốc lộ 1A chạy qua huyện theo chiều dài Bắc - Nam; tuyến đường sắt Bắc - Nam và hệ thống tỉnh lộ nối liền với các huyện và tỉnh bạn; đặc biệt, 3 cửa Lạch với cảng Nghi Sơn, tuyến đường nối cảng Nghi Sơn với đường Hồ Chí Minh cùng hệ thống sông cũng là một thế mạnh để Tĩnh Gia phát triển du lịch [58]

Theo Báo cáo về Kết quả phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh năm 2017 của huyện Tĩnh Gia, đã đạt được những thành quả trên các lĩnh vực như sau:

Về tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đối với sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: Tổng diện tích gieo

trồng đạt 21.071ha bằng 92%KH Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 56.723 tấn bằng 113%KH bằng101%CK Diện tích lúa 10.499 ha đạt 105%KH bằng 102%CK, năng suất 49,1 tạ/ha, sản lượng 51.497 tấn bằng 110%CK Chỉ đạo phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung Tổng đàn trâu bò 21.500 con bằng 97,7 %KH bằng 91,8%CK Tổng đàn lợn 55.250 con bằng 80 %KH bằng 68,3%CK Tổng đàn gia cầm 670.700 con bằng 84

%KH bằng 89 % CK [42]

Về sản xuất công nghiệp - xây dựng: Tổng số Doanh nghiệp trên địa bàn

785 Doanh nghiệp đang hoạt động, trong năm có 180 Doanh nghiệp thành lập

Trang 29

mới bằng 60%KH tỉnh giao Các doanh nghiệp trong Khu Kinh tế Nghi Sơn và

các doanh nghiệp địa phương tập trung vào một số sản phẩm chủ đạo như sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thủy hải sản, chế biến gỗ, sản phẩm giữ được thị trường tiêu thụ và ổn định sản xuất Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng

cả Khu kinh tế Nghi Sơn đạt 29.055 tỷ đồng, bằng 177,4% KH, nội huyện đạt 4.635 tỷ đồng Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cả Khu kinh tế Nghi Sơn ước đạt

27.144 tỷ đồng đạt 90,5% KH, nội huyện đạt 3.500 tỷ đồng [42]

Đối với Thương mại - dịch vụ: duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tổng

bán lẻ hàng hoá dịch vụ đạt 2.700 tỷ đồng, bằng 108%CK Hàng hóa đa dạng phong phú Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hải sản, giầy da, dăm gỗ, xi măng, vật liệu xây dựng Dịch vụ nhà ở, ăn uống, vận tải phát triển mạnh: Vận tải hàng hóa đạt 13,8 triệu tấn, vận tải hành khách đạt 680.000 lượt,

bằng 114% về hàng hóa và 103% về lượt khách [42]

Về công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bảo

vệ môi trường: Trong năm đã cấp 3.580 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

trong đó: cấp mới 678 trường hợp; chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, chuyển đổi 2.902 trường hợp Công tác giao dịch đảm bảo: thế chấp, xóa thế chấp, thay đổi nội dung thế chấp 3136 trường hợp Lập quy hoạch chi tiết khu dân

cư nông thôn cho 11 xã, đẩy nhanh tiến độ xác định giá khởi điểm để tổ chức

đấu giá quyền sử dụng đất tại các xã, thị trấn Thẩm định thu hồi đất cho 52

dự án, với tổng diện tích thu hồi là 75 ha [49 Tổng kinh phí phê duyệt 376,36

tỷ đồng cho 4.341 lượt hộ gia đình, cá nhân; tổ chức chi trả 339,41 tỷ đồng cho 3.593 lượt hộ dân; giao đất tái định cư cho 66 hộ dân; bàn giao 406,95 ha đất và 49,64 km đường giao thông và đường ống nước cho các Chủ đầu tư thực hiện dự án [42]

Về Công tác quản lý quy hoạch, quản lý trật tự xây dựng: Trong năm

2017, UBND huyện đã phối hợp với các đơn vị có liên quan cung cấp thông

Trang 30

thông tin thực hiện điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế Nghi Sơn và tham gia ý kiến về chấp thuận chủ trương đầu tư cho 25 dự án Đã cấp 289 giấy phép xây dựng và giấy phép xây dựng có thời hạn đối với nhà ở riêng lẻ, tăng 51% so với năm 2016 Xử lý vi phạm hành chính về đất đai, trật tự xây dựng 39 trường hợp; xử phạt nộp ngân sách nhà nước 221triệu đồng Vận động tháo

dỡ và cưỡng chế phá dỡ được 60 trường hợp xây dựng công trình trên đất nông nghiệp, trong đó có 41 trường hợp liên quan đến dự án đường ống nước thô Khu kinh tế Nghi Sơn giai đoạn 2 tại xã Mai Lâm và Hải Thượng [42]

1.2.1.2 Tình hình văn hóa - xã hội

Hoạt động văn hóa, thông tin tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, các sự kiện lớn của đất nước, của tỉnh và của địa phương như mừng Đảng - mừng Xuân; tuyên truyền về công tác quản lý đất đai, cấp giấy phép xây dựng, xử lý vi phạm trật tự xây dựng, trọng tâm về công tác giải phóng mặt bằng Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển mạnh ở các xã, thị trấn

Công tác quản lý nhà nước về du lịch, bảo tồn, di sản, tổ chức lễ hội được quan tâm chỉ đạo, tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 445 năm sinh danh nhân văn hóa Đào Duy Từ và khởi công xây dựng dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử đền thờ Hoằng Quốc Công Đào Duy Từ Toàn huyện đã xây dựng mới

12 cơ sở lưu trú du lịch, nâng tổng cơ sở lưu trú du lịch là 115 cơ sở Tổ chức kiểm tra 22 cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá, du lịch, kết quả: 12 cơ

sở đạt, nhắc nhở 08 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 02 cơ sở Qua kiểm tra

đã chấn chỉnh và đưa các hoạt động văn hóa, thông tin đi vào nề nếp Toàn huyện có 45.937/62.842 hộ gia đình được công nhận danh hiệu Gia đình văn hoá (đạt 73,1%KH) Phát động khai trương và đăng ký xây dựng được 18 đơn

vị văn hóa, trong đó: 07 làng văn hoá đạt 100%KH; 06 cơ quan, đơn vị đạt 86%KH; 05 xã đạt chuẩn văn hoá NTM đạt 125% kế hoạch giao Nâng tổng

Trang 31

số toàn huyện đã khai trương xây dựng là 392 đơn vị (có 267 làng; 20 Cơ quan;

75 Trường học; 22 xã, thị trấn, 08 Công đoàn Cơ quan UBND xã, thị trấn)

Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện có trên 382 giờ phát sóng với

450 chương trình truyền thanh và truyền hình phục vụ việc chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương; kịp thời phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Trong năm đã nâng cấp hệ thống truyền thanh của 5 xã

Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều đổi mới, nề nếp dạy học được củng cố, thanh tra giáo dục được tăng cường, cơ sở vật chất trường học tiếp tục được đầu tư cải thiện Chỉ đạo kỳ thi THPT Quốc gia năm học 2016 -

2017 và thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2017 - 2018 đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 97% Điểm thi đầu vào các trường Đại học cao hơn năm học trước, toàn huyện có 22 học sinh đạt 27 điểm trở lên (trong đó trường THPT Tĩnh Gia 2 có 11 học sinh, THPT Tĩnh Gia 1 có 8 học sinh) Tham gia thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh, có

30 học sinh đạt giải, trong đó 05 giải nhì, 13 giải ba, 12 giải khuyến khích; xếp thứ 16 toàn tỉnh (tăng 01 bậc so với năm học 2015-2016) Thuyên chuyển giáo viên, cán bộ quản lý các trường học cơ bản đảm bảo hợp lý và đi vào nề nếp Năm 2017, có 05 trường được công nhận đạt chuẩn đạt 100%KH, nâng tổng số trường đạt chuẩn Quốc gia 48 đơn vị [42]

Ngành y tế đã từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tổng số lượt khám, chữa bệnh 264.829 lượt, giảm 0,2% so với cùng kỳ Công tác y tế

dự phòng được đảm bảo, đã xây dựng và triển khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh theo mùa như: sởi, dịch tả, tay - chân - miệng, sốt xuất huyết, zika trong năm không xảy ra dịch bệnh lớn Công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên, liên tục, không để xảy ra vụ ngộ độc tập thể, đã tổ chức 38 lớp tập huấn kiến thức về VSATTP cho 1.758 lượt

Trang 32

người Tổ chức kiểm tra 05 đợt đối với 262 cơ sở kinh doanh thực phẩm, trong

đó 171 cơ sở đạt, nhắc nhở 62 cơ sở, xử phạt 11 cơ sở, xử lý vi phạm hành chính 14 cơ sở (số tiền phạt hơn 26 triệu đồng), đình chỉ hoạt động 15 cơ sở

Công tác lao động, thương binh và xã hội: Đã chi trả trợ cấp người có công tổng số tiền hơn 110 tỷ đồng Cấp quà cho đối tượng chính sách dịp lễ, tết, ngày Thương binh Liệt sỹ tổng số tiền hơn 3,7 tỷ đồng Làm mới, sửa chữa 59 nhà ở cho đối tượng chính sách tổng kinh phí 605 triệu đồng

Công tác tiếp công dân, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo: Năm 2017, toàn huyện đã tiếp 258 lượt công dân với 386 người, 239 vụ việc bằng 46%CK Tiếp nhận 534 đơn bằng 83,44%CK, đơn thuộc thẩm quyền giải quyết 245 đơn (thẩm quyền UBND huyện 135 đơn, UBND xã 110 đơn), đã giải quyết 232 đơn tỷ lệ giải quyết 94,7% Tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính cơ bản đảm bảo kịp thời: Tổng số hồ sơ giải quyết là 8366

hồ sơ (trong đó tiếp nhận mới 8013 hồ sơ), giải quyết đúng hạn 7071 hồ sơ, trả quá hạn 955 hồ sơ, đang giải quyết chưa đến hạn 207 hồ sơ, giải quyết quá hạn đang tồn đọng 96 hồ sơ, hồ sơ tồn đọng chủ yếu liên quan đến cấp giấy chứng nhận QSD đất Đạt mức độ thực hiện 87%

1.2.2 Các loại hình hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa ở huyện Tĩnh Gia

1.2.2.1 Dịch vụ karaoke

Karaoke là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, vì vậy khi cơ sở kinh doanh hoạt động Karaoke phải đủ các điều kiện quy định tại Điều 30 Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng (ban hành kèm theo Nghị định số 103/209/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính Phủ) và được Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp Giấy phép hoạt động (thẩm quyền cấp Giấy phép Karaoke quy định tại điều 31 Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng) Năm 2017, phòng Văn hoá -

Trang 33

Thông tin đã tham mưu UBND huyện thẩm định các điều kiện đề nghị Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp mới 08 giấy phép cho 8 cơ sở, đến nay toàn huyện có 132 cơ sở kinh doanh dịch vụ Karaoke, tăng 150% số phòng karaoke có năm 2012, hầu hết các cơ sở hoạt động kinh doanh Karaoke được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đầy đủ đảm bảo theo quy định như: Giấy phép kinh doanh, Giấy đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh trật tự để làm ngành nghề kinh doanh có điều kiện, Biên bản kiểm tra phòng cháy và chữa cháy Các điều kiện về phòng hát như: Diện tích, cách âm, ánh sáng, khoảng cách cơ quan, trường học nhìn chung đảm bảo theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy hoạch địa phương Công tác quản lý được thực hiện nghiêm túc Tuy nhiên vẫn còn một số cơ

sở hoạt động sau khi được cấp giấy phép Karaoke đã dùng các vật như tấm

nỷ, vải che bớt tầm nhìn quan sát của cửa; sử dụng nhân viên quá số lượng quy định tại phòng hát, hoạt động quá giờ quy định

Theo quy định, đối với phòng hát karaoke phải có cửa kính ngang tầm mắt để có thể nhìn từ ngoài vào từ phía ngoài Phòng hát có cách âm, âm thanh khoảng 60 đè xi ben, ánh sáng tối thiểu 10 lux Nhưng trên thực tế, nhiều phòng hát chỉ trên 10m2, không hề có cách âm, đó chỉ là những căn phòng cấp 4 tạm bợ được trang bị một dàn âm thanh, đầu máy và mixco Chính vì vậy nên âm thanh lọt ra ngoài ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống của người dân xung quanh Có nhiều điểm karaoke gần trường học mặc dù đã quy định cấm song tình trạng này vẫn tồn tại chưa được cải thiện, điển hình như một số quán karaoke “Hồng Toàn”, “Biển nhớ”, “ Gió Biển”, nằm sát những trường Cấp I, cấp II Tĩnh Gia vẫn đang hoạt động

Thêm vào đấy là tình trạng các quán karaoke không được trang bị các thiết bị phòng chống cháy nổ Đáng chú ý, cơ sở kinh doanh karaoke hầu như

là nhà dân xây dựng, không dùng để kinh doanh loại hình dịch vụ này, nhưng

Trang 34

người thuê đã tự ý thay đổi công năng, chuyển từ nhà ở sang kinh doanh karaoke, vi phạm nghiêm trọng các quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy

Các quán karaoke chia ra thành nhiều phòng hát và hành lang đi lại chật hẹp chỉ khoảng 70cm mỗi lối đi, không có lối thoát hiểm Nếu như xảy

ra vụ hỏa hoạn thì ngọn lửa cháy lan vào trong phòng, việc dập tắt đám cháy của lực lượng chức năng rất khó khăn khi xe vòi vươn chỉ chữa cháy được phòng mặt tiền, còn phòng phía trong bị vô hiệu hóa bởi cách bố trí phòng của nhà ống Trong khi đó nguyên liệu cháy chiếm phần lớn là đồ nhựa, xốp cách âm nên khi xảy cháy đã nhanh chóng sinh ra lượng lớn khí độc

Đối với nhà ở, điều kiện chỉ có một thang bộ thì không vi phạm quy định về phòng cháy nhưng khi chuyển đổi sang kinh doanh karaoke thì phải

có ít nhất hai lối thoát nạn và phải là lối thoát nạn an toàn.Vì thế, nhiều cơ sở

vi phạm các quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, thậm chí chủ cơ sở còn tự ý bịt lối thông khẩn cấp lên sân thượng để cơi nới thêm phòng sử dụng, kinh doanh Nỗi lo này hoàn toàn có cơ sở

Kết quả kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy tại toàn bộ 132 quán karaoke, trên địa bàn huyện Tĩnh Gia mới đây của Cảnh sát phòng cháy chữa cháy cũng cho thấy những điều đáng lo ngại

Nhiều chủ đầu tư chưa nắm được các quy định về phòng cháy chữa cháy trong đầu tư xây dựng nên khi xây mới hoặc cải tạo công trình, thay đổi

bố trí mặt bằng, công năng sử dụng, hệ thống phòng cháy chữa cháy không thực hiện công tác thẩm duyệt, nghiệm thu phòng cháy chữa cháy

Nhiều trường hợp, người đứng đầu cơ sở cố tình không chấp hành, đưa công trình vào hoạt động khi chưa được thẩm duyệt, nghiệm thu về phòng cháy chữa cháy

Trong nhiều năm qua, phòng VH&TT huyện Tĩnh Gia thường xuyên nhận được nhiều đơn, thư tố cáo của người dân địa phương về các cửa hàng

Trang 35

kinh doanh karaoke vi phạm quy định về âm lượng, âm thanh, hoạt động khuya

và có cả những hoạt động mại dâm trá hình được diễn ra tại các quán hát

Theo quy định tại Nghị định số 103/2009/NĐ_CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ; Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16 tháng 12 năm 2009 của Bộ VHTTDL quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và KDDVVH công cộng về địa điểm kinh doanh nhà hàng karaoke, vũ trường phải đảm bảo các điều kiện sau đây: (1) Địa điểm hoạt động karaoke phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa, cơ quan hành chính Nhà nước từ 200m trở lên; (2) Phòng karaoke phải có diện tích sử dụng từ 20m2 trở lên, không kể công trình phụ, đảm bảo điều kiện về phòng, chống cháy nổ; (3) Cửa phòng karaoke phải

là cửa kính không màu, bên ngoài có thể nhìn thấy toàn bộ phòng; (4) Không được đặt khóa, chốt cửa bên trong hoặc đặt thiết bị báo động để đối phó với hoạt động kiểm tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; (5) Phù hợp với quy hoạch về karaoke của địa phương;

Năm 2016, trên địa bàn huyện Tĩnh Gia có 60% điểm kinh doanh karaoke có vi phạm âm thanh, ánh sáng, phòng hát quá nhỏ, tiếp viên ăn mặc khêu gợi, hở hang Những tiếp viên ở các điểm dịch vụ này hầu như không có hợp đồng lao động và là các em đang ở độ tuổi vị thành niên; 80% là con số các quán karaoke không được trang bị đầy đủ các thiết bị phòng, chống cháy nổ; gần 40% cơ sở vi phạm trên 1 nhân viên phục vụ trong phòng hát; có 5% điểm kinh doanh karaoke ở gần các cơ quan nhà nước, di tích lịch sử văn hóa;

có một số cơ sở hoạt động mại dâm, sử dụng thuốc lắc bị phát hiện có liên quan đến kinh doanh karaoke

Khi các cấp mở chiến dịch, áp dụng những biện pháp mạnh tay thì những chủ cửa hàng kinh doanh karaoke lại ngừng hoạt động hoặc co vào, nhưng khi đợt kiểm tra kết thúc, các hoạt động này lại ngang nhiên hoạt động trở lại

Trang 36

Một phần có những thực trạng này xảy ra là do công tác quản lý hoạt động kinh doanh karaoke tại cơ sở bị buông lỏng, không thường xuyên kiểm tra, giám sát

Đối tượng của những dịch vụ này hầu như là giới trẻ, tầm từ khoảng 20 tuổi trở xuống, có những em chỉ mới 16 tuổi đã xuất hiện ở những địa điểm này Với thuốc lá phì phèo và cả những loại thức uống có pha cồn Thêm vào đấy là việc du nhập những thứ đồ mới như bóng cười, shisha,…gây ảo tưởng khiến cho các em bị mê hoặc, ảnh hưởng đến thần kinh

Nếu trước đây, shisha đắt đỏ, chỉ ở các quán bar, club, dân sành điệu mới “chơi” thì hiện nay, nó đang được bình dân hóa với cả thuốc Trung Quốc nhập lậu giá rẻ bèo Bên cạnh đó, một loại "mê hồn hương" khác cũng được giới trẻ ưa chuộng là “bóng cười” Theo các chuyên gia Đông - Tây y, cả hai thứ này đều nguy hiểm, thậm chí có thể gây chết người

Phục vụ của quán hầu như là các bạn với tuổi đời còn rất trẻ, ăn mặc thiếu vải, hở hang Ảnh hưởng đến nếp sống của vùng Vì những lý do trên

mà cần có sự kiểm tra kỹ lưỡng đối với những hoạt động này tại địa phương

Trang 37

1.2.2.3 Dịch vụ băng đĩa hình, ca nhạc

Băng đĩa ca nhạc, sân khấu bao gồm băng cát-xét, băng video, đĩa CD, VCD, DVD, CD-Rom, đĩa vi tính, IC chips và các loại vật liệu khác có nội dung ca nhạc, sân khấu, thời trang, thể thao, sau đây gọi chung là băng đĩa ca nhạc, sân khấu [10]

Số cơ sở kinh doanh dịch vụ băng đĩa ca nhạc, sân khấu trên địa bàn huyện từ năm 2012 - 2017 không tăng, toàn huyện có 35 cơ sở tư nhân kinh doanh loại hình dịch vụ này, nhưng lại phát triển loại hình kinh doanh dịch vụ này dưới hình thức bán rong, gây khó khăn cho nhà quản lý

Băng đĩa chứa đựng những giá trị văn hóa về tinh thần giúp con người giải trí, vui chơi sau thời gian học tập, làm việc mệt mỏi Lợi nhuận từ việc bán băng đĩa, ca nhạc là vô cùng lớn vì vậy mà điều này đang đặt ra nhiều vấn

đề khi nhu cầu của người dân thì nhiều mà việc sản xuất băng đĩa trên thị trường còn hạn chế kèm theo đó là việc thực hiện theo quy định của pháp luật

về kinh doanh băng đĩa chưa nghiêm túc, hiện tượng vi phạm bản quyền, in sao băng đĩa trái phép vẫn còn diễn ra phổ biến và đặc biệt những vấn nạn về sản xuất, kinh doanh đĩa lậu còn hết sức nóng bỏng

Việc lưu hành, kinh doanh băng đĩa lậu đã vi phạm nghiêm trọng Luật Xuất Bản, Luật Bản quyền, Nghị định số 87/CP, Nghị định 31/CP,…và nhiều văn bản pháp luật khác Đồng thời, cũng gây ra nhiều tác hại tiêu cực đến đời sống văn hóa, tinh thần, ảnh hưởng đến lối sống, cách suy nghĩ của một bộ phận công dân, đặc biệt là lớp trẻ

Băng đĩa lậu là vấn đề bức xúc không chỉ đối với các hãng sản xuất băng đĩa, mà còn là vấn đề nan giải, cấp bách làm đối với các cơ quan chức năng

1.2.2.4 Dịch vụ tổ chức biểu diễn nghệ thuật

Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn

Trang 38

Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác

Từ năm 2012 - 2017, mỗi năm huyện Tĩnh Gia tiếp nhận khoảng từ 10 -

15 đoàn nghệ thuật biểu diễn trên địa bàn, ngoài ra trong những năm qua, phong trào Văn hoá - Văn nghệ đã được các cấp uỷ, chính quyền quan tâm, tổ chức thực hiện tốt Hầu hết 34 xã, thị trấn, các thôn, tiểu khu đã tổ chức hoạt động văn hoá, văn nghệ dịp Tết Nguyên Đán, chào mừng ngày thành lập Đảng 3/2, Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh ngày 2/9, kỷ niệm 127 năm ngày sinh nhật Bác và các ngày lễ lớn trong năm 2017 [42]

Phối hợp với các phòng, ban, đơn vị tổ chức chương trình nghệ thuật đêm giao thừa, đón chào năm mới Đinh Dậu 2017 thành công, được nhân dân đánh giá cao Phối hợp tổ chức các hoạt động văn nghệ chào mừng kỷ niệm

50 năm thành lập Đài Truyền thanh - Truyền hình và lễ đón nhận Trung tâm bồi dưỡng chính trị đạt chuẩn Phối hợp vớí phòng Nông nghiệp phát triển nông thôn, Đài Truyền hình tỉnh tổ chức Game show nhà nông tài giỏi

Các làng, cơ quan, đơn vị văn hoá đều tổ chức đêm giao lưu văn nghệ trong dịp tổ chức khai trương, đón nhận danh hiệu làng văn hoá, cơ quan, đơn

vị đạt chuẩn văn hoá, xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới

Nhìn tổng thể hoạt động biểu diễn nghệ thuật của huyện Tĩnh Gia có phần đa dạng và sôi động nhưng còn nhiều hạn chế cần khắc phục

1.2.2.5 Dịch vụ trò chơi điện tử

Điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng là địa điểm mà tổ chức, ca nhân được toàn quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp cho người chơi khả năng truy cấp vào mạng và chơi trò chơi điện tử thông qua việc thiết lập

hệ thống thiết bị tại địa điểm đó Tổ chức, cá nhân kinh doanh trò chơi điện tử

Trang 39

phải có các điều kiện sau: Cửa hàng trò chơi điện tử phải cách các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông từ 200m trở lên; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; Trang thiết bị đảm bảo chất lượng âm thanh, hình ảnh; hình thức trang thiết bị phù hợp thẩm mỹ Việt Nam Tính đến cuối năm 2017, toàn huyện có 102 cơ sở kinh doanh dịch vụ trò chơi điện tử, tăng 70% số cơ sở

Khi hoạt động, tổ chức, cá nhân kinh doanh trò chơi điện tử phải tuân theo các quy định sau: Nội dung trò chơi điện tử phải lành mạnh, không vi phạm các quy định cấm tại Điều 3 Quy chế này; Không được hoạt động sau 10 giờ đêm đến 8 giờ sáng Nghiêm cấm tổ chức kinh doanh trò chơi điện tử có tính chất đánh bạc

tế của các hoạt động dịch vụ văn hóa đang diễn ra trên địa bàn

Kết quả nghiên cứu về phương diện lý luận (nội dung, phương pháp quản lý KDDVVH) ở chương 1 là tiền đề có ý nghĩa để khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý các hoạt động KDDVVH của huyện Tĩnh Gia trong thời gian qua, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng của công tác quản lý KDDVVH của huyện trong thời gian tới làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng của công tác quản lý KDDVVH của huyện Tĩnh Gia trong thời gian tiếp theo

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA

Ở HUYỆN TĨNH GIA, THANH HÓA 2.1 Bộ máy và cơ chế phối hợp quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

Sơ đồ 1.1: Phân cấp quản lý Nhà nước về văn hóa

Chức năng quản lý nhà nước đối với kinh doanh dịch vụ văn hóa được thực hiện bằng các biện pháp hành chính và các công cụ quản lý, quản lý và điều tiết vĩ mô đối với toàn bộ quá trình kiểm tra, giám sát và đánh giá các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa Trên cơ sở hoạch định chiến lược phát triển nền kinh tế, văn hóa - xã hội, Nhà nước định ra chiến lược phát triển lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hóa phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu của nhân dân và thực hiện xây dựng nền văn hóa theo hướng tiến

bộ và bản sắc Nội dung quản lý của nhà nước đối với kinh doanh dịch vụ

văn hóa bao gồm:

Trung ương

UBND tỉnh, thành phố trực

thuộc TW

UBND quận, huyện

UBND

xã, phường

Bộ VHTT&DL

Sở VHTT&DL tỉnh, TP

Phòng VH&TT quận, huyện

Ban VHTT

Xã , phường

Ngày đăng: 03/06/2021, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w